Catégorie : TRẦN VĂN KHÊ

GS TRẦN VĂN KHÊ : trích cuốn « TỰ TRUYỆN TRẦN VĂN KHÊ  » (nhà xuất bản TRẺ, 2014): « Yêu chiếc áo dài để thêm hiểu mình là ai »

Hiện trên mạng xã hội có một số người Việt Nam chưa nhận diện ra thế nào là trang phục áo dài truyền thống, thế nào là mốt tân thời. Tôi đành mượn “Những câu chuyện từ trái tim của cố GS. TS Trần Văn Khê (1921 – 2015), một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền nổi tiếng của Việt Nam để nói hộ lòng mình.YÊU CHIẾC ÁO DÀI ĐỂ THÊM HIỂU MÌNH LÀ AI (1)Chiếc áo dài là Quốc phục của Việt Nam. Hình ảnh chiếc áo dài cũng đã trở thành biểu tượng của Việt Nam trong lòng bạn bè các nước. Tôi thích mặc áo dài vì không chỉ đó là phần hình thức trong việc biểu diễn vì rất phù hợp với âm nhạc dân tộc mà còn là trang phục tỏ ra bạn đang tham dự một lễ hội quan trọng nào đó.Từ năm 1949, khi tôi mới rời Việt Nam sang Pháp, mỗi khi giới thiệu một chương trình âm nhạc truyền thống Việt Nam, với tư cách một diễn viên, tôi đều mặc áo dài, khăn đóng.Chỉ trừ khi đi đờn ở một hiệu ăn ở Pháp để kiếm tiền học tiến sĩ là tôi không mặc áo dài, khăn đóng. Bởi tôi nghĩ, lúc đó, đờn là để mua vui cho thiên hạ, nếu mặc Quốc phục thì sẽ là sự sỉ nhục với chính Quốc phục.Thuở đó, đại đa số người Việt Nam muốn bỏ hình ảnh của người Việt thời thuộc địa, nên khi thấy tôi mặc áo dài thì trong một trăm người, chỉ có một, hai người tán thành, còn lại thì phản đối.Có người bạn lắc đầu, nói với tôi: “Bạn là người Tây học, bạn đang ở nước Pháp mà bạn mặc áo dài, chúng tôi có cảm giác bạn là người cổ lỗ, phong kiến, quan liêu hay lập dị, muốn người ta để ý đến mình. Bạn đờn rất hay, không lẽ mặc áo dài, khăn đóng thì sẽ đờn hay hơn khi mặc áo Âu phục?”Tôi trả lời: “Tôi luôn nghĩ rằng khi giới thiệu một bộ môn nghệ thuật, ngoại hình phải đi đôi với nội dung. Áo dài là hình thức, tiếng đờn là nội dung. Nếu bạn tặng một bó hoa hồng thật đẹp mà bạn gói trong một tờ nhựt trình cũ có phải là không bằng gói hoa bằng một tờ giấy hoa có cột băng màu? Rượu sâm banh thật ngon mà bạn uống trong ly giấy sao bằng uống trong ly pha lê? Trà quý thay vì uống trong một chung nhỏ bằng đất nung lại uống bằng tô canh đá thì bạn thấy hương vị của trà có còn không? Như vậy bạn thấy, khi giới thiệu một nghệ thuật hay một nghệ phẩm thì nội dung và hình thức phải đi đôi với nhau. Vì vậy, tôi muốn khi giới thiệu âm nhạc truyền thống dân tộc Việt Nam cũng phải có cả hình thức”.Người bạn ấy không trả lời được nhưng vẫn lắc đầu không tán thưởng. Tôi bất chấp tất cả lời phê bình của các bạn gần xa, trong và ngoài nước về việc lần nào tôi biểu diễn nhạc dân tộc đều mặc áo dài, khăn đóng. Những lúc tôi biểu diễn cùng con trai, con gái tôi, các con cũng phải mặc Quốc phục. Và hình ảnh đó rất được người yêu nhạc nước ngoài, dân Âu hay Mỹ, tán thưởng, khen ngợi.Tôi còn nhớ, vào tháng 6 – 1958, tại thính đường số 1 của UNESCO, ban tổ chức giới thiệu nhạc cổ điển Đông – Tây. Trong chương trình, có nhạc sư Yehudi Menuhin đờn violon những bài Sonate xưa của nhạc sĩ Johann Sebastian Bach, ông mặc lễ phục phương Tây, áo sơ mi có “plastron” (miếng cứng ở ngực áo), thắt nơ trắng. Nhạc sư Ấn Độ Ravi Shankar mặc lễ phục Ấn Độ đờn sitar. Nhạc sư Nhựt Bổn Yuize Shinichi mặc kimono đen lễ phục của Nhựt Bổn. Hai nhạc sư Ba Tư là Ebadi đờn setar (đờn khẩy 4 dây), và Malec đờn santour (loại dương cầm của Ba Tư dùng que để gõ, đờn có 72 dây) đều mặc lễ phục Ba Tư. Tôi được mời biểu diễn âm nhạc truyền thống Việt Nam trong chương trình đó. Nếu tôi không mặc áo dài, khăn đóng, bạn có thể tưởng tượng tôi sẽ xấu hổ tới đâu không?Vì tôi nghĩ việc mặc áo dài, khăn đóng là đúng đắn nên tôi tiếp tục làm theo ý nghĩ và lương tâm của tôi, bất chấp những lời phê bình, chế nhạo.Năm 1979, tôi được trường đại học Perth, vùng Tây Nam Úc, mời tôi thuyết giảng trong ba tuần lễ về âm nhạc truyền thống Việt Nam. Trưởng ban tổ chức Sir Franck Callaway có nói: “Buổi thuyết trình lần thứ nhứt có cả ban giám hiệu, toàn thể giáo sư và sinh viên của trường đến nghe. Hôm đó, giáo sư có minh họa lời thuyết giảng bằng đờn kìm, đờn tranh. Tôi nghĩ rằng nếu giáo sư mặc Quốc phục có lẽ buổi diễn sẽ được thêm phần trang trọng”. Tôi trả lời: “Chúng tôi có câu: Nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục. Tôi đến đây mà ban tổ chức ước ao tôi mặc áo dài, khăn đóng, tôi sẽ rất vui mà thực hiện lời ước đó trong buổi thuyết trình đầu tiên của tôi”.Đúng ngày, trong đại giảng đường im phăng phắc, khi giáo sư Franck Callaway giới thiệu: “GS.TS Trần Văn Khê thuyết trình về âm nhạc truyền thống Việt Nam”. Từ hậu trường, tôi trong trang phục áo dài, khăn đóng, bước lên sân khấu, cúi đầu chào khán thính giả. Tiếng vỗ tay vang dội trong phòng. Sau buổi giảng, có bốn người Việt Nam trong nhóm người Việt di tản, đến dự, nắm tay tôi mà nói: “Sáng nay, khi thấy hình ảnh của một người Việt Nam mặc áo dài, khăn đóng xuất hiện trên sân khấu, chúng tôi không cầm được nước mắt”. Các giáo sư người Úc cùng đến khen ngợi tôi biểu diễn nhạc rất hay và trang phục đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.Năm 1983, Hội đồng Quốc tế âm nhạc tổ chức đại hội tại Bratislava (Tiệp Khắc). Trong Ngày Quốc tế âm nhạc, ban tổ chức có mời tôi biểu diễn nhạc truyền thống Việt Nam. Năm đó, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, bạn thân của tôi, ở chung một phòng khách sạn với tôi. Thấy tôi chuẩn bị áo dài, khăn đóng, để mặc biểu diễn trong chương trình quốc tế, Phước hết sức do dự, rốt cuộc cũng nói rõ với tôi: “Lúc Khê giới thiệu âm nhạc trong các nước tư bản bên Âu Mỹ thì Khê muốn mặc gì cũng được. Nhưng lần này, Khê nên mặc Âu phục để tham dự buổi hòa nhạc thì tốt hơn”.Tôi trả lời nhẹ nhàng: “Theo tôi nghĩ, óc phong kiến là ở trong đầu của mỗi người. Áo dài, khăn đóng là trang phục truyền thống Việt Nam dùng để mặc trong các lễ hội. Trong mấy chục năm nay, tôi mặc áo dài, khăn đóng đến đâu cũng được hoan nghinh khen ngợi. Nếu bạn nghĩ tôi đến đây nên mặc Âu phục để biểu diễn thì điều đó nghịc với cách suy nghĩ của tôi mấy chục năm nay. Nếu ban tổ chức bắt buộc tội mặc Âu phục thì tôi sẽ không biểu diễn”.Lần đó, trong trang phục áo dài, khăn đóng, tôi biểu diễn âm nhạc truyền thống Việt Nam và được đại biểu các nước, kể cả đại diện sứ quán Việt Nam tham dự chương trình đều hoan nghinh, tán thưởng.Các bạn thấy không, khi nghĩ mình đã làm đúng theo lẽ phải, chúng ta sẽ phải có can đảm một mình chống lại đại đa số ý kiến. Và cũng nhờ có bản lĩnh mà trong cuộc sống chúng ta sẽ có thêm bạn ủng hộ tinh thần và vật chất.Suốt thời gian dài gắn với âm nhạc dân tộc, khi biểu diễn, tôi luôn mặc áo dài, khăn đóng. Những bộ lễ phục đặc biệt này tôi để trong bao, treo cất cẩn thận trong tủ. Trước khi đi biểu diễn, tôi xem lại lễ phục, nếu thấm mồ hôi thì mang đi giặt sạch sẽ. Khi mặc áo dài thì mặc hết sức đàng hoàng, tay trong, tay ngoài, cổ áo đâu ra đó. Không phải tôi “điệu” mà như đã nói, tôi nghĩ đó là sự lễ phép đối với người đến nghe mình nói. Trong khi người đến nghe mình ăn mặc sạch sẽ, lịch sự mà mình lại mặc lôi thôi là coi thường khán giả, coi thường bản thân. Lúc bước ra sân khấu biểu diễn, phải luôn cố gắng toàn vẹn từ trong đến ngoài. Một số người nói tôi diện, cứ cho là tôi diện đi nhưng điều đó giúp tôi thấy mình tự tin, trang trọng trước mọi người.Tôi nhớ câu của Khổng Tử nói: “Ngã tự kính, nhân tất kính chi, ngã tự tiện, nhân tất tiện chi”, tức là ta tự kính trọng mình thì được người khác kính trọng, ta tự khinh mình thì người khác sẽ khinh ta.Đến nay, trong nước, lần lượt, các nghệ sĩ giới thiệu hát quan họ Bắc Ninh, ca trù miền Bắc đều mặc áo dài, khăn đóng. Và trong toàn cả nước từ Bắc chí Nam số nghệ sĩ mặc Quốc phục ngày càng đông. Đến kỳ hội nghị cấp cao APEC, chủ tịch nước Việt Nam tặng cho đại diện các nước áo dài Việt Nam để làm kỷ niệm.Nhưng cũng có đôi khi, việc lựa chọn trang phục biểu diễn đờn dân tộc không phù hợp cả một số người làm tôi buồn lòng. Như trong một chương trình hòa nhạc dân tộc, các cô gái đờn tranh đều mặc áo dài, khăn đóng thật đẹp thì các cậu con trai chơi đờn bầu lại mặc gi lê. Điều ấy giống như trên một bãi cát thiệt đẹp có mấy viên sạn. Sao các bạn không nghĩ rằng các bạn mặc áo dài, khăn đóng biểu diễn đờn dân tộc thì đẹp biết bao nhiêu, chỉ cần nhìn vào trang phục của bạn, nhiều người sẽ biết ngay rằng bạn là người Việt Nam.Tôi đã nhìn thấy nhiều sáng kiến trong thiết kế áo dài. Sáng kiến thế nào thì cũng cần giữ lại cái nòng cốt của áo dài như nhà thơ Văn Tiến Lê đã viết:“Đơn sơ hai mảnh tuyệt vờiThân sau vạt trước thành lời nước non”Bất chấp lời phê bình của trăm người, tôi vẫn giữ vững niềm tin và thái độ của mình đối với Quốc phục. Mong các bạn hãy biết yêu chiếc áo dài – Quốc phục của đất nước mình – để thêm yêu đất nước mình, thêm hiểu mình đang đứng ở đâu trên bản đồ thế giới.(1) –

Tác giả: Trần Văn Khê (trích trong “Tự truyện Trần Văn Khê”, trang 151 – 157, NXB trẻ, 2014).10

https://www.aodaicosau.com/2019/10/yeu-chiec-ao-dai-e-them-hieu-minh-la-ai.html

GS TRAN VAN KHE & GS TRAN QUANG HAI 2007
TRAN QUANG HAI & BACH YEN , 1990
TRAN QUANG HAI & BACH YEN 2017

GS TRẦN VĂN KHÊ : NGUYỄN TRÃI & ÂM NHẠC

NGUYỄN TRÃI & ÂM NHẠC

GS TRẦN VĂN KHÊ

NGUYỄN TRÃI & ÂM NHẠC 

Đôi dòng tiểu sử

Nhắc tới Nguyễn Trãi, đa số chúng ta đều biết rằng ông sanh tại Nhị Khê, tỉnh Hà Tây, năm Canh Thân (1380), cháu ngoại của Trần Nguyên Đán, tôn thất nhà Trần; con trai của Nguyễn Phi Khanh. Lúc 20 tuổi (1400) đã đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) dưới thời nhà Hồ.

Năm 27 tuổi theo cha bị quân Minh bắt giải về Kim Lăng (1407), tới Nam quan, định đi theo để phụng sự cha trong cảnh tù đày. Nhưng để trọn hiếu, nghe theo lời cha khuyên phải trở về tìm cách báo thù cha, rửa hận nước. Ông bị giam lỏng tại Nam Đông Quan (Hà Nội).

Năm 38 tuổi (1418), ông cùng Trần Nguyên hãn trốn vào Lam Sơn, góp sức với người anh hùng áo vải Lê Lợi khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược ra khỏi bờ cõi, đem lại độc lập cho nước, tự do cho dân tộc. Ông nổi tiếng với bài Bình Ngô Đại Cáo, và là tác giả của Gia Huấn Ca, Ức Trai Thi Tập, Dư Địa Chí, Quốc Âm Thi Tập…, là một người văn võ toàn tài.

Theo phò vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi), đến ngày vua băng hà, ông lui về ẩn dật tại Côn Sơn, tỉnh Hải Dương. Năm 1434 vua Lê Thái Tông lại triệu ra làm quan. Đã nhiều lần dâng sớ cho nhà vua trong những công việc giữ nước, dựng nước.

Vua Thái Tông ái mộ Nguyễn Thị Lộ, phu nhân của Nguyễn Trãi, gọi vào cung cho làm “Lễ nghi nữ học sĩ”, dạy lễ nghi, văn chương cho các cung nữ. Khi đi tuần miền Đông, vua nghỉ đêm tại nhà của Nguyễn Trãi (vườn Lệ Chi, xã Đại Lai, trên sông Thiên Đức). Sau một đêm vua băng hà. Triều đình, các hoạn quan cho rằng Nguyễn Thị Lộ đã âm mưu giết vua và buộc tội cả Nguyễn Trãi.

Ngày 16.08 năm Nhâm Tuất (1442), Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ bị tru di tam tộc. Nỗi hàm oan ấy ngày nay mới được nhiều nhà nghiên cứu lịch sử làm sáng tỏ, nêu bật lòng trung quân ái quốc của Nguyễn Trãi cùng phu nhân Nguyễn Thị Lộ và ác tâm của bọn hoạn quan, đã cho một tỳ nữ lén bỏ thuốc độc vào bình trà của nhà vua để vu oan Nguyễn Thị Lộ và trả thù Nguyễn Trãi.

Có lẽ ít người biết rằng Nguyễn Trãi làu thông âm nhạc và đã tham gia vào việc nghiên cứu, xây dựng nền âm nhạc cung đình của nhà Lê.

Nguyễn Trãi và âm nhạc 

Có lẽ cũng cần nhắc lại một điểm quan trọng: dù rất rành chữ Hán nhưng trong sáng tác Nguyễn Trãi dùng chữ Nôm nhiều hơn cả các văn nhân thời đó. Rất nhiều bài thơ của ông (trong Quốc Âm thi tập), đặc biệt tập “Gia Huấn Ca” được viết bằng chữ Nôm.

Ông rất sành nghệ thuật uống trà, biết thưởng thức trà ngon của Trung Quốc nhưng vẫn thích trà “Tước thiệt” (lưỡi chim se sẻ) trồng tại Quảng Trị hơn các loại trà Trung Quốc. Lúc giải trí ông không thích dùng các nhạc khí và những bản đàn có nguồn gốc từ Trung Quốc. Trong bài thơ Tự Thuật ông đã viết: “Cầm Nam ta gảy khúc Nam thôi…”.

Sau khi lên ngôi – Đinh Tỵ năm thứ tư 1437 mùa xuân tháng giêng, vua Lê Thái Tông đã sai quan Hành khiển Nguyễn Trãi cùng với lễ bộ Ty giám là Lương Đăng đốc làm loan giá, nhạc khí, dạy tậ nhạc và múa (“Đại Việt sử ký toàn thư”, tập III, quyển XI, tr.112 – 146).

Hành khiển Nguyễn Trãi dâng biểu về khánh đá và tâu rằng: “Kể ra thời loạn dùng võ, thời bình chuộng văn. Nay đúng là lúc nên làm Lễ nhạc. Song không có gốc thì không đứng được, không có văn thì không hành được. Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc. Thần vâng chiếu làm nhạc, không dám không hết lòng hết sức, nhưng vì học thuật nông cạn sợ rằng trong khoảng thanh luật (1), khó được hài hòa. Xin bệ hạ yêu nuôi nhân dân, để cho các nơi làng mạc không có tiếng oán giận than sầu, đó là không mất cội gốc của nhạc vậy”. Vua khen nhận, sai thợ đá ở huyện Giáp Sơn lấy đá ở núi Kinh Chủ để làm.

Đoạn vừa kể trên chứng tỏ Nguyễn Trãi đã có học lý thuyết về âm nhạc, nhưng lại có một tư tưởng rất mới: Trong âm nhạc có nội dung (mà ông gọi là gốc của âm nhạc) vàhình thức (là văn của âm nhạc). Theo ông, cái văn không quan trọng bằng cái gốc và cái gốc xuất phát từ nhân dân. Nếu quốc thái dân an, nhân dân có được một đời sống sống ấm no, đầy đủ, được tình thương lo của nhà vua thì chỉ có tiếng nhạc vui tươi. Nếu nhân dân bị thiếu thốn về vật chất lẫn tinh thần, cất tiếng ta thán, tiếng nhạc sẽ bi ai, và ông cho rằng như thế là đã mất gốc của âm nhạc. Trong lịch sử chính trị và văn hóa nước ta, chưa người nào đưa ra những ý kiến sâu sắc về âm nhạc như vậy.

Trong lúc làm việc với Lương Đăng, nhiều điểm bất đồng đã nảy sinh giữa hai người. Lương Đăng có ý muốn chép y lại những quy định nhạc cung đình của nhà Minh, đặt ra hai dàn nhạc Đường thượng chi nhạc tấu trên cung điện, và Đường hạ chi nhạc tấu dưới sân đình.

Dàn Đường thượng chi nhạc gồm 8 loại nhạc khí thuộc về 8 âm (Bát âm) giống như dàn nhạc Triều hạ yến hưởng chi nhạc của nhà Minh, chỉ khác số nhạc khí được dùng trong biên chế. 

  1. Huyền đại cổ (trống lớn treo) thuộc về âm cách (da)
  2. Biên khánh (một dàn 12 chiếc khánh nhỏ) thuộc về âm thạch (đá)
  3. Biên chung (một dàn 12 chuông nhỏ cùng một cỡ mà trọng lượng khác nhau) thuộc về âm kim (đồng)
  4. Thiết sắt cầm (đàn sắt 25 dây tơ, đàn cầm 7 dây tơ) thuộc về âm ty (tơ)
  5. Ống sinh (một loài kèn bè) thuộc về âm bào (bầu)
  6. Các loại ống tiêu (thổi dọc), quản, thược, trì (loại sáo trúc cổ, thổi ngang) thuộc về âm trúc (tre)
  7. Chúc ngữ (chúc là một cái thùng bằng gỗ, trên lớn dưới nhỏ; ngữ là một loại hạc khí gõ hình con cọp, trên lưng có những răng để cho nhạc công cầm một miếng gỗ quẹt nhẹ dài theo lưng cọp gây nên tiếng “rẹt, rẹt”) thuộc về âm mộc (cây)
  8. Huân (một ống thổi hình trứng ngỗng, có khoét một lỗ để thổi và sáu lỗ dùng những ngón tay bấm vào, làm bằng đất nung) thuộc về âm thổ (đất)

Về các loại nhạc, Lương Đăng đề nghị có 8 loại: 

  1. Giao nhạc (dùng trong cuộc tế Nam giao)
  2. Miếu nhạc (dùng trong các miếu như Thái miếu, Thế miếu, Văn miếu…)
  3. Ngũ tự nhạc (dùng trong năm cuộc tế lễ, theo người xưa thì có thể dùng tế thần năm sắc trong cung, hoặc là năm vị thần mang tên Câu mang, Mục thư, Huyền minh, Chúc dương, Hậu thổ). Có người cho rằng năm vị thần trong cuộc tế lễ thuộc về hộ (cửa), táo (bếp), trung lưu (giữa nhà), môn (cửa lớn), hành (đường đi)
  4. Cứu nhật nguyệt giao trùng nhạc (dùng để cứu mặt trời, mặt trăng trong lúc nhật thực, nguyệt thực, vì theo tín ngưỡng của một số người Việt, khi nhật thực, nguyệt thực đang diễn ra, lúc đó có một con gấu khổng lồ muốn nuốt mặt trời và mặt trăng nên lúc đó phải có một loại nhạc dùng trống to đánh lên để làm cho con gấu hoảng sợ không dám nuốt)
  5. Đại triều nhạc (dùng trong những buổi quan trọng như Lễ ngày sanh của nhà vua, Tết Nguyên đán, ngày mồng một hay ngày rằm…)
  6. Thường triều nhạc (dùng trong những buổi triều chính thường trong tháng)
  7. Đại yến cửu tấu nhạc (dùng trong những buổi tiệc lớn)
  8. Cung trung chi nhạc (dùng để tấu trong cung như một đoạn nhạc tiêu khiển cho nhà vua và triều thần)

Bốn tháng sau, Hành khiển Nguyễn Trãi tâu rằng: “Mới rồi bọn thần cùng với Lương Đăng sửa định Nhã nhạc, nhưng sở kiến của Thần không giống sở kiến của Lương Đăng, thần xin trả lại mệnh ấy”.

Trước kia, Thái Tổ sai Nguyễn Trãi định quy chế mũ áo, chưa kịp thi hành, Lương Đăng dâng thư, đại khái nói: “Kể Lễ thì có lễ đại triều, lễ thường triều. Tế Trời, cáo miếu, ngày thánh tiết, ngày Nguyên đán thì làm lễ đại triều, Hoàng đế mặc áo cổn, đội mũ miện, lên ngồi ngai báu, trăm quan mang áo mũ triều. Còn như những ngày mồng một, ngày rằm hàng tháng thì Hoàng đế mặc áo bào vàng, đội mũ xung thiên, ngồi ngai báu, trăm quan mặc áo công, đội mũ phát đầu. Thường triều thì Hoàng đế mặc áo bào vàng, đội mũ xung thiên, ngồi sập vàng, trăm quan mặc áo thường, cổ tròn, đội mũ sa đen. Về Lễ bộ thì có đại giá, xe loan lớn, xe ngựa kéo, có kiệu cửu long (chín con rồng), kiệu thất long (bảy con rồng), có xe người kéo, đi bước một, xe chạy nhanh”.

Thư ấy dâng lên. Vua sai Lương Đăng định. Lương Đăng nhân thể mới dâng lên quy chế về áo mũ và nhạc khí. Đại khái quy chế do Lương Đăng và Nguyễn Trãi định, nhiều chỗ không hợp nhau; lời bàn về nhạc khí, lớn nhỏ, nặng nhẹ, nhiều điều trái nhau, mà cách tấu cũng không giống nhau, vì thế mà Nguyễn Trãi từ việc. Vua nghe lời đề nghị của Lương Đăng rồi làm theo (sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư không có ghi lại lời đề nghị của Nguyễn Trãi).

Vua sai chép các nghi thức ấy treo ở ngoài cửa Thừa Thiên. Vua lễ yết Thái miếu, các quan mặc triều phục làm lễ bắt đầu từ đấy.

Mặc dầu không đồng ý với cách sắp đặt của Lương Đăng, Nguyễn Trãi cũng không chỉ trích biên chế của dàn nhạc và các loại nhạc, nhưng khi hành lễ thì những chi tiết trong cách tấu nhạc có nhiều điểm rất sai. Nguyễn Trãi (với sự đồng tình của một số quan trong triều đình như Tham tri Bạ Tịnh, Nguyễn Tuyền, các quan Đào Công Soạn, Nguyễn Văn Huyến, Tham nghị Nguyễn Liễu) dã dâng sớ tâu rằng: “Đặt lễ làm nhạc, tất phải đợi được có người mới làm, được như Chu Công thì mới không có ai chê trách. Nay sai kẻ hoạn quan Lương Đăng một mình định lễ nhạc, cả nước chẳng nhục lắm ư? Vả lại, lễ nhạc của y là dối vua lừa dưới, không bằng cứ vào đâu. Như trước kia, đánh trống là báo giờ ra chầu buổi sớm, nay nhà vua ra chầu rồi mới đánh trống. Theo quy chế xưa, lúc vua ra, bên tả đánh chuông Hoàng chung, rồi năm chuông bên hữu ứng theo; lúc vua vào thì đánh chuông Nhuy tân (Di tân, một trong 12 luật lữ), rồi năm chuông cùng ứng theo. Nay vua ra chầu đánh 108 tiêng chuông, đó là số nhà sư lần tràng hạt. Theo quy chế thì vua ngồi ở cửa Phụng Thiên phải có sập vàng, ở điện Phụng Thiên phải có ngai báu, nay chỉ có một điện Hội Anh, lại chỉ có sập vàng, thế là lễ nghi gì?”.

Đám hoạn quan vì thế rất thù ghét Nguyễn Trãi và nghĩ ra mưu kế làm hại Nguyễn Trãi tại Lệ Chi Viên.

♫♫♫♫

Đọc lại trang sử đó, tôi không khỏi ngậm ngùi và tiếc cho một người tài ba lỗi lạc, hiếu với cha, trung với nước. Khi vua không phải là minh quân thì ông đã treo ấn từ quan, nhưng lúc quốc gia cần thì phụng sự hết lòng hết dạ. Trong nếp sống và quan điểm về âm nhạc, ông coi trọng bản sắc dân tộc và bài trừ những tư tưởng vọng ngoại.

Khi xưa, vì một Lương Đăng mà nhạc cung đình nhà Lê không được xây dựng vững chắc. Ngày nay, trong những việc tổ chức âm nhạc tại nước Việt, chúng ta cũng phải tránh để đừng có những “Lương Đăng” vọng ngoại và coi thường nhạc cổ truyền ViệtNam.

Bình Thạnh, ngày 26.12.2007

GS TRẦN VĂN KHÊ

——————————————————————

Ghi chú:

(1) Thanh luật là Thất thanh thập nhị luật lữ. Bảy thanh của thang âm thời xưa là Cung-Thương – Giốc – (biến chủy) – Chủy – Vũ – (biến cung).

Thập nhị luật lữ là 12 âm chuẩn, có 6 luật (thuộc về dương) và 6 lữ (thuộc về âm) theo cổ nhạc Trung Quốc mà người Việt có học đều biết:

1- Hoàng chung; 2- Đại lữ; 3- Thái thốc; 4- Giáp chung; 5- Cô tẩy; 6- Trọng lữ; 7- Nhuy tân (có nơi đọc là Di tân); 8- Lâm chung; 9- Di tắc; 10- Nam lữ; 11- Vô xạ; 12- Ứng chung.

Những âm 1-3-5-7-9-11 là luật; 2-4-6-8-10-12 là lữ
8You, Minhchau, Pham Thi Hue and 5 others2 Comments1 ShareLikeCommentShare

Comments
  • Ngân Anh Con thích bài này, hihi. « Cầm Nam ta gảy khúc Nam thôi » – câu này càng lãng du âm nhạc nhiều càng thấy thấm thía và cảm động biết bao nhiêu. Đành rằng âm nhạc không bị giới hạn bởi biên giới, nhưng để nghe « khúc Nam » thì chỉ có « cầm Nam » thôi… ^
Bùi Trọng Hiền

Bùi Trọng Hiền Thưa thầy, trong Vũ Trung Tùy Bút, Phạm Đình Hổ cho biết rằng đến năm Quang Hưng (1578-1599), « bộ Đồng văn và bộ Nhã nhạc chỉ khi nào có tế giao hay có lễ triều hạ gì lớn mới dùng đến, cho nên con cháu nhà nghề âm nhạc đều thất nghiệp cả. Tấu nhạc ở ch…See More