Catégorie : TRẦN VĂN TRẠCH

giáo sư, nhạc sĩ Trần Văn Khê: Viết về em tôi, Trần Văn Trạch

Viết về em tôi, Trần Văn Trạch

Bài viết của giáo sư, nhạc sĩ Trần Văn Khê viết lúc sinh thời, kể về những kỷ niệm xúc động với cố nghệ sĩ Trần Văn Trạch, là người em thân thiết và vô cùng gần gũi của ông.

Con tôi Trần Quang Hải đã viết tiểu sử rất đầy đủ và chính xác về chú ba của Hải. Tôi chỉ thêm vài chi tiết về em tôi mà ít có người biết và hôm nay cũng lần đầu tôi mới ghi lại thành văn bản.

Tên của Trạch trong gia đình là “Khê em”

Khi Trạch mới sanh, cả nhà đều vui mừng. Ông nội tôi muốn đặt tên con cháu đều có bộ Thủy nên cha tôi tên Triều là dòng nước, tôi tên Khê là khe suối, em tôi tên Trạch là ao, đầm. Nhưng từ lúc lên một, mỗi khi trong nhà có ai gọi em tôi: Trạch ơi! là con cháu của bà cụ láng giềng trùng tên, thấy khó chịu, nên qua xin ông nội tôi đặt tên khác cho chú bé Trạch, để bà khỏi bị kêu réo tên bà. Cả nhà rất khó nghĩ, tên đã ghi trong sổ bộ đời. Cậu Năm tôi, ông Nguyễn Tri Khương, đến bàn với ông tôi, nhắc lại lịch sử bên Trung quốc dưới triều nhà Tống có hai anh em ruột, văn hay chữ tốt, thi cùng một khoá, đều đậu Tiến sĩ, và ra làm quan trong một triều. Trong nước ai cũng quí tài của hai anh em nên gọi anh là Đại Tống, em là Tiểu Tống. Nay muốn kiêng tên bà cụ láng giềng, cậu Năm tôi đề nghị gọi tôi là Khê Anh và Trạch là Khê Em. Ông nội tôi bằng lòng và từ ngày đó, trong gia đình tôi và cả làng Vĩnh Kim, ai nấy đều gọi chúng tôi bằng hai tên Khê anh và Khê em.

Tuy chúng tôi cách nhau 3 năm nhưng không rời nhau, như anh em sinh đôi. Tối đi ngủ, sáng thức dậy một lượt, cùng ăn lót lòng giống nhau, một gói bắp nấu, một gói xôi đậu hay xôi nếp than có dừa nạo muối mè. Mỗi buổi ăn, ngồi gần nhau, đi tắm sông, tập đi xe đạp, học võ Thiếu Lâm với anh ba Thuận con của cậu năm Khương, cả khi đi tiểu, đi tiêu cũng đều cùng một lúc.

Nghe chuyện đời xưa

Mỗi tuần, cậu năm Khương rước chúng tôi vô ở chơi trong nhà cậu năm cả ngày, từ sáng đến tối, đêm ngủ lại, nghe cậu Năm tôi thổi sáo, và thuật cho chúng tôi nghe những điểm đáng nhớ trong thời thơ ấu của chúng tôi, hoặc thuật chuyện đời xưa, chuyện Nhị thập tứ hiếu. Qua tiếng nói của cậu Năm, chúng tôi được thấy Khổng Tử gặp Hạng Thác, nghe tiếng sáo Trương Lương làm tan binh Hạng Võ, theo Quan Công quá ngũ quan, trảm lục tướng, qua năm cửa ải chém đầu sáu tướng, làm anh em tôi đi ngang nhà nào có thờ Quan Công là chúng tôi ngừng lại quay vào nhà bái tổ theo nghề võ, cả làng rất khen Khê anh, Khê em biết kính “ông Bổn”.

11 tuổi Trạch đã biết ra câu đối

Cậu Năm lại dạy anh em tôi đối chữ, đối ý, đối câu. Đầu tiên dạy chúng tôi phải biết đối một chữ, bình đối với trắc, màu đối với màu, như “vàng” đối với “đỏ” hay “tím”, “trắng” đối với “đen”, số đối với số, “năm” đối với “bốn”, “bảy” hay “tám”, danh từ đối với danh từ, “trời” đối với “đất”, “sông” đối với “núi”, động từ đối động từ, “đi” đối với “chạy”, “lên” đối với “xuống”. Rồi đến hai chữ như “vàng khè” đối với “đỏ hoét”, “trời biển” đối với “núi sông”.

Cậu Năm lại dạy cho chúng tôi biết những câu đối Việt Nam trong đó có những cách “chơi chữ”, như câu

Ruồi đậu mâm xôi, mâm xôi đậu, Kiến bò dĩa thịt, dĩa thịt bò

Hay “nói láy”, như “Ông mượn cháu, đi Giồng dứa, mua dừa giống về ươn mộng” “Ông mượn, ươn mộng; giồng dứa, dừa giống”.

Đối lại:

“Chồng sai vợ, đi Chợ Thủ kêu chủ thợ về chày sông”

“Chồng sai, chày sông, Chợ Thủ, chủ thợ”

Cậu Năm dạy khi người ta ra câu đối Đông Tây, mình có thể đối Nam Bắc. Một hôm cậu năm ra câu đối:

“Cỡi máy bay, bay vòng Đông Tây Nam Bắc” .

Không ai đối được, cậu Năm đối:

“Đi tàu lặn, lặn mãn Xuân, Hạ, Thu Đông”.

Cậu Năm lại ra một câu rất khó đối:

“Thằng đàng Thổ, nằm dưới đất, ăn thục địa”

Thổ là đất, địa cũng là đất lại nằm dưới đất.

Lẽ tất nhiên không ai đối được. Chính cậu Năm tìm ra câu đối:

“Chà Châu giang, lội qua sông, hái bạc hà”

Giang là sông, hà cũng là sông, lại lội qua sông. Thục địa là một vị thuốc, bạc hà là một loại rau nhưng cũng là vị thuốc.

Năm 1934, Trạch mới được 11 tuổi ta, một hôm thấy con chó mực trong nhà làm đổ bình mực liền nghĩ ra một câu đối và thưa với cậu Năm: “Cậu ơi! Con mới ra câu đối để cậu đối lại cho con:

“Chó mực làm đổ bình mực, mực đổ trên mình chó mực”

Cậu năm nói: “Cậu không đối liền được, hẹn con đến trưa nay cậu sẽ tìm câu đối”. Cậu ra vườn trồng bông. Vài giờ sau, cậu Năm tươi cười gọi Trạch và tôi đến để nghe câu đối:

“Gà bông bươi ngã bụi bông, bông rơi trên cánh gà bông”

Anh em chúng tôi vỗ tay hoan nghinh, nhưng cậu Năm nói: “Đối ý thì hoàn toàn, nhưng đối chữ còn chưa được”. “… làm đổ bình mực”, chữ đổ trắc mà cậu đối “làm ngã bụi bông”, chữ ngã cũng trắc, nhưng cậu tìm không ra chữ nào giọng bình. Chữ làm đổ bình mực và mực lại đổ trên mình chó mực, hai chữ đổ cùng âm mà khác nghĩa. Nhưng kể ra câu đối của con cũng khó đối lắm. Và cậu khen Khê em mới 11 tuổi mà đã ra được câu đối mắc mỏ như vậy.

Mối tình đầu của Trạch

Năm 1936 Trạch mới 13 tuổi và đã yêu một cô gái 12 tuổi, bạn của Ngọc Sương em gái chúng tôi. Cô bé rất đẹp, cũng có cảm tình với Trạch. Ngày nào cô bé cũng đến nhà chúng tôi để gặp Ngọc Sương.

3 anh em: Trần Văn Khê – Trần Ngọc Sương – Trần Văn Trạch

Tình yêu rất ngây thơ, nhưng hai trẻ cũng thích chuyện trò, ngồi gần nhau. Trẻ con không quan tâm, nhưng người lớn lại để ý. Cô Ba, người thay cha mẹ chúng tôi để nuôi chúng tôi, từ lúc tôi lên 10, Trạch lên 7, lại rất tinh đời. Cô Ba đến tìm cha mẹ cô bé, đề nghị cho cô bé về quê mẹ trong một thời gian. Khi cô bé không đến nhà như thường lệ, Trạch buồn dã dượi trong mấy hôm liền. Trạch đến nhà cô bé để gặp hai người anh của cô cho đỡ nhớ. Không ngờ người anh nhỏ, bằng tuổi với Trạch, có nghe lén cha mẹ và cô Ba bàn việc cho em gái về quê để cho Trạch không có dịp gặp cô em nữa. Trạch rất buồn. Khi trở về nhà, lúc đó cô Ba đi vắng. Trạch bỗng nổi cơn giận dữ, bứt hết dây đờn tranh, đờn tỳ của cô Ba.

Hả cơn giận, Trạch bình tâm thấy dây đờn ngổn ngang, tôi lui cui lượm bỏ dây hư, lấy dây mới và đang mắc từng dây một, nét mặt buồn. Trạch đến gần tôi nói trong nước mắt:

– Em khổ quá anh hai ơi! Lúc giận em không còn suy nghĩ gì nữa. bây giờ em tỉnh hồn. Nhớ tới cô Ba về rầy, em chịu không nổi. Em lại làm cho anh hai cực, em giận em quá. Em đi khỏi nhà anh hai ơi! Cô Ba có hỏi, anh hai nói em buồn quá bỏ nhà ra đi. Em cũng không biết sẽ đi đâu. Em sẽ không trở về. Anh hai đừng đi tìm em, vô ích.

Tôi khuyên can, nhưng Trạch đã nhứt quyết thì không ai cản ngăn em được. Nhìn theo em đi bộ xuống chợ cá gần bến xe đò đi Mỹ Tho. Rồi cô Ba về. Thấy tôi vừa mắc dây đờn, vừa lên dây mà nước mắt lưng tròng. Cô Ba hỏi:

– Tại sao dây đờn đứt hết vậy con?

– Thưa cô Ba, Khê em buồn gì không biết, vừa bứt từng sợi dây đờn vừa khóc. Rồi nhờ con xin lỗi cô Ba, và ra đi, nói sẽ không trở về nhà nữa.

– Con phải đi kiếm em, bảo nó trở về. Có chuyện gì buồn nói cho cô biết. Cô sẽ không rầy chuyện nó bứt dây đờn đâu. Con có biết em con đi đâu không?

– Dạ thưa không. Nhưng thấy em đi đến phía xe đò đi Mỹ Tho, chắc nó đi theo xe xuống Mỹ. Nó có quen với anh “lơ” chắc họ cho nó đi khỏi trả tiền.

Nghe theo lời cô, tôi đi xe đạp xuống Mỹ Tho, vì nếu đợi xe đò phải sáng hôm sau mới có chuyến đi, đêm nay em sẽ ngủ ở đâu? Tôi đạp xe mà lòng buồn vô hạn. Chưa bao giờ anh em xa nhau một bước. Nay em định bỏ gia đình êm ấm, xa người anh mà em triếu không thua gì con triếu mẹ, tức là em đang khổ lắm. Tôi suy nghĩ nếu mình buồn như em, mình sẽ đi đâu? Chắc mình sẽ xuống mé sông nhìn nước chảy, vì nước chảy sẽ cuốn trôi phiền muộn.

Tại Mỹ Tho có một chỗ tại bờ sông mà lúc phải đi Tam Bình qua ở đậu nhà cô Năm tôi để học mấy lớp Sơ học, vì nhà nghèo cô Ba tôi không đủ sức nuôi tôi học trường tỉnh Mỹ Tho, anh em tôi thích ngồi bờ sông Tỉền Giang, nhìn qua bên mặt có nóc đỏ nhà Cercle của người Pháp, nhìn phía trái có rặng cây dương xanh biếc. Hôm nay, chắc em tôi sẽ đến đó. Suy nghĩ như vậy, và do tình thương em dẫn dắt, tôi đạp xe một mạch đến bờ sông. Đến chỗ tôi đoán, tôi rất mừng, vì thấy bóng em ngồi trên thềm gạch, chống tay trên cằm. Tôi đến nhẹ sau lưng em và gọi nhỏ:

– Khê em ơi!Anh hai đi kiếm em về. Cô sẽ không rầy la đâu. Anh hai bảo đảm với em.

– Sao anh Hai biết em ở đây mà đến tìm em?

– Tình thương đã dẫn anh Hai.

Hai anh em ôm nhau không nói gì cứ để cho nước mắt tha hồ tuôn.

Nghe lời tôi khuyên, Trạch chịu về nhà và xin lỗi cô Ba. Tôi chở em tôi bằng xe đạp. Từ Mỹ Tho về làng Vĩnh Kim, 15 cây số đường làng, hôm đó trời mưa xối xả. Hai anh em ướt cả mình mẩy, nhưng lòng tôi vẫn thấy vui ấm vì anh em tôi không vì lẽ gì phải xa nhau.

Trạch thay anh em tôi báo hiếu

Tuy việc bứt dây đờn tranh xảy ra lúc Trạch còn nhỏ tuổi, mà mãi sau này, mỗi lần nhắc lại Trạch lắc đầu như tự trách mình, không biết ơn người cô đã hy sinh cả cuộc đời để nuôi ba anh em chúng tôi nên người, vì mối tình của mình đã hành động không suy nghĩ, có thể làm đau lòng người cô mà chúng tôi thương kính như cha như mẹ. Nên năm 1944, khi cô tôi đau nặng, bịnh lao đã tới thời kỳ thứ ba, trắc nghiệm trong đàm đã thấy có vi trùng Koch, cô tôi có một người giúp việc rất trung thành, tình nguyện nuôi cô tôi lúc đau ốm.

Nhưng Trạch, sau khi thất bại trong việc làm ăn trên Sài Gòn, nhứt định bỏ cả công việc về làng Vĩnh Kim, vừa tìm việc làm ăn hùn hiệp với một người anh họ để làm lò chén, vừa để mỗi ngày đạp xe lôi đưa cô tôi đi hứng gió ở ngả ba chim chim, cách nhà cô tôi đang ở hơn một cây số. Trạch thuê đóng một chiếc xe lôi có ghế nệm, mỗi ngày khi mặt trời xế bóng về chiều, Trạch đạp xe đạp, đưa cô tôi đi hứng gió.

Năm đó, tôi đang học Y tại Hà Nội, vì nhiều lý do: sinh viên theo phong trào “xếp bút nghiên”, trường Đại học đóng cửa trong hai tháng, tôi bị đau rét rừng nặng phải nghỉ học. Miền Bắc thiếu gạo, nhiều nơi bắt đầu có nạn đói. Tôi về lập với bạn Huỳnh Văn Tiểng một gánh hát sinh viên đi hát trong lục tỉnh, lấy tiền thâu được, mua gạo gởi ra ngoài Bắc cứu đói. Rồi tôi lại lo việc con đầu lòng của tôi sắp ra đời, phải đi dạy học tư tại Sài Gòn để nuôi gia đình. Em gái tôi học nội trú trong trường áo tím Nữ học đường, em Trạch đã thay cho ba anh em chúng tôi báo hiếu với cô Ba chúng tôi.

Trạch bị bắt tại Cần Thơ vì có vợ người Pháp

Anh em lại xa nhau, tôi đi gặp bạn Huỳnh Văn Tiểng tại Chợ Thiên Hộ, và được Ủy ban Kha’ng chiến Nam bộ cử tôi làm “Nhạc trưởng quân đội Nam bộ”, và các bạn tôi đùa gọi tôi là “Tổng tư lịnh Kèn”.

Trạch lúc đó có dịp xuống Mỹ Tho và gặp lại gia đình của một người Pháp sanh ở đảo Corse. Ông nầy thương Trạch từ hồi Trạch còn là học sinh trường Trung học Mỹ Tho, nên lúc Nhựt đảo cha’nh năm 1945, ông bị bắt lên tập trung tại Sài Gòn. Trước khi đi lên trại tập trung, ông gởi gắm gia đình nhờ Trạch trông nom. Ông có một cô gái lớn rất đẹp, và trai tài gặp gái sắc, như sắt gặp đá nam châm. Và cuộc tình đó dẫn đến sự ra đời của em bé A.

Tiếp theo là phong trào Việt Minh nổi dậy. Lúc đó ai có quần áo 3 màu xanh – trắng – đỏ thường bị gán cho danh từ “Việt gian”. Trạch có vợ đầm, có đứa con lai, cảm thấy mình bị đe dọa. Nghe nói tôi ở trong vùng kha’ng chiến miền Tây, nên Trạch đi liều, gặp Thanh niên tiền phong hay Thanh niên cứu quốc đều nói đi xuống Bạc Liêu tìm “anh hai tôi” trong vùng kha’ng chiến. Lúc đó Trạch vừa mới ra trường Trung học Mỹ Tho. Chưa đi hát, không ai biết tên, nên bị bắt mấy lần nhưng được thả ra. Đến Cần Thơ, hai vợ chồng bị nhốt để đợi ủy ban kha’ng chiến xét xử. Rất may cho Trạch, lúc đó có cậu Sáu là một người quen thân trong gia đình đang làm Thanh tra chánh trị. Cậu Sáu nghe nói có trường hợp một thanh niên có vợ Pháp mà muốn đi xuống tận Năm Căn tìm anh là Trần Văn Khê, cậu Sáu liền lãnh phần giải quyết trường hợp đó. Cậu khuyên vợ Trạch làm giấy từ bỏ quốc tịch Pháp, và cậu cấp cho Trạch một giấy đi đường đến tỉnh Bạc Liêu tìm tôi.

Trần Văn Khê – Trần Văn Trạch – Lê Thương

Trạch, binh nhì trong Đội quân nhạc Nam bộ. Anh em hội ngộ

Lúc đó tôi phải đưa đội quân nhạc đến vùng Cái Nước, vì cả Ban Quân Y phải lui về vùng Lẫm Biện Tú, không có tiền lẻ để mua thức ăn trong vùng nhà quê. Ban Quân Y chỉ nhận được giấy 500 đồng khó lưu dụng ở thôn quê. Mỗi ngày cả đoàn quân nhạc chúng tôi tổ chức những đêm hát có ca, nhạc cách mạng, có dân ca ba miền, góp được tiền lẻ, giữ 30 phần trăm cho đội, 70 phần trăm để giúp trạm Y tế Lẫm Biện Tú mua thịt cá, rau cải cho các bịnh nhân.

Một hôm, các anh trong ủy ban kháng chiến đến gặp tôi và cho biết rằng tôi có người em, có vợ Pháp, và con còn nhỏ, từ Hậu Giang đến tìm tôi, rồi mời tôi theo anh ra trụ sở của Ủy ban. Vừa gặp tôi, Trạch chảy nước mắt, chạy lại ôm tôi, hai anh em không nói tiếng nào. Các anh trong ủy ban, đưa giấy giới thiệu của Thanh tra Chánh trị, tôi đọc qua rồi nói với các anh:

– Thanh Tra chánh trị mà anh em tôi trong gia đình gọi là cậu Sáu đã gởi giấy giới thiệu. Dầu cho không có người giới thiệu mà nếu em tôi đến tìm tôi, tôi cũng sẵn sàng bảo bọc em tôi và gia đình. Tôi xin làm tờ bảo lãnh cho em tôi. Từ giờ nầy, em tôi được vào Đội quân nhạc và nếu em tôi có làm chi sai lầm, tôi xin chịu trách nhiệm trước ủy ban.

Trong thời gian mấy tháng, anh em sống lại cuộc đời thuở nhỏ, cùng ăn một mâm, cùng ngủ dưới một mái nhà, khi đi từ nhà đến bịnh viên, chống xuồng qua các rạch các kinh, Trạch khỏi sợ bị bắt như một “Việt gian” vì có vợ Pháp. Tôi vui vì trong cảnh xa nhà xa làng Vĩnh Kim, được chung sống với em tôi và gia đình của em. Ai có ngờ người nghệ sĩ quái kiệt đã có lúc vì tình phải mang tiếng “Việt gian”, khi ngộ biến đã trong mấy tháng trời làm “binh nhì” trong đội Quân nhạc Nam bộ?

Rồi anh em lại xa nhau

Nhưng cuộc hội ngộ nào cũng đi đến lúc chia tay. Khi tất cả các cơ sở thuộc Nam bộ đều đi ra Bắc hay chạy theo căn cứ quân sự, chúng tôi phải trở về Cần Thơ, nơi anh Hai con cậu Năm tôi có một xưởng làm nước mắm mang hiệu Quê Hương. Trạch và gia đình được cậu Năm tôi đùm bọc, tôi đi về Lộc Ninh tá túc nhà nhạc mẫu tôi, bà ngoại của mấy cháu.

Năm 1949 tôi sang Pháp, Trạch làm việc tại Nhà hàng Théophile. Anh em lại xa nhau. Tôi nghiên cứu cổ nhạc. Em tôi nổi tiếng nhờ tân nhạc và được danh hiệu quái kiệt trong làng nghệ sĩ.

Khi nghiên cứu âm nhạc truyền thống và soạn luận án Tấn sĩ tôi được vào Trung tâm nghiên cứu khoa học nhưng vì muốn xây dựng một Trung tâm học nhạc Đông phương để dạy nhạc châu Á theo phong cách truyền khẩu truyền ngón, nên tôi chỉ làm việc bán thời gian cho Trung tâm nghiên cứu khoa học, còn phân nửa thời gian thì làm Giám đốc Trung tâm nghiên cứu âm nhạc Đông phương và làm Cố vấn nghệ thuật cho anh Ph.V. M. Giám đốc Nhà hàng La Table du Mandarin. Tôi bày ra trò chơi L’Election du Mandarin (Cuộc bầu cử Thượng quan của Nhà hàng) được diễn gần 20 năm mỗi buổi chiều. Lúc đó Bích Chiêu, Bạch Yến, Thiên Hương được hát tại La Table du Mandarin là do sau khi tôi nghe và bằng lòng đề nghị cho Anh Ph.V.M ký hợp đồng. Khi Trạch đến hát tại La Table du Mandarin, tôi đang giao việc giới thiệu chương trình bầu cử Thượng quan cho Nhạc sĩ Đan Trường. Nhưng anh em thỉnh thoảng gặp nhau tại Paris.

Trạch đến thường trú tại Pháp

Đến năm 1977, ban giám đốc nhà hàng La Table du Mandarin gọi điện thoại báo tin cho tôi biết Trạch mới từ Việt Nam sang Pháp và muốn gặp tôi. Lúc đó tôi đã không còn làm Cố vấn chương trình nghệ thuật của Hiệu La Tabe du Mandarin, nên không có thể giúp Trạch tìm việc làm tại đây. Trạch phải đi nơi khác. Nhưng anh em lại có dịp cuối tuần về nhà tôi, anh em đờn hát thâu thanh tại nhà tôi, hay tại nhà nữ Bác Sĩ J. Ph.

Tuy cùng sống trên đất Pháp, vì công việc khác nhau, tôi đang “bôn ba bốn biển năm châu”, Trạch đang tìm cách sanh sống bằng thương mãi, anh em gặp nhau trong những ngày Tết Việt Nam, hay những ngày họp mặt gia đình tại nhà Trạch. Mỗi khi Trạch có việc buồn thường hay gọi điện thoại cho tôi để đến gặp tôi, Trạch thèm ca Vọng cổ và muốn tôi đờn tranh phụ họa cho em.

Trần Văn Trạch và cháu ruột – nhạc sĩ Trần Quang Hải, năm 1983

Phút cuối cùng

Đến khi tôi hay tin em tôi bị đau nặng nằm tại bịnh viện, tôi thường vào thăm và Trạch một hôm “trối” với tôi:

– Anh Hai sắp đi Việt Nam theo chương trình làm việc cho Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp. Em chỉ ước ao một điều. Khi em phải từ giã cõi đời, em muốn có anh hai đưa em đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Tôi hứa với em:

– Dầu cho anh Hai đi đâu trên trái đất nầy, khi biết tin em vĩnh viễn anh Hai sẽ trở lại Pháp để lo việc đưa em về nơi an nghỉ cuối cùng. Anh Hai sắp đi xa. Anh Hai nhắc cho em nghe một câu phỏng theo ý của một nhà văn mà anh Hai không nhớ tên: Ngày em ra đời, em khóc mà mọi người quanh nôi em cười vui. Ngày em phải lìa đời, khi mọi người khóc thương tiếc em, thì em sẽ mỉm cười ra đi, vì em đã làm xong tất cả nhiệm vụ của em trên đời.

Trạch mỉm cười siết chặt tay tôi và nói:

– Anh Hai yên lòng đi về nước làm việc. Mong rằng sẽ gặp lại anh Hai khi anh hai trở lại Pháp. Nếu có mệnh hệ nào, em sẽ mỉm cười ra đi. Và anh Hai sẽ về để đưa em về nơi an nghỉ cuối cùng.

Lần đó là lần cuối cùng tôi gặp em tôi khi em còn sống. Và câu nói đó là câu cuối cùng mà tai tôi nghe tiếng em tôi nói. Và như đã hứa, tôi đã trở về từ Việt Nam và làm chủ tang cho đám tang của Trần Văn Trạch, em Khê em của tôi.

Trần Văn Khê

VÕ VĂN NHUNG : TRẦN VĂN TRẠCH , một cựu học sinh tài ba

Đối với các khán thính giả miền Nam, anh Trần Văn Trạch là một quái kiệt . Từ thành thị đến thôn quê ai lại không nghe tên tuổi Trần Văn Trạch với bài hát bất hủ « Xổ số kiến thiết quốc gia ». Nhưng ít ai được biết vào thời đệ nhị thế chiến, tức là cách nay nửa thế kỷ, khi còn là một thư sinh ở Collège de Mytho, anh Trạch đã là thần tượng tí hon của trường .

 

TranVanTrach.jpeg tượng do phạm thế trung khắc.jpeg

Mời đọc bài viết của Võ văn Nhung , bạn đồng môn của cố Quái kiệt Trần Văn Trạch dưới đây:

http://www.vietnamvanhien.net/TranVanTrachVoVanNhung.pdf

Tiểu Sử Trần Văn Trạch

Tiểu Sử Nghệ Sĩ » Tiểu Sử Trần Văn Trạch

http://music.quehuong.org/bionghesi.php?ID=45

Quái Kiệt Trần Văn Trạch Tân Cổ
» Hội Ca Cầm
» Phiên Gác Đêm Xuân
» Xuân Đất Khách
» Mấy Dặm Sơn Khê
» Xe Lửa Mùng 5
» Sầm Giang Tái Ngộ 03
» Mùa Thu Chết
» Chủ Nhật Buồn
» Chiều Mưa Biên Giới

“Quái kiệt” Trần Văn Trạch
Trần Văn Trạch (1924-1994) thuộc gia đình bốn đời nhạc sĩ, hai bên nội ngoại đều có người trong giới nhạc truyền thống dân tộc.
Trần Văn Trạch sanh năm Giáp Tý, 1924, tại làng Vĩnh Kim tỉnh Mỹ Tho nay là tỉnh Tiền Giang. Lúc nhỏ tên là Trần Quang Trạch, nhưng thủ bộ làng Vĩnh Kim viết là Trần Quan Trạch (không có G). Và tới nay người ta không biết cơ duyên nào đưa đẩy cái tên Trần Văn Trạch đến với ông, thay vì Trần Quan Trạch?
Gia đình có ba anh em.Trần Văn Khê là anh Hai, Trạch thứ Ba, cô em gái Út là Trần Ngọc Sương là ca sĩ có tiếng vào thập niên 50, trước sống ở Canada.
Trần Văn Trạch thuở nhỏ có khiếu nhạc, chơi đờn kìm và tỳ bà theo ngón của cha, ca vọng cổ cũng mùi. Lớn lên trong cái nôi cải lương miền Nam là Mỹ Tho, nơi có gánh hát cải lương đầu tiên vào năm 1917 của thầy Năm Tú hát tại Chợ Cũ Mỹ Tho. Thế nhưng Trần Văn Trạch lại ham học đàn mandoline với Trần Văn Khê và học đờn violon với Nguyễn Mỹ Ca, người anh cô cậu. Trạch đã biết chơi thành thạo những bài nhạc Tây thịnh hành thuở đó như là Marinela…
Ðang học tại College de MyTho, đến năm 1942 Trạch bỏ ngang đi ra mở lò gốm làm chén! Và bởi bản tánh nghệ sĩ nên bị thất bại nên phải “dẹp tiệm”, bỏ xứ lên Sài Gòn lập nghiệp mới!
Trần Văn Trạch lên Sai Gòn vào năm 1945, lúc đầu vào hát cho các phòng trà phục vụ quân đội Pháp với vai trò hoạt náo, ca múa (dacing) những bản nhạc Tây. Trong thời gian nầy anh sống với người vợ đầm và có một đứa con và vì thế anh mấy lần bị Việt Minh bắt với tội danh “Việt gian”!
Nhờ Trần Văn Khê vận động, Trạch được tha nên anh gia nhập vào “Ban nhạc quân đội” Việt Minh cùng Trần Văn Khê đi lưu diễn khắp miền Tây và có lần họ gặp nhạc sĩ Lê Thương ở Bến Tre, Mỹ Tho.
Sau đó độ khoảng năm 46-47 Trạch rời “kháng chiến” về Sài Gòn, cùng em gái là Trần Ngọc Sương mở quán nước giải khát tại khu Bàn Bờ bán cho lính Pháp. Tracco, tên Tây của Trạch do các bạn bè đặt cho anh là vào lúc nầy, bởi thỉnh thoảng anh hát những bài nhạc Tây nhằm câu khách.
Nhạc sĩ Lê Thương lúc năm 1945 về Bến Tre, có thời gian bị Pháp bắt ở Mỹ Tho, sau được thả, về Sài Gòn trong phong trào hồi cư bấy giờ. Không rõ cơ duyên nào đưa đẩy khiến Lê Thương phát hiện cái khả năng hài tiềm ẩn trong con người nghệ sĩ phiêu bồng lãng tử Trần Văn Trạch?
Nhạc sĩ Lê Thương bèn viết bài ca thử nghiệm đầu tiên cho Trạch. Ðó là bài “Hòa Bình 48” hát nhái tiếng súng, đại bác, máy bay liệng bom; rồi bài ca “Liên Hiệp Quốc” hát bằng tiếng Pháp-Anh-Nga-Tàu; bài “Làng Báo Sài Gòn” phê bình các nhà báo nói láo ăn tiền, chạy theo Tây!
Nhờ những bài hát mang chất châm biếm hài của nhạc sĩ Lê Thương mà Trần Văn Trạch chuyển hướng. Anh tự sáng tác những bài hát hài để tự diễn. Bài hát anh sáng tác đầu tay năm 1951 là bài “Anh Xích Lô” mang chất hài vui, nhịp điệu nhanh và lôi cuốn.
Với giọng ca trầm hơi thổ, mang nét mộc mạc miền Nam như Út Trà Ôn, cộng thêm phong thái biểu diễn mới lạ, vui nhộn, độc đáo… nên Trần Văn Trạch làm khán giả say mê cuồng nhiệt.
Anh được khán giả, báo chí phong tặng danh hiệu “Quái Kiệt”. Và tên tuổi quái kiệt Trần Văn Trạch xuất hiện như là một hiện tượng lạ trong nền nghệ thuật Việt Nam suốt gần nửa thế kỷ qua.
Trần Văn Trạch viết và biểu diễn thành công tiếp những bài mà nhắc lại thế hệ tuổi 60, 70 ai cũng biết, đã từng nghe và mê mệt. Ðó là: Chuyến xe lửa mùng 5 (1952), Cái tê lê phôn, Anh chàng thất nghiệp, Cây viết máy, Cái đồng hồ tay, Ðừng có lo…
Trần Văn Trạch còn là người tiên phong khai sanh ra loại hình Ca Vũ Nhạc Kịch-Xiệc-Ảo Thuật tổng hợp trên sân khấu mà chính anh là bầu sô. Cái tên “Ðại Nhạc Hội” của anh đặt ra trở thành loại hình sân khấu mới, hấp dẫn, vui tươi không thể thiếu trong dịp Tết cho tới nay ở trong và ngoài nướcSource: maxreading

Tên Bài Báo về Quái Kiệt Trần Văn Trạch Ngày Đăng
 Viếng Mộ  29 Tháng 10, 2015
 Trần Văn Trạch -Quái Kiệt Một Thời…  24 Tháng 05, 2004

TRẦN QUANG HẢI : TRẦN VĂN TRẠCH (1924-1994) , NHẠC SĨ HÀI HƯỚC CỦA LÀNG TÂN NHẠC VIỆT NAM

TRẦN VĂN TRẠCH (1924-1994) , NHẠC SĨ HÀI HƯỚC CỦA LÀNG TÂN NHẠC VIỆT NAM

TRAN VAN TRACH 1990

Viết về cuộc đời của một nghệ sĩ danh tiếng là khó rồi. Viết về một nghệ sĩ « lập dị » đã chinh phục cảm tình của khán giả qua hai thế hệ mà người đó lại là chú ruột của kẻ viết bài này thì lại khó hơn nữa. Làm sao có thể viết một bài phê bình, nói gần nói xa như « mèo khen mèo dài đuôi » ?

Cói khó của tôi là không biết nhiều về ông chú của tôi đứng về mặt gia đình . Có thể nói là suốt thời gian tôi sống ở Việt Nam, tôi chỉ gặp chú tôi tổng cộng  độ 10 lần mà thôi, gặp chú ít khi nói chuyện vì lúc đó tôi hãy còn nhỏ quá đi. Tôi chỉ được xem chú Ba Trạch trình diễn ba lần tại Saigon : một lần vào khoảng 1948 tại dancing Théophile, vùng Dakao, lúc đó tôi mới có 4 tuổi, một lần lúc chú tôi từ Pháp về năm 1961 hát bài « Chiều mưa biên giới » (nhạc và lời của Nguyễn Văn Đông) với dàn nhạc Pháp thu vào băng sẵn để hát kèm theo kiểu hát play back và được xem chú tôi biểu diễn trò múa rối học được ở Pháp về. Và lần chó trước khi tôi rời Việt Nam vào khoảng cuối năm 1961.

Hình ảnh người chú tóc dài, chạy xe Mercedès cũ xì, được báo chí tặng cho danh hiệu « quái kiệt » vẫn còn in rõ trong trí nhớ của tôi.

Cái khó thứ hai là tôi không ở trong nghề, không biết được bộ mặt thật sự của hậu trường sân khấu, cũng như không có « sống », « nếm mùi » ngọt, bùi , cay, đắng của nghề bán giọng hát đổi lấy chén cơm. Do đó, tôi không có một kỷ niệm nào để kể cho các bạn như đa số các nghệ sĩ Việt Nam mà tôi may mắn được gặp và nghe họ kể những bước thăng trầm của cuộc đời rày đây mai đó trên những nẻo đường mòn Việt Nam từ thành thị tới thôn quê .

VÀI DÒNG VỀ THỜI THƠ ẤU Ở SẦM GIANG

Trần Văn Trạch, tên thật là Trần Quang Trạch, sinh năm Giáp Tý (1924) tại làng Đông Hòa , ở Mỹ Tho. Trong gia đình có rất nhiều người biết về nhạc, nhứt là nhạc cổ . Ông cố tôi, Trần Quang Diệm, ngày xưa được gởi ra Huế để học đờn tỳ bà trong thành nội. Ông nội của tôi, Trần Quang Triều, biệt danh là Bảy Triều, nổi tiếng trong giới cổ nhạc qua tiếng đờn kìm lên theo dây Tố Lan do ông nôị tôi sáng chế ra . Dây Tố Lan của đờn kmì khác với cách lên dây thường của đờn kìm . Bình thường đờn kìm có 2 dây, được lên dây cách nhau một quãng 5 (do – sol). Còn lên dây Tố Lan thì hai dây phải cách nhau một quãng 7 thứ (do – sib). Gia đình bên phía ông nội tôi còn có Bà cô Ba tên là Trần Ngọc Viện, người đã thành lập gánh hát Đồng nữ vào khoảng năm 1927 với một điểm đặc biệt là tất cả các diễn viên trong gánh hát toàn là đàn bà. Trong một dịp khác, tôi sẽ viết một bài về gánh hát Đồng Nữ , một hiện tượng duy nhứt trong lịch sử cải lương miền Nam.

Bên phía bà nội tôi thì có ông cậu Năm tên là Nguyễn Tri Khương, từ trần vào năm 1962, một nhạc sĩ chuyên về sáo, lại thông hiểu về lý thuyết nhạc cổ, đã giúp cho ba tôi là cố giáo sư Trần Văn Khê khi viết luận án tiến sĩ về nhạc Việt . Ông Nguyễn Tri Khương còn là thầy tuồng của gánh Đồng Nữ và là tác giả những bài hát mới mà ngày nay rất ít người biết  như các bài Thất trĩ bi hùng, Yến tước tranh ngôn, Phong xuy trịch liễu, Bắc cung ai, vv…. Ông cậu Tư có một người con rất giỏi về nhạc. Đó là cố nhạc sĩ My Ca (tên thật là Nguyễn My Ca) mất vào năm 1944 trong lúc chống Pháp. Bác My Ca là anh em cô cậu với ba và chú tôi, chỉ được biết tiếng qua nhạc phẩm « Dạ Khúc »

Những dòng trên đây được viết ra với mục đích là giúp các bạn hiểu rõ trong bối cảnh nào chú Trần Văn Trạch đã sống và hấp thụ nhiều khía cạnh âm nhạc trong khoảng thời ấu thơ tại làng Vĩnh Kim, làng Đông Hòa, làng Bình Hòa Đông của tỉnh Mỹ Tho miền Nam Việt Nam . Ông bà nội tôi có ba người con. Người con cả là Trần Văn Khê (1921-2015), cựu giáo sư dân tộc nhạc học, một nhà chuyên môn về nhạc cổ truyền Á châu, sinh sống 55 năm tại Paris và ngoại ô. Kế đến lá Trần văn Trạch (1924-1994), từ trần tại Paris năm 1994. Người con gái út là Trần Ngọc Sương (1925 – ) đã có một thời nổi tiếng lấy biệt hiệu là  Ngọc Sương, sau đổi lại là Thủy Ngọc trong những năm 1948-50, và hiện sống tại Montréal, xứ Canada .

TRAN VAN TRACH 1941

Trần Văn Trạch (năm 1941)

Chú Trạch lúc nhỏ rất có khiếu về nhạc. Học đánh đờn kìm và đờn tỳ bà  rất sành. Lại có giọng hát ấm êm ca vọng cổ mùi không thua gì Năm Nghĩa thời đó. Tuy biết về cổ nhạc nhưng lại thích tân nhạc hơn . Lúc khoảng thời đó (1937-39) cố nhạc sĩ My Ca rất giỏi về đờn violon, và ba tôi thiên về mandoline để hợp tấu với nhau  những bản nhạc Pháp nổi tiếng thời đó như « J’ai deux amours », « Marinella ». Phong trào phát động  nhạc mới được giới trẻ theo một cách mạnh mẽ. Chú tôi theo học chữ ở Collège de Mytho (trường trung học Mỹ Tho) cho tới năm 1942 thì rời ghế nhà trường . Tuy ở trong gia đình nhạc sĩ, nhưng lại là người thích buôn bán làm ăn, nên chú Trần văn Trạch mới lập ra lò làm chén ở Vĩnh Kim. Sau một vài năm buôn bán, coi bộ không khá lắm , nên bỏ nghề lên Saigon tìm việc sinh sống. Khoảng năm 1945, sau khi Nhựt đầu hàng, Pháp trở lại Việt Nam , những phòng trà nho nhỏ mở cửa trở lại. Chú tôi mới bắt đầu tìm kiếm được một phòng trà nhỏ (loại salon de thé) ở đường Lagrandière.

DANH TỪ « ĐẠI NHẠC HỘI » XUẤT HIỆN

Có lẽ rất ít người biết từ đâu xuất phát danh từ « đại nhạc hội ». Chú Trần Văn Trạch hoạt náo và hát tại dancing Théophile ở vùng Dakao từ năm 1947-48. Các bản nhạc hài hước đầu tiên không phải do Trần Văn Trạch sáng tác mà là do cố nhạc sĩ Lê Thương . Nhạc sĩ Lê Thương được nhiều người biết qua bài Thằng Cuội, Hòn Vọng Phu 1,2,3. Chính nhạc sĩ Lê Thương đã chính thức khơi mào loại nhạc hài hước như bản « Hoà Bình 48 » (1948, Lê Thương) cũng được Ba và chú tôi tung ra thị trường với những màn bắt chước các thứ tiếng Anh, Nga , Tàu ,vv… Nhạc sĩ Lê Thương có viết năm 1948 một bản nhạc tựa là Làng Báo Saigon do Trần Văn Trạch hát vài lần trên sân khấu nhưng bị chánh phủ cấm . Nhạc sĩ Lê Thương đã viết :

Báo Sài thành từ suốt ba năm nay

Sống một cuộc đời bất bình, mập mờ cũng hay

Nếu mai sau mà anh muốn nói láo

Cứ nghe tôi mà anh cứ viết báo

Công chúng đang buồn, nghe nói một hồi,

Như thác nhớ nguồn, nên cũng đành thôi

 

Đoạn giữa có câu :

Nào xin kính chào này

Mừng tân thử tướng mới

Chừng coi gió chiều nào

Là xoay đổi hướng…

TRAN VAN KHE TRAN VAN TRACH LE THUONG 1949

Trần Văn Khê, Trần Văn Trạch , Lê Thương

Viết lời nhạc ó tánh cách chánh trị, nêu sau đó, Lê Thương, Trần Văn Trạch , Phạm Duy, Đức Quỳnh đã « bị mời » vô bót Catinat mấy ngày. Đến năm 1949, Trần Văn Trạch thấy rằng tân nhạc bắt đầu thịnh hành. Các nữ ca sĩ như Minh Trang, Ngọc Sương, Ngọc Hà, Tâm Vấn góp mặt trên đài Pháp Á, trên các sân khấu trình diễn tân nhạc. Trần Văn Trạch mới có ý nghĩ « lăng xê » danh từ « đại nhạc hội » để chỉ định những buổi hát bao gồm ca, vũ, nhạc, kịch trong một chương trình văn nghệ. Từ đó trở đi, « đại nhạc hội » được thông dụng cho tới ngày nay .

 

Sau đó Trần Văn Trạch thấy rằng muốn khuếch trương khía cạnh tân nhạc, chỉ có cách là mang tân nhạc xen kẻ với những màn ảo thuật, xiệc, vào những buổi chiếu phim hát bóng vì lúc đó phim hát bóng rất thạnh hành, người đi coi hát rất đông, thuận tiện cho việc phổ biến tân nhạc Việt lúc đó hãy còn trong giai đoạn phôi thai .

PHỤ DIỄN TÂN NHẠC TRÊN SÂN KHẤU

Sau thế chiến thứ hai, cuộc sống trên thế giới trở lại bình thường . Nền kinh tế bắt đầu tìm lại thế quân bình. Dân chúng bắt đầu đi coi hát, nghe nhạc, có nhiều cách giải trí hơn . Lúc bấy giờ, xứ Việt Nam hãy còn là thuộc địa của Pháp. Mà ở xứ Pháp, vào thời buổi đó, bắt đầu có chuyện phụ diễn tân nhạc hay những màn hát thuật giữa phim thời sự, quảng cáo, và phim chánh . Trần Văn Trạch thấy hình thức đó hay nên mới tìm cách phổ biến hiện tượng đó tại Saigon. Nhạc sĩ Đức Quỳnh và chú tôi hợp tác với nhau, và lựa rạp hát bóng Nam Việt làm nơi thử thách đầu tiên.

TRAN VAN TRACH DUC QUYNH

Trần Văn Trạch , Đức Quỳnh

Lúc đó vào khoảng năm 1951. Được dân chúng thích và đòi hỏi, Trần văn Trạch mới lần lượt phổ biến chuyện phụ diễn tân nhạc tới những rạp hát khác và lần lần làm thành « hệ thống dây chuyền ». Tân nhạc thiếu bài mới để hát , các nhạc sĩ mới đua nhau sáng tác những nhạc phẩm phù hợp với nhu cầu của dân chúng trong thành phố. Các ca sĩ không thể đem lên sân khấu những ca khúc hùng mạnh đầy màu sắc đấu tranh giặc giã. Nhờ đó mà mới nảy sanh phong trào sáng tác nhạc rất mạnh. Trần Văn Trạch bắt đầu nổi tiếng về tài hài hước vả kể chuyện, rồi sang hát một vài bản nhạc diễu để chọc cười khán giả. Bài bản lại thiếu, nên Chú tôi bắt buộc phải sáng tác những bản đúng « ní tấc ». Nhờ đó mà một số bản nhạc « diễu » được ra đời và đi sâu vào lòng dân chúng mãi cho tới ngày hôm nay .

NHỮNG NHẠC PHẨM HÀI HƯỚC CỦA TRẦN VĂN TRẠCH

Trần Văn Trạch có một lối hát mộc mạc, đúng giọng miền Nam để hát , lời lẽ rất đơn giản, không cầu kỳ, màu mè, những từ ngữ được nghe trong đời sống hàng ngày, nhưng chủ đề lấy từ cuộc sống người dân nghèo nên rất dễ làm xúc động người nghe.

Bài hát hài hước đầu tiên được Chú tôi sáng tác tức là « Anh phu xích lô » (1951). Về nhạc thì sử dụng âm giai thất cung, với những câu nhạc dễ nhớ được lập đi lập lại. Về tiết tấu thì sử dụng nhiều nhịp ngoại, hát mau và phải « giựt » theo kiểu swing để cho vui nhôn hơn .

 

 

 

Tôi chỉ nhở đoạn đầu của bài hát « Anh phu xích lô » như sau :

Có ai mà muốn đi tới Chợ Lớn

Có ai mà muốn đi tới Chợ Mới

Có ai mà muốn đi chóng cho mau tới

Ê ! Tôi xin mời lại đây

Chiếc xe này có bảo kiết cho thật chắc

Bánh xe thì tốt thùng có bọc sắt

Nếu khi mà có đụng phải xe jeep

Quý ngày chẳng hề hấn gì.

ANH PHU XÍCH LÔ.jpg

 

Khi thấy loại nhạc này « hấp dẫn » người nghe, Chú tôi mới tiếp tục viết thêm một số nhạc phẩm hài hước khác như « Chuyến xe lửa mùng 5 » (1952) kể lại chuyện một anh chàng lấy xe lửa về thăm mẹ. Trên xe lửa, để cho qua thì giờ , ngồi đếm cột đèn mà bị người bên cạnh hỏi tới hỏi lui. Đến khi về nhà mới hay mẹ mình đã từ trần. Câu chuyện lúc đầu thì thấy cười. Nhưng kết cuộc là « cười ra nước mắt »

Cho tới ngày ký hiệp định Genève (1954), Trần Văn Trạch đã viết khá nhiều bài như « Cái Tê-lê-phôn », « Cái đồng hồ tay », « Anh chàng thất nghiệp », « cây bút máy », « Đừng có lo »

Để cho các bạn biết sơ qua một số bài với âm điệu, tôi xin tạm ghi lại một đoản khúc của một vài bài điển hình như « Cái tê-lê-phôn » được bắt đầu như sau :

Từ đâu nạn đưa tới

Gắn chi cái tê-lê-phôn

Bởi tôi muốn làm tài khôn

Khiến tôi muốn thành ra ma

Không vào Chợ Quán cũng đi Biên Hòa

 CÁI TELEPHON

 

Trong năm 1952, tôi muốn nói tới hai bản nhạc của Trần Văn Trạch đã được rất nhiều người biết tới mà không phải là nhạc hài hước. Đó là bản « Chiến xa Việt Nam », và một bản khác mà hầu hết những người Việt miền Nam đều đã có nghe qua rất thường. Đó là bài « Xổ số kiến thiết quốc gia ». Trong vòng 23 năm từ 1952 tới 1975, mỗi tuần tại rạp Norodom (sau đổi thành rạp Thống Nhất), đều có nghe hát bản nhạc này trước khi xổ số.

Tôi ghi lại đây bản nhạc này má tôi không thấy trong những tập nhạc được sản xuất  tại hải ngoại sau 1975.

Kiến thiết quốc gia

Giúp đồng bào ta

Xây đắp muôn người

Được nên cửa nhà

Tô điểm giang san

Qua bao lầm than

Ta thề kiến thiết

Trong giấc mộng vàng

Triệu phú đến nơi

Năm mười đồng thôi

Mua lấy xe nhà

Giàu sang mấy hồi

Mua số quốc gia

Giúp đồng bào ta

Ấy là thiên chức

Của người Việt Nam

Mua số mau lên

Xổ số gần đến

Mua số mau lên

Xổ số …gần….đến .

 

 KIEN THIET QUOC GIA.jpg

 

Bài « Chiến xa Việt Nam » (1952) đã được nghe nhiều lần thời đệ nhứt cộng hòa . Nữ ca sĩ Bạch Yến lúc hãy còn là em bé Bạch Yến đã hát bài này khi dự thi tuyển lựa tài tử ở Đài Pháp Á khoảng 1953. Trong những kỳ đi diễn binh nhân ngày Quốc khánh , chúng ta cũng có nghe nữa . Thời gian trôi qua, những bản nhạc hùng mạnh như Thúc Quân, Xuất quân, Hận sông Gianh, Chiến xa Việt Nam ….mờ dần trong trí nhớ người Việt. Tôi chỉ ghi lại hai câu đầu của bài Chiến xa Việt Nam

CHIẾN XA VIỆT NAM

http://www.thietgiap.org/PDF/ChienxaVN.pdf

 

Khi miền Nam trở thành một quốc gia cộng hòa thời cố tổng thống Ngô Đình Diệm (1956 – 1963), nhạc sĩ Trần Văn Trạch sáng tác rất ít . Chỉ có một bài ca hài hước được ra đời là bài « Ba chàng đi hỏi vợ » (1956)

BAN SẦM GIANG  TRÊN ĐÀI PHÁT THANH

Những ai ở vào tuổi thất tuần đều có dịp nghe ban Sầm Giang do Trần Văn Trạch đảm trách trên đài phát thanh Pháp Á từ năm 1950 tới 1954. Con sông Sầm Giang ghi nhiều kỷ niệm trong cuộc đời thơ ấu của Chú tôi nên khi lập một ban nhạc hay một đoàn hát, chú tôi mới lấy tên con sông  này để « dựng  bảng hiệu ». Bản nhạc được nghe báo hiệu chương trình ban Sầm Giang trên đài là một bản nhạc do cố nhạc sĩ My Ca sáng tác cho một tiệm mới khai trương tại Vĩnh Kim khoảng 1940 và Chú tôi lấy điệu nhạc này và đặt lời mới vô .

Ban Sầm Giang quy tụ một số nhạc sĩ gạo cội như cố nhạc sĩ Võ

Thu, Kháng Băng,, về sau có cố nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi, các ca sĩ nổi tiếng thời 50 như Trần Văn Trạch, Ngọc Sương, Ngọc Hà, Tôn Thất Niệm, Linh Sơn, Mạnh Phát , Minh Diệu, Túy Hoa, Tâm Vấn. Đến năm 1953, có thêm những bộ mặt mới như nữ kịch sĩ Bích Thuận, ban Thăng Long, Duy Trác, Tùng Lâm ,em bé Hùng Cường , và …..em bé Bạch Yến .TRAN VAN TRACH BACH YEN 1963

Trần Văn Trạch & Bạch Yến, 1963

Với một chương trình hàng tuần về ca , nhạc, kịch, Trần Văn Trạch đã chinh phục thính giả và nhờ đó những chương trình « đại nhạc hội » được nối tiếp và phát triển trên toàn xứ .

Năm 1953, Trần Văn Trạch diễn tại Hà nội và rất được hoan nghinh, vì bộ môn hài hước không có trên đất Bắc. Chú tôi phải dời ngày về Saigon mấy lượt khiến cho những bạn bè nghệ sĩ đi đón « hụt » mấy lần vì Chú tôi « không chịu về » . Sau chuyến đi thành công  này, Trần Văn Trạch dự định đưa một đoàn nghệ sĩ miền Nam ra diễn ngoài Bắc lấy tên là « Đoàn Gió Nam ». Việc tổ chức đang tiến hành thì hiệp định Genève (1954) đã chia xứ Việt Nam ra làm hai, nên chuyến đi Bắc của đoàn nghệ sĩ miền Nam không bao giờ được thực hiện.

TRẦN VĂN TRẠCH VỚI ĐIỆN ẢNH

Nền điện ảnh Việt Nam ở trong giai đoạn phôi thai. Khoảng 1955, Chú tôi mới cộng tác với hãng phim Mỹ Phương bên Pháp do bà Mỹ Phương (vợ ông Trần Văn Trai, chử nhà hàng Âu cơ ở Paris), làm giám đốc sản xuất với sự phụ lực của Phùng thị Nghiệp và Eric Lê Hùng (bây giờ là đạo diễn nổi tiếng ở Paris). Hai cuốn phim được quay là « Lòng Nhân đạo » (1955) với Trần Văn Trạch, Kim Cương, Hà Minh Tây (anh Tây trước làm việc cho đài truyền hình Pháp) thủ vai chánh, và phim « Giọt Máu Rơi » (1956) với Trần Văn Trạch và Kim Cương. Tuy rằng hai cuốn phim này chưa đạt được đúng mức trình độ diễn xuất, nhưng rất được sự ủng hộ của khán giả Việt Nam lần đầu thấy người Việt đóng phim.

Trần Văn Trạch sau đó , mới rời hãng Mỹ Phương để cộng tác với người Tàu ở Chợ Lớn đễ lập hãng phim Việt Thanh, và tự làm đạo diễn cho hai cuốn phim về chuyện cổ tích Việt Nam . Đó là hai cuốn phim « Thoại Khanh Châu Tuấn » (1956) với Kim Cương , Vân Húng thủ vai chánh, và « Trương Chi Mỵ Nương » (1956) với Trang Thiên Kim và La Thoại Tân

Năm 1957 Chú tôi bị đau thập tử nhứt sanh suốt cả năm . May nhờ có bác sĩ Phan Văn Đệ cứu sống . Chú tôi từ giã nghề điện ảnh Việt Nam lúc đó bắt đầu bành trưng và phát triển mạnh với những nhà đạo diễn chuyên nghiệp và những tài tử điện ảnh như Lê Quỳnh, Kiều Chinh, Kiều Hạnh

Tuy Chú tôi không có tiếp tục ngành điện ảnh , nhưng cũng có đóng góp khá nhiều cho sự hình thành nền điện ảnh Việt Nam tại miền Nam Việt Nam .

GIAI ĐOẠN TỔ CHỨC ĐẠI NHẠC HÔI

Không có một nghệ sĩ Việt Nam nào mà không biết Trần Văn Trạch. Đa số đã có dịp làm việc chung với Chú tôi ít nhứt là một lần trong đời. Có người gọi Chú tôi là « Anh Ba », có người trong lớp nghệ sĩ trẻ gọi là « Chú Ba ». Với những chương trình « đại nhạc hội » , chú Trạch đã có dịp đi khắp các tỉnh, các làng ở miền Nam . Trong thời đệ nhứt cộng hòa (1956-63), Trần Văn Trạch đã thực hiện nhiều chương trình ca, vũ, nhạc , kịch ngày càng vĩ đại với môt thành phần nghệ sĩ càng ngày càng đông . Rồi Kim Cương, ban Dân Nam, Hoàng Thi Thơ…nhảy vô làng tổ chức đại nhạc hội cho tới Saigon bị thất thủ (tháng 4, 1975)

Năm 1960, Chú tôi mới đi sang Pháp tìm những ý kiến mới . Ở Paris, Chú tôi thường xuyên hát tại nhà hàng « La Table du Mandarin », Paris, quận 1, nơi duy nhứt  ở Paris có chương trình văn nghệ Á châu mỗi đêm cho khách Tây phương . Cũng nơi tiệm này do ông Phạm Văn Mười làm chủ, đã được  những ca sĩ Việt Nam nổi tiếng thời đó như Thiên Hương, rồi Bạch Yến (lúc sang Pháp từ 1961 tới 1963), và Bích Chiêu (1962-64), kế tới nữ nghệ sĩ Phùng Há và Kim Cương (1964-65) đến hát . Sau một thời gian lưu lại Pháp khoảng 6 tháng , Chú tôi trở về Saigon với một tiết mục mới là trò múa rối (marionnettes sur tige) và bản « Chiều mưa biên giới »của Nguyễn Văn Đông được hát theo kiểu sound track, có nghĩa là hát thật sự trên sân khấu với dàn nhạc của Pháp thâu sẵn trên băng nhựa . Tôi có dịp đi xem Chú tôi biểu diễn lần đó tại một rạp hát ở Saigon (dường như là rạp Hưng Đạo, tôi không nhớ rõ lắm ).

TRAN VAN TRACH CHIEU MUA BIEN GIƠI

Trần Văn Trạch với bản « Chiều mưa biên giới »

Từ khi có quân đội Mỹ vào miền Nam ngày càng đông, những club dành cho lính Mỹ mọc lên như nấm. Các ca sĩ hát nhạc trẻ càng thấy nhiều hơn . Chú tôi đóng vai « ông bầu » để tổ chức những chương trnìh nhạc trẻ cho lính Mỹ từ năm 1965 trở đi. Trong thời gian này, Chú tôi có sáng tác môt vài bản nhạc không được phổ biến cho lắm như bài « Highway 19 » đặt theo điệu Long hổ hội, nhạc cổ nhưng trên lời Mỹ và theo nhịp vuông .

TRẦN VĂN TRẠCH SAU NĂM 1975

Khi cộng sản vô « chiếm đóng » miền Nam từ 30 tháng 4, 1975, Trần Văn Trạch không còn giữ chức vụ « quản lý » các nghệ sĩ miền Nam nữa, tạm sống một cuộc đời bình thường, với những chuyến lưu diễn địa phương cùng với một số nghệ sĩ miền Nam còn b(i « kẹt » lại lúc đó nhhu Nguyễn Long tự Long Đất (từ trần), Quốc Anh (hiện sống ở California, Hoa kỳ)

Cho tới tháng 12, 1977, Trần Văn Trạch rời Saigon sang Paris. Từ đó trở đi cho tới ngày từ trần (tháng 4, 1994) đã 17 năm qua, nghệ sĩ Trần Văn Trạch từng nổi tiếng là « Quái Kiệt » vẫn âm thầm hoạt động trong văn nghệ. Có một dạo đi đóng kịch với một đoàn hát của Pháp, lưu diễn khắp các tỉnh ở Pháp rồi thỉnh thoảng đi đóng một vài vai phụ trong các phim của Pháp. Rồi Chú tạm ngưng làm việc cho Pháp để xoay ra làm nghề khác để sinh nhai .

Sáng tác âm nhạc dường như bị « nghẹn » đi. Mười bảy năm qua mà ch sáng tác vài bài thôi, vì lẽ cuộc sống mới ở hải ngoại thúc hối con người ta phải luôn luôn chạy với nhịp sống quá ồ ạt, khiến cho Chú tôi lớp phải lo việc đem vợ con sang Pháp rồi lại phải lo kiếm việc làm độ nhựt .

VIÊT HUNG TRAN VAN TRACH CALIFORNIA

Nghệ sĩ Việt Hùng và Trần Văn Trạch tại California, Hoa Kỳ

PHAM DUY CAO THAI TRAN VAN TRACH 1982

Phạm Duy, Cao Thái , Trần Văn Trạch tại Paris, 1982

Tuy nhiên , Chú tôi cũng có góp mặt vào trong làng tân nhạc Việt ở hải ngoại qua ba cuống « Hài hước Trần Văn Trạch » (Thúy Nga , Paris, 1982), « Con đường hạnh phúc »(Thanh Lan, 1983), và « Allo, Paris » (Giáng Ngọc, 1986). Về phía phim vidéo, Trần Văn Trạch cũng có làm một cuốn kỷ niệm « Hài hước Trần Văn Trạch » do ông Cử ở quận Cam, Hoa Kỳ thực hiện năm 1983. Chú tôi cũng có góp mặt trong cuốn thi ca nhạc kịch « Việt Nam » do Hà Phong thực hiện tại Paris năm 1984 với Bích Thuận, Trần Văn Trạch, Trần Quang Hải, Bạch Yến và Hùng Tiến.

Chú tôi cũng đã có đi diễn cho cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ năm 1983 và 1986, ở Úc châu năm 1984, và thường trực có mặt trong những buổi hát giúp lấy tiền cho những con tàu vớt người di tản . Ở Âu châu từ Anh sang Đức, từ Bắc Âu sang Thụy Sĩ, Chú tôi vẫn còn tạo những trận cười qua những màn diễu ăn khách ngày xưa .

TRAN QUANG HAI TRAN VAN TRACH 1983.jpg

Trần Quang Hải & Trần Văn Trạch tại London, Anh Quốc, 1983

Tháng 4, 1994, Chú tôi từ giã cõi trần sau vài tháng năm nhà thương tại Paris vì bịnh viêm gan . Ba tôi từ Việt Nam trở qua Pháp làm chủ tang lễ với sự hiện diện của rất đông ca nhạc sĩ Việt Nam . Được chôn tại nghĩa trang Cimetière intercommunal de Valenton (Val de Marne), Pháp .

tran quang hai truoc mo tran van trach 2011.jpg

Trần Quang Hải trước mộ Trần Văn Trạch , tháng 4, 2011

Với trên 40 năm trong ngh, từng là người tiên phong trong việc tổ chức nhạc hội, người đã đặt ra danh từ « đại nhạc hội », người đã góp ctông vào nền điện ảnh Việt, người duy nhứt của Việt Nam đã ra những bản nhạc hài hước lấy từ những đề tài cảnh khổ của người dân nghèo.

Tôi nghĩ rằng , đối với những người làm văn nghệ, Trần Văn Trạch đã đi vào lịch sử tân nhạc Việt Nam như một số nhạc sĩ đàn anh như Phạm Duy, Lê Thương , Hùng Lân, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương , Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Lưu Hữu Phước, Hoàng Giác, vv…. Có ngưói sáng tác nhạc gợi hứng từ dân ca (Phạm Duy), hùng táng có tính cách tranh đấu (Lưu Hữu Phước) , hay mang màu sắc địa phương miền Nam (Lam Phương), và cũng có người thích khôi hài (Trần Văn Trạch, Lữ Liên). Sự đống góp của biết bao nhạc sĩ có tài của miền Nam Việt Nam cần phải được duy trì qua những bài viết, hay những quyển sách ghi lại những tài năm âm nhạc của miền Nam trong giai đoạn 1954-1975. Chỗ đứng của Trần Văn Trạch hoàn toàn riêng biệt trong vườn hoa âm nhạc Việt Nam và sự đóng góp của Chú tôi cho nền tân nhạc Việt Nam sẽ để lại cho thế hệ mai sau một hình ảnh khó kiếm giữa rừng nhạc Việt đầy hoa thơm cỏ lạ.

tran van khe tran ngoc suong tran van trach

Trần Văn Khê, Trần Ngọc Sương, Trần Văn Trạch , 1974, Saigon.

PHẠM ANH DŨNG : QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH (1924-1994) + Xem/nghe video YouTube

QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH (1924-1994) + Xem/nghe video YouTube


Trần Văn Trạch & Việt Hùng https://youtu.be/_ItPZdtsNbU
Trần Văn Trạch – Tê Lê Phôn – Thu Âm Trước 1975 https://youtu.be/kt-raWHjMU8
Xe Lửa Mùng 5 – Trần Văn Trạch https://youtu.be/V4X6TH7Etr0
Trần Văn Trạch – Ba Giờ Khuya – Thu Âm Trước 1975 https://youtu.be/iR157-oVKmY
Đồng Hồ Đeo Tay (Trần Văn Trạch) / Trần Văn Trạch (Dĩa hát Tân Thanh TT-67 – Pre 1975) : https://youtu.be/SsaR0YaNGIg
Trần Văn Trạch – Chiều Mưa Biên Giới – Thu Âm Trước 1975 : https://youtu.be/WQGGGMEOcu8
Mùa Thu Chết – Trần Văn Trạch (pre 75) https://youtu.be/iAop3usHNAk
Trần Văn Trạch – Không (Nguyễn Anh Chín) https://youtu.be/QuoCSHFUr6w
Con Thuyền không Bên (Đặng Thế Phong) – Trần Văn Trạch https://youtu.be/-oqlEXaD1h4
Tà Áo Tím (Hoàng Nguyên) – Trần Văn Trạch https://youtu.be/CYZqRCSfsNY
Sầm Giang Tái Ngộ 03 – Trần Văn Trạch – Hài hước https://youtu.be/HD5zURWzb8s
MC VIET THAO- QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH– VŨ TRƯỜNG RITZ- 1993 https://youtu.be/5uXar7gBJbQ
———- Forwarded message ———-
From: Pha.m Anh Du~ng
Date: 2017-01-19 7:06 GMT-08:00
Subject: QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH (1924-1994)
To: phamanhdung1@gmail.com

QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH (1924-1994)
 
Phạm Anh Dũng 
    Tân nhạc Việt Nam có nhiều những tình ca buồn, số lượng đến hàng ngàn bản nhạc. Khi nghe những bản nhạc buồn, con người cũng lắng hồn vào tiếng nhạc và có cảm giác buồn.
    Ngược lại khi nghe nhạc vui, tâm hồn người cũng mở rộng chào đón hân hoan. Những bản hùng ca lại làm khơi động những ý chí hào hùng, yêu nuớc. Nghe những bản du ca thấy muốn dấn thân làm việc xã hội. Những bản nhạc nhi đồng làm người nghe thấy tâm hồn trẻ lại.
    Một loại nhạc có thể nói khó sáng tác nhất là nhạc hài hước, loại nhạc nghe có thể vui đến bật tiếng cười. Nhạc hài hước Việt Nam có lẽ chỉ có độ chừng vài chục bản, do những nhạc sĩ thật đặc biệt sáng tác. Một trong những người đó, một ngạc nhiên cho hầu như tất cả mọi người, là tác giả Trường Ca Hòn Vọng Phu. Chính Lê Thương là người đầu tiên viết nhạc hài hước Việt Nam với những bản nhạc Hòa Bình 48, Liên Hiệp Quốc, Làng Báo Sài Gòn…
    Nhưng nói đến chuyện viết nhạc hài hước và rồi tự đơn ca trình diễn lấy, nổi tiếng cả nước, trong lịch sử âm nhạc Việt Nam chỉ có một người: Trần Văn Trạch.
    Ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch, tên thật là Trần Quang Trạch, sinh năm 1924 ở Mỹ Tho, sinh trưởng trong một gia đình toàn là những nhân vật có tiếng về Cổ Nhạc Việt Nam. Tuy trong gia đình có những nhân vật khoa bảng lỗi lạc về âm nhạc như anh ruột giáo sư tiến sĩ âm nhạc Trần Văn Khê, cháu ruột tiến sĩ âm nhạc Trần Quang Hải… Trần Văn Trạch phải nói được nhiều người Việt Nam biết đến hơn cả.
    Ông Trần Văn Trạch có khiếu âm nhạc từ nhỏ, biết nhiều về Cổ Nhạc, thông thạo đàn kìm và tỳ bà, hát Vọng Cổ rất “mùi”, nhưng lại thích Tân Nhạc hơn.
    Sau khi học xong trường Trung Học Mỹ Tho, Trần Văn Trạch bắt đầu với nghề thương mại, lập lò làm chén bán ở Vĩnh Kim nhưng không đuợc khá lắm.
    Năm 1945, ông Trần Văn Trạch bỏ nghề buôn bán, lên Sài Gòn “giang hồ” và tìm cách đi hát cho những phòng trà, vũ trường nhỏ.
    Đến khoảng năm 1947, nghệ sĩ Trần Văn Trạch bắt đầu trình diễn những bài hát hài hước. Những bản nhạc hài hước đầu tiên ông trình bầy là những bản sáng tác bởi nhạc sĩ Lê Thương đã kể ở trên.
    Nhưng về sau, vì nhu cầu trình diễn, ông Trần Văn Trạch đã tự sáng tác ra những bản nhạc hài hước để tự mình trình diễn lấy.
    Bản nhạc Anh Phu Xích Lô là sáng tác đầu tiên của ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch:
          Có ai mà muốn đi tới Chợ Lớn
          Có ai mà muốn đi tới Chợ Mới
          Có ai mà muốn đi chóng cho mau tới
          Ê! Tôi xin mời lại đây…
      Những bài hát nổi tiếng ngày đó là Cái Đồng Hồ Tay, Cây Bút Máy, Anh Chàng Thất Nghiệp, Sở Vòi Rồng, Đừng Có Lo, Tôi Đóng Xi-Nê, Ba Chàng Đi Hỏi Vợ, Chiếc Ô-Tô Cũ… Bài nhạc nào của nhạc sĩ Trần Văn Trạch cũng làm người nghe cười… bể bụng. Thí dụ bài Tai Nạn Tê-lê-phôn:
          Từ đâu nạn đưa tới
          Gắn chi cái tê-lê-phôn
          Bởi tôi muốn làm tài khôn
          Khiến tôi muốn thành ra ma
          Không vào Chợ Quán, cũng ra Biên Hòa…
     Tuy vậy, không phải ông Trần Văn Trạch chỉ sáng tác nhạc hài hước.
     Chuyến Xe Lửa Mùng 5, kể chuyện đi thăm mẹ của một anh chàng. Đây là một bản nhạc lúc đầu nghe thấy có vẻ là nhạc hài hước, với những tiếng động của nhà ga, xe lửa… Nhưng đoạn cuối là một khúc thương ca, khi người về đến nhà mới biết mẹ đã qua đời.
     Một bản nhạc có cả hài hước pha lẫn chút triết lý là Khi Người Ta Yêu Nhau:
          Khi người ta yêu nhau
          Yêu trong lúc hai mươi tuổi đầu
          Thì không phải vì tiền đâu
          Nhưng mà chẳng được bao lâu…
    Những đoạn giữa nói về các tuổi ba mươi, bốn mươi, năm mươi, sáu mươi và:
          Khi người ta yêu nhau
          Yêu trong lúc bẩy mươi tuổi đầu
          Thì không phải vì tiền đâu
         Nhưng mà chẳng còn bao lâu.
     Hai câu Nhưng mà chẳng được bao lâu và Nhưng mà chẳng còn bao lâu nghe có vẻ giống nhau. Nhưng suy nghĩ cho kỹ thấy hai ý nghĩa khác hẳn nhau và cho thấy Trần Văn Trạch là người có đầu óc, biết dùng chữ khá thâm thúy. Cái triết lý giản dị, có thể học được từ bài hát là nếu vì vấn đề tiền mà yêu nhau, thì đó không phải là tình yêu chân thật.
      Một bản nhạc phải nói hầu như ngày xưa người Việt Nam nào cũng phải biết đến, vì được ông hát đi hát lại mỗi tuần khi có xổ số tại rạp Thống Nhất, Sài Gòn và sau này trực tiếp truyền thanh qua đài phát thanh Sài Gòn. Tuần lễ nào người dân nước Việt ở khắp nơi đều nghe thấy tiếng người nghệ sĩ trình bầy bài này qua làn sóng điện. Đó là bài hát Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia, do Trần Văn Trạch viết và hát:
           Kiến thiết quốc gia
          Giúp đồng bào ta
          Xây đắp muôn người
          Được nên cửa nhà
          Tô điểm giang san
          Qua bao lầm than
          Ta thề kiến thiết
          Trong giấc mộng vàng
          Triệu phú đến nơi
          Năm muời đồng thôi
          Mua lấy xe nhà
          Giàu sang mấy hồi
          Kiến thiết quốc gia
          Giúp đồng bào ta
          Ấy là thiên chức
          Của người Việt Nam
          Mua số mau lên
          Xổ số gần đến
         Mua số mau lên
         Xổ số… gần… đến…
     Một bản nhạc khác Trần Văn Trạch sáng tác không hài hước một chút nào cả là bản nhạc hùng mạnh Chiến Xa Việt Nam, bài được hát đi hát lại trong những dịp đài phát thanh cần chạy nhạc hùng như Ngày Quân Lực, Ngày Quốc Khánh… hay khi có… đảo chánh.
     Ca sĩ Trần Văn Trạch cũng có hát những nhạc không hài hước và hát thật hay. Một thí dụ điển hình là bản Chiều Mưa Biên Giới của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã nổi tiếng sau khi chính do Trần Văn Trạch hát rất điêu luyện, với phần nhạc đệm từ một băng nhạc thu sẵn, của một ban nhạc bên Pháp. Lúc đó vào khoảng thập niên 1960, phương pháp trình diễn này coi như rất mới. Từ đây, đã phát sinh ra những loại hát có nhạc đệm sẵn (karaoké).
      Ngoài sáng tác nhạc, hát ông còn là trưởng ban nhạc Sầm Giang của đài phát thanh Pháp Á, vào khoảng thập niên 1950. Ban này gồm những ca sĩ nổi tiếng đương thời như Linh Sơn, Tâm Vấn, Minh Diệu, Mạnh Phát, Tôn Thất Niệm…
Trần Văn Trạch không chỉ hoạt động trong lãnh vực âm nhạc. Cũng trong thập niên 1950, khi điện ảnh vẫn còn là một môn nghệ thuật phôi thai ở Việt Nam, Trần Văn Trạch đã đóng cùng với nữ nghệ sĩ Kim Cương trong những phim như Lòng Nhân Đạo, Giọt Máu Rơi… và về sau còn làm đạo diễn điện ảnh cho những phim như Thoại Khanh Châu Tuấn (do Kim Cương và Vân Hùng đóng), Trương Chi Mỵ Nương (do Trang Thiên Kim và La Thoại Tân đóng)…
     Nhưng có lẽ công trình ông đóng góp nhiều nhất cho nghệ thuật là những buổi Đại Nhạc Hội, với chuyện sáng tác và sự trình diễn những bản nhạc hài hước đã kể trên của ông.
     Danh từ Đại Nhạc Hội chỉ những buổi trình diễn ca nhạc xen kẽ với kịch, ảo thuật… tại các rạp hát do chính ông Trần Văn Trạch đặt ra và từ đó cũng do chính ông đã phát huy chủ trương, bắt đầu từ khoảng năm 1949. Dĩ nhiên một trong những tiết mục quan trọng nhất của những buổi Đại Nhạc Hội này là màn hát nhạc hài hước của chính Trần Văn Trạch.
     Nghe Trần Văn Trạch hát thấy vui và lạ. Ông có biệt tài bắt chước được những âm thanh như tiếng còi tầu xe lửa, tiếng xe hơi chạy, tiếng những cầm thú… Nhưng nếu chỉ nghe không cũng chưa thấy hết cái hay của ông, mà phải nhìn ông trình diễn mới thấy hết được cái linh hoạt của bài hát do ông sáng tác. Giọng hát mộc mạc, đơn giản của người Nam và cách trình diễn hoạt náo những bản nhạc hài hước của chính mình, đã làm nên tên tuổi Trần Văn Trạch, người được dân chúng Việt Nam gọi là Quái Kiệt.
     Với những chương trình Đại Nhạc Hội, Trần Văn Trạch đã trình diễn rất nhiều tại Sài Gòn. Danh tiếng của ông nổi như cồn. Ông đã đi khắp các tỉnh ở miền Nam và trước khi xẩy ra Hiệp Định Genève 1954 chia cắt đất nước, có lần ông ra cả miền Bắc trình diễn.
     Về sau có những người khác theo quan niệm như vậy của ông tổ chức Đại Nhạc Hội cũng rất thành công như nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, nữ nghệ sĩ Kim Cương…
Sau “Giải Phóng 1975”, Trần Văn Trạch bị kẹt lại Việt Nam và ông cũng vẫn đi lưu diễn thường xuyên cho đến khi qua Pháp năm 1977. Từ đó, ở Paris, ngoài việc mưu sinh hàng ngày, ông cũng vẫn có những hoạt động âm nhạc như băng nhạc và video Hài Hước Trần Văn Trạch, trình diễn nhạc ở Pháp hay ở Úc, Hoa Kỳ… và hoạt động xã hội nhất là trong những buổi hát giúp quyên tiền cho những con tầu về lại biển Đông vớt người Việt tỵ nạn vượt biển.
     Năm 1994, nghệ sĩ Trần Văn Trạch qua đời tại Paris, vì bệnh ung thư gan.
     Nhớ lại hình ảnh ngày xưa của người nghệ sĩ quá cố, có dáng dấp giang hồ với mái tóc dài và phong trần, lái chiếc xe mui trần cũ kỹ và bụi bậm, đang thân thiện hiền hòa vẫy chào mọi người ở đường phố Sài Gòn, phải công nhận một điều:
     Ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch, người có một không hai trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, quả là một Quái Kiệt tài hoa trong tâm tưởng của mọi người dân Việt mãi mãi…
Tháng 9, năm 2000
Santa Maria, California, USA
Phạm Anh Dũng
 
 
qk-tr-v-trach-3

Preview YouTube video Trần Văn Trạch – Tê Lê Phôn – Thu Âm Trước 1975

Preview YouTube video Xe Lửa Mùng 5 – Trần Văn Trạch

Preview YouTube video Trần Văn Trạch – Ba Giờ Khuya – Thu Âm Trước 1975

Preview YouTube video Đồng Hồ Đeo Tay (Trần Văn Trạch) / Trần Văn Trạch (Dĩa hát Tân Thanh TT-67 – Pre 1975)

Preview YouTube video Trần Văn Trạch – Chiều Mưa Biên Giới – Thu Âm Trước 1975

Preview YouTube video Mùa Thu Chết – Trần Văn Trạch (pre 75)

PHẠM ANH DŨNG : QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH (1924-1994)

Trần Văn Trạch & Việt Hùng https://youtu.be/_ItPZdtsNbU
Trần Văn Trạch – Tê Lê Phôn – Thu Âm Trước 1975 https://youtu.be/kt-raWHjMU8
Xe Lửa Mùng 5 – Trần Văn Trạch https://youtu.be/V4X6TH7Etr0
Trần Văn Trạch – Ba Giờ Khuya – Thu Âm Trước 1975 https://youtu.be/iR157-oVKmY
Đồng Hồ Đeo Tay (Trần Văn Trạch) / Trần Văn Trạch (Dĩa hát Tân Thanh TT-67 – Pre 1975) : https://youtu.be/SsaR0YaNGIg
Trần Văn Trạch – Chiều Mưa Biên Giới – Thu Âm Trước 1975 : https://youtu.be/WQGGGMEOcu8
Mùa Thu Chết – Trần Văn Trạch (pre 75) https://youtu.be/iAop3usHNAk
Trần Văn Trạch – Không (Nguyễn Anh Chín) https://youtu.be/QuoCSHFUr6w
Con Thuyền không Bên (Đặng Thế Phong) – Trần Văn Trạch https://youtu.be/-oqlEXaD1h4
Tà Áo Tím (Hoàng Nguyên) – Trần Văn Trạch https://youtu.be/CYZqRCSfsNY
Sầm Giang Tái Ngộ 03 – Trần Văn Trạch – Hài hước https://youtu.be/HD5zURWzb8s
MC VIET THAO- QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH- VŨ TRƯỜNG RITZ- 1993 https://youtu.be/5uXar7gBJbQ
Subject: QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH (1924-1994)

QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH (1924-1994)
 
Phạm Anh Dũng 
    Tân nhạc Việt Nam có nhiều những tình ca buồn, số lượng đến hàng ngàn bản nhạc. Khi nghe những bản nhạc buồn, con người cũng lắng hồn vào tiếng nhạc và có cảm giác buồn.
    Ngược lại khi nghe nhạc vui, tâm hồn người cũng mở rộng chào đón hân hoan. Những bản hùng ca lại làm khơi động những ý chí hào hùng, yêu nuớc. Nghe những bản du ca thấy muốn dấn thân làm việc xã hội. Những bản nhạc nhi đồng làm người nghe thấy tâm hồn trẻ lại.
    Một loại nhạc có thể nói khó sáng tác nhất là nhạc hài hước, loại nhạc nghe có thể vui đến bật tiếng cười. Nhạc hài hước Việt Nam có lẽ chỉ có độ chừng vài chục bản, do những nhạc sĩ thật đặc biệt sáng tác. Một trong những người đó, một ngạc nhiên cho hầu như tất cả mọi người, là tác giả Trường Ca Hòn Vọng Phu. Chính Lê Thương là người đầu tiên viết nhạc hài hước Việt Nam với những bản nhạc Hòa Bình 48, Liên Hiệp Quốc, Làng Báo Sài Gòn…
    Nhưng nói đến chuyện viết nhạc hài hước và rồi tự đơn ca trình diễn lấy, nổi tiếng cả nước, trong lịch sử âm nhạc Việt Nam chỉ có một người: Trần Văn Trạch.
    Ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch, tên thật là Trần Quang Trạch, sinh năm 1924 ở Mỹ Tho, sinh trưởng trong một gia đình toàn là những nhân vật có tiếng về Cổ Nhạc Việt Nam. Tuy trong gia đình có những nhân vật khoa bảng lỗi lạc về âm nhạc như anh ruột giáo sư tiến sĩ âm nhạc Trần Văn Khê, cháu ruột tiến sĩ âm nhạc Trần Quang Hải… Trần Văn Trạch phải nói được nhiều người Việt Nam biết đến hơn cả.
    Ông Trần Văn Trạch có khiếu âm nhạc từ nhỏ, biết nhiều về Cổ Nhạc, thông thạo đàn kìm và tỳ bà, hát Vọng Cổ rất “mùi”, nhưng lại thích Tân Nhạc hơn.
    Sau khi học xong trường Trung Học Mỹ Tho, Trần Văn Trạch bắt đầu với nghề thương mại, lập lò làm chén bán ở Vĩnh Kim nhưng không đuợc khá lắm.
    Năm 1945, ông Trần Văn Trạch bỏ nghề buôn bán, lên Sài Gòn “giang hồ” và tìm cách đi hát cho những phòng trà, vũ trường nhỏ.
    Đến khoảng năm 1947, nghệ sĩ Trần Văn Trạch bắt đầu trình diễn những bài hát hài hước. Những bản nhạc hài hước đầu tiên ông trình bầy là những bản sáng tác bởi nhạc sĩ Lê Thương đã kể ở trên.
    Nhưng về sau, vì nhu cầu trình diễn, ông Trần Văn Trạch đã tự sáng tác ra những bản nhạc hài hước để tự mình trình diễn lấy.
    Bản nhạc Anh Phu Xích Lô là sáng tác đầu tiên của ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch:
          Có ai mà muốn đi tới Chợ Lớn
          Có ai mà muốn đi tới Chợ Mới
          Có ai mà muốn đi chóng cho mau tới
          Ê! Tôi xin mời lại đây…
      Những bài hát nổi tiếng ngày đó là Cái Đồng Hồ Tay, Cây Bút Máy, Anh Chàng Thất Nghiệp, Sở Vòi Rồng, Đừng Có Lo, Tôi Đóng Xi-Nê, Ba Chàng Đi Hỏi Vợ, Chiếc Ô-Tô Cũ… Bài nhạc nào của nhạc sĩ Trần Văn Trạch cũng làm người nghe cười… bể bụng. Thí dụ bài Tai Nạn Tê-lê-phôn:
          Từ đâu nạn đưa tới
          Gắn chi cái tê-lê-phôn
          Bởi tôi muốn làm tài khôn
          Khiến tôi muốn thành ra ma
          Không vào Chợ Quán, cũng ra Biên Hòa…
     Tuy vậy, không phải ông Trần Văn Trạch chỉ sáng tác nhạc hài hước.
     Chuyến Xe Lửa Mùng 5, kể chuyện đi thăm mẹ của một anh chàng. Đây là một bản nhạc lúc đầu nghe thấy có vẻ là nhạc hài hước, với những tiếng động của nhà ga, xe lửa… Nhưng đoạn cuối là một khúc thương ca, khi người về đến nhà mới biết mẹ đã qua đời.
     Một bản nhạc có cả hài hước pha lẫn chút triết lý là Khi Người Ta Yêu Nhau:
          Khi người ta yêu nhau
          Yêu trong lúc hai mươi tuổi đầu
          Thì không phải vì tiền đâu
          Nhưng mà chẳng được bao lâu…
    Những đoạn giữa nói về các tuổi ba mươi, bốn mươi, năm mươi, sáu mươi và:
          Khi người ta yêu nhau
          Yêu trong lúc bẩy mươi tuổi đầu
          Thì không phải vì tiền đâu
         Nhưng mà chẳng còn bao lâu.
     Hai câu Nhưng mà chẳng được bao lâu và Nhưng mà chẳng còn bao lâu nghe có vẻ giống nhau. Nhưng suy nghĩ cho kỹ thấy hai ý nghĩa khác hẳn nhau và cho thấy Trần Văn Trạch là người có đầu óc, biết dùng chữ khá thâm thúy. Cái triết lý giản dị, có thể học được từ bài hát là nếu vì vấn đề tiền mà yêu nhau, thì đó không phải là tình yêu chân thật.
      Một bản nhạc phải nói hầu như ngày xưa người Việt Nam nào cũng phải biết đến, vì được ông hát đi hát lại mỗi tuần khi có xổ số tại rạp Thống Nhất, Sài Gòn và sau này trực tiếp truyền thanh qua đài phát thanh Sài Gòn. Tuần lễ nào người dân nước Việt ở khắp nơi đều nghe thấy tiếng người nghệ sĩ trình bầy bài này qua làn sóng điện. Đó là bài hát Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia, do Trần Văn Trạch viết và hát:
           Kiến thiết quốc gia
          Giúp đồng bào ta
          Xây đắp muôn người
          Được nên cửa nhà
          Tô điểm giang san
          Qua bao lầm than
          Ta thề kiến thiết
          Trong giấc mộng vàng
          Triệu phú đến nơi
          Năm muời đồng thôi
          Mua lấy xe nhà
          Giàu sang mấy hồi
          Kiến thiết quốc gia
          Giúp đồng bào ta
          Ấy là thiên chức
          Của người Việt Nam
          Mua số mau lên
          Xổ số gần đến
         Mua số mau lên
         Xổ số… gần… đến…
     Một bản nhạc khác Trần Văn Trạch sáng tác không hài hước một chút nào cả là bản nhạc hùng mạnh Chiến Xa Việt Nam, bài được hát đi hát lại trong những dịp đài phát thanh cần chạy nhạc hùng như Ngày Quân Lực, Ngày Quốc Khánh… hay khi có… đảo chánh.
     Ca sĩ Trần Văn Trạch cũng có hát những nhạc không hài hước và hát thật hay. Một thí dụ điển hình là bản Chiều Mưa Biên Giới của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã nổi tiếng sau khi chính do Trần Văn Trạch hát rất điêu luyện, với phần nhạc đệm từ một băng nhạc thu sẵn, của một ban nhạc bên Pháp. Lúc đó vào khoảng thập niên 1960, phương pháp trình diễn này coi như rất mới. Từ đây, đã phát sinh ra những loại hát có nhạc đệm sẵn (karaoké).
      Ngoài sáng tác nhạc, hát ông còn là trưởng ban nhạc Sầm Giang của đài phát thanh Pháp Á, vào khoảng thập niên 1950. Ban này gồm những ca sĩ nổi tiếng đương thời như Linh Sơn, Tâm Vấn, Minh Diệu, Mạnh Phát, Tôn Thất Niệm…
Trần Văn Trạch không chỉ hoạt động trong lãnh vực âm nhạc. Cũng trong thập niên 1950, khi điện ảnh vẫn còn là một môn nghệ thuật phôi thai ở Việt Nam, Trần Văn Trạch đã đóng cùng với nữ nghệ sĩ Kim Cương trong những phim như Lòng Nhân Đạo, Giọt Máu Rơi… và về sau còn làm đạo diễn điện ảnh cho những phim như Thoại Khanh Châu Tuấn (do Kim Cương và Vân Hùng đóng), Trương Chi Mỵ Nương (do Trang Thiên Kim và La Thoại Tân đóng)…
     Nhưng có lẽ công trình ông đóng góp nhiều nhất cho nghệ thuật là những buổi Đại Nhạc Hội, với chuyện sáng tác và sự trình diễn những bản nhạc hài hước đã kể trên của ông.
     Danh từ Đại Nhạc Hội chỉ những buổi trình diễn ca nhạc xen kẽ với kịch, ảo thuật… tại các rạp hát do chính ông Trần Văn Trạch đặt ra và từ đó cũng do chính ông đã phát huy chủ trương, bắt đầu từ khoảng năm 1949. Dĩ nhiên một trong những tiết mục quan trọng nhất của những buổi Đại Nhạc Hội này là màn hát nhạc hài hước của chính Trần Văn Trạch.
     Nghe Trần Văn Trạch hát thấy vui và lạ. Ông có biệt tài bắt chước được những âm thanh như tiếng còi tầu xe lửa, tiếng xe hơi chạy, tiếng những cầm thú… Nhưng nếu chỉ nghe không cũng chưa thấy hết cái hay của ông, mà phải nhìn ông trình diễn mới thấy hết được cái linh hoạt của bài hát do ông sáng tác. Giọng hát mộc mạc, đơn giản của người Nam và cách trình diễn hoạt náo những bản nhạc hài hước của chính mình, đã làm nên tên tuổi Trần Văn Trạch, người được dân chúng Việt Nam gọi là Quái Kiệt.
     Với những chương trình Đại Nhạc Hội, Trần Văn Trạch đã trình diễn rất nhiều tại Sài Gòn. Danh tiếng của ông nổi như cồn. Ông đã đi khắp các tỉnh ở miền Nam và trước khi xẩy ra Hiệp Định Genève 1954 chia cắt đất nước, có lần ông ra cả miền Bắc trình diễn.
     Về sau có những người khác theo quan niệm như vậy của ông tổ chức Đại Nhạc Hội cũng rất thành công như nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, nữ nghệ sĩ Kim Cương…
Sau “Giải Phóng 1975”, Trần Văn Trạch bị kẹt lại Việt Nam và ông cũng vẫn đi lưu diễn thường xuyên cho đến khi qua Pháp năm 1977. Từ đó, ở Paris, ngoài việc mưu sinh hàng ngày, ông cũng vẫn có những hoạt động âm nhạc như băng nhạc và video Hài Hước Trần Văn Trạch, trình diễn nhạc ở Pháp hay ở Úc, Hoa Kỳ… và hoạt động xã hội nhất là trong những buổi hát giúp quyên tiền cho những con tầu về lại biển Đông vớt người Việt tỵ nạn vượt biển.
     Năm 1994, nghệ sĩ Trần Văn Trạch qua đời tại Paris, vì bệnh ung thư gan.
     Nhớ lại hình ảnh ngày xưa của người nghệ sĩ quá cố, có dáng dấp giang hồ với mái tóc dài và phong trần, lái chiếc xe mui trần cũ kỹ và bụi bậm, đang thân thiện hiền hòa vẫy chào mọi người ở đường phố Sài Gòn, phải công nhận một điều:
     Ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch, người có một không hai trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, quả là một Quái Kiệt tài hoa trong tâm tưởng của mọi người dân Việt mãi mãi…
Tháng 9, năm 2000
Santa Maria, California, USA
Phạm Anh Dũng
 
 

Preview YouTube video Trần Văn Trạch – Tê Lê Phôn – Thu Âm Trước 1975

Preview YouTube video Xe Lửa Mùng 5 – Trần Văn Trạch

Preview YouTube video Trần Văn Trạch – Ba Giờ Khuya – Thu Âm Trước 1975

Preview YouTube video Đồng Hồ Đeo Tay (Trần Văn Trạch) / Trần Văn Trạch (Dĩa hát Tân Thanh TT-67 – Pre 1975)

Preview YouTube video Trần Văn Trạch – Chiều Mưa Biên Giới – Thu Âm Trước 1975

Preview YouTube video Mùa Thu Chết – Trần Văn Trạch (pre 75)

LUCY NGUYỄN :Thêm một cuốn sách quý về giáo sư Trần Văn Khê

Hình ảnh giao lưu tại lễ ra mắt sách
Hình ảnh giao lưu tại lễ ra mắt sách
Nhiều văn nghệ sĩ, trí thức, độc giả đã tới tham dự lễ ra mắt sách Trần Văn Khê: Tâm và Nghiệp của nhóm tác giả (NXB Lao Động) tại Đường sách TP.HCM (Nguyễn Văn Bình, Q.1, TP.HCM) sáng nay 26.6.
Được biết, cuốn sách ra đời nhân ngày giỗ đầu của giáo sư Trần Văn Khê (24.6.2016), là tập hợp những bài viết về giáo sư qua hồi ức của thân hữu, học trò. Mỗi bài viết trong tập sách là một nén nhang lòng để tưởng nhớ và tri ân cây đại thụ làng âm nhạc Việt Nam đã làm tròn nhiệm vụ phụng sự âm nhạc dân tộc cho đến hơi thở cuối cùng.
Nhà văn-nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh cho biết, anh rất cảm động và vinh dự khi được mời đóng góp vào tác phẩm này bài viết của anh nhan đề Thầy Trần Văn Khê – Quyền năng nghệ thuật. Anh đã thực hiện bài viết này sau khi thầy Khê mất. “Câu hỏi chung là tại sao một tâm hồn lớn, vĩ đại như vậy trong âm nhạc và tri thức lại có thể rất giản dị và kết nối được nhiều giới, nhiều giai tầng văn hóa như vậy? Trí thức Việt ở Pháp liệu có làm nên sự đặc biệt? Và sẽ còn những tâm hồn lớn nào nữa?”, anh Nguyễn Hữu Hồng Minh nói.
Đơn vị xuất bản cuốn sách cho biết, họ đã cố gắng hết sức có thể để xuất bản sách trong một thời gian ngắn. “Đây là công sức của cả một tập thể mà công lớn nhất thuộc về anh Nguyễn Đắc Xuân và chị Thế Thanh. Công lớn của cuốn sách này thuộc về các tác giả, từng tác giả. Tôi đã đọc rất kỹ các bài viết và nhận thấy giá trị to lớn của những câu, những chữ, những tấm lòng. Hình như mỗi tác giả mở tâm ra, trải lòng ra để hòa vào “tâm và nghiệp” của giáo sư Trần Văn Khê”, đại diện đơn vị xuất bản nói.
Đọc cuốn sách để hiểu thêm về giáo sư Trần Văn Khê – người đã dành trọn nhiệm vụ của cuộc đời mình là ra sức sưu tầm, nghiên cứu những gì liên quan đến âm nhạc truyền thống Việt Nam qua bề dày của lịch sử và chiều sâu của nghệ thuật. Từ đó nỗ lực mang văn hóa – nghệ thuật Việt Nam đến với bạn bè năm châu, để họ hiểu hơn, yêu hơn, cảm mến hơn một xứ sở Việt Nam, một tâm hồn và sức mạnh nội sinh của Việt Nam.

Lucy Nguyễn

http://thanhnien.vn/van-hoa/them-mot-cuon-sach-quy-ve-giao-su-tran-van-khe-717138.html