Catégorie : TRAN VAN KHE

HOÀNG GIANG : Học trò tưởng niệm 5 năm ngày mất cố GS.TS Trần Văn Khê

Học trò tưởng niệm 5 năm ngày mất cố GS.TS Trần Văn Khê

Thứ Tư, ngày 24/6/2020 – 22:08

Học trò tưởng niệm 5 năm ngày mất cố GS.TS Trần Văn Khê

(PLO)- Đông đảo các học trò, bạn hữu, người yêu quý cố GS.TS Trần Văn Khê đã cùng thắp nến tưởng niệm 5 năm ngày mất của ông. Tin liên quan


Những người học trò, bạn hữu, người yêu mến cố GS.TS Trần Văn Khê vốn là những cái tên đã quá quen thuộc với công chúng như NGƯT Phạm Thúy Hoan, NSND Kim Cương, NSƯT Hải Phượng, Nghệ sĩ Xuân Lan, Nghệ sĩ Diệu Thanh (ái nữ của nghệ sĩ ưu tú Diệu Hiền), TS Nguyễn Nhã, diễn giả văn hóa Hồ Nhựt Quang,…


Sau 5 năm cố GS.TS Trần Văn Khê về cõi vĩnh hằng, các môn sinh và nhiều người yêu quý văn hóa âm nhạc cổ truyền vẫn luôn kính nhớ đến người thầy.


Trong không khí thân mật mà trang nghiêm của lễ tưởng niệm, dòng người xếp thành hàng dài, tay cầm hoa và nến lần lượt kính dâng lên người thầy quá cố.


Như thường lệ, mỗi năm tại TP.HCM, CLB Nghiên cứu và vinh danh văn hóa Nam Bộ (CLB từng được cố GS.TS Trần Văn Khê dìu dắt) đều đứng ra tổ chức lễ tưởng niệm để mọi người đến tri ân thầy.


NSND Kim Cương xúc động dâng hương tưởng niệm tròn 5 năm ngày mất của thầy Trần Văn Khê.


Sau phần lễ, mọi người cùng ngồi lại kể nhau nghe những kỷ niệm về người thầy, cũng như nhắc nhau sống xứng đáng với những lời dạy của thầy. HOÀNG GIANG

https://plo.vn/van-hoa/hoc-tro-tuong-niem-5-nam-ngay-mat-co-gsts-tran-van-khe-920421.html

NGUYỄN ĐẮC XUÂN : Với nhà dân tộc nhạc học TRẦN VĂN KHÊ »Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình »

NGUYỄN ĐẮC XUÂN : Với nhà dân tộc nhạc học TRẦN VĂN KHÊ »Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình »

TRẦN VĂN KHÊ và NGUYỄN ĐẮC XUÂN

http://www.gactholoc.com/c31/t31-656/voi-nha-dan-toc-nhac-hoc-tran-van-khe-nam-muoi-nam-ay-biet-bao-nhieu-tinh.html

http://www.gactholoc.com/c31/t31-657/voi-nha-dan-toc-nhac-hoc-tran-van-khe-nam-muoi-nam-ay-biet-bao-nhieu-tinh-ky-2.html

http://www.gactholoc.com/c31/t31-658/voi-nha-dan-toc-nhac-hoc-tran-van-khe-nam-muoi-nam-ay-biet-bao-nhieu-tinh-ky-3.html

http://www.gactholoc.com/c31/t31-659/voi-nha-dan-toc-nhac-hoc-tran-van-khe-nam-muoi-nam-ay-biet-bao-nhieu-tinh-ky-4.html

Không thể đi ngược lại trào lưu của giới trẻ hiện nay,GS TRẦN VĂN KHÊ chỉ nhắc cho các bạn trẻ vài điều

Tran TruongcaApril 25 at 1:41 PM

« Tôi không có ở trong nước, nhưng ngang qua các chương trình nhạc trẻ trên truyền hình, tại các tụ điểm, hay trong các trang nhà trên mạng, đa số giới trẻ không thích nhạc dân tộc, thích tân nhạc và các loại nhạc Âu Mỹ. Sở dĩ có tình trạng đó là như tôi đã viết trong bài « Căn bịnh mãn tính của Âm nhạc truyền thống VN », vì các hoàn cảnh lịch sử, chánh trị, kinh tế trong nước ta từ lâu đã làm cho trẻ em không còn được bài giáo dục âm nhạc đầu tiên qua câu hát ru của mẹ, không nghe những câu hò điệu lý trong đồng quê, qua những phương tiện truyền thông đại chúng gặp những loại nhạc trẻ từ phương Tây làm cho giới trẻ xa lần và không hiểu chi về nhạc dân tộc, tạo nên một mặc cảm tự ti, một tánh vọng ngoại trong cả nước và đặc biệt trong giới trẻ.

Không thể đi ngược lại trào lưu của giới trẻ hiện nay, tôi chỉ nhắc cho các bạn trẻ nhớ rằng:

𝑵𝒈𝒖̛𝒐̛̀𝒊 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎 đ𝒂̃ 𝒉𝒚 𝒔𝒊𝒏𝒉 𝒃𝒂𝒐 𝒏𝒉𝒊𝒆̂𝒖 𝒙𝒖̛𝒐𝒏𝒈 𝒎𝒂́𝒖 đ𝒆̂̉ 𝒍𝒂̂́𝒚 𝒍𝒂̣𝒊 𝒄𝒉𝒖̉ 𝒒𝒖𝒚𝒆̂̀𝒏 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄. 𝑵𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎, 𝒏𝒈𝒖̛𝒐̛̀𝒊 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎 𝒍𝒂̀𝒎 𝒄𝒉𝒖̉, 𝒕𝒉𝒊̀ 𝒗𝒂̆𝒏 𝒉𝒐𝒂́ 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎 𝒄𝒖̃𝒏𝒈 𝒑𝒉𝒂̉𝒊 𝒄𝒐́ đ𝒊̣𝒂 𝒗𝒊̣ 𝒄𝒉𝒖̉ 𝒏𝒉𝒂̀. 𝑪𝒂́𝒄 𝒗𝒂̆𝒏 𝒉𝒐𝒂́ 𝒌𝒉𝒂́𝒄 𝒍𝒂̀ 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉. 𝑪𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒂 𝒉𝒊𝒆̂́𝒖 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉, 𝒎𝒐̛̀𝒊 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒗𝒂̀𝒐 𝒏𝒉𝒂̀ 𝒗𝒂̀ 𝒕𝒊𝒆̂́𝒑 đ𝒂̃𝒊 𝒏𝒐̂̀𝒏𝒈 𝒉𝒂̣̂𝒖. 𝑵𝒉𝒖̛𝒏𝒈 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 đ𝒆̂́𝒏 𝒄𝒉𝒐̛𝒊 𝒕𝒉𝒊̀ 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒐̛̉ 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒑𝒉𝒐̀𝒏𝒈 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉. 𝑲𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒄𝒉𝒐̛𝒊 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒕𝒉𝒐̛̀𝒊 𝒈𝒊𝒂𝒏 𝒓𝒐̂̀𝑰 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒓𝒂 𝒗𝒆̂̀, 𝒄𝒉𝒐̛́ 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒌𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒕𝒉𝒆̂̉ 𝒐̛̉ 𝒍𝒖𝒐̂𝒏 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒏𝒉𝒂̀ 𝒄𝒖̉𝒂 𝒕𝒂, 𝒍𝒂̣𝒊 𝒄𝒐̀𝒏 𝒅𝒆̣𝒑 𝒃𝒂̀𝒏 𝒕𝒉𝒐̛̀ 𝒄𝒖́𝒂 𝒕𝒂 𝒕𝒉𝒐̛̀ 𝑶̂𝒏𝒈 𝒃𝒂̀, 𝒏𝒈𝒐̂̀𝒊 𝒕𝒉𝒆̂́ 𝒄𝒉𝒐̂̃ 𝒂̂́𝒚 𝒎𝒂̀ 𝒕𝒉𝒂𝒏𝒉 𝒏𝒊𝒆̂𝒏 𝒄𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒂 𝒍𝒂̣𝒊 𝒒𝒖𝒚̀ 𝒍𝒂̣𝒚 𝒕𝒓𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒏𝒉𝒖̛̃𝒏𝒈 𝒕𝒉𝒂̂̀𝒏 𝒕𝒖̛𝒐̛̣𝒏𝒈 𝒎𝒐̛́𝒊.

𝑨̂𝒎 𝒏𝒉𝒂̣𝒄 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎, 𝒏𝒉𝒖̛ 𝒕𝒊𝒆̂́𝒏𝒈 𝒏𝒐́𝒊 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎 𝒄𝒂̂̀𝒏 𝒕𝒉𝒊𝒆̂́𝒕 𝒄𝒉𝒐 𝒔𝒖̛̣ 𝒎𝒂̂́𝒕 𝒄𝒐̀𝒏 𝒄𝒖̉𝒂 𝒅𝒂̂𝒏 𝒕𝒐̣̂𝒄 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎, 𝒏𝒉𝒖̛ 𝒄𝒐̛𝒎 𝒄𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒂 𝒂̆𝒏, 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒄𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒂 𝒖𝒐̂́𝒏𝒈. 𝑨̂𝒎 𝒏𝒉𝒂̣𝒄 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒏𝒈𝒐𝒂̀𝒊 𝒄𝒐́ 𝒕𝒉𝒆̂̉ 𝒄𝒐́ 𝒔𝒖̛̣ 𝒉𝒂̂́𝒑 𝒅𝒂̂̃𝒏 𝒏𝒉𝒖̛ 𝒐̛́𝒕 𝒍𝒂̀𝒎 𝒄𝒉𝒐 𝒕𝒉𝒖̛́𝒄 𝒂̆𝒏 𝒕𝒉𝒆̂𝒎 𝒏𝒈𝒐𝒏, 𝒏𝒉𝒖̛ 𝒓𝒖̛𝒐̛̣𝒖 𝒎𝒂̣𝒏𝒉 𝒍𝒂̀𝒎 𝒄𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒂 𝒏𝒈𝒂̂𝒚 𝒏𝒈𝒂̂́𝒕. 𝑵𝒉𝒖̛𝒏𝒈 𝒄𝒐́ 𝒂𝒊 𝒄𝒐́ 𝒕𝒉𝒆̂̉ đ𝒆𝒎 𝒐̛́𝒕 𝒕𝒉𝒆̂́ 𝒄𝒐̛𝒎, đ𝒆𝒎 𝒓𝒖𝒐̛̣𝒖 𝒕𝒉𝒆̂́ 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄?

𝑵𝒆̂́𝒖 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒌𝒉𝒊 𝒄𝒉𝒐̛𝒊 𝒏𝒉𝒂̣𝒄 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒏𝒈𝒐𝒂̀𝒊 đ𝒆̂̉ đ𝒖̛𝒐̛̣𝒄 𝒌𝒊́𝒄𝒉 𝒕𝒉𝒊́𝒄𝒉 𝒏𝒉𝒖̛ 𝒂̆𝒏 𝒐̛́𝒕, 𝒉𝒂𝒚 𝒖𝒐̂́𝒏𝒈 𝒓𝒖̛𝒐̛̣𝒖, 𝒈𝒊̀𝒐̛́𝒊 𝒕𝒓𝒆̉ 𝒄𝒐́ 𝒕𝒉𝒆̂̉ 𝒗𝒂̂̃𝒏 𝒏𝒉𝒐̛́ 𝒗𝒂̀ 𝒉𝒐̣𝒄 𝒏𝒉𝒂̣𝒄 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒏𝒉𝒂̀, 𝒃𝒊𝒆̂́𝒕 𝒂𝒊 𝒍𝒂̀ 𝒄𝒉𝒖̉ 𝒂𝒊 𝒍𝒂̀ 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒕𝒉𝒊̀ 𝒄𝒉𝒐̛𝒊 𝒏𝒉𝒂̣𝒄 𝒏𝒈𝒐𝒂̣𝒊 𝒄𝒉𝒊̉ 𝒍𝒂̀ 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒕𝒉𝒖́ 𝒗𝒖𝒊 𝒎𝒂̀ 𝒌𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒍𝒂̀𝒎 𝒄𝒉𝒐 𝒄𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒂 𝒒𝒖𝒆̂𝒏 𝒃𝒐̂̉𝒏 𝒑𝒉𝒂̣̂𝒏 𝒄𝒖̉𝒂 𝒄𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒂 𝒍𝒂̀ 𝒑𝒉𝒂̉𝒊 𝒈𝒊𝒖̛̃ 𝒈𝒊̀𝒏 𝒗𝒐̂́𝒏 𝒒𝒖𝒊́ 𝒄𝒖̉𝒂 𝑪𝒉𝒂 𝑶̂𝒏𝒈 đ𝒆̂̉ 𝒍𝒂̣𝒊.

Những người hữu trách có phận sự giúp cho giới trẻ hiểu được cái hay, cái đẹp trong nhạc truyền thống, thì có hiểu mới thương, mới chịu khó luyện tập để biểu diễn, mới có thể thưởng thức được cái hay tàng ẩn trong nghệ thuật dân tộc.

Tôi có kinh nghiệm thấy nhiều em trẻ tuổi cảm động đến rơi nước mắt khi xem một trích đoạn hát bội sau khi nghe tôi phân tích cái hay trong hát bội, say sưa nghe tiếng trống Võ song tấu với Kèn trung trong Nhạc cung đình, sau khi nghe tôi phân tích về cái tế nhị trong cách đánh trống của người Việt… »

(Trích « Vietsciences phỏng vấn GS.TS Trần Văn Khê » – 25/10/2004)

ALBUM TRẦN VĂN KHÊ – TRUYỀN THUYẾT VỀ NHỮNG CÂY ĐÀN

ALBUM TRẦN VĂN KHÊ – TRUYỀN THUYẾT VỀ NHỮNG CÂY ĐÀN

1,009 views•Dec 26, 2017 Like Dislike Share SavePHUONG NAM PHIM AUDIO 4.96K subscribers © 2017 by PHƯƠNG NAM PHIM ¤ PLEASE DO NOT RE-UPLOAD! Bản chính thức Full HD được phát hành chính thức tại hệ thống kênh Youtube của PHƯƠNG NAM PHIM. ♥♫♥♪ ♫ Subscribe: https://www.youtube.com/channel/UCeKT… ♫ Website: http://pnf.com.vn/ ♫ Fanpage: https://www.facebook.com/Phuong-Nam-P… Rất cảm ơn các anh chị, các bạn đã ủng hộ chúng tôi trong suốt thời gian qua.

DIỄN VIÊN ĐIỆN ẢNH TRẦN VĂN KHÊ

DIỄN VIÊN ĐIỆN ẢNH TRẦN VĂN KHÊ

TRAN VAN KHE

GS Trần Văn Khê từng kể rằng vào khoảng năm 1947, có một người quen ở Sài Gòn là Nguyễn Chí Mai cho gia đình ông về ở chung trong một căn biệt thự lớn (ngăn đôi, mỗi gia đình ở nửa căn nhà). Cuộc sống đang ổn định thì ông Mai bị mật thám Pháp bắt đày đi Bà Rá (nay thuộc tỉnh Bình Phước) do hoạt động bí mật, ông Khê cũng bị theo dõi. Nhiều người thân khuyên ông nên đi Pháp để lánh mặt. Tháng 5.1949, Trần Văn Khê sang Pháp và thi vào trường Chánh trị Paris (dù trước đó ông từng là sinh viên trường Thuốc ở Hà Nội). Sau đó, ông lại tiếp tục làm luận án tiến sĩ, đề tài Âm nhạc Việt Nam ở Đại học Sorbonne (tốt nghiệp tháng 6/1958).

Trong gần 10 năm “dùi mài kinh sử”, ngoài giờ học, ông phải làm thêm nhiều công việc để kiếm tiền trang trải cho việc ăn học: viết báo, đi hát hoặc đánh đàn ở các nhà hàng, dịch văn kiện từ tiếng Pháp sang tiếng Việt cho những người Việt định cư ở Pháp, thâu âm cho hãng đĩa Oria (các bài hát của Lê Thương, Phạm Duy, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Hữu Ba, Thẩm Oánh…). Ông cũng tham gia lồng tiếng cho hàng trăm bộ phim của hãng phim Kikoine, đến năm 1955 thì ông bắt đầu đóng phim quảng cáo cho hãng rượu và xe hơi.

Mãi đến năm 1956, Trần Văn Khê mới được thỏa ước mơ từ thời thơ ấu: trở thành một diễn viên điện ảnh thực thụ. Bộ phim đầu tiên mà ông góp mặt là phim trinh thám của Pháp mang tên Ba chiếc thuyền trên dòng sông (La rivière des trois jonques). Ở phim này, ông đóng hai vai (vai cảnh sát trưởng và vai người Hoa chủ tiệm đồ cổ) bên cạnh hai diễn viên chính là Dominique Wims và Jean Gaven.

Liền đó, hãng phim Arthur Rank của Anh đang khởi quay bộ phim « Thành phố tựa như Alice » (A town like Alice) phỏng theo tiểu thuyết của nhà văn Úc Neille Shute kể lại thời kỳ Thế chiến 2, quân đội Nhật tiến chiếm các quốc gia vùng Thái Bình Dương, cai quản và hành hạ người dân bản xứ hết sức tàn ác.
Ông đạo diễn từ Anh sang Pháp tìm diễn viên thích hợp cho vai viên đại úy Sugaya người Nhật, rất tàn ác. Hãng phim Pháp tiến cử Trần Văn Khê và đạo diễn đã mời ông sang Anh thử vai.

————————————

Ông Khê nhớ lại: “Vừa bước xuống phi trường Luân Đôn, tôi đã nghe loa phóng thanh thông báo “Yêu cầu diễn viên điện ảnh Trần Văn Khê đến văn phòng sân bay có đại diện hãng phim đón”. Ở bên kia biển Manche, tôi là sinh viên Đại học Sorbonne, sang bên này tôi bỗng nhiên trở thành “diễn viên điện ảnh!”. Tại phim trường có gần 30 người Nhựt Bổn đang ngồi chờ thử vai này. Tôi thấy khó có hy vọng tranh vai được với những người Nhựt chính cống, bởi họ vừa rành tiếng Nhựt lại giỏi tiếng Anh. Cảnh quay chỉ diễn ra khoảng 5 phút, viên sĩ quan Nhựt đi từ điểm A sang điểm B, xoay người đi tới điểm C, giận dữ nói vài câu với một người rồi bạt tai người đó. Các điểm A, B, C được ghi sẵn dưới đất, tôi đi thử, từ điểm A đi tám bước chân đến điểm B, xoay người đi bảy bước đến điểm C. Mỗi khi diễn viên thử vai, có một máy quay phim chạy dọc theo đường ray để thu hình.

Một số người Nhựt khi thử vai hay nhìn xuống đất để canh chừng các điểm B, C, do đó họ đi không được tự nhiên, số khác thì bộ mặt căng thẳng không lộ được vẻ tức giận như yêu cầu. Đến lượt tôi, với bộ mặt hầm hầm sẵn sàng gây sự, từ điểm A, tôi đi đúng tám bước, xoay lại bước tiếp bảy bước, cau có nói mấy câu rồi bạt tai người đối diện. Đạo diễn lại yêu cầu hô khẩu lệnh trong quân đội. Những ứng viên Nhựt Bổn không ai từng ở trong quân đội nên chẳng ai biết hô làm sao. Riêng tôi, vì thời điểm quân đội Nhựt chiếm đóng Đông Dương (1941) tôi đang học trường Thuốc ở Hà Nội, mỗi sáng đi ngang qua trại lính Nhật đều nghe họ hô khẩu lệnh nghiêm “Kyô-Ske”. Đạo diễn chọn được năm người rồi yêu cầu diễn cảnh viên đại úy ra lệnh: “Đem nón và gươm ra đây” để xử tội người dân. Bốn người kia nói câu này một cách bình thường, riêng tôi ra lệnh một cách hùng hổ, loại “giọng gan” trong “ngữ khí hát tuồng” nên một tuần sau hãng phim mời tôi sang Anh ký hợp đồng.

Tôi được ở khách sạn Kensington Palace sang trọng, mỗi ngày có xe đưa đón đi đóng phim. Tới phim trường tôi hóa trang và mặc quân phục sĩ quan, kể từ lúc đó tôi hóa thân thành viên sĩ quan Nhựt đến nỗi có lần đạo diễn gọi “ông Trần Văn Khê”, tôi không để ý cứ đi tiếp chỉ đến khi ông ấy gọi “Đại úy Sugaya” tôi mới quay lại trả lời bằng tiếng Nhựt với giọng gây gổ khiến ông đạo diễn khen rối rít.

Tính tôi hiền lành, không quen đánh người vậy mà trong vai diễn này tôi lại phải đánh hết người này đến người khác. Đạo diễn lại yêu cầu đánh thật mạnh tay, không phải đánh một lần mà diễn đi diễn lại. Hai người đóng vai đại tá và đám lính tùy tùng bị tôi bạt tai nháo nhào. Đánh xong tôi còn thấy dấu tay mình hằn trên mặt họ. Đại úy Sugaya còn xô một phụ nữ té xuống vũng bùn… Sau mỗi buổi diễn tôi luôn đến xin lỗi các bạn diễn. Tôi đóng phim này trong 16 ngày, mỗi ngày được trả 30 bảng Anh (đã trừ thuế). Tính ra một ngày lương đóng phim ở Anh đủ cho tôi ăn gần 500 bữa cơm sinh viên ở Pháp. Mỗi ngày ngoài tiền lương theo hợp đồng, hãng phim còn cấp cho tôi 12 bảng Anh tiền ăn nên rất dư dả…”.

Cuối năm 1957, hãng phim Arthur Rank lại điện thoại cho Trần Văn Khê thông báo sắp khởi quay một bộ phim lớn mang tên Trên cầu sông Kwai (Sur le pont de rivière Kwai), diễn viên nổi tiếng Humphrey Bogart vào vai chính và hãng phim cũng dành cho Khê đóng một vai người Nhựt. Tuy nhiên do Humphrey Bogart đột ngột từ trần, hãng phim phải chọn diễn viên William Holden thay thế và anh này đã chọn một người Nhựt thứ thiệt trong ê-kíp của mình vào vai dự định dành cho Trần Văn Khê.

————————————

Và « Từ đó, tôi thoát ra khỏi nghệ thuật thứ bảy »!

Và ông trở lại với âm nhạc truyền thống nên đất nước mới có một GS Trần Văn Khê – Việt nhạc chi bảo của chúng ta ngày nay.GS.TS Trần Văn Khê chia sẽ nguyên văn về việc tham gia bộ phim này như sau « Tôi phải nói ngay, tôi đóng phim là một sự bắt buộc trong cuộc đời. Đó là thời gi…youtube.comGS.TS. TRẦN VĂN KHÊ VÀO VAI SĨ QUAN NHẬT BẢN TRONG PHIM ĐIỆN ẢNH VƯƠNG QUỐC ANH (1956)GS.TS Trần Văn Khê chia sẽ nguyên văn về việc tham gia bộ phim này như sau « Tôi phải nói ngay, tôi đóng phim là một sự bắt buộc trong cuộc đời. Đó là thời gi…

67 views•Jan 31, 2020 3 0 Share SaveSang Nguyen 240 subscribers GS.TS Trần Văn Khê chia sẽ nguyên văn về việc tham gia bộ phim này như sau « Tôi phải nói ngay, tôi đóng phim là một sự bắt buộc trong cuộc đời. Đó là thời gian làm tiến sĩ – 1956, chỉ còn 2 năm nữa là bảo vệ luận án mà tiền bạc thì thiếu thốn nên phải đi đóng phim. Khi ấy ông đạo diễn đi tìm một diễn viên vai người cai quản trại tù binh Nhật trong phim Cuộc đời tôi bắt đầu từ Mã Lai lấy tứ từ một cuốn tiểu thuyết do người Australia viết thời kỳ bị Nhật đô hộ. Ông đi khắp nước Anh để tìm một người Nhật như vậy nhưng không có, tôi cùng thử vai với 27 người khác mà cuối cùng người ta thấy tôi Nhật hơn cả người Nhật nên được ký hợp đồng ngay. Số tiền đóng phim đã giúp tôi trong 2 năm liền không phải làm gì. Mỗi ngày tôi được trả 50 bảng cộng thêm 12 bảng tiền ăn. Trừ tiền thuế phải trả tôi còn lại 30 bảng. Tính mỗi ngày đóng phim đủ để ăn 600 bữa. Mà tôi đã đóng trong12 ngày liền. » Source: https://www.tinmoi.vn/giao-su-tran-va… Xem full bộ phim A Town Like Alice: https://www.youtube.com/watch?v=xcbbx… All rights belong to: VIC FILM PRODUCTION

Alexander Alexeieff and Claire Parker – Le Nez (1963).avi

Alexander Alexeieff and Claire Parker – Le Nez (1963).avi

70,483 views•Oct 9, 2012 608 7 Share Savelye shind 38 subscribers Directors: Alexander Alexeieff, Claire Parker Writer: Nikolai Gogol (story) Country: France Language: French A study in pins of a man who loses his nose which becomes a personality in its own right.

Music was composed by HAI MINH (stage name of TRAN VAN KHE) . HAI MINH were his 2 sons ‘s names used as his stage name when he performed for many years in France .

Thái Thanh Hát Đi Chơi Chùa Hương-Thơ Nguyễn Nhược Pháp, Nhạc Trần Văn Khê. Ghi Âm Trước Năm 1975

Thái Thanh Hát Đi Chơi Chùa Hương-Thơ Nguyễn Nhược Pháp, Nhạc Trần Văn Khê. Ghi Âm Trước Năm 1975

1,532 views•Jan 25, 2020 39 1 Share Savevanchus 20.4K subscribers Thái Thanh Hát Đi Chơi Chùa Hương-Thơ của Nguyễn Nhược Pháp, Trần Văn Khê phổ nhạc. Bản Ghi Âm Trước Năm 1975 .

GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ- NGƯỜI ĐỒNG HÀNH VỚI CÔNG CUỘC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ NHÃ NHẠC – ÂM NHẠC CUNG ĐÌNH VIỆT NAM

GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ- NGƯỜI ĐỒNG HÀNH VỚI CÔNG CUỘC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ NHÃ NHẠC – ÂM NHẠC CUNG ĐÌNH VIỆT NAMCập nhật ngày: 03/08/2015 09:55:52Theo thông tin từ gia đình và qua báo chí truyền thông, vào lúc 02 giờ 55 sáng ngày 24.6.2015, Giáo sư Trần Văn Khê đã qua đời tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh.

GS. Trần Văn Khê

Giáo sư Trần Văn Khê sinh năm 1921 tại làng Vĩnh Kim, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang), là con cả của một gia đình có bốn đời nhạc sĩ. Từ lúc nhỏ ông đã tỏ ra là người có cảm nhận đặc biệt về âm nhạc; lên 6 tuổi biết đàn kìm (đàn nguyệt), tám tuổi biết đàn cò (đàn nhị), 12 tuổi biết đàn tranh, đánh trống nhạc…

Ông sang Pháp năm 1949, học tại trường Đại học Sorbonne ở Paris. Năm 1949, học tại Viện Khoa học Chính trị Paris. Năm 1951, tốt nghiệp Khoa học Chính trị, Khoa Giao dịch Quốc tế. Từ 1954 đến 1958, học Đại học Văn Khoa Paris, Viện Âm nhạc học. Năm 1958, ông là người Việt đầu tiên đỗ tiến sĩ hạng Tối ưu tại Khoa Âm nhạc học với Đề tài luận án “La Musique Vietnamienne traditionnelle” (Âm nhạc truyền thống Việt Nam).

Sau khi hoàn thành Luận án Tiến sĩ  về Âm nhạc Truyền thống Việt Nam năm 1958, Giáo sư giảng dạy tại Đại học Sorbonne 28 năm liền. Sự nghiệp nghiên cứu Âm nhạc của Giáo sư bắt đầu từ năm 1959, không chỉ âm nhạc truyền thống Việt Nam mà còn âm nhạc truyền thống của các dân tộc khác ở Châu Á.

 Giáo sư là thành viên của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Pháp, và Hội đồng Âm nhạc Quốc tế thuộc UNESCO từ năm 1960. Sau đó là Phó chủ tịch của Hội đồng này, đồng thời từ đó đến khi qua đời là Ủy viên Danh dự của Hội đồng Âm nhạc Quôc tế. Ngoài ra, Giáo sư còn là Viện sĩ Thông tấn của Viện Hàn Lâm Châu Âu về Khoa học, Nghệ thuật và Văn chương,  thành viên của Viện Khoa học Pháp cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác; là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức và còn được công nhận là Tiến sĩ Danh dự của nhiều trường đại học.

Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới, dự  hàng ngàn hội nghị, hội thảo, diễn đàn  để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam.

 Giáo sư Trần Văn Khê tại lễ khai giảng lớp đào tạo nhạc công Nhã nhạc. Huế, tháng 2/2006

Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, năm 2006, ông chính thức trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc (có một số hiện vật tư liệu quý về Huế và Nhã nhạc cung đình Huế cũng đã được Giáo sư trao tặng cho Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế để lưu giữ nghiên cứu và nhân bản).

Giáo sư là một nhà nghiên cứu văn hóaâm nhạc truyền thống nổi tiếng ở Việt Nam. Ông là tiến sĩ ngành âm nhạc học người Việt Nam đầu tiên tại Pháp và từng là giáo sư tại Đại học Sorbonne – Pháp, thành viên danh dự Hội đồng Âm nhạc Quốc tế thuộc UNESCO. Ông là người có công đặc biệt trong quảng bá văn hóa Việt Nam nói chung và âm nhạc Việt Nam nói riêng, trong đó có Nhã nhạc-Âm nhạc Cung đình Việt Nam, đến với công chúng thế giới. Từ năm 1961, Giáo sư và Cố nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba đã bắt đầu để công sức tìm hiểu nghiên cứu về Nhã  nhạc Cung đình Huế. Hai người đã đi tìm và mời các nghệ nhân, nhạc công cung đình còn sống thời đó để ghi âm, ghi hình Âm nhạc Cung Đình Huế và làm bộ đĩa về Nhã nhạc Cung đình và Ca Huế (do Barenreiter-Musicaphone xuất bản với mã số BM.30 L.2002), dành được 2 giải thưởng lớn của Đức (năm 1969 Giải thưởng lớn về Đĩa hát lĩnh vực Dân tộc Âm nhạc học – Deutscher Shall Platten Preis) và Pháp (Năm 1970, giải thưởng lớn về Dân tộc nhạc học của Hàn Lâm Viện Đĩa hát Pháp -Académie du Disque Francais ). GS. Trần Văn Khê là người từ đầu đã tích cực vận động UNESCO nhìn nhận Nhã nhạc Cung đình Huế. Theo ông, để trở thành một di sản phi vật thể của nhân loại, ngoài giá trị lịch sử và nghệ thuật, Nhã nhạc còn cần được nhà nước sở tại chứng minh đã có nhiều nỗ lực bảo tồn và phát huy, ngoài ra, cần phải chuẩn bị cho được một bộ hồ sơ giải trình hoàn chỉnh đòi hỏi nhiều công sức nghiên cứu, biên soạn. Về mặt này, Nhã nhạc cung đình Huế còn nhận được sự hỗ trợ tận tình của bà Noriko Aikawa, nguyên Giám đốc Vụ Văn hóa phi vật thể của UNESCO lúc đó, qua các liên hệ thường xuyên giữa bà và GS Trần Văn Khê từ năm 1994, ở Paris lẫn tại VN.

Tháng Ba năm 1994, UNESCO tổ chức Hội nghị quốc tế các chuyên gia về di sản văn hóa phi vật thể vùng Thừa Thiên Huế tại Huế. Trong một cuộc họp tiểu ban nghệ thuật, Giáo sư Trần Văn Khê cùng các giáo sư Việt Nam là Trần Quốc Vượng và Tô Ngọc Thanh, các giáo sư Nhật Bản là Tokumaru và Yamaguti, Giáo sư người Philippines Jose Marceda đệ trình UNESCO và Chính phủ Việt Nam về một chương trình quốc gia khôi phục và nghiên cứu Nhã Nhạc cung đình Huế.

Sau đó Bộ Văn hóa Thông tin và tỉnh Thừa Thiên Huế đã giao cho Trung tâm BTDT Cố đô Huế lập Hồ sơ Ứng cử Quốc gia Nhã nhạc – Âm nhạc Cung đình Việt Nam đệ trình UNESCO đề nghị công nhận là Kiệt tác Di sản Phi Vật thể và Truyền khẩu của Nhân loại (giai đoạn 2001 – 2002). Trong thời gian lập hồ sơ, mặc dù tuổi đã cao, sức khỏe không còn tốt, nhưng giáo sư vẫn lặn lội về lại Việt Nam để cùng các thành viên Nhóm lập Hồ sơ của Trung tâm BTDTCĐ Huế và các chuyên gia tư vấn khác xem xét điều chỉnh nội dung và các tư liệu cần thiết bổ sung kịp thời theo yêu cầu của UNESCO, góp phần cho sự thành công của bộ hồ sơ để rồi vào ngày 7 tháng 11 năm 2003, Nhã nhạc – Nhạc Cung đình Việt Nam đã được UNESCO vinh danh là Kiệt tác Di sản Văn hóa Phi vật thể và Truyền khẩu của Nhân loại (từ năm 2008 được UNESCO hợp nhất thành danh hiệu Di sản Văn hóa Phi vật thể Đại diện của Nhân loại).

 GS. Trần Văn Khê cùng GS. Tô Ngọc Thanh và Nghệ nhân Trần Kích tại Nhà hát Duyệt Thị Đường

Vào đầu năm 2004, GS đã cùng với đoàn đại diện của UBQG UNESCO Việt Nam, Bộ VHTT và UBND tỉnh Thừa Thiên Huế và đoàn  nghệ sĩ của Nhà hát Truyền thống Cung đình Huế giới thiệu và biểu diễn Nhã  nhạc tại Trụ sở của UNESCO tại Paris, các thành phố lớn của Pháp và thủ đô của Bỉ gây tiếng vang lớn trong công chúng châu Âu, góp phần to lớn cho việc giới thiệu quảng bá văn hóa Việt Nam tại Châu Âu.

Sau khi Nhã nhạc được UNESCO công nhận, với tâm huyết và kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo tồn gìn giữ âm nhạc dân tộc, Giáo sư lại tiếp tục cùng tỉnh Thừa Thiên Huế và Trung tâm biên soạn Kế hoạch Hành động Quốc gia bảo tồn và phát huy giá trị Nhã nhạcÂm nhạc cung đình Việt Nam để đề nghị UNESCO tài trợ.  Với những nỗ lực không mệt mỏi trên, Dự án thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia này đã được UNESCO chấp thuận tài trợ với tổng kinh phí 154.900 USD,  thực hiện trong giai đoạn 2005-2009. Giáo sư được mời tham gia dự án với tư cách là cố vấn danh dự và trực tiếp thực hiện các bài giảng, giới thiệu  Nhã nhạc trong các hoạt động của dự án.

Trong khuôn khổ dự án này, Giáo sư đã trực tiếp cùng GS Tô Ngọc Thanh, Nghệ nhân Lữ Hữu Thi, nhạc sĩ Lê Toàn, Nhà nghiên cứu Văn Thị Minh Hương và đội ngũ cán bộ giảng viên của Trường Nghệ thuật Văn hóa đào tạo 18 nhạc công Nhã nhạc trẻ trong 2 năm nhằmcung cấp một lực lượng nhạc công Nhã nhạc trong tương lai có đủ kiến thức về văn hoá và kỹ năng nghề nghiệp để bổ sung cho Nhà Hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế (thuộc Trung tâm BTDTCĐ Huế), nhằm duy trì và bảo tồn bền vững giá trị đích thực của Nhã nhạc.

Trung tâm BTDTCĐ Huế đã mời Giáo sư cùng các nghệ nhân nhã nhạc thực hiện 6 đợt tập huấn (mỗi đợt kéo dài 4-5 ngày) cho 180 lượt nhạc công trẻ của Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế; tổ chức 6 buổi buổi nói chuyện có minh hoạ hình ảnh và tiết mục biểu diễn minh họa của GS.TS. Trần Văn Khê dành cho sinh viên, học sinh các cấp ở thành phố Huế (Trường Thống Nhất, Nguyễn Tri Phương, Nhà văn hóa thiếu nhi Huế, Trường Cao đẳng Sư phạm Huế, Trường Đại học Nghệ thuật và Trường Văn hóa Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế); tổ chức 1 tọa đàm tập huấn dành cho giáo viên một số trường tiểu học ở khu vực Huế, cung cấp kiến thức về Nhã nhạc và phương pháp giảng dạy âm nhạc truyền thống cho các giáo viên dạy nhạc hướng dẫn giáo viên phương pháp để học sinh có thể lĩnh hội và cảm nhận được giá trị âm nhạc truyền thống, đặc biệt đối với Nhã nhạc. Ngoài ra GS đã phối hợp với Trung tâm thực hiện 01 đĩa giới thiệu một số tiết mục biểu diễn Nhã nhạc và Múa Cung đình chọn lọc với lời giới thiệu do đích thân  GS.TS. Trần Văn Khê, (có phụ đề tiếng Anh và tiếng Pháp). Giáo sư còn tặng Trung tâm các tư liệu quý liên quan đến Nhã nhạc do GSTS Trần Văn Khê sưu tầm trước đó gồm một số tư liệu viết, tư liệu nghe nhìn để lưu trữ và nhân bản phục vụ cho công tác nghiên cứu và trưng bày giới thiệu quảng bá.

Trong khuôn khổ các hoạt động quảng bá về Nhã nhạc của dự án này, Giáo sư đã cùng đoàn nghệ sĩ của Trung tâm đi lưu diễn ở Pháp (các thành phố Paris, Lyon, Marseilles năm 2004), Ý (thành phố Torino năm 2006) và Nhật Bản (Okinawa năm 2009). Các chương trình biểu diễn, với phần giới thiệu do đích thân GS.TS Trần Văn Khê trình bày, đã gây được sự quan tâm sâu rộng và tạo tiếng vang lớn đối với công chúng yêu âm nhạc ở các nước này. Trong lĩnh vực giới thiệu, diễn giải về âm nhạc truyền thống Việt Nam, có thể có một số người giới thiệu rất hay và minh họa rất hấp dẫn về đề tài này, nhưng để giúp công chúng hiểu được một cách dễ dàng nhất về âm nhạc truyền thống và Nhã nhạc, tạo sự phấn khích, đam mê tìm hiểu đối với người nghe thì chỉ duy nhất có Giáo sư Trần Văn Khê. Trong các buổi giới thiệu Nhã nhạc tại các quốc gia và tại các cơ quan, trường học ở Việt Nam, với cách diễn đạt thật tuyệt vời; vừa rất dí dỏm lại rất uyên bác, cùng với khả năng chơi được nhiều loại nhạc cụ truyền thống khác nhau để minh họa cho phần giới thiệu của mình, và lại có thể diễn đạt trực tiếp bằng tiếng Anh và tiếng Pháp, Giáo sư đã thực sự thổi bùng lên ngọn lửa yêu thương âm nhạc dân tộc cũng như Nhã nhạc Cung đình Huế  trong tâm trí của các đối tượng công chúng ở trong cũng như ngoài nước.

Giáo sư Trần Văn Khê từng được Giải thưởng lớn Hàn lâm Viện Đĩa hát Pháp, Giải thưởng Đại học Pháp, Giải thưởng Dân tộc nhạc học năm 1960 và 1970, tiến sĩ danh dự về Âm nhạc Đại học Ottawa (Canada, 1975), Giải thưởng lớn về Âm Nhạc UNESCO và Hội Đồng quốc tế Âm nhạc (1981), Huân chương Nghệ thuật và Văn chương Cấp Officier, Bộ Văn hóa Chính phủ Pháp tặng (1991), Giải thưởng quốc tế về Dân tộc nhạc học KOIZUMI Fumio (Nhật Bản, năm, 1995), Tiến sĩ danh dự về Dân tộc Nhạc học Đại học Moncton (Canada, 1999), Huy chương Vì Văn hoá Dân tộc của Bộ Văn hoá Việt Nam trao tặng năm 1998, Huân chương Lao động hạng nhất do Chủ tịch Trần Đức Lương trao tặng năm 1999, Giải thưởng Đào Tấn do Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc trao tặng năm 2005,  Giải thưởng Phan Châu Trinh về nghiên cứu năm 2011. Tỉnh Thừa Thiên Huế cũng đã trao tặng Bằng khen và huy hiệu Người tốt Việc tốt cho Giáo sư  vào các năm 2004 và 2006.

Là đơn vị trực tiếp quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị Nhã nhạc – Âm nhạc Cung đình Việt Nam, đồng thời cũng là đơn vị sát cánh cùng Giáo sư Trần Văn Khê trong hành trình bảo vệ gìn giữ giá trị âm nhạc truyền thống Việt Nam trong nhiều năm qua, toàn thể lãnh đạo và cán bộ viên chức, các nghệ sĩ, nhạc công và diễn viên của đơn vị xin bày tỏ sự tri ân và lòng thương tiếc vô hạn đối với Giáo sư Trần Văn Khê, người đã dành cả cuộc đời mình để thắp lên ngọn lửa yêu thương âm nhạc dân tộc đến với nhiều thế hệ và là người góp công lớn trong việc nghiên cứu, giảng dạy, truyền bá, để bảo tồn và phát huy giá trị của Nhã nhạc.Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Đậu Dung: Cảm thán trào lộng mang tên Xuân Quỳnh, Trịnh Công Sơn, Bùi Xuân Phái

Cảm thán trào lộng mang tên Xuân Quỳnh, Trịnh Công Sơn, Bùi Xuân Phái

08:16 07/10/2019

pno

Ngày 6/10, nữ sĩ Xuân Quỳnh xuất hiện trên trang chủ tiếng Việt của Google. Nhiều người ‘phát cuồng’ vì vui sướng. Thì vui! Nhưng nếu nhìn lại cách chúng ta đã và đang đối xử với các danh nhân, câu chuyện sẽ mang một màu sắc khác.

Do chúng ta tự ti về bản dạng văn hóa của mình, phải chờ tới sự xác tín từ một doanh nghiệp quốc tế, mới ào ào chạy theo để tụng ca, để nhớ về? Hay vốn dĩ lâu nay ta không nhìn những danh nhân ấy như một thành tố của nền văn hóa này, nên ta bỏ quên, ta lạnh nhạt?

Từ việc vinh danh của Google

Trịnh Công Sơn trên Google Doddle

Ngày 28/2, cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trở thành người Việt Nam đầu tiên xuất hiện trên trang chủ tiếng Việt của Google, nhân sinh nhật lần thứ 80 của ông. Thời điểm đó, hàng trăm tờ báo lớn nhỏ cũng như hàng triệu người Việt cảm thấy hãnh diện, tự hào. Sau Trịnh Công Sơn, danh họa Bùi Xuân Phái cũng được Google gọi tên nhân 99 năm ngày sinh của ông.

Mới đây nhất, ngày 6/10, nữ sĩ Xuân Quỳnh nối gót hai danh nhân trước, trở thành từ khóa “hot” trên các phương tiện thông tin đại chúng. Thông tin về nhà thơ Xuân Quỳnh cũng “phủ” đầy mạng xã hội.

Danh họa Bùi Xuân Phái cũng từng được Google vinh danh

Dĩ nhiên, được Google vinh danh là điều đáng để chúc mừng. Nhưng nói đi nói lại, đó cũng chỉ là bài toán kinh tế mà tập đoàn này tiến hành ở các quốc gia họ đang kinh doanh, thu lợi mà thôi.

Cần nhớ, Google Doodle chỉ là một biểu tượng thay thế tạm thời cho biểu tượng trên trang chủ của Google, nhằm chúc mừng các ngày lễ, các sự kiện, thành tựu và con người ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, không riêng gì Việt Nam.

Với họ, đây là một thao tác đã được lập trình sẵn; có tiến hành ở Việt Nam thêm hàng trăm lượt nữa, cũng chẳng mất mát gì; lại được đánh giá là gần gũi, thân thiện với văn hóa địa phương; từ đó thu lợi nhuận qua quảng cáo, các lượt truy cập, sử dụng Google.

Biết thế để thấy, Google là doanh nghiệp rất thức thời khi tạo ra một công cụ có khả năng gợi nhắc ký ức cộng đồng. Đó cũng là điều mà ngành văn hóa của ta đang thiếu, chưa đoái hoài đến từ trước đến nay.

Khoảng trắng ứng xử danh nhân

Nữ sĩ Xuân Quỳnh là nhân vật thứ ba sau nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, danh họa Bùi Xuân Phái được Google vinh danh

Nhìn lại lịch sử Việt Nam, các danh nhân nào chỉ có Trịnh Công Sơn, Bùi Xuân Phái hay Xuân Quỳnh. Từ quân sự, giáo dục, y tế, khoa học… đến văn hóa, chúng ta đều có thể kể ra hàng loạt cái tên có sức ảnh hưởng và được xác tín bằng những giá trị họ để lại cho đời.

Trong số đó, có không ít nhân vật xuất sắc mà danh tiếng vượt khỏi biên giới, lên tầm quốc tế, như Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, giáo sư Hoàng Tụy, Trần Văn Khê, đại thi hào Nguyễn Du…

Chúng ta có tuyển tập nhiều kỳ Danh nhân đất Việt, nhưng không phải ai cũng tìm đọc. Môn lịch sử bị “ghẻ lạnh” ngay trên ghế nhà trường. Những bộ phim tài liệu về ngàn năm danh nhân đất Việt, không phải ai cũng thấy hứng thú. Chúng ta có những tên đường, tên phố danh nhân, nhưng đến bảng thông tin vắn tắt về họ gắn với tên đường, tên phố cũng không có.

Vài năm trước, một chương trình truyền hình đã phỏng vấn nhiều học sinh về vua Quang Trung – Nguyễn Huệ. Thật bất ngờ, câu trả lời của nhiều em khiến người nghe phải sửng sốt: Quang Trung – Nguyễn Huệ là anh em, Nguyễn Huệ với Nguyễn Du là một, Quang Trung – Nguyễn Huệ là hai cha con. Đó là một sự thật cay đắng.

Học giả Vương Hồng Sển, trước khi qua đời, đã quyết định hiến tặng ngôi nhà (Vân Đường phủ) và hơn 800 cổ vật cùng lượng sách quý đồ sộ cho Nhà nước, với hy vọng thành lập một bảo tàng mang tên ông.

Dù được UBND TP.HCM xếp hạng di tích lịch sử cấp thành phố và từng được các tạp chí danh tiếng như Times, Newsweek… đến tìm hiểu, giới thiệu về ngôi nhà chứa đựng nhiều giá trị văn hóa này; nhưng 1/4 thế kỷ đã trôi qua, kể từ ngày mất của cụ, nguyện vọng cuối cùng về một bảo tàng vẫn chưa thành, căn nhà thì xập xệ, xuống cấp, thoi thóp giữa Sài Gòn. Đó là một sự thật cay đắng.

Ngôi nhà Trần Văn Khê đã có chủ mới

Hay như ngôi nhà lưu niệm của giáo sư Trần Văn Khê ở quận Bình Thạnh – nơi chứa đựng một khối tư liệu đồ sộ liên quan đến nghiên cứu, giới thiệu âm nhạc truyền thống Việt Nam và âm nhạc thế giới, được giao cho Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM, thì đến nay, cũng gần như rơi vào quên lãng. Đó lại là một sự thật cay đắng.

Là học giả lớn của Việt Nam, một trong những người có công truyền bá chữ quốc ngữ giai đoạn đầu, chủ bút của tờ Gia Định báo từ giai đoạn giữa năm 1881 – 1896 (theo nhà nghiên cứu Trần Nhật Vy), nhưng cái tên Trương Minh Ký vẫn lạ lẫm với nhiều người Việt hôm nay. Ông hay bị nhầm với thầy mình là Trương Vĩnh Ký. Ngôi mộ của ông, ở quận Gò Vấp, nằm sau một dãy nhà trọ bình dân, bị hoang lạnh, đổ nát, cỏ dại bao trùm. Đó cũng là một sự cay đắng mang tên “danh nhân văn hóa”.

Còn có thể kể ra rất nhiều ví dụ khác, cho thấy cách ứng xử lạnh lùng, thiếu trân trọng, thậm chí là “vô văn hóa” đối với di sản danh nhân văn hóa ở ta; để ta nhìn cách người ngoài ứng xử mà hổ thẹn, để ta nhìn họ mà cảm thấy không bằng.

Khi đó, những khua chiêng gõ trống chúc mừng là gì, nếu không phải là những cảm thán trào lộng đáng kinh ngạc, những vi bằng “phản tố” ứng xử của ta với những chứng nhân văn hóa – lịch sử của một thời?!

Trịnh Công Sơn, Bùi Xuân Phái, Xuân Quỳnh và có thể sẽ có thêm nhiều nhân vật khác sẽ được Google vinh danh. Và như một trình tự lặp đi lặp lại, biểu thị cho tâm lý đám đông ấy, người ta cũng ca tụng Xuân Quỳnh như đã từng ca tụng về Trịnh Công Sơn hay Bùi Xuân Phái.

Căn phòng 6m2 của vợ chồng danh nhân Lưu Quang Vũ – Xuân Quỳnh đang bị mối mọt gặm dần

Ngày 6/10, nữ sĩ Xuân Quỳnh được gọi tên. Họ nhắc về thơ, về đời, về người chồng tài hoa của bà. Nhưng tôi lại nhớ căn nhà vỏn vẹn 6m2 ở Phố Huế (Hà Nội) của họ – căn nhà đã bị cắt điện, cắt nước, tối om, mối mọt đang ăn dần sách vở. Nơi đó, di sản nghệ thuật của Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ đang dần trở thành phế tích mỗi ngày.

Đừng ca tụng, nếu như chúng ta không nhớ, không trân trọng họ trong đời sống văn hóa ngày hôm nay. Đừng ca tụng, nếu không, tất cả chỉ là những sáo ngôn cho một thời “đồ đểu” (như cách nói của Lưu Quang Vũ) đang rã dần những giá trị được cất lên từ bản dạng nghèo nàn văn hóa. 

Đậu Dung

https://www.phunuonline.com.vn/van-hoa-giai-tri/cam-than-trao-long-mang-ten-xuan-quynh-trinh-cong-son-bui-xuan-phai-166450/