Catégorie : TRAN VAN KHE

BÁN SÁCH GÂY QUỸ HỌC BỔNG TRẦN VĂN KHÊ

Đặt mua sách liên hệ :Email: tranvankhefoundation@gmail.comThư ký: Ngọc Hân 0782 78 28 28 (zalo, viber)

BÁN SÁCH GÂY QUỸ HỌC BỔNG TRẦN VĂN KHÊ

bìa sách TRẦN VĂN KHÊ / TÂM và NGHIỆP

Ngày 01/03/2021, UBND TPHCM đã ban hành Giấy phép thành lập số 680/QĐ-UBND cùng việc Công nhận Điều lệ Quỹ Học bổng Trần Văn Khê. Hoạt động chính của Quỹ Trần Văn Khê hỗ trợ, tài trợ, xét trao giải thưởng và học bổng thường niên của Quỹ góp phần cổ vũ việc gìn giữ, phát huy các giá trị âm nhạc truyền thống Việt Nam theo di nguyện của cố Giáo sưMời quý bạn hữu ủng hộ mua sách “Trần Văn Khê – Tâm và Nghiệp” đóng góp gây quỹSách Trần Văn Khê – Tâm và Nghiệp dày 296 trang, giá 110.000 đồng. Sách có 37 bài viết của 35 tác giả như GS.TS. Trần Quang Hải, NSND Bạch Tuyết, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, nhà báo Nguyễn Thế Thanh, Trần Trọng Thức, giáo sư triết học Thái Kim Lan, nhà nghiên cứu Hãn Nguyên Nguyễn Nhã, TS NSUT Nguyễn Thị Hải Phượng… Phần hình ảnh do nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Á thực hiện.

GS TRẦN QUANG HẢI giới thiệu sách tại TP HCM 2016
GS TRẦN QUANG HẢI & GS TRẦN VĂN KHÊ

Cố Giáo Sư Trần Văn Khê – Người Đưa Âm Nhạc Cổ Truyền VN Ra Thế Giới

Cố Giáo Sư Trần Văn Khê – Người Đưa Âm Nhạc Cổ Truyền VN Ra Thế Giới

3,798 views•Apr 2, 2021901ShareSaveNgười Nổi Tiếng 1.36M subscribers

Cố Giáo Sư Trần Văn Khê – Người Đưa Âm Nhạc Cổ Truyền VN Ra Thế Giới Với giới mộ điệu, cố giáo sư – tiến sĩ Trần Văn Khê là “báu vật” của nước nhà. Ông chính là người đã có công nghiên cứu và quảng bá âm nhạc cổ truyền VN ra thế giới. Dù ở bất cứ nơi đâu, giáo sư Khê đều nói về giá trị đặc sắc của âm nhạc truyền thống và tầm quan trọng của việc giảng dạy, quảng bá, khai thác đúng nguyên tắc để bảo tồn và phát huy nó. Trên cả mục đích công việc, đó là hành động thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc của một người con hơn 50 năm bôn ba nơi xứ người.

Nguồn: vi.wikipedia.org, cafef.vn, dantri.com.vn, vnexpress.net, nongnghiep.vn, giadinh.net.vn, congly.vn, thanhnien.vn, tuoitre.vn

MAI ANH : GS. Trần Văn Khê – Nhà nghiên cứu âm nhạc truyền thống làm vinh danh nước Việt

GS. Trần Văn Khê – Nhà nghiên cứu âm nhạc truyền thống làm vinh danh nước Việt
Con người đã có một sự nghiệp lừng lẫy ở nơi từng được coi là thủ đô văn hoá của châu Âu, Giáo sư – Tiến sĩ của Đại học Sorbonne lừng danh, từng được tặng Huân chương Văn hoá nghệ thuật của Chính phủ Pháp, từng được tháp tùng Tổng thống Pháp Mitterand thăm Việt Nam, Uỷ viên danh dự của Hội đồng Âm nhạc thế giới của UNESCO, người thầy về dân tộc nhạc học được chào đón nồng nhiệt tại hơn 67 quốc gia, sau hơn 50 năm bôn ba đã trở về quê nhà – đó chính là GS.TS Trần Văn Khê. Trần Văn Khê sinh ngày 24.7.1921 trong một gia đình 4 đời làm nhạc sĩ ở làng Vĩnh Kim, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (Tiền Giang ngày nay). Năm 6 tuổi, Trần Văn Khê được cậu ruột Nguyễn Tri Khương (cháu nội ông Nguyễn Tri Phương), vốn là một thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng hát có tiếng, dạy chơi đàn nguyệt (đàn kìm), đàn cò (đàn nhị); được người cô thứ ba là Trần Ngọc Viện dạy đàn tranh. Từ đó ba cây đàn chẳng rời ông nửa bước, kể cả khi ông là một sinh viên Trường Y Hà Nội hay là một giáo sư danh tiếng ở Paris. Trần Văn Khê mồ côi mẹ năm 9 tuổi và mồ côi cha năm 10 tuổi. Ba anh em Trần Văn Khê đã được cô Trần Ngọc Viện (tức cô Ba Viện) nuôi và dạy dỗ chu đáo. Khi học tại Trường Pétrus Ký (còn gọi là Trường Trương Vĩnh Ký), (1934 – 1941), Trần Văn Khê đã cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường và dàn nhạc của học sinh trong câu lạc bộ học sinh mang tên Scola Club của Hội Đức trí Thể dục (SAMIPIC). Năm 1941, được học bổng của chính phủ thuộc địa và học bổng của Hội SAMIPIC, Trần Văn Khê ra Hà Nội học Y khoa tại Đại học Đông Dương. Ông tâm sự: « Ngày khai giảng ở trường đại học (nay ở số 19 Lê Thánh Tông, Hà Nội) để lại ấn tượng không phai mờ trong tôi. Từ nhỏ đến lớn sống ở miền Nam, mỗi lần có lễ lạc gì chỉ nghe bài La Marseillaise trỗi lên cùng với lá cờ tam tài, là quốc ca và quốc kỳ của nước Pháp. Nhưng trong ngày khai giảng này, sau khi dứt bài La Marseillaise thì có một điệu nhạc lạ tai trỗi lên tiếp theo cùng với một lá cờ màu vàng được kéo lên. Một anh bạn miền Bắc đứng kế bên khẽ nói: « Quốc kỳ và Quốc ca của ta đấy! ». Tôi vô cùng xúc động, ngây người ngắm lá cờ đang lần lần vươn lên cao, lắng nghe giai điệu mới mẻ mà cả hai dòng nước mắt chảy dài« … Đấy cũng là lần đầu tiên trong đời ông ý thức được rằng dân tộc mình phải có một đất nước độc lập. Và cũng kể từ ngày đó, trong ông có một ý nghĩ thôi thúc tìm hiểu thêm về đất nước, dân tộc thời xa xưa… Tại Đại học Đông Dương, ông cùng các bạn Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Nguyễn Thành Nguyên, Phan Huỳnh Tấng (tức Phạm Hữu Tùng)… hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội sinh viên, tham gia ban nhạc của trường, cùng nhau khuấy động nên phong trào thanh niên lành mạnh, cũng như khơi dậy tình dân tộc thể hiện qua các hành khúc đầu tay của Lưu Hữu Phước như: « Người xưa đâu tá« , « Bạch Đằng giang« , « Ải Chi Lăng« … Ngay từ những năm đầu tiên bậc đại học, Trần Văn Khê tuy thuộc lớp đàn em nhỏ nhất nhưng đã có những suy nghĩ độc lập của riêng mình. Năm 1941, chàng thanh niên 20 tuổi Trần Văn Khê đã đứng trên sân khấu nhà hát lớn Hà Nội chỉ huy dàn nhạc, hát bài hát tiếng Pháp « Le petit doigt de maman » để nhằm mục đích chính là được giới thiệu dân ca ba miền tiếp sau đó. Ngay từ lúc ấy, ông đã có ý thức giới thiệu âm nhạc dân tộc. Sau buổi biểu diễn, báo La Volonté Indochinoise đã viết bài khen ngợi: « Việt Nam có một sinh viên trẻ tuổi chỉ huy dàn nhạc với phong cách một nhạc sĩ nhà nghề« . Đó là một kỷ niệm đẹp về đêm nhạc sinh viên đầu tiên của Trần Văn Khê – nhà nghiên cứu âm nhạc truyền thống và văn hóa dân tộc nổi tiếng của Việt Nam sau này. Năm 1943, Trần Văn Khê lập gia đình với Nguyễn Thị Sương, người bạn gái học cùng lớp Triết ở Trường Pétrus Ký. Sau khi thi đỗ từ năm thứ nhất sang năm thứ nhì Trường Đại học Y – Dược, vì bị sốt rét rừng rất nặng, nạn đói ở miền Bắc bắt đầu hoành hành, lại có phong trào « xếp bút nghiên lên đường » Trần Văn Khê và nhiều bạn bè phải rời trường về Nam. Đầu năm 1944, ngoài việc tham gia dạy học tại hai trường tư thục ở Sài Gòn (Trường Lê Bá Cang và Trường Nguyễn Văn Khuê), Trần Văn Khê còn tham gia Ban tuyên truyền của tỉnh Bến Tre, đi khắp tỉnh để hát các bài hát của Lưu Hữu Phước nhằm nhắc lại những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam. Năm 1945, Trần Văn Khê bắt đầu tham gia kháng chiến, hoà mình vào cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc. Trần Văn Khê tình nguyện tham gia kháng chiến nhưng không muốn cầm súng mà xin được hoạt động văn nghệ. Ông cùng Lưu Hữu Phước đặt các điệu kèn cho quân đội để thay thế các điệu kèn Tây thổi lúc sáng sớm thức dậy, lúc chào cờ, lúc đi ngủ; tổ chức đoàn quân nhạc gồm các nhạc sĩ công giáo làng Lương Hoà, đi khắp vùng Đồng Tháp, chợ Thiên Hộ, đi tới Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau… vừa giúp Ban tuyên truyền trong việc vận động toàn dân kháng chiến, vừa quyên góp tiền để giúp nhà thương quân đội, đàn hát những điệu hò dân gian cho thương binh nghe. Cuối năm 1946, Trần Văn Khê trở về Sài Gòn tham gia nhóm « kháng chiến tại thành ». Ông vừa viết cho báo Thần Chung, Việt Báo, tạp chí Sông Hương, tạp chí Mai, vừa dạy Anh Văn tại hai trường Huỳnh Cẩm Chương, Ngô Quang Vinh, và mở lớp dạy tư Anh văn tại nhà. Được phân công phê bình âm nhạc và sân khấu, Trần Văn Khê thường gặp gỡ các đào kép cải lương như Tư Chơi, Năm Châu, Bảy Nhiêu, Duy Lân… để bàn về sự phát triển của cải lương. Năm 1948, các tổ kháng chiến tại thành bị lộ, Trần Văn Khê bị bắt và giam tại khám Catinat cùng một lúc với các Giáo sư tư thục Nguyễn Văn Hiếu (sau này là Bộ trưởng Văn hoá, Trần Thọ Phước (sau này là Giám đốc Air Vietnam ở Đông Nam Á). Năm 1949, vì bị lộ nên Trần Văn Khê, sau khi bàn với các bạn, rời Việt Nam sang Pháp, vừa « lánh nạn », vừa du học với hai bàn tay trắng, một bộ đồ vải tropical và bản hợp đồng với các báo kể trên để làm « phóng viên ». Ông bắt đầu cuộc sống tự lập nơi đất khách quê người bằng cách vừa học, vừa làm nhiều việc để sinh sống. Suốt thời gian từ 1949 tới 1951, ông đọc các báo Pháp để viết mục « điểm báo », làm phóng viên về các sinh hoạt của Việt kiều; viết du ký, phóng sự; cắt gửi về toà soạn những bài xã luận về chính trị quốc tế và chính trị liên hệ đến Việt Nam. Trần Văn Khê thử thi vào Viện Khoa học Chính trị nổi tiếng mang tên Sciences Po (Sciences Po, Institut d’Etudes Politiques de Paris), không ngờ đỗ vào năm thứ hai của Viện. Và rồi, ông đã tốt nghiệp hạng cao (hạng 5) Khoa Giao dịch Quốc tế sau hai năm miệt mài học tập trên ghế nhà trường và học thêm Anh văn tại Đại học Văn khoa Paris. Tháng 8.1951, 2 tháng sau khi tốt nghiệp, tới tháng 10.1954, do phát sinh nhiều bệnh, ông phải đi từ bệnh viện này tới trung tâm dưỡng bệnh nọ, bị giải phẫu 4 lần. Ngay trên giường bệnh ông vẫn tiếp tục nghiên cứu, đọc nhiều sách tại thư viện Paris và học tiếng Ả Rập từ những bệnh nhân cùng phòng. Cuối năm 1954, ông theo học và chuẩn bị luận án tiến sĩ tại Khoa Anh văn và Âm nhạc học, Trường Đại học Sorbonne, Paris. Để lấy tiền sinh hoạt, ông đã làm nhiều công việc khác nhau như: thuyết trình về các đề tài âm nhạc, kịch nghệ, kể chuyện cổ tích Việt Nam cho đài BBC; đóng phim; lồng tiếng cho phim… Tháng 6.1958, ông bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ với đề tài chính: « Âm nhạc truyền thống Việt Nam » và hai đề tài phụ: « Khổng Tử và âm nhạc« , « Vị trí âm nhạc trong xã hội Việt Nam« . Từ đây, ông bắt đầu đi những bước đầu tiên trên chặng đường dài mà mình đã chọn: sưu tầm, nghiên cứu, quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam. Ông sưu tầm, nghiên cứu, quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam không phải bởi thấy âm nhạc Việt Nam độc đáo hay đẹp hơn âm nhạc của các dân tộc khác mà đơn giản bởi ông yêu âm nhạc, ông là người Việt Nam. Với ông, đó là một thứ « quốc hồn », « quốc tuý ». Luận án tiến sĩ của ông là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên về nền âm nhạc Việt Nam thống nhất được giới thiệu trên thế giới khi đất nước còn bị chia cắt. Kể từ khi ông trở thành một giáo sư – tiến sĩ ở Đại học Sorbonne danh tiếng, thế giới bắt đầu biết đến hình ảnh một « thầy đờn » Việt Nam độc đáo và hấp dẫn kỳ lạ. Ông không bỏ lỡ một dịp nào để đem lời ca, tiếng nhạc Việt Nam đến khắp năm châu dù đó là những lần thuyết trình trên các đài truyền thanh, truyền hình hay trong các chuyến đi tham dự hội nghị âm nhạc. Sống nơi đất khách, điều mong mỏi của ông là đem hồn nhạc Việt đi xa, quảng bá rộng rãi cho mọi người yêu nhạc. Bằng tài năng và bầu nhiệt huyết của mình ông đã bước vào làng nhạc quốc tế và thực hiện được điều mong ước đó. Năm 1975, ông trở về Việt Nam với tư cách Giám đốc nghiên cứu trong Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp, thành viên Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO, một chuyên gia hàng đầu về âm nhạc truyền thống của Việt Nam. Ông không ngần ngại thừa nhận công khai rằng công trình khoa học về âm nhạc truyền thống Việt Nam làm nên tấm bằng tiến sĩ của ông thực ra còn nhiều thiếu sót, hạn chế do được thực hiện trong hoàn cảnh xa đất nước. Bởi vậy, từ năm 1976 đến năm 1990, năm nào ông cũng về Việt Nam, lặn lội khắp các miền đất nước, ghi âm, chụp hình được trên 500 bài dân ca, dân nhạc các loại nhằm tìm hiểu cặn kẽ một nền âm nhạc đa dạng và sâu rộng, cố gắng ghi lại cũng như phục hồi những gì sắp bị chìm vào quên lãng; kêu gọi gìn giữ cái hay, cái đẹp cho thế hệ sau. Đồng thời, mỗi năm ông dành ra 2 – 3 tháng để thuyết trình tại các trường đại học trong cả nước. Tới mỗi trường đại học của Việt Nam, ngoài việc truyền bá những kiến thức âm nhạc; đem nhiệt huyết, tình yêu âm nhạc dân tộc thổi vào những lớp thanh niên thời đại mới ở Việt Nam, ông còn muốn gửi tới sinh viên Việt Nam một lời nhắn nhủ: Người sinh viên đại học không phải chỉ thụ động như học sinh trung học mà phải chủ động, ngoài những lời thầy giảng phải tự tìm sách báo, tư liệu để hiểu thêm các vấn đề. Dầu được thiên phú có một trí nhớ tốt, luôn luôn phải chăm chỉ nghe thầy giảng, tự học hỏi thêm và luyện tập cả trí nhớ. Khi gặp khó khăn phải bền chí và can đảm để tìm cách vượt qua những khó khăn. Có quyết tâm, có ý chí thì « tự không mình sẽ tạo ra có, tự khó mình sẽ biến thành dễ« . Học văn hóa của nhiều nước để mở rộng kiến văn nhưng luôn luôn nên nhớ văn hóa Việt Nam là cơ bản. Nên tự cho mình một khẩu hiệu: « Ngày nay ta phải hơn ngày hôm qua và ngày mai sẽ hơn ngày hôm nay« . Phải dự những buổi nói chuyện của GS.TS Trần Văn Khê, nghe ông nói về cội nguồn âm nhạc dân tộc, mới cảm được hết cái tình của một người nhạc sĩ suốt đời say mê nghiên cứu, sưu tầm, phổ biến âm nhạc truyền thống Việt Nam. Ông rất bác học, tinh tế qua những cuộc diễn thuyết, minh họa về chèo, tuồng, hát bội, cải lương, hát bài chòi, hò Huế, hò lục tỉnh… Ông không chỉ nổi tiếng là người phổ biến âm nhạc dân gian Việt Nam với thế giới mà còn là người cực kỳ am hiểu âm nhạc dân tộc của nhiều nước, vì với ông: « Hạnh phúc nhất là được làm những điều mình tha thiết mong muốn: đem tiếng nhạc, lời ca dân tộc đến mọi nơi để siết chặt tinh thân hữu giữa dân tộc Việt Nam với bạn bè bốn biển, năm châu, đem được vui tươi nhẹ nhàng cho người nghe, lại có dịp góp sức với đồng nghiệp các nước Á, Phi bảo vệ nền âm nhạc cổ truyền, chống lại tệ nạn vọng ngoài, sùng bái nhạc phương Tây« . Gần nửa thế kỷ nghiên cứu, hoạt động và giảng dạy âm nhạc ở nước ngoài, GS. Trần Văn Khê đã viết hàng trăm bài báo và tham luận về đề tài âm nhạc dân tộc Việt Nam được dịch ra 14 thứ tiếng. Với ngón đàn điêu luyện và khả năng truyền cảm, ông đảm nhận giới thiệu các chương trình âm nhạc dân tộc Việt Nam trên làn sóng phát thanh, truyền hình, đồng thời ông cũng tham gia thuyết trình về âm nhạc truyền thống Việt Nam trong nhiều hội nghị và các trường đại học lớn tại hơn 50 quốc gia. Ông đã thực hiện được gần 30 đĩa hát 33 vòng và CD về âm nhạc Việt Nam và âm nhạc một số nước châu Á; đã tham dự 210 hội nghị quốc tế về Âm nhạc và Âm nhạc học trên 67 quốc gia, gần 20 liên hoan quốc tế về âm nhạc khắp năm châu. GS. Trần Văn Khê là thành viên của nhiều hội quốc tế về âm nhạc và nghiên cứu âm nhạc như: Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO, Hội đồng Quốc tế Âm nhạc truyền thống, Hội đồng Quốc tế Giáo dục Âm nhạc, Hội đồng Quốc tế Nghiên cứu Âm nhạc, Hội Âm nhạc học, Dân tộc âm nhạc học, Hội nhà văn (Pháp), Hội dân tộc âm nhạc học Mỹ, Hội nghiên cứu âm nhạc truyền thống Nhật Bản, Hội nghiên cứu âm nhạc Ấn Độ. Ông cũng đã tham gia giảng dạy, đào tạo gần 7000 sinh viên, hướng dẫn gần 40 học viên cao học và nghiên cứu sinh về âm nhạc học. Ông thường tâm sự: « Tuy thân ở nước ngoài nhưng tâm tôi luôn ở trong nước vì đất nước thể hiện trọng tiếng đờn của tôi, trong những món ăn Việt Nam hàng ngày tự tay tôi nấu, nên lúc nào tôi cũng thấy mình gắn bó và gần gũi với quê hương, xứ sở« . Năm 2003, sau hơn nửa thế kỷ hoạt động âm nhạc ở nước ngoài, GS. Trần Văn Khê đã trở về Tổ quốc với dự định: tiếp tục làm công việc nghiên cứu, giảng dạy, gặp gỡ bạn bè trong và ngoài nước để góp phần bảo vệ, bảo tồn và phát huy vốn âm nhạc truyền thống. Với nhiều đóng góp cho sự nghiệp âm nhạc thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, GS. Trần Văn Khê là người Việt Nam đầu tiên được ghi danh và tiểu sử vào cuốn « Đại từ điển âm nhạc thế giới », được tặng Giải thưởng đặc biệt về âm nhạc của UNESCO (1981), Huân chương Văn hoá nghệ thuật của Chính phủ Pháp (1991), Huân chương Lao động hạng Nhất của nước CHXHCN Việt Nam (1999), giải thưởng « Vinh danh nước Việt » (2003). Và tháng 11.2005 vừa qua, Trung tâm Bảo tồn và Phát huy văn hóa dân tộc và Tạp chí Văn hiến Việt Nam đã tổ chức lễ mừng thọ GS.TS Trần Văn Khê tròn 85 tuổi và trao tặng ông giải thưởng Đào Tấn – giải thưởng tôn vinh những cá nhân, tập thể có đóng góp lớn cho văn hóa, nghệ thuật Việt Nam. Người ta thường nói: Đằng sau thành công của người đàn ông có bóng dáng của người phụ nữ. Điều này quả rất đúng với Trần Văn Khê. Được mẹ giáo thai, cho hấp thụ âm nhạc một cách bài bản ngay từ khi chưa chào đời, vừa lớn bà đã truyền cho con tình yêu đất nước. Khi mẹ mất, được người cô thứ ba là Trần Ngọc Viện thay cha mẹ nuôi dưỡng, giáo dục về mọi mặt, nhất là về môn âm nhạc. Vợ ông, bà Nguyễn Thị Sương đã mang lại cho dòng họ Trần 4 người con: hai trai (Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, một chuyên gia về hát đồng song thanh nổi tiếng nhất thế giới sau 32 năm nghiên cứu; Trần Quang Minh hiện là kiến trúc sư ở thành phố Hồ Chí Minh) và hai gái (Trần Thị Thuỷ Tiên hiện sống tại Paris, và Trần Thị Thuỷ Ngọc, nữ nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu Đông Nam Á của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia ở Paris). Khi xa gia đình và quê hương, ở ngoại quốc lúc nào cũng có một phụ nữ là em, con hay bạn, giúp ông công việc nhà để ông có thể dành hết tâm trí vào việc sưu tầm nghiên cứu âm nhạc. Lòng say mê âm nhạc của ông đã truyền sang các con, hiện nay các con ông đều đã trưởng thành và đang cùng ông viết tiếp trang sử thứ năm – đó chính là hạnh phúc lớn nhất của ông lúc tuổi già. Dầu tuổi cao, sức yếu nhưng dường như chẳng lúc nào GS. Trần Văn Khê rảnh rỗi. Sau những giờ làm việc căng thẳng, ông thường nghe nhạc, dạo vườn xem hoa, so dây độc tấu, thưởng thức vài chung trà trên bàn thạch… để thư giãn, hay luyện tập khí công, xem những chương trình tin tức hoặc nghệ thuật trên truyền hình, đọc vài tờ báo hay quyển sách mà ông thích, ngâm những bài thơ mình mới viết hoặc bạn bè mới cho. Với trí nhớ tuyệt vời được tạo hoá ban tặng, sự nhạy cảm của một tinh nhân, với phương pháp của một nhà khoa học, với sự kiên nhẫn và chuyên cần của một con kiến nhỏ, Trần Văn Khê hôm nay đã trở thành một thư viện sống, một bách khoa thư sống về âm nhạc truyền thống Việt Nam. Với sự tín nhiệm của UNESCO ông đã có cơ hội góp sức vào việc thẩm định Hồ sơ Nhã nhạc cung đình Huế và được giao trọng trách thẩm định hồ sơ Cồng chiêng của Việt Nam. Ông đã chứng minh được những nét đặc sắc, độc nhất vô nhị của hai loại hình nghệ thuật này và Nhã nhạc cung đình Huế rồi mới đây là cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Tới đây, ông sẽ cùng Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Viện Âm nhạc đề cử ca trù, quan họ và múa rối nước để UNESCO công nhận di sản văn hóa phi vật thể cho Việt Nam. Trong ông bấy lâu nay vẫn ấp ủ một nỗi niềm với âm nhạc truyền thống Việt Nam. « Tôi mong có một giáo trình dạy nhạc truyền thống Việt Nam ở bậc đại học và một chương trình đào tạo quốc gia cấp bằng thạc sĩ, tiến sĩ về âm nhạc dân tộc. Bởi thực tế đáng buồn hiện nay là các sinh viên Việt Nam thi bằng thạc sĩ âm nhạc dân tộc lại phải dựa vào lý luận… âm nhạc phương Tây« , GS. Trần Văn Khê tâm sự. Dự định của ông còn nhiều, dù sức khoẻ có hạn, nhưng mỗi khi thấy ông xuất hiện trên tivi, lúc ở thành phố Hồ Chí Minh, khi ở Hà Nội, chúng tôi vô cùng cảm phục tinh thần làm việc miệt mài của ông và thầm cầu mong cho ông được dồi dào sức khoẻ, tiếp tục thực hiện hoài bão của mình: giữ gìn những giá trị tinh thần của dân tộc và của nhân loại!
Mai Anh [100 Years-VietNam National University,HaNoi]

http://100years.vnu.edu.vn/BTDHQGHN/Vietnamese/C1778/C1779/2006/05/N7812/

  Trang chủ ĐHQGHN |   Trang nhất  
Ngày 4 Tháng 5 Năm 2021  

Cố Giáo Sư Trần Văn Khê – Người Đưa Âm Nhạc Cổ Truyền VN Ra Thế Giới

Cố Giáo Sư Trần Văn Khê – Người Đưa Âm Nhạc Cổ Truyền VN Ra Thế Giới

2,158 views•Apr 2, 2021632ShareSaveNgười Nổi Tiếng 1.34M subscribers Cố Giáo Sư Trần Văn Khê – Người Đưa Âm Nhạc Cổ Truyền VN Ra Thế Giới Với giới mộ điệu, cố giáo sư – tiến sĩ Trần Văn Khê là “báu vật” của nước nhà. Ông chính là người đã có công nghiên cứu và quảng bá âm nhạc cổ truyền VN ra thế giới. Dù ở bất cứ nơi đâu, giáo sư Khê đều nói về giá trị đặc sắc của âm nhạc truyền thống và tầm quan trọng của việc giảng dạy, quảng bá, khai thác đúng nguyên tắc để bảo tồn và phát huy nó. Trên cả mục đích công việc, đó là hành động thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc của một người con hơn 50 năm bôn ba nơi xứ người. Nguồn: vi.wikipedia.org, cafef.vn, dantri.com.vn, vnexpress.net, nongnghiep.vn, giadinh.net.vn, congly.vn, thanhnien.vn, tuoitre.vn

TRẦN THIỆN TÙNG : Giáo sư Trần Văn Khê: Người Việt Nam phải biết thương nghệ thuật của cha ông

Giáo sư Trần Văn Khê: Người Việt Nam phải biết thương nghệ thuật của cha ông

Thứ Năm, 11 tháng 12, 2014

Bài: Trần Thiện Tùng
Ảnh: Nguyễn Thị Thúy (Hội quán Các bà mẹ)
Bài đăng trên báo Nhân Dân cuối tháng 11 (tất nhiên có cắt đi một số đoạn do dung lượng trang báo có hạn)

Khi tôi tới tư gia – căn biệt thự ở đường Huỳnh Đình Hai, quận Bình Thạnh, TPHCM nơi mà chính quyền thành phố dành cho ông khi giáo sư chính thức trở về Việt Nam sinh sống, tiếp tục cống hiến cho đất nước bằng việc tổ chức các buổi nói chuyện, biểu diễn âm nhạc dân tộc tại tư gia và nhiều nơi trên toàn quốc – thì vị giáo sư nổi tiếng đã ngoài 90 tuổi, tuy ngồi xe lăn nhưng vẫn miệt mài vào mạng đọc tin tức, gửi email. Hỏi ông về vốn liếng âm nhạc dân tộc, ông bảo: tôi đã nói rất nhiều, viết cũng rất nhiều nhưng dường như không ai quan tâm, trong khi âm nhạc dân tộc đang chìm lần vào quên lãng, mà tôi chỉ là một con chim én, một con én thì đâu có làm nên mùa xuân.
+ Vậy đó có phải là điều đáng buồn cho nền âm nhạc truyền thống Việt Nam hiện nay không thưa giáo sư?
– Đáng sợ, đáng lo chứ không chỉ đáng buồn! Tình hình đã như vậy rồi chứ không phải đơn giản! Thanh niên xa rời âm nhạc dân tộc, vì nhiều lẽ:
Do điều kiện lịch sử, nước Việt Nam bị Pháp đô hộ 100 năm, Pháp không cấm âm nhạc dân tộc nhưng đẩy lùi âm nhạc Việt Nam vào bóng tối, làm người dân nước mình quên âm nhạc dân tộc, học âm nhạc phương Tây.
 Do thời cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ mọi lực lượng đổ xô đánh giặc giữ nước, ít có người lo văn hóa, gần như bị đứt đoạn văn hóa dân tộc.
Do dân mình hãnh hiện học âm nhạc bác học phương Tây, cầm cây violon thì khoe, còn học đàn cò thì giấu diếm, đó là tâm lý mặc cảm của người Việt Nam coi cái gì của mình cũng thua người ta.
Sau khi thống nhất thì nặng về vấn đề kinh tế, trước hết chánh phủ phải lo cơm ăn áo mặc nên âm nhạc bị xao lãng, không ai muốn nghe, người học cổ nhạc bị ruồng rẻ. Nhạc mới thậm chí bậy bạ cũng được trả cả triệu đồng, còn nhạc dân tộc thì vài chục ngàn đồng. Không ai muốn học nhạc dân tộc để rồi bị nghèo.
Dân chúng mải lo làm ăn không giáo dục con cháu về thẩm mỹ âm nhạc dân tộc, cha mẹ cũng quên lãng, trong khi ngôi sao Đại Hàn đến thì đổ xô đi đón rần rần, còn những CLB âm nhạc dân tộc làm chương trình rất công phu như CLB Tiếng Hát Quê Hương (TPHCM) phát 600 giấy mời nhưng chỉ có chừng 200 người tới.
Các đài truyền hình, phát thanh không phát âm nhạc dân tộc vào giờ thuận tiện cho dân chúng xem, các phương tiện truyền thông đại chúng góp phần làm hư dân chúng.
Chính quyền không chăm lo đời sống cho nghệ nhân âm nhạc dân tộc, như vừa qua chúng ta thấy nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu chết trong nghèo đói; trong khi đó những đất nước như Hàn Quốc thì coi những người làm nghệ thuật dân tộc như báu vật quốc gia.

+ Nhưng thưa giáo sư, có ý kiến cho rằng những nước có kinh tế phát triển như Hàn Quốc thì mới có điều kiện chăm sóc, đối đãi tốt?
– Đâu phải tại nghèo hay giàu! Giàu mà coi thường thì họ vẫn coi thường. Ấn Độ không phải giàu có nhưng vẫn tôn trọng âm nhạc dân tộc. Điều này là do tư duy! Mặt khác, trong đời sống xã hội hiện nay có nhiều thay đổi làm bất lợi cho âm nhạc dân tộc. Xưa chúng ta ru con “sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn” rót vào tiềm thức đứa con. Con thương cha mẹ nhưng cũng nhớ, cũng yêu văn hóa dân tộc. Nay mẹ không hát ru cho trẻ nhỏ nghe âm nhạc dân tộc thì khi lớn lên chúng sẽ không nhớ, không neo giữ âm nhạc dân tộc. Trẻ con nay ít được hát đồng dao như “tập tầm vông”. Trước đây, người dân hò hát cho quên mệt nhọc, họ tham gia và là chủ thể tạo nên âm nhạc dân tộc, còn nay thì thường để máy phát thanh thu sẵn, thụ động nghe.
Rồi những gia đình có điều kiện kinh tế ở thành phố thì cho con trẻ học trường Tây. Và còn do cách giáo dục trong nhà trường của chính chúng ta.

+ Với sự phát triển của xã hội như vậy thì sự thay đổi với cách nhìn nhận, đối xử, thưởng thức âm nhạc dân tộc cũng là điều tất yếu chăng?
– Nếu chỉ mất 1-2 yếu tố thì không sao, nhưng nay chúng ta đã mất hết, mất cả tư duy, tình yêu với âm nhạc dân tộc. Cần phải xem lại và lập lại tuần tự những điều đưa trẻ em đến gần Âm nhạc Dân tộc như lập lại tiếng hát ru, tổ chức những dàn hò khi làm việc, những buổi hát đối ca nam nữ trong lúc nghỉ ngơi.
Chính quyền nói văn hóa Việt Nam phải có tánh chất dân tộc khoa học đại chúng, nên sáng tác những điệu nhạc có tính đương đại mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc? Nói thì đúng nhưng dân chúng làm việc cực khổ mà chưa có đủ cơm ăn áo mặc, lấy đâu ra tiền mua đàn và trả học phí? Trong các Nhạc viện những sinh viên không có tiền mua đàn piano có thể luyện tập với những cây đàn chánh phủ mua cho, còn học đàn dân tộc sinh viên phải tự mua đàn lấy.

+ Tức là khi mình hô hào học nhạc dân tộc mình mà lại không đầu tư thì ai sẽ đầu tư cho mình đúng không thưa ông?
– Đúng rồi! Nhật Bổn là nước công nghiệp gấp 1000 lần Việt Nam, tiến bộ hơn rất nhiều nước phương Tây,  mà còn gìn giữ âm nhạc dân tộc, coi là quốc gia chi bảo. Nếu mình không có chính sách chính thức, không quan tâm thực sự âm nhạc dân tộc thì ai sẽ làm thay cho mình? Nếu thương yêu vốn cổ của cha ông thì phải tìm cách giữ lại, mô phỏng lại 1-2 nếp sống cũ. Có thể bà mẹ không còn ru như xưa thì nên có những chương trình hát ru để thay thế tiếng ru của bà mẹ, nhưng tâm sinh học cho thấy rằng trẻ nhỏ thường thích tiếng ru của người mẹ hơn những tiếng hát khác.
Chính quyền, báo chí cần tôn vinh những người làm âm nhạc dân tộc. Muốn làm lại âm nhạc dân tộc thì phải khuyến khích các giá trị dân tộc, khuyến khích hát ru, nam nữ hát đối đáp, mà việc đầu tiên chính quyền phải bỏ kinh phí đào tạo, người thầy cũng không được giấu nghề và học trò phải tầm sư học đạo. Học để hiểu, có hiểu thì mới thương, có thương thì mới tập luyện rồi mới biểu diễn thì âm nhạc dân tộc mới được hồi sinh, chứ nay thì tàn tạ lắm rồi.

+ Khi nào việc đào tạo người làm nghề âm nhạc dân tộc tạm ổn thì phải đào tạo thính giả âm nhạc dân tộc?
– Nhưng việc đào tạo âm nhạc dân tộc theo lối dạy phương Tây hiện nay không đem đến hiệu quả. Xưa cha ông chúng ta luyện tập cái tai và trí nhớ thì mới tạo nên nghệ sĩ. Nếu lo luyện tập con mắt và phản xạ thì chỉ tạo những người có kỹ thuật biểu diễn âm nhạc chứ chưa đi đến nghệ thuật.

+ Quay lại câu chuyện muôn thưở là “có thực mới vực được đạo”, thì với những người làm nghề âm nhạc dân tộc cũng có phải có tiền mới trang trải được cuộc sống đúng không thưa ông?
– Phải tạo điều kiện cho người nghệ nhân có cuộc sống vật chất tối thiểu khi hành nghề, đừng để những nghệ nhân mất thêm thời gian làm nghề tay trái kiếm sống, nhất là nghệ nhân nghèo thì chính quyền nên giúp đỡ. Giúp đỡ cụ thể thiết thực chứ không chỉ tặng danh hiệu NSND, nghệ nhân rồi thôi.

+ Nhắc lại chuyện cũ là nếu năm 1976, giáo sư không về nước, không gặp NSND ca trù Quách Thị Hồ ghi âm giọng hát của bà, rồi chuyển tới các cuộc thi âm nhạc dân tộc của nước ngoài và cho Unesco thì ca trù sẽ ra sao?
– Thì ca trù sẽ bị rơi vào quên lãng. Người Việt Nam thường không nhận ra vốn quí mình đang có, chỉ tới khi thế giới quan tâm tới một bộ môn nào đó thì mới…giật mình nhận ra giá trị của nó.

+ Giáo sư gặp nhiều nghệ nhân sống trong cảnh thanh bạch, nếu không muốn nói là nghèo khổ và gần đây câu chuyện về nghệ nhân Hà Thị Cầu mất trong nghèo túng, chắc khiến ông rất xót xa?
– Thương xót họ không đủ mà phải tranh đấu. Khi có dịp tôi luôn sẵn sàng giới thiệu chân giá trị khoa học và nghệ thuật của các bộ môn âm nhạc dân tộc. Chẳng hạn, khi gặp chính quyền tôi đề cập đến việc người làm ca trù không phải là phường bán phấn buôn hương mà là những người làm nghệ thuật dân tộc thực sự. Những chuyện tranh đấu này không phải chỉ làm trong một ngày một buổi mà phải nói, phải làm năm này tháng nọ, đến nay chánh quyền đã có cách nhìn tốt hơn về ca trù vậy cũng đáng mừng lắm rồi. Khi tôi ra Hà Nội năm 1976, kiếm tiếng trống chầu ca trù còn không có, đờn cũng đờn lén ở cả miền Bắc, nay ở nhiều nơi có thể nghe được ca trù.
Nhưng người Việt Nam phải biết thương nghệ thuật của cha ông, thương người làm nghệ thuật và hiểu rằng nghệ thuật đa dạng, chứ không phải chỉ nghệ thuật của mình là đúng. Người Việt Nam thường có tính đố kỵ, luôn cho mình là đúng, người khác thì chê bai chỉ trích.

+ Nhưng hiện nay chúng ta có một số loại hình nghệ thuật dân tộc được thế giới vinh danh với những danh hiệu này, danh hiệu khác thưa giáo sư?
– Chuyện đó là tốt nhưng đâu có phải đợi Unessco công nhận thì nó mới có giá trị mà đã có giá trị từ trước. Hơn nữa việc công nhận các danh hiệu của Unessco thì lại tùy thị hiếu trong ban giám khảo hàng năm. Chẳng hạn như gần đây là hát xoan, với quần áo màu sắc thì họ quý, còn đờn ca tài tử thì hồ sơ không hoành tráng nên chẳng ai để ý. Việc mình đưa ra thế giới để họ công nhận là tốt vì trước đây vốn không ai để ý thì nay được quan tâm. Nhưng vẫn là cái nhìn của người ngoài, chẳng lẽ chính bản thân dân tộc Việt Nam không biết quý trọng vốn liếng cha ông mình sao?

+ Giáo sư sinh trưởng trong gia đình có nhiều thế hệ hoạt động âm nhạc dân tộc và được làm quen với âm nhạc dân tộc từ năm 6 tuổi, nhưng khi trưởng thành thì ra Hà Nội học Y khoa, sau này lại quay về với âm nhạc dân tộc. Đó có phải là duyên tiền định?
– Không phải, vì tôi biết âm nhạc Việt Nam trước nhưng một thời trai trẻ có sai lầm, khi mình coi âm nhạc phương Tây thấy mới mẻ, thì phải học bắt chước. Tuy nhiên, mỗi âm nhạc có ngôn ngữ phù hợp với từng dân tộc ấy. Khi tôi bị đau, nằm ở nhà thương, tôi xoay 180 độ, về với âm nhạc dân tộc. Tôi chuộc tội với âm nhạc dân tộc bằng việc giới thiệu trên khắp thế giới và trong nước. Nhưng làm suốt đời chưa được thành công, 10 phần thì cũng mới chỉ được 5 – 6 phần thôi.

+ Ông đã về nước gần 10 năm nay và đã đóng góp được rất nhiều cho nền âm nhạc truyền thống cũng như văn hóa Việt Nam. Nhưng nay có một điều dù không nói ra mà ai cũng e ngại đó là tuổi tác của giáo sư ngày càng cao và nỗi lo về một khoảng trống của thế hệ kế cận. Đó có phải cũng là nỗi lo của ông hay không?
Phải rồi! Người trong nước hiện nay có lẽ không nghĩ mình phải có bổn phận gìn giữ vốn quý của cha ông, mà vui gì thì làm nấy, chưa chú tâm và còn mặc cảm về nghệ thuật của tổ tiên.

+ Gần đây, một số người Việt Nam giàu có đã đầu tư cho văn hóa, các chương trình nghệ thuật. Đó có phải là một tín hiệu đáng mừng cho xu thế xã hội hóa ủng hộ nghệ thuật không?
– Nhưng tôi chưa thấy doanh nhân giúp nhiều cho âm nhạc dân tộc bao nhiêu trong khi mọi thứ giá trị của xã hội đang bị đảo lộn, thay đổi. Lập dàn nhạc dân tộc chỉ cần 10 triệu mà không ai cho, còn bóng đá thì chỉ cần đá vào gôn một quả là được thưởng tiền tỷ. Tôi cảm giác rằng âm nhạc, với họ không phải là nghệ thuật phụng sự mà là một món hàng người ta mua bán mà thôi.

+ Tôi cảm thấy sự ngậm ngùi, bất lực của người tâm huyết  trong giọng nói của giáo sư.
– Một con chim én không làm nên mùa xuân. Tâm huyết của 100 người trong xã hội không bằng một người có tâm trong chính quyền, vì quyền lực tiền bạc nằm trong tay sẽ thực hiện rất dễ dàng. Tôi cảm giác có những sự thật mà hiện nay nói ra không ích lợi gì, nhưng vẫn phải nói. Đó là cách dạy âm nhạc dân tộc hiện nay nhưng tôi đã nói nhiều, đâu có ai quan tâm. Vì bứt dây động rừng, không phải điều gì mình muốn, cứ tâm huyết cũng là được.

+ Vậy thì cái nếp nhà, giá trị văn hóa Việt Nam nay ra sao, thưa giáo sư?
– Nhiều nếp văn hóa dân tộc, nhất là văn hóa ứng xử trong xã hội xuống cấp ghê gớm, nhất là trong gia đình xưa gọi dạ bảo vâng, đi thưa về trình thì nay không còn. Trong trường thì khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn” không còn tôn ty trật tự. Ra ngoài đường thì không tôn trọng luật pháp. Một số bạn bè tôi trên thế giới tới Việt Nam đi qua đường ở Hà Nội, TPHCM không chết là may. Câu chuyện về giao thông cho ta thấy đó người Việt Nam thường tôn trọng sự tự do của mình mà không tôn trọng sự tự do của người khác.

+ Nếp nhà bị đảo lộn như vậy thì âm nhạc dân tộc cũng bị ảnh hưởng?
– Đó là chuyện tự nhiên, vì nó dính liền với nhau. Tư tưởng trọng đồng tiền đang ngự trị trong đời sống xã hội mà âm nhạc dân tộc hiện nay lại không đẻ ra tiền.

+ Vài năm trước, ngành văn hóa và ngành giáo dục đã bắt tay triển khai chương trình âm nhạc học đường, nhằm mang âm nhạc truyền thống vào trường học. Giáo sư có theo dõi không?
– Nhiều năm nay, tôi đã quan tâm đến chuyện nầy, nhưng cần phải xác định việc mang âm nhạc truyền thống vào học đường không phải là nhằm đào tạo học sinh biết đờn ca, ai cũng thành nghệ sĩ mà là sự hiểu biết, trân trọng vốn quí của dân tộc. Đấy là chưa kể học nhạc dân tộc thì học nhạc gì, ai dạy, dạy theo phương pháp nào?

+ Giáo sư thường ví mình là con chim én không làm nên mùa Xuân, chắc chắn cuối đời mình, đó vẫn là mối lo canh cánh lớn nhất của ông?
– Hồi nào tới giờ tôi vẫn vậy. Mình tìm hiểu cái hay, cái quý của cha ông để phổ biến. Nay thì tìm cách nói làm sao cho người ta nghe. Nói cho thế hệ trẻ nghe nhưng họ lại không có quyền mà người trong chính quyền lại chưa nghe. Tôi thường đi nói chuyện âm nhạc dân tộc hoặc tổ chức những buổi nói chuyện, biểu diễn âm nhạc Việt Nam tại nhà, nhưng có mấy người trong chính quyền tới nghe, tôi mới thấy có chừng mươi người quan tâm thực sự.
Tôi vẫn ưu tư, nhưng nay ưu tư nhiều hơn nữa, nhất là tuổi tôi đã cao, sắp ra đi mà chưa có gì đáng mừng.
+ Xin được chia sẻ với mối ưu tư lớn của giáo sư. Xin cảm ơn ông.

Thông tin

Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê là một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền nổi tiếng ở Việt Nam; xuất thân trong một gia tộc mà cả bên nội lẫn bên ngoại đều có truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm và hoạt động âm nhạc nổi tiếng.
Ông sinh ngày 24 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp âm nhạc. Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó.
Trưởng thành, ông Trần Văn Khê ra Hà Nội học y khoa, tham gia hoạt động Tổng hội Sinh viên cùng với những sinh viên yêu nước và tham gia phong trào « Truyền bá quốc ngữ » trong ban của GS Hoàng Xuân Hãn, « Truyền bá vệ sinh » của các sinh viên trường Y. Ông sang Pháp du học từ năm 1949 về âm nhạc, rồi làm luận án tiến sĩ về âm nhạc, văn học ở những trường đại học nổi tiếng như: Đại học Sorbonne. Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris .
Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác; là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức.
Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, nay ông trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc. Người đăng: Unknown vào lúc 14:01Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên TwitterChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest Nhãn: Chốn của Tùng, giáo sư Trần Văn Khê, mc, phỏng vấn, tiếng Việt, Trần Thiện Tùng, Trò chuyện với Trần Thiện Tùng

.

https://tranthientung.blogspot.com/2014/12/giao-su-tran-van-khe-nguoi-viet-nam.html?fbclid=IwAR0NHvvZGRFyYoBsHvbe1HIpacrKAG2I0f2Jskl3tKNTF8DVZs4kCWZLmR0

Đề xuất đặt mới 44 tên đường ở TP.HCM: Tố Hữu, Trần Đức Thảo, Trần Văn Khê…

Đề xuất đặt mới 44 tên đường ở TP.HCM: Tố Hữu, Trần Đức Thảo, Trần Văn Khê…

 11:45 | Thứ ba, 10/11/2020  0 Hầu hết 44 tên đường được đề xuất đặt mới là tên nhân vật lịch sử, danh thần, chí sĩ cách mạng, nhà hoạt động yêu nước, triết gia, nhà văn hóa, nhân sĩ, danh sĩ, hào trưởng, Bà mẹ Việt Nam anh hùng… 

Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM – Cơ quan thường trực Hội đồng đặt đổi tên đường thành phố vừa có tờ trình UBND TP.HCM xem xét, đề nghị HĐND TP.HCM thông qua việc đặt tên đường mới cho 44 tuyến đường trên địa bàn: Quận 2, Quận 3, Quận 7, Quận 9, Quận 12, Quận Bình Thạnh, Quận Tân Bình, Quận Tân Phú, Quận Thủ Đức, Huyện Bình Chánh, Huyện Củ Chi, trên cơ sở ý kiến thống nhất của các thành viên Hội đồng đặt tên đường trên địa bàn thành phố và Sở Giao thông Vận tải TP.HCM.

Con đường nối Nguyễn Cửu Vân với Trường Sa được đề xuất đặt tên đường Trần Văn Khê. Ảnh: CTV


Hầu hết 44 tên đường được đề xuất đặt mới là tên danh thần lịch sử, chí sĩ cách mạng, nhà hoạt động yêu nước, triết gia, giáo sư nổi tiếng, nhà văn hóa, nhân sĩ, danh sĩ, hào trưởng, Bà mẹ Việt Nam anh hùng… Trong đó, đường Tố Hữu (Quận 2) dài 3.195m, lộ giới 28,1 – 19,2, đề xuất đặt tên cho đường Ven hồ trung tâm (R2) và một phần đường ven sông Sài Gòn (R3). Từ nút giao C1 (giao lộ đường Lương Định Của với đường Trần Não) đến nút giao ven sông Sài Gòn R3 và đường vòng quanh khu 2C.

Đường Trần Đức Thảo (Quận 9) dài 356m, lộ giới 16m, được đề xuất đặt tên cho đường thuộc khu thể thao – ký túc xá Đại học Văn hóa (Cơ sở 2). Từ đường Đỗ Xuân Hợp đến cuối đường.

Đường Trần Văn Khê (quận Bình Thạnh) dài 397,9m, lộ giới 16m, đề xuất đặt tên cho đường Dự án Cống hộp Phan Văn Hân. Từ đường Trường Sa đến đường Nguyễn Cửu Vân.

Ngoài ra, nhiều tuyến đường được đề xuất đặt tên các nhân vật lịch sử, danh thần, danh sĩ, nhà cách mạng: An Tư Công Chúa, Lưu Đình Lễ (nhân sĩ nổi tiếng), Tinh Thiều (danh thần triều Lý Nam Đế), Bạch Đông Ôn (danh thần triều Nguyễn), Đặng Đình Tướng (Danh sĩ, đại thần nhà Lê Trung Hưng), Dương Lâm (Danh sĩ thời Nguyễn), Dương Thanh (Hào trưởng, Thứ sử Châu Hoan), Trần Qúi Kiên (Nhà cách mạng tiền bối), Đặng Bỉnh Thành (Chí sĩ cách mạng, nhà văn hóa nổi tiếng), Phạm Văn Ngôn (Chí sĩ, nhà hoạt động yêu nước);

Các Bà mẹ Việt Nam anh hùng: Đỗ Thị Lời, Nguyễn Thị Gạch, Phạm Thị Ba, Trương Thị Hoa, Trần Thị Năm, Nguyễn Thị Xinh, Chung Thị Minh, Nguyễn Thị Nhuần, Nguyễn Thị Thích, Nguyễn Thị Diệp, Trần Thị Trọng, Phan Thị Hành, Hà Thị Đát, Trần Thị Sa, Trịnh Thị Tho, Trần Thị Báo, Dương Thị Thiệt, Trần Thị Giang, Phan Thị Khai, Nguyễn Thị Dững, Phan Thị Thâu, Thái Thị Còn, Nguyễn Thị Tư, Huỳnh Thị Bảy, Phạm Thị Nghĩ, Lê Thị Ngay, Nguyễn Thị Lê, Nguyễn Thị Tuôi, Nguyễn Thị Trọn, Lê Thị Truyền, Phan Thị So… 

Theo Sở Văn hoá và Thể thao TP.HCM, 44 tuyến đường được đề nghị đặt tên mới lần này đáp ứng quy định điều kiện đặt tên đường: « Đường có chiều dài tối thiểu 200m, lộ giới tối thiểu 12m trở lên mới được đặt tên ».

Phạm Hải

Danh sách 44 tên đường đề xuất đặt mới

https://nguoidothi.net.vn/de-xuat-dat-moi-44-ten-duong-o-tp-hcm-to-huu-tran-duc-thao-tran-van-khe-26211.html

QUỲNH TRANG: Đặt tên đường cho 2 GS Trần Đức Thảo và Trần Văn Khê

Đặt tên đường cho 2 GS Trần Đức Thảo và Trần Văn Khê

Thứ Bảy, ngày 27/6/2020 – 06:50

Đặt tên đường cho 2 GS Trần Đức Thảo và Trần Văn Khê

(PL)- Trong 47 tên đường đặt mới, đổi tên sắp tới tại TP.HCM đã có hai tên đường mang tên GS Trần Đức Thảo và GS Trần Văn Khê. Đây phần nào là một bước ghi nhận những đóng góp của giới trí thức trong việc xây dựng, phát triển đất nước, xã hội. Tin liên quan

Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM vừa chính thức có tờ trình gửi đến UBND TP.HCM về việc đặt mới, đổi tên cho 47 tuyến đường trên địa bàn TP.HCM.

Những con đường mang tên người yêu nước

Trong đợt đặt tên, đổi tên lần này có nhiều nhân vật lịch sử, nghệ sĩ, trí thức: Nhà thơ Tố Hữu (Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng), An Tư công chúa (em gái út vua Trần Nhân Tông), tri huyện Lưu Đình Lễ (tri huyện Bình Long đầu tiên, người quy dân lập ấp, lập làng Tân Thới Nhì), văn tướng Tinh Thiều (tướng văn thời Lý Nam Đế), danh sĩ Đặng Đình Tướng; một số nhà yêu nước cận đại: Nhà yêu nước Phạm Văn Ngôn, Đặng Bỉnh Thành…

Đáng chú ý trong đó là GS Trần Đức Thảo và GS Trần Văn Khê đều lần lượt được đặt tên đường ở quận 9 và quận Bình Thạnh. Cụ thể, tên GS Trần Đức Thảo sẽ được đặt cho tên đường thuộc khu ký túc xá ĐH Văn hóa (đoạn từ Đỗ Xuân Hợp đến cuối, chiều dài 356 m); tên GS Trần Văn Khê sẽ được đặt ở đoạn đường từ Trường Sa đến Nguyễn Cửu Vân (dài 379,9 m), đường này nằm giữa khu chung cư B1 và B2 Trường Sa và có giao lộ cùng Phan Văn Hân.https://60df75c3e3362b5df0e67f808e5a752e.safeframe.googlesyndication.com/safeframe/1-0-37/html/container.html

Vài nét về GS Trần Đức Thảo

Cuộc đời của GS Trần Đức Thảo (1917-1993) có nhiều đóng góp cho nền tảng triết học hiện đại. Ông là người duy nhất được xem là nhà triết học tại Việt Nam khi được đào tạo chỉn chu, bài bản về triết học, là người nhận học bổng của chính phủ toàn quyền Đông Dương sang Paris du học từ những năm 1936. Con đường đến với triết học của ông rộng mở hơn khi là người Việt đầu tiên trúng tuyển thủ khoa thạc sĩ triết học và tiến gần với dòng chảy triết học thế giới khi là giáo sư tại ĐH Sorbonne (Paris) những năm 1938-1945.

Ông trở về Việt Bắc tham gia kháng Pháp vào năm 1952. Sau đó ông tiếp tục làm việc ở Ban Sử – Địa – Văn (sau này là Ủy ban Khoa học xã hội) và là giáo sư triết học, phó giám đốc ĐH Sư phạm, chủ nhiệm Khoa sử ĐH Tổng hợp Hà Nội.

Tuy nhiên, như nhiều trí thức giai đoạn đó, những năm 1956-1957 ông bị cho là dính líu phong trào Nhân văn giai phẩm khi ông công bố những bài báo về tự do, dân chủ. Sau sự kiện này, ông bị chuyển về làm chuyên viên Nhà xuất bản Sự thật. Sau năm 1975, ông vào sống ở quận Thủ Đức (TP.HCM), một phần bộ sách của ông mang tên Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người (1989) được in. Năm 1991, ông sang Pháp chữa bệnh và tiếp tục để hoàn tất các công trình trước tác về triết học, nhất là bộ sách trên. ông đã mất tại Paris vào năm 1993. Sau đó ông được đem về an táng tại Hà Nội. Cho đến những năm 2000, một số tác phẩm và công trình nghiên cứu của ông mới chính thức trở lại với giới nghiên cứu, bạn đọc trong nước.

Đặt tên đường cho 2 GS Trần Đức Thảo và Trần Văn Khê - ảnh 1


Con đường sẽ mang tên GS Trần Văn Khê ở quận Bình Thạnh nối đường Trường Sa và đường Nguyễn Cửu Vân, cắt ngang đường Phan Văn Hân. Ảnh: QUỲNH TRANG

GS Trần Văn Khê đã trở về Bình Thạnh

Số phận không thăng trầm như GS Trần Đức Thảo, đoạn cuối cuộc đời GS Trần Văn Khê (1921-2015) có những tháng năm nhiều ý nghĩa tại TP.HCM.

Sau 50 năm nghiên cứu, giảng dạy ở Pháp, năm 2006, ở tuổi 85, GS Trần Văn Khê đã trở về sinh sống, tiếp tục giảng dạy tại Việt Nam. Những ai yêu mến âm nhạc dân tộc, văn hóa Việt Nam sẽ khó quên căn nhà 32 Huỳnh Đình Hai (quận Bình Thạnh), nơi chín năm trời ông cùng đồng nghiệp, nhiều thế hệ học trò giữ ấm bằng những chương trình âm nhạc, ẩm thực, văn hóa… Năm năm sau khi GS Trần Văn Khê mất, TP.HCM mới bắt đầu trình ý kiến về việc đặt tên đường cho giáo sư. Và toàn bộ di sản giáo sư tặng lại TP vẫn chưa có một nhà lưu niệm, khu trưng bày hay bất cứ hoạt động nào để công chúng dễ tiếp cận.

Việc đặt tên đường cho hai vị GS Trần Văn Khê và GS Trần Đức Thảo là một bước đầu tiên, để từ đó nhiều di sản của trí thức được gợi mở để tiếp nối, truyền lại cho các thế hệ mai sau.

Không lãng quên triết gia duy nhất của Việt Nam cận hiện đại Việc đặt tên đường cho GS Trần Đức Thảo dẫu là một đoạn đường nhỏ, ngắn trong khuôn viên ký túc xá ĐH Văn hóa, là góp phần nhắc nhớ lại một số phận trí thức trải qua nhiều thăng trầm. Và hơn cả, đó là sự không lãng quên một người được xem là triết gia duy nhất của Việt Nam cận hiện đại. 

QUỲNH TRANG

Đặt tên đường cho 2 GS Trần Đức Thảo và Trần Văn Khê

GS Trần Văn Khê nói chuyện về Đồng Dao

GS Trần Văn Khê nói chuyện về Đồng Dao

15,437 views•Oct 8, 2009140ShareSavemeoduc 2.24K subscribers GS Trần Văn Khê đã giới thiệu những hình thức âm nhạc dân gian của dân tộc như hát ru, hò, vè, lý… và đặc biệt có sự so sánh thang âm điệu thức trong Đồng Dao của trẻ em Việt Nam với Đồng Dao của trẻ em nước ngoài. Đây cũng là một đề tài hết sức gần gũi và quen thuộc, gắn liền với tuổi thơ của mỗi người. Nét mới là trong khi quan sát, lắng nghe những đứa trẻ hát đồng dao và chơi trò chơi, GS Khê đã phát hiện được sự tương đồng ở thang âm những bài đồng dao của trẻ em các nước qua kiểu nhạc như « hò xang hò xế ». Cùng với những ví dụ cụ thể mà GS kể lại cho mọi người nghe… Chuyên đề « Âm nhạc dân tộc Việt Nam » do Khoa Nhân học ĐH. KHXH & NV thực hiện cùng với Giáo sư Trần Văn Khê 2009. – Video by Khánh Vân –