Étiquette : TRẦN QUANG HẢI : ÂM NHẠC VÀ NGƯỜI TỴ NẠN / giai đoạn 1975-1987

TRẦN QUANG HẢI : ÂM NHẠC VÀ NGƯỜI TỴ NẠN / giai đoạn 1975-1987

TRẦN QUANG HẢI

TRẦN QUANG HẢI

12 năm đã lặng lẽ trôi qua. 12 năm đầy biến cố chính trị, kinh tế và nghệ thuật đã thay đổi bộ mặt nhân loại nói chung và bộ mặ Việt Nam nói riêng .

Chỉ có lĩnh vực nhạc Việt Nam ở hải ngoại, nhứt là nhạc di tản  là đươc phát triển đặc biệt về số lượng .Hàng ngàn K7 mới, hàng trăm băng video tân nhạc và nhạc cải lương do hàng chục nhà sản xuất ở Mỹ (đặc biệt  là ỡ Cali, hay đúng hơn là ở Quận Cam được mệnh danh là Saigon Nhỏ) và ở Âu châu (nhứt là ở Paris) bắt đầu tràn ngập thị trường K7 dành cho người tỵ nạn Việt Nam .

Trong khung cảnh của bài này, tác giả thử cung cấp thông tin ngằn ngủi về sinh hoạt âm nhạc trong cộng đồng Việt Nm từ 30 tháng 4,1975, ngày Saigon thất thủ, và khơi mào cho chuyến ra đi tỵ nạn của hàng trăm ngàn người Việt.

Ba đề tài được đề nghị :

  1. Sự sinh tồn nhạc cổ truyền
  2. Sư( phát triển tân nhạc
  3. Sự khởi đầu nhạc cân đại Tây phương

1.SỰ SINH TỒN NHẠC CỔ TRUYỀN

Nhạc cổ truyền lúc nào cũng bị coi là nghèo nàn đối vời nhạc tây phương. Trước tháng 4, 1975, tại Viện quốc gia âm nhạc Saigon, những lớp dạy đờn và nhạc cổ truyền không thu hút nhiều nhạc sinh. Các thầy dạy nhạc cổ truyền thường có thái độ tự ty mặc cảm đối với các thầy dạy nhạc tây phương.

Ở hải ngoại, người Việt tỵ nạn không đủ thì giờ để thưởng thức tiêng đờn tranh, hay đi coi hát cải lương . Các trẻ em rời Việt Nam lúc 7 tới 10 tuổi sau 12 năm  sống ở Mỹ không còn ưa thích nhạc cổ và cải lương. Chúng hoàn toàn dửng dưng đối với văn hóa Việt và nhạc Việt cổ cũng như tân. Chúng không còn nói tiếng mẹ đẻ trôi chảy, và chỉ thích nghe nhạc thời trang do các ca sĩ nổi tiếng thời đó như Michael Jackson, Madonna, Prince vì đối với chúng  đó chính là âm nhạc của thế giới chúng hiện nay .

Tuồng cải lương , các buổi giới thiệu nhạc cổ truyền ngày càng ít khách. Cha mẹ không khuyến khích con cái đi nghe các buổi trình diễb nhạc dân tộc phần nhiều kéo dài nhiều tiếng đồng hồ. Giới trẻ nkhông hiều tiếng Việt và âm nhạc không hạp lỗ tai của chúng .Hơn nữa phải trả tiền mắc.

Ở Paris, chỉ trừ cặp nghệ sĩ Trần Quang Hải và Bạch Yến vẫn sinh hoạt nhiều nhờ hoạt động giới thiệu nhạc cổ truyền Việt Nam cho khán giả Tây phương trên khắp thế giới từ 20 năm qua dưới dạng chương trình cho khán giả người lớn, cho trẻ em tại các trường học trong khung cảnh giáo dục âm nhạc học đường, và tại các đại hội liên hoan nhạc truyền thống quốc tế. Họ là nghệ sĩ đại diện cho âm nhạc dân tộc Việt ở hải ngoại đi vào thế giới người Tây phương trong giai đoạn này.

Trong số các nghệ sĩ tỵ nạn có ba nhóm sinh hoạt nhạc truyền thống và cải lương : nữ nhạc sĩ Phương Oanh và ban Phượng Ca, hội nghệ sĩ tỵ nạn Paris, và hội nghệ si trẻ.

Phương Oanh, cựu giáo sư đàn tranh, tốt nghiệp nhạc viện quốc gia Saigon và thành viên của ban Hoa Sim (những nhạc sĩ trẻ gồm Thúy Hoan, Phương Oanh, Quỳnh Hạnh và Ngọc Dung). Cô tới Pháp năm 1976 và thành lập ban Phượng Ca với mục đích tạo một trường âm nhạc cổ truyền Việt Nam tại Âu châu (chi nhánh mọc ra ở Bỉ, Thụy Sĩ, Na Uy). Cô đã quy tụ được một số trẻ em Việt  nam nữ lập thành một đoàn trẻ em trình diễn đàn tranh, dàn cò, đàn kìm và nhạc cụ gõ, đã có tiếng vang tốt đẹp tốt đẹp trong giới trẻ Việt ố Âu châu.Đối tượng của Phương Oanh là phối hợp nhạc truyền thống Việt với hòa âm tây phương để tạo một loại nhạc cổ truyền 5

Tây phương hóa thích hợp với sở thích của trẻ em Việt lớn lên ở hải ngoại .

Hội nghệ sĩ tỵ nạn Paris do nghệ sĩ tài danh Hữu Phước thành lập tại Paris năm 1986. Hội đã quy tụ một số dông nghệ sĩ cải lương sinh sống tại Paris và ngoại ô Paris như Kiều Lệ Mai , Hà Mỹ Liên, Phương Thanh, Minh Đức, Kim Chi, Minh Thanh, Hoàng Long (rời hội thán 10, 1986). Nghệ sĩ Hữu Phước cố gắng làm cải lương sống lại trên đất Pháp. Hội được sự ủng hộ của khán giả Việt ở Paris.

Một hội nghệ sĩ trẻ do nghệ sĩ Chí Tâm thành lập, đã được một số nghệ sĩ hưởng ứng  như Tài Lương, Mỹ Hòa, Ngọc Lưu, Hùng Tiến. Chí Tâm là ca sĩ trẻ, đóng tuồng giỏi, đạo diễn tài ba và là nhạc sĩ đàn nhiều nhạc cụ cổ như ghi ta phim lõm, tranh, kìm, đàn bầu,đàn sến. Vời Chí Tâm hy vọng có thể đóng góp vào cải lương một bộ mặt sáng tạo mới.

Ngoài ba nhóm kể trên,một nhóm thứ tư quy tụ Hoàng Long, Ngọc Đức, Phương Hồng Ngọc thử giới thiệu loại thoại kịch (kịch nói) từ năm 1987.

Ở Mỹ một số nghệ sĩ cũng đang tìm cách giới thiệu âm nhạc cổ truyền. Nghệ sĩ nổi tiếng sáo tre Nguyễn Đình Nghĩa và các con tới Mỹ năm 1984, sinh sống tại tiểu bang Virginia, đã giới thiệu nhạc dân ca Việt qua một số chương trình tấu nhạc trên sân khấu nhưng không liên tục. Anh nổi tiếng ở Việt Nam qua bài độc tấu sáo « Phụng Vũ ». Anh ngừng trình diễn để dành thì giờ thể nghiệm đàn trưng và đàn đá từ những thanh đá tìm thấy ở Mỹ.

Bà Bích Thuận, nghệ sĩ cải lương lão thành, đã tới Pháp năm 1983 và định cư tại Mỹ từ năm 1985, không thành công kêu gọi các nghệ sĩ tỵ nạn nổi tiếng tại Mỹ để thành lập một gánh cải lương như lúc ở Saigon. Thỉnh thoảng bà tham gia những buổi sinh hoạt văn nghệ hay thực hiện những phim video cho khán giả Việt .

Nghệ sĩ Việt Hùng , đồng sáng lập viên gánh Hoa Sen cùng với nghệ sĩ Minh Chí . Ông là chồng của nữ nghệ sĩ Ngọc Nuôi (vẫn còn ở Saigon), đã tới Mỹ sau 30 tháng 4, 1975 . Ông tiếp tục cuộc sống văn nghệ một cách âm thầm với những vở tuồng quay video.

Hùng Cường, một trong những nghê sĩ trẻ của cải lương Saigon, đã tới Mỹ năm 1982. Anh quay sang hát tân nhạc. Sau một thời gian ngắn lúc đầu,anh chuyển sang nghề lồng tiếng cho những phim Tàu, đồng thời diễn cặp với nữ ca sĩ Mai Lệ Huyền nổi tiếng ở Saigon qua màn nhạc kích động .

Dũng Thanh Lâm, một nghệ sĩ cải lương, nổi tiếng ở Saigon nhờn đep trai, tới Pháp và trình diễn một thời gian ngắn. Sau đó sang Mỹ sinh sống . Anh đóng tuồng cải lương cho các phim video. Thỉnh thoảng được mời đi diễn.

La Thoại Tân, rất được ái mộ ở Saigon về hài hước,khi sang Mỹ trở thành nhà tổ chức nhữn buổi trình diễn nhạc dân tộc. Sau cùng anh sống với nghể chuyển âm cho các phim Tàu .

Nhật Minh, cùng với La Thoại Tân, đóng tuồng trong các phim video, và tham gia các shows ở Mỹ

Kim Tuyến, nghê sĩ cải lương  nổi tiếng , đã ngừng diễn cải lương . Bây giờ cô chuyển sang ca tân nhạc tại các phòng trà Việt và bắt đầu được biết tiếng từ vài năm nay .

Các nghê sĩ khác như Hà Mỹ Hạnh, Thiên Trang, Bích Liễu, Ánh Hoa, tiếp tục hành nghề nhưng không thu hút khán giả .

Nghệ sĩ Lữ Liên, cha của các ca sĩ nổi tiếng như Bích Chiêu, Khánh Hà, Tuấn Ngọc, ban nhạc Up Tight, tới Mỹ tháng 5, 1975.Lúc đầu ông tái lập ban AVT  (Lữ Liên, Vũ Huyến, Ngọc Bích) tham gia những chương trình  văn nghệ ở Mỹ và Âu châu. Hiên giờ ông đã gác kiếm, từ giã cuộc sống văn nghệ.

Nghê sĩ Xuân Phát cũng ngừng tham gia văn nghê khi tới Mỹ.

Hương Lan , con gái đầu lòng của nghệ sĩ Hữu Phước, là nghệ sĩ nổi tiếng nhứt  về tân nhạ cũng như cổ nhạc trong giới nghê sĩ Việt tỵ nạn từ năm 1987. Giọng hát của Hương Lan là sự phối hợp của hai giọng ca Út Bạch Lan và Thanh Nga. Từ khi tới Pháp năm 1978, Hương Lan cò mặ trong các buổi trình diễn cải lương nhưng không mấy thành công. Cô chuyển sang hành nghề ca sĩ tân nhạc hát ở các nhà hàng và phòng trà Paris. Từ năm 1985 cô rời xứ Pháp sang định cư ở Mỹ và trở thành ca sĩ được mời nhiều nhứt trong cộng đồng Việt Nam .

Ở Đức, hai nghệ sĩ Phượng Mai (hồ quảng) và Thành Được   (cải lương) gặp nhiều khó khăn khi hành nghề cải lương vì thiếu khán giả. Phượng Mai theo gót Hương Lan chuyển sang hát tân nhạc ở các phòng trà Paris. Nghê sĩ Thành Được từ khi định cư tại Đức năm 1984 thườn trình diễn chung với Phượng Mai trong những chuyến đi Mỹ, Úc và Âu châu. Thành Được không còn ăn khách ở hải ngoại mặc dù tiếng tăm rất nổi tại quê nhà.

Trong 10 năm tới đây, hát cải lương có thể sẽ rơi vào quên lãng vì lẽ thiếu nghệ sĩ trẻ tiếp nối các đàn anh đàn chĩ ở hải ngoại. Nhạc cổ truyền có thể tồn tại lâu hơn nhưng không bành trướng, bởi vì các ca sĩ trẻ hướng về nhạc trẻ tây phương hay tân nhạc ngoại lai . Số nhạc sĩ đàn nhạc cụ cổ truyền không có cơ hội đào tạo thêm nhạc sĩ trẻ.

2. SỰ PHÁT TRIỂN TÂN NHẠC

Từ tháng 5, 1975, sự ra đi của nhiều nghệ sĩ tân nhạc sống ở miền Nam Viêt Nam tụ hợp rất đông ở Mỹ đánh dấu một sự phát triển mạnh mẽ của nhạc di tản. Loại nhạc này thể hiện bành trướng qua nhiều đề tài sáng tác.)

  1. Nhớ quê hương, nhớ Saigon (1975-1977) với những ca khúc gợi lại kỷ niệ xưa đã mất đi. Một số bản nhạc tiêu biểu như « Vĩnh biệt Saigon » của Nam Lộc (1976), « Saigon niềm nhớ không tên » của Nguyễn Đình Toàn (1977)
  2. Kháng chiến, đấu tranh để chiếm lại quê hương (1978-1981) được thể hiện qua các ca khúc trong « Hát trên đường tạm dung » của Phạm Duy (1978), những ca khúc của nữ nhạc sĩ Nguyệt Ánh như « Em nhờ màu cờ » (1981), « Dưới cờ phục quốc » (1981), hay các bài của Việt Dzũng « Lưu vong khúc »(1980) « Kinh tỵ nạn), vv…
  3. Miêu tả  đời sống tù nhân tại Việt Nam trong tuyển tập 20 ca khúc của Phạm Duy phổ thơ của Nguyễn Chí Thiện « Ngục ca » (1981), và những bản nhạc của nhà thơ / nhạc sĩ Hà Thúc Sinh « Tiếng hát tủi nhục » (1982), vv…
  4. Hồi sinh những ca khúc tiền chiến (1982-1985) với hàng trăm băng K7 thu thanh các giọng hát ăn khách đương thời (Elvis Phương, Duy Quang , Chế Linh) và các giọng ca nữ (Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Hương Lan, Julie Quang) để làm sống lại những kỷ niệm khó quên của thời vàng son Saigon.
  5. Khai sinh phong trào Hưng Ca (từ năm 1985) quy tụ một số nhạc sĩ trẻ như Hà Thúc Sinh, Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyệt Ánh, Việt Dzũng, Phan Ni Tấn, Khúc Lan để sáng tác những ca khúc tranh đấu mới, kháng chiến, tình yêu làm khơi dậy lòng yêu nước của người Việt tỵ nạn .
  6. Phát triển loại nhạc kích động « New Wave » và nhạc phim bộ Tàu (từ năm 1986) với hàng trăm K7 được sản xuất chỉ riêng cho năm 1986 về loại nhạc tây phương đang ăn khách và nhạc phim bộ Tàu (Trung quốc, Hồng Kông và Đài Loan) với lời Việt .

Đối với những nhà viết nhạc hiện đang sinh sống tại Mỹ, Phạm Duy vẫn là nhạc sĩ được mến chuộng nhứt. Các bản nhạc viết trước 1975 của ông chiếm 90% trong số bài bản được thâu ở hải ngoại. Tất cả các ca sĩ đều hát ít nhứt là một bài của Phạm Duy trong các băng K7 được phát hành trong giai đoạn này. Những bản nhạc mới sáng tác của ông từ năm 1978 đều hướng về hiện trạng tỵ nạn, về đời sống thiếu tự do ở Việt Nam, đều được mọi người hưởng ứng. Từ năm 1985 ông ít sáng tác hơn , nhưng viết lời Việt cho những ca khúc nổi tiếng Tây phương.

Hoàng Thi Thơ sáng tác ít hơn. Ông chuyển sang nghề điều khiển một chương trình truyền hình dành cho người Việt tỵ nạn ở Cali. Sang Mỹ năm 1975, ông viết một số ca khúc mời về Saigon vời những đề tài nhờ quê hương (1975-1980), và tình yêu (từ 1981).

Những nhạc sĩ khác nổi tiếng ở Saigon như Văn Phụng, Tô Huyền Vân, Ngọc Bích, Anh Việt, Huỳnh Anh, Song Ngọc, Trần Văn Trạch, Lê Trọng Nguyễh gần như không còn sáng tác.

Ngược lại, một thế hệ nhạc sĩ trẻ được chào đời ở hải ngoại. Ở Mỹ,Nguyệt Ánh (chỉ được tới từ năm 1980), Việt Dzũng, Châu Đình An, Phan Kiên, Huỳnh Công Ánh, Khúc Lan, tất cả là thành viên của phong trào Hưng Ca, đã viết nhiều ca khúc trên những đề tài tranh đấu và kháng chiến. Duy Quang viết về những vấn đề tỵ nạn, Lẻ Uyên Phương về ngưới vượt biển, Hà Thúc Sinh về điều kiện tù tội ở Việt Nam, Đức Huy về tình yêu.

Những nhạc sĩ khác như Nguyễn Hữu Nghĩa, Phan Ni Tấn, Trọng Nghĩa ở Canada, Hàn Lệ Nhân, Phan Văn Hưng, Lê Khắc Thanh Hoài, Ngô Minh Khánh, Ngô Càn Chiếu, ở Pháp, Nguyễn Quyết Thắng ở Hòa Lan, Hoàng Ngọc Tuấn, Phạm Ngọc Quang, Cung Đàn Nguyễn Sỹ Nam ở Úc châu, đã viết hàng ngàn bài nhạc mới về những vấn đề hiện tại, những khát vọng, kháng chiến. Nhà thơ/nhạc sĩ Hà Thúc Sinh (Mỹ), Duyên Anh (Pháp) bắt đấu sáng tác nhạc trên những bài thơ của họ.

Rất nhiều nhạc sĩ phối khí bắt đầu làm việc không ngừng nhờ những buổi sinh hoạt văn nghệ, những chuyến đi diễn hay làm việc tại các phòng thâu băng. Có thể kể :Lê Văn Thiện, Trung Nghĩa, Hồ xuân Mai, Nghiêm Phú Phi (tới Mỹ năm 1984), Đan Thọ, Ngọc Chánh, Lê Văn Khoa, Tùng Giang ở Mỹ, Võ Đức Tuyết, Võ Đức Lang, Xuân Vinh, Văn Tấn Sĩ ở Pháp.

Những nhạc sĩ đã thay đổi nghề như Trần Anh Tuấn (trước là giáo sư dạy mandoline ơ trường quốc gia âm nhạc Saigon , giờ làm người lên dây đàn piano), Trần Vĩnh (nhạc sĩ thổi saxo trở thành công nhân chuyên nghiệp trong một xưởng ở tỉnh Nancy), Nguyễn Xuân Phúc (làm giáo sư dạy nhạc ở một trường trung học ngoại ô Paris).

Những ban nhạc nhạc kích động  nổi tiếng ở Saigon như ban CBC, Dreamers (các con của nhạc sĩ Phạm Duy), Crazy Dogs (các con của nghệ sĩ Việt Hùng / Ngọc Nuôi),Uptight (các con của nghệ sĩ Lữ Liên), Family Love ở Mỹ, ban Blue Jets (thêm nhạc sĩ Ngô Minh Khánh) ở Pháp. Nhiều ban nhạc trẻ được thành lập để đáp ứng với số phòng trà khiêu vũ mọc lên như nấm ở Mỹ, Pháp, Canada và Úc.

Khánh Ly vẫn là ca sĩ đươc ưa chuộng nhứt ở hải ngoại. Cô có mặt trên khắp thị trường băng K7 và video. Cô xuất hiện trên khắp các sân khấu hải ngoại nơi có người Việt sinh sống.

Lệ Thu, Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Hương Lan, Julie Quang (sau này đổi thành Julie) là những ca sĩ được mời diễn nhiều nhứt.

Nữ ca sĩ Thái Thanh tới Mỹ năm 1985, dù giọng hát rất được ưa thích ở Việt Nam, không lôi cuốn được giới trẻ ở Mỹ.

Nhiều ca sĩ tiêp tục hành nghề : Băng Châu, Mai Lệ Huyền, Uyên Phương, Phương Hồng Hạnh, Phương Hoài Tâm, Hoàng Oanh, Minh Hiếu, Mỹ Thể, Jeannie Mai, Trúc Mai, Thái Hiền, Thái Thảo, Mai Hương, Khánh Hà, Ngọc Minh, Kim Anh, Huyền Châu, Lưu Hồng, Connie Kim, Carol Kim, Sơn Ca, Diễm Chi, Quỳnh Giao, Kim Tước ở Mỹ, Julie (ở Mỹ từ năm 1984), Thanh Mai (ở Mỹ từ năm 1985) Thu Hương, Mary Linh, Thiên Nga, Ngọc Hải, Minh Đức, Phương Hồng Ngọc ở Pháp, Kim Loan , Pauline Ngọc ở Đức, Phương Dung ở Úc.

Nhiều ca sĩ nổi tiếng chọn xứ Mỹ : Hoài Trung, Hoài Bắc, ban AVT, Bùi Thiện, Sĩ Phú, Duy Quang, Elvis Phương, Jo Marcel, Lê Uyên Phương, Hùng Cường, Trường Hải, Đừc Huy, Trường Thanh.

Một vài nghệ sĩ khác như Trần Văn Trạch, Cao Thái, Anh Sơn, Quốc Anh, Thanh Phong, Văn Tấn Phát ở lại Pháp. Công Thành, Thân Đình Nguyễn ở Úc.

Từ năm 1984, một thế hệ ca sĩ trẻ xuất hiện để tiếp nối các đàn anh đàn chị.Họ hát những bài Tây phươn bằng ngoại ngữ hay bằng bản dịch tiếng Việt. Họ bắt đầu xâm chiếm thị trường  như Linda Trang Đài, Ngọc Lan, Hải Lý, Kim Ngân, Tuấn Đạt, Tuấn Anh, Tuấn Vũ, Vũ Khanh, Anh Tài, vv .. ở Mỹ, Ngọc Huệ, Ngọc Điệp, Kim Huệ ở Úc, Hứa Khánh ở Canada, Minh Đức, Ngọc Hải, Văn Tấn Phát, Anh Sơn ở Pháp.

Một vài ca sĩ như Minh Trang (vợ của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước), Châu Hà (vợ của nhạc sĩ Văn Phụng ), Lệ Thanh, Hà Thanh ngừng trình diễn.

Sinh hoạt văn nghệ trong cộng đồng người Việt chỉ được tổ chừc vào cuối tuần. Người Việt chỉ thích đi khiêu vũ để giải trí và không tha thiết gì tới giá trị bài hát. Rất nhiều phòng trà mang những tên được biết tới ở Saigon như « RITZ », « Tự Do », « Queen Bee » ở Mỹ  , « Đêm Màu Hồng », « Las Vegas », ở Pháp. Tất cả những phòng trà thu hút ngày càng nhiều người vì họ muốn tìm quên lãng đời sống khó khăn tỵ nạn qua các điệu khiêu vũ quen thuộc dựa trên những bản thường nghe ngày xưa tại Saigon như Slow, Tango, Cha Cha Cha, Pasodoble, Rock, Bolero,

Nhiều nhà sản xuất băng nhựa ở Mỹ như Thanh Lan, Làng Văn , Giáng Ngọc, Tú Quỳnh, Thanh Thúy, Asia, Đời, Dạ Lan, Diễm Xưa phát hành hàng trăm băng K7. Nhà sản xuất Thanh Lan cho in hàng trăm băng K7 từng tháng.

Từ hai năm nay (1986-1987), một số nghệ sĩ tự phát hành băng với tên riêng của họ. Thanh Mai, Jo Marcel, Tùng Giang, Anh Tài, Kim Ngân, Ngọc Lan, Băng Châu, Trường Thanh, Thanh Tùng, Thy Hải ở Mỹ. Tại Pháp chỉ có ba nhà sản xuất băng quan trọng : Phượng Hoàng , Thúy Nga, và Phượng Nga Paris.

Nhiều phim video về tân nhạc không được thịnh hành cho lắm. Hàng trăm video về tân nhạc do Trung tâm Thúy Nga (Paris), trung tâm Túy Hồng (Mỹ) tạo thành một bằng chứng cụ thê về đời sống âm nhạc của nghệ sĩ Việt Nam tỵ nạn.

Những chuyến lưu diễn ngày càng nhiều từ 1986 nhờ những buổi hát giúp người vượt biển để có tiền giu&p ngân quỹ hội Y sĩ thế giới, hay những hội từ thiện cứu người Việt còn kẹt ở những trại tỵ nạn Đông Nam Á.

3. GIAI ĐOẠN KHỞI ĐẦU NHẠC CẬN ĐẠI TÂY PHƯƠNG

Bên cạnh vài nhà viết nhạc gốc Việt  viết nhạc cận đại Tây phương sinh sống tại Pháp từ lâu như Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Thiên Đạo, Tôn Thất Tiết, Trương Tăng, Trần Quang Hải, hai nhà viết nhạc trẻ tuổi tỵ nạn sống tại Úc. Người thứ nhứt là Hoàng Anh Tuấn, huy chương vàng ở đại hội liên hoan nhạc Việt năm 1978, đã rời xứ Việt Nam năm 1982 bằng đường thủy. Anh đã được học bổng nghiên cứu về dân ca và tân nhạc. Anh đàn ghi ta rất giỏi và cũng là một người viết nhạc có tiếng ở Úc. Anh đã soạn hòa âm cho các bài dân ca Việt theo hòa âm mới . Người thứ hai là em Nguyễn Mạnh Cường, 26 tuổi, đã đoạt giải thưởng sáng tác nhạc cận đại ở Đại hội liên hoan nhạc Á châu và Thái Bình Dương năm 1984 tại Tân Tây Lan với nhạc phẩm « Phụng Vũ ». Em theo học khoa sáng tác nhạc điện tử ở Úc châu từ năm 1985. Hy vọng em có thể trở thành nhà sáng tác nhạc cận đại Việt Nam trong tương lai.

Trong số các nhạc sĩ trình diễn nhạc Tây phương, nhạc sĩ Tây ban cầm Trịnh Bách, sang Mỹ năm 13 tuổi, là người duy nhứt hiện tại có trình độ quốc tế. Em được danh cầm Segovia mời em sang Tây Ban nha ở nhà ông luyện tập một thời gian để có thể trở thành người đàn Tây ban cầm thuộc hạng giỏi thế giới.

Nhiều nhạc sinh trẻ Việt Nam đang theo học tại các nhạc viện nổi tiếng ở Pháp, Mỹ và Úc .

Bài viết này chỉ có mục đích ghi lại một cách khách quan đời sống âm nhạc cổ và tân nhạc của người Việt tỵ nạn ở hải ngoại từ 1975 tới 1987. Âm nhạc tiếp tục phát triển đi lên hay đi xuống ? Câu trả lời sẽ được biết vào năm 2000.

TRẦN QUANG HẢI

TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI

Trần Quang Hải là con trai trưởng của GS Trần Văn Khê. Sinh năm 1944 tại Bình Hòa Xã (Thủ Đức). Ông học đàn vĩ cầm tại viện quốc gia âm nhạc Saigon từ năm 1956. Năm 1962 ông sang Paris học thực tập nhiều nhạc khi& Á châu tại Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương (Viện nhạc học của trường đại học Sorbonne) : đàn tranh Việt Nam, đàn Vina Ấn độ miền Nam, trống Zarb xứ Ba Tư, đàn Nam hồ Trung Quốc, và học môn dân tộc nhạc học với bà Claudie Marcel-Dubois.

Hiện nay ông là cộng tác viên chuyên nghiệp của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học, làm việc tại Viện Bảo tàng Con người và Viện Bảo tàng truyền thống dân gian. Song song với việc làm ở hai viện Bảo tàng, ông trình diễn nhạc cổ truyền Việt Nam trên toàn thế giới. Ông đã thu thanh 10 dĩa hát và một trong số dĩa đó đã đoạt giải thưởng của Hàn lâm viện Charles Cros Pháp năm 1983.

ÂM NHẠC VÀ NGƯỜI TỴ NẠN : Giai đoạn 1975-1987

c

12 năm đã lặng lẽ trôi qua. 12 năm đầy biến cố chính trị, kinh tế và nghệ thuật đã thay đổi bộ mặt nhân loại nói chung và bộ mặ Việt Nam nói riêng .

Chỉ có lĩnh vực nhạc Việt Nam ở hải ngoại, nhứt là nhạc di tản  là đươc phát triển đặc biệt về số lượng .Hàng ngàn K7 mới, hàng trăm băng video tân nhạc và nhạc cải lương do hàng chục nhà sản xuất ở Mỹ (đặc biệt  là ỡ Cali, hay đúng hơn là ở Quận Cam được mệnh danh là Saigon Nhỏ) và ở Âu châu (nhứt là ở Paris) bắt đầu tràn ngập thị trường K7 dành cho người tỵ nạn Việt Nam .

Trong khung cảnh của bài này, tác giả thử cung cấp thông tin ngằn ngủi về sinh hoạt âm nhạc trong cộng đồng Việt Nm từ 30 tháng 4,1975, ngày Saigon thất thủ, và khơi mào cho chuyến ra đi tỵ nạn của hàng trăm ngàn người Việt.

Ba đề tài được đề nghị :

  1. Sự sinh tồn nhạc cổ truyền
  2. Sư( phát triển tân nhạc
  3. Sự khởi đầu nhạc cân đại Tây phương

1.SỰ SINH TỒN NHẠC CỔ TRUYỀN

Nhạc cổ truyền lúc nào cũng bị coi là nghèo nàn đối vời nhạc tây phương. Trước tháng 4, 1975, tại Viện quốc gia âm nhạc Saigon, những lớp dạy đờn và nhạc cổ truyền không thu hút nhiều nhạc sinh. Các thầy dạy nhạc cổ truyền thường có thái độ tự ty mặc cảm đối với các thầy dạy nhạc tây phương.

Ở hải ngoại, người Việt tỵ nạn không đủ thì giờ để thưởng thức tiêng đờn tranh, hay đi coi hát cải lương . Các trẻ em rời Việt Nam lúc 7 tới 10 tuổi sau 12 năm  sống ở Mỹ không còn ưa thích nhạc cổ và cải lương. Chúng hoàn toàn dửng dưng đối với văn hóa Việt và nhạc Việt cổ cũng như tân. Chúng không còn nói tiếng mẹ đẻ trôi chảy, và chỉ thích nghe nhạc thời trang do các ca sĩ nổi tiếng thời đó như Michael Jackson, Madonna, Prince vì đối với chúng  đó chính là âm nhạc của thế giới chúng hiện nay .

Tuồng cải lương , các buổi giới thiệu nhạc cổ truyền ngày càng ít khách. Cha mẹ không khuyến khích con cái đi nghe các buổi trình diễb nhạc dân tộc phần nhiều kéo dài nhiều tiếng đồng hồ. Giới trẻ nkhông hiều tiếng Việt và âm nhạc không hạp lỗ tai của chúng .Hơn nữa phải trả tiền mắc.

Ở Paris, chỉ trừ cặp nghệ sĩ Trần Quang Hải và Bạch Yến vẫn sinh hoạt nhiều nhờ hoạt động giới thiệu nhạc cổ truyền Việt Nam cho khán giả Tây phương trên khắp thế giới từ 20 năm qua dưới dạng chương trình cho khán giả người lớn, cho trẻ em tại các trường học trong khung cảnh giáo dục âm nhạc học đường, và tại các đại hội liên hoan nhạc truyền thống quốc tế. Họ là nghệ sĩ đại diện cho âm nhạc dân tộc Việt ở hải ngoại đi vào thế giới người Tây phương trong giai đoạn này.

Trong số các nghệ sĩ tỵ nạn có ba nhóm sinh hoạt nhạc truyền thống và cải lương : nữ nhạc sĩ Phương Oanh và ban Phượng Ca, hội nghệ sĩ tỵ nạn Paris, và hội nghệ si trẻ.

Phương Oanh, cựu giáo sư đàn tranh, tốt nghiệp nhạc viện quốc gia Saigon và thành viên của ban Hoa Sim (những nhạc sĩ trẻ gồm Thúy Hoan, Phương Oanh, Quỳnh Hạnh và Ngọc Dung). Cô tới Pháp năm 1976 và thành lập ban Phượng Ca với mục đích tạo một trường âm nhạc cổ truyền Việt Nam tại Âu châu (chi nhánh mọc ra ở Bỉ, Thụy Sĩ, Na Uy). Cô đã quy tụ được một số trẻ em Việt  nam nữ lập thành một đoàn trẻ em trình diễn đàn tranh, dàn cò, đàn kìm và nhạc cụ gõ, đã có tiếng vang tốt đẹp tốt đẹp trong giới trẻ Việt ố Âu châu.Đối tượng của Phương Oanh là phối hợp nhạc truyền thống Việt với hòa âm tây phương để tạo một loại nhạc cổ truyền 5

Tây phương hóa thích hợp với sở thích của trẻ em Việt lớn lên ở hải ngoại .

Hội nghệ sĩ tỵ nạn Paris do nghệ sĩ tài danh Hữu Phước thành lập tại Paris năm 1986. Hội đã quy tụ một số dông nghệ sĩ cải lương sinh sống tại Paris và ngoại ô Paris như Kiều Lệ Mai , Hà Mỹ Liên, Phương Thanh, Minh Đức, Kim Chi, Minh Thanh, Hoàng Long (rời hội thán 10, 1986). Nghệ sĩ Hữu Phước cố gắng làm cải lương sống lại trên đất Pháp. Hội được sự ủng hộ của khán giả Việt ở Paris.

Một hội nghệ sĩ trẻ do nghệ sĩ Chí Tâm thành lập, đã được một số nghệ sĩ hưởng ứng  như Tài Lương, Mỹ Hòa, Ngọc Lưu, Hùng Tiến. Chí Tâm là ca sĩ trẻ, đóng tuồng giỏi, đạo diễn tài ba và là nhạc sĩ đàn nhiều nhạc cụ cổ như ghi ta phim lõm, tranh, kìm, đàn bầu,đàn sến. Vời Chí Tâm hy vọng có thể đóng góp vào cải lương một bộ mặt sáng tạo mới.

Ngoài ba nhóm kể trên,một nhóm thứ tư quy tụ Hoàng Long, Ngọc Đức, Phương Hồng Ngọc thử giới thiệu loại thoại kịch (kịch nói) từ năm 1987.

Ở Mỹ một số nghệ sĩ cũng đang tìm cách giới thiệu âm nhạc cổ truyền. Nghệ sĩ nổi tiếng sáo tre Nguyễn Đình Nghĩa và các con tới Mỹ năm 1984, sinh sống tại tiểu bang Virginia, đã giới thiệu nhạc dân ca Việt qua một số chương trình tấu nhạc trên sân khấu nhưng không liên tục. Anh nổi tiếng ở Việt Nam qua bài độc tấu sáo « Phụng Vũ ». Anh ngừng trình diễn để dành thì giờ thể nghiệm đàn trưng và đàn đá từ những thanh đá tìm thấy ở Mỹ.

Bà Bích Thuận, nghệ sĩ cải lương lão thành, đã tới Pháp năm 1983 và định cư tại Mỹ từ năm 1985, không thành công kêu gọi các nghệ sĩ tỵ nạn nổi tiếng tại Mỹ để thành lập một gánh cải lương như lúc ở Saigon. Thỉnh thoảng bà tham gia những buổi sinh hoạt văn nghệ hay thực hiện những phim video cho khán giả Việt .

Nghệ sĩ Việt Hùng , đồng sáng lập viên gánh Hoa Sen cùng với nghệ sĩ Minh Chí . Ông là chồng của nữ nghệ sĩ Ngọc Nuôi (vẫn còn ở Saigon), đã tới Mỹ sau 30 tháng 4, 1975 . Ông tiếp tục cuộc sống văn nghệ một cách âm thầm với những vở tuồng quay video.

Hùng Cường, một trong những nghê sĩ trẻ của cải lương Saigon, đã tới Mỹ năm 1982. Anh quay sang hát tân nhạc. Sau một thời gian ngắn lúc đầu,anh chuyển sang nghề lồng tiếng cho những phim Tàu, đồng thời diễn cặp với nữ ca sĩ Mai Lệ Huyền nổi tiếng ở Saigon qua màn nhạc kích động .

Dũng Thanh Lâm, một nghệ sĩ cải lương, nổi tiếng ở Saigon nhờn đep trai, tới Pháp và trình diễn một thời gian ngắn. Sau đó sang Mỹ sinh sống . Anh đóng tuồng cải lương cho các phim video. Thỉnh thoảng được mời đi diễn.

La Thoại Tân, rất được ái mộ ở Saigon về hài hước,khi sang Mỹ trở thành nhà tổ chức nhữn buổi trình diễn nhạc dân tộc. Sau cùng anh sống với nghể chuyển âm cho các phim Tàu .

Nhật Minh, cùng với La Thoại Tân, đóng tuồng trong các phim video, và tham gia các shows ở Mỹ

Kim Tuyến, nghê sĩ cải lương  nổi tiếng , đã ngừng diễn cải lương . Bây giờ cô chuyển sang ca tân nhạc tại các phòng trà Việt và bắt đầu được biết tiếng từ vài năm nay .

Các nghê sĩ khác như Hà Mỹ Hạnh, Thiên Trang, Bích Liễu, Ánh Hoa, tiếp tục hành nghề nhưng không thu hút khán giả .

Nghệ sĩ Lữ Liên, cha của các ca sĩ nổi tiếng như Bích Chiêu, Khánh Hà, Tuấn Ngọc, ban nhạc Up Tight, tới Mỹ tháng 5, 1975.Lúc đầu ông tái lập ban AVT  (Lữ Liên, Vũ Huyến, Ngọc Bích) tham gia những chương trình  văn nghệ ở Mỹ và Âu châu. Hiên giờ ông đã gác kiếm, từ giã cuộc sống văn nghệ.

Nghê sĩ Xuân Phát cũng ngừng tham gia văn nghê khi tới Mỹ.

Hương Lan , con gái đầu lòng của nghệ sĩ Hữu Phước, là nghệ sĩ nổi tiếng nhứt  về tân nhạ cũng như cổ nhạc trong giới nghê sĩ Việt tỵ nạn từ năm 1987. Giọng hát của Hương Lan là sự phối hợp của hai giọng ca Út Bạch Lan và Thanh Nga. Từ khi tới Pháp năm 1978, Hương Lan cò mặ trong các buổi trình diễn cải lương nhưng không mấy thành công. Cô chuyển sang hành nghề ca sĩ tân nhạc hát ở các nhà hàng và phòng trà Paris. Từ năm 1985 cô rời xứ Pháp sang định cư ở Mỹ và trở thành ca sĩ được mời nhiều nhứt trong cộng đồng Việt Nam .

Ở Đức, hai nghệ sĩ Phượng Mai (hồ quảng) và Thành Được   (cải lương) gặp nhiều khó khăn khi hành nghề cải lương vì thiếu khán giả. Phượng Mai theo gót Hương Lan chuyển sang hát tân nhạc ở các phòng trà Paris. Nghê sĩ Thành Được từ khi định cư tại Đức năm 1984 thườn trình diễn chung với Phượng Mai trong những chuyến đi Mỹ, Úc và Âu châu. Thành Được không còn ăn khách ở hải ngoại mặc dù tiếng tăm rất nổi tại quê nhà.

Trong 10 năm tới đây, hát cải lương có thể sẽ rơi vào quên lãng vì lẽ thiếu nghệ sĩ trẻ tiếp nối các đàn anh đàn chĩ ở hải ngoại. Nhạc cổ truyền có thể tồn tại lâu hơn nhưng không bành trướng, bởi vì các ca sĩ trẻ hướng về nhạc trẻ tây phương hay tân nhạc ngoại lai . Số nhạc sĩ đàn nhạc cụ cổ truyền không có cơ hội đào tạo thêm nhạc sĩ trẻ.

2. SỰ PHÁT TRIỂN TÂN NHẠC

Từ tháng 5, 1975, sự ra đi của nhiều nghệ sĩ tân nhạc sống ở miền Nam Viêt Nam tụ hợp rất đông ở Mỹ đánh dấu một sự phát triển mạnh mẽ của nhạc di tản. Loại nhạc này thể hiện bành trướng qua nhiều đề tài sáng tác.)

  1. Nhớ quê hương, nhớ Saigon (1975-1977) với những ca khúc gợi lại kỷ niệ xưa đã mất đi. Một số bản nhạc tiêu biểu như « Vĩnh biệt Saigon » của Nam Lộc (1976), « Saigon niềm nhớ không tên » của Nguyễn Đình Toàn (1977)
  2. Kháng chiến, đấu tranh để chiếm lại quê hương (1978-1981) được thể hiện qua các ca khúc trong « Hát trên đường tạm dung » của Phạm Duy (1978), những ca khúc của nữ nhạc sĩ Nguyệt Ánh như « Em nhờ màu cờ » (1981), « Dưới cờ phục quốc » (1981), hay các bài của Việt Dzũng « Lưu vong khúc »(1980) « Kinh tỵ nạn), vv…
  3. Miêu tả  đời sống tù nhân tại Việt Nam trong tuyển tập 20 ca khúc của Phạm Duy phổ thơ của Nguyễn Chí Thiện « Ngục ca » (1981), và những bản nhạc của nhà thơ / nhạc sĩ Hà Thúc Sinh « Tiếng hát tủi nhục » (1982), vv…
  4. Hồi sinh những ca khúc tiền chiến (1982-1985) với hàng trăm băng K7 thu thanh các giọng hát ăn khách đương thời (Elvis Phương, Duy Quang , Chế Linh) và các giọng ca nữ (Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Hương Lan, Julie Quang) để làm sống lại những kỷ niệm khó quên của thời vàng son Saigon.
  5. Khai sinh phong trào Hưng Ca (từ năm 1985) quy tụ một số nhạc sĩ trẻ như Hà Thúc Sinh, Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyệt Ánh, Việt Dzũng, Phan Ni Tấn, Khúc Lan để sáng tác những ca khúc tranh đấu mới, kháng chiến, tình yêu làm khơi dậy lòng yêu nước của người Việt tỵ nạn .
  6. Phát triển loại nhạc kích động « New Wave » và nhạc phim bộ Tàu (từ năm 1986) với hàng trăm K7 được sản xuất chỉ riêng cho năm 1986 về loại nhạc tây phương đang ăn khách và nhạc phim bộ Tàu (Trung quốc, Hồng Kông và Đài Loan) với lời Việt .

Đối với những nhà viết nhạc hiện đang sinh sống tại Mỹ, Phạm Duy vẫn là nhạc sĩ được mến chuộng nhứt. Các bản nhạc viết trước 1975 của ông chiếm 90% trong số bài bản được thâu ở hải ngoại. Tất cả các ca sĩ đều hát ít nhứt là một bài của Phạm Duy trong các băng K7 được phát hành trong giai đoạn này. Những bản nhạc mới sáng tác của ông từ năm 1978 đều hướng về hiện trạng tỵ nạn, về đời sống thiếu tự do ở Việt Nam, đều được mọi người hưởng ứng. Từ năm 1985 ông ít sáng tác hơn , nhưng viết lời Việt cho những ca khúc nổi tiếng Tây phương.

Hoàng Thi Thơ sáng tác ít hơn. Ông chuyển sang nghề điều khiển một chương trình truyền hình dành cho người Việt tỵ nạn ở Cali. Sang Mỹ năm 1975, ông viết một số ca khúc mời về Saigon vời những đề tài nhờ quê hương (1975-1980), và tình yêu (từ 1981).

Những nhạc sĩ khác nổi tiếng ở Saigon như Văn Phụng, Tô Huyền Vân, Ngọc Bích, Anh Việt, Huỳnh Anh, Song Ngọc, Trần Văn Trạch, Lê Trọng Nguyễh gần như không còn sáng tác.

Ngược lại, một thế hệ nhạc sĩ trẻ được chào đời ở hải ngoại. Ở Mỹ,Nguyệt Ánh (chỉ được tới từ năm 1980), Việt Dzũng, Châu Đình An, Phan Kiên, Huỳnh Công Ánh, Khúc Lan, tất cả là thành viên của phong trào Hưng Ca, đã viết nhiều ca khúc trên những đề tài tranh đấu và kháng chiến. Duy Quang viết về những vấn đề tỵ nạn, Lẻ Uyên Phương về ngưới vượt biển, Hà Thúc Sinh về điều kiện tù tội ở Việt Nam, Đức Huy về tình yêu.

Những nhạc sĩ khác như Nguyễn Hữu Nghĩa, Phan Ni Tấn, Trọng Nghĩa ở Canada, Hàn Lệ Nhân, Phan Văn Hưng, Lê Khắc Thanh Hoài, Ngô Minh Khánh, Ngô Càn Chiếu, ở Pháp, Nguyễn Quyết Thắng ở Hòa Lan, Hoàng Ngọc Tuấn, Phạm Ngọc Quang, Cung Đàn Nguyễn Sỹ Nam ở Úc châu, đã viết hàng ngàn bài nhạc mới về những vấn đề hiện tại, những khát vọng, kháng chiến. Nhà thơ/nhạc sĩ Hà Thúc Sinh (Mỹ), Duyên Anh (Pháp) bắt đấu sáng tác nhạc trên những bài thơ của họ.

Rất nhiều nhạc sĩ phối khí bắt đầu làm việc không ngừng nhờ những buổi sinh hoạt văn nghệ, những chuyến đi diễn hay làm việc tại các phòng thâu băng. Có thể kể :Lê Văn Thiện, Trung Nghĩa, Hồ xuân Mai, Nghiêm Phú Phi (tới Mỹ năm 1984), Đan Thọ, Ngọc Chánh, Lê Văn Khoa, Tùng Giang ở Mỹ, Võ Đức Tuyết, Võ Đức Lang, Xuân Vinh, Văn Tấn Sĩ ở Pháp.

Những nhạc sĩ đã thay đổi nghề như Trần Anh Tuấn (trước là giáo sư dạy mandoline ơ trường quốc gia âm nhạc Saigon , giờ làm người lên dây đàn piano), Trần Vĩnh (nhạc sĩ thổi saxo trở thành công nhân chuyên nghiệp trong một xưởng ở tỉnh Nancy), Nguyễn Xuân Phúc (làm giáo sư dạy nhạc ở một trường trung học ngoại ô Paris).

Những ban nhạc nhạc kích động  nổi tiếng ở Saigon như ban CBC, Dreamers (các con của nhạc sĩ Phạm Duy), Crazy Dogs (các con của nghệ sĩ Việt Hùng / Ngọc Nuôi),Uptight (các con của nghệ sĩ Lữ Liên), Family Love ở Mỹ, ban Blue Jets (thêm nhạc sĩ Ngô Minh Khánh) ở Pháp. Nhiều ban nhạc trẻ được thành lập để đáp ứng với số phòng trà khiêu vũ mọc lên như nấm ở Mỹ, Pháp, Canada và Úc.

Khánh Ly vẫn là ca sĩ đươc ưa chuộng nhứt ở hải ngoại. Cô có mặt trên khắp thị trường băng K7 và video. Cô xuất hiện trên khắp các sân khấu hải ngoại nơi có người Việt sinh sống.

Lệ Thu, Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Hương Lan, Julie Quang (sau này đổi thành Julie) là những ca sĩ được mời diễn nhiều nhứt.

Nữ ca sĩ Thái Thanh tới Mỹ năm 1985, dù giọng hát rất được ưa thích ở Việt Nam, không lôi cuốn được giới trẻ ở Mỹ.

Nhiều ca sĩ tiêp tục hành nghề : Băng Châu, Mai Lệ Huyền, Uyên Phương, Phương Hồng Hạnh, Phương Hoài Tâm, Hoàng Oanh, Minh Hiếu, Mỹ Thể, Jeannie Mai, Trúc Mai, Thái Hiền, Thái Thảo, Mai Hương, Khánh Hà, Ngọc Minh, Kim Anh, Huyền Châu, Lưu Hồng, Connie Kim, Carol Kim, Sơn Ca, Diễm Chi, Quỳnh Giao, Kim Tước ở Mỹ, Julie (ở Mỹ từ năm 1984), Thanh Mai (ở Mỹ từ năm 1985) Thu Hương, Mary Linh, Thiên Nga, Ngọc Hải, Minh Đức, Phương Hồng Ngọc ở Pháp, Kim Loan , Pauline Ngọc ở Đức, Phương Dung ở Úc.

Nhiều ca sĩ nổi tiếng chọn xứ Mỹ : Hoài Trung, Hoài Bắc, ban AVT, Bùi Thiện, Sĩ Phú, Duy Quang, Elvis Phương, Jo Marcel, Lê Uyên Phương, Hùng Cường, Trường Hải, Đừc Huy, Trường Thanh.

Một vài nghệ sĩ khác như Trần Văn Trạch, Cao Thái, Anh Sơn, Quốc Anh, Thanh Phong, Văn Tấn Phát ở lại Pháp. Công Thành, Thân Đình Nguyễn ở Úc.

Từ năm 1984, một thế hệ ca sĩ trẻ xuất hiện để tiếp nối các đàn anh đàn chị.Họ hát những bài Tây phươn bằng ngoại ngữ hay bằng bản dịch tiếng Việt. Họ bắt đầu xâm chiếm thị trường  như Linda Trang Đài, Ngọc Lan, Hải Lý, Kim Ngân, Tuấn Đạt, Tuấn Anh, Tuấn Vũ, Vũ Khanh, Anh Tài, vv .. ở Mỹ, Ngọc Huệ, Ngọc Điệp, Kim Huệ ở Úc, Hứa Khánh ở Canada, Minh Đức, Ngọc Hải, Văn Tấn Phát, Anh Sơn ở Pháp.

Một vài ca sĩ như Minh Trang (vợ của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước), Châu Hà (vợ của nhạc sĩ Văn Phụng ), Lệ Thanh, Hà Thanh ngừng trình diễn.

Sinh hoạt văn nghệ trong cộng đồng người Việt chỉ được tổ chừc vào cuối tuần. Người Việt chỉ thích đi khiêu vũ để giải trí và không tha thiết gì tới giá trị bài hát. Rất nhiều phòng trà mang những tên được biết tới ở Saigon như « RITZ », « Tự Do », « Queen Bee » ở Mỹ  , « Đêm Màu Hồng », « Las Vegas », ở Pháp. Tất cả những phòng trà thu hút ngày càng nhiều người vì họ muốn tìm quên lãng đời sống khó khăn tỵ nạn qua các điệu khiêu vũ quen thuộc dựa trên những bản thường nghe ngày xưa tại Saigon như Slow, Tango, Cha Cha Cha, Pasodoble, Rock, Bolero,

Nhiều nhà sản xuất băng nhựa ở Mỹ như Thanh Lan, Làng Văn , Giáng Ngọc, Tú Quỳnh, Thanh Thúy, Asia, Đời, Dạ Lan, Diễm Xưa phát hành hàng trăm băng K7. Nhà sản xuất Thanh Lan cho in hàng trăm băng K7 từng tháng.

Từ hai năm nay (1986-1987), một số nghệ sĩ tự phát hành băng với tên riêng của họ. Thanh Mai, Jo Marcel, Tùng Giang, Anh Tài, Kim Ngân, Ngọc Lan, Băng Châu, Trường Thanh, Thanh Tùng, Thy Hải ở Mỹ. Tại Pháp chỉ có ba nhà sản xuất băng quan trọng : Phượng Hoàng , Thúy Nga, và Phượng Nga Paris.

Nhiều phim video về tân nhạc không được thịnh hành cho lắm. Hàng trăm video về tân nhạc do Trung tâm Thúy Nga (Paris), trung tâm Túy Hồng (Mỹ) tạo thành một bằng chứng cụ thê về đời sống âm nhạc của nghệ sĩ Việt Nam tỵ nạn.

Những chuyến lưu diễn ngày càng nhiều từ 1986 nhờ những buổi hát giúp người vượt biển để có tiền giu&p ngân quỹ hội Y sĩ thế giới, hay những hội từ thiện cứu người Việt còn kẹt ở những trại tỵ nạn Đông Nam Á.

3. GIAI ĐOẠN KHỞI ĐẦU NHẠC CẬN ĐẠI TÂY PHƯƠNG

Bên cạnh vài nhà viết nhạc gốc Việt  viết nhạc cận đại Tây phương sinh sống tại Pháp từ lâu như Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Thiên Đạo, Tôn Thất Tiết, Trương Tăng, Trần Quang Hải, hai nhà viết nhạc trẻ tuổi tỵ nạn sống tại Úc. Người thứ nhứt là Hoàng Anh Tuấn, huy chương vàng ở đại hội liên hoan nhạc Việt năm 1978, đã rời xứ Việt Nam năm 1982 bằng đường thủy. Anh đã được học bổng nghiên cứu về dân ca và tân nhạc. Anh đàn ghi ta rất giỏi và cũng là một người viết nhạc có tiếng ở Úc. Anh đã soạn hòa âm cho các bài dân ca Việt theo hòa âm mới . Người thứ hai là em Nguyễn Mạnh Cường, 26 tuổi, đã đoạt giải thưởng sáng tác nhạc cận đại ở Đại hội liên hoan nhạc Á châu và Thái Bình Dương năm 1984 tại Tân Tây Lan với nhạc phẩm « Phụng Vũ ». Em theo học khoa sáng tác nhạc điện tử ở Úc châu từ năm 1985. Hy vọng em có thể trở thành nhà sáng tác nhạc cận đại Việt Nam trong tương lai.

Trong số các nhạc sĩ trình diễn nhạc Tây phương, nhạc sĩ Tây ban cầm Trịnh Bách, sang Mỹ năm 13 tuổi, là người duy nhứt hiện tại có trình độ quốc tế. Em được danh cầm Segovia mời em sang Tây Ban nha ở nhà ông luyện tập một thời gian để có thể trở thành người đàn Tây ban cầm thuộc hạng giỏi thế giới.

Nhiều nhạc sinh trẻ Việt Nam đang theo học tại các nhạc viện nổi tiếng ở Pháp, Mỹ và Úc .

Bài viết này chỉ có mục đích ghi lại một cách khách quan đời sống âm nhạc cổ và tân nhạc của người Việt tỵ nạn ở hải ngoại từ 1975 tới 1987. Âm nhạc tiếp tục phát triển đi lên hay đi xuống ? Câu trả lời sẽ được biết vào năm 2000.

TRẦN QUANG HẢI

TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI

Trần Quang Hải là con trai trưởng của GS Trần Văn Khê. Sinh năm 1944 tại Bình Hòa Xã (Thủ Đức). Ông học đàn vĩ cầm tại viện quốc gia âm nhạc Saigon từ năm 1956. Năm 1962 ông sang Paris học thực tập nhiều nhạc khi& Á châu tại Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương (Viện nhạc học của trường đại học Sorbonne) : đàn tranh Việt Nam, đàn Vina Ấn độ miền Nam, trống Zarb xứ Ba Tư, đàn Nam hồ Trung Quốc, và học môn dân tộc nhạc học với bà Claudie Marcel-Dubois.

Hiện nay ông là cộng tác viên chuyên nghiệp của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học, làm việc tại Viện Bảo tàng Con người và Viện Bảo tàng truyền thống dân gian. Song song với việc làm ở hai viện Bảo tàng, ông trình diễn nhạc cổ truyền Việt Nam trên toàn thế giới. Ông đã thu thanh 10 dĩa hát và một trong số dĩa đó đã đoạt giải thưởng của Hàn lâm viện Charles Cros Pháp năm 1983.