Catégorie : TRAN VAN KHE

GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ- NGƯỜI ĐỒNG HÀNH VỚI CÔNG CUỘC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ NHÃ NHẠC – ÂM NHẠC CUNG ĐÌNH VIỆT NAM

GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ- NGƯỜI ĐỒNG HÀNH VỚI CÔNG CUỘC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ NHÃ NHẠC – ÂM NHẠC CUNG ĐÌNH VIỆT NAMCập nhật ngày: 03/08/2015 09:55:52Theo thông tin từ gia đình và qua báo chí truyền thông, vào lúc 02 giờ 55 sáng ngày 24.6.2015, Giáo sư Trần Văn Khê đã qua đời tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh.

GS. Trần Văn Khê

Giáo sư Trần Văn Khê sinh năm 1921 tại làng Vĩnh Kim, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang), là con cả của một gia đình có bốn đời nhạc sĩ. Từ lúc nhỏ ông đã tỏ ra là người có cảm nhận đặc biệt về âm nhạc; lên 6 tuổi biết đàn kìm (đàn nguyệt), tám tuổi biết đàn cò (đàn nhị), 12 tuổi biết đàn tranh, đánh trống nhạc…

Ông sang Pháp năm 1949, học tại trường Đại học Sorbonne ở Paris. Năm 1949, học tại Viện Khoa học Chính trị Paris. Năm 1951, tốt nghiệp Khoa học Chính trị, Khoa Giao dịch Quốc tế. Từ 1954 đến 1958, học Đại học Văn Khoa Paris, Viện Âm nhạc học. Năm 1958, ông là người Việt đầu tiên đỗ tiến sĩ hạng Tối ưu tại Khoa Âm nhạc học với Đề tài luận án “La Musique Vietnamienne traditionnelle” (Âm nhạc truyền thống Việt Nam).

Sau khi hoàn thành Luận án Tiến sĩ  về Âm nhạc Truyền thống Việt Nam năm 1958, Giáo sư giảng dạy tại Đại học Sorbonne 28 năm liền. Sự nghiệp nghiên cứu Âm nhạc của Giáo sư bắt đầu từ năm 1959, không chỉ âm nhạc truyền thống Việt Nam mà còn âm nhạc truyền thống của các dân tộc khác ở Châu Á.

 Giáo sư là thành viên của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Pháp, và Hội đồng Âm nhạc Quốc tế thuộc UNESCO từ năm 1960. Sau đó là Phó chủ tịch của Hội đồng này, đồng thời từ đó đến khi qua đời là Ủy viên Danh dự của Hội đồng Âm nhạc Quôc tế. Ngoài ra, Giáo sư còn là Viện sĩ Thông tấn của Viện Hàn Lâm Châu Âu về Khoa học, Nghệ thuật và Văn chương,  thành viên của Viện Khoa học Pháp cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác; là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức và còn được công nhận là Tiến sĩ Danh dự của nhiều trường đại học.

Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới, dự  hàng ngàn hội nghị, hội thảo, diễn đàn  để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam.

 Giáo sư Trần Văn Khê tại lễ khai giảng lớp đào tạo nhạc công Nhã nhạc. Huế, tháng 2/2006

Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, năm 2006, ông chính thức trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc (có một số hiện vật tư liệu quý về Huế và Nhã nhạc cung đình Huế cũng đã được Giáo sư trao tặng cho Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế để lưu giữ nghiên cứu và nhân bản).

Giáo sư là một nhà nghiên cứu văn hóaâm nhạc truyền thống nổi tiếng ở Việt Nam. Ông là tiến sĩ ngành âm nhạc học người Việt Nam đầu tiên tại Pháp và từng là giáo sư tại Đại học Sorbonne – Pháp, thành viên danh dự Hội đồng Âm nhạc Quốc tế thuộc UNESCO. Ông là người có công đặc biệt trong quảng bá văn hóa Việt Nam nói chung và âm nhạc Việt Nam nói riêng, trong đó có Nhã nhạc-Âm nhạc Cung đình Việt Nam, đến với công chúng thế giới. Từ năm 1961, Giáo sư và Cố nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba đã bắt đầu để công sức tìm hiểu nghiên cứu về Nhã  nhạc Cung đình Huế. Hai người đã đi tìm và mời các nghệ nhân, nhạc công cung đình còn sống thời đó để ghi âm, ghi hình Âm nhạc Cung Đình Huế và làm bộ đĩa về Nhã nhạc Cung đình và Ca Huế (do Barenreiter-Musicaphone xuất bản với mã số BM.30 L.2002), dành được 2 giải thưởng lớn của Đức (năm 1969 Giải thưởng lớn về Đĩa hát lĩnh vực Dân tộc Âm nhạc học – Deutscher Shall Platten Preis) và Pháp (Năm 1970, giải thưởng lớn về Dân tộc nhạc học của Hàn Lâm Viện Đĩa hát Pháp -Académie du Disque Francais ). GS. Trần Văn Khê là người từ đầu đã tích cực vận động UNESCO nhìn nhận Nhã nhạc Cung đình Huế. Theo ông, để trở thành một di sản phi vật thể của nhân loại, ngoài giá trị lịch sử và nghệ thuật, Nhã nhạc còn cần được nhà nước sở tại chứng minh đã có nhiều nỗ lực bảo tồn và phát huy, ngoài ra, cần phải chuẩn bị cho được một bộ hồ sơ giải trình hoàn chỉnh đòi hỏi nhiều công sức nghiên cứu, biên soạn. Về mặt này, Nhã nhạc cung đình Huế còn nhận được sự hỗ trợ tận tình của bà Noriko Aikawa, nguyên Giám đốc Vụ Văn hóa phi vật thể của UNESCO lúc đó, qua các liên hệ thường xuyên giữa bà và GS Trần Văn Khê từ năm 1994, ở Paris lẫn tại VN.

Tháng Ba năm 1994, UNESCO tổ chức Hội nghị quốc tế các chuyên gia về di sản văn hóa phi vật thể vùng Thừa Thiên Huế tại Huế. Trong một cuộc họp tiểu ban nghệ thuật, Giáo sư Trần Văn Khê cùng các giáo sư Việt Nam là Trần Quốc Vượng và Tô Ngọc Thanh, các giáo sư Nhật Bản là Tokumaru và Yamaguti, Giáo sư người Philippines Jose Marceda đệ trình UNESCO và Chính phủ Việt Nam về một chương trình quốc gia khôi phục và nghiên cứu Nhã Nhạc cung đình Huế.

Sau đó Bộ Văn hóa Thông tin và tỉnh Thừa Thiên Huế đã giao cho Trung tâm BTDT Cố đô Huế lập Hồ sơ Ứng cử Quốc gia Nhã nhạc – Âm nhạc Cung đình Việt Nam đệ trình UNESCO đề nghị công nhận là Kiệt tác Di sản Phi Vật thể và Truyền khẩu của Nhân loại (giai đoạn 2001 – 2002). Trong thời gian lập hồ sơ, mặc dù tuổi đã cao, sức khỏe không còn tốt, nhưng giáo sư vẫn lặn lội về lại Việt Nam để cùng các thành viên Nhóm lập Hồ sơ của Trung tâm BTDTCĐ Huế và các chuyên gia tư vấn khác xem xét điều chỉnh nội dung và các tư liệu cần thiết bổ sung kịp thời theo yêu cầu của UNESCO, góp phần cho sự thành công của bộ hồ sơ để rồi vào ngày 7 tháng 11 năm 2003, Nhã nhạc – Nhạc Cung đình Việt Nam đã được UNESCO vinh danh là Kiệt tác Di sản Văn hóa Phi vật thể và Truyền khẩu của Nhân loại (từ năm 2008 được UNESCO hợp nhất thành danh hiệu Di sản Văn hóa Phi vật thể Đại diện của Nhân loại).

 GS. Trần Văn Khê cùng GS. Tô Ngọc Thanh và Nghệ nhân Trần Kích tại Nhà hát Duyệt Thị Đường

Vào đầu năm 2004, GS đã cùng với đoàn đại diện của UBQG UNESCO Việt Nam, Bộ VHTT và UBND tỉnh Thừa Thiên Huế và đoàn  nghệ sĩ của Nhà hát Truyền thống Cung đình Huế giới thiệu và biểu diễn Nhã  nhạc tại Trụ sở của UNESCO tại Paris, các thành phố lớn của Pháp và thủ đô của Bỉ gây tiếng vang lớn trong công chúng châu Âu, góp phần to lớn cho việc giới thiệu quảng bá văn hóa Việt Nam tại Châu Âu.

Sau khi Nhã nhạc được UNESCO công nhận, với tâm huyết và kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo tồn gìn giữ âm nhạc dân tộc, Giáo sư lại tiếp tục cùng tỉnh Thừa Thiên Huế và Trung tâm biên soạn Kế hoạch Hành động Quốc gia bảo tồn và phát huy giá trị Nhã nhạcÂm nhạc cung đình Việt Nam để đề nghị UNESCO tài trợ.  Với những nỗ lực không mệt mỏi trên, Dự án thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia này đã được UNESCO chấp thuận tài trợ với tổng kinh phí 154.900 USD,  thực hiện trong giai đoạn 2005-2009. Giáo sư được mời tham gia dự án với tư cách là cố vấn danh dự và trực tiếp thực hiện các bài giảng, giới thiệu  Nhã nhạc trong các hoạt động của dự án.

Trong khuôn khổ dự án này, Giáo sư đã trực tiếp cùng GS Tô Ngọc Thanh, Nghệ nhân Lữ Hữu Thi, nhạc sĩ Lê Toàn, Nhà nghiên cứu Văn Thị Minh Hương và đội ngũ cán bộ giảng viên của Trường Nghệ thuật Văn hóa đào tạo 18 nhạc công Nhã nhạc trẻ trong 2 năm nhằmcung cấp một lực lượng nhạc công Nhã nhạc trong tương lai có đủ kiến thức về văn hoá và kỹ năng nghề nghiệp để bổ sung cho Nhà Hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế (thuộc Trung tâm BTDTCĐ Huế), nhằm duy trì và bảo tồn bền vững giá trị đích thực của Nhã nhạc.

Trung tâm BTDTCĐ Huế đã mời Giáo sư cùng các nghệ nhân nhã nhạc thực hiện 6 đợt tập huấn (mỗi đợt kéo dài 4-5 ngày) cho 180 lượt nhạc công trẻ của Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế; tổ chức 6 buổi buổi nói chuyện có minh hoạ hình ảnh và tiết mục biểu diễn minh họa của GS.TS. Trần Văn Khê dành cho sinh viên, học sinh các cấp ở thành phố Huế (Trường Thống Nhất, Nguyễn Tri Phương, Nhà văn hóa thiếu nhi Huế, Trường Cao đẳng Sư phạm Huế, Trường Đại học Nghệ thuật và Trường Văn hóa Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế); tổ chức 1 tọa đàm tập huấn dành cho giáo viên một số trường tiểu học ở khu vực Huế, cung cấp kiến thức về Nhã nhạc và phương pháp giảng dạy âm nhạc truyền thống cho các giáo viên dạy nhạc hướng dẫn giáo viên phương pháp để học sinh có thể lĩnh hội và cảm nhận được giá trị âm nhạc truyền thống, đặc biệt đối với Nhã nhạc. Ngoài ra GS đã phối hợp với Trung tâm thực hiện 01 đĩa giới thiệu một số tiết mục biểu diễn Nhã nhạc và Múa Cung đình chọn lọc với lời giới thiệu do đích thân  GS.TS. Trần Văn Khê, (có phụ đề tiếng Anh và tiếng Pháp). Giáo sư còn tặng Trung tâm các tư liệu quý liên quan đến Nhã nhạc do GSTS Trần Văn Khê sưu tầm trước đó gồm một số tư liệu viết, tư liệu nghe nhìn để lưu trữ và nhân bản phục vụ cho công tác nghiên cứu và trưng bày giới thiệu quảng bá.

Trong khuôn khổ các hoạt động quảng bá về Nhã nhạc của dự án này, Giáo sư đã cùng đoàn nghệ sĩ của Trung tâm đi lưu diễn ở Pháp (các thành phố Paris, Lyon, Marseilles năm 2004), Ý (thành phố Torino năm 2006) và Nhật Bản (Okinawa năm 2009). Các chương trình biểu diễn, với phần giới thiệu do đích thân GS.TS Trần Văn Khê trình bày, đã gây được sự quan tâm sâu rộng và tạo tiếng vang lớn đối với công chúng yêu âm nhạc ở các nước này. Trong lĩnh vực giới thiệu, diễn giải về âm nhạc truyền thống Việt Nam, có thể có một số người giới thiệu rất hay và minh họa rất hấp dẫn về đề tài này, nhưng để giúp công chúng hiểu được một cách dễ dàng nhất về âm nhạc truyền thống và Nhã nhạc, tạo sự phấn khích, đam mê tìm hiểu đối với người nghe thì chỉ duy nhất có Giáo sư Trần Văn Khê. Trong các buổi giới thiệu Nhã nhạc tại các quốc gia và tại các cơ quan, trường học ở Việt Nam, với cách diễn đạt thật tuyệt vời; vừa rất dí dỏm lại rất uyên bác, cùng với khả năng chơi được nhiều loại nhạc cụ truyền thống khác nhau để minh họa cho phần giới thiệu của mình, và lại có thể diễn đạt trực tiếp bằng tiếng Anh và tiếng Pháp, Giáo sư đã thực sự thổi bùng lên ngọn lửa yêu thương âm nhạc dân tộc cũng như Nhã nhạc Cung đình Huế  trong tâm trí của các đối tượng công chúng ở trong cũng như ngoài nước.

Giáo sư Trần Văn Khê từng được Giải thưởng lớn Hàn lâm Viện Đĩa hát Pháp, Giải thưởng Đại học Pháp, Giải thưởng Dân tộc nhạc học năm 1960 và 1970, tiến sĩ danh dự về Âm nhạc Đại học Ottawa (Canada, 1975), Giải thưởng lớn về Âm Nhạc UNESCO và Hội Đồng quốc tế Âm nhạc (1981), Huân chương Nghệ thuật và Văn chương Cấp Officier, Bộ Văn hóa Chính phủ Pháp tặng (1991), Giải thưởng quốc tế về Dân tộc nhạc học KOIZUMI Fumio (Nhật Bản, năm, 1995), Tiến sĩ danh dự về Dân tộc Nhạc học Đại học Moncton (Canada, 1999), Huy chương Vì Văn hoá Dân tộc của Bộ Văn hoá Việt Nam trao tặng năm 1998, Huân chương Lao động hạng nhất do Chủ tịch Trần Đức Lương trao tặng năm 1999, Giải thưởng Đào Tấn do Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc trao tặng năm 2005,  Giải thưởng Phan Châu Trinh về nghiên cứu năm 2011. Tỉnh Thừa Thiên Huế cũng đã trao tặng Bằng khen và huy hiệu Người tốt Việc tốt cho Giáo sư  vào các năm 2004 và 2006.

Là đơn vị trực tiếp quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị Nhã nhạc – Âm nhạc Cung đình Việt Nam, đồng thời cũng là đơn vị sát cánh cùng Giáo sư Trần Văn Khê trong hành trình bảo vệ gìn giữ giá trị âm nhạc truyền thống Việt Nam trong nhiều năm qua, toàn thể lãnh đạo và cán bộ viên chức, các nghệ sĩ, nhạc công và diễn viên của đơn vị xin bày tỏ sự tri ân và lòng thương tiếc vô hạn đối với Giáo sư Trần Văn Khê, người đã dành cả cuộc đời mình để thắp lên ngọn lửa yêu thương âm nhạc dân tộc đến với nhiều thế hệ và là người góp công lớn trong việc nghiên cứu, giảng dạy, truyền bá, để bảo tồn và phát huy giá trị của Nhã nhạc.Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Đậu Dung: Cảm thán trào lộng mang tên Xuân Quỳnh, Trịnh Công Sơn, Bùi Xuân Phái

Cảm thán trào lộng mang tên Xuân Quỳnh, Trịnh Công Sơn, Bùi Xuân Phái

08:16 07/10/2019

pno

Ngày 6/10, nữ sĩ Xuân Quỳnh xuất hiện trên trang chủ tiếng Việt của Google. Nhiều người ‘phát cuồng’ vì vui sướng. Thì vui! Nhưng nếu nhìn lại cách chúng ta đã và đang đối xử với các danh nhân, câu chuyện sẽ mang một màu sắc khác.

Do chúng ta tự ti về bản dạng văn hóa của mình, phải chờ tới sự xác tín từ một doanh nghiệp quốc tế, mới ào ào chạy theo để tụng ca, để nhớ về? Hay vốn dĩ lâu nay ta không nhìn những danh nhân ấy như một thành tố của nền văn hóa này, nên ta bỏ quên, ta lạnh nhạt?

Từ việc vinh danh của Google

Trịnh Công Sơn trên Google Doddle

Ngày 28/2, cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trở thành người Việt Nam đầu tiên xuất hiện trên trang chủ tiếng Việt của Google, nhân sinh nhật lần thứ 80 của ông. Thời điểm đó, hàng trăm tờ báo lớn nhỏ cũng như hàng triệu người Việt cảm thấy hãnh diện, tự hào. Sau Trịnh Công Sơn, danh họa Bùi Xuân Phái cũng được Google gọi tên nhân 99 năm ngày sinh của ông.

Mới đây nhất, ngày 6/10, nữ sĩ Xuân Quỳnh nối gót hai danh nhân trước, trở thành từ khóa “hot” trên các phương tiện thông tin đại chúng. Thông tin về nhà thơ Xuân Quỳnh cũng “phủ” đầy mạng xã hội.

Danh họa Bùi Xuân Phái cũng từng được Google vinh danh

Dĩ nhiên, được Google vinh danh là điều đáng để chúc mừng. Nhưng nói đi nói lại, đó cũng chỉ là bài toán kinh tế mà tập đoàn này tiến hành ở các quốc gia họ đang kinh doanh, thu lợi mà thôi.

Cần nhớ, Google Doodle chỉ là một biểu tượng thay thế tạm thời cho biểu tượng trên trang chủ của Google, nhằm chúc mừng các ngày lễ, các sự kiện, thành tựu và con người ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, không riêng gì Việt Nam.

Với họ, đây là một thao tác đã được lập trình sẵn; có tiến hành ở Việt Nam thêm hàng trăm lượt nữa, cũng chẳng mất mát gì; lại được đánh giá là gần gũi, thân thiện với văn hóa địa phương; từ đó thu lợi nhuận qua quảng cáo, các lượt truy cập, sử dụng Google.

Biết thế để thấy, Google là doanh nghiệp rất thức thời khi tạo ra một công cụ có khả năng gợi nhắc ký ức cộng đồng. Đó cũng là điều mà ngành văn hóa của ta đang thiếu, chưa đoái hoài đến từ trước đến nay.

Khoảng trắng ứng xử danh nhân

Nữ sĩ Xuân Quỳnh là nhân vật thứ ba sau nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, danh họa Bùi Xuân Phái được Google vinh danh

Nhìn lại lịch sử Việt Nam, các danh nhân nào chỉ có Trịnh Công Sơn, Bùi Xuân Phái hay Xuân Quỳnh. Từ quân sự, giáo dục, y tế, khoa học… đến văn hóa, chúng ta đều có thể kể ra hàng loạt cái tên có sức ảnh hưởng và được xác tín bằng những giá trị họ để lại cho đời.

Trong số đó, có không ít nhân vật xuất sắc mà danh tiếng vượt khỏi biên giới, lên tầm quốc tế, như Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, giáo sư Hoàng Tụy, Trần Văn Khê, đại thi hào Nguyễn Du…

Chúng ta có tuyển tập nhiều kỳ Danh nhân đất Việt, nhưng không phải ai cũng tìm đọc. Môn lịch sử bị “ghẻ lạnh” ngay trên ghế nhà trường. Những bộ phim tài liệu về ngàn năm danh nhân đất Việt, không phải ai cũng thấy hứng thú. Chúng ta có những tên đường, tên phố danh nhân, nhưng đến bảng thông tin vắn tắt về họ gắn với tên đường, tên phố cũng không có.

Vài năm trước, một chương trình truyền hình đã phỏng vấn nhiều học sinh về vua Quang Trung – Nguyễn Huệ. Thật bất ngờ, câu trả lời của nhiều em khiến người nghe phải sửng sốt: Quang Trung – Nguyễn Huệ là anh em, Nguyễn Huệ với Nguyễn Du là một, Quang Trung – Nguyễn Huệ là hai cha con. Đó là một sự thật cay đắng.

Học giả Vương Hồng Sển, trước khi qua đời, đã quyết định hiến tặng ngôi nhà (Vân Đường phủ) và hơn 800 cổ vật cùng lượng sách quý đồ sộ cho Nhà nước, với hy vọng thành lập một bảo tàng mang tên ông.

Dù được UBND TP.HCM xếp hạng di tích lịch sử cấp thành phố và từng được các tạp chí danh tiếng như Times, Newsweek… đến tìm hiểu, giới thiệu về ngôi nhà chứa đựng nhiều giá trị văn hóa này; nhưng 1/4 thế kỷ đã trôi qua, kể từ ngày mất của cụ, nguyện vọng cuối cùng về một bảo tàng vẫn chưa thành, căn nhà thì xập xệ, xuống cấp, thoi thóp giữa Sài Gòn. Đó là một sự thật cay đắng.

Ngôi nhà Trần Văn Khê đã có chủ mới

Hay như ngôi nhà lưu niệm của giáo sư Trần Văn Khê ở quận Bình Thạnh – nơi chứa đựng một khối tư liệu đồ sộ liên quan đến nghiên cứu, giới thiệu âm nhạc truyền thống Việt Nam và âm nhạc thế giới, được giao cho Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM, thì đến nay, cũng gần như rơi vào quên lãng. Đó lại là một sự thật cay đắng.

Là học giả lớn của Việt Nam, một trong những người có công truyền bá chữ quốc ngữ giai đoạn đầu, chủ bút của tờ Gia Định báo từ giai đoạn giữa năm 1881 – 1896 (theo nhà nghiên cứu Trần Nhật Vy), nhưng cái tên Trương Minh Ký vẫn lạ lẫm với nhiều người Việt hôm nay. Ông hay bị nhầm với thầy mình là Trương Vĩnh Ký. Ngôi mộ của ông, ở quận Gò Vấp, nằm sau một dãy nhà trọ bình dân, bị hoang lạnh, đổ nát, cỏ dại bao trùm. Đó cũng là một sự cay đắng mang tên “danh nhân văn hóa”.

Còn có thể kể ra rất nhiều ví dụ khác, cho thấy cách ứng xử lạnh lùng, thiếu trân trọng, thậm chí là “vô văn hóa” đối với di sản danh nhân văn hóa ở ta; để ta nhìn cách người ngoài ứng xử mà hổ thẹn, để ta nhìn họ mà cảm thấy không bằng.

Khi đó, những khua chiêng gõ trống chúc mừng là gì, nếu không phải là những cảm thán trào lộng đáng kinh ngạc, những vi bằng “phản tố” ứng xử của ta với những chứng nhân văn hóa – lịch sử của một thời?!

Trịnh Công Sơn, Bùi Xuân Phái, Xuân Quỳnh và có thể sẽ có thêm nhiều nhân vật khác sẽ được Google vinh danh. Và như một trình tự lặp đi lặp lại, biểu thị cho tâm lý đám đông ấy, người ta cũng ca tụng Xuân Quỳnh như đã từng ca tụng về Trịnh Công Sơn hay Bùi Xuân Phái.

Căn phòng 6m2 của vợ chồng danh nhân Lưu Quang Vũ – Xuân Quỳnh đang bị mối mọt gặm dần

Ngày 6/10, nữ sĩ Xuân Quỳnh được gọi tên. Họ nhắc về thơ, về đời, về người chồng tài hoa của bà. Nhưng tôi lại nhớ căn nhà vỏn vẹn 6m2 ở Phố Huế (Hà Nội) của họ – căn nhà đã bị cắt điện, cắt nước, tối om, mối mọt đang ăn dần sách vở. Nơi đó, di sản nghệ thuật của Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ đang dần trở thành phế tích mỗi ngày.

Đừng ca tụng, nếu như chúng ta không nhớ, không trân trọng họ trong đời sống văn hóa ngày hôm nay. Đừng ca tụng, nếu không, tất cả chỉ là những sáo ngôn cho một thời “đồ đểu” (như cách nói của Lưu Quang Vũ) đang rã dần những giá trị được cất lên từ bản dạng nghèo nàn văn hóa. 

Đậu Dung

https://www.phunuonline.com.vn/van-hoa-giai-tri/cam-than-trao-long-mang-ten-xuan-quynh-trinh-cong-son-bui-xuan-phai-166450/

TRẦN VĂN KHÊ – NGƯỜI TRUYỀN LỬA

TRẦN VĂN KHÊ – NGƯỜI TRUYỀN LỬA

Phuong Nam Phim

Published on Aug 11, 2017




© 2017 by PHƯƠNG NAM PHIM ¤ PLEASE DO NOT RE-UPLOAD! Bản chính thức Full HD được phát hành chính thức tại hệ thống kênh Youtube của PHƯƠNG NAM PHIM. ♥♫♥♪ ♫ Subscribe: https://www.youtube.com/channel/UCeKT… ♫ Website: http://pnf.com.vn/ ♫ Fanpage: https://www.facebook.com/Phuong-Nam-P

Vu Lan 2011. Giao lưu với Giáo sư Trần Văn Khê – Thiền Tôn Phật Quang

Vu Lan 2011. Giao lưu với Giáo sư Trần Văn Khê – Thiền Tôn Phật Quang

Sen Hồng Published on Sep 20, 2018

Kênh Sen Hồng là kênh Youtube chính thức duy nhất tổng hợp các bài giảng và các sáng tác nhạc của Thượng Tọa Thích Chân Quang do Công ty TNHH Văn Hóa Pháp Quang sản xuất. YouTube : http://www.youtube.com/c/SenHongPhapQuang Công ty TNHH Văn Hóa Pháp Quang : – ÐC : 28 Hoàng Diệu, P.10, Q. Phú Nhuận, TP. HCM – ÐT : (028)38.462.646 – 38.449.893 – Mobile : 0986.861.338 – Fax : (028)38.479.599 YouTube : http://www.youtube.com/c/SenHongPhapQuang

List of newsletters of the Musical Acoustics Group from 1963 to 1987, PARIS

List of newsletters of the Musical Acoustics Group

, dont les séminaires, de 1963 à 1987, ont contribué notablement à la diffusion des activités de recherche du LAM.

Pour télécharger un bulletin au format « pdf », cliquez sur son numéro.
N° 1 – VAN ESBROECK (G.) – Le problème des gammes. 1963 (C.R. par E.Leipp).
N° 2 – BARBAUD (P.) – La composition de la musique à la machine à calculer. 1964 (C.R. par E. Leipp et M. Castellengo).
N° 3 – LEIPP (E.) – Le problème du diapason. 1964.
N° 4 – LEIPP (E.) – Appareillages et méthodes en acoustique musicale. 1964.
N° 5 – MOLES (A.) – Théorie informationnelle de la musique. 1964 (C.R. par E.Leipp et M. Castellengo).
N° 6 – CASTELLENGO (M.) – La musique des oiseaux. 1964.
N° 7 – PHILIPPOT (M.) – Confidences d’un ancien preneur de son. 1965 (C.R. par J. S. LIENARD).
N° 8 – CASTELLENGO (M.) – La notation des musiques extra-européennes à l’aide du sonagraphe. 1965.
N° 9 – MOLES (A.) – Les musiques expérimentales. 1965 (compte rendu par J. S Liénard).
N° 10 – LEIPP (E.) – Les champs de liberté des instruments de musique 1965
N° 11 – WINCKEL (F.) – Influence de l’acoustique des salles sur l’évolution du style musical. 1965 (C.R. par E. Leipp et M. Castellengo)
N° 12 – LEIPP (E) et TRAN VAN KHE – La vielle, le monocorde vietnamien, la cithare à 16 cordes. 1965.
N° 13 – CANAC (F.) – L’acoustique des théâtres antiques. 1965 (compte rendu par J. S. Liénard)
N° 14 – RISSET (J. C.) – La situation de l’acoustique musicale aux U. S. A. 1965 (C.R. par E. Leipp et M. Castellengo).
N° 15 – PERROT (M.) – L’orgue hydraulique antique. 1965 (C.R. par M. Castellengo).
N° 16 – LEIPP (E.) – Le violon. 1965.
N° 17 – TOURTE (R.) – Les instruments à percussion. 1966 (C.R. par J. S. Liénard).
N° 18 – CASTELLENGO (M.) – Les cloches, 1966.
N° 19 – CHAILLEY (J.) – Expériences de corrélation entre musique et parole. 1966.
N° 20 – LEIPP (E.) – Le problème du bruit. 1966
N° 21 – NAGESWARA RAO, TRAN VAN KHE et LEIPP – La vina et la musique de l’Inde du Sud. 1966.
N° 22 – LEIPP (E.). – Information sémantique et parole : essai d’une gestalttheorie. 1966.
N° 22bis – LIENARD (J S.) – Le dictionnaire des éléments phonétiques et ses applications à la linguistique.
N° 23 – CASTELLENGO (M.) – Le galoubet. 1966.
N° 24 – LEIPP (E.) et TRAN VAN KHE – Le Sarod 1966
N° 25 – LEIPP (E.) et WRIGHT (J.) – La guimbarde. 1967
N° 26 – LIENARD (J. S.) – Les haut-parleurs. 1967
N° 27 – MEYER (J.) – Le pouvoir directionnel des instruments de musique. 1967 (traduit et présenté par E. Leipp).
N° 28 – GILOTAUX (P.) – La fabrication des disques. 1967 (compte rendu par J. S. Liénard).
N° 29 – LEIPP (E.) et TRAN VAN KHE – Réflexions sur les problèmes du rythme dans les musiques orientales. 1967.
N° 30 – Colloque de 4 conférences sur le thème du piano, organisé par le GAM LEIPP (E.). – Le piano, les mesures physiques et leur signification CASTELLENGO (M.) – Peut-on apprécier objectivement le style des pianistes ? LIENARD (J. S.). – Mécanique et toucher du piano. DORGEUILLE (C.) – Essai d’analyse anatomo-physiologique de la technique de clavier.
N° 31 – Sur l’art vocal en Inde. 1967. PURI (M.) – Les dix thalas de la musique de l’Inde du Nord et leur correspondance avec les différentes heures de la journée. TRAN VAN KHE – Les trois styles de chant en Inde : le dhrupad, le khayal et le Tumri. CASTELLENGO (M.). – Étude acoustique d’un exemple d’art vocal : le Khayal.
N° 32 – LEIPP (E.) – Mécanique et acoustique de l’appareil phonatoire. 1967.
N° 33 – Tour d’horizon sur les musiques expérimentales. 1968. CHIARUCCI (H.) et REIBEL (G.). – Techniques et manipulations en musique électro-acoustique. MOLES (A.) – L’évolution actuelle des musiques expérimentales. LEIPP (E.) – La musique expérimentale au Laboratoire d’acoustique.
N° 34 – LIENARD (J. S.) – La machine parlante de Kempelen. 1968.
N° 35 – CASTELLENGO (M.) – La flûte traversière. 1968.
N° 36 – LEIPP (E.) – Le diapason. 1968.
N° 37 – LEIPP (E.) – L’intelligibilité de la parole. 1968.
N° 38 – LEIPP (E.) et collab. ISOIR. – La régale. 1968.
N° 39 – CASTELLENGO (M.) et TAMBA (A.) – La musique du théâtre nô japonais.
N° 40 – LEIPP (E.), CASTELLENGO (M.) et AGOSTINI (F.) – Le nouveau diapason électronique à l’Opéra. 1969.
N° 41 – LEIPP (E.) avec la collaboration de THEVET (L.) – Le cor d’orchestre. 1969.
N° 42 – CASTELLENGO (M.) – Les paramètres sensibles d’un tuyau à bouche d’orgue. 1969.
N° 43 – TARNOCZY (T.) et LEIPP (E.) – Le problème de la reconnaissance automatique de la parole. 1969.
N° 44 – TRAN VAN KHE, LEIPP, avec la collaboration de CHENG SHUI CHENG – Quelques instruments traditionnels de Chine : ocarina, flûtes, orgue à bouche, pipa. 1969.
N° 45 – RISSET (J. C.) – Un ordinateur comme instrument de musique. 1969.
N° 46 – BOREL-MAISONNY (S.) – Orthophonie. 1970.
N° 47 – LEIPP (E). Introd. AGOSTINI (F.) et SAUGUET (H.) – Réunion sur le diapason. 1970.
N° 48 – MEYER (J.) – La disposition des musiciens dans l’orchestre. Intrododuction et traduction de LEIPP (E.)1970.
N° 49 – LEIPP (E.) – Réflexions sur la mécanique et l’acoustique de l’oreille moyenne. 1970.
N° 50 – LEIPP (E.) – Le GAM : rétrospective et prospective. 1970.
N° 51 – WINCKEL (F.) – Architecture et musique spatiale. 1970.
N° 52 – DEWEVRE (J.) – La chaîne d’écoute phonographique. 1970.
N° 53 – LEIPP (E.), CASTELLENGO (M.), SAPALY (J.), LIENARD (J. S.), TEIL (D.), MLOUKA (M.) et CALINET (A.).- Colloque sur la parole. 1971.
N° 54 – KAUFMANN (K. et M.) et LEIPP (E.) – Le Clavisimbalum d’Arnaut de Zwolle 1971.
N° 55 – LEIPP (E.), TRAN VAN KHE et TRAN QUANG HAI – De quelques instruments vietnamiens. 1971.
N° 56 – LEIPP (E.), SAPALY (J.) et CASTELLENGO (M.) – Présentation de notre orgue expérimental, le CANTOR. 1971.
N° 57 – LEIPP (E.). – Le violon de Savart. 1971.
N° 58 – LEIPP (E.) et LEOTHAUD (G.) – La musique religieuse du Tibet. 1971.
N° 59 – LEIPP (E.), MONICHON (P.), ABBOTT (A.) et LORIN (E.) – L’accordéon (2 réunions). 1972.
N° 60 – MARTENOT (M.) et LEIPP (E.) – Les ondes Martenot. 1972. [Exemplaire OCR]
N° 61 – LEGROS (H.) – Le problème du tempérament. 1972.
N° 61bis – ETIENNE (L.) – Le tempérament décimal. 1972.
N° 62 – LEIPP (E.) – Les problèmes de I’audition stéréophonique. 1972.
N° 63  – LEIPP (E.) et LEGUY (J.) – Le serpent et le cornet à bouquin. 1972.
N° 64 – LEIPP (E.) et ABBOTT (A.) – Un compositeur contemporain devant son œuvre :  » Eve et l’Ordinateur » de A. ABBOTT. 1972.
N° 65 – CEOEN (C.) – La prise de son moderne. 1973.
N°66 – LANNOY (J.) et LEIPP (E.). – Le carillon : Problèmes musicaux, problèmes acoustiques. 1973.
N° 67 – WINCKEL (R.) – Comment mesurer l’efficacité de la voix chantée. 1973. CASTELLENGO (M.). – Etude acoustique de la voix des chanteurs professionnels. 1973.
N° 68 – LEIPP (E.) – Images et traitement optique d’images. 1973.
N° 69 – VAL (J. L.) – La serinette. 1973.
N° 70 – ANCION (M.), BARIAUX (M.). – La clarinette : histoire et musique ; aspects acoustiques. 1973. [Exemplaire OCR]
N° 71 – LEIPP (E.) – Réflexions et expériences sur la clarinette. HEINRICH (J. M.). – Étude botanique de l’anche de roseau. 1973.
N° 72 – BESNAINOU (Ch.) – Les luths. 1974.
N° 73 – MEGEVAND (D.) et LEIPP (E.) – La harpe celtique : histoire et musique, anatomie, physiologie et acoustique. 1974.
N° 74 – LEIPP (E.). – Sons nouveaux sur les instruments de musique mécaniques. CASTELLENGO (M.). – Sons multiples non harmoniques sur les tuyaux a embouchure de flûte. 1974.
N° 75 – CORDIER (S.) – Le problème de l’accordage des instruments à clavier. 1974.
N° 76 – AUTEURS DIVERS.- Table ronde : accordage et audition. 1974.
N° 77 – DUPARCQ (J. J.) – Contribution à l’étude des proportions numériques dans l’œuvre de Jean-Sébastien BACH : extraits. 1975.
N° 78 – LEIPP (E.) – Le groupe de musique expérimentale de Bourges. 1975. Présentation par CLOZIER (C.) suivie de : Les musiques expérimentales : leur passé et leur avenir (Réflexions critiques par LEIPP (E.).
N° 79 – MORAGA (R.) – Musique d’au-delà des Andes. 1975.
N° 80 – COMBASTET (M.) – L’audition colorée : mythe ou réalité ? 1975.
N° 81 – BORREDON (J.) – Pour une parole naturelle. 1975.
N° 82-83 – KERGOMARD (J.) et HEINRICH(J. M.) – Le basson : historique, fabrication, acoustique. L’anche double : fabrication, botanique, le grattage. 1975.
N° 84 – TRAN VAN KHE – Où en sont actuellement les musiques traditionnelles. 1976.
N° 85 – LEIPP (E.) – Peut-on tester l’oreille musicienne ? 1976.
N° 86 – BOREL-MAISONNY (Mme) – La radio-cinématographie de l’appareil phonatoire et ses possibilités en rééducation. 1976.
N° 87 – LEIPP (E.) – Animation artistique et acoustique : le  cas Fontevraud. 1976.
N° 88 – LEIPP (E.), MAURIN (Mme), GENET-VARCIN (M.) – La cloche-diapason du Conservatoire national de Musique de Paris. 1976.
N° 89 – LEIPP (E.) et MAS (A.) – Une enceinte acoustique instrumentale. 1977.
N° 90* – CASTELLENGO (M.) – La flûte à bec. 1977. (pas de texte)
N° 91 – BENETT-CLARK et LEIPP (E.) – Émissions sonores des insectes. 1977.
N° 92 – FRIEDERICH (D.) – La guitare classique. 1977.
N° 92bis – HINAJOSA (X.) – La vihuela. 1977.
N° 93 – LEIPP (E.) – Les problèmes acoustiques de la guitare. 1977.
N° 94 – LEIPP (E.) – L’intégrateur de densité spectrale IDS et ses applications. 1977.
N° 95* – KERGOMARD (J.) – La théorie élémentaire des tuyaux. 1978. (pas de texte)
N° 96 – MARCHI et LEIPP (E.) – La clarinette système Marchi. 1978.
N° 97 – CASTELLENGO (M.), SECHET (P.), DROUIN (F.).- La flûte traversière à une clé, dite flûte baroque. 1978.
N° 98 – FLORIOT (F.) et FONTAINE (J. M.). – Les vases acoustiques du Moyen Age. 1978.
N° 99 – LEIPP (E.) – La qualité acoustique des lieux d’écoute. 1978.
N° 100 – LEIPP (E.) – Bilan de 100 réunions du GAM. + un thème « Le système métrique des musiciens ». 1978.
N° 101 – LARACINE (A.) – La retransmission de l’espace sonore. 1980.
N° 102 – MOLES (A.). – La perception des paysages sonores urbains. 1980.
N° 103 – ASTA (V.) – La synthèse numérique en temps réel. 1980.
N° 104 – GOUSTARD (M.) – Morphologie acoustique et mécanismes de synchronisation des vocalisations territoriales des gibbons à favoris blancs. 1980.
N° 105 – MAILLOT (C.) et SIMANE (M.) – La fabrication des cordes harmoniques. 1981.
N° 106-107 – HEINRICH (J.M.). – Facture d’anches anciennes, facture instrumentale et épistémologie. 1981.
N° 108* – ARTAUD (P.Y.) – La flûte traversière aujourd’hui : faisons le point. 1982. (pas de texte)
N° 109 – CAUSSE (R.) et SLUCHIN (B.) – Les sourdines de la famille des cuivres. 1982.
N° 110 – GARCIA (A.). – La directionnalité des instruments de musique. 1983
N° 111* – ROUBEAU (B.) et CASTELLENGO (M.) – La notion de registre vocal. 1982.
N° 112* – CADOZ (C.) – Synthèse gestuelle des sons musicaux. 1985.
N° 113 – FONSEQUE (R.) – Présentation d’un super-tempérament de 24 sons à l’octave. 1986.
N° 114 – PICARD (F.) – Sur l’accord de quelques jeux de phonolithes et de cloches de la Chine ancienne. 1986.
N° 115 – GILBERT (J.) KERGOMARD (J.) et KIENTZY (D.). – Le saxophone : historique, acoustique et jeu. 1987.

http://www.lam.jussieu.fr/BulletinsGAM.php

http://www.lam.jussieu.fr/BulletinsGAM.php

GS TS Trần Văn Khê trò chuyện trên Gala Ngày trở về 2011

GS TS Trần Văn Khê trò chuyện trên Gala Ngày trở về 2011

Linku Xavier Ajoutée le 12 juin 2015 « Tôi sẽ tiếp tục làm công việc từ ngày xưa, tiếp tục việc làm theo lý tưởng: sống nhờ Trời Phật hưởng hồng ân và sẽ luôn luôn làm việc tới hơi thở cuối cùng… » Đó là chia sẻ của GS TS Trần Văn Khê trong chương trình Gala Ngày trở về phát sóng trong dịp Tết Tân Mão 2011 trên VTV1 và VTV4

QUỲNH TRANG :Di sản GS Trần Văn Khê rơi vào quên lãng


Thứ Tư, ngày 21/11/2018 – 06:20

Di sản GS Trần Văn Khê rơi vào quên lãng

(PL)- Hơn ba năm kể từ ngày GS-TS Trần Văn Khê mất, ngoài những buổi kỷ niệm nho nhỏ của học trò tổ chức tại quê nhà ông ở làng Vĩnh Kim (Tiền Giang), tất cả di sản ông để lại, căn nhà nơi ông trú ngụ những ngày cuối đời đều tạm rơi vào quên lãng. Tin liên quan

GS-TS Trần Văn Khê rời cõi tạm gần ba năm rưỡi. Kể từ ngày đó TP.HCM đã vắng bóng ông trong những buổi trò chuyện âm nhạc. Điều đáng nói là không chỉ mất một con người tài hoa, TP đã mất luôn một địa chỉ văn hóa.

Chín năm cuối đời giữ ấm

Năm 2006, ở tuổi 85, GS-TS Trần Văn Khê chính thức về nước với tâm nguyện được sống và làm việc những năm cuối đời tại Việt Nam. Sự trở về của ông cũng đã được bàn bạc và có nhiều buổi gặp gỡ giữa ông và các cơ quan liên quan, trong đó đáng chú ý là đề án nhà Trần Văn Khêdo Sở Văn hóa Thông tin TP.HCM (nay là Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM) khởi thảo vào tháng 11-2003. Năm 2005, UBND TP.HCM giao cho Sở ngôi nhà tại địa chỉ 32 Huỳnh Đình Hai (quận Bình Thạnh, TP.HCM) để làm nơi bảo quản, trưng bày hiện vật và nơi ở cho GS Khê những năm cuối đời.

Năm 2006, Sở đã có quyết định cùng các bên liên quan GS Khê tiếp nhận: 435 kiện sách, trong đó hơn 10.000 đầu sách, tạp chí liên quan đến nghiên cứu, giới thiệu âm nhạc truyền thống Việt Nam và âm nhạc thế giới; hiện vật âm nhạc (nhạc cụ, đĩa, băng ghi âm…)… Trong đó có khoảng 200 quyển du ký gắn với cuộc đời GS Khê.

Chín năm kể từ khi được bàn giao cho đến khi GS Khê mất, 32 Huỳnh Đình Hai đã trở thành một địa chỉ văn hóa. Đó là nơi làm sống lại và cung cấp kiến thức về cải lương, hát bội, đờn ca tài tử, nhã nhạc, âm nhạc truyền thống… hoàn toàn miễn phí dành cho công chúng.

Di sản GS Trần Văn Khê rơi vào quên lãng - ảnh 1


GS-TS Trần Văn Khê cùng NSƯT Hải Phượng hòa đàn tại tư gia GS Khê. Ảnh: Tư liệu

Mất rồi một địa chỉ văn hóa

Chưa đến hai tháng sau khi GS-TS Trần Văn Khê mất, từ một ngôi nhà chứa đủ tất cả phần hồn lẫn phần xác của cuộc đời GS Khê đã được chia làm ba. Phần “xác” căn nhà 32 Huỳnh Đình Hai đã được bàn giao cho Trung tâm Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa TP.HCM (gọi tắt là Trung tâm Bảo tồn di tích) quản lý. Toàn bộ phần “hồn” của căn nhà gồm hiện vật, tài liệu, sách… gắn bó với cuộc đời, sự nghiệp GS Khê lần lượt do Bảo tàng TP.HCM, Thư viện Khoa học tổng hợp quản lý.

Nay, ngay tại 32 Huỳnh Đình Hai là văn phòng của Trung tâm Bảo tồn di tích. Ông Trương Kim Quân, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích, cho biết: “Theo quyết định của UBND TP.HCM thì Trung tâm Bảo tồn di tích quản lý phần nhà để làm văn phòng trung tâm. Phần kho tư liệu phía sau sẽ do Bảo tàng TP.HCM quản lý. Và phương án được đưa ra là kỷ niệm ngày mất hoặc ngày sinh GS-TS Trần Văn Khê vào những năm chẵn, phía bảo tàng sẽ tổ chức trưng bày chuyên đề chứ không có một nhà trưng bày cuộc đời GS Khê”.

Có thể nói từ ngày GS Khê mất, xem như người dân TP.HCM đã thật sự mất đi một địa chỉ văn hóa quen thuộc của mình. Từ đó đến nay, TP nào còn những buổi nói chuyện về cải lương, đờn ca tài tử, múa bóng rỗi… Những gương mặt quen thuộc của các buổi hòa đờn cũng ngày càng vắng xa, như nhạc sư Vĩnh Bảo đã lui về quê nhà Cao Lãnh; NSƯT Ba Tu cũng đã qua đời… Biết bao giờ âm nhạc truyền thống, những giá trị văn hóa riêng biệt của Việt Nam được định kỳ trở lại như thuở GS Khê còn sống? Ở đó, trong căn phòng ấm, các thế hệ công chúng cùng ngồi nghe, trò chuyện, chia sẻ về những điều đích thực Việt Nam.

Chưa có không gian để nhớ về GS-TS Trần Văn Khê Nói về không gian lưu niệm cho GS Khê, đúng là TP chưa có một địa chỉ của nhà văn hóa. Giờ chưa cần nhìn ra thế giới, ngay tại Cao Lãnh đã có một nhà trưng bày của nhạc sư Vĩnh Bảo; TP Huế có nhà Điềm Phùng Thị, nhà Lê Bá Đảng; còn chúng ta vẫn chưa có một không gian nhỏ nào đó cho GS Khê? Có thể không gian đó chính là nơi còn hơi ấm của giáo sư những ngày cuối đời. Bà NGUYỄN THẾ THANH, nguyên Phó Giám đốc Sở Văn hóa-Thông tin TP.HCM

QUỲNH TRANG


http://plo.vn/van-hoa/di-san-gs-tran-van-khe-roi-vao-quen-lang-803858.html