Étiquette : SỰ NGHIỆP GS.TS TRẦN VĂN KHÊ – CÒN ĐÓ TRĂM NĂM VÀ MÃI MÃI

Thí sinh Phan Thị Huyền Trân – 011: VĂN KHÊ VÀ ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG1.CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP GS.TS TRẦN VĂN KHÊ – CÒN ĐÓ TRĂM NĂM VÀ MÃI MÃI

Nguyễn Quốc Thệ

YcleteShstercptodtfelliaoyando satu 7l:50oarei lAdMi  · 💧♥️Thí sinh Phan Thị Huyền Trân – 011

💧♥️ CỐ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ VÀ ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG1.CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP GS.TS TRẦN VĂN KHÊ – CÒN ĐÓ TRĂM NĂM VÀ MÃI MÃI

Tôi tên là Phan Thị Huyền Trân, tôi sinh ra và lớn lên trên mãnh đất Vĩnh Kim, Châu Thành, Tiền Giang. Là một trong những người trẻ có niềm đam mê và yêu thích âm nhạc truyền thống của dân tộc. Bản thân tôi là một người con của vùng đất Vĩnh Kim, quê hương của GS.TS Trần Văn Khê và là nơi gắn liền với nghệ thuật cải lương, đờn ca tài tài. Tôi cảm thấy thật vinh dự và tự hào khi quê hương mình sinh ra một tên tuổi lớn, một người con ưu tú, tài năng, tâm huyết và uyên bát như GS.TS Trần Văn Khê.

GS.TS Trần Văn Khê là một trong những cây đại thụ của làng âm nhạc dân tộc Việt Nam. Ông là một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền của dân tộc và là người có nhiều đóng góp trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, quảng bá văn hóa và âm nhạc truyền thống Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. Với sự kính trọng và lòng ngưỡng mộ của mình, tôi đã tìm hiểu về gia đình, cuộc đời và sự nghiệp của GS.TS Trần Văn Khê, càng thấy trân trọng, tự hào với những đóng góp của ông cho nền nghệ thuật nước nhà và mang hình ảnh, văn hóa đất nước Việt Nam với bạn bè quốc tế. Cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư Trần Văn Khê đã viết nên những trang sử vàng đáng nhớ, là một kho tàng quý báu cho nền âm nhạc Việt Nam.

GS.TS Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang). Vĩnh Kim là vùng đất có bề dày lịch sử văn hóa và cũng là cái nôi của nhạc tài tử, sân khấu cải lương Nam bộ. Nơi đây đã sinh ra cho nghệ thuật sân khấu Nam bộ nhiều danh cầm nổi tiếng cả nước. Trong đó có gia đình của của cố GS.TS Trần Văn Khê, khi cả bên ngoại và bên nội ông đều là những người trong giới nhạc truyền thống.

Cụ cố nội là Ông Trần Quang Thọ trước kia là nhạc công của triều đình Huế. Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm) là nghệ nhân đàn kìm, đàn tranh và chuyên về đàn tỳ bà. Cha ông là Trần Quang Chiêu mà giới tài tử trong Nam gọi là Bảy Triều, ông biết nhiều loại đàn nhưng đặc biệt nhất là đàn độc huyền (đàn bầu) và đàn kìm (đàn nguyệt). Cô là Trần Ngọc Viện tức Ba Viện, người sáng lập gánh hát Đồng Nữ Ban, bà chơi đàn rất hay .Cụ cố ngoại là Khâm sai Đại thần Nguyễn Tri Phương của triều Nguyễn. Ông ngoại là Nguyễn Tri Túc , là người truyền ngón đàn cho GS.TS Trần Văn Khê. Ông ngoại là người rất say mê âm nhạc và nuôi rất nhiều nhạc sĩ danh tiếng vùng Cần Đước – Vĩnh Kim và có ba người con cũng theo nghiệp đờn ca. Nguyễn Tri Lạc – Cậu Tư của GS.TS Trần Văn Khê, ông nghệ nhân đàn cò, đàn tranh và đánh trống nhạc lễ. Nguyễn Tri Khương là cậu thứ năm, ông là thầy dạy của GS.TS Trần Văn Khê đánh trống nhạc lễ và trống hát bội và là người sáng tác nhiều bản nhạc truyền thống, nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Mẹ của GS.TS Trần Văn Khê là bà Nguyễn Thị Dành (Tám Dành).

GS.TS Trần Văn Khê có hai người em là Trần Văn Trạch, một trong những nhạc sĩ nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975 và Trần Ngọc Sương, từng là ca sĩ với nghệ danh là Ngọc Sương, sau đổi lại là Thủy Ngọc trong những năm 1948 – 1950.

GS.TS Trần Văn Khê lập gia đình năm 1942 với bà Nguyễn Thị Sương và có bốn người con: Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh – Kiến trúc sư và Trần Thị Thủy Tiên, Trần Thị Thủy Ngọc – nữ nhạc sĩ đàn tranh, làm việc cho Ban nghiên cứu Đông Nam Á của Trung tâm Nghiên cứu khoa học ở Paris.

Qua phần giới thiệu, chia sẽ về gia đình của GS.TS Trần Văn Khê cho chúng thất được rằng GS.TS Trần Văn Khê được thừa hưởng, được sinh ra và lớn lên trong một gia đình khi cả bên ngoại và bên nội có 4 đời theo dòng âm nhạc truyền thống. Họ là những là những người danh cầm nổi tiếng, là người có tên tuổi trong giới nhạc truyền thống lúc bấy giờ và có công rất lớn trong việc truyền bá, phát triển dòng nhạc tài tử Nam bộ qua bao thế hệ.

Từ nhỏ, GS.TS Trần Văn Khê đã học rất giỏi, năm 10 tuổi ông đậu tiểu học, 13 tuổi đậu sơ học và tiếp tục học trung học tại Trường Pétrus Ký (còn gọi là Trường Trương Vĩnh Ký).

Năm 1941, Trần Văn Khê ra Hà Nội học y khoa, ông cùng Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Nguyễn Thành Nguyên hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội Sinh viên và được cử làm nhạc trưởng của dàn nhạc trường. Ông còn tham gia phong trào « Truyền bá quốc ngữ », « Truyền bá vệ sinh », rồi tham gia kháng chiến trong phong trào « Thanh niên Tiền phong » tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Đến năm 1946, khi Pháp tấn công đánh chiếm lục tỉnh, các cơ quan bộ đội rút vào hoạt động bí mật. Trần Văn Khê trở về Sài Gòn và đi dạy học tại các trường tư, đồng thời làm thêm nghề mới là viết báo. Ông tham gia nhóm kháng chiến do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, sau là Mai Văn Bộ chỉ huy. Năm 1948, nhóm kháng chiến tại thành bị lộ, Trần Văn Khê bị bắt và giam tại khám Catinat, ông bị giam hai tuần sau đó được thả ra vì không có chứng cớ, nhưng từ đó bị mật thám theo dõi.

Năm 1949, Trần Văn Khê sang Pháp du học và học tại viện Khoa học Chánh trị Paris và từ đó ông bắt đầu hành trình hơn 50 năm bôn ba năm châu bốn biển của mình.

Năm 1951 ông tốt nghiệp Khoa học Chánh trị và Khoa Giao dịch Quốc tế và học Anh văn tại Đại học Văn khoa Paris.

Cuối năm 1954, ông theo học và chuẩn bị làm luận án tiến sĩ tại Khoa Âm nhạc trường Đại học Sorbonne, Paris với đề tài « Âm nhạc truyền thống Việt Nam ».

Đến tháng 6 năm 1958, ông bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ cùng với đề tài phụ « Khổng tử và âm nhạc ». Từ đây ông bắt đầu những bước đầu tiên trên chặng đường dài nghiên cứu, giảng dạy và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam

.Với tài năng và tâm huyết của mình, GS.TS Trần Văn Khê đã tạo dựng được uy tín rất cao trong giới nghiên cứu âm nhạc thế giới và trở thành thành viên của nhiều tổ chức âm nhạc quốc tế: Thành viên của Viện hàn lâm khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm Châu âu về Khoa học văn chương và nghệ thuật, là thành viên rồi giữ vai trò Phó chủ tịch Hội đồng Quốc tế Âm nhạc của UNESCO, 10 năm liền được tín nhiệm ở vai trò Chủ tịch Ban tuyển chọn quốc tế của Diễn đàn âm nhạc châu Á, Tiến sĩ âm nhạc danh dự của Đại học Ottawa, Đại học Monoton (Canada) và là thành viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế và các nước

Trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy, trình diễn và quảng bá âm nhạc dân tộc của GS. TS Trần Văn Khê, ông đã tham dự hơn 200 hội nghị quốc tế về âm nhạc và âm nhạc học trên 67 quốc gia, gần 20 liên hoan quốc tế về âm nhạc khắp năm châu, đăng gần 200 vài viết bằng tiếng Pháp, tiếng Anh và được dịch ra nhiều thứ tiếng như Đức, Trung Quốc, Ả Rập; Ghi âm trên 600 giờ âm nhạc và trao đổi với nghệ nhân, nghệ sĩ Việt Nam, 300 giờ âm nhạc châu Á, châu Phi, chụp 8.000 ngàn ảnh về sinh hoạt âm nhạc của nhiều nước; Thu thập 500 đĩa hát của các nước, thực hiện 15 đĩa hát về âm nhạc truyền thống Việt Nam và thực hiện nhiều phim ngắn về dân tộc nhạc học. GS. TS Trần Văn Khê là người đã có những đóng góp quan trọng trong việc đưa Ca trù, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Đờn ca tài tử Nam Bộ trở thành di sản phi vật thể của thế giới.

Năm 2006, GS.TS Trần Văn Khê trở về Việt Nam sau hơn nửa thế kỷ sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Với rất nhiều tư liệu nghiên cứu quí giá bằng sách, sổ ghi chép và băng đĩa, ông cùng các cán bộ ngành văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh và những người cộng sự xây dựng Thư viện Trần Văn Khê phục vụ nhu cầu nghiên cứu âm nhạc dân tộc, đồng thời tổ chức hàng trăm buổi biểu diễn, nói chuyện, giao lưu với công chúng. Nơi ở của ông đã thực sự trở thành một địa chỉ văn hóa quen thuộc, thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu, nghệ sĩ và khán giả trong và ngoài nước.

Với nhiều đóng góp cho sự nghiệp âm nhạc thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, GS.TS Trần Văn Khê là người Việt Nam đầu tiên được ghi danh và tiểu sử vào cuốn « Đại từ điển Âm nhạc thế giới ». Bên cạnh đó, ông còn nhận được nhiều huy chương, bằng danh dự và nhiều giải thưởng cao quý: Giải Nhì phần thi biểu diễn nhạc dân tộc tại Đại hội Liên hoan Thanh niên tổ chức tại thành phố Budapest, Cộng hòa Hunggary; Giải thưởng « Deutscher Schallplatten Preis » của Cộng hòa Liên bang Đức cho dĩa hát « Việt Nam I » phát hành năm 1967; « Giải thưởng lớn” Về dân tộc nhạc học của Hàn lâm viện Dĩa hát Pháp; Bằng khen và Hội viên Danh dự của Hội nghệ sĩ Ái Hữu; Tiến sĩ Âm nhạc danh dự của Đại học Ottawa, Canada; Giải thưởng của UNESCO về Âm nhạc; Huân chương Văn hóa Nghệ thuật của Chính phủ Pháp; Giải thưởng « Dĩa hát hay nhất trong năm 1994 » của Cộng hòa Liên bang Đức và Giải thưởng « Choc » của Tạp chí Thế giới âm nhạc ở Pháp cho dĩa hát « Việt Nam và đàn tranh »; Giải thưởng Koizumi Fumio về dân tộc nhạc học của Nhật Bản; Huy chương Vì sự nghiệp Văn hóa quần chúng của Bộ Văn hóa – Thông tin; Tiến sĩ Âm nhạc danh dự đại học Monoton, Cannada; Huân chương Lao động hạng Nhất do Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Trần Đức Lương ký; Giải thưởng Đào Tấn do Trung tâm Nghiên cứu, Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc trao tặng; Giải thưởng Phan Châu Trinh về những đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu và quảng bá âm nhạc dân tộc do Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh trao tặng…Ngoài ra ông còn rất nhiều những bằng khen, huân chương, huy hiệu, những quà tặng lưu niệm của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước trao tặng.

Nhắc đến Giáo sư Trần Văn Khê, đó không chỉ là những công trình nghiên cứu giá trị, là khối lượng kiến thức uyên thâm, mà còn ở nhân cách sống cao quý, đầy tình thương. Gia đình, đồng nghiệp, học trò, giới mộ điệu âm nhạc, bạn bè trong và ngoài nước luôn dành cho cho ông những sự kính trọng, ngưỡng mộ và những tình cảm chân thành nhất.

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của GS.TS Trần Văn Khê (24/7/1921 – 24/7/2021), thông qua bài viết này tôi muốn giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của GS.TS Trần Văn Khê nhằm tuyên truyền, giới thiệu nhất là thế hệ trẻ tìm hiểu, học hỏi và giữ gìn phát huy giá trị nền âm nhạc dân tộc và hiểu thêm về GS.TS Trần Văn Khê, một con người tài ba, uyên bát và đầy tâm huyết. Người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho âm nhạc dân tộc. Qua đó thể hiện lòng trân trọng, ngưỡng mộ, tôn vinh những đóng góp của ông cho nền nghệ thuật nước nhà và mang hình ảnh, văn hóa Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. « Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê – Người cả cuộc đời đã cống hiến cho âm nhạc Việt Nam, góp phần to lớn trong việc truyền bá văn hóa Việt Nam bằng tri thức âm nhạc. Trí tuệ, uy tín, tài năng, tâm huyết và sáng tạo của ông mãi mãi là tài sản quý báu của Văn hóa Việt Nam. » Đó là lời của Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ghi sổ tang trong Lễ viếng GS.TS Trần Văn Khê, năm 2015.

GS.TS Trần Văn Khê đã ra đi nhưng trí tuệ, uy tín, tài năng, tâm huyết và sự cống hiến của ông mãi là tài sản quý báu của văn hóa Việt Nam. “Cuộc đời và sự nghiệp GS.TS Trần Văn Khê – Còn đó trăm năm và mãi mãi ”, còn mãi những tài sản mà ông để lại. Tài sản đó không chỉ là những công trình nghiên cứu giá trị, là khối lượng kiến thức uyên thâm, mà còn ở nhân cách sống cao quý, đầy tình thương của cả kiếp người. Tài sản đó cần được bảo vệ và phát huy không chỉ cho hôm nay mà cả các thế hệ mai sau. Sẽ mãi nhớ về ông, người đã sống và cống hiến hết mình cho âm nhạc dân tộc Việt Nam ./

.2.CHIA SẺ VÀ CẢM NHẬN VỀ NGHỆ THUẬT ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ

Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống đặc trưng của vùng Nam Bộ, được hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ XIX, được sáng tạo dựa trên dòng nhạc Lễ, nhã nhạc cung đình Huế, văn học dân gian và những giai điệu ngọt ngào, sâu lắng của dân ca miền Trung, dân ca miền Nam.

“Tài tử” tức là người chơi nhạc có biệt tài, giỏi về ca nhạc. Lúc đầu chỉ có đờn, sau xuất hiện thêm hình thức ca nên gọi là “Đờn ca”.

Nghệ thuật Đờn ca tài tử là loại hình diễn tấu gồm các loại nhạc cụ chính: đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, đàn bầu. Ngoài ra, trong quá trình biểu diễn nhạc tài tử còn kết hợp với các nhạc cụ khác như: Đàn sến, đàn bầu, sáo, tiêu, đàn Ghi-ta phím lõm, Song lang,…..

Nghệ thuật Đờn ca tài tử gồm 20 bản tổ chia ra 4 loại theo 4 mùa (Xuân, Hạ, Thu, Ðông) và 4 hướng (Ðông, Tây, Nam, Bắc) gồm: Ba Nam, Sáu Bắc, Bảy Lễ, Tứ Oán. • 3 bài Nam gồm: Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đảo.• 6 bài Bắc gồm: Lưu Thủy, Xuân Tình, Phú Lục , Bình Bán, Tây Thi, Cổ Bản.• 7 bài Lễ gồm: Xàng Xê, Ngũ Đối Thượng, Ngũ Ðối Hạ, Long Ðăng, Long Ngâm, Vạn Giá, Tiểu Khúc• 4 bài Oán gồm: Tứ Ðại Oán, Giang Nam, Phụng Cầu Hoàng, Phụng Hoàng Cầu. 4 bài Oán phụ gồm: Văn Thiên Tường, Bình Sa Lạc Nhạn, Thanh Dạ Đề Quyên, Xuân Nữ

Nghệ thuật trình diễn của đờn ca tài tử đậm chất Nam Bộ. Đó là sự kết hợp tinh tế, hòa quyện giữa tiếng đờn, lời ca và điệu diễn. Những người tham gia đờn ca tài tử thường là bạn bè, chòm xóm tập trung lại để cùng chia sẻ thú vui tao nhã, nên thường không câu nệ về trang phục, thời gian, địa điểm. Dàn nhạc thường ngồi trên một bộ ván hoặc chiếu để biểu diễn dựa trên khung bài bản gọi là “lòng bản”. Họ có thể ngồi với nhau ca hát ở ngoài đồng ruộng, sân vườn, trong nhà hay bất cứ nơi đâu, cùng nhau nhâm nhi từng ly trà, chén rượu, thỏa lòng đam mê, giao lưu ca hát sau những ngày làm việc, lao động vất vả….Chính vì vậy, có thể nói đờn ca tài tử là một môn nghệ thuật dân gian truyền thống mang đậm nét dân dã, mộc mạc, chân phương và gần gũi với người dân.

Tôi sinh ra và lớn lên tại Vĩnh Kim, Châu Thành, Tiền Giang. Gia đình tôi sinh sống tại mảnh đất này qua bao thế hệ, ông bà, cha mẹ, anh chị em của tôi đều rất yêu thích bộ môn cải lương, đờn ca tài tử. Từ nhỏ tôi đã được nghe những điệu hò, câu hát, những vở cải lương, những bài vọng cổ, có lẽ chính vì thế nó đã ăn sâu vào trong tiềm thức và làm tôi đam mê, yêu thích dòng nhạc này. Tôi rất thích hát và thích nghe dòng nhạc tài tử, những giai điệu của 20 bài tổ, những tuồng cải lương, những câu vọng cổ, từng tiếng đàn, lời ca mang những nét gần gũi, chân chất, bình dị, mộc mạc, đậm chất vùng đất Nam Bộ. Đi đến đâu tôi cũng muốn giới thiệu, quảng bá bộ môn nghệ thuật này vì nó là “đặc sản”, là niềm tự hào của miền Tây quê hương mình. Nói về nghệ thuật đờn ca tài tử thì không thể nào không nhắc đến GS.TS Trần Văn Khê. Ông cũng đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, giới thiệu, quảng bá về nghệ thuật đờn ca tài tử đến khắp nơi trong và ngoài nước và là người góp phần đưa đờn ca tài tử vinh dự được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Qua đó thể hiện sự trân trọng và ngưỡng mộ của cộng đồng quốc tế đối với loại hình nghệ thuật truyền thống độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.

Nghệ thuật Đờn ca tài tử đã tồn tại hơn một thế kỷ qua và có sức lan tỏa vô cùng mạnh mẽ. Đây là loại hình di sản văn hóa phi vật thể mang tính dân gian, truyền miệng rất độc đáo, là món ăn tinh thần và đặc trưng của người dân Nam Bộ. Đờn ca tài tử thể hiện trí tuệ, tâm huyết, tình cảm và sáng tạo của nhiều thế hệ nghệ sĩ, tạo nên một nền âm nhạc truyền thống dân tộc mang nội dung, tư tưởng tiến bộ, phản ánh “cái đẹp” trong cuộc sống xã hội, ngợi ca tình yêu quê hương, đất nước, tưởng nhớ tri ân các anh hùng dân tộc, góp phần giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống con người theo các giá trị chân – thiện – mỹ, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển phong phú và đa dạng cho kho tàng văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Chúng ta hãy cùng chung tay bảo tồn và phát huy giá trị của nghệ thuật Đờn ca tài tử, góp phần giữ gìn những bộ môn nghệ thuật truyền thống, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam./.

Vĩnh Kim – Châu Thành – Tiền Giang,

07/2021 Phan Thị Huyền Trân

Thí sinh Phan Thị Huyền Trân – 011:CỐ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ VÀ ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG1.CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP GS.TS TRẦN VĂN KHÊ – CÒN ĐÓ TRĂM NĂM VÀ MÃI MÃI

Nguyễn Quốc Thệ

3tSpolnsidodhred  · 💧♥️Thí sinh Phan Thị Huyền Trân – 011

💧♥️ CỐ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ VÀ ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG1.CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP GS.TS TRẦN VĂN KHÊ – CÒN ĐÓ TRĂM NĂM VÀ MÃI MÃI

Tôi tên là Phan Thị Huyền Trân, tôi sinh ra và lớn lên trên mãnh đất Vĩnh Kim, Châu Thành, Tiền Giang. Là một trong những người trẻ có niềm đam mê và yêu thích âm nhạc truyền thống của dân tộc. Bản thân tôi là một người con của vùng đất Vĩnh Kim, quê hương của GS.TS Trần Văn Khê và là nơi gắn liền với nghệ thuật cải lương, đờn ca tài tài. Tôi cảm thấy thật vinh dự và tự hào khi quê hương mình sinh ra một tên tuổi lớn, một người con ưu tú, tài năng, tâm huyết và uyên bát như GS.TS Trần Văn Khê.

GS.TS Trần Văn Khê là một trong những cây đại thụ của làng âm nhạc dân tộc Việt Nam. Ông là một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền của dân tộc và là người có nhiều đóng góp trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, quảng bá văn hóa và âm nhạc truyền thống Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. Với sự kính trọng và lòng ngưỡng mộ của mình, tôi đã tìm hiểu về gia đình, cuộc đời và sự nghiệp của GS.TS Trần Văn Khê, càng thấy trân trọng, tự hào với những đóng góp của ông cho nền nghệ thuật nước nhà và mang hình ảnh, văn hóa đất nước Việt Nam với bạn bè quốc tế. Cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư Trần Văn Khê đã viết nên những trang sử vàng đáng nhớ, là một kho tàng quý báu cho nền âm nhạc Việt Nam.

GS.TS Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang). Vĩnh Kim là vùng đất có bề dày lịch sử văn hóa và cũng là cái nôi của nhạc tài tử, sân khấu cải lương Nam bộ. Nơi đây đã sinh ra cho nghệ thuật sân khấu Nam bộ nhiều danh cầm nổi tiếng cả nước. Trong đó có gia đình của của cố GS.TS Trần Văn Khê, khi cả bên ngoại và bên nội ông đều là những người trong giới nhạc truyền thống.

Cụ cố nội là Ông Trần Quang Thọ trước kia là nhạc công của triều đình Huế. Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm) là nghệ nhân đàn kìm, đàn tranh và chuyên về đàn tỳ bà. Cha ông là Trần Quang Chiêu mà giới tài tử trong Nam gọi là Bảy Triều, ông biết nhiều loại đàn nhưng đặc biệt nhất là đàn độc huyền (đàn bầu) và đàn kìm (đàn nguyệt). Cô là Trần Ngọc Viện tức Ba Viện, người sáng lập gánh hát Đồng Nữ Ban, bà chơi đàn rất hay .

Cụ cố ngoại là Khâm sai Đại thần Nguyễn Tri Phương của triều Nguyễn. Ông ngoại là Nguyễn Tri Túc , là người truyền ngón đàn cho GS.TS Trần Văn Khê. Ông ngoại là người rất say mê âm nhạc và nuôi rất nhiều nhạc sĩ danh tiếng vùng Cần Đước – Vĩnh Kim và có ba người con cũng theo nghiệp đờn ca. Nguyễn Tri Lạc – Cậu Tư của GS.TS Trần Văn Khê, ông nghệ nhân đàn cò, đàn tranh và đánh trống nhạc lễ. Nguyễn Tri Khương là cậu thứ năm, ông là thầy dạy của GS.TS Trần Văn Khê đánh trống nhạc lễ và trống hát bội và là người sáng tác nhiều bản nhạc truyền thống, nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng.

Mẹ của GS.TS Trần Văn Khê là bà Nguyễn Thị Dành (Tám Dành). GS.TS Trần Văn Khê có hai người em là Trần Văn Trạch, một trong những nhạc sĩ nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975 và Trần Ngọc Sương, từng là ca sĩ với nghệ danh là Ngọc Sương, sau đổi lại là Thủy Ngọc trong những năm 1948 – 1950.

GS.TS Trần Văn Khê lập gia đình năm 1942 với bà Nguyễn Thị Sương và có bốn người con: Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh – Kiến trúc sư và Trần Thị Thủy Tiên, Trần Thị Thủy Ngọc – nữ nhạc sĩ đàn tranh, làm việc cho Ban nghiên cứu Đông Nam Á của Trung tâm Nghiên cứu khoa học ở Paris.Qua phần giới thiệu, chia sẽ về gia đình của GS.TS Trần Văn Khê cho chúng thất được rằng GS.TS Trần Văn Khê được thừa hưởng, được sinh ra và lớn lên trong một gia đình khi cả bên ngoại và bên nội có 4 đời theo dòng âm nhạc truyền thống. Họ là những là những người danh cầm nổi tiếng, là người có tên tuổi trong giới nhạc truyền thống lúc bấy giờ và có công rất lớn trong việc truyền bá, phát triển dòng nhạc tài tử Nam bộ qua bao thế hệ.

Từ nhỏ, GS.TS Trần Văn Khê đã học rất giỏi, năm 10 tuổi ông đậu tiểu học, 13 tuổi đậu sơ học và tiếp tục học trung học tại Trường Pétrus Ký (còn gọi là Trường Trương Vĩnh Ký).

Năm 1941, Trần Văn Khê ra Hà Nội học y khoa, ông cùng Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Nguyễn Thành Nguyên hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội Sinh viên và được cử làm nhạc trưởng của dàn nhạc trường. Ông còn tham gia phong trào « Truyền bá quốc ngữ », « Truyền bá vệ sinh », rồi tham gia kháng chiến trong phong trào « Thanh niên Tiền phong » tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Đến năm 1946, khi Pháp tấn công đánh chiếm lục tỉnh, các cơ quan bộ đội rút vào hoạt động bí mật. Trần Văn Khê trở về Sài Gòn và đi dạy học tại các trường tư, đồng thời làm thêm nghề mới là viết báo. Ông tham gia nhóm kháng chiến do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, sau là Mai Văn Bộ chỉ huy. Năm 1948, nhóm kháng chiến tại thành bị lộ, Trần Văn Khê bị bắt và giam tại khám Catinat, ông bị giam hai tuần sau đó được thả ra vì không có chứng cớ, nhưng từ đó bị mật thám theo dõi.

Năm 1949, Trần Văn Khê sang Pháp du học và học tại viện Khoa học Chánh trị Paris và từ đó ông bắt đầu hành trình hơn 50 năm bôn ba năm châu bốn biển của mình.

Năm 1951 ông tốt nghiệp Khoa học Chánh trị và Khoa Giao dịch Quốc tế và học Anh văn tại Đại học Văn khoa Paris. Cuối năm 1954, ông theo học và chuẩn bị làm luận án tiến sĩ tại Khoa Âm nhạc trường Đại học Sorbonne, Paris với đề tài « Âm nhạc truyền thống Việt Nam ». Đến tháng 6 năm 1958, ông bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ cùng với đề tài phụ « Khổng tử và âm nhạc ». Từ đây ông bắt đầu những bước đầu tiên trên chặng đường dài nghiên cứu, giảng dạy và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam .

Với tài năng và tâm huyết của mình, GS.TS Trần Văn Khê đã tạo dựng được uy tín rất cao trong giới nghiên cứu âm nhạc thế giới và trở thành thành viên của nhiều tổ chức âm nhạc quốc tế: Thành viên của Viện hàn lâm khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm Châu âu về Khoa học văn chương và nghệ thuật, là thành viên rồi giữ vai trò Phó chủ tịch Hội đồng Quốc tế Âm nhạc của UNESCO, 10 năm liền được tín nhiệm ở vai trò Chủ tịch Ban tuyển chọn quốc tế của Diễn đàn âm nhạc châu Á, Tiến sĩ âm nhạc danh dự của Đại học Ottawa, Đại học Monoton (Canada) và là thành viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế và các nước

Trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy, trình diễn và quảng bá âm nhạc dân tộc của GS. TS Trần Văn Khê, ông đã tham dự hơn 200 hội nghị quốc tế về âm nhạc và âm nhạc học trên 67 quốc gia, gần 20 liên hoan quốc tế về âm nhạc khắp năm châu, đăng gần 200 vài viết bằng tiếng Pháp, tiếng Anh và được dịch ra nhiều thứ tiếng như Đức, Trung Quốc, Ả Rập; Ghi âm trên 600 giờ âm nhạc và trao đổi với nghệ nhân, nghệ sĩ Việt Nam, 300 giờ âm nhạc châu Á, châu Phi, chụp 8.000 ngàn ảnh về sinh hoạt âm nhạc của nhiều nước; Thu thập 500 đĩa hát của các nước, thực hiện 15 đĩa hát về âm nhạc truyền thống Việt Nam và thực hiện nhiều phim ngắn về dân tộc nhạc học. GS. TS Trần Văn Khê là người đã có những đóng góp quan trọng trong việc đưa Ca trù, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Đờn ca tài tử Nam Bộ trở thành di sản phi vật thể của thế giới.

Năm 2006, GS.TS Trần Văn Khê trở về Việt Nam sau hơn nửa thế kỷ sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Với rất nhiều tư liệu nghiên cứu quí giá bằng sách, sổ ghi chép và băng đĩa, ông cùng các cán bộ ngành văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh và những người cộng sự xây dựng Thư viện Trần Văn Khê phục vụ nhu cầu nghiên cứu âm nhạc dân tộc, đồng thời tổ chức hàng trăm buổi biểu diễn, nói chuyện, giao lưu với công chúng. Nơi ở của ông đã thực sự trở thành một địa chỉ văn hóa quen thuộc, thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu, nghệ sĩ và khán giả trong và ngoài nước.

Với nhiều đóng góp cho sự nghiệp âm nhạc thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, GS.TS Trần Văn Khê là người Việt Nam đầu tiên được ghi danh và tiểu sử vào cuốn « Đại từ điển Âm nhạc thế giới ». Bên cạnh đó, ông còn nhận được nhiều huy chương, bằng danh dự và nhiều giải thưởng cao quý: Giải Nhì phần thi biểu diễn nhạc dân tộc tại Đại hội Liên hoan Thanh niên tổ chức tại thành phố Budapest, Cộng hòa Hunggary; Giải thưởng « Deutscher Schallplatten Preis » của Cộng hòa Liên bang Đức cho dĩa hát « Việt Nam I » phát hành năm 1967; « Giải thưởng lớn” Về dân tộc nhạc học của Hàn lâm viện Dĩa hát Pháp; Bằng khen và Hội viên Danh dự của Hội nghệ sĩ Ái Hữu; Tiến sĩ Âm nhạc danh dự của Đại học Ottawa, Canada; Giải thưởng của UNESCO về Âm nhạc; Huân chương Văn hóa Nghệ thuật của Chính phủ Pháp; Giải thưởng « Dĩa hát hay nhất trong năm 1994 » của Cộng hòa Liên bang Đức và Giải thưởng « Choc » của Tạp chí Thế giới âm nhạc ở Pháp cho dĩa hát « Việt Nam và đàn tranh »; Giải thưởng Koizumi Fumio về dân tộc nhạc học của Nhật Bản; Huy chương Vì sự nghiệp Văn hóa quần chúng của Bộ Văn hóa – Thông tin; Tiến sĩ Âm nhạc danh dự đại học Monoton, Cannada; Huân chương Lao động hạng Nhất do Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Trần Đức Lương ký; Giải thưởng Đào Tấn do Trung tâm Nghiên cứu, Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc trao tặng; Giải thưởng Phan Châu Trinh về những đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu và quảng bá âm nhạc dân tộc do Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh trao tặng…Ngoài ra ông còn rất nhiều những bằng khen, huân chương, huy hiệu, những quà tặng lưu niệm của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước trao tặng.

Nhắc đến Giáo sư Trần Văn Khê, đó không chỉ là những công trình nghiên cứu giá trị, là khối lượng kiến thức uyên thâm, mà còn ở nhân cách sống cao quý, đầy tình thương. Gia đình, đồng nghiệp, học trò, giới mộ điệu âm nhạc, bạn bè trong và ngoài nước luôn dành cho cho ông những sự kính trọng, ngưỡng mộ và những tình cảm chân thành nhất.

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của GS.TS Trần Văn Khê (24/7/1921 – 24/7/2021), thông qua bài viết này tôi muốn giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của GS.TS Trần Văn Khê nhằm tuyên truyền, giới thiệu nhất là thế hệ trẻ tìm hiểu, học hỏi và giữ gìn phát huy giá trị nền âm nhạc dân tộc và hiểu thêm về GS.TS Trần Văn Khê, một con người tài ba, uyên bát và đầy tâm huyết. Người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho âm nhạc dân tộc. Qua đó thể hiện lòng trân trọng, ngưỡng mộ, tôn vinh những đóng góp của ông cho nền nghệ thuật nước nhà và mang hình ảnh, văn hóa Việt Nam đến với bạn bè quốc tế.

« Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê – Người cả cuộc đời đã cống hiến cho âm nhạc Việt Nam, góp phần to lớn trong việc truyền bá văn hóa Việt Nam bằng tri thức âm nhạc. Trí tuệ, uy tín, tài năng, tâm huyết và sáng tạo của ông mãi mãi là tài sản quý báu của Văn hóa Việt Nam. » Đó là lời của Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ghi sổ tang trong Lễ viếng GS.TS Trần Văn Khê, năm 2015

.GS.TS Trần Văn Khê đã ra đi nhưng trí tuệ, uy tín, tài năng, tâm huyết và sự cống hiến của ông mãi là tài sản quý báu của văn hóa Việt Nam. “Cuộc đời và sự nghiệp GS.TS Trần Văn Khê – Còn đó trăm năm và mãi mãi ”, còn mãi những tài sản mà ông để lại. Tài sản đó không chỉ là những công trình nghiên cứu giá trị, là khối lượng kiến thức uyên thâm, mà còn ở nhân cách sống cao quý, đầy tình thương của cả kiếp người. Tài sản đó cần được bảo vệ và phát huy không chỉ cho hôm nay mà cả các thế hệ mai sau. Sẽ mãi nhớ về ông, người đã sống và cống hiến hết mình cho âm nhạc dân tộc Việt Nam ./.

2.CHIA SẺ VÀ CẢM NHẬN VỀ NGHỆ THUẬT ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘĐờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống đặc trưng của vùng Nam Bộ, được hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ XIX, được sáng tạo dựa trên dòng nhạc Lễ, nhã nhạc cung đình Huế, văn học dân gian và những giai điệu ngọt ngào, sâu lắng của dân ca miền Trung, dân ca miền Nam.

“Tài tử” tức là người chơi nhạc có biệt tài, giỏi về ca nhạc. Lúc đầu chỉ có đờn, sau xuất hiện thêm hình thức ca nên gọi là “Đờn ca”. Nghệ thuật Đờn ca tài tử là loại hình diễn tấu gồm các loại nhạc cụ chính: đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, đàn bầu. Ngoài ra, trong quá trình biểu diễn nhạc tài tử còn kết hợp với các nhạc cụ khác như: Đàn sến, đàn bầu, sáo, tiêu, đàn Ghi-ta phím lõm, Song lang,…..

Nghệ thuật Đờn ca tài tử gồm 20 bản tổ chia ra 4 loại theo 4 mùa (Xuân, Hạ, Thu, Ðông) và 4 hướng (Ðông, Tây, Nam, Bắc) gồm: Ba Nam, Sáu Bắc, Bảy Lễ, Tứ Oán. • 3 bài Nam gồm: Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đảo.• 6 bài Bắc gồm: Lưu Thủy, Xuân Tình, Phú Lục , Bình Bán, Tây Thi, Cổ Bản.• 7 bài Lễ gồm: Xàng Xê, Ngũ Đối Thượng, Ngũ Ðối Hạ, Long Ðăng, Long Ngâm, Vạn Giá, Tiểu Khúc• 4 bài Oán gồm: Tứ Ðại Oán, Giang Nam, Phụng Cầu Hoàng, Phụng Hoàng Cầu. 4 bài Oán phụ gồm: Văn Thiên Tường, Bình Sa Lạc Nhạn, Thanh Dạ Đề Quyên, Xuân NữNghệ thuật trình diễn của đờn ca tài tử đậm chất Nam Bộ. Đó là sự kết hợp tinh tế, hòa quyện giữa tiếng đờn, lời ca và điệu diễn. Những người tham gia đờn ca tài tử thường là bạn bè, chòm xóm tập trung lại để cùng chia sẻ thú vui tao nhã, nên thường không câu nệ về trang phục, thời gian, địa điểm. Dàn nhạc thường ngồi trên một bộ ván hoặc chiếu để biểu diễn dựa trên khung bài bản gọi là “lòng bản”. Họ có thể ngồi với nhau ca hát ở ngoài đồng ruộng, sân vườn, trong nhà hay bất cứ nơi đâu, cùng nhau nhâm nhi từng ly trà, chén rượu, thỏa lòng đam mê, giao lưu ca hát sau những ngày làm việc, lao động vất vả….Chính vì vậy, có thể nói đờn ca tài tử là một môn nghệ thuật dân gian truyền thống mang đậm nét dân dã, mộc mạc, chân phương và gần gũi với người dân. Tôi sinh ra và lớn lên tại Vĩnh Kim, Châu Thành, Tiền Giang. Gia đình tôi sinh sống tại mảnh đất này qua bao thế hệ, ông bà, cha mẹ, anh chị em của tôi đều rất yêu thích bộ môn cải lương, đờn ca tài tử. Từ nhỏ tôi đã được nghe những điệu hò, câu hát, những vở cải lương, những bài vọng cổ, có lẽ chính vì thế nó đã ăn sâu vào trong tiềm thức và làm tôi đam mê, yêu thích dòng nhạc này. Tôi rất thích hát và thích nghe dòng nhạc tài tử, những giai điệu của 20 bài tổ, những tuồng cải lương, những câu vọng cổ, từng tiếng đàn, lời ca mang những nét gần gũi, chân chất, bình dị, mộc mạc, đậm chất vùng đất Nam Bộ. Đi đến đâu tôi cũng muốn giới thiệu, quảng bá bộ môn nghệ thuật này vì nó là “đặc sản”, là niềm tự hào của miền Tây quê hương mình. Nói về nghệ thuật đờn ca tài tử thì không thể nào không nhắc đến GS.TS Trần Văn Khê. Ông cũng đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, giới thiệu, quảng bá về nghệ thuật đờn ca tài tử đến khắp nơi trong và ngoài nước và là người góp phần đưa đờn ca tài tử vinh dự được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Qua đó thể hiện sự trân trọng và ngưỡng mộ của cộng đồng quốc tế đối với loại hình nghệ thuật truyền thống độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Nghệ thuật Đờn ca tài tử đã tồn tại hơn một thế kỷ qua và có sức lan tỏa vô cùng mạnh mẽ. Đây là loại hình di sản văn hóa phi vật thể mang tính dân gian, truyền miệng rất độc đáo, là món ăn tinh thần và đặc trưng của người dân Nam Bộ. Đờn ca tài tử thể hiện trí tuệ, tâm huyết, tình cảm và sáng tạo của nhiều thế hệ nghệ sĩ, tạo nên một nền âm nhạc truyền thống dân tộc mang nội dung, tư tưởng tiến bộ, phản ánh “cái đẹp” trong cuộc sống xã hội, ngợi ca tình yêu quê hương, đất nước, tưởng nhớ tri ân các anh hùng dân tộc, góp phần giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống con người theo các giá trị chân – thiện – mỹ, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển phong phú và đa dạng cho kho tàng văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Chúng ta hãy cùng chung tay bảo tồn và phát huy giá trị của nghệ thuật Đờn ca tài tử, góp phần giữ gìn những bộ môn nghệ thuật truyền thống, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam./.

Vĩnh Kim – Châu Thành – Tiền Giang, 07/2021

Phan Thị Huyền Trân