Étiquette : Bài dự thi của thí sinh 002 HUỲNH THỊ GIA ĐỊNH

Bài dự thi của thí sinh 002 HUỲNH THỊ GIA ĐỊNH , CUỘC THI TÌM HIỂU VỀ GS TRẦN VĂN KHÊ & ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM nhân dịp 100 NĂM NGÀY SINH GS TRẦN VĂN KHÊ

Nguyễn Quốc Thệ

u1tSponhsocmred  · 💧♥️Thí sinh Huỳnh Thị Gia Định – 002💧♥️

CUỘC THI TÌM HIỂU VỀ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ &
ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM
NHÂN DỊP 100 NĂM NGÀY SINH GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ
1.
Em tên là Huỳnh Thị Gia Định, cái tên nghe rất miền Nam, rất Sài Gòn nhưng em lại được sinh ra trên mảnh đất Tây Nguyên, hiện là sinh viên năm nhất, khoa Du Lịch của Trường Đại học Văn Hóa Thành phố Hồ Chí Minh. Em lớn lên bên nương café, có bóng núi Hàm Rồng xa xa và có màu xanh của Biển Hồ xinh đẹp, nơi đâu đó có tiếng âm vang cồng chiêng trầm hùng cạnh mái nhà rông của đồng bào dân tộc.
Em xin cảm ơn quý ban tổ chức, quý ban giám khảo đã tạo ra một sân chơi đầy bổ ích, hấp dẫn cho sinh viên, thể hiện các giá trị tinh thần của âm nhạc nhạc truyền thống Việt Nam. Trong quá trình học tập, với tinh thần học hỏi, chịu khó tìm tòi để tích lũy thêm kiến thức cho bản thân và đặc biệt với niềm si mê âm nhạc của mình, em muốn dành tình cảm chân thành từ sâu trong trái tim để chia sẻ với quý ban tổ chức, quý ban giám khảo và quý vị khán giả về cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư Trần Văn Khê và loại hình dân ca Quan họ.
Tài năng vốn là tư chất của người nghệ sỹ. Ở họ có một năng khiếu đặc biệt, khả năng vẽ tranh, viết thư pháp, âm nhạc, sáng tác thơ, văn. Tài năng ấy được người đời công nhận và làm nên tên tuổi của họ. Có câu nói rằng “Cái đẹp của người nghệ sỹ bắt nguồn từ đời sống nhưng quan trọng và trực tiếp hơn cả là cái đẹp trong chính người nghệ sỹ”. Đúng vậy, nhưng nó không phải bản sao y nguyên của sự sống bên ngoài mà là hiện thực đã được khúc xạ, lắng đọng qua tư tưởng, tình cảm của người nghệ sỹ. Cái đẹp cuộc đời đánh thức, khơi gợi những rung cảm thẩm mỹ mãnh liệt trong tâm hồn người nghệ sỹ. Rung cảm ấy kết đọng lại thành cái đẹp trong những tác phẩm người nghệ sỹ tạo ra. Đêm rằm tháng 6 âm lịch năm Tân Dậu (1921), cậu bé Trần Văn Khê chào đời trong một gia đình bốn đời nhạc sĩ tại làng Vĩnh Kim, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang – vùng đất vốn nổi tiếng địa linh nhân kiệt). Ông chẳng những được may mắn sanh trưởng trong một gia đình mà hai bên nội ngoại đều là nhạc sĩ mà khi còn trong bụng mẹ, mỗi ngày ông đều được nghe tiếng đàn sáo của cậu năm Nguyễn Tri Khương. Sau khi chào đời, mỗi ngày ông vẫn tiếp tục được nghe đàn sáo của cậu Năm Nguyễn Tri Khương và cậu Mười Nguyễn Tri Ân. Chính vì sự lớn lên trong bầu không khi vui tươi và cái nôi đầy âm sắc ấy mà cậu bé Trần Văn Khê đã biết điệu, biết nhịp, nhảy cà tưng trong tay những người thân hay người khách. Sáu tuổi đã biết đờn kìm. Bảy tuổi đã tập cho các chị diễn viên gánh Đồng Nữ Ban của cô Ba Viện hát bài « La Madelon » để chưng màn đầu cải lương. Tám tuổi biết đờn cò. Mười hai tuổi biết đờn tranh và đánh trống nhạc. Âm nhạc dân tộc đã thấm vào xương thịt, vào trái tim của người giáo sư đáng kính sau này.
Năm 1949, giáo sư Trần Văn Khê quyết định du học tại trường Đại học Sorbonne ở Paris. Để có tiền ăn học trên xứ người, ông lấy nghệ danh là Hải Minh để thu thanh một số bài hát cho hãng dĩa Oria của Pháp và đi hát ở quán bar của người Việt tên là Bồng Lai. Hè năm 1951, ông thi đậu vào trường Chính trị Khoa giao dịch quốc tế. Cho đến năm 1958, ông theo học khoa Nhạc học và chuẩn bị luận án tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile Gaspardone và André Schaeffner. Tháng 6 năm 1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Ông là người Việt Nam đầu tiên được đại học Sorbonne, Paris trao bằng tiến sĩ âm nhạc học. Luận văn của ông có tên: “LaMusique vietnamienne traditionnelle” (Âm nhạc truyền thống Việt Nam). Từ đó, ông bắt theo đuổi những bước đi đầu tiên trên con đường sự nghiệp mình chọn: Nghiên cứu, biểu diễn, sưu tầm, quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra khắp năm châu.
Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de paris). Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác, là chủ tịch Hội đồng khoa học của Viện Quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for comparative Music Studies). Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Sau năm 1975, giáo sư Trần Văn Khê trở về lại Việt Nam với tư cách Giám đốc nghiên cứu trong Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp, thành viên Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO, một chuyên gia hàng đầu về âm nhạc truyền thống của Việt Nam. Giáo sư Trần Văn Khê là người từ đầu đã tích cực vận động UNESCO nhìn nhận Nhã nhạc cung đình Huế. Theo ông, để trở thành một di sản phi vật thể của nhân loại, ngoài giá trị lịch sử và nghệ thuật, kiệt tác còn cần được nhà nước sở tại chứng minh đã có nhiều nỗ lực bảo tồn và phát huy và cần chuẩn bị cho được một hồ sơ giải trình hoàn chỉnh đòi hỏi nhiều nỗ lực. Lòng yêu nước, yêu những giá trị cội nguồn của dân tộc cùng với sự giúp đỡ của đồng nghiệp mà sau này Nhã nhạc cung đình Huế, Quan họ, Ca trù, Hát xoan, Ví dặm, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên,…. được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
“Hạnh phúc nhất là được làm những điều mình tha thiết mong muốn: đem tiếng nhạc, lời ca dân tộc đến mọi nơi để siết chặt tinh thân hữu giữa dân tộc Việt Nam với bạn bè bốn biển, năm châu, đem được vui tươi nhẹ nhàng cho người nghe, lại có dịp góp sức với đồng nghiệp các nước Á, Phi bảo vệ nền âm nhạc cổ truyền, chống lại tệ nạn vọng ngoài, sùng bái nhạc phương Tây” (Hồi ký Trần Văn Khê). Gói gọn trong những câu nói ấy mới thấy được cái tình của một người nhạc sĩ suốt đời say mê nghiên cứu, sưu tầm, phổ biến cội nguồn âm nhạc dân tộc Việt.
Trân trọng biết ơn và kính tưởng nhớ Giáo sư Trần Văn Khê!
2.
“Tay em nâng cái cơi đựng giầu
Mắt em nhìn, em liếc, em trông cái cơi đựng giầu
Giầu têm cánh phượng, dâng lên mời người
Người ơi ai ơi có nhớ, người ơi có nhớ chúng em chăng?
Người ơi có thấu, có thấu tình chăng?” (Mời trầu – Quan họ)
« Trọng nhau vì nghĩa, mến nhau vì tài » là cái tình của người Quan họ. Cái tình ấy được nâng niu, gìn giữ, trở thành « lời ăn nết ở », cốt cách người Quan họ. Cái tình ấy tạo nên sức sống cho quan họ hàng trăm năm qua và lan tỏa sinh động trong cuộc sống hôm nay. “Dân ca Quan họ Bắc Ninh”- món quà vô giá từ làn điệu truyền thống là một hình thức hát giao duyên giữa các liền anh liền chị. Đây là một trong những làn điệu dân ca tiêu biểu của vùng châu thổ sông Hồng. Những “liền anh” trong trang phục truyền thống khăn xếp, áo the và những liền chị duyên dáng trong bộ áo mớ ba, mớ bẩy, đầu đội nón thúng quai thao, cùng nhau hát đối những câu ca mộc mạc, đằm thắm, cách hát theo lối truyền thống không cần nhạc đệm mà vẫn đầy chất nhạc, thể hiện nét văn hóa tinh tế của người hát Quan họ. Trong Quan họ người ta bao giờ cũng hát đôi. Khi một đôi trong Quan họ bạn hát thì bên kia cũng chuẩn bị một đôi để hát đối lại. Chính vì vậy, hát Quan họ là loại hình hát đối đáp, hát giao duyên. Những người hát Quan họ thường được gọi là liền anh, liền chị có mối quan hệ rất đặc biệt: quý mến nhau đến mức cao nhất nhưng không được quyền vượt quá tình bạn.
Kết cấu của mỗi điệu hát lại được hình thành từ những lễ kết nghĩa. Lễ kết nghĩa được bắt đầu bằng những lời thăm hỏi tận tình hoặc những lời thề thốt. Sau đó, họ lại có buổi gặp nhau ở bên nam. Tại đây họ có thể hát thâu đêm suốt sáng để thổ lộ với nhau về tình cảm. Căn cứ vào sự đồng nhất về cữ giọng, âm sắc, họ xếp thành từng cặp: anh Cả – chị Cả, anh Hai – chị Hai, anh Ba – chị Ba, anh Tư – chị Tư, … Lời ca trong Quan họ chủ yếu nói về tình yêu nam nữ, sự gắn bó thủy chung. Nhưng trên thực tế họ không hề nghĩ đến chuyện yêu nhau mà chỉ quan hệ trên cơ sở bình đẳng tôn trọng lẫn nhau. Họ gọi nhau bằng anh, chị và xưng em hoặc tôi. Thời gian kết nghĩa của người Quan họ có thể từ đời này sang đời khác hay có khi chỉ một vài năm. Địa điểm ca hát thường là ở sân nhà, trước cửa đình, cửa chùa, dưới gốc đa, bên sườn đồi, trên thuyền, bến nước,… Theo quan niệm của người Quan họ, nghệ nhân là những người có kỹ năng hát “vang, rền, nền, nẩy” điêu luyện, thuộc nhiều bài, nhiều “giọng” Quan họ. Họ chính là những bậc thầy dân gian thực hành việc sáng tạo, lưu giữ và trao truyền vốn di sản quý báu đó cho các thế hệ mai sau nên rất xứng đáng được tôn vinh.
Quan họ là được hình thành từ sự kết nghĩa, nghĩa tình trên nền âm sắc. Cũng chính lí do ấy Quan họ Bắc Ninh đã được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới phi vật thể năm 2009. Đó như là một sự khẳng định về giá trị vô giá mà quan họ dân gian đã làm trong suốt nhiều thế kỷ qua, những ảnh hưởng đậm nét của Quan họ là hết sức rõ ràng trong đời sống tinh thần của người Việt hôm nay.
Là sinh viên trường Đại học Văn Hóa, em luôn đầy tự tin và tự hào về văn hóa nguồn cội. Em rất muốn quảng bá loại hình nghệ thuật này đến với khách du lịch trên mọi miền đất nước nhằm lưu giữ những giá trị truyền thống của dân tộc ta. Chắc chắn em sẽ rèn luyện, trao dồi khả năng hát Quan họ và cả những loại hình nghệ thuật truyền thống khác để lưu giữ và phát huy trong công việc sau này.
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” (Hồ Chí Minh)
Di sản văn hóa cha ông ta để lại có bề dày của lịch sử, chiều sâu của nghệ thuật, vì vậy chúng ta không chỉ nghiêm túc trong việc bảo tồn mà còn phải thận trọng trong việc phát triển. Phát triển du lịch bền vừng gắn liền với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc. Quan trọng nhất là đừng để nhiệt tình mong muốn làm mới vốn cổ mà vô tình bị cái hiện đại làm biến chất cái hay cái đẹp của truyền thống, phá mất bản sắc dân tộc. Vì thế, khi còn là sinh viên, em luôn viết ra những dự định mà mình nuôi dưỡng, muốn làm những điều lớn lao ấy thì luôn luôn tự nhủ rằng phải cố gắng học tập, trao dồi thêm kiến thức cũng như kĩ năng bằng việc tham gia cái hoạt động thực tế hay những cuộc thi đầy tính nhân văn và ý nghĩa như thế này.
Rất nhiều người nói rằng không hiểu âm nhạc truyền thống gồm những gì và hay ở chỗ nào mà Giáo sư Trần Văn Khê say mê đến độ bỏ cả cuộc đời để nghiên cứu rồi đi khắp nơi trên thế giới giới thiệu về nó. Cái hay của âm nhạc truyền thống nằm trong cách bản thân nhìn nhận, lắng nghe và thấu hiểu bản sắc dân tộc. Em may mắn khi học một năm trước được đọc cuốn sách “Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam”, em thấy biết ơn và hiểu rằng ông đã đặt một cái tâm và cái tầm rất lớn vào quá trình nghiên cứu, quảng bá âm nhạc truyền thống. Cũng như tìm hiều được cái hay của dân ca Quan họ.
Ngày nay, trước sức ép của xu thế toàn cầu hóa về kinh tế, quốc tế hóa về văn hóa và sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng, nhiều ưu thế của các loại hình văn hóa, nghệ thuật, cũng như nhiều loại hình di sản văn hóa phi vật thể khác, Quan họ cổ cũng phải đối mặt với một thách thức lớn là nguy cơ bị mai một, thậm chí có thể bị mất hẳn nếu không kịp thời có biện pháp bảo vệ lâu dài cho thế hệ trẻ. Bởi vậy, lề lối sinh hoạt ca hát Quan họ cổ, những giọng hát cổ với kỹ thuật “vang, rền, nền, nẩy” vốn đã làm nên giá trị đặc sắc của dân ca Quan họ hiện đang lưu tồn trong trí óc và trái tim say nghề của các cụ “Liền anh, Liền chị” nay đã trạc tuổi 70 đến 90 rất cần được trao truyền và tiếp nối. Vì vậy, mỗi chúng ta người con đất Việt cần phải biết trân trọng và thêm yêu những giá trị truyền thống tốt đẹp, để chúng được trường tồn với thời gian, không bị đi vào quên lãng giữa nhịp sống hiện đại xô bồ ngày nay.
Em yêu đất nước em, em yêu tiếng lòng của dân tộc em … ngàn đời vang vọng mãi . . .
Huỳnh Thị Gia Định – Đại học Văn Hóa