Étiquette : Thí sinh Nguyễn Phúc Hậu – 033: TRẦN VĂN KHÊ – CON NGƯỜI MANG NẶNG CHỮ TÌNH

Thí sinh Nguyễn Phúc Hậu – 033: TRẦN VĂN KHÊ – CON NGƯỜI MANG NẶNG CHỮ TÌNH

Nguyễn Quốc Thệ

💧♥️Thí sinh Nguyễn Phúc Hậu – 033

💧♥️Đến từ ĐH Sư Phạm Tp. HCM

TRẦN VĂN KHÊ – CON NGƯỜI MANG NẶNG CHỮ TÌNH

Một tiếng tơ đồng vạn tiếng thương!

1. Đôi dòng tâm tình về cố GS. TS Trần Văn Khê

Auguste Rodin là một họa sĩ và được biết đến là một nhà điêu khắc nổi tiếng của Pháp, lúc sinh thời ông đã từng nói: “The artist must create a spark before he can make a fire and before art is born, the artist must be ready to be consumed by the fire of his own creation.” Có thể tạm dịch “Người nghệ sĩ phải tạo ra một tia lửa trước khi có thể nhóm lên ngọn lửa và trước khi nghệ thuật sinh ra, người nghệ sĩ phải sẵn sàng để ngọn lửa sáng tạo của chính mình nuốt trọn.” Tôi cho rằng đây là một ý kiến hoàn toàn đúng bởi lẽ ngay trong đời sống này tôi đã tìm thấy được một con người, một minh chứng đáp ứng được những lời lẽ của ngài Rodin. Tôi chẳng phải tốn công đi tìm người nghệ sĩ đó vì ông ấy luôn hiện hữu trong tâm trí tôi, người đó không ai khác ngoài cố GS.TS Trần Văn Khê – con người mang nặng chữ tình.

Tôi sinh ra và lớn lên ở xã Đông Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Một diễm phúc lớn và đáng tự hào của tôi là khi quê nhà có được vị GS lừng danh và lỗi lạc. GS. TS Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang). Ông sinh trưởng trong một nhà có bốn đời làm nghệ thuật. Với dòng chảy truyền thống của gia đình đã làm cho ông có tình yêu với âm nhạc cổ truyền ngay từ khi còn nhỏ. Mấy ai biết được thuở ấu thơ người đàn ông này đã phải chịu cảnh mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch và Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Tiếng tăm và sự nghiệp của ông có được ngày hôm nay là cả một quá trình tự phấn đấu và rèn luyện, từ một cậu bé quê đến GS. TS âm nhạc học được cả thế giới công nhận và biết đến, con đường ấy chắc hẳn sẽ không có một ai ngoài Trần Văn Khê. Tuy nhiên, chúng ta hãy hi vọng và nỗ lực trong mọi hoàn cảnh, hãy lấy ông làm tấm gương sáng để học tập và cố gắng từng ngày.

Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác; là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies). Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam, đây là một việc làm đầy ý nghĩa cho việc đưa âm nhạc Việt Nam ra quốc tế. Cuộc hành trình rời xa quê hương sau 50 năm, cuối cùng năm 2006, ông chính thức về nước và sinh sống tại căn nhà số 32 Huỳnh Đình Hai, quận Bình Thạnh, TP. HCM, dù tuổi cao sức yếu nhưng ông vẫn tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông đã hiến cho TP. HCM 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc. Năm 2009, ông là một trong những trí thức nổi tiếng ký vào thư phản đối dự án Boxit ở Tây Nguyên. Sau một thời gian bị bệnh, ông qua đời vào khoảng hai giờ sáng ngày 24 tháng 6 năm 2015 tại bệnh viện Nhân dân Gia Định, TP. HCM.

Trong Truyện Kiều, đại thi hào dân tộc Nguyễn Du có viết:

“Thiện tâm ở tại lòng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”

Quả thật đối với một người như GS. Trần Văn Khê, ông là kết tinh của mọi sự tinh hoa. Một người Việt Nam có kiến thức sâu rộng về văn hóa, văn học, âm nhạc,… thông thạo nhiều ngoại ngữ như Pháp, Anh, Trung, Nhật,… có sự nghiệp được cả thế giới công nhận và kính trọng thì đây là một niềm tự hào, một vinh dự vô cùng to lớn đối với Việt Nam.

Đối với ông nghệ thuật âm nhạc cổ truyền dân tộc là một lẽ sống, là kho tàng quý báu của ông cha ta để lại, chúng ta phải có nghĩa vụ học hỏi, tiếp thu và lưu truyền. Từ những bài giảng thể hiện lối tâm tình, sự uyên bác đó đã khiến cho tôi ngày càng say mê với văn hóa, nghệ thuật truyền thống dân tộc và xem thầy là một vị thầy khả kính. Tôi biết tâm nguyện của ông còn rất nhiều, nhất là việc đưa âm nhạc dân tộc vào học đường. Tâm nguyện này cho đến giờ vẫn chưa được thực hiện, tôi mong rằng các nhà giáo dục xem xét đưa việc giảng dạy âm nhạc truyền thống vào trường học nhằm giúp cho các thế hệ sau tiếp nối, và phát huy những giá trị tốt đẹp mà ông cha ta đã gầy dựng. Trong năm nay do đại dịch covid hoành hành nên kỵ giỗ của thầy không được tổ chức. Với tấm lòng hiếu kính của nhiều học trò, thân hữu, bạn bè trong và ngoài nước nên nén tâm hương cùng những lời cầu nguyện trước áng tiền của thầy vẫn bay khắp trời Nam.

2. Ý nghĩa của văn hóa Việt Nam qua các cổ bản Cải lương

Theo hệ thống ngũ cung hò – xự – xang – xê – cống líu sáu bài Bắc được sắp xếp như sau:

1. Lưu thủy, hò, kim màu trắng, 16 câu tượng trưng thập nhị tức là 12 chi gồm 12 con giáp và tứ thời.

2. Phú lục, xự, mộc màu xanh, 17 câu tượng trưng 12 chi và ngũ phương.

3. Bình bán, xang, thủy màu đên, 22 câu tượng trưng 12 chi và thiên can.

4. Cổ bản, xê, hỏa màu đỏ, 34 câu tượng trưng 12 chi, thiên can 10, bát tiên ( Xuân phân, thu phân, hạ chí, đông chí, lập xuân – hạ – thu – đông)

5. Xuân tình, cống, thổ màu vàng, 24 câu tượng trưng 12 chi, thiên can 10 và âm dương

6. Tây thi, líu, kim màu trắng 26 câu tượng trưng 12 chi, 10 thiên can và tứ thời _

Bài lưu thủy vô đầu bản cung hò mang ý nghĩa chúc nhau nước chảy thông lưu không gì cản trở, bước đầu đời mọi việc êm xuôi tốt đẹp, nước là điều kiện tối ưu tạo ra sự sống của mọi sinh vật, hò – kim (màu trắng) kết hợp tạo thành bức tranh thủy mặc tuyệt đẹp._Phú lục hay còn gọi là phú lục chấn vô đầu bản là cung xự, phú là nhiều, lục là lục địa, chấn là rộng lớn ngày xưa những dịp lễ lạc cúng đình, chùa, miếu mạo,

Hoặc ăn tư niên nhà, khai trương thương hiệu đều chúc nhau hai bài lưu thủy trường và phú lục chấn, ngụ ý chúc cho nhau mọi việc đều thông lưu như nước chảy giàu có, đất đai phì nhiêu, cò bay thẳng cánh, cuộc sống thịnh vượng bình an. Hai bài này kết hợp đàn liên tục ngụ ý một đất nước muốn lớn mạnh phải dựa trên sông ngòi, biển cả, đất đai, địa lí ôn hòa, dân chúng ấm no, gia đình hạnh phú._

Bình bán, mở đầu bài bằng chữ xang bài thứ 3 trong 6 Bắc, bình là bằng bán là phân nửa, ở giữa trong thanh âm ngũ cung chúng ta thấy xang ở giữa trên và dưới đều có hai chữ xang nền đen sinh ra u, xự màu xanh mang ý nghĩa thủy sinh mộc

_Cổ bản, bài thứ 4 trong 6 bài bắc, cổ bản vô đầu bản cung xê, đây là một trong những bản âm nhạc cổ truyền biểu hiện, diễn tả căn bản luân lí Việt Nam theo thuyết Khổng Tử, Mạnh Tử, gọi là tam can : quân thần vua tôi, phụ tử cha con, phu thê chồng vợ, ngũ thường: nhân lễ nghĩa trí tính, cung xê hỏa màu đỏ, hỏa sinh thổ màu vàng, màu đỏ sinh màu vàng lửa đốt cháy rừng biến thành đất từ đó chúng ta cổ bản có thêm một cách đờn nữa là chuyển từ hơi Bắc qua hơi Ai gọi là cổ bản ai.

_Xuân tình, bài thứ năm trong sáu bài Bắc,vô đầu bằng chữ cống vui vẻ, phấn khởi có nghĩa là tình xuân, tình cảm của tuổi thanh xuân điển hình con người ở lứa tuổi luôn chứa chang một tình cảm nồng nàn, tràn đầy sức sống thích xông tới không sợ chông gai hầm hố, chữ cống nền vàng sinh màu trắng, hò liu thổ sinh kim.

_Tây Thi, bài thứ sáu trong sáu bài Bắc, bài này được sáng tác vào đầu thế kỉ XX bởi bốn nhạc sĩ miền Nam, trong đó có ông Tư Quán một danh cầm xuất thân từ miền Đông cùng nhau đi biểu diễn nhạc cổ truyền miền Nam tại hội chợ quốc tế Paris, với ý nghĩa là đi Tây để thi âm nhạc.