Catégorie : TRẦN QUANG HẢI

TRAN QUANG HAI ‘s thanks to his friends from the world over after his birthday 13.05.2020

Because of the big number of friends from the world to wish TRAN QUANG HAI , he would like to thank all of you for your love and friendship reserved to him

A cause d’un grand nombre d’amis du monde entier à souhaiter un joyeux anniversaire à TRAN QUANG HAI , ce petit mot de remerciements s’adresse à ses amis qui lui réservent l’amour et l’amitié.

TRAN QUANG HAI cám ơn tất cả bạn bè khắp nơi đã gởi lời chúc sinh nhựt với sự yêu mến và tình bạn chân thành ..+4125

XƯỚNG HỌA THƠ BẠCH YẾN/ TRẦN QUANG HẢI nhân ngày sinh nhựt của Trần Quang Hải, 13/05/2020

Truyền thống xướng họa thơ của Trần Quang Hải / Bạch Yến mỗi lần tới sinh nhựt từ hơn 40 năm vẫn đươc gìn giữ. Đó là cuộc chơi thanh nhã giúp cho chồng vợ mãi yêu thương gắn bền .

BACH YEN & TRAN QUANG HAI , 2020

Thơ xướng :

Bảy mươi sáu tuổi cũng còn tươi

Dù mếu hay vui nhoẻn miệng cười

Ai đó tuổi Thân thường thích Khỉ

Cao niên kém khoẻ vẫn yêu đời

Limeil Brévannes 01 giờ sáng ngày 13/5/2020 Bạch Yến

Thơ họa :

Sinh nhựt hôm nay vẫn đẹp tươi

Vợ cưng chìu chuộng thích vui cười

Tuổi Thân con khỉ làm trò khỉ

Bè bạn khắp nơi nhớ cả đời

Limeil Brévannes 10giờ 35 ngày 13/05/2020Trần Quang Hải

Theo LÊ ANH : Danh ca Bạch Yến và chuyện tình kỳ lạ, cầu hôn sau 24h, cưới sau 2 tuần

Danh ca Bạch Yến và chuyện tình kỳ lạ, cầu hôn sau 24h, cưới sau 2 tuần

Trước năm 1975, Bạch Yến là danh ca nức tiếng của Sài Gòn. Giọng hát trầm âm vực sâu của Bạch Yến đã giúp bà bước vào làng nhạc từ năm 10 tuổi và nhanh chóng trở thành cái tên được yêu thích không chỉ ở chốn phù hoa Sài thành mà ở khắp các tỉnh miền Nam. Nhắc đến Bạch Yến, người ta còn nhớ đến chuyện tình 24 giờ kỳ lạ với người đàn ông một đời vợ, có con riêng.
Nổi danh từ thuở còn thơ

Bạch Yến tên thật là Quách Thị Bạch Yến, sinh năm 1942 tại Sóc Trăng. Với sự ủng hộ của mẹ, Bạch Yến gia nhập làng nhạc từ nhỏ và nhanh chóng nổi tiếng nhờ giọng hát trầm ấm. Ngay từ năm 10 tuổi, cô bé Bạch Yến đã trở thành giọng hát nhận được nhiều tình cảm của công chúng yêu nhạc miền Nam. Nổi tiếng khi còn là một đứa trẻ nên Bạch Yến luôn có mẹ song hành. Bà đi hát cũng phần nhiều do muốn mẹ được vui.

Thuở ấy, dù chỉ là một cô bé nhưng Bạch Yến lại được biết đến như một nghệ sĩ thực thụ với những ca khúc tân nhạc Việt Nam và nhạc ngoại quốc. Tuy nhiên, danh tiếng của bà chỉ thực sự vang xa khi thể hiện ca khúc Đêm đông của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương lúc vừa tròn 15 tuổi. Ngày ấy, cô bé Bạch Yến khiến nhiều người ngỡ ngàng khi chuyển Đêm đông từ điệu tango sang slow rock. Sự phá cách bất ngờ này khiến cái tên Bạch Yến nhận được sự quan tâm đặc biệt của công chúng lúc ấy và đón nhận nhiều lời tán dương của báo giới.

Cùng với Đêm đông, Bạch Yến trở thành cái tên được săn đón khắp các sân khấu từ chương trình truyền hình đến vũ trường sôi động. Ngày ấy, dù Bạch Yến chưa đủ tuổi để hát ở vũ trường, nhưng các bầu show vẫn tìm mọi cách để bà xuất hiện ở đây. Bởi, giọng hát của Bạch Yến được yêu quá, được thích quá nên người ta bất chấp nhiều thứ để giọng hát của bà được cất lên ở mọi nơi. Khi ấy, ở đâu có Bạch Yến ở đó khán giả sẽ chật kín. Vì vậy, để được hát tại quán bar, bầu show đã yêu cầu Bạch Yến phải trang điểm đậm, chọn kiểu tóc đứng tuổi để cô bé 15 tuổi trông giống như 18.

Nói về ca khúc thay đổi cuộc đời mình, nữ danh ca tâm sự, bà không biết tác giả là ai nhưng vẫn gói ghém, cất kỹ bên mình giống như một hành trang không thể thiếu. Đêm đông đã theo bà đến khắp nơi trên thế giới, từ khi thanh xuân cho đến lúc mái tóc đã điểm sương. Điều khiến Bạch Yến vô cùng hạnh phúc chính là, dù ở đâu, độ tuổi nào khán giả vẫn luôn yêu cầu bà hát ca khúc mang lại danh tiếng thuở nào.

Ngày ấy, Bạch Yến nổi tiếng đến mức được mời qua Mỹ biểu diễn và trở thành người Việt Nam đầu tiên và duy nhất xuất hiện trên chương trình truyền hình Mỹ vào đầu năm 1965. Bà là người đại diện cho Việt Nam tham gia Environment Show – chương trình ăn khách nhất của nước Mỹ thời ấy và biểu diễn cùng nhiều danh ca, ban nhạc nổi tiếng như The Beatles, Bob Hoge, Bing Crosby, Pat Boone, Rolling Stones… Ngoài tiếng Việt, bà có thể hát tốt các bản nhạc tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Italy và Do Thái.

Mặc dù có giọng hát trời phú, nhưng con đường sự nghiệp của bà cũng chẳng vì thế mà thênh thang. Để có được sự nghiệp thăng hoa như vậy, bà cũng đã phải chịu nhiều đắng cay, tủi hờn và cũng phải dũng cảm bước qua những cám dỗ để được trở thành người phụ nữ hạnh phúc như hôm nay.

“Số mệnh không tự mình định đoạt được. Tôi bước lên sân khấu như một định mệnh. Và thật kỳ lạ là suốt từ đó tới giờ, tôi chỉ có hát, không làm thêm bất cứ công việc nào khác. Nghề biểu diễn thực sự rất khắt khe, đứng không vững một chút thôi là sụt xuống, mất chỗ, hát kém hay, hoặc kém đẹp đi một chút là lập tức sẽ có người thay thế. Vậy nên tự mình phải khổ luyện và giữ gìn” – danh ca bộc bạch.

Mối duyên tình chớp nhoáng

Đến tận bây giờ, mối duyên kỳ lạ giữa danh ca Bạch Yến và nhạc sĩ Trần Quang Hải vẫn được nhiều người nhắc đến với sự ngưỡng mộ, thán phục xen lẫn chút ngỡ ngàng.

Ngày ấy, Bạch Yến gặp nhạc sĩ Trần Quang Hải tại một đêm nhạc, lúc đó bà đã là ca sĩ nức tiếng Sài Gòn còn ông chỉ là một nhạc sĩ vô danh. Bạch Yến kể, bà chẳng có ấn tượng gì về ông ngoài hình dáng gầy gò giống như một thanh niên khoảng 17 tuổi. Sau này, bà cho rằng đó là cuộc gặp gỡ định mệnh.

Sau lần gặp đó, hai người hẹn nhau dùng bữa. Trần Quang Hải lúc này đã ly dị vợ và có một con gái 5 tuổi, còn Bạch Yến tuy đã bước sang hàng băm, là một ca sĩ tiếng tăm nhưng… vẫn độc thân. Buổi hẹn hò sau 24giờ gặp gỡ đã tạo nên mối tình kỳ lạ, mối lương duyên đẹp khiến vạn người ngưỡng mộ. Khi ấy, nhạc sĩ Trần Quang Hải đã cầu hôn rất hóm hỉnh, ông nắm lấy tay bà và nói: “Bàn tay Bạch Yến đẹp quá, nếu được cho tôi xin rước về”. Lúc đó, vì tưởng ông nói đùa nên bà gật đầu cho vui, nào ngờ vị nhạc sĩ này làm thật, phát thiệp mời cho hết thảy bạn bè. Ông đã tự đặt 400 thiếp mời và gửi hết tới bạn bè trong vòng một tuần. Hành động này của nhạc sĩ Trần Quang Hải khiến bà bất ngờ, vừa xúc động vừa buồn cười lại cảm thấy khó xử, nhưng rồi bà cũng tặc lưỡi “đâm lao thì phải theo lao”. Thế là đám cưới diễn ra.

Mối duyên tình của Trần Quang Hải và Bạch Yến khiến nhiều người ghen tỵ.

Cho Em Quên Tuổi Ngọc – C’est Toi, Hoàng Kim:
https://www.youtube.com/watch…

Thông tin nữ danh ca Bạch Yến kết hôn với một nhạc sĩ ít tên tuổi, có một đời vợ và con riêng khiến truyền thông thời đó dậy sóng. Báo giới và công chúng đều sôi sục với thông tin này. Bởi, lúc đó, Bạch Yến là ngôi sao tài sắc vẹn toàn, là người yêu trong mộng của nhiều người và đương nhiên chẳng thiếu đàn ông thành đạt theo đuổi bà. Nhiều ông chủ ngoại quốc giàu có cũng tán tỉnh nhưng bà từ chối vì chỉ thích lấy chồng Việt. Bà từng trao trái tim cho vài người nhưng họ đều khiến bà đau khổ. Bà cũng khước từ nhiều người đàn ông vì nghi ngờ họ đến với mình vì nhan sắc, danh vọng và tiền tài.

Không chỉ báo giới, công chúng mà bạn bè của Bạch Yến cũng ngỡ ngàng với mối tình chớp nhoáng. Nhiều người cho rằng, trong mối quan hệ ấy bà sẽ là người chịu nhiều thiệt thòi.

Sau khi kết hôn, Bạch Yến trở thành người phụ nữ của gia đình, là vợ, là mẹ của cô con gái 5 tuổi. Ở thời điểm đó, Bạch Yến đã bước vào tuổi băm nhưng lại là người có ít vốn sống bởi bà luôn được mẹ bảo bọc. Người đời vẫn nghi kỵ “mấy đời bánh đúc có xương…” nhưng với Bạch Yến thì hoàn toàn không đúng. Không có con, bà đón con gái của chồng về nuôi và yêu thương cô bé giống như con đẻ. Đến nay, khi con gái đã trưởng thành, bà vẫn là người mẹ được con yêu thương, kính trọng.

Cuộc tình chớp nhoáng ngày ấy đã mang đến cho Bạch Yến cuộc hôn nhân hạnh phúc viên mãn đến tận lúc thất thập. Trong gần 40 năm qua tình yêu của họ vẫn luôn nồng cháy. Ngoài thời gian cùng nhau rong ruổi khắp các nước để giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt, Bạch Yến còn cùng chồng đi du lịch nhiều nơi.

Khi nói về cuộc hôn nhân với nhạc sĩ Trần Quang Hải, đôi mắt của Bạch Yến luôn ánh lên niềm vui và nụ cười rạng rỡ xuất hiện trên khuôn mặt. Bà nói, cũng giống như nhiều cặp vợ chồng khác, vợ chồng bà cũng có những bất đồng, mâu thuẫn, nhưng bát đũa cũng có lúc xô nhau nên điều đó chẳng thể khiến tình yêu của họ bớt nồng nàn. Những tranh cãi ấy giống như một thứ gia vị giúp tình yêu thêm nồng, hạnh phúc thêm bền vững.

Ở cái tuổi U70, Bạch Yến vẫn khiến nhiều người ghen tỵ với vẻ ngoài trẻ trung, giọng hát trầm ấm. Nói về bí quyết, bà tự hào cho biết, chính cuộc sống viên mãn với người chồng nhất mực yêu thương, cô con gái hiếu nghĩa đã giúp bà luôn sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc.

(theo Lê Anh, Chủ nhật, 08/04/2018).
—————————————————————————-
Bạch Yến hát Cho Em Quen Tuổi Ngọc – C’est Toi:
https://www.youtube.com/watch…

Belle baiser harmonieux par Bach Yen & Tran Quang Hai:
https://www.youtube.com/watch…

« Le vrai amour est satisfait de soi-même, il ne veut point d’autre récompense que l’objet qu’il aime ». Saint Bernard de Clairvaux ; Le traité de l’amour de Dieu (1126)

« L’amour vrai se désole et s’enchante pour un gant perdu ou pour un mouchoir trouvé, et il a besoin de l’éternité pour son dévouement et ses espérances. Il se compose à la fois de l’infiniment grand et de l’infiniment petit ». Victor Hugo ; Les misérables (1862)

« L’amour vrai est le fruit mur de la vie ; à dix-huit-ans on ne le connaît pas, on l’imagine ». Alphonse de Lamartine ; Graziella (1852)

« L’amour vrai ne vit pas de probabilités, mais de certitude ». Henri-Frédéric Amiel ; Les fragments d’un journal intime (1821-1881)

« L’amour vrai vit des sacrifices qu’il s’impose ; l’amour faux, de ceux qu’il exige ».
Emile de Girardin; Supplice d’une femme (1865). Le vrai amour ce …

« Le vrai amour ce n’est pas de vivre avec une femme parce qu’on l’aime, mais de l’aimer parce qu’on vit avec elle ». Albert Cohen ; Mangeclous (1938)

« L’amour vrai ne pose pas de conditions ». André Maurois ; Olympio ou la vie de Victor Hugo (1954)

« L’amour vrai ne se blase point : Étant tout âme, il ne peut s’attiédir ». Victor Hugo ; L’homme qui rit (1869)

« L’amour vrai, l’amour sacré, l’amour de l’âme n’habite point le cœur de l’incrédule ». George Sand ; Mademoiselle La Quintinie (1863)

« Un amour vrai n’a qu’un langage : les baisers ». Anatole France ; Thaïs (1890)

Dans l’amour vrai, on est deux, et il faut savoir préférer l’autre à soi-même.. André Maurois ; Les lettres à l’inconnue (1956)

Un vrai amour de petite femme, grosse comme le poing et grasse à point ! Georges Courteline ; Les femmes d’amis (1888)

« L’amour vrai rend toujours meilleur, quelle que soit la femme qui l’inspire ». Alexandre Dumas, fils ; La dame aux camélias, le 2 février 1852.

Plaisir d’Amour…

« Plaisir d’amour » est une chanson d’amour française classique écrite en 1784 par Jean-Paul-Égide Martini (1741-1816); il tire son texte d’un poème de Jean-Pierre Claris de Florian (1755-1794), qui apparaît dans son roman Célestine.

Plaisir d’amour ne dure qu’un moment
Chagrin d’amour dure toute la vie

Tu m’as quittée pour la belle Sylvie
Elle te quitte pour un autre amant

Plaisir d’amour ne dure qu’un moment
Chagrin d’amour dure toute la vie

Tant que cette eau coulera doucement
Vers ce ruisseau qui borde la prairie
Je t’aimerai, te répétait Sylvie
L’eau coule encore, elle a changé pourtant.

Plaisir d’amour ne dure qu’un moment
Chagrin d’amour dure toute la vie.

(Poèmes de Jean-Pierre Claris de Florian extraits du recueil Nouvelle Célestine (1784)).

Nana Mouskouri, Plaisir d’amour:
https://www.youtube.com/watch…

(Informations recueillies par VHLA).

Trịnh Thanh Thủy : Đại Học Calstate Long Beach, CA vinh danh GS Trần Quang Hải

https://vietbao.com/a291047/dai-hoc-calstate-long-beach-ca-vinh-danh-gs-tran-quang-hai?fbclid=IwAR08mj2vjOziQ1x3_Mgn-Ywmkm6BM5dC7UM1ArHlHVOsFDK7syuwcbFg64I

Trịnh Thanh Thủy : Đại Học Calstate Long Beach, CA vinh danh GS Trần Quang Hải

21/02/2019

Đại Học Calstate Long Beach, CA

vinh danh GS Trần Quang Hải

Trịnh Thanh Thủy thực hiện

Từ lúc nghe tin Trần Quang Hải, giáo sư tiến sĩ ngành Dân Tộc Nhạc Học (Ethnomusicology) mắc một bệnh nan y là ung thư máu, các anh chị em trong nhóm « Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian » rất xúc động và có ý định làm một cái gì đó cho ông. Ngày 10 tháng 2, 2019, hai chi nhánh Bắc và Nam Cali của nhóm đã đồng phối hợp thực hiện một buổi chiều văn hoá nghệ thuật và ra mắt sách cho Trần Quang Hải.

Pic 1 GS Quyên Di trao bằng tưởng lục cho GS TQHải

blank

Pic 2 Bà Frances Thế Thủy trao bằng cho GS TQHải

Cuốn sách « Trần Quang Hải: 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt » là một tổng hợp các công trình nghiên cứu về âm nhạc của ông đã được góp mặt cùng kho tàng tài liệu âm nhạc VN. GS Hải đã từ Paris bay qua để dự buổi hội ngộ và ra mắt sách hy hữu này. Ngoài một số sinh viên của hai trường đại học Calstate và Fullerton, khoảng gần 200 thân hữu và đồng hương người Việt nghe tin đã về tham dự.

Nguyên GS TQHải là chồng của nữ danh ca Bạch Yến, con trai của cố GS Trần Văn Khê, một nhà nghiên cứu văn hoá và âm nhạc cổ truyền rất nổi tiếng ở VN. GS Hải lấy bằng tiến sĩ âm nhạc dân tộc người Việt tại Pháp, làm việc cho Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học tại Bảo tàng Con người ở Pháp(Musée de l’Homme). Ông đã có những nghiên cứu đặc biệt trong lĩnh vực Dân tộc âm nhạc học như: hát đồng song thanh, phát triển gõ muỗng. Ông được tôn xưng danh hiệu « vua muỗng » và Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục « Ông là người trình diễn đàn môi Mông(Hmong) tại nhiều quốc gia nhất thế giới.” Ông cũng là thành viên của Hội đồng Âm nhạc truyền thống quốc tế. Ông và danh ca Bạch Yến đã thực hiện hơn 3.000 buổi giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam ở 70 nước trên thế giới…(Theo Wiki) 

blank

Pic 3 Ban đại diện nhóm NVNT&TTG

blank

Pic 4 Ban hợp ca

Nhân dịp buổi ra mắt sách được tổ chức tại đại học Calstate Long Beach, CA, USA, bà Teri Yamada, khoa trưởng Khoa Nghiên Cứu Về Người Á Châu Và Người Mỹ gốc Á đã vinh danh GS TS TQHải.

Thật tiếc, bà Teri Yamada đã không được gặp mặt giáo sư vì giờ cuối bà phải bay qua Ấn Độ dự một buổi lễ hội về văn hoá, nên bà viết một lá thư rất chân tình gởi ông. Bà cáo lỗi và ủy nhiệm GS Quyên Di thay bà chào mừng, vinh danh và trao bằng tưởng lục cho ông. 

GS Quyên Di dạy ở đây và cũng là thành viên trong khoa nghiên cứu này cho biết thêm, « Đây là một vinh dự cho cộng đồng VN vì hiếm khi khoa trưởng Yamada viết một lá thư trân trọng như thế này. Tôi đã từng dự nhiều buổi vinh danh nhưng chưa bao giờ tôi thấy bà viết một lá thư như thế. Trước đó bà đã đọc tất cả các tài liệu viết về GS, cả những tài liệu của GS viết, nghiên cứu rồi đúc kết lại thành bức thư nói trên và trân trọng trao bằng tưởng lục cho GS. Bà thay mặt đại học Calstate Long Beach vinh danh GS Hải đã có công phi thường đóng góp vào kho tàng âm nhạc VN qua các công trình nghiên cứu âm nhạc, văn hoá, nghệ thuật dân tộc qua thời gian, qua các thế hệ.

blank

Pic 5 Hàng đứng: Nhóm NVNT&TTG, Hàng ngồi: GS Tahara, GS TQHải, TT Kiều Chinh, NV Nguyễn Quang, NV Quyên Di

blank

Pic 6 Quan Khách

Ngoài ra bà Frances Thế Thủy, ủy viên giáo dục học khu Westminster cũng lên trao bằng tưởng lục cho ông. Hiện diện trong buổi lễ có tài tử Kiều Chinh, GS Tahara Hiroki, BS Steven Le, nhà văn Nguyễn Quang (phu quân Minh Đức Hoài Trinh), NS Lê Văn Khoa và phu nhân, NS Võ Tá Hân và phu nhân, BS Phạm Gia Cổn và phu nhân, bà quả phụ Lê Trọng Nguyễn, Nhạc Trưởng Bùi Quỳnh Giao..v..v…

Sự có mặt của GS người Nhật Tahara Hiroki hôm nay đã khiến tôi rất ngạc nhiên. Ông là người Nhật 100% mà nói và viết tiếng Việt rất sành sõi, thích ăn nước mắm, thích nhạc Việt Bolero. Tôi hỏi ông duyên cớ nào ông lại có mặt ở đây hôm nay. Ông nói ông hâm mộ tài năng của GS TQ Hải mà bay qua Mỹ để được gặp GS Hải. GS Hải rất nổi tiếng ở bên Nhật vì GS đã có nhiều đề tài nghiên cứu về âm nhạc và làm việc chung với các nhà nghiên cứu âm nhạc của Nhật Bản về nhạc cung đình Huế và nhạc dân tộc VN nói chung. GS Tahara cũng nghe tiếng của cố GS Trần Văn Khê là cha của GS Hải nhưng tiếc quá không được gặp cụ vì cụ đã qua đời.

Tôi hỏi thêm là GS Tahara thích nhạc Bolero vậy GS có thấy nhạc cổ truyền Vn có gần gụi với nhạc Bolero VN không? Ông bảo ông thấy nhạc Bolero Vn gần giống với nhạc Tanka của Nhật hơn, nhưng khác ở chỗ Tanka không có tố chất ngọt ngào còn Bolero phải hát ngọt ngào, mượt mà, đầy cảm xúc mới được.

blank

Pic 7 Ông bà GS Lê Văn Khoa, Nguyễn Hùng và NV Việt Hải(ngồi)

blank

pic 8 Trình diễn thời trang áo dài Bà Nhu

GS Trần Mạnh Chi là trưởng nhóm « Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng thời gian », đồng thời là trưởng ban tổ chức đã lên giới thiệu các thành viên Bắc và Nam Cali của nhóm, có nhà văn Trần Việt Hải là cố vấn. GS Quyên Di và Thụy Vy là 2 MC chính của buổi vinh danh.

GS TQHải được mời lên và ông xuất hiện với một vóc dáng rất khoẻ mạnh, giọng nói thì hùng hồn, sang sảng. Ông cám ơn BTC đã thực hiện buổi rms này và nói về quá trình hoạt động của ông ở hải ngoại.

Ông qua Pháp năm 1961 tới nay đã 58 năm. Thời gian đầu để học nhạc Tây Phương và nghiên cứu về nhạc học. Sau đó ông đi tìm hiểu thêm và khám phá ra âm nhạc VN không chỉ đơn thuần có Hò, Xang, Xê, Cống, đàn cò, đàn tỳ bà, độc huyền hay hát chèo, cải lương. Nhạc VN còn có nhạc của 53 sắc tộc khác của những dân tộc ở cao nguyên Trung phần như Ba na, Gia Rai, Êđê, Xê đăng… Ở phía Bắc có người Thái, Tày, Thổ, Nùng, Dao…. cũng có nhạc. Nghĩa là nhạc VN có thiên hình vạn trạng do sự phối hợp của nhiều loại. Trong số các nhạc cụ được sáng chế ngày nay có 3 cây đàn là niềm tự hào cho cái đẹp của VN. Đó là đàn T’rưng của người sắc tộc Gia Rai, đàn K’ni 2 giây và cây đàn đá. Ông đã đi khắp nơi trên thế giới để giới thiệu những cái hay cái đẹp của âm nhạc VN, như nhạc Cung Đình Huế, nhạc của đồng bào thiểu số, các loại Hát Tuồng, hát Chèo, Ca Trù, Ca Huế, Đàn Ca Tài Tử Nam Bộ. Ông giới thiệu cho toàn cầu biết sự phong phú đa dạng của nhạc VN.

blank

Pic 9 Triển lãm tranh

Ông đã giới thiệu và trình diễn lối hát Đồng Song Thanh và biểu diễn Đàn Môi khiến các cử toạ kinh ngạc và vỗ tay tán thưởng nồng nhiệt. Trong quá trình nghiên cứu ông khám phá ra loại hát Đồng Song Thanh của người Mông Cổ vùng Tây Bá Lợi Á tức là hát 2 giọng cùng một lúc, có thể đổi từ giọng chính thành giọng cao. Để cải tiến, ông đã tạo ra phương pháp hát Đồng Song Thanh mới. Hơn thế nữa, có thể dùng phương pháp hát này để trị bệnh cho những người bị đứt thanh quản có thể nói được mà không phải phẫu thuật. Lúc nghiên cứu ông đã chấp nhận để người ta chiếu quang tuyến X trong một thời gian dài để thí nghiệm, nhằm biết được hoạt động của các thớ thịt ở cổ họng khi không dùng đến dây thanh quản mà vẫn tạo ra được tiếng nói. Các bác sĩ chuyên khoa khuyến cáo ông có thể bị ung thư cổ họng nhưng ông đã sẵn sàng ký vào biên bản cam kết, biến mình thành “con vật” thí nghiệm cho những nghiên cứu của mình bất chấp cả tính mạng.

Để buổi ra mắt sách đầy tính văn hoá nghệ thuật thêm đặc sắc, BTC đã trình diễn một màn « Thời trang với áo dài qua thời gian » với sự góp mặt của các anh chị em trong nhóm cùng sự tham gia của Hội Ái Hữu Sinh Viên VN Fullerton. Những chiếc áo dài từ cổ truyền, Lemur Cát Tường, Bà Nhu, Bà Ba, cho tới cách tân qua các thời đại đã làm khán giả thích thú và kinh ngạc. Những hoạ phẩm nghệ thuật cũng được triển lãm do các hoạ sĩ đóng góp như: Lưu Anh Tuấn, Lê Thúy Vinh, Hồ Thành Đức, Bé Ký, Hoàng Vinh, Đàm Quốc Cường, Lương Nguyễn, Nguyễn Thái Bình…Các màn hợp ca, song ca mang đầy tính dân tộc do các nhạc sĩ, ca sĩ đồng trình bày đã góp phần phong phú cho buổi rms.

Tôi được tiếp xúc với GS Lê Văn Khoa và xin ông chia sẻ cảm nghĩ về âm nhạc cổ truyền khi ông là một nhạc trưởng chuyên về âm nhạc Tây Phương. Ông nói « Âm nhạc là ngôn ngữ không lời khi con người không hiểu nhau thì âm nhạc giúp để hiểu nhau. Cho nên dù là nhạc cổ truyền hay tây phương nó cũng vẫn là âm nhạc. Từ lâu người Việt cổ súy và bảo vệ tối đa nhạc truyền thống, không muốn nó lai nhạc tây Phương. Người theo nhạc tây phương thì cho rằng phương thức làm việc của tây phương có hệ thống ngon lành hơn, nên coi thường nhạc cổ. Như vậy thì thiệt hại quá, tôi dung hoà cả hai bằng cách dùng dân ca VN viết cho nhạc cổ truyền của người Ukraine và họ rất ngạc nhiên. Họ nói lần đầu tiên trên thế giới mới có người làm như vậy. Tôi dùng đàn tranh, đàn t’rưng bằng tre cho hoà tấu với dàn nhạc Tây Phương mới trình diễn ở Houston tháng 11/2018 khiến ai cũng ngạc nhiên hết. Họ thấy thích thú vì cả hai đều hoà điệu. Mục đích của tôi là làm sao phổ cập để cho cả 2 hoà nhịp.

Trịnh Thanh Thủy thực hiện

Orange County, CA

Từ Nguyên : GS Trần Quang Hải: Việt Nam có ba nhạc khí đặc biệt không nước nào có

GS Trần Quang Hải: Việt Nam có ba nhạc khí đặc biệt không nước nào có

GS Trần Quang Hải: Việt Nam có ba nhạc khí đặc biệt không nước nào có

Từ Nguyên (Paris)December 18, 2019

Sở trường của Giáo Sư Trần Quang Hải là hát đồng song thanh và đàn môi. Trong địa hạt này, Trần Quang Hải là người tài ba nhất thế giới. (Hình: tranquanghai1944)

Bị nước Tàu đô hộ ngàn năm, Việt Nam không bị đồng hóa mà vẫn giữ được truyền thống dân tộc. Tiếng nói, chữ viết, cách ăn mặc, tập tục, phong thái… và nói chung, mọi thứ đều là Việt Nam. Chuyện đó ai cũng biết.

Trong âm nhạc, người Việt có ba nhạc khí mà không nước nào có kể cả nước Tàu. “Việt Nam đã tạo cho mình một chỗ đứng biệt lập với ba nhạc khí đặc thù dân tộc, chỉ thấy ở Việt Nam,” Giáo Sư Trần Quang Hải viết trong cuốn sách mới đây của ông.

Sách mang tựa đề là “50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt” dày 450 trang do Nhân Văn Nghệ Thuật xuất bản năm 2018 nay được phát hành trên thế giới.

Chuyện ít người biết

Trong bài “Nguồn gốc Âm nhạc Việt Nam” in trong cuốn sách, ông đã trình bày về ba nhạc khí đó là đàn đáy, đàn bầu và sinh tiền.

Đàn đáy có thùng hình thang, không có đáy chỉ có ba dây kết hợp đặc trưng của nhiều đàn khác nhau như đàn tam, tỳ bà, nguyệt. Đàn đáy dùng để đệm cho hát ả đào hay ca trù.

Đàn bầu hay độc huyền chỉ có một dây nhưng có thể đàn được ba bát độ và chỉ sử dụng bồi âm mà thôi.

Sinh tiền gồm ba miếng ván dài 27 phân, ngang 3 phân dày nửa phân. Hai miếng ván có mang những đồng tiền lúc lắc trong khi miếng thứ ba gõ hay cứa vào hai miếng ván kia tạo thành ba âm thanh khác biệt để đệm nhạc triều đình.

Lịch sử nhạc Việt

Trong cuốn sách, tác giả đã trình bày các loại đàn, hát của dân tộc ta từ thời nhà Đinh, thế kỷ thứ 10, cho tới ngày nay. Phần trình bày rành rẽ là một tài liệu quý báu cho những người biên khảo về âm nhạc Việt Nam, cổ nhạc lẫn tân nhạc.

Phần cổ nhạc, tác giả đã cho ta biết về các loại nhạc như nhạc cung đình, nhạc lễ, nhạc tôn giáo, nhạc thính phòng, nhạc tuồng, dân ca, nhạc dân tộc thiểu số. Các thứ đàn đặc biệt là đàn tranh, đàn đá thêm vào những nhạc cụ đặc hữu của Việt Nam, các loại hát như hát xoan, hát Then, Tày, Nùng, Thái…

Phần tân nhạc được tác giả ghi chép lại trong năm giai đoạn theo các biến cố chính trị trong nước. Giai đoạn tượng hình, 1928-1937; giai đoạn thành lập, 1938-1945, giai đoạn kháng Pháp 1946-1954, giai đoạn đất nước chia đôi 1954-1975 và giai đoạn di tản, từ 1975 trở đi.

Công trình sáng tác, khảo cứu

Giáo Sư Hải đậu bằng tiến sĩ nhạc dân tộc tại trường Cao Đẳng Khoa Học Xã Hội Pháp tại Paris năm 1973, lúc 29 tuổi, về những khám phá mới mẻ trong kỹ thuật hát đồng song thanh.

Tới năm 1989, ông được cấp bằng quốc gia giáo sư nhạc truyền thống nhưng ông đã làm việc khảo cứu từ năm 1968 tại Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học CNRS ở Paris. Đồng thời, ông còn làm việc trong Viện Dân Tộc Nhạc Học của Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật và Truyền Thống Dân Gian tại Paris.

Sở trường của Giáo Sư Hải là hát đồng song thanh và đàn môi. Trong địa hạt này, Trần Quang Hải là người tài ba nhất thế giới. Ông đã sáng tác hơn 50 bài kể chung cho đàn tranh, cho muỗng, hát đồng song thanh hay là nhạc cho phim.

Năm đời ca nhạc

Giáo Sư Hải là nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đã trình diễn trên 3,500 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 70 nước từ năm 1966, 1,500 buổi cho học sinh các trường học ở Âu Châu, giảng dạy trên 100 trường đại học trên thế giới, tham dự trên 130 đại hội liên hoan âm nhạc quốc tế và có trên 8,000 người theo học hát đồng song thanh. Điều này ghi rõ trên sách của ông.

Trong câu chuyện, thỉnh thoảng ông nhắc đến dòng dõi họ Trần Quang bốn đời tài danh trong ngành nhạc dân tộc. Tới Trần Quang Hải là đời thứ năm, con người tài hoa đã làm rạng danh nhạc dân tộc Việt khắp năm châu.

Sách nhan đề là “50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt” do Nhân Văn Nghệ Thuật xuất bản năm 2018, dày 450 trang, có thể mua trên mạng do nhà xuất bản LULU phát hành, giá 16.76 euro.

https://www.lulu.com/shop/search.ep?keyWords=tran+quang+hai

Sách được phổ biến cùng với cuốn bằng Anh Ngữ “Tran Quang Hai 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing, Tu Sach Khai Tri, 2018, 402 page.”

Sách tiếng Anh có thể mua trên mạng Amazon.fr với giá 13.86 euro.

(Từ Nguyên)

https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/gs-tran-quang-hai-viet-nam-co-ba-nhac-khi-dac-biet-khong-nuoc-nao-co/

Tiểu sử Trần Quang Hải – NAM KỲ LỤC TỈNH 11.12.2019

Tiểu sử Trần Quang Hải

Trần Quang Hải, sinh ngày 13 tháng 5, 1944 tại làng Linh Đông Xã, tỉnh Gia Định, miền Nam nước Việt Nam. Con trai trưởng của GS TS Trần Văn Khê (sinh ngày 24 tháng 7, 1921) và bà Nguyễn Thị Sương, cựu giáo sư Anh văn trường nữ trung học Gia Long (sinh ngày 19 tháng 9, 1921).

Trần Quang Hải kết hôn cùng nữ ca sĩ Bạch Yến ngày 17 tháng 6, 1978 tại Paris (Pháp). Bạch Yến nổi tiếng với bài “Đêm Đông” vào năm 1957, và chuyên về nhạc ngoại quốc Tây phương lúc đầu của sự nghiệp cầm ca. Sau khi thành hôn với Trần Quang Hải, Bạch Yến chuyển sang dân ca và cùng phổ biến nhạc dân tộc với chồng khắp thế giới.

Trần Quang Hải xuất thân từ một gia đình nhạc sĩ cổ truyền từ nhiều đời và anh là nhạc sĩ đời thứ năm. Ngoài ra anh là dân tộc nhạc học gia (ethnomusicologist – ethnomusicologue) chuyên về nhạc Việt, Á châu và hát đồng song thanh từ năm 1968, thuyết trình viên, nhạc sĩ sáng tác, chuyên gia về sư phạm âm nhạc, và thành viên của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique)

Vài dòng về khuôn mặt Trần Quang Hải. Anh đã theo gót cha anh, GS Trần Văn Khê trên đường nghiên cứu dân tộc nhạc học. Anh đã tạo một hướng đi riêng trong địa hạt trình diễn về nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc tùy hứng, nhạc đương đại cũng như phương pháp nghiên cứu thể nghiệm qua hát đồng song thanh.

Gia đình nhạc sĩ cổ truyền

  1. Trần Quang Thọ (1830-1890), ông sơ của tôi là quan án sát, theo Phan Thanh Giản sang Pháp để thương thuyết nhưng thất bại, treo ấn từ quan, vào Nam, cư ngụ tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho. Rất giỏi về nhã nhạc Huế.
  2. Trần Quang Diệm (1853-1925), ông cố của tôi là người đàn tỳ bà rất hay, được gởi ra thành nội Huế để học nhạc cung đình và chuyên về đàn tỳ bà. Ông đã sáng chế ra cách viết bài bản cho đàn tỳ bà, nhưng tiếc thay là tất cả tài liệu đó bị thất lạc vì chiến tranh.
  3. Trần Quang Triều (1897-1931), ông nội của tôi là người đàn kìm rất giỏi, biệt hiệu Bảy Triều trong giới cải lương, đã đặt ra cách lên dây TỐ LAN cho đàn kìm để đàn những bài buồn ai oán. Hiện nay chỉ còn một số rất ít nhạc sĩ cổ nhạc biết đàn dây này (như nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, GS Trần Văn Khê)
  4. Trần Văn Khê (1921 – ), ba của tôi là người đã đưa nhạc cổ truyền Việt Nam lên hàng quốc tế và làm rạng danh nhạc Việt trên thế giới ở địa hạt trình diễn cũng như nghiên cứu. Con trai trưởng trong gia đình có ba người con (ba tôi GS Trần Văn Khê, chú ba tôi là Quái kiệt Trần Văn Trạch, cô tư tôi là Trần Ngọc Sương từng nổi tiếng là ca sĩ tân nhạc vào đầu thập niên 50), ông đã hăng hái trong phong trào nhạc mới lúc trẻ (cùng thời với nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Phạm Duy) và quay về nhạc cổ khi soạn luận án tiến sĩ tại Pháp. Từng là giáo sư nhạc Đông phưong tại trường đại học Sorbonne (Paris, Pháp), giám đốc nghiên cứu của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (Paris, Pháp), sáng lập viên Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương ở Paris, và từng giữ chức phó chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO. Hưu trí từ năm 1987, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu và đóng góp một vai trò lớn cho hai hồ sơ Nhạc cung đình Huế (được danh hiệu kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2003) và Nhạc Cồng chiêng Tây Nguyên (kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2005). Ông định cư ở Việt Nam sau 55 năm sống ở Pháp, và là cố vấn cho hồ sơ Ca Trù để đệ trình lên UNESCO cho năm 2007 và cho hồ sơ Đờn ca tài tử nam bộ cho năm 2011 dành cho kiệt tác văn hóa phi vật thể. Ngày 24 tháng 6 năm 2015, ông từ trần tại quận Bình Thạnh, TP HCM, Việt Nam..
  5. Trần Quang Hải (1944 – ), cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký, sau khi tốt nghiệp âm nhạc viện Saigon với bộ môn vĩ cầm (học với cố GS Đỗ Thế Phiệt), đi sang Pháp năm 1961 và học nhạc học tại trường đại học Sorbonne và dân tộc nhạc học ở trường cao đẳng khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales). Tôi bắt đầu làm việc cho trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) với ê-kíp nghiên cứu tại Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng Con người (Département d’ ethnomusicologie du Musée de l’Homme) từ 1968 cho tới 2009 thì về hưu). Trình diễn trên 3,500 buổi tại 70 quốc gia, tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học, sáng tác nhạc hơn 400 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng, hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng, đương đại. Đã thực hiện 23 dĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết ba quyển sách, làm 4 DVD, 4 phim và hội viên của trên 20 hội nghiên cứu thế giới.Con đường nghiên cứu của tôi nhắm về sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành loại nhạc thế giới (world music), pha trộn nhạc tùy hứng, jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc hoàn toàn mới lạ.

SỰ NGHIỆP

  1. 1955-1961 trường quốc gia âm nhạc Saigon, tốt nghiệp vĩ cầm (lớp GS Đỗ Thế Phiệt)
  2. 1954-1961 trường trung học Pétrus Ký, Saigon.
  3. 1963-1970 Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương (CEMO – Centre d’Etudes de Musique Orientale – Center of Studies for Oriental Music, Paris), học các truyền thống nhạc Ba Tư (Iran), Ấn độ (Inde), Trung Quốc (Chine), Nhật Bổn (Japon), Nam Dương (Indonesie), Đông Nam Á (Asie du Sud-Est), Việt Nam (Vietnam)
  4. 1963 trường Ecole du Louvre, Paris
  5. 1965 certificate of proficiency in English (chứng chỉ Anh văn), University of Cambridge, Anh quốc
  6. 1965 certificat de littérature française (chứng chỉ văn chương Pháp), Université de Sorbonne, Paris.
  7. 1967 cao học dân tộc nhạc học trường cao đẳng khoa học xã hội, Paris
  8. 1969 chứng chỉ âm thanh học (certificat d’acoustique musicale), Paris
  9. 1970 văn bằng cao đẳng nhạc Việt trung tâm nghiên cứu nhạc đông phương, Paris
  10. 1973 tiến sĩ dân tộc nhạc học trường cao đẳng khoa học xà hội, Paris
  11. 1989 văn bằng quốc gia giáo sư nhạc truyền thống, Paris.
  • Từ năm 1965 tới 1966 theo học lớp nhạc điện thanh (musique électro-acoustique) với GS Pierre Schaeffer, người sáng lập loại nhạc điện tử ở Pháp.
  • Từ năm 1968 tới 2009, tôi làm việc tại Viện dân tộc nhạc học của Viện Bảo Tàng Con Người (Département d’Ethnomusicologie du Musée de l’Homme) ở Paris (Pháp).
  • Từ năm 1968 tới 1987, tôi làm việc ở Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng nghệ thuật và truyền thống dân gian (Département d’Ethnomusicologie du Musée des Arts et Traditions Populaires) ở Paris (Pháp)
  • Nghiên cứu sư của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS) ở Paris từ năm 1968. Từng là thành viên của nhiều ê-kíp nghiên cứu (RCP 178 – Recherche coopérative sur programme từ 1968 tới 1973 ; ER 65 – Equipe de recherche từ 1974 tới 1981 ; Laboratoire Associé từ 1974 tới 1987 ; UPR 165 – Unité Propre de Recherche từ 1982 tới 1985 ; UMR 9957 – Unité Mixte de Recherche từ 1986 tới 1997 ; UMR 8574 – Unité Mixte de Recherche từ 1997 tới 2004 ; UMR 7173 – Unité Mixte de Recherche từ 2005 trở đi)
  • Từ 1970 tới 1975: giáo sư đàn tranh của Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương, Paris
  • Trong suốt thời gian 55năm hành nghề nhạc sĩ chuyên nghiệp (1962 -2017) tôi đã trình diễn trên 3.500 buổi cho khán giả Tây phương, và trên 1.500 buổi diễn cho học trò trên thế giới do các cơ quan chính thức của Na Uy (Rikskonsertene), Bỉ (Jeunesses Musicales de Belgique), Thụy Sĩ (Jeunesses Musicales Suisses), Pháp (Jeunesses Musicales de France, Association départementale pour diffusion et initiation musicale – ADDIM).
  • Từ 1971 tôi đã làm 15 dĩa 30cm / 33 vòng và 8 CD về nhạc cổ truyền Việt Nam, đặc biệt là về đàn tranh. Nhiều sáng tác đã đưọc thu vào dĩa và được đăng trong các quyển tự điển Who’s Who in Music (từ năm 1987), Who’s Who in the World (từ năm 1981 ), và Who’s Who in France (từ năm 1997).
  • Về sáng tác nhạc, tôi có viết 12 ca khúc nhi đồng với sự cộng tác của nhà văn Duyên Anh năm 1984. Tôi đã sáng tác trên 400 nhạc phẩm đủ loại với ca khúc viết tiếng Việt, Pháp, Anh và nhạc cho đàn tranh, đàn bầu, muỗng, đàn môi và hát đồng song thanh. Ngoài ra còn viết nhạc cho phim “Long Vân Khánh Hội”của Lê Lâm vào năm 1980, phim “Le Chant des Harmoniques” (Bài ca bồi âm) vào năm 1989, và cho phim “La Rencontre du Coq et du Dragon” (Cuộc hội ngộ giữa Gà và Rồng) vào năm 1998.
  • Với tư cách nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học, tôi đã viết nhiều bài cho các tập san nghiên cứu nhạc học như “The World of Music” (UNESCO), “Journal of Asian Music Society (Cornell University, Hoa Kỳ), “Yearbook of the International Council for Traditional Music –ICTM, Hoa Kỳ), “Cahiers de Musiques Traditionnelles” (Thụy Sĩ ), “Koukin Journal” (Tokyo, Nhật Bản).
  • Tôi có viết một bài về nhạc Cao miên cho New Grove Dictionary of Music and Musicians, ấn bản lần thứ 1 (1980) (20 quyển, London, Anh quốc), định nghĩa vài nhạc cụ Việt Nam cho New Grove Dictionary of Music, ấn bản lần thứ nhì (2001) (29 quyển, London, Anh quốc), định nghĩa cho trên 200 từ nhạc cụ của Việt Nam, và Đông Nam Á cho New Grove Dictionary of Musical Instruments, ấn bản lần thứ nhứt (1984) (3 quyển, London, Anh quốc).
  • Tôi viết lịch sử nhạc Việt Nam, Lào, Cao Miên và Thái Lan cho quyển tự điển Algemeine Muziekencyclopedia (1082-1984, Hòa Lan), và nhiều bài cho tự điển Encyclopaedia Universalis (1984, 1986, 1988, 1990, 1991, Paris).
  • Tôi đã làm 4 DVD về giọng và hát đồng song thanh: “Le Chant diphonique” với CRDP (trung tâm địa phương tài liệu sư phạm và Hàn lâm viên La Réunion, 2004), “Le chant des Harmoniques” (CNRS – Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học, 2005), “La Voix” với nhà xuất bản Lugdivine (2006, Lyon, Pháp), và “The Song of Harmonics” với CNRS, Paris, 2006.
  • Ngoài ra nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học cũng là đạo diễn Pháp Patrick Kersalé đã thực hiện hai chương trình video “Mystères des Voix du Monde” (Sự huyền bí của các gịong thế giới) (2012), và “Le Chant des Harmoniques” (Bài ca bồi âm) (2013) với tôi là nhân vật chính của hai video này.

Giảng dạy ở các trường đại học, viện bảo tàng và trung tâm nghiên cứu trên thế giới

Tôi đã từng được mời dạy và thuyết trình tại nhiều trường đại học, trung tâm nghiên cứu và viện bảo tàng ở khắp năm châu:

  • Mỹ: University of Hawaii (1977), University of Berkeley (1977), University of Maryland (1980), Columbia University (1983), Museum of Modern Art (MOMA ở New York, 1984), University of California, San Diego (UCSD, 1990), Cornell University (1994), Thomas University (Minneapolis, 1996), Foundation of the Voice, Philadelphia (1997), Wisconsin University, Madison (1998), George Mason University (2000).
  • Canada: Université de Montréal (1991), York University, Toronto (1994), University of Toronto (1994), Royal Museum of Ontario, Toronto (1994),.Saint John’s University, Saint John’s, Canada (2011)
  • Brazil: Âm nhạc viện, Rio de Janeiro (1983), University of Rio de Janeiro (1998, 2006), University of Recife (1998), Faculty of Music, Rio de Janeiro (2006)
  • Nam Phi: University of Cape Town (1984, 1997), Stellenbosch University, Cape Town (1984), University of Fort Hare, Fort Hare (2011)
  • Úc Châu: Monash University, Melbourne (1986), Sydney University, Sydney (1986), Western Australian University, Perth (1986), College of Advanced Education, Melbourne (1988), University of Canberra (1995)
  • Đại Hàn: National Seoul University (1981), National Institute of Performing Arts, Seoul (1994), Academy of Korean Studies, Seoul (2006)
  • Nhật Bản: Royal Academy of Music (1981), University of Hiroshima, Hiroshima (1999), Osaka University of Fine Arts, Osaka (2000).
  • Đài Loan: University of Taiwan, Taipei (2000), National Center of the Arts, Taipei (2000, 2002)
  • Thái Lan: University of Mahasarakham (1986), Chulalongkorn University, Bangkok (2012)
  • Việt Nam: Viện âm nhạc Hà nội, Hà nội (2002, 2006, 2017 ), Trung tâm văn hóa Pháp, Hà Nội (2006), Âm nhạc viện thành phố HCM (2006), Học Viện Âm nhạc quốc gia, Hà nội (2017)
  • Lebanon: CLAC (Centre de lecture et d’animation culturelle – trung tâm văn hóa), ở các tỉnh Barja, Mansoura, Kfar Debyan, Amioun (2002)
  • Đức: Volkekunde Museum, Berlin (1985), Musik Hochschule, Detmold (1994), Institute of Psychotherapy, Heidelberg (1997), Musik Hochschule, Stuttgart (2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006,2013 ), Musik Hochschule, Hanover (2003), Aachen Universitet, Aachen (2003), Erfurt University (2004)
  • Belarus: Music Academy of Belarus, Minsk (1996)
  • Bỉ: Institute of Musicology, Louvain (1976), Royal Museum of Central Africa, Tervuren (1976), Royal Instrumental Museum, Brussels (1980, 2001), University of Anwerpen (1981), Institute of Living Voice, Anverpen (2001), Royal Museum of Mariemont, Mariemont (2002), Conservatory of Music, Mons (2006)
  • Đan Mạch: Musikhistoriska Museum, Copenhagen (1972), Institute of Danish Folk Archive, Copenhagen (1972), Odin Teatret (Laboratorium of NordicTheatrical Researches), Holstebro (1998), Laboratory of theatrical experimental researches Cantabile 2, Wordingborg (2000).
  • Tây Ban Nha: Summer University, Madrid (1990)
  • Pháp: Paris: Université de Paris X-Nanterre (1985-92), Université de Paris VIII –Saint Denis (1991, 1993), Université de Paris IV-Sorbonne (1989), Centre d’Etudes de Musique Orientale (1970-1975), Ecole Nationale des Langues Orientales Vivantes – ENLOV (1991, 2006), Laboratoire d’Acoustique Musicale (1971, 1974), IUFM, Université de Cergy (1996, 1997, 1998, 1999, 2001)
  • Nice: Université de Nice (1990), Musée des Arts Asiatiques (1999, 2000, 2003)
  • Tours: Université de Tours (1975)
  • Montpellier: Université de Montpellier 3 (1996, 1997, 1998, 1999, 2000, 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006)
  • Toulouse: Université de Toulouse (1985, 1991, 1995, 1997)
  • Marseille: Conservatoire National de Musique (1987)
  • Strasbourg: Conservatoire National Régional – CNR (1995, 1997, 1998)
  • Mulhouse: Ecole Doctorale (2000), Université de la Haute Alsace (2005)
  • Rennes: Conservatoire de Musique (1980), Université de Rennes (1999, 2000, 2001, 2004), IFMI de Rennes (2005)
  • Poitiers: Université de Poitiers (2000)
  • Bordeaux: Université de Bordeaux 2 Victor Segalen (2001)
  • Lille: Université de Lille (2004)
  • Vương quốc Anh: Horniman Museum, London (1972), University of Durham (1985), University of London (1991), City University, London (1992), SOAS – School of Oriental and African Studies, London (1998), University of Reading, Reading (2004, 2005) Queen’s University, Belfast (1984),
  • Ái nhĩ lan: University of Limerick, Limerick (2004, 2005, 2017), University of Cork, Cork (2005),
  • Ý đại lợi – Italy: Institute of Musicology, Bologna (1979), University of Bologna (2000, 2003), Foundazione San Georgio Cini, Istituto Interculturale di Studi Musicali Comparati (1979, 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006), Santa Cecilia Nazionale Academia, Roma (1994), University of Roma (1994), Institute of Musicology and Linguistics, Venezia (1996), Teatro La Fenice, Venezia ( 1995, 1996, 1997), Academy of Music, Sienna (1999), Institute of Musictherapy, Padova (2001, 2016).
  • Lituania: Music Academy of Lituana,, Vilnius (1997)
  • Na Uy – Norway: Institute of Musicology, Trondheim (1976, 1980, 1981), University of Oslo (1979), Music Academy Grieg, Bergen (2004), Conversatory of Music, Oslo (2005, 2006)
  • Hà Lan – Holland: Jaap Kunst Centrum, Amsterdam (1974), Gemeente Museum, Den Haag (1980), Tropen Museum, Amsterdam (1992, 1998), University of Leiden, Leiden (2000), University of Groningen, Groningen (1998)
  • Ba Lan – Poland: Summer University, Warsaw (1997), University of Wroclaw (2013, 2016)
  • Nga – Russia: Âm nhạc viện Chaikowsky, Moscova (1993), Institute of World Music Research, Moscova (1993, 2012), International Centre of Khoomei, Kyzyl, Tuva (1995)
  • Slovakia: Music Academy, Nitra (1997)
  • Thụy Điển – Sweden: Lund University, Lund (1976), Stockholm University, Stockholm (1976), Music Museet, Stockholm (1981), Royal Music Academy, Stockholm (1985)
  • Thụy Sĩ – Switzerland: Ethnographical Museum, Basel (1969), Music Academy, Basel (1993, 1995).
  • Yugoslavia: Music Academy, Sarajevo (1991)
  • Slovenia: Music Academy of the University in Ljubljana (2006, 2011)
  • Croatia: Institute of Ethnology and Folklore Research in Zagreb (2006)

ĐẠI HỘI LIÊN HOAN VÀ HỘI NGHỊ QUỐC TẾ

Trong vai trò nhạc sĩ, tôi đã trình diễn tại hơn 130 đại hội liên hoan nhạc truyền thống sau đây:

1970:

  • Festival International du Son (Nhạc hội quốc tế về âm thanh), Paris, Pháp-France
  • Festival of Arts – Chiraz / Persepolis (Nhạc hội về nghệ thuật), Chiraz, Ba Tư-Iran

1971:

  • Cinq Journées de Rencontre avec le Groupe de Recherches Musicales (5 ngày gặp gỡ với Nhóm Nghiên cứu nhạc), Paris, Pháp – France
  • Semaine culturelle indochinoise (Tuần lễ văn hóa Đông Dương), Geneva, Thụy Sĩ (Switzerland)
  • Oriental Music Festival (Đại hội liên hoan nhạc đông phương), Berlin, Đức – Germany.
  • Festival de Musique d’Ajaccio (Đại hội liên hoan âm nhạc tại Ajaccio), đảo Corsica, Pháp
  • 15 Jours de Musique Traditionnelle avec le Folkclub Le Bourdon (15 ngày nhạc truyền thống với hội dân nhạc Le Bourdon), Geneva, Thụy sĩ – Switzerland.

1972:

  • Pampelune Music Festival (nhạc hội tại Pampluna), Pampluna, Tây ban nha – Spain
  • La Geolette d’Or, Knokke le Zoute, Bỉ – Belgium
  • Festival of Traditional Music in Vesdun (Nhạc hội nhạc cổ truyền), Vesdun, Pháp-France
  • SIGMA 8: Festival de musique contemporaine (đại hội nhạc truyền thống), Bordeaux, Pháp-France.

1973:

  • Festival de musique de Royan (nhạc hội tỉnh Royan), Royan, Pháp – France
  • Festival international de Musique Traditionnelle (nhạc hội quốc tế nhạc truyền thống), Le Havre, Pháp – France
  • Festival international de Cultures et Jeunesses (Nhạc hội quốc tế về văn hóa và tuổi trẻ), Presles, Pháp – France.

1974:

  • Festival de Musiques Traditionnelles (Nhạc hội nhạc cổ truyền), Bezon, Pháp-France
  • Festival international de Musique Folk (Nhạc hội quốc tế nhạc dân gian), Colombes, Pháp-France.
  • Festival de Musique du Haut Var (Nhạc hội vùng Haut Var), Pháp – France
  • Musicultura (Văn hóa âm nhạc), Breukelen, Hà Lan – the Netherlands

1975:

  • Trois jours de musique folk (3 ngày dân nhạc), Conflans Sainte Honorine, Pháp – France
  • 5ème Festival de Musique contemporaine (Nhạc hội nhạc đương đại lần thứ 5), Bourges, Pháp – France.
  • La Geolette d’Or, Knokke le Zoute, Bỉ – Belgium
  • Festival de Musique de Tradition orale (Nhạc hội truyền thống truyền miệng), Châlon sur Saône, Pháp-France
  • Festival international de musique (nhạc hội quốc tế), Olivet, Pháp – France

1976:

  • Le Printemps des Peuples Présents (Mùa Xuân của các dân tộc hiện tại), Paris, Pháp-France
  • Festival de Musique d’Eté (Nhạc hội hè), Chailles, Pháp-France
  • Festival du Marais (Nhạc hội khu Marais), Paris, Pháp-France
  • Journées Musicales Internationales (Ngày nhạc quốc tế), Vernou, Pháp – France
  • Un mois d’Arts Asiatiques (Một tháng nghệ thuật á châu), Laon, Pháp-France
  • Oriental Music Festival (Nhạc hội nhạc Đông phương), Durham, Anh quốc – United Kingdom
  • Festival de Musique de l’Asie du Sud-Est (Nhạc hội Đông Nam Á), Laon, Pháp- France

1977:

  • Journées Musicales Internationales (Ngày Nhạc quốc tế), Vernou, Pháp-France
  • World Music Festival (Nhạc hội nhạc thế giới), Berkeley, Hoa Kỳ -USA
  • World Conference of the IFMC (Hội nghị thế giới IFMC), Honolulu, Hawaii, Mỹ – USA

1978:

  • Journées Musicales Internationales (Ngày Nhạc quốc tế), Vernou, Pháp-France
  • Festival de Musique Traditionnelle, Lugano, Thụy sĩ- Switzerland
  • Fête de la Saint Jean (Lễ thánh Jean), Dieppe, Pháp-France

1979:

  • Oriental Music Festival (Nhạc hội nhạc Đông phương), Durham, Anh quốc-United Kingdom
  • Festival International de Musique Contemporaine (Nhạc hội quốc tế nhạc đương đại), Clichy, Pháp-France
  • World Conference of the IFMC (Hội nghị thế giới IFMC), Oslo, Na Uy – Norway

1980:

  • Festival d’Automne (Nhạc hội mùa thu), Paris, Pháp-France
  • Festival International de Musique traditionnelle (Nhạc hội quốc tế nhạc truyền thống), Sarajevo, Nam tư-Yugoslavia

1981:

  • Asian Music Festival (Nhạc hội Á châu), Seoul, Đại Hàn- Republic of Korea
  • World Conference of the IFMC (Hội nghị thế giới IFMC), Seoul, Đại Hàn, Korea

1982:

  • Chamber Music Festival (Nhạc hội nhạc thính phòng), Kuhmo, Pháp-France
  • Polyphonix: Poésie et Musique (Nhạc hội về Thơ và Nhạc), Paris, Pháp-France

1983:

  • First World Music Festival (Nhạc hội nhạc thế giới lần thứ nhất), Rio de Janeiro, Ba Tây – Brazil
  • World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), New York, Mỹ – USA

1984:

  • Polyphonix: Poetry and Music (Nhạc hội về Thơ và Nhạc), New York, Hoa Kỳ -USA
  • Folk Music Festival (Nhạc hội dân nhạc), Kaustinen, Phần Lan-Finland
  • New Music Festival (Đại hội nhạc mới), Vitaasarii, Phần Lan-Finland
  • Chamber Music Festival (Đại hội nhạc thính phòng), Kuhmo, Phần Lan-Finland
  • Festival of World Musical Cultures (Đại hội văn hóa nhạc thế giới), Cape Town, Nam Phi- South Africa

1985:

  • First World Festival of Traditional Music (Đại hội thế giới nhạc cổ truyền lần thứ nhất), Belfast, Bắc Ái nhĩ lan – Northern Ireland, United Kingdom
  • Festival international de musique(đại hội quốc tế âm nhạc), Langeais, Pháp-France
  • Festival estival (đại hội mùa hè), Paris, Pháp-France

1986:

  • Festival de Musique des Trois Continents (Đại hội nhạc ba lục địa), Nice, Pháp-France
  • Festival de Musique Traditionnelle – Nord/Sud (Đại hội nhạc truyền thống -Bắc/Nam), Paris, Pháp-France
  • Festival de Musiques des Immigrants (Đại hội nhạc di dân), Paris, Pháp-France

1987:

  • Polyphonix: Poésie et Musique (Đại hội Thơ và Nhạc), Paris, Pháp-France
  • Festival de Musique Folk (Đại hội dân nhạc), Ris Orangis, Pháp-France

1988:

  • Premières Rencontres d’Expressions Vocales (Cuộc gặp gỡ đầu tiên về Giọng hát), Abbaye de Fontevraud, Pháp-France
  • World Music Festival (đại hội nhạc thế giới), Melbourne, Úc châu – Australia
  • People’s Music Festival (đại hội nhạc dân chúng), Milano, Ý-Italy
  • Festival de Musique asiatique (đại hội nhạc Á châu), Estampes, Pháp-France

1989:

  • Bicentenaire de la Révolution Française (Đại hội nhạc kỷ niệm 200 năm cách mạng Pháp), Paris, Pháp-France
  • Festival international de Saint Herblain (đại hội quốc tế âm nhạc tỉnh Saint Herblain), Saint Herblain, Pháp-France
  • World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Schladming, Áo quốc-Austria

1990:

  • Music Festival “Bloomed Sounds, Floating Song”( Đại hội âm nhạc “âm thanh nở, ca khúc trôi”), Osaka, Nhật Bản-Japan
  • First Forum of Pacific and Asian Arts (Đại hội nhạc Á châu và Thái bình dương lần thứ nhất), Kobe, Nhật Bản-Japan.
  • Asian Music Festival (Nhạc hội Á châu), Tamba, Nhật Bản-Japan.
  • Festival de Musique Traditionnelle (Nhạc hội nhạc cổ truyền), Arzila, Maroc – Morocco
  • Berlin Music Festival (Nhạc hội thành phố Berlin), Berlin, Đức – Germany
  • Vox Populi (Nhạc hội về Giọng), Bruxelles, Bỉ-Belgium

1991:

  • 700 ans de Suisse (Nhạc hội 700 năm thành lập xứ Thụy Sĩ), Lausanne, Thụy Sĩ-Switzerland
  • Festival de Musique de Saint Denis (Nhạc hội tỉnh Saint Denis), Saint Denis, Pháp-France
  • String Music Festival (Nhạc hội đàn dây), Berlin, Đức-Germany
  • Voice Festival (Đại hội Giọng), Rotterdam, Hà Lan – the Netherlands

1992:

  • 4ème Rencontre de Chants Polyphoniques (Gặp gỡ lần thứ 4 Hát Đa âm), Calvi, Corse, Pháp
  • Festival autour de la Voix (Đại hội quanh về Giọng), Argenteuil, Pháp-France
  • Festival sur l’esprit des Voix (Đại hội về Giọng), Périgueux, Pháp-France
  • Festival de Musique de Montréal, (đại nhạc hội kỷ niệm 350 thành lập xứ Canada), Montréal, Canada.

1993:

  • Festival de Musique Folk (Đại hội nhạc dân gian), Ris Orangis, Pháp-France
  • Voice Festival (Đại hội về Giọng), Volterra, Ý – Italy
  • World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Berlin, Đức – Germany

1994:

  • Festival de Musique Traditionnelle (Đại hội nhạc cổ truyền), Azrilah, Maroc-Morocco
  • Festival de Musiques du Monde (Đại hội nhạc thế giới), Nantes, Pháp-France
  • First Festival and International Conference of the Pacific / Asian Society for Ethnomusicology (Đại nhạc hội và hội nghị quốc tế lần thứ nhất ), Seoul, Hàn quốc-Korea

1995:

  • Giving Voice: A Geography of the Voice (Đại hội về Giọng), Cardiff, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom
  • 2nd International Festival of Throat Singing Khoomei (Đại hội quốc tế lần thứ 2 về Hát đồng song thanh), Kyzyl, Tuva, Nga – Russia
  • World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Canberra, Úc chậu – Australia

1996:

  • Voice Festival (Đại hội về giọng), Grosetto, Ý-Italy
  • Giving Voice: A Geography of the Voice (Đại hội về Giọng), Cardiff, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom
  • 4th World Festival of Choral Music (Đại hội thế giới lần thứ 4 về nhạc hợp xướng), Sydney, Úc châu – Australia
  • 1st World Meeting of Vietnamese Music (Gặp gỡ thế giới lần thứ nhất về nhạc Việt), Minneapolis, Mỹ – USA

1997:

  • International Festival of Music (Đại nhạc hội quốc tế), Cape Town, Nam Phi – South Africa
  • Festival de Musique Folk (Đại hội nhạc dân gian), Ris Orangis, Pháp – France
  • Giving Voice: An Archeology of the Voice (Đại hội về Giọng), Aberyswith, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom
  • Festival Régional de Musiques Traditionnelles (Đại hội địa phương nhạc cổ truyền), Montpellier, Pháp – France
  • World Conference of the ICTM (Hội nghị quốc tế ICTM), Nitra, Slovakia

1998:

  • International Festival of Stringed Instruments (Đại hội quốc tế đàn dây), Amsterdam, Hà lan – the Netherlands
  • International Festival of Mediterranean Music (Đại hội quốc tế nhạc Địa Trung Hải), Genova, Ý – Italy
  • Asian Music Festival in Europe (Đại hội nhạc Á châu ở Âu châu), London, Anh quốc – Great Britain
  • Printemps pour la culture vietnamienne (Mùa Xuân cho văn hóa Việt), Paris, Pháp-France
  • Festival de la Voix (Đại hội về Giọng), Auch, Pháp-France
  • 3rd World Jew’s Harp Festival (Đại hội thế giới lần thứ 3 về Đàn Môi), Molln, Áo quốc-Austria
  • Bela Bartok Festival of Contemporary Music (Đại hội Bela Bartok nhạc đương đại), Szombathely, Hungari – Hungary
  • Asian Music Festival (Đại hội nhạc Á châu), Firenze, Ý-Italy
  • International Voice Festival (Đại hội quốc tế về Giọng), Rio de Janeiro, Braxin- Brazil

1999:

  • Festival d’Auch (Đại hội về giọng thành phố Auch), Auch, Pháp – France
  • Festival international de Musique de Saint Chartier (Đại hội quốc tế nhạc cổ truyền), Saint Chartier, Pháp-France
  • Giving Voice: A Divinity of the Voice (Đại hội về Giọng), Aberyswith, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom
  • Bela Bartok Festival of Contemporary Music (Đại hội Bela Bartok nhạc đương đại), Szombathely, Hungari – Hungary
  • World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Hiroshima, Nhật Bản – Japan

2000:

  • Festival Printemps musical de Pérouges (Nhạc hội mùa xuân tỉnh Pérouges), Pérouges, Pháp-France
  • Fête de la Musique (Ngày lễ âm nhạc), Paris, Pháp-France
  • International Jew’s harp Festival (Đại hội quốc tế Đàn môi), Moll, Áo quốc-Austria
  • Festival of Dances and Folk Music (Đại hội múa và nhạc dân gian), Rudolstadt, Đức – Germany
  • Festival de Musiques des 5 continents (Đại hội nhạc 5 châu), Mauléon, Pháp-France
  • International Festival of Extreme Voices (Đại hội quốc tế về Giọng), Genova, Ý-Italy
  • International Festival of Qin music (Đại hội quốc tế về nhạc đàn tranh), Amsterdam, Hà Lan – the Netherlands
  • Festival de Voix d’Hommes (Đại hội Giọng Nam), Bretagne, Pháp – France
  • Festival of Traditional Music (Đại hội nhạc cổ truyền), Đài Bắc, Đài loan – Taiwan

2001:

  • Colloque de la Voix chantée (Hội nghị về Giọng ), Lyon, Pháp – France
  • Festival de Musique Traditionnelle (Đại hội nhạc cổ truyền), Denain, Pháp-France
  • City London Music Festival (Đại nhạc hội thành phố London), London, Anh quốc –England
  • Fête de la Musique (Lễ âm nhạc), Paris, Pháp – France
  • Festival “Performato” (Đại nhạc hội Performato), Rio de Janeiro, Braxin – Brazil
  • International Festival of Choral Music (Đại hội quốc tế nhạc hợp xướng), Singapore
  • Festival “1000 Facettes de la Voix” (Đại hội 1000 bộ mặt của Giọng), Village du Lac, Pháp-France
  • World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Rio de Janeiro, Braxin – Brazil

2002:

  • International Voice Festival (Đại hội quốc tế về Giọng), Genova, Ý –Italy
  • Fête de la Musique (Lễ âm nhạc), Beirut, Liban – Lebanon
  • International Congress of Yoga (Hội nghị quốc tế về Yoga), Vogüe, Pháp – France
  • 6th World Symposium of Choral Music (Đại hội thế giới lần thứ 6 về nhạc hợp xướng), Minneapolis, Mỹ – USA
  • 4th World Jew’s Harp Festival (Đại hội thế giới lần thứ 4 về Đàn Môi), Raudal, Na Uy- Norway
  • International Congress of Polyphony (Hội nghị quốc tế nhạc đa âm), Tbilissi, Georgia

2003

  • International Music Festival of Telemark (Đại hội quốc tế âm nhạc ở Telemark), Bo, Na Uy – Norway
  • Festival de culture vietnamienne (Đại hội văn hóa Việt), Lausanne, Thụy Sĩ – Switzerland
  • International Congress of Psychotherapy (Hội nghị quốc tế tâm lý điều trị học), Hanover, Đức – Germany
  • International Festival “Voice of the World” (Đại hội quốc tế “Giọng thế giới”, Bologna, Ý- Italy

2004:

  • World Conference of the ICTM(Hội nghị thế giới ICTM), Fuzhou, Trung quốc – China
  • International Festival “Making New Waves” (Đại hội quốc tế nhac đương đại), Budapest, Hungari – Hungary
  • International Congress of Musical Acoustics (Hội nghị quốc âm thanh nhạc học), Nara, Nhật Bản – Japan
  • International Congress of Acoustics (Hội nghị quốc tế âm thanh học), Kyoto, Nhật Bản – Japan
  • International Congress of Yoga (Hội nghị quốc tế về Yoga), Vogüe, Pháp – France
  • International Festival of Mediterranean Music (Đại hội quốc tế nhạc Địa Trung Hải), Genova, Ý – Italy
  • 3ème Festival “Le Rêve de l’Aborigène” (Đại hội nhạc đàn môi, didjeridu và hát đồng song thanh lần thứ 3), Poitiers, Pháp – France
  • International Congress of Shamanism (Đại hội quốc tế về đồng bóng), Trường đại học Donau, Krems, Áo quốc – Austria
  • Manifestations scientifiques et musicales dans le cadre “Lille, Ville européenne culturelle *2004 (Sinh hoạt khoa học và âm nhạc trong khung cảnh “Lille, thành phố Âu châu văn hóa 2004), Lille, Pháp – France
  • International Seminar on Voice (Hội nghị quốc về Giọng), Reading, University of Reading,, Anh quốc – England.
  • International Symposium of Sung and Spoken Voice (Hội nghị quốc tế về giọng hát và giọng nói, Stuttgart, Đức – Germany.

2005:

  • International Festival of Avant Garde Music “Making New Waves” (Đại hội quốc tế ậm nhạc đương đại), Budapest, Hungari – Pháp
  • International Festival of Choral Music (Đại hội quốc tế về hát hợp xướng), Erfurt, Đức – Germany.
  • International Festival of Choral Music (Đại hội quốc tế về hát hợp xướng), Arnheim, Hà Lan – the Netherlands
  • International Festival of Mediterranean Music (Nhạc hội quốc tế nhạc Địa Trung Hải), Genova, Ý-Italy
  • Sunplash Festival (Nhạc hội nhạc Reggae), Ý – Italy
  • World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Sheffield, Anh quốc.
  • MELA Festival (Đại nhạc hội MELA về nhạc thế giới), Oslo, Na Uy – Norway.
  • 1st World Festival of Marranzanu (Đại hội thế giới về Đàn môi lần thứ nhất), Cantania, Sicily, Ý – Italy
  • International Symposium of Voice (Hội nghị quốc tế về Giọng), Stuttgart, Đức – Germany
  • “30 ans d’existence de l’Université en Haute Alsace” (Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập trường đại học Haute Alsace), Mulhouse, Pháp – France
  • International Festival of Traditonal Music (Đại hội quốc tế nhạc truyền thống), Limerick, Ái nhĩ lan – Ireland.

2006:

  • Tết in Seattle (Đại hội âm nhạc Tết tại Seattle), Seattle, Mỹ – USA
  • 2ème Rencontre sur la parole chantée (Cuộc gặp gỡ thứ nhì về lời hát), Rio de Janeiro, Braxin- Brazil.
  • Festival “La Semaine du Son” (Đại hội tuần lễ âm thanh), Châlon sur Saône, Pháp – France
  • International Seminar on Ca Trù (hội thảo quốc tế về Ca Trù ), Hà Nội, Việt Nam
  • Festival international des Musiques Sacrées (Đại hội quốc tế nhạc tôn giáo), Fribourg, Thụy Sĩ – Switzerland.
  • 5th International Jew’s Harp Festival (Đại hội quốc tế Đàn môi lần thứ 5), Amsterdam, Hà Lan – the Netherlands
  • MELA Festival (Đại hội quốc tế nhạc thế giới), Oslo, Na Uy – Norway
  • International Meeting of the ICTM (Hội thảo quốc tế ICTM), Ljubliana, Slovenia
  • International Congress of Applied Ethnomusicology (Hội nghị quốc tế về dân tộc nhạc học áp dụng ), Ljubljana, Slovenia.
  • International Symposium of Voice (Hội nghị quốc tế về Giọng), Stuttgart, Đức – Germany
  • International Meeting “Music as Memory” (Hội thảo quốc tế “Nhạc như là Trí Nhớ), Oslo, Na Uy – Norway.
  • The Global Forum on Civilization and Peace (Hội thảo về văn minh và hòa bình), Seoul, Đại Hàn – Republic of Korea.

2007

  • “Bilan du film ethnographique” (Đại hội liên hoan phim nghiên cứu), Paris, France (march)
  • “Voice Festival / 9th session of the ILV/ CETC”, (đại hội liên hoan về giọng) Buenos Aires, Argentina (march)
  • “Symposium on music therapy”, (hội thảo về âm nhạc điều trị học) Sao Paulo, Brazil (april)
  • “Bergen International Music OI OI Festival”, (Đại hội liên hoan quốc tế tại Bergen) Bergen, Norway (may-june)
  • “Homage to Demetrio Stratos” (Lễ hội kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)
  • “39th World conference of the ICTM” (hội nghị quốc tế ICTM), Vienna, Austria (july)
  • “PEVOC 7 – International Congress on Voice”, (PEVOC, hội nghị quốc tế về Giọng) Groningen, the Netherlands (august)
  • “International Doromb Jew’s Harp Festival” (đại hội liên hoan quốc tế về đàn môi), Hungary (september)

2008

  • “A Week of Sound Festival, Lyon”, (Đại hội liên hoan một tuần về âm thanh) France (january)
  • “Unesco Congress of World Heritage”(Hội nghị UNESCO về di sản thế giới), Canberra, Australia (February)
  • “Giving Voice” (Đại hội liên hoan về Giọng), Aberystwith, New Wales (march)
  • “Bergen International Music OI OI Festival”( đại hội liên hoan quốc tế về nhạc tại Bergen) Bergen, Norway (may/june)
  • “Homage to Demetrio Stratos” (đại hội nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)
  • “A Voix Haute” Festival, (đại hội liên hoan về giọng hát) Bagnères de Bigorre, France (august)
  • “MELA music festival” (Đại hội liên hoan quốc tế nhạc dân tộc MELA), Oslo, Norway (august)
  • “International Voice Festival” (Đại hội liên hoan giọng hát quốc tế), Dresden, Germany (september)

2009

  • “Voice Festival” (đại hội liên hoan về Giọng), Switzerland (may)
  • “Homage to Demetrio Stratos” (đại hội nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)
  • “40th World conference of the ICTM” (hội nghị quốc tế ICTM), Durban, South Africa (july)
  • “International Congress of Voice Teachers”(hội nghị quốc tế các giáo sư dạy giọng), Paris, France (july)
  • “MELA Music Festival” (đại hội liên hoan nhạc dân tộc quốc tế MELA), Oslo, Norway (august)

2010

  • “Homage to Demetrio Stratos” (đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)
  • “International of Sound” (đại hội liên hoan âm thanh quốc tế), Saint John’s, Canada (july)
  • “ICTM 2 study groups meeting”j hội thảo ICTM về nhạc sắc tộc và dân tộc nhạc học ứng dụng), Hanoi, Vietnam (july)
  • “Vietnamese Guiness Record Ceremony” (Lễ trao giải kỷ lục Việt Nam), Ho Chi Minh city, Vietnam, (december)

2011

  • “International Symposium on Don Ca tai tu Nam bo”(hội thảo quốc tế về đờn ca tài tử nam bộ), Ho Chi Minh city (January)
  • “International colloquial about 400 years of the birth of Phu Yen city” (hội thảo quốc tế về 400 năm thành phố Phú Yên được sinh ra ), Phu Yên, Vietnam (april)
  • “Le Vietnam à Lorient”, (Việt Nam tại tỉnh Lorient, Pháp) Lorient, France (may)
  • “World Jew’s Harp Festival” (Đại hội liên hoan đàn môi thế giới )in Yakutsk, Yakutia (june)
  • “Homage to Demetrio Stratos”( đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)
  • “International Festival of Mediterranean Music” (đại hội liên hoan quốc tế nhạc địa trung hải), Genova, Italy (july)
  • “41stWorld Conference ICTM” (hội nghị quốc tế ICTM) in Saint John’s, Canada (july)
  • “World Symposium of Choral Music” (hội thảo thế giới nhạc hợp xướng), Puerto Madryn, Argentina (august)
  • “Spring Festival of South African Music” (đại hội liên hoan mùa xuân nhạc Nam Phi), Fort Hare, South Africa (september)
  • “International Festival of Humour and Music” (đại hội liên hoan hài hước và nhạc), Stavanger, Norway (september)
  • “Peace Festival” (đại hội liên hoan về hòa bình), Wroclaw, Poland (october)
  • “30th International Ethnographical Film Festival” (đại hội liên hoan phim ảnh nghiên cứu quốc tế), Paris, (november)
  • “International Conference of Arirang” (hội nghị quốc tế về bản nhạc dân ca Arirang), Seoul, Korea (december)

2012:

  • Festival d’Auch (đại hội liên hoan về giọng tại tỉnh Auch), Auch, France (april)
  • Festival Music Night (đại hội liên hoan nhạc ban đêm), Munich, Germany (april)

2013:

  • Festival de la Voix (đại hội liên hoan về giọng) Colombes, France (may)
  • 42nd ICTM WORLD CONFERENCE (hội nghị quốc tế ICTM), Shang Hai, China (july)
  • Festival Les Nuits du Monde “Vietnam Style” (đại hội liên hoan Đêm thế giới), Geneva, Switzerland (November)
  • Exhibition VOICE – “Voices of the World” (triển lãm GIỌNG – Giọng của thế giới), City of Sciences, Paris, France (december 2013 – september 2014)
  • Congress “Biomedical Signal Processing & Control (Elsevier) devoted to the workshop MAVEBA (hội y khoa về Giọng), Florence, Italy (december)
  • World Marranzano Festival (đại hội liên hoan thế giới đàn môi), Catania, Sicily, Italy (december)

2014:

  • Festival “Pauses Musicales” (đại hội liên hoan giải lao âm nhạc), Toulouse, France (February)
  • “Promenade Vietnam” (Đi dạo Việt Nam), City of Music, Paris, France (march)
  • International Conference “Safeguarding & Promotion of Folk Songs in the Contemporary Society” (hội nghị quốc tế về bảo vệ và quảng bá dân ca trong xã hội đương đại), Vinh city, province of Nghệ An, Vietnam (may)
  • Ancient Trance Festival – Jew’s harp world festival, (đaị hội liên đàn môi thế giới) Taucha, Germany (august)
  • 10 Internationale Stuttgarter Stimmtage, (hội thảo quốc tề về goịng) Stuttgart, Germany (october)
  • Opening ceremony of the World Vocal Clinic / Deutsche Stimmklinik (lễ khai mạc về giọng khía cạnh y khoa), Hamburg, Germany (october)
  • Festival “Il teatro vivo”, (đại hội liên hoan nhà hát linh động) Bergamo, Italy (november)

2015:

  • Omaggio a Demetrio Stratos (đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone, Italy (june)
  • 43rdICTM World Conference (hội nghị quốc tế ICTM), Astana, Kazakhstan (july)
  • Festival of Hát Then Nùng Thái (đại hội liên hoan hát then nùng thái), Việt Bắc, Vietnam (september)
  • Convegne, Concerti e master class dedicati al “canto sardo e canto armonico nel mondo” (hội thảo, khóa dạy hát đồng song thanh”, Sorso, Sardinia, Italy (october)

2016:

  • Festival of Chầu Văn (Vietnamese music of possession ) (đại hội liên hoan chầu văn), Nam Định, Vietnam (january)
  • Voice Encounters: Voice Pedagogy, (Cuộc gặp gỡ về giọng – sư phạm giọng) Wroclaw, Poland (april)
  • International Meeting A GRAN VOCE (gặp gỡ quốc tế về giọng), Vicenza, Italy (may)
  • Omaggio a Demetrio Stratos 2016 (đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone, Italy (june)
  • Ancient Trance Festival, (đại hội liên hoan nhạc dân tộc)Taucha, Germany (August)
  • 12th international Voice Symposium “BRAIN & VOICE” (hội thảo quốc tế về gịong ), Salzburg, Austria (august)

2017:

  • 44th ICTM World Conference (hội nghị quốc tế ICTM), Limerick, Ireland (july)
  • Congress “Voci e Soni “Di Dentro e Di Fuori” (hội nghị về Giọng và Âm thanh), Padova, Italy (october)
  • Congress La Voce Artistica (hội nghị về Giọng nghệ thuật) 2017 XI edìtion, Ravenna, Italy (october)

Tôi đã sáng tạo một số kỹ thuật mới cho muỗng được thấy ở Việt Nam vào cuối thập niên 40 (gần 70 năm).Ngoài ra tôi khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh từ năm 1969 và hiện nay được xem như chuyên gia có được nhiều giới nghiên cứu về dân tộc nhạc học, âm thanh học, nhạc đương đại, y học biết tới khắp nơi trên thế giới.

Tôi đã thể nghiệm nhiều loại nhạc với tư cách nhạc sĩ. Tôi đã từng chơi nhạc Free Jazz với nhóm Alain Brunet Quartet), nhạc pop, nhạc điện thanh (electro- acoustical music) qua bài Về Nguồn (soạn chung với Nguyễn Văn Tường được trình bày lần đầu tiên năm 1975 tai Champigny sur Marne, Pháp), nhạc tùy hứng (hợp tác với Arlette Bon vũ sư đương đại năm 1972, với Muriel Jaer, vũ sư đương đại nhiều năm từ 1973 tới 1980, qua bài Shaman với Misha Lobko vào năm 1982, Paris).

Tôi đã cộng tác trình diễn trong các dĩa CD như với Philip Peris (tôi chơi đàn môi và hát đồng song thanh hòa với kèn thổ dân Úc didjeridu năm 1997), với các nhạc sĩ đàn môi qua hai CD về đàn môi năm 1999 và một CD đàn môi với John Wright, Leo Tadagawa và Svein Westad năm 2000. Dĩa VIETNAM / TRAN QUANG HAI & BACH YEN do hãng SM Studio sản xuất tại Paris năm 1983 đã đưọc giải thưỏng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1983, và dĩa LES VOIX DU MONDE do hãng Le Chant Du Monde sản xuất năm 1996 tại Paris cũng được giải thưởng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1996.

Hội Viên các hội nghiên cứu

  • Society for Ethnomusicology (Hội Dân tộc nhạc học), Hoa Kỳ, từ 1969
  • Asian Music Society (Hội Nhạc Á châu), Hoa Kỳ, từ 1978
  • ICTM (Hội đồng quốc tế nhạc truyền thống), Hoa Kỳ, từ 1976 (đưọc bầu làm thành viên của ủy ban chấp hành – member of the Executive Board từ 2005)
  • Société Internationale de Musicologie (Hôi quốc tế nhạc học), Thụy Sĩ, từ 1977
  • International Association of Sound Archives (IASA) (Hội quốc tế âm thang viện), Úc châu từ 1978
  • Association of the Foundation of Voice (Hội về Giọng), Hoa Kỳ từ 1997
  • Société de Musicologie (Hội nhạc học), Pháp, từ 1980
  • Société Francaise d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Pháp) từ 1985 (sáng lập viên)
  • CIMCIM (Unesco) từ 1983
  • Séminaire Européen d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Âu châu), Thụy Sĩ, từ 1983.
  • Association Francaise d’Archives sonores (Hội âm thanh viện Pháp) từ 1979
  • Centre d’Etudes de Musique Orientale (Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương), Paris, từ 1962 (giáo sư của trung tâm từ 1970 tới 1975)
  • Centre d’Etudes Vietnamiennes (Trung tâm nghiên cứu Việt học), Pháp,từ 1987
  • Association Francaise de Recherche sur l’Asie du Sud-Est (Hội nghiên cứu Đông Nam Á Pháp), Pháp từ 1986.
  • Société des Auteurs, Compositeurs et Editeurs de la Musique (SACEM), Pháp, từ 1980
  • International Center of Khoomei (Trung tâm quốc tế Hát đồng song thanh), Kyzyl, Tuva, Nga từ 1995.
  • International Jew’s Harp Society (Hội quốc tế Đàn Môi), Áo quốc, từ 1998 (sáng lập viên)
  • Scientific Association of Vietnamese Professionals (Hội khoa học chuyên gia Việt Nam) (hội viên danh dự), Canada từ 1992.
  • Vietnamese Institute for Musicology (Viện Âm nhạc Hà nội), Việt Nam từ 2004, (hội viên danh dự)
  • American Biographical Institute and Research Association (ABIRA), Hoa kỳ, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế)
  • International Biographical Association (IBA), Anh quốc, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế)
  • Encyclopaedia Universalis Tự điển, Pháp, từ 1985 (cố vấn cho giải thưởng Diderot)
  • American Order of Excellency, Hoa Kỳ, từ năm 1998 (sáng lập viên)
  • World Wide Library, Hoa Kỳ (thành viên).
  • Vietnamese Public Library of Knowledge (ViPLOK) (founding member of the editorial board), Hoa Kỳ từ 2006.

NHỮNG QUYỂN SÁCH CÓ TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI

Sau đây là những quyển tiểu sử Who’s Who và các quyển sách khác có đăng tiểu sử của tôi:

  • Dictionary of International Biography, ấn bản thứ 15, Anh quốc
  • Men of Achievement, ấn bản thứ 5, 6, và 7, Anh quốc
  • International Who’s Who in Music, từ ấn bản thứ 8 cho tới hiện nay (2017), Anh quốc
  • Who’s Who in Europe, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc
  • Men and Women in Distinction, ấn bản thứ 1 và 2, Anh quốc
  • International Register of Profiles, ấn bản thứ 4 và 5, Anh quốc.
  • International Who’s Who of Intellectuals, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc
  • The First Five Hundred, ấn bản thứ nhất, Anh quốc
  • Who’s Who in the World, từ ấn bản thứ 5 tới nay (2017), Hoa Kỳ
  • 5,000 Personalities in the World, ấn bản thứ nhất, Hoa kỳ
  • International Directory of Distinguished Leadership, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ
  • International Book of Honor, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ
  • Who’s Who in Entertainment, ấn bản thứ 3, Anh quốc
  • Who’s who in France, từ ấn bản thứ 29 tới nay (2017), Pháp
  • Nouvelle Dictionnaire Européen, từ ấn bản thứ 5 tới ấn bản thứ 9, Bỉ
  • Who’s Who in International Art, ấn bản thứ nhất, Thụy Sĩ
  • Vẻ Vang Dân Việt – The Pride of the Vietnamese, quyển 1, ấn bản thứ 1 và 2, Hoa Kỳ
  • Fils et Filles du Viet Nam, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ
  • Tuyển tập nghệ sĩ (Selection of Artists), quyển 1, Canada
  • Guide du Show Business, từ 1986 tới nay (2017), Pháp
  • The Europe 500 Leaders for the New Century, Barons Who’s Who, Hoa Kỳ
  • QUID, từ 2000 tới nay (2017), Pháp
  • 500 Great Minds of the Early 21st Century, Bibliotheque World Wide, Hoa Kỳ
  • Officiel Planète,từ năm 2000 tới nay (2017), nhà xuất bản IRMA, Pháp

NHỮNG GIẢI THƯỞNG

  • 1983: Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros (Giải thưởng tối cao của Hàn Lâm viện dĩa hát Charles Cros) cho dĩa hát “Viet Nam / Tran Quang Hai & Bach Yen” do hãng SM Studio sản xuất tại Paris, Pháp.
  • 1986: Médaille d’Or (Huy chương vàng) của Hàn lâm viện văn hóa Á châu, Paris, Pháp.
  • 1987: D.MUS (Hon) (tiến sĩ danh dự) của International University Foundation, Hoa Kỳ.
  • 1988: International Order of Merit của International Biographical Centre, Cambridge, Anh quốc.
  • 1989: Ph.D.(HON) (Tiến sĩ danh dự) của Albert Einstein International Academy Foundation, Hoa Kỳ.
  • 1990: Grand Prix du Festival International du Film Anthropologique et Visuel (Giải thưởng tối cao của đại hội quốc tế phim nhân chủng và hình ảnh) cho phim “Le Chant des Harmoniques” (Tiếng hát bồi âm) do tôi là tác giả, diễn viên chánh và viết nhạc cho phim, Parnü, Estonia.
  • 1990: Prix du Meilleur Film Ethnomusicologique (Giải thưỏng phim hay nhất về dân tộc nhạc học) cho phim “Le Chant des Harmoniques” (Tiếng hát bồi âm) do Hàn lâm viện khoa học cấp, Parnü, Estonia
  • 1990: Prix Spécial de la Recherche (Giải thuởng đặc biệt về nghiên cứu) của Đại hội quốc tế điện ảnh khoa học dành cho phim “Le chant des harmoniques” (Tiếng hát bồi âm), Palaiseau, Pháp.
  • 1991: Grand Prix Northern Telecom (Giải thưởng tối cao Northern Telecom) của Đại hội quốc tế Phim khoa học lần thứ nhì của Québec dành cho phim “Le chant des harmoniques” (Tiếng hát bồi âm), Montréal, Canada.
  • 1991: Prix Van Laurens (Giải thưởng Van Laurens) của British Association of the Voice và Ferens Institute của London tặng cho bài tham luận của tôi mang tên là “Discovery of overtone singing” (Khám phá hát đồng song thanh), London, Anh quốc.
  • 1991: Alfred Nobel Medal (Huy chương Alfred Nobel)của Albert Einstein Academy Foundation, Hoa Kỳ
  • 1991: Grand Ambassador (Huy chương Đại sứ lớn) của American Biographical Institute, Hoa kỳ
  • 1991: Men of the Year (Người của Năm 1991) do American Biographical Institute tặng, Hoa kỳ
  • 1991: Men of the Year (Người của Năm 1991) do International Biographical Centre tặng, Cambridge, Anh quốc.
  • 1994: Men of the Year (Người của Năm 1994) do American Biographical Institute tặng, Hoa kỳ
  • 1994: Gold Record of Achievement (Kỷ lục vàng về thành đạt) do American Biographical Institute tặng, Hoa Kỳ
  • 1995: Giải thưởng đặc biệt về hát đồng song thanh tại Đại hội liên hoan hát đồng song thanh, Kyzyl, Tuva, Nga
  • 1996: Médaille de Cristal (Huy chương thủy tinh) do Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học tặng cho 25 năm nghiên cứu hát đồng song thanh, Pháp
  • 1997: Grand Prix du disque de l’Académie Charles Cros (Giải thưởng tối cao của Hàn lâm viện Charles Cros) cho dĩa hát “Voix du Monde” (Giọng Thế giới), Pháp.
  • 1997: Diapason d’Or de l’Année 1997 (Dĩa vàng năm 1997) cho dĩa hát “Voix du Monde”, Pháp
  • 1997: CHOC de l’année 1997 (Ấn tượng mạnh nhất trong năm 1997) cho dĩa hát “Voix du Monde”, Pháp
  • 1998: Médaille d’Honneur (Huy chương danh dự dành cho công dân danh dự) của thành phố Limeil Brévannes (nơi tôi cư ngụ), Pháp.
  • 1998: Giải thưởng đặc biệt của Đại hội thế giới về Đàn Môi, Molln, Áo quốc
  • 2002: Chevalier de la Légion d’Honneur (Hiệp sĩ Bắc đẩu bội tinh), huy chương tối cao của Pháp, Pháp.
  • 2009: Huy chương lao động hạng đại kim (Médaille du Travail, catégorie Grand Or), bộ lao động Pháp.
  • 2015: Bằng cấp danh dự của Viện Bảo tàng đàn môi, Yakutsk, xứ Yakutia.
  • 2017: Huy chương sáng lập viên hội dân tộc nhạc học Pháp, Paris, Pháp.

SÁCH DO TRẦN QUANG HẢI VIẾT

  • Biên Khảo Nhạc Việt Nam, nhà xuất bản Bắc Đẩu, 362 trang, 1989, Paris, Pháp.
  • Musiques du Monde (Nhạc thế giới): với sự hợp tác của Michel Asselineau và Eugène Bérel, nhà xuất bản J-M Fuzeau, 360 trang, 3 CD, 1993, Courlay, Pháp.
  • Musics of the World (Nhạc thế giới): nhà xuất bản J-M Fuzeau, 360 trang, 3 CD, 1994, Courlay, Pháp. Bản dịch tiếng Đức được xuất bản năm 1996, bản dịch tiếng Tây Ban Nha xuất bản năm 1998.
  • Musiques et Danses Traditionnelles d’Europe (Nhạc và vũ truyền thống Âu châu): với sự hợp tác của Michel Asselineau, Eugène Bérel và FAMDT, nhà xuất bản J-M Fuzeau, 380 trang, 2 CD, 1996, Courlay, Pháp.

DVD do TRẦN QUANG HẢI biên soạn

  • Le Chant Diphonique, (Hát đồng song thanh) 27 phút, với 2 bản (tiếng Pháp và tiếng Anh), nhà xuất bản CRDP của đảo Réunion, 2004. Đồng tác giả: Trần Quang Hải và Luc Souvet
  • Le Chant des Harmoniques (Bài hát bồi âm), 38 phút, bản tiếng Pháp, nhà xuất bản CNRS Audiovisuel, 2005, Meudon, Pháp. Đồng tác giả: Trần Quang Hải và Hugo Zemp
  • The Song of Harmonics, (Bài hát bồi âm) 38 phút, bản tiếng Anh, nhà xuất bản CNRS Audiovisuel, 2006, Meudon, Pháp. Đồng tác giả: Trần quang Hải và Hugo Zemp
  • Thèm’Axe 2 LA VOIX (Giọng), 110 phút, bản tiếng Pháp, nhà xuất bản Lugdivine, Lyon, 2006. Tác giả: Patrick Kersalé với sự hợp tác của Trần Quang Hải.

NHỮNG BIẾN CỐ QUAN TRỌNG TRÊN THẾ GIỚI

Tôi là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên tham gia trình diễn tại những biến cố lịch sử quan trọng trên thế giới

  • 1988: 200 năm thành lập xứ Úc
  • 1989: 200 năm Cách mạng Pháp
  • 1991: 700 năm thành lập xứ Thụy Sĩ
  • 1992: 350 năm thành lập thành phố Montréal, Canada
  • 1992: 500 năm khám phá Mỹ châu của Chritophe Colombus
  • 1994: 600 năm thành lập thủ đô Seoul, Đại Hàn
  • 1996: 50 năm vua Thái Lan trị vì
  • 2000: 100 năm thành lập âm thanh viện Berlin, Đức
  • 2004: Genova, thành phố văn hóa Âu châu, Ý
  • 2004: Lille, thành phố văn hóa Âu châu, Pháp
  • 2005: 100 năm xứ Na Uy được độc lập.

Tôi là nhạc sĩ Việt Nam tham gia nhiều nhất Ngày Lễ Âm nhạc do Pháp đề xướng từ lúc đầu tiên vào năm 1982, rồi năm 1984, 1985, 1987, 1989 tại Paris, rồi năm 1991 tại đảo La Réunion, rồi năm 2000, 2001 tại Paris, năm 2002 tại Beirut (Lebanon)

Tôi là nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đàn nhạc phim của các nhà viết nhạc phim của Pháp như Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, Jean Claude Petit, và trình diễn những nhạc phẩm đương đại của các nhà soạn nhạc như Nguyễn Văn Tường, Bernard Parmegiani, Nicolas Frize, Yves Herwan Chotard.

Tôi là nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đã trình diễn trên 3.500 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 70 quốc gia từ năm 1966, 1.500 buổi cho học sinh các trường học ở Âu Châu, giảng dạy tại hơn 100 trường đại học trên thế giới, tham dự trên 130 đại hội liên hoan âm nhạc quốc tế và có trên 8.000 người theo học hát đồng song thanh.

Liên lạc: TRẦN QUANG HẢI

điện thoại di động: 06 50 25 73 67

email: tranquanghai@gmail.com

trang nhà: https://tranquanghai.com

https://tranquanghai1944.com

https://tranvankhe-tranquanghai.com

Địa chỉ: 12 Rue Gutenberg
94450 LIMEIL BREVANNES
FRANCE

Tác giả

September 21, 2017

(NKLT tải xuống ngày 11 tháng 12 năm 2019)

Nguồn: https://tranquanghai1944.com/2017/09/21/tieu-su-tran-quang-hai/

https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tac-gia-tac-pham/s-t-u-v/tran-quang-hai/tieu-su-tran-quang-hai

Từ Nguyên, Paris : Nhạc Dân Tộc Việt GS TRẦN QUANG HẢI : VIỆT NAM CÓ BA NHẠC KHÍ ĐẶC BIỆT KHÔNG NƯỚC NÀO CÓ

Nhạc Dân Tộc Việt
GS TRẦN QUANG HẢI : VIỆT NAM CÓ BA NHẠC KHÍ
ĐẶC BIỆT KHÔNG NƯỚC NÀO CÓ

NHÀ VĂN TỪ NGUYÊN


Từ Nguyên, Paris
Bị nước Tàu đô hộ ngàn năm, Việt Nam không bị đồng hóa mà vẫn giữ được truyền thống dân tộc. Tiếng nói, chữ viết, cách ăn mặc, tập tục, phong thái…và nói chung, mọi thứ đều là Việt Nam. Chuyện đó ai cũng biết.
Trong âm nhạc, người Việt có ba nhạc khí mà không nước nào có kể cả nước Tàu. « Việt Nam đã tạo cho mình một chỗ đứng biệt lập với ba nhạc khí đặc thù dân tộc, chỉ thấy ở Việt Nam,» Giáo sư Trần Quang Hải viết trong cuốn sách mới đây của ông.
Sách mang tựa đề là 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt dày 450 trang do Nhân Văn Nghệ Thuật xuất bản năm 2018 nay được phát hành trên thế giới.

CHUYỆN ÍT NGƯỜI BIẾT
Trong bài Nguồn gốc Âm nhạc Việt Nam in trong cuốn sách, ông đã trình bày về ba nhạc khí đó là đàn đáy, đàn bầu và sinh tiền.
Đàn đáy có thùng hình thang, không có đáy chỉ có ba dây kết hợp đặc trưng của nhiều đàn khác nhau như đàn tam, tỳ bà, nguyệt. Đàn đáy dùng để đệm cho hát ả đào hay ca trù.
Đàn bầu hay độc huyền chỉ có một dây nhưng có thể đàn được ba bát độ và chỉ sử dụng bồi âm mà thôi.
Sinh tiền gồm ba miếng ván dài 27 phân, ngang 3 phân dày nửa phân. Hai miếng ván có mang những đồng tiền lúc lắc trong khi miếng thứ ba gõ hay cứa vào hai miếng ván kia tạo thành ba âm thanh khác biệt để đệm nhạc triều đình.

LỊCH SỬ NHẠC VIỆT
Trong cuốn sách, tác giả đã trình bày các loại đàn, hát của dân tộc ta từ thời nhà Đinh, thế kỷ thứ 10, cho tới ngày nay. Phần trình bầy rành rẽ là một tài liệu qúy báu cho những người biên khảo về âm nhạc Việt Nam, cổ nhạc lẫn tân nhạc.
Phần cổ nhạc, tác giả đã cho ta biết về các loại nhạc như nhạc cung đình, nhạc lễ, nhạc tôn giáo, nhạc thính phòng, nhạc tuồng, dân ca, nhạc dân tộc thiểu số. Các thứ đàn đặc biệt là đàn tranh, đàn đá thêm vào những nhạc cụ đặc hữu của Việt Nam, các loại hát như hát xoan, hát Then, Tày, Nùng, Thái…
Phần tân nhạc được tác giả ghi chép lại trong năm giai đoạn theo các biến cố chính trị trong nước. Giai đoạn tượng hình, 1928-1937; giai đoạn thành lập, 1938-1945, giai đoạn kháng Pháp 1946-1954, giai đoạn đất nước chia đôi 1954-1975 và giai đoạn di tản, từ 1975 trở đi.

CÔNG TRÌNH SÁNG TÁC, KHẢO CỨU
GS Hải đậu bằng Tiến sĩ Nhạc Dân tộc tại trường Cao Đẳng Khoa học Xã hội Pháp tại Paris năm 1973, lúc 29 tuổi, về những khám phá mới mẻ trong kỷ thuật hát đồng song thanh.
Tới năm 1989, ông được cấp bằng quốc gia giáo sư nhạc truyền thống nhưng ông đã làm việc khảo cứu từ năm 1968 tại Trung tâm quốc gia Nghiên cứu Khoa học CNRS ở Paris.
Đồng thời, ông còn làm việc trong Viện Dân tộc nhạc học của Viện Bảo tàng Nghệ thuật và Truyền thống Dân gian tại Paris.
Sở trường của GS Hải là hát đồng song thanh và đàn môi. Trong địa hạt này, Trần Quang Hải là người tài ba nhất thế giới. Ông đã sáng tác hơn 50 bài kể chung cho đàn tranh, cho muỗng, hát đồng song thanh hay là nhạc cho phim.

NĂM ĐỜI CA NHẠC
GS Hải là nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đã trình diễn trên 3 500 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 70 nước từ năm 1966, 1 500 buổi cho học sinh các trường học ở Âu Châu, giảng dạy trên 100 trường đại học trên thế giới, tham dự trên 130 đại hội liên hoan âm nhạc quốc tế và có trên 8 000 người theo học hát đồng song thanh. Điều này ghi rõ trên sách của ông.
Trong câu chuyện, thỉnh thoảng ông nhắc đến giòng dõi họ Trần Quang bốn đời tài danh trong ngành nhạc dân tộc. Tới Trần Quang Hải là đời thứ năm, con người tài hoa đã làm rạng danh nhạc dân tộc Việt khắp năm châu.
*Sách nhan đề là 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt do Nhân Văn Nghệ Thuật Xb. năm 2018, dày 450 trang, có thể mua trên mạng do nhà Xuất bản LULU phát hành, giá 16,76 euro.
https://www.lulu.com/shop/search.ep?keyWords=tran+quang+hai
Sách được phổ biến cùng với cuốn bằng Anh ngữ Tran Quang Hai 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing, Tu Sach Khai Tri, 2018 402 pages
Sách tiếng Anh có thể mua trên mạng Amazon.fr với giá 13,86 euro

MARK VAN TONGEREN: Catching up with Tran Quang Hai

Fusica © 2002 – 2019

Catching up with Tran Quang Hai

5th October 2019Overtone Singing, People, Publications, Throat Singing, Writings, 中文Bach Yen, dan moi, jew’s harp, mouthharp, Overtone Singing, Tran Quang Hai, Vietnamese music

The most prolific researcher in the field of overtone singing is a man with many faces. His name is Tran Quang Hai and you can call him (and all options are correct): Vietnamese or French; a professional musician or a professional musicologist; an instrumentalist or a singer; an improviser or a composer; a traditional, a popular or an experimental musician (all three will do); an expert in Vietnamese traditional musics and an astute chronicler of its year-to-year development in the past decades.* Tran Quang Hai has a new book out celebrating his 50 years of music research in many different areas. We recently met in Paris, where he shared some interesting facts about the Vietnamese Jew’s harp (dan moi) I did not know before. On the trip back to Amsterdam I read most of the articles in his book that I had not seen before, so more on that too. Before talking about our meeting, his book and the origin of the word dan moi (Jew’s harp), some historical background. Since Hai is Tran Quang Hai’s first name I will refer to him as Hai.

I learned of Hai’s work on overtone singing in the early 1990s. When I got to know him personally, I was astounded and (I will admit) a bit intimidated by his unbridled energy. He loves to share what he does, and he is in fact overflowing with enthusiasm: for overtone singing, for Vietnamese music, for playing the Jew’s harp and spoons, for ethnomusicology, for his constant travels as a performer and teacher. After my visits I was usually exhilirated (about all the new things I had learned or shared with him) and at the same time exhausted (feeling my life was a mess with no progress at all).

In fact, going to Paris has been almost synonymous with visiting Hai and his lovely wife Bach Yen (whose singing carreer goes way way back). And these visits became almost synonymous with absolutely great Vietnamese food. Bach Yen often spent hours and hours to buy fine ingredients like all kinds of fresh leaves, vegetables, seafood and meat and prepare them the Vietnamese way. We would have excellent diners, drank nice wine, as the couple made an annual ‘pilgrimage’ to different regions in France to stock up on boxes of quality wine to share with friends at home.

After moving to Taiwan, my encounters with Tran Quang Hai were scarce, and visits to both of them even more. In 2019, it has been around ten years since we last met in Paris. So I was delighted to see them again some weeks ago. Tran Quang Hai retired a decade ago from the ethnomusicology department at the Musée de L’Homme in Paris, but has remained an active performer and workshop leader for all these years. Bach Yen is a famous singer of popular songs and entertainment music, as well as a singer of many different genres of traditional music. Together they have given hundreds of concerts in Europe and elsewhere, and they continue to do so. Here is a photo of their appearance in Genoa, Italy, a week or so after I met them.

Late August, when I walked down the platform of Gare de Lyon, Hai and Bach Yen were waiting for me. Once again I was overwhelmed to be in their buzzing, energetic presence. The first thing they did, was to get out their cameras and make many photos together. Then we strolled to their car, and their warm hands and arms embraced my arms. I sometimes think of myself as someone who easily touches people, but this time I thought I am quite distant compared to them. It was really (excusez le mot) touching to stroll down the platform chatting and to be ‘wrapped’ by their tender hands and arms on both sides. Hai told me once about using his hands to heal people and showed me some methods. But it seems the couple just radiates warmth and energy naturally, even without using a special method.

For our Vietnamese food, this time we drove to a place called Pho Bida, pronounced Fo Beeyaa. Pho is the famous Vietnamese noodle soup, but what about Bida? It turns out to be derived from ‘billiard’, as the former location of this restaurant housed a popular billiard room as well. The place is not very spacious but we were early and could chose any seat. By the time we left lots of people waited outside. The food was great and loved by Vietnamese and non-Vietnamese alike: highly recommended! (Pho Bida Vietnam, 36 rue Nationale, 75013 Paris)

Tran Quang Hai’s New Book

When we sat down, Hai gave me his new book, a thick volume with many of his articles and listst of all his achievements, titles, appearances, etc. organized in a single volume. Some articles I have known for a long time. So I particularly enjoyed reading those things I did not know in detail.

First, an article about Vietnamese music and its historical background, very helpful for understanding the relationship to Chinese music and culture. It also covers many of the recent developments in Vietnamese music, making it in effect a kind of encyclopaedic entry into Vietnam and all its music. With this work Hai most clearly follows in the footsteps of his late father Tran Van Khe, also a well-known musician and musicologist.

“Tran Quang Hai. 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing.”

Second, an article that accompanied a double CD issued in France in 1997, dedicated to the absolutely fascinating world of mountain tribe musics in Vietnam. There is a dazzling array of types of instruments and ways of playing, and these liner notes give a good overview of this field.

If you are interested in overtone singing and still love printed matter, as I do myself, then this is a good way to get your (physical) hands on several key articles on this technique by Dr. Tran Quang Hai and understand the background of his research. (Note for academic readers: for research purposes it is better to consult online pdfs of the articles in their original format). Available here.

Tran Quang Hai and the Dan Moi

During our lunch I also learned where the common name of the Vietnamese brass Jew’s harp comes from. It is usually referred to as dan moi, which is a Vietnamese word (compare for example dan tranh/đàn tranh, the plucked zither, or the unique one-string zither dan bau/đàn bầu). However, the thin, finely crafted Jew’s harp, probably smaller than any other type of Jew’s harp, originates from the mountain tribes who live close to Yunnan in South China. The Hmong’s native language and culture has little to do with that of the dominant Viet or Kinh ethnic group, who are historically tied to China. When travelling in the mountains in North Vietnam (around Sapa), I encountered the Hmong people who play this instrument and managed to get one made locally by their craftsmen. They referred to it as gya, phonetically speaking, though in writing it is referred to as djam. A personal note from Tran Quang Hai shortly after publishing this post: the Hmong name of the Jew’s harp is ncas (pronounced ncha).

The djam I bought in Sapa from girls who played the instrument along the mountain road. (photo by the author).

So I asked Hai how the name dan moi came about. He explained: there is no Jew’s harp in the music of the ethnic Vietnamese. So when he learned about the traditions of the mountain people around 50 years ago, he had to make up a new name himself in order to accommodate the minorities’ instrument in the system and language of Vietnam. To use ‘dan’ (meaning ‘instrument’) was an obvious beginning point. Hai decided to add ‘moi’ for lips, to designate it is played between the lips. Most brass or metal Jew’s harps are held against the teeth, with the lamella vibrating between the teeth; the dan moi is held between the lips and vibrates there. In this sense it is more like a type of wooden or bamboo Jew’s harp, particularly the ones vibrated by a string attached to one side.

A Hmong girl playing the djam for me in 2003 (photo by the author).

The dan moi went on to become a very popular instrument around the world once non-Vietnamese musicians discovered them, at the turn of the millenium. Many people asked me for it when I brought them back in 2003. I remember giving one to Tuvan throat singer Sainkho around 2004. She immediately fell for its bright sound and expressive qualities, and asked for more several times after (and so did other people). At the same time, a German company saw the potential of this cheap instrument to reach a huge audience and set up (web)shop, calling it www.danmoi.com. It has a become a one-stop shop to buy all kinds of Jew’s harps. So dan moi, Hai’s new name for the djham, a minority instrument, and for Jew’s harps in general, now has become sort of a symbol of 21st century global Jew’s harp culture. And it seems to be growing year by year: here in Taiwan I have seen many new Jew’s harp enthusiasts taking the stages recently, often sporting a collection of world Jew’s harps, including, of course, the dan moi.

Here is a video where you see the movement of the dan moi lamella in slow motion, played by Hai’s student Dang Khai Nguyen.
https://youtu.be/K_hf_u_LrtM

Learn more about Tran Quang Hai

Hai is still actively teaching, find out where his next workshops are by going to his blog:

https://tranquanghaisworldthroatsinging.com

(the blog itself amounts to a ‘wikipedia’ of sorts for throat/overtone singing, where you will find a huge amount o copies of scientific and popular articles, videos, and indeed copies of wikipedia entries, as well as some original posts about Hai’s workshops and travels).

Go here to find more entries in English and in Vietnamese:

https://tranquanghai1944.com

https://tranvankhe-tranquanghai.com

Finally, back to some Asian flavour, but East-Asian instead of the South-East Asian of Hai’s origins. Here is a hilarious video from the time Hai was flown into Japan to demonstrate overtone/throat singing in a hypertheatrical popular entertainment program.

https://youtu.be/cKuT4fy84oA
TRAN QUANG HAI on JAPANESE TELEVISION, part 2, December 26, 2012

* OK, for this one I have no way to tell if it is true, but Hai does mention in his new book (page  32) that he wrote “more than 500 articles in Vietnamese for 30 Vietnamese magazines in America, Europe, Asia and Australia.”

https://www.fusica.nl/catching-up-with-tran-quang-hai/?fbclid=IwAR3yFp4YQxtwbEMmfVJLc1JrgCuP_eiMTjTC0jjKOVDPz6cPCcvWoeUqzzQ

TRAN QUANG HAI ‘s WORKSHOP of Overtone singing, Festival UMBRIA IN VOCE , ITALY, 𝗦𝗮𝗯𝗮𝘁𝗼 𝟵 𝗻𝗼𝘃𝗲𝗺𝗯𝗿𝗲 𝟮𝟬𝟭𝟵 𝗱𝗮𝗹𝗹𝗲 𝗼𝗿𝗲 𝟭𝟯:𝟯𝟬 𝗮𝗹𝗹𝗲 𝟭𝟴:𝟯𝟬

Chat (509)CloseUmbria in Voce · 11 mins ·  🔹 𝗦𝗮𝗯𝗮𝘁𝗼 𝟵 𝗻𝗼𝘃𝗲𝗺𝗯𝗿𝗲 𝟮𝟬𝟭𝟵 𝗱𝗮𝗹𝗹𝗲 𝗼𝗿𝗲 𝟭𝟯:𝟯𝟬 𝗮𝗹𝗹𝗲 𝟭𝟴:𝟯𝟬 🔹
Un eccezionale #workshop di cinque ore per approfondire il ᴄᴀɴᴛᴏ ᴀʀᴍᴏɴɪᴄᴏ con un maestro indiscusso a livello mondiale: Tʀᴀɴ Qᴜᴀɴɢ Hᴀɪ, vietnamita residente a Parigi, musicista di talento e rinomato proveniente da una famiglia di cinque generazioni di musicisti.



Durante il seminario, Tran Quang Hai insegnerà le 2 tecniche di base del canto armonico:
✔️Tecnica della cavità a una bocca con serie inferiori di sovratoni.
✔️Tecnica di due cavità della bocca con serie superiori di sovratoni.
✔️ E a seguire, esercizi per l’improvvisazione e la creazione collettiva, per il controllo di ogni tono, per il miglioramento delle sfumature imparando a ridurre il suono fondamentale e per imparare come ascoltare le proprie sfumature per creare piccole melodie.

❗️Iscrizione obbligatoria: 3349843087 – 3394076156
o scrivere a umbriainvoce@gmail.com

Write a comment…

Torna a Gubbio il “Festival Umbria in Voce” | Sperimentazione, artisti internazionali e la dedica a “Re” Demetrio Stratos

Torna a Gubbio il “Festival Umbria in Voce” | Sperimentazione, artisti internazionali e la dedica a “Re” Demetrio Stratos

Torna a Gubbio il “Festival Umbria in Voce” | Sperimentazione, artisti internazionali e la dedica a “Re” Demetrio Stratos

Il Festival celebra lo strumento musicale per eccellenza, la voce, con concerti, seminari, conferenze e laboratori | Ospite Tran Quang Hai, esperto di canto difonico

https://tuttoggi.info/torna-a-gubbio-il-festival-umbria-in-voce-sperimentazione-artisti-internazionali-e-la-dedica-a-re-demetrio-stratos/534716/

The program of the V edition confirms itself to be full of excellent events and first of all has the honor of two important presences of high international level, which embody the dedication of the festival to the great artist and experimenter of the voice Demetrio Stratos, of which this year marks the forty year since disappearance. First among the guests, the Vietnamese Tran Quang Hai, the greatest expert and master in the world of difonic singing: a vocal technique of shamanic origin widespread in Mongolia, Siberia and South Africa which he introduced into contemporary music receiving many international awards. Refined interpreter of the musical traditions of the Far East, he was a master of artists such as Demetrio Stratos, and since 1968 is part of the research group of the CNRS, department of musicology at the Musée de l’Homme in Paris. Saturday 9 November at 13.30 will be the protagonist of the seminar « Overtune singing and singing difonico », lasting 5 hours (info: umbriainvoce@gmail.com). https://tuttoggi.info/torna-a-gubbio-il-festival-umbria-in-voce-sperimentazione-artisti-internazionali-e-la-dedica-a-re-demetrio-stratos/534716/

Il programma della V edizione si conferma denso di appuntamenti d’eccellenza e si pregia anzitutto di due importanti presenze di alto livello internazionale, che incarnano la dedica del festival al grande artista e sperimentatore della voce Demetrio Stratos, di cui quest’anno ricorre il quarantennale dalla scomparsa.
Primo tra gli ospiti, il vietnamita Tran Quang Hai, il più grande esperto e maestro al mondo del canto difonico: una tecnica vocale di origine sciamanica diffusa in Mongolia, in Siberia e in Sudafrica che ha introdotto nella musica contemporanea ricevendo molti riconoscimenti internazionali.

Raffinato interprete delle tradizioni musicali dell’Estremo Oriente, è stato maestro di artisti come Demetrio Stratos, e dal 1968 fa parte del gruppo di ricerca del CNRS, dipartimento di musicologia presso il Musée de l’Homme di Parigi. Sabato 9 novembre alle 13.30 sarà protagonista del seminario “Overtune singing e canto difonico”, della durata di 5 ore (info: umbriainvoce@gmail.com).