Étiquette : Thí sinh HỒ NHỰT QUANG 035: GS.TS TRẦN VĂN KHÊ VÀ GIÁ TRỊ LỜI RU TRUYỀN THỐNG

Thí sinh HỒ NHỰT QUANG 035: GS.TS TRẦN VĂN KHÊ VÀ GIÁ TRỊ LỜI RU TRUYỀN THỐNG

Nguyễn Quốc Thệ

1tSiponsoiurehsd  · 💧♥️Thí sinh Hồ Nhựt Quang – 035

💧♥️GS.TS TRẦN VĂN KHÊ VÀ GIÁ TRỊ LỜI RU TRUYỀN THỐNG

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18/07/2021

Thí sinh: Hồ Nhựt Quang

Có lẽ trong mỗi chúng ta, nhất là những ai được sinh ra trước thế hệ Gen Z đều được lớn lên bằng dòng sữa mẹ và lời ru của mẹ. Nội dung lời ru là những thông điệp của người mẹ, người chị, có khi là của người bà hoặc ông, cha, anh…chia sẻ tình cảm về tình yêu quê hương đất nước, tình cảm gia đình, tâm sự buồn vui, ví von trong cuộc sống. Khi ở tuổi còn thơ, chắc chắn chúng ta không thể hiểu được nội dung lời ru là gì, chỉ đón nhận bằng tiết tấu êm dịu, tình cảm và sự trân trọng, bảo bọc, tạo nên cảm giác được an trú để ta chìm vào giấc ngủ nồng nàn, để rồi khi lớn lên, nó trở thành ký ức đẹp khiến ta khắc khoải mỗi khi nhớ về tuổi thơ.

Thú thật, vào trước năm 1995, tôi chưa thể hiểu lời hát ru quý giá thế nào, may mắn, tôi đã được GS.TS Trần Văn Khê- người từ Pháp về trường ĐH KHXH-NV giảng cho sinh viên chúng tôi nghe về văn hóa nghệ thuật truyền thống Việt Nam, trong đó có hát bội, đờn ca tài tử và cải lương, nghệ thuật khóc và cười trên sân khấu…và đã có nói về giá trị lời hát ru trong thai giáo: “Sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn!”

GS-TS Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 năm Tân Dậu, nguyên quán tại làng Đông Hòa (Vĩnh Kim-Tiền Giang ngày nay). Thầy được sinh ra trong một dòng dõi cao quý, cụ cố ngoại của thầy là tướng Nguyễn Tri Phương- một danh thần đầy khí tiết triều Nguyễn. Cả hai bên nội ngoại đều là những gia đình có truyền thống âm nhạc –nghệ thuật nổi tiếng, như thầy đờn Năm Diệm (ông nội), thầy đờn Bảy Triều (thân phụ), cô thứ ba là bà Ba Viện (Trần Ngọc Viện)- người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban. Cậu thứ năm là thầy đờn Năm Khương (Nguyễn Tri Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, cũng là nhà soạn tuồng. Chính vì được sinh ra trong gia đình có truyền thống văn hóa- âm nhạc như thế nên ngày thầy ra đời cũng có sự đặc biệt. Thuở sinh tiền, thầy kể lại rằng: “Hồi má tôi mang thai tôi, thiệt sự là chưa có ai nghĩ đến chuyện thai giáo, chưa biết chăm sóc sức khỏe sanh sản như thế nào là đúng khoa học, phần nhiều dưới quê là nghe lời khuyên của mụ vườn. Gia đình tôi thì có cái khác đó là sau giờ nghỉ trưa, cậu Năm tôi lại đem ống sáo đến thổi những bản đờn truyền thống trong nhạc tài tử cho má tôi nghe. Mỗi ngày mợ Năm tôi đều xoa xoa, vuốt ve bụng má tôi và rồi thủ thỉ nói chuyện một cách êm dịu với em bé trong bụng, thậm chí hát ru ít câu cho em bé nghe… Cậu Năm tôi ý tứ lắm, không cho má tôi đi xem hát bội vì sợ má tôi dễ bị hoảng hốt khi nhìn mặt tướng có nét vẽ vằn vện hoặc là đấu kiếm đấu võ, hò hét khiến ảnh hưởng em bé. Trong phòng ngủ của má tôi, cậu Năm cho treo tranh Tố Nữ, tức là bốn người phụ nữ đờn với vẽ mặt thanh tú đôn hậu. Đến ngày chuyển bụng, mợ Năm tôi luôn túc trực cạnh giường, chuyện trò cho má tôi an tâm bớt lo lắng. Khi tôi vừa lọt lòng thì cậu Năm tôi thổi sáo, chào mừng tôi ra đời. Nghe má tôi kể lại như vậy, tôi cảm thấy rất diễm phước và diễm phước nữa đó là tôi được lớn lên trong gia đình yêu âm nhạc truyền thống, được lớn lên nhờ lời ru của má và mợ. Sau này, khi nhà tôi mang thai con trai đầu lòng là Trần Quang Hải, tôi cũng chăm sóc giống như vậy.” Thông qua các bài diễn thuyết của thầy, tôi đã say sưa nhiều điều thú vị về văn hóa và nghệ thuật truyền thống Việt Nam, hiểu được giá trị ấy đặc biệt quan trọng như thế nào đối với vận mệnh của dân tộc. Thầy đã kết luận tại buổi nói chuyện rằng: Văn hóa còn thì đất nước còn. Có lẽ vì thế, từ một người có chuyên ngành y khoa, học về chính trị, từ một người giỏi về âm nhạc phương Tây, là bạn thân của những nhạc sĩ trứ danh như Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng…thầy chuyển sang nghiên cứu văn hóa-âm nhạc dân tộc Việt Nam. Tháng 6 năm 1958, thầy đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne với luận văn có tên: “LaMusique vietnamienne traditionnelle” (Âm nhạc truyền thống Việt Nam). Mang khát vọng muốn truyền bá văn hóa và nghệ thuật truyền thống Việt Nam vinh danh trên tầm thế giới, từ năm 1963, thầy dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de Paris), trở thành thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác. Thầy còn là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies). Từ lúc xuất dương năm 1949, đến ngày hồi hương năm 2006, thầy đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về văn hóa và âm nhạc dân tộc Việt Nam.

Câu chuyện về cuộc đời và sự nghiệp của thầy giúp tôi có nhiều thay đổi và định hướng tích cực hơn trong cuộc sống. Khi về nước với rất nhiều tài liệu quý của mấy chục năm nghiên cứu và giảng dạy ở nước ngoài, thầy đã sinh sống tại ngôi nhà địa chỉ 32- Huỳnh Đình Hai (Q.Bình Thạnh-TPHCM) tiếp tục chia sẻ về văn hóa –nghệ thuật dân tộc. Bản thân tôi rất ngại ngùng khi tiếp xúc với người nổi tiếng vì sợ ai đó đánh giá khác về mình, tuy nhiên, khoảng cách ấy đã bị xóa nhanh vì 2 lý do:

– Lý do thứ nhất, khi chúng ta gặp GS.TS Trần Văn Khê, chúng ta sẽ nhận được nhiều năng lượng tích cực bởi vì thầy luôn hòa nhã, thân thiện, luôn khen những điều chúng ta đã làm được để chúng ta phấn chấn phát huy hơn. Ở những khuyết điểm của chúng ta thì thầy không bao giờ chê trách, mà sẽ cho chúng ta những giải pháp chọn lựa, nhờ đó chúng ta biết cách tự chuẩn hóa kiến thức và phát huy năng lực bản thân.

– Lý do thứ hai, đừng nghĩ rằng bề dày thâm sâu trong hiểu biết và học vị cao của thầy sẽ làm chúng ta khó với tới, khó tiếp cận. Điểm độc đáo là thầy luôn hóa giải điều khó hiểu thành dễ hiểu, ứng dụng linh hoạt của học thuật mang tính bác học và dân gian ở mức dung dị và hòa hợp nhất để bất kỳ ai dù ở địa phương nào, già hay trẻ, thuộc chuyên ngành khoa học tự nhiên hay xã hội cũng đều dễ hiểu, dễ thực hiện nhất. Thầy quan niệm rằng, đừng trách giới trẻ không quan tâm văn hóa- nghệ thuật truyền thống, mà phải tìm cách giúp cho giới trẻ hiểu biết về văn hóa-nghệ thuật nước nhà, có hiểu thì mới yêu quý, có yêu quý thì mới biết gìn giữ.

May mắn được thầy truyền lửa để cùng thầy chia sẻ về văn hóa ẩm thực, trang phục, lễ giáo, nghệ thuật đờn ca tài tử cải lương, hát bội, hát ru, nghề truyền thống…Thầy đã lập cho tôi một câu lạc bộ văn hóa-nghệ thuật ngay tại hội trường tư gia của thầy mang tên CLB Nghiên cứu và Vinh danh Văn Hóa Nam Bộ được báo đài và nhiều quý vị học giả quan tâm sâu sắc. Trong các chuyên đề nghiên cứu, thầy băn khoăn nhất về việc bảo tồn hát ru Việt Nam vì rất hiếm khi nghe ai đó ru con ngủ như ngày xưa. Tôi còn nhớ thầy đã rất xúc động khi tôi lên sân khấu giao lưu hát ru Nam bộ minh họa cho buổi diễn thuyết của thầy về chủ đề thai giáo vào ngày 12/05/2010. Hôm đó, tôi đã hát ru mấy câu mà ngày xưa bà ngoại tôi đã ru tôi ngủ:

Ầu ơ…con tôi ngủ dại ướt manh,

Mẹ nằm phần ướt, ráo dành cho con.

Ngày sau, con có lớn khôn

,Mẹ già trí lẫn, ầu ơ…mẹ già trí lẫn, chớ hờn nghe con…ơ ầu ơ…

Chưa dứt câu hát ru, tôi đã nghe dưới hàng ghế khán giả có nhiều tiếng nấc nức nở và tôi cũng xúc động rưng rưng khi nhớ về bà ngoại của tôi. Tiếng hát ru của Việt Nam mình lạ lắm, không giống quốc gia nào đâu, có bản sắc rất riêng, mang tính vùng miền khác nhau, chất liệu từ ngữ và giai điệu cũng khác nhau nhưng trầm lắng, luyến láy êm dịu thiết tha. Nội dung lời hát ru của miền Nam lại rất đặc biệt ở chỗ không bị giới hạn kiêng kỵ gì. Ví dụ như vài trường hợp dưới đây:

– Than thở khi biết chồng có vợ bé hoặc muốn đi lấy chồng khác mà sợ phải xa con (có khi không phải thực tế là vậy):

Gió đưa bụi chuối sau hè,

Anh mê vợ bé, bỏ bè con thơ.

Trời mưa bong bóng bập bồng

,Mẹ đi lấy chồng, con ở với ai…

– Mượn món ăn nói về tình mẫu tử, mượn cách làm món ăn để ru con:

Cơm nào ngon, bằng cơm với cá,

Tình nào bằng tình má thương con.

Dí dầu con cá nấu canh,

Bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm.

– Khuyên con biết yêu văn hóa phong tục:

Con ơi, đừng sợ lân đình,

Đừng ghê ông hổ, mà mình tội thêm.

Tội là bỏ tổ, bỏ tiên,

Nhang tàn khói lạnh, tiền hiền quạnh hiu.

Người mẹ chắc chắn không cần phải cố thể hiện như một nghệ sỹ nhưng em bé sẽ tiếp nhận như được thần tượng âm nhạc đem lại sự an trú trong tâm hồn, từ đó nuôi dưỡng từng chút phát triển thể chất lẫn tinh thần. Lời hát ru, điệu ru em đã trở thành sợi chỉ đỏ, chất keo sơn, là nhịp cầu trái tim để khi nhớ về tuổi thơ, nhớ về mẹ cha, nhớ quê hương thì câu hát ru lại vang lên trong ký ức. GS.TS Trần Văn Khê đã cho rằng, cách thai giáo tốt nhất là người mẹ luôn giữ tâm lý lạc quan, quý trọng thai nhi, biết cách kiểm soát tâm lý, tránh sự tức giận vì khoa học đã chứng minh trong cơ thể người mẹ tiết ra rất nhiều chất adrenaline khi tức giận, chất cholamine khi người mẹ sợ hãi, chất endorphine khi người mẹ hạnh phúc và những chất đó đi ngang qua cuống rốn, ảnh hưởng đến thai nhi.

Thầy đã về với thiêng liêng nhưng giá trị lời hát ru và văn hóa nghệ thuật dân tộc vẫn sống mãi trong lòng chúng tôi. Kính như tại,

Hồ Nhựt QuangTPHCM, 18/07/2021