Catégorie : TRẦN VĂN KHÊ

PGS Đặng Hoành Loan: Nên có một bảo tàng mang tên GS Trần Văn Khê

PGS Đặng Hoành Loan: Nên có một bảo tàng mang tên GS Trần Văn Khê

Dân trí

Theo Phó Giáo sư, nhạc sỹ Đặng Hoành Loan, với những cống hiến và đóng góp của GS Trần Văn Khê chúng ta nên có một bảo tàng, giới thiệu trưng bày những tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học nghệ thuật của ông.

Giáo sư Trần Văn Khê

Giáo sư Trần Văn Khê ra đi để lại sự tiếc thương đối với gia đình và những người yêu mến ông. Theo PGS, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, hiếm có một GS nào có tình yêu âm nhạc truyền thống như GS Trần Văn Khê.

GS Trần Văn Khê được biết đến như một bậc đại thụ, trưởng bối với nhiều đóng góp và cống hiến cho nền âm nhạc Việt Nam. Chính vì thế, thông tin về sự ra đi của GS Khê khiến cho không ít người cảm thấy đau xót, bàng hoàng. Phó Giáo sư, nhạc sỹ Đặng Hoành Loan – người từng có nhiều cơ hội được tiếp xúc, làm việc với GS Khê cũng không giấu nổi xúc động cho biết, ông cảm thấy mất mát và hụt hẫng như mất đi một người thân trong gia đình. 

Đối với nhạc sỹ Đặng Hoành Loan, GS Trần Văn Khê vừa là một người thầy, vừa là một tấm gương mẫu mực về quá trình lao động nghệ thuật, sự đam mê và cống hiến hết mình cho công việc. Theo nhạc sỹ Đặng Hoành Loan, cả cuộc đời GS Trần Văn Khê vẫn đeo đuổi chỉ một công việc: nghiên cứu, giảng dạy, quảng bá giá trị đặc sắc của âm nhạc truyền thống Việt Nam và góp phần vinh danh giá trị đó ở khắp mọi nơi trên thế giới. 

Với GS Trần Văn Khê, âm nhạc truyền  thống là một thứ quốc hồn, quốc túy. Ông không bỏ lỡ một dịp nào để đem lời ca, tiếng nhạc Việt Nam đến khắp năm châu dù đó là những lần thuyết trình trên các đài truyền thanh, truyền hình hay trong các chuyến đi tham dự hội nghị âm nhạc. Chính vì thế, nhắc đến GS Trần Văn Khê người ta nhắc đến một thư viện sống, một bách khoa toàn thư về âm nhạc truyền thống Việt Nam. Chính Giáo sư Khê là người đã có công góp sức rất lớn vào việc thẩm định Hồ sơ Nhã nhạc cung đình Huế và được giao trọng trách thẩm định hồ sơ cồng chiêng Tây Nguyên.

Ông đã chứng minh được những nét đặc sắc, độc nhất vô nhị của hai loại hình nghệ thuật này. Không lâu sau đó, Nhã nhạc cung đình Huế, cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Theo GS Đặng Hoành Loan, phải nghe GS Khê nói về cội nguồn âm nhạc dân tộc, mới cảm được hết cái tình của một người nhạc sĩ suốt đời say mê nghiên cứu, sưu tầm, phổ biến âm nhạc truyền thống Việt Nam. Ông rất bác học, tinh tế nhưng lại rất mộc mạc, giản dị và đời thường. Hiếm có một vị giáo sư nào mà vừa có thể thuyết giảng, diễn thuyết minh họa về  chèo, tuồng, cải lương, hát bài chòi, hò Huế, hò lục tỉnh… lại vừa đàn, vừa ca “mượt mà” được như ông. 

PGS, Nhạc sỹ Đặng Hoành Loan. (Ảnh: NNVN)

PGS, Nhạc sỹ Đặng Hoành Loan. (Ảnh: NNVN)

Nhạc sỹ Đặng Hoành Loan xúc động kể:  “Điều rất khó tìm ra ở một Giáo sư như ông đó là tình yêu, sự hết mình với âm nhạc Việt Nam. Trong nhiều năm liền, bác miệt mài nghiên cứu, xây dựng những bộ đĩa âm thanh của những nghệ nhân như Quách Thị Hồ, ông Năm Ngũ… để đề cử với hội nghị âm nhạc thế giới. Cũng chính ông là người trực tiếp đề xuất hỗ trợ, trợ cấp cho các nghệ nhân ưu tú với mong muốn thúc đẩy, cổ vũ sự phát triển của loại hình nghệ thuât truyền thống đối với đông đảo tầng lớp xã hội. Rất nhiều học trò của ông trên khắp thế giới cũng được “truyền lửa” và có những đóng góp lớn cho nên âm nhạc Việt Nam”.

Trước đây, khi nhạc sỹ Đặng Hoành Loan còn công tác ở Viện âm nhạc Việt Nam cũng đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình của GS Trần Văn Khê: “Hồi đó ông còn đang ở nước ngoài, nhưng hầu như lần nào về Việt Nam ông cũng đến Viện âm nhạc thăm, động viên tinh thần anh em ở đó. Tôi nhớ có lần, khi trông thấy kho tư liệu với rất nhiều băng đĩa, tài liệu cổ được chúng tôi cất giữ, bảo quản cẩn thận, ông đã nắm tay tôi xúc động và nói: Bằng mọi giá phải giữ được những thứ này, đó là tài sản vô giá mà không thể đánh đổi bằng bất cứ thứ gì”.

GS Khê làm việc miệt mài, ngay cả khi sức khỏe kém phải ngồi xe lăn. Nhạc sỹ Đặng Hoành Loan kể,  không chỉ là người đứng ra tổ chức, xây dựng các chương trình khơi lửa tình yêu âm nhạc truyền thống, ông còn dành nhiều thời gian cho các hội thảo khoa học trong nước, quốc tế. Căn nhà rộng gần 200m2 của ông tại quận Bình Thạnh được ông biến thành không gian sinh hoạt của những người yêu âm nhạc truyền thống. 

Cứ đều đặn hàng tuần nhiều thành phần, tầng lớp xã hội lại cùng gặp gỡ, trò chuyện. Họ đơn giản chỉ là sinh viên, người bán nước, hay đến cả giáo viên, kỹ sư nhưng cùng có chung niềm đam mê với các loại hình nghệ thuật truyền thống.

55 năm sống ở nước ngoài nhưng vẫn mang quốc tịch Việt Nam, một đời GS Trần Văn Khê chỉ đau đáu nỗi niềm và tình yêu dành cho âm nhạc dân tộc. Ở tuổi 94, trải qua nhiều thăng trầm; giáo sư vẫn minh mẫn, lạc quan và cho rằng đời sống của mình thế cũng là viên mãn lắm. 

Trong một lần trả lời phát biểu, khi được nói về mình ông cho biết: “Khê nghĩa là suối”, tôi ví mình như dòng suối chảy ra biển cả rồi lại ngược về nguồn, đã đậm đà vị mặn nhưng không hề bớt trong mát…” Những điều ích lợi mà ông đã làm cho dân tộc mình theo cách riêng của ông đã được quê hương xứ sở ghi nhận sau những năm dài.

Chính vì những đóng góp lớn lao và quá trình cống hiến không mệt mỏi của GS Trần Văn Khê, theo nhạc sỹ Đặng Hoành Loan, Việt Nam nên có một bảo tàng, giới thiệu trưng bày những tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học nghệ thuật của ông. Đây cũng là một cách truyền lửa tình yêu âm nhạc truyền thống cho các thế hệ sau này.

Hà Trang

https://dantri.com.vn/van-hoa/pgs-dang-hoanh-loan-nen-co-mot-bao-tang-mang-ten-gs-tran-van-khe-1435909953.htm

Sự kiện: GS Trần Văn Khê qua đời

Từ khóa:

Đáng quan tâm

NSND NGỌC GIÀU ca vọng cổ mừng thọ 94 tuổi GS Trần Văn Khê

NSND NGỌC GIÀU ca vọng cổ mừng thọ 94 tuổi GS Trần Văn Khê

3,698 viewsJul 24, 2021802ShareSavesmile000123 12.7K subscribers NSND NGỌC GIÀU ca vọng cổ mừng thọ 94 tuổi GS Trần Văn Khê ngày 24/07/2014 tại 32 Huỳnh Đình Hai, phường 24, quận Bình Thạnh, TPHCM Trong phòng có sự góp mặt của nhà báo Thanh Hiệp, GS Trần Quang Hải (con trai trưởng) và cô Thủy Ngọc (con gái Út GS Khê)

Quay phim: Ngọc Hân

GS.TS. TRẦN VĂN KHÊ : TẢN MẠN VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC – HỎI – HIỂU – HÀNH

Trang chủTin tứcCác vấn đề giáo dục TẢN MẠN VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC – HỎI – HIỂU –…

Bởi nktung – 04/10/2017 3135

TẢN MẠN VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC – HỎI – HIỂU – HÀNH

Khi tôi mới được mời vào cộng tác với trường đại học Bình Dương, Hiệu Trưởng nhà trường – GSTS khoa học Cao Văn Phường có cho tôi biết qua về tôn chỉ và phương pháp đào tạo của trường. Nghe thầy Hiệu Trưởng nói về việc này tôi rất thích vì trường không đặt trọng tâm vào kỹ thuật mà luôn luôn có kèm theo văn hóa. Trong yêu cầu chất lượng đào tạo, luôn luôn đặt trọng vấn đề đạo đức gắn liền với kiến thức. Trong phương pháp đào tạo, thầy Hiệu Trưởng đã đưa ra một phương pháp “Cộng Học” giữa thầy và trò, giữa trò và trò, giữa người học với người xung quanh và với cộng đồng xã hội. Phương pháp cộng học được xây dựng dựa trên 4 chữ H:

“HỌC – HỎI – HIỂU – HÀNH”

“Học” là để biết cách học như thế nào

“Học” là để biết cách “hỏi”

“Hỏi” để “học”

“Hỏi” để hiểu (hiểu bằng cách tập hợp thông tin, xử lý thông tin, khai thác thông tin để giải quyết những vấn đề của cuộc sống đặt ra)

“Hiểu” phải “hiểu” đúng

“Hiểu” đúng thì “hành” mới đúng

“Hành” đúng mới có hiệu quả

“Hành” có hiệu quả mới tạo ra được sản phẩm vật chất hay tinh thần có chất lượng, đảm bảo nhu cầu bản thân, gia đình, cộng đồng, xã hội, mới có điều kiện bảo vệ thiên nhiên

Mọi người vừa có thể là người học mà vừa có thể là người dạy

Phương pháp “Cộng Học” giúp cho các em ngay từ nhỏ được rèn luyện tính tự lập, chủ động, tư duy độc lập, lao động sáng tạo và tạo mối liên kết làm việc tập thể. Đây vừa là triết lý, vừa là mục tiêu, vừa là nội dung, vừa là phương pháp mà Đại học Bình Dương phấn đấu đạt đến.

Các bạn sinh viên trường Đại học Bình Dương vui mừng quay quanh GS.VS Trần Văn Khê để được thầy dạy bảo và xin chữ ký của thầy làm kỷ niệm

Chỉ có năm nay Hiệu Trưởng Cao Văn Phường mới nói rõ ra như thế trong bài tham luận khai mạc cuộc họp Hội đồng Khoa học 2011 của nhà trường. GS Mạc Đường – Chủ nhiệm Viện Châu Á – Thái Bình Dương của trường Đại học sau khi nghe bài tham luận của Hiệu Trưởng đã nêu ý kiến: “Tôi rất tâm đắc và đánh giá cao quan điểm triết lý giáo dục của nhà trường, đó là Học – Hỏi – Hiểu – Hành. Triết lý về quan điểm giáo dục này của trường Bình Dương rất hay, rất lớn, rất đáng để chúng ta tiếp tục nghiên cứu, trao đổi”. Các thành viên Hội đồng Khoa học người nước ngoài cũng đã cùng viết chung và đồng ký tên vào bản ý kiến nhận xét có dịch ra tiếng Việt như sau đây:

“ … Viện sĩ Cao Văn Phường đã đưa ra một chương trình giáo dục quan trọng đối với sự phát triển tiến bộ cho tương lai của Việt Nam. Chương trình này được đặt trên cơ sở triết lý giáo dục Học – Hỏi – Hiểu – Hành. Chúng tôi – với tư cách là các thành viên Hội đồng Khoa học và Đào tạo của trường Đại học Bình Dương hoàn toàn nhứt trí tán thành các nội dung tư tưởng và sáng kiến mà Viện sĩ Cao Văn Phường đưa ra”.

Khi tôi được mời tham luận để góp ý kiến với tư cách một người Cố vấn đặc biệt, tôi cũng có đôi lời tán thành chương trình đổi mới căn bản toàn diện hoạt động đào tạo khoa học công nghệ của Trường Đại học Bình Dương, đặc biệt về chiến lược của trường để thực hiện sự phát triển kinh tế thực tế của đất nước và những phẩm chất đạo đức của con người. Sau đó, tôi cũng xin góp thêm một vài ý kiến về phương pháp Học – Hỏi – Hiểu – Hành. Tôi rất tâm đắc với những điều Viện sĩ Cao Văn Phường và Giáo sư Mạc Đường đã nói về triết lý đó. Tôi chỉ muốn dùng những kinh nghiệm bản thân để nói rõ hơn về cách học, cách hỏi, cách hiểu và cách hành trong cả cuộc đời của tôi. Mong rằng những thí dụ cụ thể sẽ giúp cho các sinh viên thấy rõ hơn cách học, cách hỏi, cách hiểu để có thể thực hiện đầy đủ những điều mà trường đã đặt ra, đồng thời giúp cho các em sau này khi ra đời có được một phương cách làm việc hiệu quả hơn nếu áp dụng 4 chữ này.

I. Về cách HỌC:

Có dịp tiếp xúc với các em sinh viên, tôi thấy các em chỉ biết nhiều đến cách “cộng học”. Nhưng khi hỏi đến cách tự học thì các em bảo rằng cứ tìm những quyển sách cùng một đề tài để đọc hoặc tìm trên mạng internet các tài liệu liên quan rồi ghi chép, in ra những gì cần thiết phục vụ cho chuyện học của mình… Khi đi vào chi tiết, tôi hỏi các em ghi chép những điều quan trọng trong quyển sách đã đọc bằng cách nào, có biết cách làm phiếu để cho mình nhớ lại đại cương về quyển sách đã đọc hay không, những thư viện nào có lưu trữ hay những tiệm sách nào có thể mua được… thì các em có phần bối rối.

Vì những lẽ trên, để giúp cho các em sinh viên trong việc học như thế nào cho khoa học, hợp lý, tốn ít thời gian mà thu được nhiều hiệu quả, chúng tôi đặt ra hai câu hỏi cho phương pháp HỌC này: Học với ai? Và học cách nào?  

1. Học với ai?

Lẽ tất nhiên theo cách “cộng học” là sẽ học với thầy, với bạn và những người xung quanh. Đó là những người có mặt và gần gũi với mình.

Khi phải tầm sư học đạo, tức là những người ở xa mình, mình chỉ gặp trên tài liệu, sách vở mà chưa từng gặp mặt hoặc khi phải vào thư viện, lên internet tìm sách cùng một đề tài với bộ môn mình muốn học thì ngoài vấn đề biết cách hỏi còn phải biết cách ghi lại những điều đã đọc được. Nhưng ghi lại bằng cách nào cho thật hiệu quả mà không tốn thời gian? Do đó phải biết cách đọc sách và cách làm phiếu.

2. Học cách nào?

2.1. Khi học một vấn đề phải biết tận dụng những kỹ năng ghi nhớ bằng các giác quan cho thật hiệu quả:

  • Phải tự tay mình ghi tên đề tài và những chi tiết cần phải nhớ về đề tài đó. Như vậy là bàn tay ta đã bắt đầu nhớ giúp ta (memoire tactile).
  • Khi ghi bằng tay, mắt ta nhìn thấy những chữ hiện lên trên giấy thì thị giác đã bắt đầu giúp ta nhớ (memoire visuelle).
  • Miệng ta đọc lớn lên các chi tiết để lỗ tai ta ghi nhận những điều đã nghe, thị giác lại góp phần vào việc nhớ (memoire auditive). Đồng thời miệng nói cũng góp thêm một phần nữa.

2.2. Khi học về một niên đại nên cố gắng tìm 3 sự kiện xảy ra cùng niên đại đó để nhớ một lượt, đó là cách chúng tôi “học một nhớ ba”.

Thí dụ: Đa số học sinh khi học lịch sử nước ngoài đều biết năm 1789 là năm cách mạng tư sản Pháp thành công. Nhưng nếu chúng ta nhớ thêm rằng năm đó Nguyễn Huệ đánh thắng quân Thanh tại Đống Đa và ngay sau khi thắng trận đã gởi một phái đoàn hữu nghị đến vua Càn Long thì số 1789 giúp ta nhớ được cùng lúc 3 sự kiện.

Hoặc có thể nhớ thêm những sự kiện xảy ra ở các năm gần với niên đại đó nếu ta có một trí nhớ tốt:

Thí dụ (theo kinh nghiệm bản thân từng trải qua): Những sinh viên học nhạc nước ngoài nếu chỉ nhớ rằng 1770 là năm sanh của nhạc sĩ Beethoven thì không bằng đồng thời nhớ luôn tại miền Nam Ấn Độ 3 năm trước, 1767, có một nhạc sĩ lớn đã đặt ra 1000 bài hát Kritis mà dân Ấn Độ miền Nam còn hát đến giờ. Đó là nhạc sĩ Tiagaradja. Và cũng 13 năm trước, 1757, có một nhạc sĩ Nhựt Bổn đã lập ra 1 trường phái mới trong truyền thống đàn Koto, gọi là Yamada Ryu (phái móng tròn – Sơn Điền lưu phái 山田流).

2.3. Phải biết giản dị hóa những điều phức tạp:

Thí dụ: Muốn nhớ các triều đại trong lịch sử Trung Quốc từ đời Đường đến nay, nếu phải nhớ kỹ thì chúng ta phải để ý rằng từ đời Đường về sau có 5 triều đại lớn: Đường – Tống – Nguyên – Minh – Thanh, trung bình mỗi triều đại sống được 3 thế kỷ. Chỉ có triều Nguyên trị vì trong hơn 80 năm (tức là 1 thế kỷ). Chúng ta chỉ có thể nhớ một cách dễ dàng như sau đây:

Đường                         (trải qua 3 thế kỷ: thứ 7, thứ 8 và thứ 9)

Tống                            (thế kỷ 10 – 11 – 12)

Nguyên                       (thế kỷ 13)

Minh                            (thế kỷ 14 – 15 – 16)

Thanh                          (thế kỷ 17 – 18 – 19)

Cộng hòa Trung Hoa (từ thế kỷ 20)

Mặc dầu chưa thật chính xác nhưng trong 90% trường hợp thì chúng ta không sai khi đặt một nhân vật nào trong một triều đại nào để tìm hiểu, nghiên cứu.

2.4. Áp dụng hai phương pháp của sử học và dân tộc nhạc học cho mỗi đề tài học.

2.4.1. Sau khi miêu tả đề tài một cách toàn diện, tức là từ cụ thể tới trừu tượng thì phải bắt đầu đi dài trong thời gian theo “phương pháp của sử học”.

Thí dụ cụ thể: Muốn học về cây đờn Tranh Việt Nam thì phải biết miêu tả một cách rành mạch về hình dáng, kích thước và các bộ phận của cây đờn. Phải biết ghi ảnh bề mặt, bề trái, bề dày của đờn, đồng thời biết luôn về chất liệu dùng để làm ra cây đờn đó. Tiếp theo mới bắt đầu đi dài trong lịch sử, cố gắng tìm coi cây đờn đó xuất hiện tại đất nước Việt Nam từ lúc nào, do người Việt sáng tạo hay du nhập từ nước nào đi tới? Và cố đi tận cùng để tìm ra được nguồn gốc chánh của cây đờn Tranh Việt Nam là từ cây Guzheng (Cổ tranh) Trung Quốc truyền sang, xem xét sự biến chuyển của cây đờn Tranh từ lúc được du nhập đến giờ, có sự biến chuyển về chất liệu sử dụng làm dây đàn: dây tơ đã được đổi thành dây cước, rồi sau là dây thép; về những giai đoạn đờn Tranh từ 16 dây biến thành ra 17, 19, 21, 22… dây; về kích thước của cây đàn, trục, nhạn đi theo như thế nào…   

Chúng ta được biết rằng, cây đờn Tranh của chúng ta gốc từ cây Guzheng (Cổ Tranh) của Trung Quốc truyền sang nước Việt Nam sớm nhứt là từ thế kỷ thứ 13 dưới thời nhà Trần, vì trong sách “An Nam chí lược” của Lê Tắc có ghi tên cây đờn Tranh lần đầu tiên dùng trong dàn tiểu nhạc và trong dân gian.      

Sau đó chúng ta lại xem xét sự biến chuyển của đờn Tranh trong nước Việt Nam từ lúc nhạc sư Vĩnh Bảo bắt đầu cải tiến đờn Tranh, cho đến các nhạc sĩ thế hệ sau lần lượt nối tiếp theo công việc này như nghệ sĩ Phương Bảo sáng chế cây đờn Tranh hình thức cũng khác mà cách lên dây cũng khác, theo thang âm thất cung để mở rộng khả năng biểu diễn phong phú hơn. Tuy có nhiều biến chuyển như vậy nhưng đến nay cây đờn Tranh vẫn còn được thông dụng theo hình thức xưa, có cải biên chút ít.

2.4.2. Đi rộng trong không gian theo “phương pháp đối chiếu trong dân tộc nhạc học”:

Tiếp theo với thí dụ về cây đờn Tranh, trong khi tìm hiểu thì chúng ta lại biết được rằng tại Triều Tiên, dưới đời vua Kasil, khi nhìn thấy đờn Guzheng của Trung Quốc với những âm thanh trầm bổng, đức vua đã sai người đóng một cây đàn tương tợ như thế nhưng hình dáng con nhạn làm cho cao hơn, đặt tên là Gayageum và ra lệnh cho nhạc sĩ Ujuk sáng tác ra 10 bài được coi như là những bài tổ của đờn Tranh Triều Tiên. Việc đó xảy ra vào khoảng năm 551 (tức là thế kỷ thứ 6).

Tại Nhựt Bổn, dưới đời Hoàng Đế Temmu (khoảng năm 672 – tức là thế kỷ tứ 7), có một truyền thuyết kể về nguồn gốc của cây đờn Koto: một người mạng phụ khi đi nghỉ mát ở miền Nam Nhựt Bổn, trong lúc đang dạo chơi thì bỗng nghe một tiếng đờn vang ra từ trong núi. Hiếu kỳ, bà bèn đi lần đến tìm thì thấy có một đạo sĩ Trung Quốc ngồi đờn bên một cây đờn lạ mà người Nhựt ghi chép lại dưới cái tên Sono Koto. Khi thấy người mạng phụ, đạo sĩ nói: “Ta biết hôm nay sẽ có người đến đây để ta trao lại tất cả những truyền thống của cây đờn này. Nhà ngươi có sẵn sàng học đờn này chăng?”. Người mạng phụ cúi đầu lạy tạ đồng ý và mỗi ngày đều đến học đàn với vị đạo sĩ kỳ dị. Sau một thời gian, đạo sĩ nói: “Hôm nay thầy đã truyền hết nghề cho con rồi. Con nên về lập một trường phái để truyền nghề. Con chỉ nhớ một điều rằng không nên truyền nghề cho một người nhạc sĩ mù từ phía Bắc đi xuống vì người đó sẽ làm phương hại đến truyền thống của chúng ta”

Nhờ tìm hiểu rộng trong không gian như vậy mà chúng ta không chỉ biết đờn Tranh là một nhạc cụ truyền thống của Việt Nam mà còn thấy cả những nhạc khí cùng chung một họ với nó, biết cách lên dây, cách diễn tấu khác nhau, hình thức khác nhau đồng thời còn có thể tìm ra điểm chung nhứt của những loại đờn cùng họ này là có cùng một cách đờn khảy dây bằng ba ngón tay mặt và nhấn dây bằng bàn tay trái.

GS.VS Trần Văn Khê giảng dạy tại trường Đại học Bình Dương (Áo đó, hàng thứ nhất từ phải qua)

2.5. Cách đọc sách & cách làm phiếu:

Như đã nói ở trên, tôi muốn điểm sơ qua vài nét trong 2 cách làm này khi chúng ta tìm hiểu về một vấn đề gì và cần có phương tiện để thực hiện việc học đó một cách hiệu quả hơn, thông qua việc ghi chép trong lúc đọc sách và làm phiếu.

2.5.1. Đọc sách như thế nào?

Có 2 cách đọc sách:

Cách thứ nhứt: nếu đọc để tìm vấn đề muốn biết thì chỉ đọc sơ và chú ý vào vấn đề mình muốn tìm hiểu và những đoạn, những câu nào muốn ghi chép lại. Trước hết mỗi người nên có một quyển sổ tay để thuận tiện cho việc ghi chép, trong đó sẽ ghi lại những câu mình đã đọc sách mà muốn giữ lại và tốt nhứt là phải biết cách làm phiếu.

Cách thứ hai: nếu muốn tìm hiểu tác giả và một học thuyết của tác giả đó thì phải đọc quyển sách thật kỹ lưỡng từ đầu chí cuối.

2.5.2. Làm phiếu như thế nào?

Ở đây chúng ta không cần đi vào chi tiết quá nhiều vì mỗi vấn đề lại có những cách làm phiếu khác nhau, cách thức sắp xếp, tìm kiếm, ghi chép khác nhau… Chúng tôi chỉ ghi lại đây những điều cần phải nhớ:

a. Cách làm phiếu về một quyển sách: trước hết phải đề họ của tác giả bằng chữ hoa, tên tác giả để chữ thường (theo quy luật quốc tế), trong đó tên quyển sách viết nghiêng. Tiếp theo ghi nơi xuất bản, địa chỉ xuất bản, cơ quan xuất bản, năm xuất bản, số trang của quyển sách bằng chữ đứng.

b. Nếu làm phiếu cho một bài viết trong một tạp chí thì tên bài phải viết chữ đứng, tên tạp chí phải viết chữ nghiêng. Phải ghi rõ số trang của bài viết từ trang mấy đến trang mấy để lúc muốn tìm lại hoặc người khác muốn kiểm tra khỏi phải mất thời gian đọc cả tạp chí. Đó là những quy luật mà trên cả thế giới đều áp dụng. Chúng ta nên tuân thủ để khi viết bài gởi ra quốc tế, độc giả sẽ không bỡ ngỡ.

II. Về cách HỎI:

Khi tầm sư học đạo, tức là phải tìm thầy để hỏi mà học thì chúng ta có nhiều phương pháp hỏi, nhưng chúng tôi khuyên các bạn nên lưu ý những điều sau đây:

1/ Khi mở cửa nhà người thầy, được thầy tiếp mới chỉ là giai đoạn đầu, không nên hỏi liền việc của mình muốn hỏi.

2/ Sau khi mở cửa nhà, việc quan trọng nhứt là phải mở “cửa lòng” của người mình muốn hỏi tức là trong câu chuyện phải làm thế nào cho người đó thấy vui vẻ, hứng thú, mình nên khéo léo gợi ra những câu chuyện, những điều mà người đó ưa thích. Khi đã có hứng thú và tỉnh cảm rồi, thì việc trao đổi về vấn đề mình muốn tìm hiểu sẽ dễ dàng hơn rất nhiều. Muốn như thế thì chúng ta cần nên nhớ một cách làm mà tôi cho rằng rất hiệu nghiệm: “cho trước khi nhận”.

Một thí dụ cụ thể trong kinh nghiệm bản thân của riêng tôi:

Khi tôi muốn tìm hiểu nhạc truyền thống của Ba Tư, tôi được giới thiệu đến gặp nhạc sư Hormozi. Sau khi chào hỏi, nhạc sư hỏi tôi: “Tôi nghe nói giáo sư muốn tìm tôi để hỏi về nhạc truyền thống của Ba Tư phải không?”. Tôi trả lời: “Dạ thưa phải. Nhưng trước khi làm rộn thầy, xin thầy cho phép tôi giới thiệu đôi nét về âm nhạc Việt Nam truyền thống để thầy nghe chơi”. Ông rất vui và tò mò nhìn cây đờn Tranh rồi ngồi nghe tôi giới thiệu một đoạn hơi Bắc chuyển qua hơi Nam. Khi tôi chuyển qua tới hơi Sa Mạc thì ông chăm chú nghe rất kỹ rồi bỗng dưng chận tay tôi lại mà nói rằng: “Hơi này nghe rất thú vị và gợi tình thương nhớ, giống như là điệu Segâh của Ba Tư”. Tôi nhân dịp đó mà bắt đầu hỏi câu đầu tiên: “Thưa thầy, điệu Segâh là thế nào?”. Thầy Hormozi lấy cây đờn Setar 4 dây đờn cho tôi một khúc và nói rằng đặc điểm của Segâh là quãng này, thì ra đó là một quãng ba trung bình giữa thứ và trưởng, và đó cũng là quãng thường dùng để diễn tả tình thương nhớ mà chỉ trong hơi Sa Mạc của Việt Nam mới có.

Sau đó ông say sưa nói thêm về điệu thức mahour: “Giáo sư thấy không, trong này đâu có cái quãng 3 đó vì mahour diễn tả sự vui tươi”. Nói xong ông quay lại tôi đề nghị: “Tôi muốn giáo sư ghi âm lại cho tôi một đoạn Sa Mạc để tôi tiếp tục về nghe thêm”. Tôi sẵn sàng làm công việc đó. Vì thế nên đến khi tôi xin ghi âm lại điệu Segâh, tức thì ông sẵn sàng đờn rất lâu, rất nhiều để cho tôi ghi âm và có thời gian thấm được điệu thức một cách sâu sắc nhứt.

Tiếp theo ông lại cao hứng giới thiệu cho tôi hết điệu này qua điệu kia một cách say sưa mà không biết mệt. Đến 12 giờ khuya là hết giờ hẹn thì tôi cảm ơn thầy đã cho tôi một buổi tìm hiểu thú vị và xin thầy cho một cái hẹn lần sau để tôi tiếp tục đến trò chuyện về âm nhạc Ba Tư. Ông níu tôi lại và nói: “Giáo sư đâu có về được. Giờ này là giờ mà âm nhạc mới tuôn ra. Chúng ta uống thêm một bình trà nữa để tôi đờn thêm cho giáo sư nghe”. Mãi đến 2 giờ sáng tôi mới “được phép” ra về, nhưng đã đem theo trên hành trình về nhà một kết quả khả quan hơn cả những gì tôi mong đợi, với những cuộn băng ghi âm nhạc sư đờn, giảng giải về nhạc Ba Tư rất hào hứng, lý thú mà không phải lúc nào cũng có được.

3/ Không nên đặt những câu hỏi trực tiếp như những câu trực tiếp muốn biết về ngày sanh, hỏi trực tiếp tuổi tác… như một người cảnh sát lấy khẩu cung, như vậy sẽ thể hiện mình không tế nhị và thiếu phép lịch sự. Như vậy “cửa lòng’ của người thầy sẽ khép kín và chúng ta khó có cơ hội tìm được những gì mình muốn.

III. Về cách HIỂU:

Khi học không phải chỉ học được câu trả lời của một người thầy mà vội cho đó là chân lý. Phải nên tìm thêm trong sách vở, tài liệu hoặc internet nhiều câu trả lời, nhiều nghiên cứu và phản ứng khác nhau về vấn đề đó để so sánh. Tốt hơn nữa nên gặp một người thầy hay người bạn mình tin cậy nhứt để bàn về các câu trả lời. Nhờ sự soi sáng của thầy, bạn mà chúng ta đôi khi có thể thấy rõ hơn vấn đề. Khi có người để thảo luận thì từ việc thảo luận sẽ nảy ra ánh sáng cho những gì mình cần tìm hiểu.

IV. Về cách HÀNH:

Học thì lẽ đương nhiên là phải đem cái mình học được ra thực hành một cách có hiệu quả, nếu không những thứ mình thu thập được sẽ dần mai một đi và không giúp ích gì cho bản thân hay nhân quần xã hội. Và hơn hết, như tôn chỉ mà trường Bình Dương đã nói đến: thực hành có hiệu quả mới tạo ra được sản phẩm vật chất hay tinh thần có chất lượng, đảm bảo nhu cầu bản thân, gia đình, cộng đồng, xã hội, mới có điều kiện bảo vệ thiên nhiên và nhứt là phụng sự xã hội, quê hương một cách đắc lực nhứt.

Hành như thế nào cho đúng? Có phải cứ hành một cách bài bản như những gì mình đã học, đã biết thôi là đúng hay không? Hành, trước tiên phải thực hiện được những gì mình đã học, đã nghiên cứu đúng với chuyên môn của mình, sau đó mỗi ngày mỗi tìm tòi, học hỏi, nâng cao thêm những hiểu biết của bản thân, rèn luyện tay nghề của mình theo sự tiến bộ của thời đại. Hơn nữa khi hành phải chú ý không sa đà vào những chuyện “hành” không ích lợi, bền vững, không đem lại cái lợi thực tế, niềm vui, tình thương trong cuộc sống đến cho con người cũng như thiên nhiên. Việc “hành” nên được sóng đôi cùng lý trí, đạo đức để chẳng những đem lại cuộc sống tiện nghi, ấm no mà còn đem lại yên lành, hạnh phúc thực sự cho tất cả. Đó mới là mục đích cao cả cuối cùng của việc đi từ “học” đến “hành”.

Đây cũng chỉ là một vài quan điểm của riêng tôi về mô hình “Học – Hỏi – Hiểu – Hành” mà nhà trường đã đưa ra rất thú vị và bổ ích. Tôi xin đóng góp những suy tư của mình để có thể cùng quý thầy cô thảo luận, triển khai thêm về tôn chỉ này, hầu mong giúp cho các em sinh viên trong trường Bình Dương nói riêng và sinh viên đại học nói chung có được những phương pháp thực sự hiệu quả trong học tập để có được một tương lai tươi sáng sau này.

Trân trọng kính chào và chúc quý thầy cô Đại học Bình Dương dồi dào sức khỏe để dẫn dắt các học trò của mình, chúc các em sinh viên học tập ngày càng tiến bộ.

Bình Thạnh, tháng 11 năm 2011

GS.TS. TRẦN VĂN KHÊ

GS. TRẦN VĂN KHÊ: XÁC VÀ HỒN TRONG ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG

Tran Truongca

trSop5honsoredh  · XÁC VÀ HỒN TRONG ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG(GS. Trần Văn Khê)Trong ngôn ngữ của phương Tây, để chỉ âm thanh người ta chỉ có một danh từ, chẳng hạn như son (Pháp) hay sound (Anh). Trong khi đó ở Châu Á, Việt Nam sử dụng hai chữ “thanh” và “âm”, Trung Quốc có hai chữ “sheng” và “yin”, còn Ấn Độ thì dùng hai chữ khác nhau “svara” và “shruti”. Thanh là một tiếng nhạc có độ cao, độ dài, độ mạnh, còn gọi là cao độ (hauteur), trường độ (durée), cường độ (intensité) và cả màu âm, tức âm sắc (timbre). Khi bàn tay mặt khảy trên cây đờn Kìm, đờn Tranh hay kéo đờn Cò, chúng ta chỉ mới tạo ra một thanh. Chỉ khi bàn tay trái “nhấn” lên sợi dây giữa hai phím đờn kìm hay “rung” ở khoảng giữa con nhạn và trục của đờn tranh, chừng đó “thanh” mới trở thành “âm”. Vì thế, theo truyền thống Việt Nam, bàn tay mặt sanh ra âm thanh còn bàn tay trái nuôi dưỡng và tô điểm cho âm thanh đó. Bàn tay mặt đánh ra thanh có độ cao, độ dài, có tiếng to tiếng nhỏ, có cả màu âm nhưng vẫn chưa có “hồn” vì còn thiếu tính nghệ thuật. Chỉ khi bàn tay trái nhấn vào biến “thanh” thành “âm” mới có chất nhạc: bàn tay mặt sanh ra xác còn bàn tay trái tạo ra hồn. Như vậy khi biểu diễn âm nhạc truyền thống, không thể nào dùng đơn thuần một tay mặt mà cần có sự tham dự kỹ thuật của tay trái để hồn nhạc xuất hiện và tiếng đờn lúc đó mới mang tính chất đặc thù của bản sắc dân tộc.

Cũng vậy, trong âm nhạc Trung Quốc, bàn tay mặt tạo ra “sheng” và bàn ta trái biến “sheng” thành “yin”. Còn trong nhạc Ấn Độ, khi tay mặt khảy đàn lên những độ cao khác nhau thì tiếng nhạc đó được gọi là “svara”, nếu có bàn tay trái tham gia thì tiếng đàn đó mang tên “shruti” (ở đây chúng tôi chỉ dùng một nghĩa của chữ “shruti” có nghĩa là “tiếng nhạc có hồn”, vì chữ này có rất nhiều nghĩa trong âm nhạc Ấn Độ). Không chỉ Ấn Độ và Trung Quốc, quan điểm “xác” và “hồn” trong âm nhạc cũng bàng bạc trong nhận thức của những nhạc sĩ các nước phương Đông mà tôi có dịp tiếp xúc.

Chẳng hạn như tại Liên hoan âm nhạc Á Phi 1985 tổ chức ở thành phố Antatanarivo – thủ đô của Madagascar – có một đêm dành cho âm nhạc của hai nước Việt Nam và Madagascar. Trong phần đầu, một danh cầm của Madagascar là nhạc sư Sylvester Randafison biểu diễn đờn Valiha (làm bằng ống tre với mười tám dây sắt được căng dài quanh thân đàn) với tiếng đàn nỉ non, trong sáng như tiếng những giọt nước mưa rơi trên mặt hồ. Trong phần hai, tôi biểu diễn đờn Tranh. Sau buổi hòa nhạc, ông Randafison đến gặp tôi và nói: “Tiếng đờn Valiha và đờn Tranh giống nhau ở chỗ những dây sắt căng trên thân đờn được những ngón tay trên bàn tay khảy nên nhiều tiếng bổng trầm, trong trẻo. Nhưng tiếng đờn Tranh nghe mềm mại và uyển chuyển hơn đờn Valiha. Tuy khác nhau trong cách sáng tạo nhạc cụ và kỹ thuật biểu diễn, tôi vẫn cảm giác như hai nhạc khí có họ hàng với nhau. Để đánh dấu cuộc gặp gỡ kỳ thú hôm nay, xin tặng giáo sư cây đờn Valiha mà tôi đã dùng trong buổi hòa nhạc. Nhạc khí này do chính tay tôi tạo ra. Từ nay mỗi lần nhìn ngắm nó giáo sư sẽ nhớ lại người nhạc sĩ Madagascar đã có dịp biểu diễn với giáo sư trên cùng một sân khấu”. Tôi xúc động trả lời: “Tặng vật này thật vô cùng quý giá. Theo tập tục của người Việt, tôi sẽ phải tặng lại cây đờn Tranh mình đã dùng trong đêm nay. Nhưng tiếc rằng cây đờn Tranh này do một người bạn rất thân đã đóng tặng tôi. Vì vậy xin bạn giữ lại cây đờn quí giá của mình và đóng cho tôi một cây khác để giữ làm kỷ niệm”. Ông Randafison cười đáp: “Bạn sắp trở về Pháp nên tôi không có đủ thời gian để đóng ngay một cây đờn khác. Chúng ta có thể ra ngoài phố mua một cây đờn mới cũng do tôi đóng ra, nhưng cây đờn ấy chỉ có xác mà chưa có hồn. Vì vậy tôi muốn tặng bạn cây đờn Valiha này, bởi nó đã theo tôi từ 14 năm qua và đã trở thành người bạn thân thiết của tôi”. Như vậy là người nhạc sĩ Madagascar cũng có quan điểm “xác” và “hồn” trong âm nhạc.

Một người khác là nữ nhạc sĩ Mehrbanoo Tofigh người Ba Tư, chuyên giới thiệu nhạc cổ điển Ba Tư với cây đờn Setar. Cô sang Pháp làm tiểu luận án Cao học về cây đờn Setar tại Đại học Sorbonne và nhờ tôi nhận lời làm chỉ đạo nghiên cứu. Sau khi bảo vệ luận án thành công, cô đến gặp tôi và nói: “Hôm nay, em xin đờn một bản nhạc Ba Tư mà Thầy thích, coi như để thay lời cám ơn Thầy. Đây cũng là lần cuối em sử dụng cây đờn này, sau đó em xin tặng nó cho Thầy”. Tôi xúc động trả lời: “Thầy không biết đờn Setar nên nếu giữ cây đờn quý giá này thì thật phí. Em có thể mua một cây đờn khác tặng Thầy cũng được”. Nhưng cô trả lời: “Em có thể mua một cây đờn mới hơn, đẹp hơn tại một cửa hàng danh tiếng ở Teheran để tặng Thầy, thế nhưng cây đờn ấy chỉ có “xác” mà chưa có “hồn”. Còn cây đờn này đã theo em nhiều năm, hồn nhạc Ba Tư đã thấm nhuần trong nó. Xin Thầy cứ nhận để em vui khi nghĩ rằng đã tặng cho Thầy một cây đờn có cả xác lẫn hồn”.

Một lần nữa người nhạc sĩ Ba Tư cũng có nhận định về “xác” và “hồn” trong âm nhạc.

Rõ ràng, trong quan niệm sáng tạo và biểu diễn âm nhạc ở vài nước châu Á, “xác” và “hồn” được phân minh nhưng cũng để phối hợp với nhau theo quan điểm lưỡng phân và lưỡng hợp.

Chính vì vậy, một khi chúng ta muốn vay mượn một nhạc khí nước ngoài thì phải chú ý sao cho nhạc khí đó tạo được tiếng nhạc có cả xác lẫn hồn để có thể diễn tả được trung thực âm nhạc truyền thống mà không ngọng nghịu.

Trong số các nhạc khí phương Tây thì đờn Violin và Guitar có thể phát ra những chữ nhạc có rung, có mổ, có nhấn, nên đã được sử dụng trong ca nhạc tài tử hay dàn nhạc cải lương, với cách lên dây và tư thế ngồi đờn thay đổi để thích nghi theo quan điểm thẩm mỹ của người Việt. Riêng đờn Piano tuy rất phong phú cho âm nhạc phương Tây nhưng do đây là loại đờn gõ, mỗi chữ nhạc phát ra đều cố định, bàn tay trái không thể tham gia để vuốt ve, nhấn nhá nên chúng ta không thể sử dụng để đờn những bài bản đặc thù của dân tộc như Nam Xuân, Vọng Cổ hay những điệu hò, bởi các bài bản này thường có những chữ đờn “non” hay “già” (tức thấp hoặc cao hơn một chút so với thang âm cơ bản). Cũng do đó mà khi vay mượn những nhạc khí Trung Quốc hay Ấn Độ để biểu diễn âm nhạc Việt Nam thì chúng ta không gặp phải những vấn đề khác biệt ấy.

Riêng trong đời sống hằng ngày, khi đến với âm nhạc, chúng ta rất dễ gặp cái “xác” mà khó gặp cái “hồn”. Trong rất nhiều trường hợp, âm nhạc thường trở thành một thứ trang trí ở những nơi như siêu thị, nhà ga hay trên xe đò, trên máy bay. Tại các nơi đó, âm nhạc bị tiếng động của môi trường xung quanh làm cho người nghe tiếng được tiếng mất. Hoặc trong một tiệm ăn, tại một phòng trà, đôi khi các nhạc công biểu diễn như một cái máy, tay tuy vẫn khảy nhưng hồn không đi theo âm nhạc. Hầu hết khách thường tập trung vào chuyện ăn hơn là nghe nhạc, còn người khiêu vũ thì chỉ chú ý đưa bước chân theo tiết tấu của những điệu tango, boléro hay valse mà thôi. Âm nhạc trong các phòng ấy chỉ hiện ra cái xác mà không có hồn. Chỉ trong một phòng hòa nhạc thì hồn nhạc mới có dịp hiện ra khi nhạc công đem hết tâm hồn mình để biểu diễn, còn khán thính giả tập trung tư tưởng để thưởng thức, thậm chí có khi không dám thở mạnh. Như vậy mới có thể gặp được hồn nhạc. Giới thiệu cái xác của nhạc chỉ cần những nhạc khí cụ thể, những kỹ thuật biểu diễn của bàn tay hay giọng hát. Muốn chuyển được hồn nhạc thì cần phải có những gì trừu tượng hơn như tình cảm và nghệ thuật. Và cũng cần có một không gian và môi trường hội hợp đầy đủ hai yếu tố Âm – Dương. Vì thế nên trong các dàn nhạc và số thính giả trong phòng hòa nhạc, nếu chỉ có toàn nam hay nữ thì âm nhạc khó đi đến đỉnh cao. Kể cả ánh sáng trong phòng nhạc cũng phải theo sự quân bình của hai yếu tố Âm – Dương, không thể quá sáng hay quá tối mà thường có một ánh sáng dìu dịu hoặc hơi sáng trên sân khấu và mờ mờ trong hội trường. Những bản nhạc sáng tác hay biểu diễn thường có những đoạn tưng bừng rực rỡ để rồi tiếp theo là những đoạn sâu lắng, êm đềm; những đoạn nhịp điệu dồn dập tiếp theo những khúc khoan thai. Nếu xét kỹ những điều kiện nào có thể đem đến thành công hoàn toàn cho một buổi hòa nhạc, chúng ta sẽ thấy rằng nội dung của tác phẩm, hình thức của buổi biểu diễn và trạng thái tâm hồn của diễn viên, khán thính giả phải có được sự tương xứng trong Âm Dương, hầu cảm nhận được âm nhạc cả xác lẫn hồn qua phong cách biểu diễn và đạt được sự nhuần nhuyễn giữa kỹ thuật và nghệ thuật.

BAN TỔ CHỨCCUỘC THITÌM HIỂU VỀ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ& ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAMNHÂN DỊP 100 NĂM NGÀY SINH GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

BAN TỔ CHỨC
CUỘC THI
TÌM HIỂU VỀ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ
& ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM
NHÂN DỊP 100 NĂM NGÀY SINH GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

  1. Mục đích – Ý nghĩa – Người dự thi
  • Thiết thực kỷ niệm 100 năm ngày sinh Giáo sư Trần Văn Khê – Người có đóng góp lớn cho nền âm nhạc truyền thống Việt Nam, nhất là nghiên cứu và quảng bá âm nhạc Việt Nam ra thế giới;
  • Tôn vinh giá trị của nền âm nhạc truyền thống Việt Nam;
  • Khuyến khích giới trẻ tìm hiểu, học hỏi và giữ gìn nền âm nhạc dân tộc;
  • Âm nhạc truyền thống có ý nghĩa rất lớn đối với ngành Du lịch nên hướng đối tượng tham gia cuộc thi vào Hướng dẫn viên du lịch và người làm Du lịch;
  • Người dự thi: tuổi từ 16 đến 70, không giới hạn địa phương, khuyến khích các bạn học sinh, sinh viên và người làm văn hóa – du lịch.
  1. Hình thức
    Bài dự thi gồm hai phần là bài viết và video clip + Lan tỏa bài viết, video clip trên Facebook & Youtube (Phần dự thi video clip không bắt buộc)
  • Bài viết dự thi:
    o Nội dung gồm 2 phần:
     Giới thiệu, chia sẻ, cảm nhận về cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư Trần Văn Khê cũng như những đóng góp lớn lao của Thầy trong việc nghiên cứu và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới
     Giới thiệu, chia sẻ, cảm nhận về một hình thức âm nhạc truyền thống Việt Nam hoặc một nhạc cụ dân tộc (Trong giới hạn sau: Ca trù, Quan họ, Hát xoan, Ví dặm, Nhã nhạc cung đình Huế, Bài chòi, Đờn ca tài tử Nam bộ, Hát ru, Hò, Lý; đàn Bầu, đàn Tranh, đàn Kìm, đàn Cò, Sáo, Song lang)
    o Dung lượng: không quá 2000 chữ với quy định:
     Bài tự viết bằng tình cảm và hiểu biết của cá nhân, không sao chép nguyên văn – dán
     Chữ Times New Roman, kích 13, giãn dòng 1.15
    o Điểm tối đa: 150 điểm
  • Clip dự thi:
    o Nội dung:
     Thể hiện một làn điệu, một bài hát thuộc các hình thức âm nhạc truyền thống dân tộc sau: Ca trù, Quan họ, Đờn ca tài tử Nam bộ, Vọng cổ, Hát ru, Hò, Lý
     Hát mộc, không có hỗ trợ âm thanh, âm nhạc
    o Quy định:
     Clip có độ dài từ 4 – 5 phút gồm phần giới thiệu không dài quá 1 phút
     Trang phục đẹp, khuyến khích trang phục phù hợp thể loại lựa chọn
     Chỉ cần chú trọng cách hát đúng thể điệu, thể hiện cảm xúc tốt, không yêu cầu dàn dựng clip quá công phu
    o Điểm tối đa: 150 điểm
  • Lan tỏa trên Facebook & Youtube:
    o Facebook:
     BTC đăng bài viết (phần thi viết) được chọn lên trang Facebook của BTC, người dự thi Chia sẻ về trang nhà và kêu gọi chia sẻ từ bài trên trang nhà. Mỗi lượt Chia sẻ (mỗi FB cá nhận chỉ tính 1 lần) được 2 điểm, mỗi bình luận (không tính icon) được tính 1 điểm. Số điểm: không giới hạn
    o Youtube:
     BTC đăng video clip được chọn lên trang Youtube của BTC, người dự thi Chia sẻ đường link về trang FB nhà và kêu gọi chia sẻ từ bài đăng trên trang nhà. Mỗi lượt Chia sẻ (mỗi FB cá nhận chỉ tính 1 lần) được 2 điểm, mỗi bình luận (không tính icon) được tính 1 điểm, mỗi bình luận có nhắc họ tên người dự thi trên bình luận Youtube được tính 2 điểm. Số điểm: không giới hạn.
  1. Thời gian:
  • Nhận bài từ ngày ra thông báo đến hết ngày 22/07/2021
  • Nhận bài, BTC xét duyệt, thông báo cho người dự thi và đăng Facebook, Youtube
  • Tính điểm Lan tỏa đến 23h59 phút ngày 23/07/2021
  • Công bố kết quả: 18h ngày 24/07/2021 – Ngày sinh nhật lần thứ 100 của GS.TS. Trần Văn Khê.
  1. Giải thưởng:
  • Một giải “Vinh danh truyền thống âm nhạc”:
    o Hiện kim: 5 triệu đồng
    o Hiện vật: trị giá 3 triệu đồng
  • Một giải “Lưu giữ truyền thống âm nhạc”:
    o Hiện kim: 3 triệu đồng
    o Hiện vật: trị giá 2 triệu đồng
  • Hai giải “Phát triển truyền thống âm nhạc”:
    o Hiện kim: 2 triệu đồng
    o Hiện vật: trị giá 1 triệu đồng
  • Ba giải “Ái mộ truyền thống âm nhạc”:
    o Hiện kim: 1 triệu đồng
    o Hiện vật: trị giá 1 triệu đồng
    Ghi chú:
    o Tổng giá trị giải thưởng (hiện vật, hiện kim, quà tặng) trên 60 triệu đồng
    o Hiện vật: là tặng phẩm riêng, có giá trị của nhà tài trợ VietHealth Group
    o Mỗi giải được nhà thư pháp Nguyễn Hiếu Tín tặng bức thư pháp có nội dung là những câu nói để đời của Giáo sư Trần Văn Khê
    o Mỗi giải được Trường Trung cấp Y Dược Vạn Hạnh tặng voucher trị giá 2 triệu đồng cho những khóa học ngắn hạn tại trường.
  1. Ban giám khảo:
  • GS.TS. Trần Quang Hải (con trai trưởng của Giáo sư Trần Văn Khê)
  • Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện (Viện Hán Nôm)
  • Tiến sĩ Thái Huy Phong (Nhà tài trợ chính)
  • Nhà báo Lương Hoàng Hưng (BTC)
  • Thạc sĩ Nguyễn Hiếu Tín (BTC)
  • Thạc sĩ Nguyễn Quốc Thệ (BTC)
  1. Ban tổ chức
  • ThS. Nguyễn Quốc Thệ – Hiệu trưởng Trường Trung cấp Y Dược Vạn Hạnh
  • TS. Thái Huy Phong – Chủ tịch Tập đoàn sức khỏe Việt
  • Nhà báo Lương Hoàng Hưng – Tổng biên tập Tạp chí Sở hữu Trí tuệ & Sáng tạo
  • ThS. Nguyễn Hiếu Tín – Trưởng bộ môn Du lịch – ĐH Tôn Đức Thắng
  • Bảo trợ truyền thông: Tạp chí Sở hữu Trí tuệ & Sáng tạo, Trung tâm Anh ngữ TSES
  1. Quy định khác:
  • Bản quyền bài dự thi thuộc về BTC
  • BTC được quyền đăng đúng mục đích trên Facebook, Youtube
  • Buổi trao giải sẽ tổ chức qua Zoom
  • Giải thưởng sẽ được gửi đến người đoạt giải chậm nhất một tuần lễ sau ngày công bố
  1. Bài dự thi:
  • Bài dự thi viết gửi file word và file PDF về email: tranvankhe100nam@gmail.com
  • Bài dự thi video clip về email: tranvankhe100nam@gmail.com
  • Khi gửi mail ghi: Họ tên, năm sinh, số điện thoại, số CMT/CCCD và đơn vị tham gia (nếu muốn). Bài dự thi được BTC chọn sẽ được đăng trên:
    o Facebook: Nguyễn Quốc Thệ (https://www.facebook.com/tn1606)
    o Youtube: Nguyễn Quốc Thệ
    BTC kính mời Quý vị nhiệt tình tham gia vì mục đích chính là tưởng nhớ Giáo sư Trần Văn Khê và tôn vinh nền âm nhạc dân tộc Việt Nam nhân dịp kỷ nhiệm 100 năm ngày sinh Giáo sư Trần Văn Khê.
    Mọi thắc mắc, vui lòng liên hệ:
    Anh Nguyễn Quốc Thệ – 0907 078 079 (Zalo)
    Anh Nguyễn Hiếu Tín – 0913 749 791 (Zalo)

  • Trân trọng!
NGUYỄN QUỐC THỆ

ĐÔI LỜI NHẮN NHỦ (1)(Trần Văn Khê)

Xin gởi đến quý vị vài lời chia sẻ, nhắn nhủ của GS. Trần Văn Khê để cùng đọc trong những tháng ngày dịch bệnh. Hy vọng một ngày nào đó, đại dịch lùi xa cho mọi hoạt động trở lại bình thường, âm nhạc lại tiếp tục ngân vang và nhân loại bớt đi những đau thương khổ lụy.

Kính chúc tất cả chúng ta luôn bình an, vực dậy tinh thần vượt qua những khó khăn trong đời sống.

———————–ĐÔI LỜI NHẮN NHỦ (1)(Trần Văn Khê)

Các bạn trẻ ơi!

Có lẽ các bạn phần đông đã biết cuộc đời của tôi ngang qua những quyển Hồi ký hay những bài báo đã được đăng tải nhiều nơi. Thường thì các bạn chỉ thấy những điểm thành công trong cuộc đời của tôi. Hẳn các bạn nghĩ rằng cái số của tôi tốt hay là nhờ “được sanh đẻ trong bọc điều”. Nhưng sự thật không phải vậy đâu. Tôi cũng chỉ là một con người như mọi người, bởi vì chẳng có con đường nào đi đến vinh quang mà trải đầy hoa thơm, cỏ lạ. Có nghĩa là tôi cũng phải trải qua những khó khăn, những thử thách và phải tự vươn lên bằng ý chí của chính mình.

Tôi muốn dành những lời chia sẻ về cuộc đời đã qua của tôi để góp thêm kinh nghiệm sống trên hành trình vào đời của các bạn

.Nhiều bạn khi biết tôi mồ côi cha mẹ từ lúc lên 10 thì có bạn tỏ ra thương cảm và nghĩ rằng tôi kém may mắn hơn những trẻ đồng lứa. Thật ra, mồ côi cha mẹ đã làm cho đứa trẻ cảm thấy thiếu tình thương chăm sóc, thiếu sự nâng niu, thiếu cái quyền được dựa vào cha mẹ khi cần thiết, khi cảm thấy bơ vơ, cô độc. Dẫu biết rằng tất cả cô bác trong gia đình đều dành tình thương đặc biệt cho đứa trẻ mồ côi, nhưng đó không phải bổn phận mà chỉ do lòng thương cảm, nếu không muốn nói ra là lòng thương hại. Đứa trẻ lại càng thấy không có quyền đòi hỏi, vòi vĩnh như đối với cha mẹ. Nhưng nếu chỉ nghĩ tới thân phận côi cút, hoàn cảnh đáng thương đó thì đứa trẻ không thể vươn lên xa khỏi bóng mây buồn của tuổi thơ mồ côi.

Khi tôi biết rằng không phải than thân trách phận mình tìm được sự che chở nào để thay thế tình yêu thương của cha mẹ, mà trong mọi tình huống tôi luôn nghĩ rằng mình chỉ trông cậy nơi chính mình, không chờ đợi sự giúp đỡ của cô bác. Do đó, đứa trẻ mồ côi sớm đụng chạm đến cuộc đời có được thái độ tự lực cánh sinh, không ỷ lại nơi người khác, thì hoàn cảnh “mồ côi đáng thương” lại trở nên là “cơ hội đáng quý” cho nó chứng tỏ được nghị lực của bản thân.

Nhờ vậy mà tôi luôn tự chăm sóc sức khoẻ, vừa thấy trong người có chút bất thường thì tôi tự tìm thuốc, tìm thầy để chạy chữa chứ không dám làm rộn cô bác. Từ nhỏ, tôi đã biết tự giặt quần áo và sắp xếp cho mình luôn cả cho các em. Rất may, tôi được một người cô là cô thứ ba trong gia đình bên nội, hy sinh cuộc đời, thay thế cha mẹ để chăm lo cho chúng tôi. Cô cũng có một quan niệm là tập cho đứa trẻ không ỷ lại vào người khác nên mọi việc tôi tự thân lo cho mình và cho các em, cô tôi rất ủng hộ và khen ngợi. Về phần các em của tôi còn quá nhỏ nên đều nhìn tôi như một điểm tựa, có thiếu món gì đều chạy kiếm “anh Hai”. Khi tôi được người cô thứ Năm có chồng giàu nuôi tôi ăn học, mỗi ngày cho tôi ba xu để ăn quà thì tôi chỉ tiêu hai xu và để dành một xu một ngày. Sau một quý, tiền dành dụm lên tới một đồng bạc (tức một trăm xu) để lúc nghỉ hè, tôi mua cho các em ăn những món ngon mà ngày thường chúng nó không được hưởng, hoặc những món đồ chơi mà chúng nó ưa thích. Nhờ mồ côi mà tôi không còn tánh ích kỷ của các trẻ thường là giành chơi, giành phần hơn với các em mà trái lại còn biết chia sớt và bao bọc các em. Lòng tin tưởng của các em tôi vào người anh Hai đã giúp cho em trai tôi là Trạch mỗi khi có gì khó khăn là tìm tôi để giải quyết, về phần em gái của tôi thì xem tôi như một “người mẹ” để tâm sự, chia sẻ khi em bước vào tuổi thành niên, chọn bạn trai. Khi trưởng thành, em đã chọn “ngày của Mẹ” làm lễ tạ ơn “anh Hai” và giới thiệu tôi với các bạn, một người anh mà em xem như là “từ mẫu”. Em tôi đã nhắc lại rằng chưa bao giờ em phải nhỏ giọt nước mắt của thân phận trẻ mồ côi vì đã có “anh Hai” thay mẹ hiền.

ĐÔI LỜI NHẮN NHỦ (4)(Trần Văn Khê)SỰ DẤN THÂN & CỐNG HIẾN

ĐÔI LỜI NHẮN NHỦ (4)(Trần Văn Khê)SỰ DẤN THÂN & CỐNG HIẾN

Thường thì một người học sinh chỉ muốn tập trung vào việc học và tránh lãnh trách nhiệm trong những việc khác. Vì vậy, khi giám thị đề nghị giữ tủ sách cho toàn lớp thì không ai chịu tình nguyện cả. Thời gian đâu để mà lựa sách theo lời yêu cầu của học sinh, kêu tên phát từng người, hết hạn phải đứng đợi góp sách lại rồi xếp vô tủ theo thứ tự của mã số từng quyển?

Tuy mọi người đều ngán nhưng tôi lại tình nguyện mỗi năm giữ tủ sách cho mỗi lớp khác nhau. Có mất thời gian thực nhưng bù vào đó mình có hai quyền lợi. Thứ nhứt khi mình muốn đọc quyển nào thì không ai dành với mình được. Mỗi học sinh chỉ được quyền mượn một quyển sách trong một tuần. Riêng tôi, hễ đọc hết quyển sách đã mượn lại có quyền đọc tất cả những quyển sách khác trong tủ.

Nhờ đó mà tôi luôn luôn là người đọc nhiều sách nhứt của nhà trường. Nếu chỉ nghĩ mình mất thời gian phát và góp sách thì mình ngần ngại. Nếu thấy cả quyền lợi tôi vừa kể trên thì việc mất thời gian đó đã được bù đắp bằng việc được đọc sách thỏa thuê!Đến giờ tập thể thao, mỗi học sinh được quyền chọn lựa một bộ môn để tham gia. Ai đá bóng thì không thể ở trong đội bóng rổ hay bóng chuyền.

Tôi lại thích vừa bóng rổ, vừa bóng chuyền và thỉnh thoảng tôi cũng thích đấu với những đội bóng rổ, bóng chuyền của trường khác. Vì vậy khi có cuộc bầu cử Tổng thư ký Hội thể thao của trường trung học, tôi không ngần ngại ứng cử. Khi được lãnh trách nhiệm rồi tôi có thể chủ động viết thơ mời các đội trường khác lại thi đấu. Đồng thời, tôi cũng có được kinh nghiệm trong việc tổ chức các cuộc gặp gỡ trong lãnh vực thể thao.

Và sau này, ở lãnh vực nghiên cứu, tôi không thấy ngỡ ngàng trong cách tổ chức hội thảo, hội nghị. Thời gian mất cho hội thể thao là cái giá phải trả để thực hiện việc mình muốn làm và là cơ hội cho tôi được học hỏi những kinh nghiệm tổ chức về sau.

Tại trường Trung học Trương Vĩnh Ký, tôi là người đề xướng ra lễ đưa Ông Táo về trời trước khi nghỉ học vào dịp Tết. Trong buổi lễ, một phần lớn là dựng lại đủ nghi tiết của một cuộc lễ tế thần, sắp đặt bàn thờ có lư hương, chân đèn sáp… Sau đó là những tiết mục văn nghệ và nhạc của trường, diễn tấu những bản nhạc truyền thống. Còn những màn độc xướng, hợp xướng phần nhiều là bằng tiếng Pháp vì khán giả dự lễ chẳng những là học sinh của toàn trường, các thầy Giám thị và Giáo sư là người Việt, còn có các Giáo sư và ban lãnh đạo trường toàn là người Pháp.

Lúc đó trong trường chỉ có tôi là rành nghi lễ nhờ cậu Năm của tôi từng dạy qua. Tôi lại thích biểu diễn trên sân khấu. Thuở nhỏ, tôi lại theo gánh hát cải lương của cô Ba tôi, nên khi được phép tổ chức Lễ Ông Táo cho trường, tôi rất vui được thực hiện những gì mà trước kia người lớn làm mà trẻ con như tôi chỉ tham dự thôi. Các bạn tôi thì sợ mất thời gian học tập nhưng tôi nhờ học bài mau thuộc, lại có cách bù vào thời giờ dành cho buổi lễ. Tôi học và làm bài trong ngày chủ nhựt, trong gia đình ai cũng lấy làm lạ rằng tại sao một đứa nhỏ như vầy mà thấy ít ham chơi, chỉ ham học. Nhờ kinh nghiệm của việc tổ chức Lễ Ông Táo mà khi ra trường Đại học ở Hà Nội, tôi cũng được giao cho phận sự tổ chức hàng năm « Đêm Sinh Viên ».

Lúc phải rời trường về Nam, tổ chức ban kịch sinh viên lưu diễn ở các tỉnh để thâu tiền mua gạo cứu đói, thì tôi thấy những công việc này không có gì là khó khăn. Sau thời kỳ ở trong nước, khi sang Pháp du học tôi cũng đã tổ chức chương trình nghệ thuật cho hiệu ăn « La Table Du Mandarin”, vừa để có tiền sinh hoạt phí, vừa thỏa mãn năng khiếu biểu diễn nghệ thuật của chính mình.

Khi tham dự Liên hoan Thanh niên tại Budapest năm 1949, chỉ có tôi và anh Nguyễn Ngọc Hà và một số ít sinh viên biết về nghệ thuật. Chúng tôi đã thành công hai chương trình quốc gia về nghệ thuật để góp mặt với thanh niên các nước trên thế giới đến xem. Trong khi vừa tổ chức Lễ Ông Táo, tôi lại phải dựng một dàn nhạc đặc biệt cho trường Trung học Trương Vĩnh Ký mà tôi đứng ra chỉ huy. Sanh ra trong một gia đình có truyền thống đờn tài tử nên tôi thích đưa bản theo điệu bắc ra thành những bản có phối khí, có nhiều bè và có sự tham gia của những cây đờn phương Tây. Vì vậy, trong dàn nhạc Trương Vĩnh Ký ngoài những cây đờn kìm, đờn cò và sáo trúc, tôi để thêm đờn mandoline, guitare Hawaiienne (lục huyền cầm Hạ Uy Di) và cây đờn violon, do 3 bạn: Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan, Nguyễn Mỹ Ca biểu diễn.

Tôi lại đem dàn nhạc đó ra làm dàn nhạc Scola club của Hội Đức Trí Thể Dục, có được thêm cây đờn piano và cây kèn saxophone. Dàn nhạc này biểu diễn những bản nhạc Tây được ưa chuộng lúc ấy như “C’est à Capris”, “Les gars de la marine”, “Marinella” v.v…

Và tiếp tục sau đó khi ra Hà Nội, tôi chỉ huy dàn nhạc của trường đại học. Kể ra, tôi phải dành thời gian khá nhiều cho sự luyện tập nhạc công, phối khí bản nhạc ra nhiều bè, bởi vì tôi không phải nhạc sĩ chuyên nghiệp, lại chưa học ngày nào về cách phối khí hay chỉ huy. Tôi chỉ có lỗ tai rất thính và khéo bắt chước động tác của các nhà chỉ huy Pháp thời đó như Jacques Parmentier của đội binh lính khố xanh và ông Grégoire của đội thủy quân.

Nhưng tôi được thể nghiệm một điều mà tôi mơ ước từ nhỏ là chỉ huy dàn nhạc. Nhờ kinh nghiệm đó càng giúp tôi sau này nhận xét rõ ràng hơn sự khác nhau giữa nhạc dân tộc truyền thống và nhạc phương Tây, để sau này đi đến sự quyết định của tôi là đi sâu vào sự hiểu biết về Âm nhạc truyền thống và thấy rõ giá trị của bản sắc dân tộc.Các bạn thấy chăng, từ những việc cống hiến, dấn thân rất nhỏ nhặt trong cuộc đời học sinh, sinh viên mà tôi lại có một vốn liếng phong phú và những suy tư chín chắn để có thể định hướng cho sự nghiệp âm nhạc của tôi về sau này.

Các bạn cũng thấy chăng, việc học tập và giải trí của một học sinh, sinh viên tuy là hai lãnh vực khác biệt nhưng nếu các bạn biết chọn lựa và kết hợp thì chính cả hai sẽ tạo nên một tiềm năng mạnh mẽ, giúp các bạn vươn xa hơn trên con đường tương lai.

Online book sale to raise funds for Trần Văn Khê Foundation

Online book sale to raise funds for Trần Văn Khê Foundation

Update: July, 03/2021 – 08:59 | Cover of Trần Văn Khê — Tâm Và Nghiệp (Trần Văn Khê — Life and Career), a publication featuring the life and career of late Professor Trần Văn Khê, a world-renowned ethnomusicologist specialising in traditional Vietnamese music. Photo courtesy of the publisher 

HCM CITY  An online book sale has been launched to raise funds for the Trần Văn Khê Foundation, a non-profit organisation named after late Professor Trần Văn Khê, a legendary musicologist, writer and teacher, as well as talented performer of Vietnamese music. 

Profits from the sale of the book Trần Văn Khê — Tâm và Nghiệp (Trần Văn Khê — Life and Career) will be sent to the foundation, according to the publishers, the Lao Động Publishing House and Thái Hà Books.

The book features the life and career of Prof Khê, a world-renowned ethnomusicologist specialising in traditional Vietnamese music. It also highlights his devotion to Vietnamese music. 

It was written by 35 artists, including journalists Nguyễn Thế Thanh and Trần Trọng Thức, cultural reseacher Thái Kim Lan, and cải lương (reformed opera) guru Bạch Tuyết. 

Readers can order the book via tranvankhefoundation@gmail.com.

Prof Khê was born in 1921 to a traditional family in Mỹ Tho City in the Mekong Delta province of Tiền Giang.

His love for Vietnamese music began when he was a child. He studied the đàn kìm (two-stringed banjo) and đàn tranh (Vietnamese 16-string zither) with his father while at school. 

In 1949, he was sent to study in France. In 1958, he defended his doctoral dissertation on traditional Vietnamese music in Paris, becoming the first Vietnamese to earn a doctoral degree in music. Late Professor Trần Văn Khê, a legendary musicologist, writer and teacher, as well as talented performer of Vietnamese music, devoted his life to introduce Vietnamese culture to the world. Photo courtesy of the HCM City National Museum 

Khê later worked for France’s prestigious Centre National de Recherche Scientifique (National Centre of Scientific Research), and taught at Sorbonne University. He was elected a member of UNESCO’s International Council of Music.

He was an honorary member of the International Music Council (IMC), founded in 1949 by UNESCO, and a member of the European Academy of the Sciences, Letters and Arts. 

He lived in Paris for more than 50 years and worked to research and expand Vietnamese music through his performances, talks and writings. He received many top prizes and medals from international organisations for his contributions to music. 

In 2005, he returned to live in HCM City. He donated to the city his massive collection of hundreds of documents, research books, dictionaries, videos, cassette tapes and CDs about Vietnamese folk songs and music as well as ancient musical instruments like đàn bu (monochord) and16-string zither. 

His collection was packed in 460 parcels and shipped from France to Việt Nam. They are stored at libraries and museums in HCM City.

The book Trần Văn Khê — Tâm Và Nghiệp was first released in 2016 in HCM City, one year after Khê’s death. 

The Trần Văn Khê Foundation was established last year. It is managed by a group of cultural researchers and artists in HCM City. The foundation works to encourage and support young musicians and theatre artists in their careers. It also honours individuals and groups for their contributions to Vietnamese music and theatre.— VNS

https://vietnamnews.vn/life-style/984930/online-book-sale-to-raise-funds-for-tran-van-khe-foundation.html

NGUYỄN QUỐC THỆ : cuộc thi tìm hiểu về Thầy Khê và Âm nhạc truyền thống / KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY SINH CỐ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ (24.07.1921- 24.07.2021)

Bạn có muốn tìm hiểu và tham gia cùng chúng tôi không?💧Sẽ có nhiều điều rất hay và tốt đẹp cho tất cả chúng ta khi đem âm nhạc vào y học đó các bạn ạ!❗

Bạn có bao giờ nghe ÂM NHẠC TRỊ LIỆU chưa❓💧

Giáo sư Trần Văn Khê và con trai Thầy là Giáo sư Trần Quang Hải đã đề cập rất nhiều cũng như trên thế giới, giới âm nhạc và y học đã nói từ rất lâu.

Bạn có muốn tìm hiểu và tham gia cùng chúng tôi không?💧Sẽ có nhiều điều rất hay và tốt đẹp cho tất cả chúng ta khi đem âm nhạc vào y học đó các bạn ạ!❗

Nhưng trước hết, sắp đến ngày KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY SINH CỐ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ, chúng tôi sẽ tổ chức một cuộc thi tìm hiểu về Thầy Khê và Âm nhạc truyền thống mà có sự tham gia của Giáo sư Trần Quang Hải trong thành phần Ban giám khảo.🎯Các bạn nhớ tham gia nhé! Hết sức ý nghĩa và giải thưởng cũng vô cùng hấp dẫn!

GS TRẦN VĂN KHÊ & GS TRẦN QUANG HẢI
NGUYỄN QUỐC THỆ

0 Comments

Write a comment…