Étiquette : TRẦN TRANG : Âm nhạc dân tộc – Công cuộc giữ gìn và bảo vệ

TRẦN TRANG : Âm nhạc dân tộc – Công cuộc giữ gìn và bảo vệ

Âm nhạc dân tộc – Công cuộc giữ gìn và bảo vệ

2 Tháng Ba, 2019 00SHARES2kVIEWSShare on FacebookShare on Twitter

Âm nhạc của các dân tộc thiểu số là loại hình âm nhạc truyền thống của các vùng này, cái “đặc sắc”, đặc trưng cho vùng. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều loại hình âm nhạc dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ bị mai một, cần được bảo tồn, gìn giữ.

Nguy cơ mai một âm nhạc các dân tộc thiểu số

Việt Nam là nước có cả một kho tàng phong phú về âm nhạc dân tộc, với nhiều loại hình khác nhau, tuy nhiên, nhiều loại hình âm nhạc dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ bị mai một. Một phần nguyên nhân là do sự phát triển của công nghệ cao, điều kiện sống cũng như môi trường sinh hoạt của đồng bào các dân tộc thiểu số đang có những thay đổi. Chính vì vậy, một bộ phận âm nhạc của các dân tộc thiểu số đang gặp phải những khó khăn, thách thức và đứng trước nguy cơ mai một.

Âm nhạc dân tộc có vai trò quan trọng và là yếu tố quyết định tạo ra sự đa sắc, đa hương cho vườn hoa nghệ thuật âm nhạc truyền thống. (nguồn: internet)

Nhà nghiên cứu Nguyễn Vương Hoàng, Viện Âm nhạc Việt Nam chia sẻ về bản thân rằng, ông đã có những chuyến đi công tác, điền dã. Trong khoảng thời gian đó, bản thân ông đều cố gắng nhận diện và tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến những nguy cơ bị mai một âm nhạc dân gian của các dân tộc thiểu số hiện nay. Và ông nhận thấy một trong những nguy cơ đó là sự thay đổi hoặc biến mất của không gian diễn xướng dân gian. Tất cả những điều này đều do điều kiện sinh hoạt của bà con các dân tộc thay đổi trong quá trình phát triển và đô thị hóa, và nó là khó tránh khỏi.

Loại hình hát ống của đồng bào Mông tại Chiềng Tương, Yên Châu, Sơn La là một ví dụ cụ thể. Nếu trước đây, nhóm nam nữ tham gia hình thức dân ca này sử dụng hai chiếc ống, nối với nhau bằng một sợi dây làm công cụ để chuyển tải âm thanh và người hát sẽ hát vào một ống, người nghe kéo căng sợi dây và úp ống còn lại vào tai. Họ đối đáp những câu giao duyên, trao đổi tình cảm từ đồng nội sang đồng nội khác. Nhưng vào thời hiện đại này, mọi người sử điện thoại di động hoặc mạng xã hội để thay thế ống nghe. Điều này chứng tỏ hình thức hát ống ở đây đang có nguy cơ mai một.

Bên cạnh đó, các loại hình âm nhạc khác ở trong và ngoài nước, mà đồng bào tiếp thu được trên truyền hình, qua phim ảnh, qua internet… đã lấy đi sự quan tâm và nhu cầu hưởng thụ của người dân. Thêm vào đó, ở nhiều nơi, nhiều dân tộc, giới trẻ đã không còn mặn mà với âm nhạc dân tộc. Thậm chí có nơi, người trẻ còn không biết tiếng của đồng bào dân tộc mình, nên không biết hát giao duyên, không biết hát các làn điệu dân ca của đồng bào các dân tộc mình, dẫn đến nguy cơ mai một âm nhạc dân tộc.

Nguyên nhân chính của tất cả là do những hình thức nghệ thuật dân tộc mang tính vùng miền không còn là nhu cầu bức thiết với người dân. Trong các trường học không có mục giảng dạy về âm nhạc dân tộc, nhưng chúng ta lại đòi hỏi lớp trẻ phải tiếp thu, phải biết gìn giữ, ngay cả quỹ thời gian học cũng chẳng còn chỗ để chúng tìm hiểu. Vậy thử hỏi, người trẻ lấy gì để giữ gìn?

Bên cạnh đó, những môi trường diễn xướng xưa kia nuôi dưỡng nhiều hình thức ca hát giải trí giáo dục như đi rừng, đi củi, chợ phiên, cưới hỏi… đều đã biến đổi, đang nhường chỗ cho các nghệ thuật hiện đại, du nhập từ nước ngoài. Ví như, cưới hỏi dùng nhạc ngoại là chủ yếu, ru con ngủ bằng các loại nhạc nước ngoài…

Đại diện Vụ Văn hóa dân tộc nhận ra rằng, trước đây, ở các bản người Tày, Thái, Mông, Dao… hầu hết mọi người đều biết hát dân ca, chơi nhạc cụ truyền thống và trình diễn các bài múa, nhưng đến nay, số nghệ nhân này còn rất ít, và phần lớn là những người đã cao tuổi, trong khi đó họ lại là lực lượng chính trong việc nắm giữ và trao truyền các di sản âm nhạc truyền thống cho thế hệ trẻ.

Đại diện này cũng đưa ra một thực tế, là hiện nay, môi trường, không gian sinh hoạt âm nhạc dân gian truyền thống đang ngày càng bị thu hẹp, do những thay đổi về đời sống lao động sản xuất, phong tục tập quán, các sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống của cộng đồng. Thậm chí, phương thức trình diễn âm nhạc dân gian của đồng bào cũng đang dần thay đổi về nhịp điệu, tiết tấu, đạo cụ, trang phục và không gian thực hành đang làm mất đi ý nghĩa, giá trị của âm nhạc truyền thống.

Gìn giữ, bảo tồn âm nhạc dân tộc

Và câu hỏi đặt ra là làm thế nào để gìn giữ, bảo âm nhạc cổ truyền dân tộc? Đa số các nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc đều cho rằng, cần xây đựng các cơ chế chính sách, các đề án, dự án, các chương trình kế hoạch riêng cho công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa nghệ thuật cổ truyền của các dân tộc thiểu số, như đầu tư, hỗ trợ kinh phí cho các tổ chức sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật hiện có như các câu lạc bộ, có cơ chế hỗ trợ các nghệ nhân trong việc bảo tồn, truyền dạy di sản cho các thế hệ kế cận.

Phối hợp giữa cơ quan quản lý văn hóa với các viện nghiên cứu, các nhà nghiên cứu văn hóa, nghệ thuật để lựa chọn, phân loại và sắp xếp xem loại hình nào cần đầu tư bảo tồn trước, loại hình nào bảo tồn sau, vừa tránh dàn trải, lãng phí, vừa có hiệu quả cao. Thành lập quỹ bảo tồn và phát huy văn hóa nghệ thuật cổ truyền các dân tộc thiểu số, kêu gọi, thuyết phục các nhà hảo tâm trong và ngoài nước đóng góp, hỗ trợ cho quỹ này. Di sản sẽ được bảo tồn tốt nhất, ‘sống’ bền vững nhất chính là trong cộng đồng.

Đặc biệt, các nghệ nhân còn ghi lại lời các bài dân ca bằng các ký tự tiếng Việt, để nhiều người có thể đọc và học được. Họ còn bỏ nhiều thời gian và công sức chọn lựa những thanh niên có năng lực truyền dạy. Ngoài việc ghi chép, truyền dạy, các nghệ nhân còn cải biến một số khía cạnh văn hóa cổ truyền cho phù hợp với thị hiếu âm nhạc thời đại, nhưng vẫn giữ được bản sắc vốn có để tạo thêm hứng thú cho lớp trẻ.

Nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc thừa nhận, vấn đề bảo tồn và phát huy nghệ thuật dân gian, trong đó có âm nhạc dân gian các dân tộc, đã được nói đến từ rất lâu. Các hội thảo báo cáo nhiều đến nỗi có người khi nghe đến cụm từ này đã bật thốt lên câu “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi”.

Tuy nhiên, dẫu là vậy, vấn đề bảo tồn vẫn phải được nhắc nhở liên tục. Phải nói bởi cái sự bảo tồn và phát huy vốn di sản văn hóa nghệ thuật cổ truyền nó cũng vận động, cũng biến đổi theo nhịp sống, cách sống của mỗi cộng đồng dân tộc; cũng biến đổi theo cách tư duy văn hóa, chính trị ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ. Vì thế, các nhà nghiên cứu âm nhạc cho rằng, chúng ta vẫn cần phải nói, vẫn phải bàn về bảo tồn.

Đắk Lắk: Bảo tồn nhạc cụ truyền thống các dân tộc (nguồn: internet)

Phong phú kho tàng âm nhạc dân tộc

Việt Nam là một quốc gia đa sắc tộc, trong đó, mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán riêng, ngôn ngữ tiếng nói riêng. Họ cũng sáng tạo và sở hữu một nền âm nhạc mang sắc thái riêng, bao gồm kho tàng dân ca, nhạc cụ phong phú, đặc sắc gắn liền với đời sống của đồng bào.

Từ cuối những năm 60 của thế kỷ trước, rất nhiều bài dân ca của các dân tộc Thái, Khơ Mú, Mông, Xơ Đăng, Ba Na… liên tục được đưa lên đài phát thanh, in sâu vào ký ức nhiều thế hệ người Việt Nam.

Như chúng ta biết, Việt Nam có 54 dân tộc, và mỗi một dân tộc đều có những nét độc đáo riêng biệt. Âm nhạc dân tộc có đa dạng như hát giao duyên đối đáp, hát đồng dao; hát Then, Mo của người Dao, Tày, Thái; hát Tang ca, hát ống của người Mông; múa chiêng, trống của người Mông, Dao; đàn tính của người Tày, Thái; cồng chiêng Tây Nguyên…

Có thể khẳng định rằng, dù cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, hạn chế điều kiện kinh tế, giao thông, cơ sở hạ tầng… nhưng âm nhạc cổ truyền của đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn luôn toát lên sự phong phú, đặc sắc. Những làn điệu âm nhạc này đã góp phần tạo nên bản sắc dân tộc trong âm nhạc Việt Nam vừa độc đáo, vừa đa dạng trong sự thống nhất.

Trần Trang