Catégorie : TRAN VAN KHE

GS-TS TRẦN VĂN KHÊ TRỌN ĐỜI VỚI ÂM NHẠC DÂN TỘC (ANTV 2015)






GS-TS TRẦN VĂN KHÊ TRỌN ĐỜI VỚI ÂM NHẠC DÂN TỘC (ANTV 2015)

1,013 viewsMay 27, 2018100ShareSaveVietnam Solomon 188 subscribers Câu lạc bộ NGHIÊN CỨU VÀ VINH DANH VĂN HÓA NAM BỘ đã được cố GS-TS Trần Văn Khê thành lập vào ngày 12/09/2014 tại Hội trường Nhà Lưu Niệm Gs-Ts.Trần Văn Khê (Địa chỉ: 32 Huỳnh Đình Hai-Quận Bình Thạnh-TPHCM) do diễn giả văn hóa Nam Bộ HỒ NHỰT QUANG làm chủ nhiệm. Đặc biệt CLB luôn thu hút rất nhiều nhà học giả, nhà nghiên cứu và các bạn trẻ yêu thích văn hóa, nghệ thuật cổ truyền đến tham dự. Được sự tin tưởng và dìu dắt của Giáo sư – Tiến sĩ Trần Văn Khê cùng nhiều học giả khác, cộng thêm việc làm nghiêm túc của các thành viên CLB, từ tháng 9/2014 đến nay, chúng tôi đã thực hiện 10 chuyên đề vinh danh văn hóa Nam bộ cùng Giáo sư lúc sanh tiền và hoạt động ấy vẫn liên tục với sự đồng hành, hỗ trợ của các văn nghệ sĩ và nhiều người đam mê văn hóa. Hoạt động của CLB chúng tôi được đưa vào học đường, bảo tàng và doanh nghiệp… Với mong muốn nghiên cứu và bảo tồn văn hóa nghệ thuật cổ truyền dân tộc để không phụ lòng thầy. Vừa giúp mình hiểu biết hơn và thấy tự hào hơn, có nhiều động lực hơn trong cuộc sống nên chúng tôi quyết tâm chí thú trau dồi học tập và tâm tưởng luôn xem Thầy “kính như tại”. Xin chân thành cảm ơn Đài TRUYỀN HÌNH CÔNG AN NHÂN DÂN đã luôn đồng hành với các kỳ vinh danh văn hóa và lưu lại những thước phim quý báu, làm nền tảng lưu lại những kỷ niệm tuyệt đẹp của các thành viên với người thầy cao cả. Hồ Nhựt Quang Lúc 17:45 ngày 27/05/2018 Saigon TPHCM- Việt Nam (P/s: Đây là bộ phim của Đài TH Công An Nhân Dân hồi tháng 06 năm 2015).

TƯỢNG NHẠC SƯ VĨNH BẢO và TƯỢNG GS TRẦN VĂN KHÊ do PHẠM THẾ TRUNG tạc tượng , Mỹ Tho 2021

Nhạc Sư Nguyễn Vĩnh Bảo ( Vietnamese traditional Musician)Chiều cao tượng 45 cm ( Statue height 45cm)Chiều cao bục 20cm ( Base height 20cm)Thạch cao ( Plaster)By Sculptor Pham The TrungMỹ Tho 2021.

GS.TS Trần văn Khê (Prof./Dr. Tran van Khe)Tượng Thạch Cao ( Plaster cast)Chiều cao tượng 50cm ( statue height 50cm)Chiều cao bục 22cm ( base height 22cm)By Sculptor Pham The TrungMỹ Tho 2021.

GS TRẦN VĂN KHÊ : CHUNG QUANH PHONG TRÀO « VỀ NGUỒN » VÀ CHỨNG BỊNH CỦA THỜI ĐẠI(Phần 2 – Hết)

CHUNG QUANH PHONG TRÀO « VỀ NGUỒN » VÀ CHỨNG BỊNH CỦA THỜI ĐẠI(Phần 2 – Hết)-

GS. Trần Văn Khê -CHỨNG BỊNH CỦA THỜI ĐẠI

– Thưa Giáo sư, thế nào là “bịnh của thời đại”? Có phải chỉ là căn bịnh của dân Việt Nam, hay là bịnh thời đại cho nhiều nước trên thế giới?

– Đúng là một căn bịnh cho nhiều nước trên địa cầu, những nước thuộc về “thế giới thứ ba”. Nhưng ở Việt Nam căn bịnh khá trầm trọng. Bịnh gây ra nhiều chứng, nhưng gốc của bịnh là “tự ti mặc cảm”, rồi sanh ra “bịnh vong bản”, “bịnh mất cá tính” và “bịnh vọng ngoại”.

– Tại sao lại mắc bịnh tự ti mặc cảm?

– Nguyên nhân thứ nhứt của căn bịnh là do hoàn cảnh lịch sử. Nước Việt Nam đã mất chủ quyền trong gần 100 năm. Bị thất trận, bị đô hộ, bị thống trị, người Việt Nam thấy rằng về mặt kỹ thuật, không thể nào bì kịp người phương Tây. Lúc chúng tôi còn nhỏ, chúng tôi thường nghe người Việt nói : “Nhà tây đẹp hơn nhà mình. Chó tây đẹp hơn chó ta. Bông glaieul đẹp hơn bông huệ. Bơ của tây thơm hơn mỡ chài. Người tây da trắng hơn, mũi cao hơn, đẹp hơn người mình. Người có đạo Thiên Chúa còn thấy rằng người Tây giống Đức Chúa Jésus hơn người Việt. Họ là con ruột của Chúa, mình là con ghẻ… ». Bao nhiêu nhận xét đó đủ làm cho người Việt tự ti mặc cảm đối với người Pháp.

Người bị đô hộ thấy thua người đến cai trị mình về đủ mọi mặt, nhứt là trong lãnh vực vật chất. Từ đó đi đến chỗ tin rằng, nếu kỹ thuật họ cao, thì văn hóa họ cũng cao, chớ không nhớ rằng chỉ cần 25 năm có thể đào tạo một thế hệ kỹ sư, trong khi phải trải qua cả trăm cả ngàn năm mới tạo được một nền văn hóa.

Nước Việt Nam lại trải qua nhiều năm chiến tranh. Người nông dân làm việc đồng áng, trong mùa cấy hay mùa gặt, phải tránh lúc máy bay oanh tạc, im lặng làm việc trong đêm khuya, làm cho mau xong việc, không còn thì giờ rảnh rỗi, tâm hồn không thư thái, làm sao còn có thể cất cao tiếng hát giọng hò, để trao lời đổi ý, có khi trao đá đổi vàng và tạo những câu hò “huê tình” đầy thi vị?

Nguyên nhân thứ nhì là hoàn cảnh xã hội.

Dưới thời Pháp thuộc, người Việt, muốn được trọng vọng trong xã hội, phải ăn mặc Tây phục (Âu phục), phải nói tiếng Tây, phải biết đờn Tây. Nhà ai có đờn piano là thuộc hạng “văn minh, tiến bộ”. Học đờn violon thì rất hãnh diện khi xách đờn đi ngoài đường. Học đờn cò thì xấu hổ, giấu đờn trong bao. Trong trường nhạc thì lớp dạy nhạc Tây rộng rãi, sáng sủa. Thầy dạy nhạc Tây, đã đi Tây về, nói tiếng Tây thông thạo, đến trường bằng xe hơi, lương tháng rất cao. Trong khi thầy dạy nhạc Việt Nam đi bộ đến trường, không biết nói tiếng Tây, không biết giảng lý thuyết theo sách vở, lương lại thấp hơn thầy dạy nhạc Tây rất nhiều. Trong trường dạy nhạc có treo hình của các nhạc sĩ danh tiếng bên phương Tây: Mozart, Beethoven, Chopin, Schubert… Mỗi ngày, học sinh xem các vị ấy như thần tượng, như Phật trong chùa, như Chúa Trời trong nhà thờ, như Thần trong đình. Tự nhiên trong lòng các em học nhạc đều coi nhạc Việt Nam nhẹ hơn nhạc phương Tây.

Nếp sống lại thay đổi rất nhiều, nhứt là ở trong thành thị.

Mẹ sanh con ra, ít khi ôm con vào lòng để ru con ngủ mà chỉ để con nằm trong nôi và mặc cho radio phát to những điệu nhạc hợp với thời trang, nhạc kích động hay nhạc khiêu vũ, miễn sao cho trẻ ngủ là được rồi.

Trong sân trường, ngoài đường phố, không còn nghe tiếng “trẻ em hát, trẻ em chơi”

.Ngoài đồng rộng, trên sông dài, không còn vang tiếng hò đối đáp như xưa

Khi xưa, “công cấy” đi từ làng này sang làng khác, đi trên bờ dọc theo những thửa ruộng sâu đầy nước. Để quên con đường dài thì anh chị em trong đoàn cất cao giọng hò. Ngày nay, khi xe cải tiến chở nông dân đi từ làng này sang làng khác, nghe tiếng máy xe rù rù, người ngồi lắc lư, chen chúc, thì họ chỉ nói chuyện khào mà không thấy hứng để cất lên những “tiếng quan yêu dân chuộng”, để xưng mình là “người dạo kiểng lê viên” và gặp “gái thuyền quyên thì rủ nhau hò”.

Trên đồi Lim, trên sông Cầu, vắng bóng trai thanh gái lịch. Còn ai hát cò lả, trống quân, quan họ trữ tình, hay hát mời hát hỏi như thuở xa xưa?

Không còn tiếng phách Ca Trù giòn giã để phụ họa theo những câu hát Mưỡu, hát Nói hay tiếng đờn Đáy đưa hơi tiếp giọng cho các đào nương, hát ở “cửa đình”, hát thi hát hội, hay hát trong những tiệc cưới, tiệc khao.

Vỉa hè không còn vang tiếng trống đế của các phường chèo. Rạp hát bóng thu hút bớt khán giả của hát tuồng, hát bội.

Nếp sống mới đã lần lần đẩy lùi ca, nhạc, sân khấu truyền thống vào quên lãng.

Ở thành thị nhiều người thích nghe radio, hoặc xem truyền hình hơn đi xem hát. Sau này còn thêm video, làm cho các bộ môn nghệ thuật sân khấu gặp nhiều khó khăn!

Nguyên nhân thứ ba là điều kiện kinh tế.

Đến đài phát thanh đờn nhạc Việt Nam lãnh thù lao chỉ được một, đờn nhạc Tây lãnh thù lao gấp hai gấp ba.

Học nhạc Tây dễ tìm việc hơn học nhạc Việt Nam truyền thống.

Biết chơi đờn lục huyền cầm, còn đờn ở nhạc hội, ở phòng trà, ở các buổi hội họp.

Biết chơi đờn dân tộc chỉ đờn chơi, giải trí, chớ không thể dùng nhạc truyền thống làm kế sinh nhai.

Âm nhạc không còn là một nghệ thuật để chúng ta phụng sự mà đã biến thành một món hàng để người ta mua bán. Quảng cáo rầm rộ và giới thiệu những loại nhạc “ăn khách”, hấp dẫn, kích động, ngang qua truyền thanh truyền hình trong những giờ gần hay sau bữa cơm chiều, trong khi âm nhạc dân tộc chỉ phát thanh, phát hình vào lúc khuya, lúc ít người xem, người nghe.

Trên thị trường thương mãi, tràn ngập dĩa hát, chương trình phát thanh, video truyền hình, phim điện ảnh do các nước tiên tiến về mặt kỹ thuật tung ra, bán khắp nơi, nhứt là trong các nước “chậm tiến”.

Nguyên nhân thứ tư là “bịnh làm biếng

”Người nông dân lao động ngày nay, không còn có can đảm đi “ngủ bọn” để học những bài hát “lề lối” của truyền thống quan họ như ngày trước, không muốn mất thì giờ học cách “buông hơi, bắt hơi” để hò đối đáp, chỉ thích nghe người khác hát, hơn tự mình hát.

Học đờn, học hát theo truyền thống, đòi hỏi nhiều thì giờ, lắm công phu luyện tập. Muốn hiểu được nghệ thuật Chèo, Tuồng, muốn thưởng thức tiếng phách Ca Trù, muốn biết được hơi Bắc, hơi Nam trong ca nhạc Huế, hay ca cải lương, tài tử, không phải một ngày một buổi mà được “nhập điệu”. Học khảy đờn lục huyền cầm thì chỉ thuộc một số nhỏ hợp âm đã đủ sức đờn đệm cho người hát tân nhạc. Một số bài bản mới của Việt Nam hay của nước ngoài, toàn là những điệu dễ nghe, dễ nhớ, mà cũng dễ quên, chỉ làm cho mình êm tai mà khỏi cần suy nghĩ. Những ai hơi làm biếng một chút thì nhứt định sợ các loại nhạc truyền thống mà chạy theo các lối nhạc thời trang.

Vì những lý do trên, thanh niên càng ngày càng đi xa âm nhạc, kịch nghệ dân tộc và trước sự tấn công ồ ạt của các loại nhạc kích động – thường được gọi là “nhạc trẻ” – thanh niên đã ít biết hát dân ca, nay lại say nhạc Jazz, nhạc Pop.

Không biết, không học đờn tranh, đờn bầu, mà thích sử dụng đờn guitar và organ điện. Không thích nghe nhạc Việt Nam, mà thích gật gù hay quay cuồng với nhạc Bắc Mỹ, Nam Mỹ, nhạc Âu Châu hoặc nhạc Hồng Kông, Đài Loan, tức là đã bị bệnh “tự ti mặc cảm” lậm sâu vào huyết quản, bịnh “vọng ngoại” thấm nhập cả tim gan rồi.

Bịnh đó rất trầm trọng, có thể vào trạng thái “kinh niên”, không phải chỉ một vài liều thuốc “trị chứng” mà có thể đánh lùi con bịnh, đem lại sức khỏe cho thanh niên Việt Nam đâu.

Có người nghĩ rằng nếu thanh niên quên vốn cổ, thì “bắt buộc” thanh niên học vốn cổ. Thanh niên mê nhạc nước ngoài thì “cấm” thanh niên biểu diễn nhạc nước ngoài. Đó là muốn “trị chứng” đấy. Nhưng làm sao có thể “ép buộc” người ta làm một việc mà người ta không thích thú, hay không thấy cần thiết phải làm? Và không có phương thuốc nào dở hơn là phương thuốc “cấm”. Cấm tức là xúi giục người ta làm những việc “bị cấm”, cho những “hàng bị cấm” càng thêm sức hấp dẫn của “trái cấm”.

Chúng ta đã thấy rõ rằng thanh niên không thích nhạc truyền thống, vì những hoàn cảnh lịch sử, xã hội, những điều kiện vật chất kinh tế, đã làm cho thanh niên đi xa và không còn hiểu rõ được truyền thống dân tộc, không hiểu mới sinh ra “tự ti”, vì tự ti mới sinh ra vọng ngoại. Thì trị căn, tức là làm sao đánh tan mặc cảm tự ti, bằng cách tiêm vào trong tâm hồn thanh niên niềm “ tự hào dân tộc”

.Muốn có “tự hào dân tộc”, phải nhận thức được giá trị của nhạc dân tộc, phải quen thuộc với nó, phải thấy mình gắn bó mật thiết với nhạc dân tộc. Muốn được vậy, phải thay đổi cách sống, thay đổi thái độ của chúng ta đối với âm nhạc, kịch nghệ dân tộc, phải tìm hiểu nghệ thuật truyền thống, phải nghiêm túc thi hành những biện pháp chúng tôi sẽ nêu ra một cách toàn diện và đồng bộ.

Bắt đầu là tạo điều kiện cho tiếng hát ru sống lại.

Cùng một lúc với dòng sữa nóng của người mẹ truyền sang cơ thể của em bé, có một điệu hát ru rót vào tiềm thức của em. Đó là bài giáo dục âm nhạc đầu tiên, là một nét nhạc dân gian gắn liền với tình con thương mẹ. Em bé lớn lên, trong tiềm thức của em cũng như trong bộ nhớ của một máy tính điện tử đã có sẵn những nét nhạc dân tộc. Em yêu mẹ, em sẽ yêu những nét nhạc đã gắn liền với cánh tay ấm, với dòng sữa ngọt của mẹ lúc em còn nằm trong nôi.

Khi em đến tuổi biết chạy chơi, thì dạy cho em hát những bài hát dân gian phù hợp với tâm hồn trẻ em, như mấy bài “Nu na nu nống”, “Chi chi chành chành”, “Con công hay múa” hay những bài hát sáng tác cho trẻ em, mà đậm màu sắc dân tộc. Cho các em làm quen với trống da ếch, với kèn lá chuối, với ống đu đủ, với phách tre. Dạy cho các em biết xướng âm tiếng Việt Hò, Xự, Xang, Xê, Cống trước khi học Do, Re, Mi, Fa, Sol cũng như dạy cho các em biết nói tiếng Việt trước khi học ngoại ngữ. Cho các em nghe tiếng nhạc cụ dân tộc, làm quen với những điệu múa dân gian trước khi cho các em tiếp xúc với ca vũ nhạc nước ngoài.

Trên đồng áng, trên sông rạch, khuyến khích nông dân vừa làm việc vừa hò đối đáp, tặng giải cho những người hò tốt giọng, ứng đối nhanh, sáng tạo những câu hò phù hợp với nếp sống mới. Vừa hát đối đáp, vừa làm việc, năng suất sẽ cao hơn. Ít nhất cũng cho nông dân nghe những lối hát dân gian, dân tộc truyền thống có liên quan đến công việc làm. Trong giờ nghỉ giải lao, cho nghe băng ghi âm những câu hò điệu hát xưa còn lại, hoặc do các danh ca trẻ tuổi biểu diễn

Ủng hộ, nâng đỡ, khuyến khích các loại hình nghệ thuật sân khấu dân tộc, những đoàn ca múa nhạc dân tộc để cho nghệ thuật dân tộc đừng mai một, để cho khán giả không bị nghệ thuật sân khấu nước ngoài hay điện ảnh đẩy lùi vào bóng tối

Trong các trường mẫu giáo, tiểu học, trung học và cả đại học, nên có chương trình giáo dục âm nhạc. Học sinh không cần biết trong chi tiết, nhưng ít nhất cũng biết qua các loại đối ca nam nữ, Quan họ, Trống quân, Cò lả, Hát xoan, Hát ghẹo là gì? Hát chèo khác hơn hát Tuồng, hát Bội thế nào? Tại sao lại gọi tuồng Thầy, tuồng Pho, tuồng Đồ…

Trong các trường tiểu học, trung học của nhiều nước trên thế giới đều có giờ giáo dục âm nhạc. Dưới thời thuộc địa, học sinh trung học Việt Nam lại phải biết các ông Molière, Racine, Corneille là ai, phải học thuộc lòng nhiều đoạn tuồng của các ông đã viết từ thế kỷ thứ XVII. Vậy mà học sinh Việt Nam, mấy cậu, mấy cô biết được các cụ Đào Tấn, Nguyễn Hiển Dĩnh là ai? Và thuộc được mấy câu trong vở tuồng Thầy San Hậu? Không biết, làm sao hiểu? Không hiểu, làm sao nhận thức được giá trị nghệ thuật của kịch nghệ truyền thống Việt Nam?

Báo chí và các phương tiện truyền thông nên làm tròn phận sự thông tin đầy đủ về âm nhạc, kịch nghệ truyền thống. Nên nghĩ đến việc giáo dục thẩm mỹ cho độc giả hay thính giả. Cần có những bài báo, bài nói chuyện, có giải thích trên đài phát thanh, đài truyền hình về giá trị nghệ thuật của ca, vũ, nhạc dân tộc Việt Nam nhiều hơn trước và phát thanh, phát hình vào những giờ thuận tiện cho khán thính giả theo dõi chương trình.

Cần có những lớp đào tạo giáo viên thông hiểu đại cương về âm nhạc, kịch nghệ Việt Nam để dạy chương trình phổ thông về các bộ môn nghệ thuật ấy.

Cần có thêm nhiều nhà sưu tầm, nghiên cứu âm nhạc và kịch nghệ dân tộc để nêu lên những đặc điểm, những nét độc đáo trong âm nhạc, kịch nghệ Việt Nam, in thành sách, báo, tạp chí có tánh cách phổ thông cho quảng đại quần chúng.

Cần có những cuộc thi về nhạc cụ dân tộc, giọng ca dân tộc, kịch nghệ dân tộc để khuyến khích và phát hiện tài năng của các nghệ sĩ trong giới trẻ.Cần phải tôn trọng và ưu đãi những nghệ sĩ truyền thống. Như ở Nhựt Bổn và Hàn Quốc, người nghệ nhân có công giữ gìn và phổ biến âm nhạc, kịch nghệ dân tộc được phong chức “Quốc gia chi bửu”. Ở Ấn Độ, danh hiệu “Padma Shri” cũng dành cho các bậc nhạc sư đã lâu năm chầy tháng truyền dạy hoặc biểu diễn âm nhạc truyền thống Ấn Độ. Có tôn trọng người Thầy trong truyền thống thì tuổi trẻ mới không coi thường những vị đã suốt đời tận tụy với nghệ thuật cổ truyền.

Tất cả những điều tôi nêu trên là những “vị thuốc” tối cần để trị tận căn chứng bệnh “tự ti mặc cảm” và bồi bổ cho “tính tự hào dân tộc”. Vị thuốc nào cũng có công dụng của nó. Không thể bỏ bớt vài vị vì lý do này hay lý do khác.

Nếu các biện pháp ấy được thực hiện đồng bộ và ngay từ bây giờ thì trong vài ba năm nữa, chúng ta có thể thấy được kết quả tốt, tức là sẽ có nhiều người tự hào với vốn dân tộc, thương yêu, bảo tồn, truyền bá âm nhạc và kịch nghệ dân tộc, sẽ không còn cảnh nghệ thuật truyền thống bị đẩy lùi trong bóng tối và chìm trong quên lãng. Sẽ có nhiều thanh niên thiếu nữ trở về nguồn, vì có ý thức giữ bản sắc dân tộc, có ngọn lửa thiêng nhen nhúm trong lòng các bạn ấy, chớ không phải vì một “phong trào”, một “chánh sách”, một “biện pháp” nào lôi cuốn thanh niên trở về nguồn mà thanh niên sẽ tự nguyện trở về nguồn. Như thế dân tộc Việt Nam sẽ đủ sức chống lại bất cứ sự “tấn công văn hóa” nào và truyền thống âm nhạc, kịch nghệ dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ bị tiêu diệt. Mong thay! Mong thay!

GS TRẦN VĂN KHÊ :CHUNG QUANH PHONG TRÀO « VỀ NGUỒN » VÀ CHỨNG BỊNH CỦA THỜI ĐẠI(Phần 1)

· CHUNG QUANH PHONG TRÀO « VỀ NGUỒN » VÀ CHỨNG BỊNH CỦA THỜI ĐẠI(Phần 1)

– GS. Trần Văn Khê

-Mấy năm nay, tôi về nước thường hơn và các báo lại có dịp phỏng vấn tôi về những vấn đề văn nghệ. Đặc biệt, tôi nhiều lần được nghe câu hỏi:

“Giáo sư có thể cho chúng tôi biết ý kiến của Giáo sư đối với phong trào “Về nguồn” trong lĩnh vực Âm nhạc chăng?”

Tôi cười và trả lời: “Từ hơn 40 năm nay, tôi đã về nguồn rồi”.

Trong cuộc phỏng vấn tôi không có thì giờ nói rõ đầu đuôi. Hôm nay, tôi xin dẫn các bạn “Về nguồn” của tôi

Xuất thân trong một gia đình bốn đời Nhạc sĩ truyền thống:

Ông cố tôi, Trần Quang Thọ, nhạc sĩ triều đình Huế vào Nam lập gia đình.

Người con trai thứ tư, cụ Trần Quang Diệm, nối nghiệp nhà và nổi tiếng danh cầm Tỳ bà. Ông nội tôi, ông Năm Diệm có 6 người con (theo truyền thống miền Nam, con trai đầu lòng gọi thứ hai vì anh cả là người cha. Cho nên ông nội tôi, con trai thứ tư mà mang tên là Năm Diệm). Chỉ có người cô thứ ba của tôi, cô Ba Viện là đờn Tranh rất hay và cha tôi, ông Trần Quang Triều (ông Bảy Triều) thiện nghệ đờn Kìm (Nguyệt cầm) và đờn Độc huyền. Đặc biệt, cha tôi đã chế ra cách lên dây đờn Kìm mang tên là dây “Tố Lan”, để đờn bài “Tứ đại oán”, “Văn Thiên Tường” mà ngày nay các nhạc sư nhạc tài tử miền Nam còn nhắc nhở.

Từ năm 6 tuổi, tôi đã biết chơi đờn Kìm và đờn Cò (đờn Nhị), 12 tuổi đờn Tranh và 14 tuổi học đánh Trống nhạc lễ, Trống hát bội với cậu Năm tôi là ông Nguyễn Tri Khương. Cố ngoại tôi là danh tướng Nguyễn Tri Phương, ông ngoại tôi là ông Nguyễn Tri Túc, nuôi nhạc sĩ, nhạc công trong nhà để cho hai người con là cậu tư và cậu năm tôi (ông Nguyễn Tri Lạc và Nguyễn Tri Khương) có điều kiện học đờn. Cậu Năm tôi có biệt tài thổi Sáo, đờn Cò, đánh Trống nhạc. Tôi được cậu Năm tôi dạy đánh trống nhạc lễ và hát bội. Được lớn lên trong một gia đình hai bên nội ngoại đều là nhạc sĩ truyền thống, hằng năm, ngày mùng 2 tết là ngày cả gia đình hòa đờn. Và trong năm, mỗi khi có đám hỏi, đám cưới, hay đến ngày giỗ kỵ, hoặc những đêm trăng sáng, thì luôn có hòa đờn trong gia đình.

Nguồn của tôi ở tại hai làng Vĩnh Kim và Đông Hòa, thuộc vùng Sầm Giang, một con sông chảy từ làng tôi ra đến Rạch Gầm. Nhưng khi lớn lên đi học trường Trung học Trương Vĩnh Ký, tôi đã đi xa nguồn, tôi đã tìm cách “phối khí” để giới thiệu những bài truyền thống nhỏ như Bình Bán, Kim Tiền bằng dàn nhạc, trong đó có đờn Cò, đờn Kìm, nhưng cũng có Mandoline, Tây ban cầm… Học trường Y tại Hà Nội, tôi lại xa nguồn hơn, tôi chỉ huy dàn nhạc sinh viên để giới thiệu những sáng tác mới của Lưu Hữu Phước như “Tiếng gọi thanh niên”, “Bạch Đằng Giang”, “Ải Chi Lăng”, “Người xưa đâu tá”… Tôi lại còn đi xa nguồn hơn nữa khi chỉ huy dàn nhạc sinh viên tấu những bản nhạc Tây phương như “Moment musical” của Schubert, “Marche turque” (Hành khúc Thổ Nhĩ kỳ) của Mozart.

Lúc đó tôi nghĩ rằng nhạc phương Tây tiến bộ hơn nhạc Việt Nam và muốn phát triển nhạc truyền thống Việt Nam, phải cần đến nhạc Tây phương. Đó là một suy nghĩ sai lầm của tôi trong thời niên thiếu.

Năm 1952, lúc đang dưỡng bịnh tại miền Nam nước Pháp, sau khi thấy mình đã đi sai đường và phản bội lại nhạc truyền thống, tôi quyết định trở về nguồn. Tôi không đờn piano nữa, tôi luyện tập lại đờn Tranh, đờn Cò và viết thơ thường xuyên cho cậu Năm tôi là ông Nguyễn Tri Khương để hiểu biết thêm về nhạc tài tử miền Nam, về ông Ký Quờn, về hát Cải lương… Rồi tôi soạn Luận án Tấn sĩ Nhạc học với đề tài “Âm nhạc truyền thống Việt Nam”. Tôi tặng cho con gái của anh bạn tôi, họa sĩ Mai Thứ, cây đờn piano mà tôi đã mua được giá rẻ trong một cuộc bán đấu giá và tôi đã tự tay lên dây đờn, để có thể tập trung vào nhạc truyền thống.

“Về nguồn” một cách triệt để!

“Về nguồn” một cách trọn vẹn!

Bảo vệ Luận án Tấn sĩ xong năm 1958, tôi tham dự Hội nghị quốc tế Âm nhạc mùa Thu năm 1958 tại trụ sở Cơ quan văn hóa Liên hiệp quốc (Unesco). Trong buổi hòa nhạc có Yehudi Menuhin, danh cầm violon; Ravi Shankar đờn sitar Ấn Độ, Shinichi Yuize đờn Koto Nhựt, Ebadi đàn setar Ba Tư, Hussein Malek đàn santour Ba Tư và tôi đờn Tranh, đờn Cò Việt Nam. Từ ấy, tôi làm việc mật thiết với Hội đồng quốc tế Âm nhạc (thuộc Unesco) và năm 1960 tôi được cử vào ban chấp hành của Hội đồng quốc tế, được chấp nhận làm Tùy viên nghiên cứu Âm nhạc tại Trung tâm Quốc gia nghiên cứu Khoa học Pháp, với đề tài nghiên cứu “Nhạc dân tộc Việt Nam”. Được cử làm Giám đốc Trung tâm nhạc học Đông phương (thuộc Viện nhạc học Paris) tôi mở lớp dạy đờn Tranh, đờn Kìm cho sinh viên Paris.

Từ ấy đến nay, tôi đã được 42 nước mời tôi thuyết trình hay biểu diễn nhạc truyền thống Việt Nam tại các trường đại học hay trong nhạc hội; dự 187 Hội nghị quốc tế về Âm nhạc và đã hơn trăm lần nói chuyện, giải thích hay biểu diễn nhạc truyền thống Việt Nam; đã viết và đăng gần 200 bài trong các tạp chí chuyên môn, trong đó có hơn 70 bài về nhạc truyền thống Việt Nam; đã chụp ảnh, ghi âm các loại nhạc Việt Nam; hoặc tự biểu diễn với Nhạc sư Vĩnh Bảo, hay với các con của tôi; viết bài giới thiệu cho 14 dĩa hát. Hiện giờ tôi vẫn tiếp tục “đi giảng đạo Nhạc Việt Nam” khắp năm châu bốn biển, vậy thì tôi đã “về nguồn” liên tục trong hơn 40 năm trời.

Ngoài ra, từ 1961, tôi đã viết bài đăng trong tạp chí Bách Khoa số 99, xuất bản ngày 15 tháng 02 năm 1961, trang 67-71, tựa là “Để khơi mạch sống cho cổ nhạc Việt” và khơi mạch sống là phải về nguồn. Cũng trong năm đó, tôi dự Hội nghị Quốc tế với đề tài “Bảo vệ và phát triển nhạc truyền thống”. Tôi đã gặp nơi đó nhiều người cùng quan điểm với tôi, tức là phải trở về nguồn, như: Giáo sư Salah el Mahdi (người Tunisie), Giáo sư Alain Daniélou (người Pháp), Giáo sư Mehdi Barkeshli (người Ba Tư), Giáo sư Kishibe Shigeo (người Nhựt Bổn). Chúng tôi kêu gọi nhạc sĩ Châu Á nên trở về nguồn, để tìm hiểu, học hỏi cái hay trong nhạc truyền thống.

Giáo sư Kishibe trong phần kết luận đã nói một câu đầy ý nghĩa mà tôi thường nhắc lại: “Chúng tôi, người Nhựt Bổn, từ một trăm năm nay đã trèo lên các đỉnh núi âm nhạc phương Tây. Chúng tôi đã lên đến tận đỉnh các núi ấy, núi mang tên Mozart, Beethoven, Schuber… Đứng trên đỉnh núi ấy, chúng tôi thấy ở chân trời, có những đỉnh núi khác cũng cao, cũng đẹp như các ngọn núi mà chúng tôi đang đứng: Đó là núi Âm nhạc truyền thống của Nhựt Bổn. Xin các bạn trẻ Châu Á, Châu Phi đừng mất một trăm năm như chúng tôi, mới thấy được cái hay cái đẹp trong truyền thống âm nhạc của ước các bạn”.

Trong những bài tham luận của tôi tại các Hội nghị Quốc tế hay những bài viết đăng trong các tạp chí chuyên môn, tôi đã rất thường kêu gọi nhạc sĩ Á, Phi hãy trở về nguồn, không phải tìm học vốn cổ để “nệ cổ” mà “ôn cố tri tân”, học cái thời xưa để làm chuyện thời nay. “Về nguồn” để biết mình từ đâu tới và định hướng mình sẽ đi đâu.

Đã dấn thân và kêu gọi về nguồn từ 40 năm rồi, nay thấy được trên đất nước mình phong trào “Về nguồn” được các cơ quan có thẩm quyền, báo chí cổ động, khuyến khích, được thanh niên hoan nghinh, ứng dụng trong những buổi hòa nhạc ở nhiều nơi công cộng, lẽ tất nhiên phản ứng đầu tiên của tôi là vui mừng.——————-

Cuộc phỏng vấn còn tiếp tục với những câu hỏi khác. Chẳng hạn:

– So với mấy lần trước, lần này về nước Giáo sư thấy chi mới lạ do phong trào “Về nguồn” phát động?

– Cũng có nhiều hiện tượng lắm. Từ hình thức tới nội dung, đó là:Chiếc áo dài thướt tha của thiếu nữ Việt Nam đã xuất hiện lại nhiều nơi: trong các trường trung học, trong những buổi chiêu đãi, trên sân khấu ca nhạc. Cả khăn đóng áo dài mà cách đây không lâu, có người cho là “cổ lỗ sĩ”, là “phong kiến”, là “lạc hậu”, là “tiểu tư sản”… thì ngày nay, trong những đám cưới, đám ma, trong những lễ tế thần, những lễ hội ở chùa ở đình, tôi thấy áo thụng xanh, đỏ, áo the, áo gấm đậm màu sắc dân tộc, rõ nét trang nghiêm. Không phải chỉ người già cả, tuổi tác mới khăn áo chỉnh tề, mà các em thiếu nhi trong ban “Tiếng Hát Quê Hương”, trong các đội văn nghệ ở phường, ở quận… cũng áo dài hồng, áo dài vàng, áo dài xanh da trời, mấy cháu trai lên tám, lên mười cũng mặc áo gấm xanh, áo gấm hoa trong khi trình diễn Âm nhạc dân tộc. Trông mấy cháu rất xinh, rất đẹp. Người nước ngoài có dịp xem những chương trình ấy đều trầm trồ khen ngợi hình thức lẫn nội dung.

“Đền Dâu” ở Hà Nội được trùng tu, ca nhạc múa Chầu Văn được thịnh hành, chẳng những ở các nơi có “lên đồng, lên bóng”, mà còn được nghiên cứu có thực tập tại Viện nghiên cứu văn học nghệ thuật dân gian.

Ca Trù không còn bị chỉ trích hay cấm đoán mà trong những buổi lễ cưới hay ngày giỗ kỵ, có những canh hát Ca Trù. Không phải “ả đào” đứng tuổi, mà ở Hà Nội có mấy cô trẻ tuổi mà cũng biết ngâm Sa mạc, Bồng mạc, Hát mưỡu, Hát nói, hay Thỏng tỳ bà.

Trong Nam, tôi dự lễ “Kỳ Yên” tại Đình Nhơn Hòa ở Cầu Ông Lãnh. Anh Đỗ Văn Rỡ làm chánh tế, có lễ thỉnh sắc thần, lễ xây chầu, lễ đại hội, lễ đàn cả, lễ tiền hiền, lễ rước nước, lễ vía Ngũ vị nữ nương có Bóng rỗi, chầu mời, đến lễ tất. Có học trò lễ, có đào thài, có nhạc lễ ngũ âm, trống văn, trống võ, kèn trung, chập bạt, có mõ, có bồng, có múa mâm vàng, có hát bội, mỗi đêm diễn lại tuồng xưa: “Ngũ long đại hội”, “Lưu Bị cầu hôn Giang Tả”, “Triệu Tử đoạt ấu chúa”, “San hậu”… Có cả hai buổi giới thiệu chương trình văn nghệ ca nhạc truyền thống. Nhà văn hóa Quận 1 đã có nhóm “Ca nhạc dân tộc Về nguồn” giới thiệu ca nhạc dân tộc.

Trước kia chỉ có những “tụ điểm” tân nhạc, lần này tôi được thưởng thức mấy chương trình ca nhạc dân tộc tại “Bách Tùng Diệp”, một quán cà phê đối diện với nhà Bảo tàng Cách mạng ngày nay, cách đây không lâu là nơi hò hẹn những cậu, cô “xì ke ma túy”, mà nay là một quán cà phê trang nhã, lấy cây đa to làm tấm phông, sân khấu lộ thiên, âm thanh trang bị tối tân, mỗi đêm có một chương trình đặc biệt như tối thứ ba có cổ nhạc và ngâm thơ. Đêm tôi đến nghe có ca nhạc Huế và hai nhà thơ Tô Kiều Ngân và Vân Khanh giới thiệu chương trình. Có những nghệ sĩ ngâm thơ chuyên nghiệp như Hồng Vân, Thúy Vinh, Huyền Trân. Đặc biệt, Huyền Trân vừa là nghệ sĩ ngâm thơ, vừa là nhiếp ảnh gia, duyên dáng và tha thướt trong chiếc áo dài hoa, khách nước ngoài được người đẹp chụp ảnh rất thú vị và tấm ảnh dù mắc hơn thường cũng đáng tiền. Nhưng thật ra, cà phê đen, cà phê sữa đá không mắc hơn bên ngoài bao nhiêu, chắc chắn rẻ hơn “cà phê ôm”. Người mộ điệu đã được nếm cà phê ngon, nghe nhạc dân tộc, lại ở giữa trời có lắm đêm được trăng thanh gió mát. Đêm thứ tư, nhạc dân tộc với những nghệ sĩ Đinh Thìn (thổi sáo), Đỗ Lộc (đánh đờn T’rưng), đờn angklung. Đêm thứ sáu dân ca ba miền. Ngoài Hồng Vân, còn có những nghệ sĩ nổi tiếng trong làng tân nhạc như Bảo Yến nay cũng quay về với nhạc dân tộc. Có những đêm giới thiệu nhạc tiền chiến…

Có nhiều cuộc thi cho thiếu nhi, cho nhạc dân tộc, cho ca múa nhạc mà ca nhạc dân tộc thường chiếm được huy chương vàng.

Có giải Trần Hữu Trang cho các mầm non của giới cải lương. Năm nay được giải có kép trẻ Vũ Linh, Ngọc Huyền (có sang Pháp biểu diễn xuất sắc trong vở tuồng “Mạnh Lệ Quân”), Thanh Thanh Tâm (con của Thanh Thanh Hoa), Tài Linh (em của Tài Lương)…

Có giải Hoàng Mai Lưu tặng thưởng những nhạc sĩ sáng tác, biểu diễn, hay các nhà nghiên cứu nhạc dân tộc, những nhà đào tạo nghệ sĩ dân tộc.Thật ra chưa có lúc nào Âm nhạc dân tộc truyền thống được biểu diễn rầm rộ như năm nay!——————–

Thưa Giáo sư, áo dài của phụ nữ thì quả là rất đẹp và phù hợp với con người Việt Nam. Nhưng khăn đóng áo dài cho nam giới có cần phải khôi phục lại và có cần phải mặc khăn đóng áo dài mới biểu diễn nhạc dân tộc hay hơn?

– Chẳng biết các bạn thanh niên Việt Nam trong nước nghĩ thế nào chớ tôi thì khỏi “khôi phục” lại khăn đóng áo dài.

Năm 1958, tại trụ sở Unesco, khi giới thiệu nhạc Việt Nam tôi đã mặc áo dài. Rất may cho tôi, chớ không thì khi ông Yuize Shinichi Nhựt Bổn mặc Kimono, khi Ravi Shankar mặc lễ phục Ấn Độ, mà tôi mặc âu phục, thì hóa ra Việt Nam mất bản sắc dân tộc, vì là dân thuộc địa nên bỏ cả quốc phục của mình để mặc y phục của người dân thống trị mình, thì chắc tôi rất xấu hổ hôm ấy. Có người cho là “phong kiến”, tôi đã cười mà trả lời: Phong kiến hay không là trong tư tưởng, hành động của mình, phong kiến hay không là trong đầu của mình, chớ cái khăn đóng chiếc áo dài có phong kiến chỗ nào đâu? Vả lại, nghệ thuật thường phải được giới thiệu một cách toàn diện. Khi uống chén trà ngon, tại sao lại phải dùng chén nhỏ như hột mít, uống rượu “champagne” phải có một thứ ly pha lê mà người Pháp gọi là “coupe de champagne”? Rượu champagne tự nó đã ngon rồi, nhưng thử uống rượu champagne bằng một cái ly giấy bồi, hay một chén hột dưa, liệu có ngon bằng uống với một cái “coupe” đúng điệu hay chăng? Nội dung và hình thức phải được đi đôi với nhau khi muốn giới thiệu nghệ thuật một cách toàn diện. Vì vậy, mặc dầu đã bị những người tự cho mình là “tiến bộ”, có khi cả những bạn rất thân chỉ trích, phê bình, nhạo báng vì tôi đã nhứt định mặc áo dài Việt Nam khi hòa nhạc Việt Nam cho người Việt hay người ngoại quốc nghe, tôi không hề nao núng. Và hôm nay, tôi rất vui là thấy mình có lý và mình đã đi trước phong trào về nguồn đến 40 năm!——————–

Giáo sư nghĩ sao về việc lễ bái, cúng đình, xin xăm bói toán? Có phải như vậy là “về nguồn” một cách đúng đắn không?

– Tôi xin trả lời về việc lễ bái, cúng đình trước.

Cúng đình không phải là vì “mê tín dị đoan”. Cúng đình là nhớ lại công ơn của người trước, vì thần thánh hoàn toàn là những ông quan có công, có tài, có đức mới được phong Thành Hoàng. Trong đình Nhơn Hòa có thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo là người có công đánh đuổi quân Mông Cổ xâm lược, nêu cao tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam. Nhớ lại người xưa đã có công dựng nước, cứu nước là đúng với đạo lý con người biết ân, biết nghĩa.

Lễ bái là một hình thức văn hóa, là thái độ trang nghiêm để tỏ lòng kính cẩn, mến phục tiền bối, là một bằng chứng của nếp sống văn hóa của người Việt.

Cúng đình lại là một dịp cho người trong một xóm, một vùng gặp gỡ nhau, và trong mấy hôm được ra khỏi cái bận rộn hay quay cuồng của cuộc sống, để ngồi yên, trầm tư hoặc tưởng niệm công đức người xưa, đó là một hình thức “thiền” hay “thư giãn” phù hợp với vệ sinh trong cuộc sống. Người Hồi giáo trong một năm dành đến một tháng “Ramadan” ăn chay, đọc kinh, tưởng niệm Giáo chủ. Ta chỉ có ba ngày, mà mỗi ngày tùy theo công việc, có ít giờ đồng hồ “thư giãn” như thế, theo ý tôi rất tốt cho cơ thể và tâm hồn của chúng ta. Huống chi có cúng đình là nhạc Lễ sẽ sống lại, vì không có nhạc không thành Lễ.

Nhạc Lễ là một bộ môn âm nhạc rất tinh vi về tiết tấu. Cách đây 12 năm, tôi đã gặp anh Tám Phát tại rạp hát bội Long Phụng. Anh nói chuyện cho tôi nghe về cách “vỗ trống cơm”, “vỗ bồng”, tôi thấy anh rất sành nhạc lễ, tôi hỏi tại sao anh không hành nghề nhạc lễ hoặc truyền nghề nhạc cho con em, lại đi theo gánh hát bội, thì anh trả lời rằng theo nhạc lễ sẽ chết đói. Nhưng năm nay, tôi gặp anh tươi cười, chít khăn đóng, mặc áo gấm xanh, thủ cặp trống Văn, trống Võ, thổi kèn trung trong một dàn nhạc ngũ âm hùng hậu, tôi có mấy lời chúc mừng nhạc lễ được hồi sinh. Anh vui vẻ trả lời: “Nhờ có cúng đình, và trong hai năm nay nhiều đám tang rước nhạc lễ nên tôi cũng dễ thở”. Anh đã dạy cho con trai anh, cậu Dũng, năm nay hơn hai mươi tuổi nối nghiệp cha, tuy tuổi trẻ mà đã dòn roi trống, đã khỏe hơi kèn rồi.

Về việc xin xăm, bói tướng thì tôi mặc dù không tin vào việc coi bói, nhưng tôi không chỉ trích việc xem bói. Nếu xã hội được tổ chức hoàn mỹ, mọi người dư ăn dư để, chắc không ai xem bói, xin xăm làm gì. Khi không tìm được lối thoát trong cuộc sống đầy khó khăn, thì người ta mới nghĩ đến việc tìm một chút an ủi, một tia hy vọng trong tương lai vô định, ngang qua sự hỗ trợ vô hình của thần thánh.——————–

Trong lãnh vực âm nhạc, Giáo sư có ý kiến chi đối với phong trào “Về nguồn”?

– Có nhiều biểu hiện đáng mừng, như số buổi biểu diễn nhạc dân tộc được nhiều hơn. Số người đi nghe nhạc truyền thống cũng đông hơn. Anh Lư Nhất Vũ cho tôi biết rằng số băng cassette ghi âm dân ca cổ nhạc được bán ra trong năm rồi lên đến con số 60 ngàn, trong khi nhạc Trịnh Công Sơn trước kia bán rất chạy mà chỉ được 10 ngàn băng nhạc. Thành đoàn năm nay cho Lư Nhất Vũ và Lê Giang phần thưởng 5 triệu đồng về công trình sưu tầm âm nhạc dân tộc miền Nam

.Nhưng tôi cũng lo ngại và không muốn nghĩ rằng phong trào “Về nguồn” là một “thời trang”, vì thời trang đến và thời trang sẽ đi khi không còn hợp thời nữa.

Các cơ quan hữu trách ủng hộ nhiệt tình phong trào “Về nguồn”. Tôi mong rằng đó không phải là một chính sách có tánh chất “giai đoạn”. Lúc này cổ động “Về nguồn”. Trong giai đoạn sau sẽ cổ động việc khác.

Các sinh hoạt dính với “Về nguồn” hiện nay khá rầm rộ. Tôi không muốn thấy phong trào ấy như một ngọn lửa rơm, cháy to, cháy cao, cháy mạnh, nhưng bộc phát mà chóng lụi tàn. Mà tôi mong rằng thái độ đi về nguồn sẽ do một ngọn lửa thiêng tự trong lòng của mỗi người Việt Nam, nung nấu hành động của mình đối với việc giữ gìn và phát triển “bản sắc dân tộc”, vì mình biết tự hào với cái vốn âm nhạc nghệ thuật mà cha ông chúng ta đã lưu truyền lại cho chúng ta.

– Thưa Giáo sư, làm sao để nhen nhúm ngọn lửa thiêng ấy?

– Đó là một vấn đề rất khó giải thích trong đôi câu. Muốn nhen nhúm ngọn lửa thiêng ấy, trước hết phải trị căn bịnh của thời đại. Nếu có thì giờ, tôi sẽ đề cập đến căn bịnh của thời đại, tìm nguyên nhân căn bịnh ấy và những phương thuốc để trị, mà trị căn chớ không trị chứng và như thế mới khả dĩ nhen nhúm trong lòng mọi người một ngọn “lửa thiêng”.

NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH GS TRẦN VĂN KHÊ

https://tuoitre.vn/giao-su-tran-van-khe.html

Thứ 5, ngày 29 tháng 7 năm 2021

Xem thêm

TRẦN VĂN KHÊ : ÂM DƯƠNG TRONG ÂM NHẠC

ÂM DƯƠNG TRONG ÂM NHẠC(GS. TRẦN VĂN KHÊ)

Trong ngôn ngữ Việt Nam, thường chúng ta hay nghe nói nhà cửa, cơm nước, vợ chồng, lầu đài, nước non, sông núi, giang sơn… mục đích không phải kể ra hai yếu tố đối chọi với nhau mà bổ sung cho nhau. Cố Giáo sư Trần Quốc Vượng có nhắc đến điểm này và cho đó là quan niệm “lưỡng phân, lưỡng hợp” mà ta có thể tìm thấy được trong ngôn ngữ, trong nghệ thuật nói chung và âm nhạc nói riêng. Để minh họa cho ý kiến đó, Giáo sư Trần Quốc Vượng đã nhìn trên mặt trống đồng Ngọc Lũ và nhận thấy người thợ tạo ra trống đồng đã chạm những con hươu tượng trưng cho núi, những con cá tượng trưng cho nước. Núi và nước là hai yếu tố người Việt thường nghĩ tới trong rất nhiều truyền thuyết như “Lạc Long Quân – Âu Cơ”,“Sơn Tinh – Thủy Tinh”… Trong ngôn ngữ thì có “giang sơn”, “sơn thủy”…

“Âm dương” mà chúng tôi sẽ đề cập cũng ở trong quan niệm đó chớ không phải “âm dương” trong Kinh dịch.

Trong cuộc sống người Việt Nam, quan niệm “âm dương” thường được thể hiện ở nhiều lãnh vực:

• Trong văn hóa ẩm thực:

– Khi chọn lựa vật liệu nấu thức ăn, người ta luôn luôn trộn vị mặn với chua hoặc ngọt. Vị mặn thuộc về dương mà chua, ngọt thuộc về âm. Các nhà nghiên cứu về thức ăn của Nhựt Bổn cũng xác nhận như thế. Chúng ta thấy nước mắm mặn thường được thêm vào vị chua của chanh hay dấm và vị ngọt của đường. Các món mặn như thịt kho, cá kho đều có nêm chút đường dưới hình thức đường bột hay nước màu. Ăn bưởi chua hay xoài tượng đều chấm muối hay nước mắm, ăn dưa ngọt hay nấu chè thường dằn một chút muối. Như thế thì “âm dương” tương xứng. Từ “âm dương” sanh ra “hàn nhiệt”: thịt cua đinh hay thịt vịt thuộc về “hàn” nên chấm với nước mắm gừng, gừng là “nhiệt”; hột vịt lộn cũng phải ăn với rau răm cũng do quan điểm “hàn nhiệt”. Hải Thượng Lãn Ông được coi là ông tổ của nền y học Việt Nam đã viết ra một quyển về các loại rau dùng trong nấu ăn và trị bịnh, cho biết rõ loại rau nào thuộc về “hàn/nhiệt”, “âm/dương”.

– Khi chọn thức ăn và người ăn cũng để ý đến sự quân bình trong “âm dương”. Nếu người bịnh bị sốt vì cảm lạnh như mắc mưa hay dầm sương thì “âm” đã có trong cơ thể người bịnh rất nhiều, phải cho người bịnh ăn cháo gừng, để gừng thuộc “dương” sẽ tạo sự quân bình “âm dương” trong cơ thể. Ngược lại nếu người bịnh bị sốt vì cảm nắng thì không thể cho ăn cháo gừng vì trong người bịnh yếu tố “dương” đã có rất nhiều. Do đó nên cho người bịnh ăn cháo hành vì hành đem tới tính chất “âm”.

– Khi chọn thức ăn cũng để ý đến thời tiết bên ngoài. Mùa hè thì yếu tố “dương” có rất nhiều trong không khí nên phải ăn những món “âm” như canh chua, chè sen và nhiều thứ rau. Còn mùa đông có rất nhiều yếu tố “âm” trong không gian nên phải ăn những món nướng và gia vị ướp tỏi, tiêu, sả… để bổ sung chất « dương ».

• Trong Y học:

Người y sĩ thường không để ý đến việc trị chứng như thấy sốt thì cho uống giải nhiệt mà quan tâm đến việc trị căn, tức là tìm yếu tố gốc gây ra sốt bằng cách bắt mạch. Nghe tiếng mạch nhảy qua đầu ngón tay, người y sĩ nhận thấy trong cơ thể bịnh nhân mất sự thăng bằng về “âm dương”. Trong trường hợp đó, phải tìm những vị thuốc nào có thể đem lại sự quân bình “âm dương” trong cơ thể.

• Trong thiên nhiên:

Rất nhiều trường hợp mà người Việt nhắc đến “âm dương” như đêm là âm, ngày là dương; tối là âm, sáng là dương; khí lạnh mùa đông là âm, khí nóng mùa hè là dương; trạng thái tịnh là âm, động là dương; đất là âm, trời là dương…

• Trong đời thường:

Lịch Ta căn cứ trên sự chuyển dịch của mặt trăng là âm, lịch Tây căn cứ trên sự xoay chuyển của mặt trời là dương; sự chết là âm, sự sống là dương; buồn là âm, vui là dương; mơ hồ là âm, hiện thực là dương; xui xẻo là âm, may mắn là dương; số chẵn là âm, số lẻ là dương…

• Trong lãnh vực âm nhạc:Đi từ cụ thể đến trừu tượng, chúng ta thử xem trong nhạc khí, trong bài bản và trong cách biểu diễn, quan điểm âm dương được thể hiện như thế nào trong âm nhạc truyền thống Việt Nam?—————–

1. Nhạc khí:

Trước hết, hãy xem qua bộ môn Ca trù.

Một nhóm Ca trù thường có hai người, một là đào nương vừa ca vừa nhịp phách, một kép dùng đờn đáy phụ họa và một “quan viên” cầm chầu. Phách có 3 phần: một thanh tre hay một miếng gỗ gọi là “bàn phách”, hai cái dùi: một dùi tròn có chuôi nhọn và một dùi chẻ làm hai. Tiếng chuyên môn trong giới Ca trù thường gọi hai dùi này là “phách con” và “phách cái”. Dùi có chuôi nhọn tượng trưng cho dương vật, dùi chẻ làm hai tượng trưng cho âm vật (như “linga” và “yoni” trong quan điểm Ấn Độ) và nhờ vậy mà khi hai dùi gõ trên bàn phách có một tiếng trong một tiếng đục, một tiếng cao một tiếng thấp, một tiếng mạnh một tiếng nhẹ, cũng chính là một tiếng dương và một tiếng âm. Âm dương trộn nhau nhuần nhuyễn thành một loại tiết tấu đặc biệt, không nghe rõ tiếng phách chia thời gian âm nhạc ra từng quãng bằng nhau và không bằng nhau. Trên thế giới chưa loại dùi nào tuy một đôi mà lại khác biệt nhau từ hình thức cũng như trong cách gõ như thế.

Về loại tiết tấu này, chúng ta chỉ gặp được trong âm nhạc truyền thống Ấn Độ, không phải là phách cái và phách con trộn vào nhau mà là hai loại trống Tabla vỗ bằng tay mặt và Bahya vỗ bằng tay trái phát ra một tiếng trong và một tiếng đục. Hai tiếng đục và trong cũng được coi như là âm và dương tạo nên một loại tiết tấu rất đặc biệt: tuy có tiết tấu mà nghe như không tiết tấu, tưởng thực mà hư, tưởng hư mà thực, tưởng hiện mà ẩn, tưởng ẩn mà hiện. Hai cảm giác đó thực hư, hiện ẩn, người Ấn Độ đã có dùng hai chữ Tâla và Laya. Tâla đối với người Ấn Độ như bước đi của người thiếu nữ trên bờ biển, người ta thấy được bước đi mà ghi lại được số bước đi, trong khi đó Laya là cảm giác tiết tấu ngang qua cái váy của ngưới thiếu nữ đang đi: đi mau thì váy phất mau, đi chậm thì váy phất chậm. Thấy được cái mau chậm đó mà không thể ghi lại được bằng con số sự chuyển động của chiếc váy…

Một bộ môn khác là Nhạc lễ, với dàn ngũ âm (năm nhạc sĩ sử dụng năm nhạc khí khác nhau) trong đó có hai trống nhạc đóng vai trò rất quan trọng. Cặp trống này được gọi là “trống đực” và “trống cái” tức đã bao hàm ý tưởng dương và âm. Vì vậy có nhiều nơi không gọi là trống đực, trống cái mà gọi là trống dương và trống âm, cũng có nơi gọi là trống văn và trống võ.

Màu âm của tiếng trống trong Nhạc lễ được sử dụng vô cùng tinh vi. Chẳng hạn như « tang, thờn, tùng, thùng » khi đánh vào giữa mặt da dùng để đánh nhịp hay để chấm câu. Tiếng trống đó là tiếng trống thường. Còn khi đánh vào vành da thì gọi là « Tong, táng, tỏng », đây là cách « đánh sáng » và tiếng trống đó gọi là tiếng « dương ». Khi đánh âm táng hay tong liên hồi diễn tả sự sôi động của tâm hồn hoặc tâm trạng giận dữ, hốt hoảng.

Khi dùng dùi bên trái bịt mặt trống, dùi tay mặt đánh vào phía giữa mặt trống thì cách đánh đó gọi là « đánh tối », tức là tiếng trống đó là tiếng « âm ». « Tịch » dùng để biểu lộ sự ngạc nhiên, suy nghĩ hay do dự, có khi nghẹn ngào, uất ức.

Thông thường trong biểu diễn luôn luôn có tiếng âm và dương trộn lẫn với nhau chớ không đơn thuần tiếng trống âm hay dương mà thôi. Những tiếng trống đó không có một vị trí cố định trong một khổ tiết tấu mà tiếng âm có thể thay thế bằng tiếng dương và ngược lại. Vì thế một hình thức tiết tấu không bị cố định mà có thể linh động khi sáng khi tối, thiên biến vạn hóa.

Khi phối hợp các nhạc cụ nhạc khí, chẳng những người Việt mà kể cả phần đông các dân tộc châu Á thường để ý đến tiếng kim và tiếng thổ tức là tiếng trong và tiếng đục, và đôi khi lại ví những nhạc khí như là đôi vợ chồng. Do đó trong lời chúc tốt đẹp cho những cuộc hôn nhân, người Trung Quốc và người Việt Nam hay dùng câu “loan phụng hòa minh, sắt cầm hảo hiệp”. Chim Loan là chim mái, chim Phụng là chim trống cùng hòa tiếng hát với nhau, tức là vợ chồng được trên thuận dưới hòa, không cãi nhau mà nói với nhau những lời yêu thương, tình tứ. Theo quan niệm của người Trung Quốc, « đờn cầm » là tượng trưng cho phái nam, những người đánh đờn cầm danh tiếng đại đa số là đờn ông; « đờn sắt » được coi như người phụ nữ nên khi hai cây đờn mà gặp nhau hòa lên những thanh âm tốt đẹp cũng như cặp vợ chồng xứng đôi vừa lứa.—————–

2. Bài bản:

Trong xã hội nông thôn ngày xưa, thanh niên thiếu nữ lớn lên khi bắt đầu tham gia việc nhà nông ngoài ruộng đồng thường trao đổi những câu hò khi đang lao động hay trong lúc nghỉ ngơi. Đây là sinh hoạt văn hoá đặc sắc trong dân gian, hình thành một gia sản văn học vô cùng phong phú.

Ngay trong cách sáng tạo câu hò đã thể hiện rõ quan điểm âm dương. Thông thường luôn có một “vế trống” và một “vế mái”, có khi gọi là “câu xô” và “câu kể” (Do đó mà khi ta nghe nói câu hò “mái hai”, “mái ba”, có nghĩa là một câu có một “câu trống” và hai hoặc ba “câu mái” – hoặc hai hay ba đoạn kể, chứ chữ “mái” ở đây không có nghĩa là mái chèo). Người hò câu kể thường gọi là « hò cái », còn người đáp lại bằng câu xô được gọi là « hò con ». Cái với con cũng là mẹ với con, cũng là âm với dương.

Nội dung nhiều câu hò cũng chứa đựng sự gặp gỡ âm dương, chẳng hạn như:

« Nhớ nàng như bút nhớ nghiên

Như mực nhớ giấy, như thuyền nhớ sông »

Hình dáng của “bút” và “nghiên” ở đây tượng trưng cho nam và nữ, như thế trong câu đó đã phảng phất dương và âm, cũng như “thuyền” là dương mà “sông” là âm.Trong các bài bản Nam xuân, Nam ai của Ca nhạc tài tử thì có những lớp gọi là “lớp trống” hay “lớp mái” cũng hàm ý nhắc đến quan điểm âm dương.

Trong hát tuồng hát bội, một bài hát Nam xuân thường có ba vế, ba cặp thơ lục bát. Vế đầu và vế chót thường kết thúc bằng láy dương, vế giữa kết thúc bằng láy âm (láy là một mẫu âm dùng để kéo dài tiếng luyến, mà luyến là cách kéo dài độ cao của một chữ trong câu thơ. Luyến và láy là những kỹ thuật thanh nhạc rất tinh vi trong nghệ thuật hát tuồng, hát bội. Tuy đây không phải là một bài chuyên về thanh nhạc trong Hát bội nhưng chúng tôi cũng muốn nói thêm rằng có cách láy lệ, láy nhún, láy rút, láy sa hầm… rất tinh vi và độc đáo trong nghệ thuật tô điểm nét nhạc)

Từ quan điểm âm dương nảy sanh ra những bài bản dài ngắn khác nhau như “lưu thủy trường” và “lưu thủy đoản”, những bản trước và sau mang tên “ngũ đối thượng”, “ngũ đối hạ” (thượng và hạ đồng nghĩa với trên và dưới, trước và sau), hoặc một bản mau, một bản chậm như “phú lục” và “phú lục chậm”.—————–

3. Cách biểu diễn:

Trong truyền thống Ca trù, người ca phải là “đào nương”, “ả đào”, người đờn phải là nam gọi là “kép”, rất hiếm khi có phụ nữ đờn đáy cho đào nương ca.

Trong loại hát Đối ca nam nữ thì – như tên đã gọi – người hát hai bên phải khác phái. Trong khi đối ý, nếu bài hát xướng là “Lên non” hay “Lên rừng” thì bài hát họa phải là “Xuống sông” hay “Xuống bể” và quan điểm lên, xuống cũng từ âm, dương mà ra.

Trong truyền thống Quan họ, “liền anh” luôn luôn cầm cây dù còn “liền chị” thì tay cầm chiếc nón quai thao, một vật nhọn một vật tròn cũng là thể hiện quan điểm âm dương (Linga và Yoni)

Trong loại múa dân gian, khi cầu cho được mùa – theo chuyên gia Lâm Tô Lộc –phía nam phải cầm cây tre nhọn còn bên nữ thì cầm mo cau. Cả hai vật này đều mang hình dáng ẩn dụ tượng trưng cho nam và nữ cũng từ quan điểm âm và dương.

Trong Ca nhạc tài tử, khi hòa đờn thì luôn luôn lựa tiếng thổ (trầm và đục) để hòa với tiếng kim (cao và trong) cũng từ quan điểm âm dương mà ra.* * *

Tóm lại, nếu nhìn những sự kiện trong âm nhạc với đôi mắt và tâm hồn thấm nhuần triết lý âm dương trong cuộc sống của dân tộc Việt Nam nói riêng, của châu Á nói chung, chúng ta sẽ khám phá ra nhiều điều thú vị hơn là chỉ đơn thuần nghe âm thanh bằng đôi tai và nhìn sự vật bằng đôi mắt.

(Tranh lụa nghệ thuật CA TRÙ – Họa sĩ Lê Năng Hiển)

Chân dung TRẦN VĂN KHÊ qua ống kính Trần Tiến Dũng

Chân dung TRẦN VĂN KHÊ qua ống kính Trần Tiến Dũng

Chân thành cảm ơn nhà báo Trần Tiến Dũng đã ghi lại những hình ảnh rất đẹp của GS Trần Văn Khê – vị Giáo sư Âm nhạc truyền thống VN & vị Thầy đáng kính của rất nhiều thế hệ.

Người đăng: TRAN VAN KHE vào lúc 7/06/2021 12:45:00 SA Không có nhận xét nào: Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên TwitterChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest Nhãn: chân dung Trần Văn Khê

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2020

Có hiểu mới thương…

« Tôi không có ở trong nước, nhưng ngang qua các chương trình nhạc trẻ trên truyền hình, tại các tụ điểm, hay trong các trang nhà trên mạng, đa số giới trẻ không thích nhạc dân tộc, thích tân nhạc và các loại nhạc Âu Mỹ. Sở dĩ có tình trạng đó là như tôi đã viết trong bài « Căn bịnh mãn tính của Âm nhạc truyền thống VN », vì các hoàn cảnh lịch sử, chánh trị, kinh tế trong nước ta từ lâu đã làm cho trẻ em không còn được bài giáo dục âm nhạc đầu tiên qua câu hát ru của mẹ, không nghe những câu hò điệu lý trong đồng quê, qua những phương tiện truyền thông đại chúng gặp những loại nhạc trẻ từ phương Tây làm cho giới trẻ xa lần và không hiểu chi về nhạc dân tộc, tạo nên một mặc cảm tự ti, một tánh vọng ngoại trong cả nước và đặc biệt trong giới trẻ. Không thể đi ngược lại trào lưu của giới trẻ hiện nay, tôi chỉ nhắc cho các bạn trẻ nhớ rằng: 𝑵𝒈𝒖̛𝒐̛̀𝒊 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎 đ𝒂̃ 𝒉𝒚 𝒔𝒊𝒏𝒉 𝒃𝒂𝒐 𝒏𝒉𝒊𝒆̂𝒖 𝒙𝒖̛𝒐𝒏𝒈 𝒎𝒂́𝒖 đ𝒆̂̉ 𝒍𝒂̂́𝒚 𝒍𝒂̣𝒊 𝒄𝒉𝒖̉ 𝒒𝒖𝒚𝒆̂̀𝒏 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄. 𝑵𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎, 𝒏𝒈𝒖̛𝒐̛̀𝒊 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎 𝒍𝒂̀𝒎 𝒄𝒉𝒖̉, 𝒕𝒉𝒊̀ 𝒗𝒂̆𝒏 𝒉𝒐𝒂́ 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎 𝒄𝒖̃𝒏𝒈 𝒑𝒉𝒂̉𝒊 𝒄𝒐́ đ𝒊̣𝒂 𝒗𝒊̣ 𝒄𝒉𝒖̉ 𝒏𝒉𝒂̀. 𝑪𝒂́𝒄 𝒗𝒂̆𝒏 𝒉𝒐𝒂́ 𝒌𝒉𝒂́𝒄 𝒍𝒂̀ 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉. 𝑪𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒂 𝒉𝒊𝒆̂́𝒖 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉, 𝒎𝒐̛̀𝒊 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒗𝒂̀𝒐 𝒏𝒉𝒂̀ 𝒗𝒂̀ 𝒕𝒊𝒆̂́𝒑 đ𝒂̃𝒊 𝒏𝒐̂̀𝒏𝒈 𝒉𝒂̣̂𝒖. 𝑵𝒉𝒖̛𝒏𝒈 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 đ𝒆̂́𝒏 𝒄𝒉𝒐̛𝒊 𝒕𝒉𝒊̀ 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒐̛̉ 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒑𝒉𝒐̀𝒏𝒈 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉. 𝑲𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒄𝒉𝒐̛𝒊 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒕𝒉𝒐̛̀𝒊 𝒈𝒊𝒂𝒏 𝒓𝒐̂̀𝑰 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒓𝒂 𝒗𝒆̂̀, 𝒄𝒉𝒐̛́ 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒌𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒕𝒉𝒆̂̉ 𝒐̛̉ 𝒍𝒖𝒐̂𝒏 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒏𝒉𝒂̀ 𝒄𝒖̉𝒂 𝒕𝒂, 𝒍𝒂̣𝒊 𝒄𝒐̀𝒏 𝒅𝒆̣𝒑 𝒃𝒂̀𝒏 𝒕𝒉𝒐̛̀ 𝒄𝒖́𝒂 𝒕𝒂 𝒕𝒉𝒐̛̀ 𝑶̂𝒏𝒈 𝒃𝒂̀, 𝒏𝒈𝒐̂̀𝒊 𝒕𝒉𝒆̂́ 𝒄𝒉𝒐̂̃ 𝒂̂́𝒚 𝒎𝒂̀ 𝒕𝒉𝒂𝒏𝒉 𝒏𝒊𝒆̂𝒏 𝒄𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒂 𝒍𝒂̣𝒊 𝒒𝒖𝒚̀ 𝒍𝒂̣𝒚 𝒕𝒓𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒏𝒉𝒖̛̃𝒏𝒈 𝒕𝒉𝒂̂̀𝒏 𝒕𝒖̛𝒐̛̣𝒏𝒈 𝒎𝒐̛́𝒊. 𝑨̂𝒎 𝒏𝒉𝒂̣𝒄 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎, 𝒏𝒉𝒖̛ 𝒕𝒊𝒆̂́𝒏𝒈 𝒏𝒐́𝒊 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎 𝒄𝒂̂̀𝒏 𝒕𝒉𝒊𝒆̂́𝒕 𝒄𝒉𝒐 𝒔𝒖̛̣ 𝒎𝒂̂́𝒕 𝒄𝒐̀𝒏 𝒄𝒖̉𝒂 𝒅𝒂̂𝒏 𝒕𝒐̣̂𝒄 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎, 𝒏𝒉𝒖̛ 𝒄𝒐̛𝒎 𝒄𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒂 𝒂̆𝒏, 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒄𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒂 𝒖𝒐̂́𝒏𝒈. 𝑨̂𝒎 𝒏𝒉𝒂̣𝒄 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒏𝒈𝒐𝒂̀𝒊 𝒄𝒐́ 𝒕𝒉𝒆̂̉ 𝒄𝒐́ 𝒔𝒖̛̣ 𝒉𝒂̂́𝒑 𝒅𝒂̂̃𝒏 𝒏𝒉𝒖̛ 𝒐̛́𝒕 𝒍𝒂̀𝒎 𝒄𝒉𝒐 𝒕𝒉𝒖̛́𝒄 𝒂̆𝒏 𝒕𝒉𝒆̂𝒎 𝒏𝒈𝒐𝒏, 𝒏𝒉𝒖̛ 𝒓𝒖̛𝒐̛̣𝒖 𝒎𝒂̣𝒏𝒉 𝒍𝒂̀𝒎 𝒄𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒂 𝒏𝒈𝒂̂𝒚 𝒏𝒈𝒂̂́𝒕. 𝑵𝒉𝒖̛𝒏𝒈 𝒄𝒐́ 𝒂𝒊 𝒄𝒐́ 𝒕𝒉𝒆̂̉ đ𝒆𝒎 𝒐̛́𝒕 𝒕𝒉𝒆̂́ 𝒄𝒐̛𝒎, đ𝒆𝒎 𝒓𝒖𝒐̛̣𝒖 𝒕𝒉𝒆̂́ 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄? 𝑵𝒆̂́𝒖 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒌𝒉𝒊 𝒄𝒉𝒐̛𝒊 𝒏𝒉𝒂̣𝒄 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒏𝒈𝒐𝒂̀𝒊 đ𝒆̂̉ đ𝒖̛𝒐̛̣𝒄 𝒌𝒊́𝒄𝒉 𝒕𝒉𝒊́𝒄𝒉 𝒏𝒉𝒖̛ 𝒂̆𝒏 𝒐̛́𝒕, 𝒉𝒂𝒚 𝒖𝒐̂́𝒏𝒈 𝒓𝒖̛𝒐̛̣𝒖, 𝒈𝒊̀𝒐̛́𝒊 𝒕𝒓𝒆̉ 𝒄𝒐́ 𝒕𝒉𝒆̂̉ 𝒗𝒂̂̃𝒏 𝒏𝒉𝒐̛́ 𝒗𝒂̀ 𝒉𝒐̣𝒄 𝒏𝒉𝒂̣𝒄 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒏𝒉𝒂̀, 𝒃𝒊𝒆̂́𝒕 𝒂𝒊 𝒍𝒂̀ 𝒄𝒉𝒖̉ 𝒂𝒊 𝒍𝒂̀ 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒕𝒉𝒊̀ 𝒄𝒉𝒐̛𝒊 𝒏𝒉𝒂̣𝒄 𝒏𝒈𝒐𝒂̣𝒊 𝒄𝒉𝒊̉ 𝒍𝒂̀ 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒕𝒉𝒖́ 𝒗𝒖𝒊 𝒎𝒂̀ 𝒌𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒍𝒂̀𝒎 𝒄𝒉𝒐 𝒄𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒂 𝒒𝒖𝒆̂𝒏 𝒃𝒐̂̉𝒏 𝒑𝒉𝒂̣̂𝒏 𝒄𝒖̉𝒂 𝒄𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒂 𝒍𝒂̀ 𝒑𝒉𝒂̉𝒊 𝒈𝒊𝒖̛̃ 𝒈𝒊̀𝒏 𝒗𝒐̂́𝒏 𝒒𝒖𝒊́ 𝒄𝒖̉𝒂 𝑪𝒉𝒂 𝑶̂𝒏𝒈 đ𝒆̂̉ 𝒍𝒂̣𝒊. Những người hữu trách có phận sự giúp cho giới trẻ hiểu được cái hay, cái đẹp trong nhạc truyền thống, thì có hiểu mới thương, mới chịu khó luyện tập để biểu diễn, mới có thể thưởng thức được cái hay tàng ẩn trong nghệ thuật dân tộc. Tôi có kinh nghiệm thấy nhiều em trẻ tuổi cảm động đến rơi nước mắt khi xem một trích đoạn hát bội sau khi nghe tôi phân tích cái hay trong hát bội, say sưa nghe tiếng trống Võ song tấu với Kèn trung trong Nhạc cung đình, sau khi nghe tôi phân tích về cái tế nhị trong cách đánh trống của người Việt… » (Trích « Vietsciences phỏng vấn GS.TS Trần Văn Khê » – 25/10/2004)

Người đăng: TRAN VAN KHE vào lúc 7/25/2020 01:36:00 CH Không có nhận xét nào: Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên TwitterChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest Nhãn: báo chí, Giáo sư Trần Văn Khê

https://tranvankhevietnam.blogspot./?fbclid=IwAR3ScYUjWKg8_JrstuXW9JLv499fr2A-vqHdPNldsHayfJW-QzSOfxafOqY

Tran Van Khé : La musique au Vietnam 01:53:10

Tran Van Khé : La musique au Vietnam 01:53:10

https://medias.ircam.fr/x83c522_tran-van-khe-la-musique-au-vietnam

Colloque conférence

Participants
  • Tran Van Khé (conférencier)

La musique des peuples minoritaires
La musique populaire
La musique artistique
La musique des pierres
Les instruments vietnamiens

https://medias.ircam.fr/x83c522_tran-van-khe-la-musique-au-vietnam?fbclid=IwAR07n5ddrbSEl-EwN7gR2F3VxECyCeew8iXKRaNrKFr-APQuyRRf8ZSiWrs

THANH HIỆP : GS-TS TRẦN VĂN KHÊ- NGƯỜI GIEO HẠT

“Với tôi, hoài bão duy nhất phải làm là gieo thêm nhiều hơn nữa vào ý thức giới trẻ tình yêu say mê đờn ca tài tử Nam Bộ và những di sản văn hóa của nước Việt. Bởi có hiểu biết mới có đam mê, nâng niu gìn giữ và phát huy. Gìn giữ di sản thì phải biết cách truyền thụ di sản ấy đến với lớp trẻ” – GS-TS Trần Văn Khê tâm nguyện như thế.

Quỹ học bổng Trần Văn Khê

  · GS-TS TRẦN VĂN KHÊ- NGƯỜI GIEO HẠT(nhà báo Thanh Hiệp)GS-TS Trần Văn Khê nói mỗi người có con đường và lý tưởng riêng để cống hiến, chọn ra đi để học tập cũng là cách ông bày tỏ tấm lòng yêu nước của mình

Khi GS-TS Trần Văn Khê quyết định về nước sống trên quê hương để có điều kiện thực hiện những ước mơ hoài bão cuối đời mình, đã từng có lời ra tiếng vào. Nghe những lời này, ông bình thản nói: “Tôi không buồn. Mỗi người có con đường và lý tưởng riêng để cống hiến. Tôi chọn ra đi để học tập, mong có ngày mang những kiến thức đó về áp dụng trong việc truyền thụ âm nhạc và văn hóa dân tộc từ những hệ thống khoa học mà tôi đúc kết do phương Tây hướng dẫn. Đó cũng là cách tôi bày tỏ tấm lòng yêu nước của mình”.Sống đúng với lý tưởng của mình“Anh Khê cứng lắm, đâu có ngán những lời mỉa mai. Anh vẫn sống đúng với lý tưởng của anh và bằng chứng là từ năm 2006 đến nay, như chúng ta đã thấy, anh vẫn sống, nghiên cứu, quảng bá, vẫn làm đẹp thêm hơn việc truyền thụ cảm xúc, kiến thức, kinh nghiệm trong công cuộc bảo tồn di sản văn hóa của ông cha để lại. Anh chẳng một lần nào bào chữa hay phản bác những nhận xét không đúng về mình” – NSND Viễn Châu, người bạn chí cốt của GS-TS Trần Văn Khê, nói.

Năm 1941, GS-TS Trần Văn Khê tròn 20 tuổi, ông từng đứng trên sân khấu Nhà hát Lớn Hà Nội chỉ huy dàn nhạc, hát bài hát tiếng Pháp “Le petit doigt de maman”. Sau buổi biểu diễn, báo La Volonté Indochinoise đã viết bài khen ngợi: “Việt Nam có một sinh viên trẻ tuổi chỉ huy dàn nhạc với phong cách một nhạc sĩ nhà nghề”. Đó là một kỷ niệm đẹp về đêm nhạc sinh viên đầu tiên của GS-TS Trần Văn Khê, từ đó ông nung nấu tình yêu âm nhạc, đặc biệt là nhạc dân tộc và tìm đường tiếp cận phương pháp đào tạo, truyền bá và hệ thống một cách khoa học những hiểu biết về âm nhạc dân tộc vốn thấm sâu trong máu của người thanh niên sinh ra và lớn lên trong chiếc nôi âm nhạc truyền thống. Cách tốt nhất là phải ra nước ngoài, tìm hiểu phương pháp nghiên cứu âm nhạc phương Tây để vận dụng cho âm nhạc truyền thống của Việt Nam sau này.

GS-TS Trần Văn Khê sang Pháp du học từ năm 1949. Hè năm 1951, ông thi đậu vào Trường Chính trị Paris- Khoa Giao dịch quốc tế. Cuối năm 1954, GS-TS Trần Văn Khê theo học Khoa Anh văn và Âm nhạc học tại Trường ĐH Sorbonne (Paris), làm luận án tiến sĩ dưới sự hướng dẫn của các giáo sư: Jacques Chailley, Emile Gaspardone và André Schaeffner. Tháng 6-1958, ông đậu tiến sĩ văn khoa (môn nhạc học) của Trường ĐH Sorbonne.“Trải qua thời sinh viên mà nhất là du học sinh ở xứ người, anh Khê sống kham khổ và phải đi làm thêm để có tiền ăn học. Những năm đầu thập niên 1950, anh đã phải đi đánh đàn thuê ở tiệm ăn La Paillote do ông Từ Bá Hòa làm chủ. Đánh đàn để kiếm sống nhưng anh chỉ sử dụng các nhạc cụ truyền thống và chơi các bản nhạc truyền thống Việt Nam. Ban đầu, chủ nhà hàng phản đối nhưng sau đó thấy thực khách đến ăn ngày một đông nên cũng đồng tình” – NSND Kim Cương kể.

GS-TS Trần Văn Khê bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ với đề tài chính “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” và 2 đề tài phụ: “Khổng Tử và âm nhạc”, “Vị trí âm nhạc trong xã hội Việt Nam”. Từ đây, ông bắt đầu đi những bước đầu tiên trên chặng đường dài mà mình đã chọn: sưu tầm, nghiên cứu, quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam. NSƯT Ba Tu có lần nói GS-TS Trần Văn Khê quá siêu khi nhớ vanh vách những thông số của từng cây đàn kìm, đàn tranh cổ bản có bao nhiêu cần, bao nhiêu dây, khi phát triển có thêm bao nhiêu trục…

Sau 50 năm gắn bó với sự nghiệp nghiên cứu, theo học có chứng chỉ từng môn ở 15 đại học danh tiếng nước ngoài, tham dự hơn 200 hội nghị quốc tế về âm nhạc tại 67 quốc gia; tham gia biểu diễn, thuyết trình, đối thoại tại 20 liên hoan âm nhạc thế giới…,

GS-TS Trần Văn Khê trở về nước để truyền thụ âm nhạc dân tộc.Sau khi về nước, GS-TS Trần Văn Khê không ngừng quảng bá âm nhạc. Tháng 8-2006, tại một nhà hát ở Torino (Ý) trong tuần lễ “Di sản âm nhạc Việt Nam” do các bạn Ý tổ chức, mỗi khi các nghệ sĩ Hải Phượng, Huỳnh Khải, Nhứt Dũng biểu diễn dứt một tiết mục nhạc tài tử và nhạc lễ Nam Bộ, GS-TS Trần Văn Khê lại lên sân khấu giới thiệu về ý nghĩa, những điểm chung và riêng của các loại hình âm nhạc này.“GS-TS Trần Văn Khê còn tham gia các chương trình giảng dạy và giới thiệu âm nhạc dân tộc cho người trẻ; thực hiện dự án “Dạy âm nhạc dân tộc trong bậc tiểu học” ở Trường Tiểu học Trần Hưng Đạo; lên truyền hình biểu diễn các bài dân ca Bắc, Trung, Nam cùng các cháu bé ở Nhà Thiếu nhi quận 1, TP HCM.

Nhìn ông mặc áo dài khăn đóng, mái tóc bạc phơ say sưa hát với các em học sinh, tôi xúc động vô cùng” – NSƯT Ba Tu nhớ lại.Những năm cuối đời, sức khỏe yếu, biết mình không còn sống được bao lâu, GS-TS Trần Văn Khê vẫn ngày đêm canh cánh bên lòng việc phải làm sao có thêm nhiều hậu bối thay ông tiếp tục giới thiệu những di sản văn hóa truyền thống của Việt Nam đến thế giới.“Với tôi, hoài bão duy nhất phải làm là gieo thêm nhiều hơn nữa vào ý thức giới trẻ tình yêu say mê đờn ca tài tử Nam Bộ và những di sản văn hóa của nước Việt. Bởi có hiểu biết mới có đam mê, nâng niu gìn giữ và phát huy. Gìn giữ di sản thì phải biết cách truyền thụ di sản ấy đến với lớp trẻ” – GS-TS Trần Văn Khê tâm nguyện như thế.Và ước nguyện trên sẽ được vun trồng từ thế hệ những học trò mà ông đã đặt kỳ vọng ở họ.

Báo Người Lao Động

https://nld.com.vn/…/gs-ts-tran-van-khe-nguoi-gieo-hat…