Category: UNESCO ICH

Cần chính xác trong cách hiểu về di sản văn hóa phi vật thể

Cần chính xác trong cách hiểu về di sản văn hóa phi vật thể

Thứ Bảy, 04/01/2020, 19:28:24

NDĐT – Ngày 3-1, tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, TS Frank Proschan có buổi thuyết trình “Hiểu về các khái niệm và cách tiếp cận chính đối với di sản văn hóa phi vật thể trong Công ước 2003 Về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể”. Ông đã nêu những điểm mấu chốt nhất khi ứng xử với di sản văn hóa phi vật thể và việc cần hiểu chính xác những khái niệm được UNESCO đưa ra có liên quan chủ đề này.

Cần chính xác trong cách hiểu về di sản văn hóa phi vật thể

Nhã nhạc Cung đình Huế đã được UNESCO ghi vào Danh mục Kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, năm 2003.

Hiểu đúng về chủ sở hữu và “cấp” của di sản văn hóa phi vật thể

Công ước 2003 khẳng định, các cộng đồng, nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân – những người thực hành một biểu đạt văn hóa nào đó – và chỉ họ mà thôi – mới có thể là những người công nhận nó là một bộ phận cấu thành di sản văn hóa phi vật thể của họ, và chỉ họ mới có thể xác định được giá trị của nó. UNESCO đã không sử dụng lại cụm từ “di sản thế giới của nhân loại” trong Công ước 1972 (Về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới), thay vào đó, nhấn mạnh rằng di sản văn hóa phi vật thể thuộc về cộng đồng và nhóm người cụ thể.

Di sản văn hóa phi vật thể thuộc về cộng đồng, và chỉ thuộc về cộng đồng, không thuộc về quốc gia, nhà nước, dân tộc, hay nhân loại cũng như toàn thế giới. Dù có được UNESCO ghi vào “Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp” hoặc “Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại” thì nó vẫn thuộc về cộng đồng của nó và không trở thành “di sản thế giới”, hay tài sản của nhân loại nói chung. Công ước 2003 cũng rất thận trọng khi luôn dùng cụm từ “di sản văn hóa phi vật thể hiện có trên lãnh thổ của một quốc gia thành viên” mà không dùng cụm từ “di sản của quốc gia thành viên”. Cụm từ “of humanity” (của nhân loại) chỉ là yếu tố phụ/nhỏ khi nói về di sản văn hóa phi vật thể và chỉ hàm ý rằng: Tất cả di sản văn hóa phi vật thể đều là do con người sáng tạo và tái tạo chứ không phải được thực hành bởi một cái (hoặc con) gì khác. Chữ “của” (khi viết di sản văn hóa phi vật thể “của” địa phương, “của” Việt Nam, “của” nhân loại…) không nên (được) hiểu để chỉ sự sở hữu mà nên hiểu rằng “di sản đó hiện diện ở nơi đó”.

Một quan niệm sai khác có thể thấy rõ trong việc thường xuyên sử dụng sai từ “xếp hạng” (ranking) khi nói về các di sản văn hóa phi vật thể. Với các di tích (vật thể), chúng ta thường thấy cách diễn đạt như “di tích quốc gia” và “di tích quốc gia đặc biệt” nhưng Công ước 2003 của UNESCO bác bỏ việc xếp hạng các di sản văn hóa phi vật thể thành một hệ thống thứ bậc, phân chia cao – thấp. Tất cả di sản văn hóa phi vật thể đều bình đẳng vì di sản văn hóa phi vật thể nào cũng đều có giá trị đối với cộng đồng, nhóm người, cá nhân sáng tạo ra chúng. Không thể coi di sản của người này có giá trị hơn di sản của người khác và sẽ phạm sai lầm khi xếp hạng di sản văn hóa phi vật thể theo “tầm quan trọng” của nó. Người mẹ nào cũng nghĩ con mình là đứa trẻ đẹp nhất, thông minh nhất, ngoan ngoãn nhất, và không người nào bên ngoài lại dám liều lĩnh phủ nhận đánh giá đó của người mẹ. Di sản văn hóa phi vật thể là những đứa con tinh thần của cộng đồng, trong con mắt cộng đồng của nó cũng giống như đứa con trong mắt của người mẹ vậy.

UNESCO chỉ “ghi danh”, không “công nhận”

Một khái niệm khác được dùng sai phổ biến rằng UNESCO “công nhận” Di sản văn hóa phi vật thể nào đó. Công ước 2003 khẳng định rằng, chỉ có cộng đồng, nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân liên quan di sản mới có thể “công nhận” (recognize) di sản của chính họ. Di sản văn hóa phi vật thể không phải là một thứ gì đó bên ngoài, có thể được định nghĩa và xác định giá trị bởi các chuyên gia, quan chức nhà nước, hoặc bởi một quy trình kiểm tra khoa học nào đó. Thay vào đó, chính các cộng đồng, nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân – những người thực hành một biểu đạt văn hóa nào đó – và chỉ họ mà thôi – mới có thể là những người “công nhận” nó là một bộ phận cấu thành di sản văn hoá phi vật thể của họ, chỉ họ mới có thể xác định được giá trị của nó. Mỗi cộng đồng định nghĩa di sản của chính mình và đến lượt nó, chính di sản đó lại định nghĩa cộng đồng của nó. Nội dung Công ước 2003 cũng nhắc lại nhiều lần rằng, quá trình công nhận một cái gì đó là di sản văn hóa phi vật thể là quá trình chỉ có thể diễn ra trong các cộng đồng, chứ không thể do người bên ngoài, cho dù là quan chức nhà nước, thực hiện mà không có cộng đồng. Các chuyên gia cũng không có thẩm quyền quyết định thay cho một cộng đồng cái gì “là” hay “nên là” di sản của họ. Cũng chỉ các cộng đồng liên quan mới có thể bảo vệ di sản của chính họ, và muốn công tác bảo vệ được thực hiện hiệu quả thì sự tham gia rộng rãi nhất có thể của họ là thiết yếu.

Trong định nghĩa về Di sản văn hóa phi vật thể (Điều 2.1 của Công ước), việc công nhận một cái gì đó có phải là một phần di sản văn hóa phi vật thể của mình hay không là quyền của mỗi cộng đồng hay nhóm người. Đúng hơn, đây là trách nhiệm của các cộng đồng, nhóm người hoặc cá nhân liên quan biểu đạt hoặc tập quán đó. Tất cả những gì mà UNESCO hay Ủy ban Liên chính phủ của Công ước có thể làm là “ghi danh” hay nói cách khác là đưa di sản văn hóa phi vật thể đó vào một trong số các danh sách của Công ước.

Sự nhầm lẫn này (có vẻ như) có căn nguyên từ lỗi dịch sai trong bản tiếng Việt chính thức của Công ước 1972. Bản tiếng Anh giải thích rằng, Ủy ban Di sản thế giới sẽ xác định các tiêu chí mà theo đó những di sản “có giá trị nổi bật toàn cầu” có thể được “đưa vào” (includes) Danh sách Di sản thế giới. Bản tiếng Pháp dùng từ “ghi danh” – inscribed. Trong khi đó, bản tiếng Việt lại dịch rằng đây là các tiêu chí để “công nhận” (recognizing) di sản trong Danh sách Di sản thế giới. Tương tự, có sự dịch sai trong Điều 31 của Công ước 2003 (bản tiếng Việt). Trong khi bản tiếng Pháp và tiếng Anh đều dùng từ “ghi danh” (inscriptions) vào Danh sách đại diện hoặc “đưa vào” (includes) một trong số các danh sách thì bản tiếng Việt dịch thành “công nhận” (recognition) trong Danh sách đại diện. Với bản dịch như vậy, quan niệm rằng UNESCO “công nhận” di sản văn hóa nói chung hay di sản văn hóa phi vật thể nói riêng đã trở nên quá phổ biến ở Việt Nam. Với di sản (vật thể) thế giới, cách dùng này có thể vẫn chấp nhận được, nhưng Công ước 2003 về Di sản văn hóa phi vật thể đã nói rất rõ ràng rằng, mỗi di sản văn hóa phi vật thể chỉ có thể được công nhận bởi cộng đồng hoặc nhóm người của nó.

Một cụm từ khác mà UNESCO không bao giờ dùng nhưng lại được sử dụng thường xuyên ở Việt Nam, đó là UNESCO “vinh danh” hay “tôn vinh” (honors). Cách dùng này có vẻ như không vi phạm tinh thần của Công ước, mặc dù có thể gây nhầm lẫn. Mục đích của việc ghi danh không phải là vinh danh/tôn vinh nhưng vinh danh/tôn vinh có thể là một kết quả tự nhiên của việc ghi danh. Đó có thể là việc sau “ghi danh” và là việc của cộng đồng sở hữu di sản.

Ở Việt Nam, còn có tình trạng “danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể” bị hiểu sai lệch thành “danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia”. Những lỗi diễn đạt như vậy không chỉ xuất hiện trên truyền thông đại chúng mà còn trong các nghiên cứu học thuật, thậm chí cả trong các văn kiện và trang web của chính phủ. Vì vậy, không chỉ báo chí mà các học giả, các nhà quản lý đều cần nỗ lực nhiều hơn nữa để có sự hiểu và diễn đạt đúng, để không còn nhầm lẫn việc “ghi danh vào danh sách” với việc “công nhận ở cấp độ quốc tế” và hiểu đúng việc UNESCO “ghi danh” không nhằm thay thế sự công nhận của cộng đồng liên quan, cũng không liên quan việc “vinh danh” hay “tôn vinh”.

Việc hiểu và sử dụng đúng thuật ngữ rất quan trọng vì một trong bốn mục đích của Công ước 2003 là “nâng cao nhận thức ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế về tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể và việc bảo đảm sự tôn trọng lẫn nhau”.

TS Frank Proschan
TS Frank Proschan (ảnh) là nhà nhân học, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian nổi tiếng. Từ năm 2006 đến năm 2015, ông làm việc cho UNESCO, hỗ trợ việc triển khai Công ước năm 2003 Về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể trên phạm vi toàn cầu. Ông là học giả Fulbright 2019 – 2020, cộng tác nghiên cứu tại Trung tâm Smithsonian về Đời sống dân gian và di sản văn hóa, giảng viên thỉnh giảng của Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội).

https://nhandan.com.vn/vanhoa/dien-dan/item/42814002-can-chinh-xac-trong-cach-hieu-ve-di-san-van-hoa-phi-vat-the.html

Hát Then được vinh danh Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

Hát Then được vinh danh Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

138 views•Dec 12, 2019 2 1 Share SaveBáo 42K subscribers Thông tin từ Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) ngày 13/12 cho biết: Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam được ghi danh vào Danh sách Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.Thông tin từ Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) ngày 13/12 cho biết: Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam được ghi danh vào Danh sách Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.Vào hồi 15 giờ 23 phút ngày 12/12/2019 giờ địa phương (3 giờ 23 phút ngày 13/12/2019 giờ Việt Nam), tại Phiên họp Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 14 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) diễn ra tại Bogotá, Colombia, di sản Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.Việc UNESCO vinh danh hát Then là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã góp phần khẳng định bản sắc văn hóa phong phú của dân tộc Việt Nam, sự gắn kết cộng đồng, đề cao tôn trọng đa dạng văn hóa, khuyến khích đối thoại giữa các cá nhân, cộng đồng, dân tộc khác nhau vì sự khoan dung, tình yêu và lòng bác ái đúng theo tôn chỉ và mục tiêu của Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO.Thực hành nghi lễ Then thể hiện tình đoàn kết giữa các tộc người, tôn trọng thế giới quan tộc người theo mục tiêu của UNESCO; giúp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của di sản các cộng đồng dân tộc không chỉ ở Việt Nam, mà còn ở nhiều quốc gia trên thế giới.Thay mặt Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng cộng đồng thực hành nghi lễ Then của người Tày, Nùng, Thái, Cục trưởng Cục Di sản văn hóa Lê Thị Thu Hiền đã cam kết thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm bảo vệ các giá trị của thực hành Then; cảm ơn Hội đồng thẩm định, thành viên của Ủy ban Liên Chính phủ, Ban thư ký đã làm việc tận tình để ghi danh di sản này của Việt Nam.Theo Ủy ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, hồ sơ đề cử di sản văn hóa phi vật thể Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam đáp ứng 5 tiêu chí để ghi danh vào Danh sách Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.Đầu tiên là thực hành Then ở Việt Nam tạo thành một phần cơ bản trong đời sống tinh thần của người Tày, Nùng, Thái, phản ánh mối quan hệ giữa con người, thế giới tự nhiên và vũ trụ Nghi lễ Then thể hiện bản sắc văn hóa của các dân tộc này, từ phong tục đến nhạc cụ, múa, âm nhạc Nhờ các chức năng văn hóa xã hội, Then góp phần giáo dục đạo đức, lối sống nhân đạo và bảo vệ các phong tục, truyền thống văn hóa ở Việt Nam.Việc ghi danh Nghi lễ Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam sẽ làm nổi bật sự đóng góp của di sản trong việc giữ gìn bản sắc dân tộc và củng cố tình đoàn kết giữa các dân tộc khác nhau; thu hút sự chú ý đến các di sản khác trên khắp thế giới, bao gồm các thực hành nghi lễ, nghi lễ mang tính xuất nhập thần và nghi lễ shaman.Sức sống của di sản được đảm bảo bởi các cá nhân, gia đình hoặc cộng đồng, những người mời thầy Then đến làm lễ cầu sức khỏe, cầu an và cầu mùa Từ năm 2001, Chính phủ đầu tư kinh phí từ các Chương trình quốc gia về văn hóa để bảo vệ di sản văn hóa của các cộng đồng dân tộc Việt Nam, trong đó có nghi lễ Then.Các biện pháp bảo vệ được đề xuất theo định hướng mà chương trình này khởi xướng, gồm: Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn để bảo vệ, phát huy giá trị của di sản văn hóa phi vật thể; khuyến khích các hoạt động nghiên cứu và tạo điều kiện phù hợp phục vụ nghiên cứu; triển khai các hoạt động nhận diện, kiểm kê và tư liệu hóa; nghệ nhân dân gian truyền dạy kiến thức bằng cách kết hợp đưa hát Then, tính tẩu vào chương trình giảng dạy ở trường, xuất bản các ấn phẩm để nghiên cứu, giảng dạy, quảng bá, di sản Then bằng cách thúc đẩy, khuyến khích những người trẻ quan tâm đến việc thực hành Các cộng đồng và nghệ nhân đã tích cực tham gia vào việc lập kế hoạch, đề xuất các biện pháp bảo vệ di sản.Nghệ nhân dân gian và các cộng đồng liên quan tích cực tham gia vào tất cả các giai đoạn chuẩn bị hồ sơ đề cử thông qua các cuộc họp, hội thảo, hội nghị và tập huấn Các cộng đồng, nhóm người, cá nhân, câu lạc bộ, thầy Then và gia đình đang thực hành Then đều thể hiện sự đồng thuận một cách tự nguyện bằng văn bản, thông qua các bản ghi âm, ghi hình, bao gồm cả ý kiến về mong muốn hỗ trợ chuẩn bị hồ sơ đề cử cũng như các cam kết của họ để bảo vệ di sản văn hóa.Di sản Then của 11 tỉnh lần lượt được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia kể từ năm 2012; Danh mục được cập nhật gần đây nhất vào năm 2017 Cục Di sản văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch của Việt Nam là cơ quan chịu trách nhiệm duy trì, cập nhật danh mục kiểm kê Hàng năm, các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch/Sở Văn hóa và Thể thao ở các tỉnh có di sản Thực hành Then có trách nhiệm phối hợp với đại diện của cộng đồng và các nghệ nhân liên quan để cập nhật FaceBook: https://www.fb.com/videobaovietnam Twitter: https://twitter.com/videobaovietnam

TRẦN VĂN NGÔ: UNESCO CÔNG NHẬN HÁT THEN LÀ DI SẢN VĂN HOÁ CỦA NHÂN LOẠI

VĂN HÓA DÂN TỘC
UNESCO CÔNG NHẬN HÁT THEN LÀ
DI SẢN VĂN HOÁ CỦA NHÂN LOẠI
Từ Nguyên, Paris
UNESCO vừa ghi nhận Bộ môn THEN TÀY NÙNG THÁI vào di sản văn hóa nhân loại trong phiên họp hằng năm của tổ chức này tại Colombia, Trung Mỹ ngày 13.12.2019.

Như vậy là cho tới nay Việt Nam đã có 10 bộ môn ca nhạc được thừa nhận là di sản văn hoá của nhân loại bắt đầu bằng Nhã nhạc Cung Đình Huế được UNESCO công nhận từ năm 2003.
Nhạc Then là gì và của dân tộc nào ở đâu trên đất nước ta ? Giáo sư Trần Quang Hải người từng nghiên cứu, thực hành và giảng dạy các bộ môn nhạc dân tộc tại Việt Nam và trên thế giới sau khi được hỏi, cho biết như sau.
NGHỆ THUẬT DÂN GIAN CỦA CÁC
DÂN TỘC TÀY, NÙNG, THÁI

Hát Then là loại hình nghệ thuật dân gian tổng hợp nhiều yếu tố về ngữ văn, âm nhạc, mỹ thuật, múa, diễn xướng có giá trị về lịch sử, văn hóa, xã hội; cầu nối giữa con người với trời đất và thế giới thần linh.
Then là một nghi thức không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam. phản ánh các quan niệm về con người, thế giới tự nhiên và vũ trụ. Các lễ Then diễn tả hành trình Thầy Then (Ông Then, Bà Then) điều khiển đoàn âm binh đi từ Mường Đất lên Mường Trời để dâng lễ vật và thỉnh cầu trong lễ: cầu an, chữa bệnh, cầu mùa, chúc mừng năm mới… Khi các Thầy Then cất tiếng hát, gảy tính tẩu là khởi đầu cuộc hành trình. Tùy theo mục đích của việc cầu cúng mà Thầy Then sẽ bày mâm cúng và cầu khấn trước bàn thờ Then những vị thần bản địa khác nhau. Thầy Then thường sử dụng các đồ vật như: kiếm trừ tà, thanh âm dương, chuông…để thực hiện lễ Then tại nhà tín chủ, ở ngoài trời hoặc tại bàn thờ Then ở nhà của Thầy Then.
Thầy Then mặc lễ phục và vừa hát tiếng dân tộc mình vừa gảy tính tẩu, xóc chùm xóc nhạc, phất quạt; có buổi lễ còn có tốp nữ múa phụ họa. Then luôn luôn được trao truyền bằng truyền khẩu khi thực hành nghi lễ Then, thể hiện sự kế tục giữa các thế hệ, và các thầy Then đóng vai trò chính yếu trong việc truyền dạy bí quyết liên quan. Một số thầy Then thực hiện khoảng 200 nghi lễ Then một năm.
Di sản thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái tập trung chủ yếu ở các tỉnh vùng Đông Bắc (Bắc Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Tuyên Quang), vùng Tây Bắc (Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai) và một số địa phương khác ở Việt Nam.
VIỆT NAM ĐÃ CÓ BAO NHIÊU BỘ MÔN
ĐƯỢC UNESCO GHI NHẬN LÀ DI SẢN VĂN HOÁ CỦA NHÂN LOẠI ?

Tới nay Việt Nam có chín bộ môn về âm nhạc dân tộc đưoc UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
1. Nhã nhạc cung đình Huế, năm 2003
2. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên , 2005
3. Dân ca Quan Họ, 2009
4. Nghệ thuật trình diễn Ca Trù, 2009
5. Hát xoan, 2011
6. Đờn ca tài tử Nam bộ, 2013
7. Dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh, 2014
8. Thuc hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt, 2016
9. Nghệ thuật bài chòi Trung bộ Việt Nam, 2017
Và nay,
Thực hành Then của người Tày, Nùng , Thái ở Việt Nam. (Les pratiques du Then par les groupes ethniques Tày , Nung et Thai au Vietnam)

ÍCH LỢI THẾ NÀO ?
Dân gian và nhà nước sẽ bảo tồn và phát triển bộ môn này tích cực hơn, họ sẽ có chương trình cổ động lập câu lạc bộ luyện tâp và phổ biến sâu rông trong học đường và khuyến khích giới trẻ tham gia phát triển bộ môn này.11

Hà An: Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, 13.12.2019 tai Bogota (Colombia)

Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

13/12/2019 | 07:01

Di sản Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam vừa chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Vào hồi 15 giờ 23 phút ngày 12/12/2019, giờ địa phương, (3 giờ 23 phút ngày 13/12/2019- giờ Việt Nam) tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 14 của UNESCO diễn ra tại Bogotá, thủ đô nước Cộng hòa Colombia, di sản Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại - Ảnh 1.
Đoàn Việt Nam tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 14 của UNESCO diễn ra tại Bogotá, thủ đô nước Cộng hòa Colombia (ảnh Phạm Cao Quý)

Then, một thực hành nghi lễ không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, phản ánh các quan niệm về con người, thế giới tự nhiên và vũ trụ. Các lễ Then diễn tả hành trình Thầy Then (Ông Then, Bà Then) điều khiển đoàn âm binh đi từ Mường Đất lên Mường Trời để dâng lễ vật và thỉnh cầu trong lễ: cầu an, chữa bệnh, cầu mùa, chúc mừng năm mới… Khi các Thầy Then cất tiếng hát, gảy tính tẩu là khởi đầu cuộc hành trình. Tùy theo mục đích của việc cầu cúng mà Thầy Then sẽ bày mâm cúng và cầu khấn trước bàn thờ Then những vị thần bản địa khác nhau. Thầy Then thường sử dụng các đồ vật như: kiếm trừ tà, thanh âm dương, chuông… để thực hiện lễ Then tại nhà tín chủ, ở ngoài trời hoặc tại bàn thờ Then ở nhà của Thầy Then. Thầy Then mặc lễ phục và vừa hát tiếng dân tộc mình vừa gảy tính tẩu, xóc chùm xóc nhạc, phất quạt; có buổi lễ còn có tốp nữ múa phụ họa. Then luôn luôn được trao truyền bằng truyền khẩu khi thực hành nghi lễ Then, thể hiện sự kế tục giữa các thế hệ, và các thầy Then đóng vai trò chính yếu trong việc chuyển giao các kỹ năng và bí quyết liên quan, một số thầy Then thực hiện khoảng 200 nghi lễ Then một năm. Di sản Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái tập trung chủ yếu ở các tỉnh vùng Đông Bắc (Bắc Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Tuyên Quang), vùng Tây Bắc (Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai) và một số địa phương khác ở Việt Nam.

Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại - Ảnh 2.
Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam đáp ứng nhiều tiêu chí của UNESCO

Theo Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, hồ sơ đề cử di sản văn hóa phi vật thể Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam đáp ứng những tiêu chí sau để đăng ký vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại:

Tiêu chí R.1: Thực hành Then ở Việt Nam tạo thành một phần cơ bản trong đời sống tinh thần của người Tày, Nùng, Thái, phản ánh mối quan hệ giữa con người, thế giới tự nhiên và vũ trụ. Nghi lễ Then thể hiện bản sắc văn hóa của các dân tộc này, từ phong tục đến nhạc cụ, múa và âm nhạc. Nhờ các chức năng văn hóa xã hội, Then góp phần giáo dục đạo đức, lối sống nhân đạo và bảo vệ các phong tục và truyền thống văn hóa ở Việt Nam.

Tiêu chí R.2: Việc ghi danh Nghi lễ Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam sẽ làm nổi bật sự đóng góp của di sản trong việc giữ gìn bản sắc dân tộc và củng cố tình đoàn kết giữa các dân tộc khác nhau. Việc ghi danh cũng sẽ thu hút sự chú ý đến các di sản khác trên khắp thế giới, bao gồm các thực hành nghi lễ, nghi lễ mang tính xuất nhập thần và nghi lễ shaman.

Tiêu chí R.3: Sức sống của di sản được đảm bảo bởi các cá nhân, gia đình hoặc cộng đồng, những người mời thầy Then đến làm lễ cầu sức khỏe, cầu an và cầu mùa. Từ năm 2001, Chính phủ đầu tư kinh phí từ các Chương trình quốc gia về văn hóa để bảo vệ di sản văn hóa của các cộng đồng dân tộc Việt Nam, trong đó có nghi lễ Then. Các biện pháp bảo vệ được đề xuất theo định hướng mà các chương trình này khởi xướng, bao gồm việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn để bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa phi vật thể; khuyến khích các hoạt động nghiên cứu và tạo điều kiện phù hợp phục vụ nghiên cứu; triển khai các hoạt động nhận diện, kiểm kê và tư liệu hóa; nghệ nhân dân gian truyền dạy kiến thức bằng cách kết hợp đưa hát Then và tính tẩu vào chương trình giảng dạy ở trường và xuất bản các ấn phẩm để nghiên cứu, giảng dạy, quảng bá, di sản Then bằng cách thúc đẩy, khuyến khích những người trẻ quan tâm đến việc thực hành. Các cộng đồng và nghệ nhân đã tích cực tham gia vào việc lập kế hoạch, đề xuất các biện pháp bảo vệ di sản.

Tiêu chí R.4: Nghệ nhân dân gian và các cộng đồng liên quan tích cực tham gia vào tất cả các giai đoạn chuẩn bị hồ sơ đề cử thông qua các cuộc họp, hội thảo, hội nghị và tập huấn. Các cộng đồng, nhóm người, cá nhân, câu lạc bộ, thầy Then và gia đình đang thực hành Then đều thể hiện sự đồng thuận một cách tự nguyện bằng văn bản và thông qua các bản ghi âm, ghi hình, bao gồm cả ý kiến về mong muốn hỗ trợ chuẩn bị hồ sơ đề cử cũng như các cam kết của họ để bảo vệ di sản văn hóa.

Tiêu chí R.5: Di sản Then của 11 tỉnh lần lượt được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia kể từ năm 2012; Danh mục được cập nhật gần đây nhất vào năm 2017. Cục Di sản văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch của Việt Nam là cơ quan chịu trách nhiệm duy trì và cập nhật danh mục kiểm kê. Hàng năm, các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch/Sở Văn hóa và Thể thao ở các tỉnh có di sản Thực hành Then có trách nhiệm phối hợp với đại diện của cộng đồng và các nghệ nhân liên quan để cập nhật danh mục kiểm kê.

Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại - Ảnh 3.
Ghi danh Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại khẳng định bản sắc văn hóa phong phú của dân tộc Việt Nam

Theo Cục Di sản Văn hóa, việc UNESCO ghi danh Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại khẳng định bản sắc văn hóa phong phú của dân tộc Việt Nam, sự gắn kết cộng đồng, đề cao tôn trọng đa dạng văn hóa, khuyến khích đối thoại giữa các cá nhân, các cộng đồng và các dân tộc khác nhau vì sự khoan dung, tình yêu và lòng bác ái đúng theo tôn chỉ và mục tiêu của Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO. Thực hành nghi lễ Then thể hiện tình đoàn kết giữa các tộc người, tôn trọng thế giới quan tộc người theo mục tiêu của UNESCO; giúp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của di sản các cộng đồng dân tộc không chỉ ở Việt Nam, mà còn ở nhiều quốc gia trên thế giới./.

Hà An

https://bvhttdl.gov.vn/thuc-hanh-then-cua-nguoi-tay-nung-thai-o-viet-nam-duoc-unesco-ghi-danh-vao-danh-sach-di-san-van-hoa-phi-vat-the-dai-dien-cua-nhan-loai-2019121306572164.htm

Les pratiques du then par les groupes ethniques Tày, Nùng et Thái au Viet Nam

Les pratiques du then par les groupes ethniques Tày, Nùng et Thái au Viet Nam

Viet Nam

Inscrit en 2019 (14.COM) sur la Liste représentative du patrimoine culturel immatériel de l’humanité

Pratique rituelle essentielle de la vie spirituelle des ethnies tày, nùng et thái au Viet Nam, le then reflète des concepts relatifs aux êtres humains, à la nature et à l’univers. Les cérémonies du then décrivent un voyage au cours duquel le maître then (homme ou femme) guide les soldats fantômes dans leur trajet du royaume terrestre au royaume des cieux afin d’offrir des objets religieux et de prier pour la paix, la guérison, les récoltes, une bonne année, etc. Le maître then commence la cérémonie en chantant et en jouant du tính, une sorte de luth. En fonction de l’objectif du culte, les maîtres then organisent des voyages cérémoniels pour prier différents dieux natifs. Les maîtres then utilisent différents objets, comme des épées d’exorcisme, des baguettes yin et yang, des cloches, etc., pour réaliser les cérémonies dans la maison du croyant, en plein air ou à l’autel then de la maison du maître. Le maître porte une robe de cérémonie, chante dans la langue de son ethnie, joue du tính, fait tinter des clochettes et agite un éventail. Un groupe de danseuses participe à certaines cérémonies. La transmission du then est toujours orale et s’effectue pendant les rituels, reflétant sa pérennité à travers les générations. Les maîtres du then, qui peuvent effectuer jusqu’à 200 cérémonies par an, jouent un rôle essentiel dans la transmission des savoir-faire.Download

The Then rite “The newly-built house celebration” performed by Male Then Master Hoàng Đức Dục (born in 1962, the Tày people) in Ba Bể district, Bắc Kạn province© Vietnamese Institute for Musicology, 2016

The Then rite “Praying for good crop” performed by Female Then Master Mông Thị Sấm (born in 1939, the Nùng people) in Lạng Sơn city, Lạng Sơn province© Vietnamese Institute for Musicology, 2016

A worshipping tray in the Then rite “Cầu Khoăn” (worship for the vital spirit) of the Tày people in Chiêm Hóa district, Tuyên Quang province© Vietnamese Institute for Musicology, 2016

The Khám lễ dance in the Then ritual “Showing gratitude to the ancestors” performed by Female Then Master Chu Thị Hồng Vân (1974, the Nùng people) in Lạng Giang district, Bắc Giang province© Vietnamese Institute for Musicology, 2016

The Chầu dance in a Then rite “Cầu Hoa” (to pray for a child) of the Tày ethnic group performed by Female Then Master Nông Thị Lìm (born in 1945, the Tày people) in Cao Lộc district, Lạng Sơn city, Lạng Sơn province© Vietnamese Institute for Musicology, 2016

The Xòe dance around the Pang tree in a Then rite “Praying for a child” of the Thái people in the Tau village, Điện Biên Phủ city, Điện Biên province© Vietnamese Institute for Musicology, 2016

https://ich.unesco.org/fr/RL/les-pratiques-du-then-par-les-groupes-ethniques-tay-nung-et-thai-au-viet-nam-01379?

HÀ THU : UNESCO đưa hát xoan khỏi danh sách di sản văn hóa cần bảo vệ khẩn cấp

Thứ sáu, 8/12/2017 | 11:54 GMT+7

UNESCO đưa hát xoan khỏi danh sách di sản văn hóa cần bảo vệ khẩn cấp

Ủy ban liên Chính phủ của UNESCO nhận xét môn nghệ thuật của tỉnh Phú Thọ đã được khôi phục đáng kể trong vài năm qua.

Sáng 8/12, UNESCO tổ chức phiên họp tại Jeju, Hàn Quốc. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc đã đưa hát xoan Phú Thọ ra khỏi Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp và ghi danh tại Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây là lần đầu tiên UNESCO có hành động này.

Hát xoan được đưa ra khỏi Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ

UNESCO cho rằng hát xoan không còn cần được bảo vệ khẩn cấp nữa vì cộng đồng địa phương, Chính phủ đã khôi phục đáng kể khả năng tồn tại của loại hình này từ khi được đưa vào Danh sách Di sản văn hoá phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp năm 2011. UNESCO đánh giá dự án bảo vệ và phát huy hát xoan được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phê duyệt từ năm 2013 đóng vai trò thiết yếu trong việc bảo vệ, phục hồi di sản.

Ngày nay, các phường xoan ở Phú Thọ có gần 200 thành viên ở độ tuổi trung bình là 35. Hơn 60 người kế nhiệm được đào tạo, trang bị đầy đủ các kỹ năng hát xoan. Số lượng thanh thiếu niên tham gia phát triển nhanh.

unesco-dua-hat-xoan-khoi-danh-sach-di-san-van-hoa-can-bao-ve-khn-cap

Nguyễn Thị Loan (phải) – Top 25 Hoa hậu Thế giới 2014 – học hát xoan cùng người dân Phú Thọ.

Hát xoan là môn nghệ thuật dân gian, kết hợp giữa hát, múa, chơi nhạc cụ, thường được biểu diễn dịp đầu năm mới ở Phú Thọ để bày tỏ lòng biết ơn các vị vua Hùng. Học viên hát xoan được chia thành các phường hát. Người đứng đầu mỗi phường – « trùm » – chọn đệ tử, truyền dạy bài, tổ chức hoạt động của phường.

Hát xoan được đưa vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ của UNESCO năm 2011. Tỉnh Phú Thọ thực hiện đề án xin rút hát xoan khỏi danh sách này năm 2015.

Ngoài hát xoan, một số môn nghệ thuật truyền thống Việt Nam như nhã nhạc cung đình Huế, dân ca ví giặm, dân ca quan họ Bắc Ninh, ca trù, đờn ca tài tử Nam Bộ, bài chòi ở miền Trung được đưa vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại.

Hà Thu

Nghệ thuật Bài Chòi được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

Nghệ thuật Bài Chòi được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

T.KThứ sáu, ngày 08/12/2017 06:00 GMT+7

Nghệ thuật Bài Chòi ở Bình Định. Ảnh: Dân trí

VTV.vn – Hồ sơ “Nghệ thuật Bài Chòi Trung bộ Việt Nam” đã đáp ứng được 5 tiêu chí để được công nhận là Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại.

Vào lúc 17h10 (theo giờ Hàn Quốc) tức 15h10 giờ Việt Nam, ngày 7/12/2017, tại đảo Jeju, Hàn Quốc, Kỳ họp của Ủy ban Liên Chính phủ Công ước UNESCO 2003 về bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 12 đã nhất trí ghi danh hồ sơ « Nghệ thuật Bài Chòi Trung bộ Việt Nam » là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Nghệ thuật Bài Chòi là một hình thức sinh hoạt văn hóa nghệ thuật dân gian truyền thống đặc sắc của người dân các tỉnh Trung bộ Việt Nam bao gồm các loại hình âm nhạc, thơ, diễn xuất sân khấu, hội họa, văn học… được biểu đạt dưới hình thức hội chơi Bài Chòi và trình diễn Bài Chòi. Đây là hoạt động văn hóa quan trọng trong cộng đồng làng xã, đáp ứng nhu cầu giải trí và thưởng thức nghệ thuật, thể hiện tình yêu quê hương đất nước và những kinh nghiệm trong cuộc sống của người dân.

Với những giá trị văn hóa đặc sắc, công tác chuẩn bị hồ sơ kỹ lưỡng của cộng đồng, chính quyền các địa phương có di sản, sự hỗ trợ của Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, sự hợp tác quốc tế chặt chẽ giữa Ủy ban Quốc gia UNESCO của Việt Nam và UNESCO cùng các nước trong Ủy ban Công ước 2003, hồ sơ Bài Chòi của Việt Nam đã vượt qua sự đánh giá khắt khe của các cơ quan chuyên môn của UNESCO, đáp ứng được 5 tiêu chí để được công nhận là Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại.

Việc ghi danh này có ý nghĩa to lớn, khẳng định bản sắc văn hóa phong phú, đa dạng của dân tộc Việt Nam, cam kết của Việt Nam đối với công tác bảo tồn, gìn giữ các giá trị văn hóa của nhân loại, đề cao tôn trọng đa dạng văn hóa, gắn kết cộng đồng, khuyến khích đối thoại giữa các cá nhân, các cộng đồng và các dân tộc khác nhau vì sự khoan dung, tình yêu và lòng bác ái đúng theo tôn chỉ và mục tiêu cao đẹp của UNESCO.

Sáng 8/12/2017, Kỳ họp sẽ xem xét việc đưa hồ sơ « Hát Xoan Phú Thọ » của Việt Nam ra khỏi danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp và chuyển sang danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Bài chòi - Trò diễn xướng dân gian đầy sáng tạo ở miền Trung Bài chòi – Trò diễn xướng dân gian đầy sáng tạo ở miền Trung

VTV.vn – Qua bao thăng trầm nhưng Bài chòi vẫn được lưu truyền trong dân gian và đang có xu hướng phát triển mạnh ở một số vùng như Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa.

http://vtv.vn/trong-nuoc/nghe-thuat-bai-choi-duoc-cong-nhan-la-di-san-van-hoa-phi-vat-the-dai-dien-cua-nhan-loai-20171207232858392.htm

Nghệ thuật Bài Chòi trở thành Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại

Nghệ thuật Bài Chòi trở thành Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại

Di sản Nghệ thuật Bài Chòi Trung bộ Việt Nam chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Vào lúc 15 giờ 15 (giờ Việt Nam) ngày 7- 12, tại Phiên họp Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 12 của UNESCO diễn ra tại Jeju, Hàn Quốc, di sản Nghệ thuật Bài Chòi Trung bộ Việt Nam chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Theo Ủy ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, hồ sơ đề cử di sản văn hóa phi vật thể Nghệ thuật Bài Chòi Trung bộ Việt Nam đáp ứng những tiêu chí sau để đăng ký vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Nghệ thuật Bài Chòi Trung bộ Việt Nam được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Cụ thể, nghệ thuật Bài Chòi là một hoạt động văn hóa quan trọng trong cộng đồng làng xã, đáp ứng nhu cầu giải trí và thưởng thức nghệ thuật của cộng đồng. Các câu chuyện trong Bài Chòi là những bài học đạo đức, thể hiện tình yêu quê hương đất nước, sự gắn kết cộng đồng và những kinh nghiệm trong cuộc sống của người dân.

Hồ sơ đề cử đã chỉ ra được vai trò quan trọng của người lưu giữ di sản. Là một di sản của cộng đồng, việc truyền dạy Bài Chòi diễn ra chủ yếu trong gia đình, làng xóm, hội, câu lạc bộ và trường học. Việc thực hành di sản Nghệ thuật Bài Chòi thúc đẩy sự bình đẳng về giới tính cũng như sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng. Việc ghi danh Nghệ thuật Bài Chòi khuyến khích đối thoại giữa các cộng đồng, các nhóm người và cá nhân; tạo cơ hội trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm giữa những người thực hành, qua đó làm phong phú kiến thức và kỹ năng liên quan đến việc thực hành các hình thức nghệ thuật…

Hồ sơ đã mô tả chi tiết, rõ ràng những nỗ lực trong quá khứ và hiện tại để bảo vệ di sản và đảm bảo sự tồn tại của các cộng đồng, các nhóm người và các câu lạc bộ với sự hỗ trợ của Chính phủ. Những nỗ lực này bao gồm việc tổ chức các hội Bài Chòi, trình diễn và giảng dạy bài bản và kỹ năng ca hát, cũng như kỹ thuật trình diễn, phương pháp làm thẻ bài và các kỹ năng chơi Bài Chòi.

Việc UNESCO ghi danh Nghệ thuật Bài Chòi Trung bộ Việt Nam tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại khẳng định bản sắc văn hóa phong phú của dân tộc Việt Nam, sự gắn kết cộng đồng, đề cao tôn trọng đa dạng văn hóa, khuyến khích đối thoại giữa các cá nhân, các cộng đồng và các dân tộc khác nhau vì sự khoan dung, tình yêu và lòng bác ái đúng theo tôn chỉ và mục tiêu của Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO.

Nguồn: SGGP

http://voh.com.vn/van-hoa-giai-tri/nghe-thuat-bai-choi-tro-thanh-di-san-van-hoa-phi-vat-the-cua-nhan-loai-255509.html

Bài Chòi được ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại

Bài Chòi được ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại

authorDũ Tuấn Thứ Sáu, ngày 08/12/2017 07:00 AM (GMT+7)

(Dân Việt) Chiều 7.12, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 12 của UNESCO diễn ra tại Hàn Quốc, di sản Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

   

Bài Chòi – Trò diễn xướng dân gian đặc sắc

Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam là loại hình nghệ thuật đa dạng kết hợp âm nhạc, thơ ca, diễn xuất, hội họa và văn học. Bài Chòi có hai hình thức chính: « Chơi Bài Chòi » và « Trình diễn Bài Chòi ». Chơi Bài Chòi liên quan đến một trò chơi thẻ bài trong chòi tre vào Tết Nguyên đán. Trong các buổi trình diễn của Bài Chòi, anh chị Hiệu biểu diễn trên chiếu cói, hoặc di chuyển từ nơi này đến nơi khác hoặc trong những dịp riêng tư của các gia đình.

Nghệ thuật Bài Chòi là một hình thức sinh hoạt văn hóa và giải trí trong cộng đồng làng xã. Người trình diễn và gia đình họ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các hình thức thực hành bằng cách giảng dạy các bài bản, kỹ năng ca hát, kỹ thuật trình diễn và phương pháp làm thẻ bài cho các thế hệ trẻ. Hầu hết, nghệ nhân đều được học kỹ năng, kỹ thuật hô, hát Bài Chòi trong gia đình, chủ yếu thông qua truyền miệng. Tuy nhiên, một số nghệ nhân Bài Chòi ngày nay cũng truyền dạy kiến thức và kỹ năng trong các hội, các câu lạc bộ và trường học.

 bai choi duoc ghi danh di san van hoa phi vat the dai dien nhan loai hinh anh 1

 Anh hiệu, chị hiệu đang hô Bài Chòi ở Bình Định. ảnh Dũ Tuấn

Cơ hội để Bài Chòi lưu truyền rộng rãi

Bài Chòi được công nhận Di sản sẽ có ý nghĩa rất lớn. Điều mong mỏi lớn nhất của tôi là thế hệ trẻ ngày càng yêu quý và hiểu biết hơn về Bài Chòi. Tôi sẵn sàng truyền đạt cho những ai yêu thích để giữ gìn nét văn hóa quê hương”.
Nghệ nhân Nguyễn Thị Minh Liễu (SN 1966, huyện Tuy Phước) 

Thông tin Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được lan tỏa khắp làng chài ở xã đảo Nhơn Châu (TP. Quy Nhơn, Bình Định). Ông Trần Hữu Phước (trú xã đảo Nhơn Châu), cho hay: “Bài Chòi được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại là khoảnh khắc gia đình tôi rất chờ đợi, quá hạnh phúc”.

Từ nhỏ, ông Phước đã đam mê Bài Chòi cổ khi nghe bà nội mình hát. Năm 2011, Trung tâm Văn hóa TP. Quy Nhơn mở lớp học Bài Chòi, ông đăng ký tham gia rồi cùng ngư dân thành lập Hội Bài Chòi dân gian trên Cù lao Xanh, xã Nhơn Châu.

“Để trở thành nhân vật anh Hiệu trong Bài Chòi cần phải luyện tập rất công phu. Bản thân tôi từ nhỏ đã tuyệt đối không uống bia rượu, cà phê để giữ giọng. Là người chủ trì các hội bài chòi, anh Hiệu phải nhớ và thuộc nhiều câu hát khác nhau, ứng với ý nghĩa của các thẻ bài”, ông Phước cho hay.

Anh Trần Huệ Thiện (con trai ông Phước) tâm sự: “Để hát được Bài Chòi thì ít nhất phải thuộc 27 câu hát đi đôi với 27 lá bài. Đối với thanh niên thì hát Bài Chòi rất khó, đòi hỏi kỹ năng, sự va chạm với ngôn ngữ, giọng điệu và cả đam mê”.

Theo ông Phước, nghệ thuật Bài Chòi trên Cù lao Xanh có nguy cơ mai một do thiếu kinh phí tổ chức. Không có sân chơi, vợ chồng ông Phước cùng những người yêu Bài Chòi trên đảo lặn lội vào đất liền để hát phục vụ bà con. Bà Lê Thị Hoa (vợ ông Phước) chia sẻ: “Vợ chồng tôi đi vào đất liền hát, mỗi người được 250.000 đồng/suất, tính chi phí thì chẳng dư ra bao nhiêu, nhưng vì tình yêu Bài Chòi nên không bỏ được. Vì vậy, việc Bài Chòi được công nhận Di sản văn hóa của nhân loại là điều tuyệt vời, sẽ giúp cho môn nghệ thuật này được lưu truyền rộng rãi”. /.

http://danviet.vn/van-hoa/bai-choi-duoc-ghi-danh-di-san-van-hoa-phi-vat-the-dai-dien-nhan-loai-829252.html