Catégorie : TRẦN QUANG HẢI

Bonjour Vietnam 67 – Trần Quang Hải et Bạch Yến – Concert de musiques traditionnelles

Bonjour Vietnam 67 – Trần Quang Hải et Bạch Yến – Concert de musiques traditionnelles

2,750 views•Mar 18, 2019452ShareSaveVinh-Thien Quach 5.44K subscribers Bonjour Vietnam 67 – Trần Quang Hải et Bạch Yến – Concert de musiques traditionnelles vietnamiennes. Avec la participation de Mai Thanh Nam. Centre Mandapa Paris 13è. Images : Quách Vĩnh-Thiện. Musique générique : Quách Vĩnh-Thiện. http://www.thienmusic.com http://www.youtube.com/user/thienmusic http://www.facebook.com/vinhthien.quach https://twitter.com/thienmusic

TRẦN QUANG HẢI : Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo: 85 năm với đàn tranh

TRẦN QUANG HẢI : Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo: _85 năm với đàn tranh

nhạc sư NGUYỄN VĨNH BẢO và TRẦN QUANG HẢI

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo: 85 năm với đàn tranh

nhạc sư NGUYỄN VĨNH BẢO

 

Nói tới nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Bảo, cõ thể những người trẻ không biết là ai, nhưng đối với người yêu nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc Đàn Tài tử , và nhứt là Đàn Tranh, ai cũng biết và khâm phục ngón đờn có một không hai của Việt Nam và tài sáng chế đàn tranh theo kích thước và số dây thêm vô (từ 16 lên tới 21 dây ) . Ông là một trong những nhạc sĩ hiếm hoi còn lại ở Việt Nam có lối đờn ứng tấu ứng tác . Ở Việt Nam ông là người duy nhứt vừa là nhạc sĩ trình tấu, vừa là giáo sư giảng dạy âm nhạc truyền thống , lại vừa là người đóng đàn sáng tạo . Tôi được may mắn có hai cây đờn do nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo đóng , một cây do cô Tư Ngọc Sương ( em gái của Ba tôi, GS Trần Văn Khê) mua tặng năm 1974, và một cây với ba chữ ký phía sau lưng cây đàn – Nguyễn Vĩnh Bảo, Trần Văn Khê và Phạm Văn Nhu do bạn tôi Cao An Lộc tặng )

Viết cuộc đời của một nhạc sĩ tài danh đã có nhiều ảnh hưởng đến việc phổ biến tiếng đàn tranh của tôi trên thế giới ( dùng đàn tranh của ông để thâu dĩa, và trình diễn suốt gần 40 năm qua), tôi đã liên lạc thơ từ với nhạc sư Vĩnh Bảo nhiều lần, hỏi thăm về quá trình của ông . Tôi mong rằng bài viết của tôi sẽ giúp cho những ai thích đàn tranh, thích nhạc cổ miền Nam biết rõ một danh tài của đất nước mà hiện nay chỉ thích sống ẩn dật tại một nhà nhỏ ở Saigon, vui thú điền viên, tìm sự thanh thản qua tiếng đàn, qua sự truyền dạy những ai muốn tìm đến, và khảo cứu nhạc truyền thống Việt Nam và đặc biệt là làm thơ bằng ba thứ tiếng Pháp, Anh, và Việt (thêm một khía cạnh dấu kín khác của nhạc sư Vĩnh Bảo) .

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo là ai ?

Ông tên thật là NGUYỄN VĨNH BẢO, nhưng trong giới nghệ sĩ quen gọi là VĨNH BẢO, cho nên có một số người tưởng ông thuộc dòng dõi hoàng tộc .

Sinh năm 1918 (Mậu Ngọ) tại làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp), nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo là con thứ sáu trong một gia đình trung lưu nho học gồm 4 trai, 3 gái, cả thảy đều chơi đàn dân tộc . Cụ thân sinh ông , tên là Nguyễn Hàm Ninh, một đông y sĩ rất sành các cây tranh, kìm, cò và gáo, luôn cả hát bội . Người anh cả và người anh kế đều đờn kìm và tranh khá giỏi. Đặc biệt là anh Ba có ngón đờn kìm và xến rất tươi và ngọt , lại độc đáo nữa đến nỗi nhạc sư Sáu Tửng nghe phải tấm tắc khen và phục . Tất cả con cái trong nhà lớn lên trong bầu không khí nhạc cổ truyền và dùng tiếng đờn làm nguồn giải trí .Riêng ông Vĩnh Bảo, lúc lên 6 tuổi, cũng như các anh của ông, rất đam mê âm nhạc. Lúc đầu ông chỉ mò mẩm các cây đàn đoản, đàn nhị và đàn gáo . Dần dần ông học qua các cây đờn tranh, kìm, đàn độc huyền, măng cầm (mandoline), Tây ban cầm ( guitare espagnole), vĩ cầm (violon), và dương cầm (piano). Nói tóm lại ông đã đờn được tất cả nhạc khí của đàn tài tử miền Nam ngoại trừ sáo và tiêu . Với óc thích sáng chế, ông đã khởi sự đóng đàn cò từ lúc 10 tuổi vì lúc đó trong nhà có thợ mộc giúp việc .

Năm 12 tuổi, ông được may mắn gặp những nhạc sư nổi tiếng trong xứ tân tình hướng dẫn đàn tranh và các nhạc khí khác ngoại trừ ống tiêu và sáo . Ông đã học đờn với các thầy Hai Lòng (Vĩnh Long), Sáu Tý, Năm Nghĩa (Trà Ôn), vv… . Cả gia đình đều thích nhạc nhưng ông thân của nhạc sư Vĩnh Bảo cho các con có quyền yêu nhạc nhưng không được xao lãng việc học hành .Tính ra ông đã học với gần 200 « thầy » (theo nghĩa nhất tự vi sư, bán tự vi sư) ở khắp ba miền Nam Trung Bắc trên xứ Việt .

Năm 1935, khi ông học ở đất Chùa Tháp (Cao Miên), ông đã sáng chế ra dây Tỳ (Hò Liêu – Sol -Sol) và dây Xề Liêu (Re – Sol) trong lúc đi thăm viếng một ngôi chùa trong một đêm trăng sáng , có tiếng ếch kêu . Ông cố tạo âm thanh của tiếng ếch trên cây đàn gáo

Nhà ông ở Cao Lãnh là nơi hội tụ các nghệ sĩ các gánh hát cải lương hay hát bội ghé diễn tại Cao Lãnh. Mỗi khi các nghệ sĩ diễn xong là thường tới nhà thân phụ ông để ăn cháo gà và hàn huyên cho tới 2 giờ sáng . Ngoài ra còn có các đông y sĩ, nhà thơ , nhà văn hay các nhạc sư đều ghé ngang mỗi khi tới Cao Lành . Quý cụ Lý Tòng Ba, Phạm Đăng Đàn, Nguyễn Quang Đại, và luôn cả ông cố tôi là Trần Quang Diệm nổi tiếng về tiếng đàn tỳ bà ở Vình Kim. Nhờ vây, nhạc sư Vĩnh Bảo có dịp gặp rất nhiều nghệ sĩ và làm quen với cổ nhạc từ lúc ấu thơ và là độâng cơ thúc đẩy ông đi vào con đường âm nhạc . Cụ Nguyễn Hàm Ninh, thân phụ nhạc sư Vĩnh Bảo, và người anh thứ hai , Nguyễn Văn Phát, thường hay nhắc đến ngón đờn kìm tươi mướt ngọt ngào của ông nội tôi , Trần Văn Triều, tự Bảy Triều. Ông nội tôi đã chế ra dây Tố Lan (Xừ liêu / La Sol) với chủ âm phải bấm dây Tiếu phím 1. Ông rất hiếm đờn cho người ta nghe , phải chờ khi ông ngẫu hứng thì ông mới lấy đờn ra đờn . Dịp may cho nhạc sư Vĩnh Bảo là năm 1932, ông nội tôi có tới nhà của cụ thân phụ nhạc sư Vĩnh Bảo thăm và có đàn kìm dây Tố Lan cho mọi người nghe . Nhờ đó nhạc sư Vĩnh Bảo mới nghe và thích cách lên đây Tố Lan . Dây Tố Lan có thể nghe trong CD « Vietnam : tradition du Sud » một bản rao dây buồn trên đàn kìm do hãng OCORA sản xuất vào năm 1973.

85 năm trong nghề nghiệp âm nhạc

Ngoài đàn tranh là sở trường của ông, các cây đàn kìm, đàn cò, đàn gáo ông đều sử dụng một cách thành thạo .

Hơn 10 năm học hỏi với cha, với anh tại nhà, thêm vào đó với sự dẫn dắt tận tình của các vị thầy giỏi ở các tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, ông đã có một vốn liếng âm nhạc khá vững vàng từ lúc 20 tuổi. Vào cuối thập niên 30, ông đã tạo một chỗ đứng quan trọng trong hàng ngũ nhạc sĩ trẻ miền sông Cữu Long .

Năm 1938 đánh dấu bước đầu của sự nghiệp nhạc sĩ của ông. Ông được hãng dĩa BEKA mời đàn cho cô Ba Thiệt (chị của cô Năm Cần Thơ) ca . Nhạc sư Năm Nghĩa ở Trà Ôn đờn tranh, Ba Cần đờn kìm, và Vĩnh Bảo đờn gáo . Và cũng bắt đầu từ đó, ông tạo uy tín vang dậy cho sự nghiệp của ông .

Lúc còn trẻ ông thường đờn trình diễn ở khắp miền Nam . Ông còn đi qua Nam Vang đờn cho khán giả Việt Nam . Có một lần ông gặp một anh đạp xích lô rất mê nhạc . Sau khi nghe ông đờn, anh ta chạy lại xe xích lô , lôi ra cây đờn cò và xin được song tấu với ông vài bản và anh ta đờn khá hay . Đó là một kỷ niệm khó quên của ông tại Cao Miên .

Năm 1947, ông dạy tiếng Pháp ở trường tư thục Ngô Quang Vinh . Lúc đó thân phụ tôi, GS Trần Văn Khê, dạy Anh văn cũng ở cùng trường đó . Ông đã biết cha tôi đàn tranh, cò, kìm nhưng vì tánh khiêm nhượng , ông không có thổ lộ với cha tôi . Năm 1949, trước ngày cha tôi đi sang Pháp, ban giám đốc trường cùng các giáo sư chụp chung hình kỷ niệm . Tình cờ nhạc sư Vĩnh Bảo đứng cạnh phĩa tay trái của cha tôi. Mãi tới năm 1967, nhờ bác sĩ Phạm Kim Tương trong một dịp thu thanh nhạc gởi qua cho cha tôi mà nhạc sư Vĩnh Bảo và cha tôi bắt đầu bắt liên lạc trở lại và trở thành đôi bạn thân trên 30 năm .

Năm 1955, trường quốc gia âm nhạc Saigon được thành lập. Lúc ban đầu, trường được đặt trụ sở tại trường kỹ thuật ở đường Phạm Đăng Hưng (nay là Mai thị Lựu, Dakao). Năm sau mới dời về 72 đường Nguyễn Du. Ông Vĩnh Bảo được trường mời dạy môn đàn tranh, cùng lúc với các nhạc sư , nhạc sĩ Chín Kỳ (Nguyễn Văn Kỳ), Hai Biểu, Chín Trích, Hai Khuê, Bảy Hàm . Sau đó, ông được trường cử làm trưởng ban cổ nhạc miền Nam .

Nhạc sư Chín Kỳ, tên thật là Nguyễn Văn Kỳ, có vợ là bà Hai Hoa, một danh ca thời thập niên 30-40. Ông chuyên về đàn tranh, thuộc rất nhiều bài. Học trò của ông đa số là những người thượng lưu khoa bảng như cố bác sĩ Nguyễn Văn Nhã, cố bác sĩ Nguyễn văn Bửu (người đã in tập bài bản lớn của đàn tranh với ký âm của ông Chín Kỳ, nhưng chỉ quảng bá trong phạm vi nhỏ), những ái nữ của cố bàc sĩ Phan Văn Đệ Năm 1956, ông Chín Kỳ được mời dạy đàn tranh ở trường quốc gia âm nhạc Saigon với tư cách là giáo sư dạy giờ Ông dạy theo lối truyền khẩu mặc dù có bài bản viết ra đàng hoàng . Sau bốn tháng , ông bi. cảm nặng . Bác sĩ Phan Văn Đệ đưa ông về nhà riêng để trị bịnh , nhưng ông qua đời tại Hòa Hưng sau đó . Ông có một con gái được ông bà Phan Văn Nghi, giáo sư trường quốc gia âm nhạc đem về nuôi dưỡng và dạy ca hát múa .

Ông Nguyễn Văn Thinh (thầy giáo Thinh), từng làm giám học ngành quốc nhạc của trường quốc gia âm nhạc Saigon từ năm 1958 . Ông biết đờn Kìm và Tranh . Ngoài ra cũng có biết qua đàn Tỳ Bà . Lúc nhỏ ông học đờn với ông Sáu Thới . Ông từng đoạt giải nhứt sáng tác nhạc truyền thống Hoàng Mai Lưu. Ông mất năm 1989, thọ 86 tuổi .

Ông Phạm Văn Nghi là công chức tại quận Gò Vấp, có vợ là danh ca Hồ thị Bửu . Ông Nghi biết đờn nhiều cây như Tranh , Kìm, Cò, Gáo. Bài bản ông thuộc khá nhiều. Hai ông bà nuôi nhiều con trẻ vì không có con . Trong số các trẻ em được ông nuôi có nữ nhạc sĩ đàn tranh Ngọc Dung, cựu giáo sư đàn tranh của nhóm Hoa Sim . Sau 1975, cô sang định cư tại thành phố San Jose và thường tổ chức những buổi đàn tài tử tại nhà hay trình diễn ở Hoa kỳ. Hai ông bà Nghi từng dạy tại trường quốc gia âm nhạc Saigon trong vòng 10 năm, ông dạy đàn tranh, bà dạy hát cổ nhạc. Hai người qua đời vào đầu thập niên 80 tại Định Quán

Ông Võ Văn Tiểng, tự Mười Tiểng sinh trưởng ở Gò Công, hành nghề chánh là kế toán, và nghề tay trái là đàn kìm .Trong giới cổ nhạc miền Nam chỉ biết ông qua tiếng đàn Kìm gân guốc, sâu sắc . Ông đàn tranh và cò cũng sành lắm . Ông đàn chậm rãi, khoan thai chứ không chạy chữ như các nhạc sĩ đàn kìm hiện nay . Nếu ai có dịp nghe cuốn băng Nam Bình 1 được phát hành tại Saigon vào đầu thập niên 70, các bản Nam Xuân, Nam Ai, Văn Thiên Tường, Tứ Đại Oán với tiếng đàn kìm của ông Mười Tiểng và tiếng đàn tranh của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo thì mới thấy tiếng đờn của ông có một sắc thái riêng biệt , hiếm có trong làng chơi nhạc đàn tài tử miền Nam .

Nhạc sĩ Năm Vĩnh, chuyên về đàn kìm và đàn hạ uy cầm (guitare hawaienne). Ông đờn tay trái và chế ra dây hò Năm cho đàn kìm .Trong băng Nam Bình 2, ông sử dụng Đàn Kìm chung với nhạc sĩ Hai Thơm đờn vĩ cầm (violon / violin) và nhạc sư Vĩnh Bảo đờn tranh qua bài « Đảo Ngũ Cung ». Ông hòa đờn Kìm trên dây Hò Năm với ông Hai Thơm đờn vĩ cầm trong bài Vọng cổ 6 câu. Ông Hai Thơm với tiếng đàn vĩ cầm vuốt lã lướt , mượt mà cùng với tiếng đàn kìm tuyệt diệu của ông Năm Vĩnh tạo cho người nghe những giây phút thần tiên

Ông Mười Còn , sinh quán ở Cần Đước, là nhạc sĩ đàn cò nổi tiếng ở miền Nam . Ông có dịp nghe nhạc sĩ Jean Tịnh khoảng năm 1936 biểu diễn đàn vĩ cầm bản Vọng cổ nhịp 8. Lối đờn của ông Mười Còn hay, nhưng nặng về cơ bản, trong khi ông Tư Huyện thì vừa cơ bản vừa lả lướt linh động . Ông Mười Còn thấy đàn vĩ cầm là cây đờn phối hợp cả hai cây cò và gáo nên ông liền học vĩ cầm . Năm 1938, nhạc sư Vĩnh Bảo có dịp nghe tiếng đờn vĩ cầm của ông Mười Còn ướt át hơn tiếng đờn vĩ cầm của ông Jean Tịnh .

Ông Nguyễn Thế Huyện , tức Tư Huyện ,sinh trong gia đình chuyên về nhạc lễ có tiếng ở Cần Đước . Ông chuyên về đàn cò và dàn gõ nhạc lễ nhưng rất thạo vĩ cầm, Tranh, Kìm và thổi ống Tiêu rất điêu luyện . Em trai của ông Tư Huyện là ông Sáu Quí, chuyên về đàn tranh . Nếu ai có dịp nghe bài vọng cổ nhịp 16 thu trong dĩa « Sao hôm lốm đốm điểm thưa rồi », ông Sáu Quí đệm đàn tranh cho ca sĩ Ba Tuất Sa Đéc ca thì sẽ thấy hồn lâng lâng tận chốn thiên đình . Ông qua đời lúc tuổi chưa đầy 40 sau một cuộc sống giang hồ trác táng bịnh hoạn .

Ông Hà Văn Tân , tự Chín Trích , là thân phụ của nữ nghệ sĩ Tú Trinh. Ai cũng biết tên Chín Trích hơn là tên Hà Văn Tân. Thầy của ông là ông Cò Quốc. Người ta thấy ông thường đi theo ông Cò Quốc nên gọi ông là Trích . Quốc và Trích là hai loại chim ở đồng ruộng . Ông là con thứ chín trong gia đình nên từ đó mang biệt hiệu Chín Trích luôn . Ông chuyên về đàn cò, có cách đàn kéo cung ngắn , khác với cách kéo của ông Tư Huyện (kéo cung dài). Ông chuyên đờn cho gánh hát , đài phát thanh và thâu băng dĩa .

Ông Năm Cơ , chuyên về đàn kìm và xến. Ngoài ra ông cũng có đàn ghi-ta lõm. Năm 1950, ông cùng ông Sáu Lắc đờn quảng cáo cho nhà thuốc cao đơn hoàn tán Đại Từ Bi ở đường Phan Đình Phùng (Nguyễn Đình Chiểu bây giờ). Có một dạo ông đờn tại quán ăn của cô Ba Trà Vinh, một nữ ca sĩ cổ nhạc tại đường Douaumont (Cô Giang bây giờ). Tiếng đờn của ông trên Đàn Kìm và Đàn Xến rất xôm tụ, rộn ràng, hạp với tiếng đờn ghi-ta lõm của cố nhạc sĩ mù Văn Vĩ . Trong băng Nam Bình 2, bài vọng cổ « Thư về quê mẹ » do ca sĩ Thành Được hát và bản « Lan và Điệp » qua tiếng hát của Út Bạch Lanvới tiếng đờn xến thần sầu của Năm Cơ, tiếng đàn tranh óng chuốt của Bảy Bá và tiếng đờn ghi ta lõm huyền ảo của Văn Vĩ . Ông đã ra đi, mang theo tiếng đờn khó kiếm và để lại trong lòng giới mộ điệu một sự tiếc thương

Năm 1960, nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo lập ban « Tinh Hoa » gồm một số ca sĩ, nhạc sĩ chuyên về loại nhạc tài tử miền Nam để trình diễn trên đài phát thanh Saigon. Tri kỷ mộ điệu thưởng thức được 4 chương trình thì nhạc sư Vĩnh Bảo, trưởng ban « Tinh Hoa » tự ý khai tử ban nhạc này . Lý do là đài phát thanh Saigon ra chỉ thị cho ông trưởng ban phải soạn lời ca mang nội dung « xuy tôn Ngô Tổng thống ».

Trong thời gian dạy tại trường quốc gia âm nhạc Saigon, ông Vĩnh Bảo có sáng chế phương pháp ký âm bài bản nhạc truyền thống .

Về việc sáng chế loại đàn tranh cải tiến, ai cũng đều nhìn nhận rằng ông là người đầu tiên đã cải tiến đàn tranh từ 16 dây ra loại đàn tranh có kích thước lớn với 17 , 19 và 21 dây rất tiện lợi để có thể đờn các loại « hơi, điệu » mà khi đờn không cần sửa dây, kéo nhạn .

Ông đã bị một số nhạc sư, nhạc sĩ nhạc cổ truyền thời bấy giờ lên tiếng chỉ trích việc cải tiến đàn tranh của ông. Từ cuối thập niên 50 cho tới nay , nhiều nhà sản xuất đàn tranh bắt chước làm những cây đàn tranh theo kiểu ông sáng chế. Vì vậy sau này ít thấy đàn tranh 16 dây, và cũng không còn nghe ai chỉ trích về việc cải tiến đàn tranh .

Nhạc sư Vĩnh Bảo dạy đàn tranh ở trường Quốc gia âm nhạc Saigon từ 1955 tới 1964. Trong giai đoạn này , ông thường có mặt tại những buổi thuyết trình về nhạc truyền thống bằng tiếng Anh, Pháp, Việt, và cũng có lúc trình diễn nhạc cổ truyền tại Trung tâm văn hóa Pháp, Đức, hội Việt Mỹ tại Saigon . Năm 1963 ông được mời tham dự hội nghị về âm nhạc với 11 nước Đông Nam Á tại Tân gia ba .

Vào năm 1967, bác sĩ Phạm Kim Tương là một nhà mạnh thường quân đối với nhạc sĩ cổ nhạc . Chính bác sĩ Phạm Kim Tương là người đúng ra mời các nhạc sĩ nổi tiếng hàng đầu của nhạc đàn tài tử miền Nam thời đó như nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, các nhạc sĩ Năm Cơ đàn cò, Chín Trích đàn cò, Tư Huyện thổi sáo, Văn Vĩ đàn ghi ta phím lõm để thâu vô băng nhựa gởi làm quà cho GS Trần Văn Khê . Tôi được may mắn nghe cuốn băng đó vào năm 1967 và lần đầu tiên « khám phá » tiếng đàn tranh huyền bí của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo . Cuốn băng này được tàng trữ tại âm thanh viện của Viện Bảo Tàng Con Người (Archives sonores du Musée de l’Homme / Sound Archives of the Museum of Mankind) ở Paris quận 16 (là nơi tôi làm việc từ năm 1968 tới nay một cách liên tục). Vào đầu thập niên, hai cuốn băng Nam Bình 1 và 2 được phát hành giới thiệu những bài bản căn bản của truyền thống đàn tài tử qua các tiếng đàn bất hủ của các nhạc sư nhạc sĩ tài ba nhứt của làng cổ nhạc miền Nam mà cho tới nơi khó kiếm người thay thế .

Năm 1970, ông được đài truyền hình NHK của Nhật Bổn mời sang Đông Kinh để thuyết trình về nhạc cổ truyền Việt Nam với phần minh họa đàn tranh .

Đến giữa năm 1970, trường đại học Illinois (Hoa kỳ)mời ông sang giảng dạy nhạc cổ truyền Việt Nam với tư cách giáo sư biệt thính. Trong thời gian này , GS TS Trần Văn Khê có sang dạy và cùng với nhạc sư Vĩnh Bảo góp mặt trong nhiều buổi hội thảo về âm nhạc học với các nhà dân tộc nhạc học Mỹ

Năm 1972, Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương (Centre d’Etudes de Musique Orientale / Center of Studies for Oriental Music) tại Paris mời ông sang Pháp để cùng vơí GS Trần Văn Khê bàn bạc nhiều chủ đề về âm nhạc dân tộc . Trong chuyến đi này, trung tâm âm thanh nhạc học (Laboratoire d’Acoustique Musicale) do cố GS Emile Leipp, một nhà nghiên cứu nổi tiếng về âm thanh học đã mời ông tới nói chuyện một buổi về nghệ thuật đóng đờn . GS Trần Văn Khê và nhạc sư Vĩnh Bảo có thực hiện một dĩa 33 vòng về Nhạc tài tử miền Nam ( « Vietnam : tradition du Sud ») do hãng dĩa OCORA thực hiện và một dĩa 33 vòng cho UNESCO, collection Sources Musicales / Musical Sources. Trong thời gian này , tôi có nhiều dịp gặp nhạc sư Vĩnh Bảo hoặc tại tư gia hoặc tại các buổi hòa nhạc cho công chúng Pháp, Việt, và được giải thích cách nhấn, vuốt, làm sao cho tiếng đàn tranh thêm trong sáng, tươi mát với điệu Bắc, hay buồn thảm, sầu bi, não ruột với điệu Ai , Oán . Ngón đàn tranh nhẹ nhàng , sang trọng của nhạc sư Vĩnh Bảo rất dễ đưa người nghe vào thế giới âm thanh thơ thới, lâng lâng .Tôi biết đàn tranh, học với GS Trần Văn Khê là thân phục của tôi, có dịp nghe nhiều nhạc sư khác đàn (Hai Biểu, Ba Dư, Chín Kỳ, hay nhữøng nhạc sĩ thế hệ trẻ hơn như Thúy Hoan, Phương Bảo, Quỳnh Hạnh, Phương Oanh, Ngọc Dung của nhóm HOA SIM, Hoàng Cơ Thụy , hay trẻ hơn nữa như Minh Thành, Đặng Kim Hiền, Ngọc Thanh, hay thuộc thế hệ đương đại như Hải Phượng, Thanh Thủy. Nhưng cho tới ngày nay , tôi chưa nghe ai có ngón đàn sang trọng, đài các như ngón đàn của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo .

Từ 1975 đến nay, nhạc sư Vĩnh Bảo vẫn tiếp tục dạy đờn tại gia và đóng đờn . Công việc của ông là dạy trực tiếp hay hàm thụ qua băng cho một số người Việt Nam hay ngoại quốc đến Việt Nam, hay cho một số nhạc sinh ở Pháp, Bỉ, Hòa Lan, Thụy Sĩ, Hoa kỳ . Ông cũng thường tiếp những nhà âm nhạc học, nhạc sĩ của nhiều quốc gia khác nhau để trao đổi văn hóa .

Vào tháng 4, 1993, GS Trần Văn Khê, trong một buổi thuyết trình về nhạc Việt Nam tại Hòa Lan, đã nói là chưa nghe được ngón đàn tranh nào hay hơn ngón đàn của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo vừa «bay bướm », « sâu sắc » (ghi lại từ cuồn K7) .

Đêm 14 tháng 3, 1994, nhạc sư Vĩnh Bảo thuyết trình về nhạc Việt , đã nói : « Bản sắc nhạc Việt nằm ở chỗ « nhấn nhá ». Rao của bản đờn cổ truyền là đặc hữu Việt Nam ». Ông không nói suông, mà lại dẫn chứng cụ thể với tiếng đàn tranh qua bài « Đảo ngũ cung û, qua cách rao Bắc, rao Nam, hơi nhạc lễ, hơi Quảng. Với những ngón tay khẳng khiu đầy gân xanh, ông đã để hồn vào tiếng đờn lã lướt, nhẹ nhàng , thanh thoát, nhưng nghe rất « nhức xương », ai nghe cũng bị thu hút bởi tiếng đờn sang trọng khi đờn các bài Nam Xuân, Lưu Thủy, hay não ruột khi đờn bài Tứ đại oán, Nam Ai , Vọng cổ . Tiếng đờn của nhạc sư Vĩnh Bảo là một liều thuốc làm tan đi ưu phiền, làm dịu lòng người, .

Năm 1997, Jean Christophe Maillard, phó giáo sư nhạc học cũa trường đại học tỉnh Toulouse, đến Saigon để học hỏi nhạc Việt . Anh chuyên về đàn musette thuộc nhạc thời Phục Sinh (Renaissance) nhưng đã có nhiều dịp nghe GS Trần Văn Khê và tôi trình diễn ở Pháp nên cũng hiểu chút đỉnh về nhạc Việt và Á châu . Anh đã gặp nhạc sư Vĩnh Bảo vài lần , được nghe ông giải thích sữ khác biệt giữa nhạc Đông và Tây, và hòa đàn những bản Lưu Thủy, Kim Tiền, Tứ Đại và Vọng cổ với người học trò cưng của ông là Hoàng Cơ Thụy (tuổi trạc ngũ tuần), một nhạc sĩ có thể nối nghiệp nhạc sư Vĩnh Bảo về đàn tranh .

Những năm 1998-1999, nhạc sư Vĩnh Bảo được ban giám đốc trường Colette mời dạy nhạc cổ truyền Việt Nam cho các học sinh người Pháp .

Năm 2002, hãng dĩa OCORA của Pháp đã phát hành một CD với nhạc sư Vĩnh Bảo và ban nhạc đàn tài tử gồm Sáu Tý và Hoàng Cơ Thụy đã tạo một tiếng vang lớn ở hải ngoại và được bán khắp nơi trên thế giới ( tìm trên mạng lưới internet , gõ http://www.google.com , sau đó gõ « nguyen vinh bao » thì sẽ thấy hiện ra trên 150 trang nhà có nói về Nguyễn Vĩnh Bảo hay những nơi có bán CD

Vào cuối năm 2003 ,Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh Long An đã ấn hành quyển sách « Thử tự học đàn tranh » do nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo biên soạn giúp cho những ai muốn tự học đàn tranh với một số bài bản căn bản . Đây là một công trình nghiên cứu khoa học rất có giá trị sư phạm và nghệ thuật âm nhạc dân tộc mà nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo đã dày công nghiêu cứu sưu tầm . Sách dày 229 trang , khổ lớn (20cm/ 28cm) vừa hướng dẫn lý thuyết và thực tập tự học đàn tranh , có dĩa hình CD minh họa nên rất dễ học, dễ hiểu. Với hai phương pháp ký âm quốc tế (do , ré, mi, fa sol, vv…) và ký hiệu riêng do tác giả sáng tạo rất chính xác và khoa học . Phần lý thuyết không quan trọng vì đây là loại sách chú trọng về thực tập đằn tranh Có khoảng 100 bài bản giai điệu từ các bài đàn tài tử, cải lương từ dễ tới khó. Rất tiếc là sách này chỉ ấn hành trong phạm vi của tỉnh và dành tặng khách phương xa , không có phổ biến rộng rãi trên toàn quốc.

Năm 2004, một số học trò của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo ở Hoa Kỳ có thực hiện 3 DVD về phương pháp học đàn tranh bằng tiếng Anh và 4 DVD học đàn tranh bằng tiếng Việt với những bài tập từ dễ tới khó và một số bài bản căn bản của truyền thống Đàn Tài Tử miền Nam .

Trong căn phòng đầy những sách vở, những cây đờn, ông tiếp tục nghiên cứu , viết sách, làm thơ . Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo có con và cháu đờn rất khá nhưng lại không có ai tiếp tục con đường nhạc dân tộc mà nhạc sư đã vạch sẵn . Ngay cả người học trò giỏi nhứt là Hoàng Cơ Thụy (tuổi khoảng 50), chịu nhiều ảnh hưởng cách luyến lái và cách đàn tranh khoan thai của nhạc sư , nhưng không hành nghề nhạc sĩ cổ truyền .Và ông bàn đến Thiền trong tiếng đờn , trong âm nhạc . Lòng ông muốn thanh thản mượn qua tiếng đờn. Ông đã đi nhiều, chu du thế giới, sống nhiều , qua bao nỗi gian truân biểu dâu thời cuộc. Tiếng đàn tranh của nhạc sư phản ảnh tâm trạng của ông . Ông đã gởi nỗi lòng của mình qua tiếng đờn, khi vui khi buồn tùy theo lúc và tùy theo tình cảm của ông lúc đờn . Âm nhạc là muôn thuở . Âm nhạc là trường cữu .Âm nhạc là bất diệt .

Năm 2018 ông về sinh sống tại Cao Lãnh, Đồng Tháp cho tới ngày ông từ trần ngày 7 tháng 1, 2021 vào lúc 18g50 tại tư trang . Lễ hỏa táng vào ngày 10 tháng 1, 2021

Một bực thầy hiếm có, một cây “Đại thụ” của nền nhạc cổ miền Nam, của Đờn ca tài tử, một nhạc sĩ đờn tranh bực nhứt Việt Nam, vừa từ giã chúng ta để mang tiếng đờn rải rác nơi chốn thiên đình.

Xin Thầy nhận nơi đây lòng biết ơn và ngưỡng mộ của con đã có dịp học với Thầy qua mạng từ nhiều năm qua .

Trần Quang Hải (Paris, Pháp)

VINH DANH

Năm 2005, nhạc sư Vĩnh Bảo nhận giải thưởng Đào Tấn của Việt Nam tại TPHCM.[4][5][6]

Đến năm 2008, nhạc sư Vĩnh Bảo cũng được Chính phủ Pháp tặng huy chương nghệ thuật và văn học (Ordre des Arts et des Lettres) cấp bậc Officier.[7]

Năm 2014, ông nhận bằng khen của Thủ tướng Việt Nam cho công tác bảo tồn, phát huy nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Năm 2015, ông nhận Giải thưởng Phan Châu Trinh.

Tháng 5 năm 2018, ông rời Sài Gòn về quê Đồng Tháp sinh sống.[8] Ngày 18 tháng 8 năm 2018, Nhà trưng bày Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo – Giai điệu và Cuộc đời được khánh thành tại quê hương Đồng Tháp của ông.

Những dĩa hát ông đã thu ở Pháp :

Dĩa 30cm/33 vòng

1. « Vietnam/ Tradition du Sud » với Nguyễn Vĩnh Bảo và Trần Văn Khê, OCORA OCR 68, Paris, 1973

2. « South Vietnam : Entertainment Music » với Nguyễn Vĩnh Bảo và Trần Văn Khê, Philips 6586028, collection UNESCO Musical Sources, Amsterdam, Hòa Lan, 1973

Dĩa CD

3. « Vietnam/Tradition du Sud » par Nguyễn Vĩnh Bảo et Trần Văn Khê, CD, OCORA C580043, Paris, 1993.

4. « Vietnam / Tradition of the South », by Nguyễn Vĩnh Bảo and Trần Văn Khê, AUVIDIS D 8049, UNESCO Collection, Paris, 1993

5. « Musique du Vietnam / Ensemble Nguyen Vinh Bao », OCORA C 560 160, Paris, 2002

Sách về đàn tranh

Nguyễn Vĩnh Bảo, 2003 : « Thử tự học đàn tranh », Trung tâm văn hóa thông tin tỉnh Long An, 229 trang, CD minh họa, 100 giai điệu bài bản cơ bản, tài tử cải lương .

Sách về cuộc đời

« NGUYỄN VĨNH BẢO / Những giai điệu cuộc đời » do TS Nguyễn Thuyết Phong chủ biên, 350 trang , nhà xuất bản Hồng Đức, 2015  , và được tái bản do nhà xuất bản tỉnh Đồng Tháp ấn hành năm 2020

Địa chỉ của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo cho tới năm 2018 trước khi về Cao Lãnh

282/B21 Bùi Hữu Nghĩa

Ph 2, Q. Bình Thạnh

TP Hồ Chí Minh

Việt Nam

Điện thoại : 84-8-8430 454

Điện thư (email) : vb1908@gmail.com

Địa chỉ tại Cao Lãnh (từ tháng 5 , 2018 cho tới hiện nay)

134A Đinh Bộ Lĩnh, phường 4

TP Cao Lãnh, Tỉnh Đồng Tháp

VIET NAM

Điện thoại : 02 776 561 668

hình trích từ trang nhà http://vinhbao.theonly1.net

tran quang hai & bach yen

tran quang hai & bach yen

21 views•Apr 26, 202000ShareSavedon knotts 3 subscrib

This record shows the instruments performed by TRAN QUANG HAI in 1979 (16 stringed zither, 2 stringed fiddle, monochord, coin clappers, and spoons)Trần Quang Hải độc tấu những nhạc cụ (tranh, nhị, sinh tiền, độc huyền, muỗng) vào năm 1979 cho dĩa hát VIETNAM /TRAN QUANG HAI & BACH YEN do hãng PLAYASOUND sản xuất năm 1979, Paris

1. VỌNG CỔ (tranh)

2. KHỔNG MINH TỌA LẦU (tranh)

3. ĐỘC HUYỀN CẦM KHÚC (độc huyền)

4. ÂM THANH SINH TIỀN

5. NGŨ ĐIỂM BÀI TẠ (nhị)

6. TIẾT TẤU MUỖNG (muỗng)

TRẦN VIỆT HẢI : GS Trần Quang Hải – Một nhân tài âm nhạc quốc tế – Môt nghệ sĩ du mục âm nhạc bôn ba khắp địa cầu

VietHai Tran is with Son Nguyen and 72 others.

9h  · GS Trần Quang Hải – Một nhân tài âm nhạc quốc tế – Môt nghệ sĩ du mục âm nhạc bôn ba khắp địa cầu

.GS Trần Quang Hải có lúc bị vướng một căn bệnh hiểm nghèo, nhưng ông đã thoát tử thần trong đường tơ kẽ tóc.

Phóng viên Nguyên Hồng từ California điện đàm viễn liên xin GS Trần Quang Hải cho biết bí kiếp nào để thoát chứng căng xe để sung lực mạnh mẽ khoẻ re như con bò kéo xe. GS Trần Quang Hải cười vui hớp một ngụm rượu gài cơm rượu nếp than. Ông ông toubib tây bắt mạch 18 tháng thôi. Xong ông vẫn tiếp tục ngao du sơn thuỷ trình diễn âm nhạc. Khi ông đến Quân Cam Nam Cali, ông lang Hồng Thái từ San José mời ông thử bùa linh khi GS Trần Quang Hải xơi sushi cá sống, ông nhạc sĩ ăn nhiều ginger pickles và wasabi, 2 linh dược brassicaceae (từ 2 dược chất wasabi horseradish/ Armoracia rusticana, và green mustard/collard greens chứa bùa thần dược glucosinolate) và linh dược zingerone (hỗn hợp trong chất gừng cay là zingiberene và bisabolene), mấy con tế bào ung thư đuối sức ngay, nhưng chúng chưa ngủm củ tỏi hoàn toàn. Nhị lang Nguyễn Quang và Mạnh Chi Tequila-Corona ra toa balut (hột vịt lộn, thai nhau bổ tinh vịt, chứa enriched proteins, powerful antioxidants) và dika (Irvingia gabonensis tức soài). Nhà văn Nguyễn Quang thết 2 món siêu linh dược soài Kent mắm dường dùng nhiều ớt chỉ thiên (chất cay capsaicin) cùng bùa balut với nhiều rau răm (Persicaria odorata chứa chất kháng khuẩn mạnh kinh khủng (Polygonum odoratum contained strong antibacterial substances. Ông lang 6 Mạnh Chi bê đến siêu đại bổ linh dược Corona magarata ngâm citrus cam, chanh, tắc quít,… khảo cứu y khoa study ngợi khen như Corona margarita citrus sips instantly cleansing your stomach, khi ruột ta sạch bót, đường tiêu hóa cơ thể sạch trơn vii2 đã xua đuổi hết chất bẩn tạo ra tế bào viêm bướu…ta dược cancerfree dễ ợt như trở bàn tay thôi nhé.

GS Trần Quang Hải cho biết ngoài những siêu linh dược kể trên 3 yếu tố âm nhạc, nụ cười và bạn bè giúp ông sớm phục hồi cơn bệnh, nay ông bay đường xa chu du Nam Phi, Nam Dương, Ba Tây, Kuwait, Vienna,… ca hát 7, 8 tiếng ông cảm nhận không mệt mỏi; Ngược lại, phương diện tinh thần yêu đời hơn, tinh thần phấn chấn hơn như ông Hollywood Arnold Schwarzenegger.

Chúng tôi xin chia vui cùng GS Trần Quang Hải. Lời cuối xin bà con lưu ý cơ thể mỗi người mỗi khác. Chớ dùng siêu linh dược trên không có sự giám định của y sĩ gia đình. GS Trần Quang Hải có bùa linh dược Ethnomusicologie yểm trợ cùng 3 ông giáo y nhân bạn bè phò trợ: Hoàng Sa Houston, Vi Sơn Houston và Mặc Vũ Hapkido aka Golden Crane Master. Ông giáo Quyên Di bốc quẻ GS Trần Quang Hải sẽ bay đi bay về băng biển Thái Bình dễ thôi. Ngày hội ngộ Long Beach ngày nào NS Trần Quốc Bảo đi lạc campus cả tiếng khi cơm cháo show gần nấu nhừ, GPS mất sóng roaming …

Lần sau em khi yêu cầu NS Quốc Sĩ chơi bài Torna a Sorrento để ông bạn Trần Quốc Bảo « Come Back to Sorrento CSULB » mà không dù hoa lạc lối nhé….

https://www.youtube.com/watch?v=xaMvwxPUBck…Việt Hải Los Angeles, 12/15/2020.———————————————————————Links:https://tranquanghai1944.com/…/tran-viet-hai-tran…/http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content…https://thanhthuy.me/…/buoi-ra-mat-sach-cua-giao-su…/https://tranquanghai1944.com/…/tran-viet-hai-doi-dong…

/—————————————————————————-

Trần Quang Hải : Dân Tộc Nhạc Học Là Gì ?Dân tộc nhạc học là gì ?

Đối với người Tây phương , bộ môn học này cũng chưa thu hút đông người như môn nhạc học (musicology). Dân tộc nhạc học (Ethnomusicologie / Pháp, Ethnomusicology / Anh – Mỹ, Musikethnologie / Đức) có thể nói là một bộ môn nghiên cứu âm nhạc còn có đôi phần mới lạ đối với Việt Nam . Bộ môn này khởi thủy từ thế kỷ thứ 19, tượng hình từ đầu thế kỷ thứ 20 và phát triển mạnh ở các quốc gia Tây phương từ sau thế chiến thứ hai (1939-1945).

Vì lý do nào đã thúc đẩy phong trào nghiên cứu âm nhạc truyền thống bác học và dân gian càng ngày càng mạnh như thế ? Tại sao các nhà dân tộc nhạc học (ethnomusicologist), dân tộc học (anthropologist), ngôn ngữ học (linguist), xã hội học (sociologist) « tranh dành » từng mãnh đất nghiên cứu, từng sắc tộc, từng loại nhạc, từng tiếng nói để ghi lại trên băng nhựa, trên phim ảnh, trên giấy trắng, trên khuôn nhạc, những bài hát cổ xưa do các cụ gần đất xa trời hát lại, những huyền thoại cổ tích bằng thổ ngữ sắp bị mất đi vì sắc tộc đó chỉ còn vài người sống só t trên thế gian. Sự hấp tất vội vàng này có lý do của nó, nhứt là từ lúc các cường quốc Âu Mỹ bắt đầu thôn tính các quốc gia nhược tiểu của mấy châu khác làm thuộc địa . Sự hiện diện của người da trắng với phong tục vàtôn giáo của họ đãlàm đảo lộn tất cả đời sống tinh thần, bóp méo một số phong tục nghìn xưa của các xứ bị trị . Sự phát sinh kỹ nghệ đã làm biến mất một số lớn bài hát và nhạc dính liền với việc cày cấy, gặt lúa, đạp nước, dệt vải, trong khi máy móc hóa đời sống nông quê, và biến nơi này thành những tỉnh lỵ nhỏ . Sự thay đổi này có ảnh hưỏng lớn đối với sự sống còn của âm nhạc và phong tụcd cổ truyền của những quốc gia bị thống trị .

Vấn đề nghiên cứu dân tộc nhạc học đòi hỏi rất nhiều hiểu biết về dân tộc học (Ethnologie/Pháp, Cultural Anthropology /Anh Mỹ), ngôn ngữ học (linguistique/Pháp, linguistics/ Anh), nhạc học (musicologie/Pháp, musicology/Anh), sinh ngữ (langues vivantes/ Pháp, foreign languages/Anh), xã hội học (sociologie/Pháp, sociology/Anh), tâm lý học (psychologie/Pháp, psychology/Anh), khảo cổ học (archeologie/Pháp, archeology/Anh), âm thanh học (acoustique/Pháp, acoustics/Anh) và luôn cả tinh học (informatique/Pháp, information science/Anh) và dĩ nhiên phải biết nhạc pháp hay nhạc lý (solfège/ Pháp, solfeggio/Anh).

Đây chỉ là một bài sơ khảo về dân tộc nhạc học với mục đích giới thiệu bộ môn nghiên cứu mới mẻ này đến với các bạn, chứ không đi sâu vào chi tiết . Bài này gồm có ba phần: lịch trình quá khứ của dân tộc nhạc học sẽ đưa các bạn trở về quá khứ để tìm nguồn cội của ngành chuyên khoa âm nhạc cổ truyền này ; định nghĩa dân tộc nhạc học theo nhiều quan điểm khác nhau để cho thấy sự thay đổi đường lối nghiên cứu theo từng giai đoạn diễn tiến, cững như những trường phái Âu châu và Mỹ châu, và sau cùng lả sự phát triển của dân tộc nhạc học hiện nay .

LỊCH TRÌNH QUÁ KHỨ CỦA DÂN TỘC NHẠC HỌC

1. Giai đoạn 1 (1779-1850)

Những tài liệu đầu tiên được dùng sau này cho việc nghiên cứu dân tộc nhạc học bao gồm các bài du ký, hồi ký, hay ức ký của nhà văn du lịch, nhàthám hiểm, hay các ông cố đạo thiên chúa giáo . Những tác phẩm đầu tiên về « nhạc ngoài Âu châu » (musique extra-européenne – extra-european music) phải kể đến quyển « Le Mémoire sur la musique chinoise » (Tiểu luận về nhạc Trung quốc) do ông cố đạo Joseph Marie Amiot viết vào năm 1779 và tiếp đó là quyển « La description historique, technique et littéraire des instruments de musique des Orientaux » (Miêu tả lịch sử, kỹ thuật và văn chương những nhạc khí Đông Phương) được viết vào năm 1813. Ông Guillaume Villoteau, dưới thời Nã phá luân đệ nhất, đã đi khảo sát nền văn minh Ai cập để sau đó vào năm 1816, cho phát hành cuốn « Mémoire sur la musique de l’Antique Egypte » (Tiểu luận về âm nhạc Cổ Ai cập). Phải chờđến năm 1832, ông Francois Joseph Fétis, nhà nhạc học đầu tiên đã đưa những điểm mới mẻ vào trong hệ thống ý tưởng đại cương về âm nhạc trong một quyển sách « Résumé philosophique de l’histoire de la musique » (Khái niệm triết lý về lịch sử âm nhạc). Quyển « Histoire gérérale de la musique » (Lịch sử âm nhạc toàn thư) chưa viê’t xong thì ông Fétis từ trần . Quyển này trình bày quan điểm cho rằng nhạc Tây phương bác học không phải là nhạc duy nhất trên quả địa cầu này mà còn có nhiều nền văn minh âm nhạc khác trên thế giới cũng đáng kể lắm .

2. Giai đoạn 2 (1859-1914)

Trong giai đoạn này , một số lớn sách vở ghi chép nhạc dân gian ở Âu châu đã được xuất bản khá nhiều . Phong trào lãng mạn bên Âu châu đã chứng tỏ sự lưu ý đến nhạc dân gian Âu châu qua một số bài vở của vài văn sĩ Pháp như Th. Hersart de la Villemarque ở Bretagne (miền Tây xứ Pháp), bà George Sand ở vùng Berry (miền Trung Tây xứ Pháp). Trong khi đó, Frédéric Chopin (Ba Lan) và Franz Liszt (Hung Gia Lợi) , hai nhạc sĩ nổi tiếng thời đó, đã dùng nhạc cổ truyền của xứ họ làm nguồn hứng cho sáng tác của hai ông .

Động cơ quan trọng nhứt trong việc bảo vệ nhạc cổ truyền là máy hát (phonographe – phonograph) lại được phát minh vào thời kỳ này . Năm 1869, ông Charles Cros, người Pháp, đã sáng chế máy « paléophone » cùng nguyên tắc với máy « phonographe à cylindre » (máy hát ghi âm bằng ống dĩa) do ông Thomas Edison, người Mỹ, thực hiện năm 1878. Từ năm 1877 tới 1892, ông Emile Berliner đã tưởng tượng và thực hiện hệ thống dĩa hát thay vì ống dĩa nhưng phải đợi tới sau thế chiến thứ nhứt (1914-18) , dĩa hát 78 vòng mới được tung ra trên thị trường. Sự phát minh máy hát ống dĩa đã góp phần rất lớn trong việc tàng trữ nhạc dân tộc .

Năm 1890 nhànghiên cứu nhạc dân tộc Mỹ, Walter Fewkes, đã sử dụng máy hát ống dĩa để ghi một số bài hát của dân da đỏ Zuni . Nhờ vậy phần ghi nốt nhạc các bài hát này có phần chính xác hơn nhiều nhờnghe nhạc thu trên ống dĩa (cylindre – cylinder) nhiều lần để có đủ thời giở kiểm chứng và sửa đổi phần ký âm. Ở Âu châu, ông Bela Vikar, thuộc xứ Hung Gia Lợi, dùng máy hát để ghi lại các ca khúc vào năm 1894 .Những ống dĩa được đem trưng bày ở Paris nhân dịp hội chợ triển lãm hoàn vũ năm 1900 (Exposition Universelle – World Fair). Ở Đức, nhà bác học Carl Stumpf (1848-1936) đề xướng trong quyển « Tonpsychologie » (Âm thanh tâm lý học), xuất bản năm 1883, một phương pháp mới để nghiên cứu âm giai : khảo sát âm giai bằng đơn vị âm trình « savart ». Một « savart » bằng 1/25 của đơn vị bán cung. Hai năm sau đó, bên Anh quốc, nhàbác học Alexander John Ellis (1814-1890) đã làm chấn động thế giới nhạc học trong một bài nghiên cứu « On the Musical Scales of Various Nations » (Về các thang âm của các quốc gia khác nhau) in vào năm 1885. Ông Ellis đã đặt ra một đơn vị đo âm trình mới lấy tên là CENT (một CENT bằng 1/100 của một bán cung). Với cách đo này, ông Alexander Ellis đã chia âm giai bát độ 12 bán cung làm 1200 cents. Với phương pháp này, có thể ghi chính xác khoảng cách giữa các quãng của bất cứ âm giai nào thuộc bất cứ truyền thống âm nhạc nào trên thế gian này . Giới nghiên cứu nhạc dân tộc xem ông Ellis như là nhà tiền phong trong ngành dân tộc nhạc học .

Những đóng góp đáng kể khác như hai cuộc triển lãm hoàn vũ 1889 và 1900 ở Paris (Pháp), và việc thành lập âm thanh viện sơ khai (archives de musique primitive – archives of primitive music) trước hết ở Mỹ, rồi ở Wien (Áo quốc) và ở Berlin (Đức). Âm thanh viện Berlin (Phonogrammarchiv) được hai ông Carl Stumpf và Erich Von Hornbostel sáng lập vào đầu thế kỷ 20 tàng trữ tài liệu âm thanh vô giá . Người ta tưởng tài liệu chứa trong âm thanh viện Berlin bị thiêu hủy trong kỳ đại chiến thứ hai vừa quạ Nhưng sau khi xứ Đức được thống nhứt, các nhà nghiên cứu nhạc học Đông Đức cũ đã tuyên bố rằng những tài liệu âm thanh của Phonogrammarchiv được rải rác khắp nơi ở cựu Đông Đức. Hiện nay kho tàng âm thanh này đang được chính quyền Đức giao cho một nhà nghiên cứu Đức, TS Susan Ziegler phân loại và làm thành phiếu điện tử để có thể phổ biến sau khi mang về Berlin để tái lập viện âm thanh như xưa vì Berlin được chọn làm thủ đô của xứ Đức thống nhứt (tháng 10, 1991). Năm 2000, vào tháng 9, Berlin đã tổ chức hội nghị quốc tế về âm thanh viện và một tài liệu gồm 4 CD và hơn 200 trang được xuất bản để đánh dấu một trăm năm lịch sử âm thanh và nhạc cổ truyền tàng trữ tại Berlin . Điều vui mừng là trong số tài liệu trong bộ dĩa lịch sử lại có một tài liệu về nhạc Việt Nam . Đó là tài liệu thu vào năm 1985 tại Viện bảo tàng Berlin với tiếng đàn tranh độc tấu của nhạc sĩ Trần Quang Hải qua bài Lưu thủy , Bình bán , Kim Tiền .

Ở Pháp, bác sĩ Azoulay đã thu thanh một số dĩa ống nhạc của các quốc gia như Pháp (vùng Bretagne), Nhựt Bổn, Trung Quốc, Việt Nam, Sénégal (Phi Châu) và Caucase (Nga). Dĩa ống này được tàng trữ trước kia tại một nơi gọi là Musée Phonographique de la Société d’Anthropologie (viện bảo tàng âm thanh của hội nhân chủng học) và hiện nay được bảo lưu tại Département d’ethnomusicologie, Musée de l’Homme, Paris (viện dân tộc nhạc học, viện bảo tàng Con Người) . Trong số tài liệu âm thanh này có một số dĩa ống về tiếng nói và nhạc điệu Việt Nam được thu thanh vào năm 1900. Chỉ hơi tiếc là tài liệu nghe rè quá, người hát lại không phải là nghệ sĩ chuyên nghiệp mà là những người nông dân được gởi sang Pháp nhân kỳ triển lãm hoàn vũ nên nghệ thuật hát không diễn tả được những luyến láy tinh vi của các điệu ngâm cũng như cách hát dân ca Quan Họ .

Năm 1911, Musée de la Parole et du Geste (Viện bảo tàng tiếng nói và động tác) được thành lập ở Paris .

3. Giai đoạn 3 (1914-1945)

Đại chiến thứ nhứt làm gián đoạn sự thu thập nhạc dân gian. Ở Anh quốc, Henry Balfour thu nhặt một số nhạc khí cổ truyền hiện được tàng trữ tại viện bảo tàng Pitt Rivers ở tỉnh Oxford . Tại Gia nã đại, Marius Barbeau thu vào dĩa ống hàng nghìn bài dân ca cu ?a người da đỏ, dân ca Pháp và Anh. Với tài liệu này, ông Marius Barbeau đã cùng nhà ngôn ngữ học Edward Sapir đồ ng viết quyển « Folksongs of French Canada » (Dân ca Gia nã đại vùng nói tiếng Pháp).

Cùng lúc đó, tại Pháp, M. và R. d’Harcourt xuất bản quyển « La musique des Incas et ses survivants » (Nhạc dân ca Anh-ca và sự tàn dư của âm nhạc sắc tộc này). Hai ông Lavignac và Lionel de La Laurencie đã tổng hợp những bài nghiên cứu nhạc ngoài Âu châu (musiques extra-européennes – extra european musics) trong quyển bách khoa tự điển âm nhạc (Encyclopédie de la musique et Dictionnaire du Conservatoire – 1912-1924).

Ở Hòa Lan, nhà dân tộc nhạc học trứ danh, cha đẻ của danh tử ETHNOMUSICOLOGY, Jaap Kunst, sưu tầm nhạc xứ Nam Dương từ nhiều năm qua . Trong khi đó, tại Anh quốc, ông Henry G. Farmer khởi sự công trình nghiên cứu nhạc Ả rạp . Tại Hung Gia Lợi, nhà soạn nhạc trứ danh Bela Bartok đã ký âm rất nhiều bản dân ca không những của Hung Gia Lợi mà còn luôn cả các xứ Lỗ Ma Ni, Thỗ Nhĩ Kỳ, và Algeria .

Giữa 1920 và1930, các ông George Herzog, Charles Seeger, và Marius Schneider đã ký âm trong một số dân ca phối hợp phương pháp nhân chủng học vànhạc học được Milton Metfessel phát hành năm 1928. Curt Sachs đã viết một số sách quan trọng có ảnh hưởng sâu đậm đối với lịch sử nhạc học . Năm 1928 ở Mỹ nhiều viện nhạc học mọc lên như nấm .

Ở xứ Lỗ Ma Ni (Roumanie – Rumania), nhà bác học trứ danh Constantin Brailoiu (1893-1958) bắt đầu nghiên cứu thu thập nhạc dân gian và thành lập Archives du Folklore (Sở lưu trữ văn học dân gian) vào năm 1928 tại Bucarest . Cùng một năm, ở Paris, tiếp đón sự chào đời của Département d’organologie musicale (viện nghiên cứu nhạc khí dân tộc) ở Musée d’ethnographie du Trocadéro (Musée de l’Homme bây giờ) được đổi tên lại là Département d’ Ethnologie musicale vào năm 1937 khi ông André Schaeffner (1895-1980), tác giả quyển « Les Origines des Instruments de Musique » (Nguồn gốc các nhạc khí) xuất bản năm 1936 và là người đã khai sáng phương pháp xếp loại nhạc khí rất đặc biệt và lôgíc, đến nhậm chức . Tên sau cùng được đổi lại và được giữ luôn cho tới bây giờ là Département d’ Ethomusicologie (viện dân tộc nhạc học) từ năm 1965 trở đi .

Năm 1931, hội chợ triển lãm thuộc địa (Exposition Coloniale / Colonial Fair) ở Paris đã được Musée de la Parole et du Geste ghi âm trên một số dĩa 78 vòng về nhạc cổ truyền của các quốc gia thuộc địa của Pháp thời đó . Trong số dĩa hát tôi códịp nghe những điệu cải lương, dân ca ba miền của Việt Nam tại Musée de l’Homme (nơi tôi làm việc từ năm 1968) . Ngoài ra Musée Guimet ở Paris cũng có một số dĩa hát quan trọng về nhạc Á châu và trong số đó có nhạc Việt Nam .

Từ năm 1931 tới 1933, dưới sự điều khiển của nhà dân tộc nhạc học tài ba của Pháp, André Schaeffner, trong một chuyến đi nghiên cứu ngữ học và nhạc học bên Phi châu đã mang về Pháp một tài liệu âm thanh rất phong phú và quí giá về nhạc Phi Châu .Năm 1933, nhà bác học Đức Erich Von Hornbostel đã xuất bản bộ dĩa « Musik des Orients » (Nhạc Đông Phương) gồm hơn 10 dĩa hát 78 vòng về nhạc Á châu nói chung (sau này có tái bản bằng dĩa 33 vòng). Năm 1933, hội nghị về nhạc ả rạp ở Le Caire (thủ đô xứ Ai cập – Egypte/Egypt) đã được ghi trên dĩa hát 78 vòng với gần 200 dĩa . Tài liệu này hiện được tàng trữ tại Musée Guimet và tại Phonothèque Nationale (National Sound Library – Âm thanh viện quốc gia) ở Paris . Musée de l’ Homme có một bản sao tài liệu nhạc ả rạp này trên băng nhựa . Một phần tài liệu này đã được Phonothèque Nationale xuất bản bằng dĩa laser (compact disc) vào năm 1988 tại Pháp .

Trong thời gian này , bên Nhựt Bổn, giáo sư Tanabe Hisiao đã nghiên cứu nhạc cổ truyền Nhựt Bổn . Bên Ấn độ cũng có một số nhạc học gia như Arnold Bake bắt đầu thâu trên dĩa các bài dân ca và nhạc cổ điển xứ Ấn độ . Năm 1939, chuyến đi nghiên cứu nhạc dân tộc vùng Basse Bretagne (Pháp) mang về một số tài liệu quan trọng đầu tiên về dân ca Pháp cho âm thanh viện ở Musée de l’ Homme . Tài liệu này được chuyển giao lại cho Musée National des Arts et Traditions Populaires ở Paris (Viện bảo tàng quốc gia nghệ thuật và truyền thống dân gian ) .

Ở Việt Nam, khoảng từ 1925 tới 1938, có hãng dĩa Pathé và Beka của Pháp đã thâu nhiều dĩa hát 78 vòng các điệu hát tài tử miền Nam do các nghệ sĩ của gánh hát của Thầy Năm Tú ở Mỹ tho và một số dĩa thâu Ca Huế miền Trung .

Giai đoạn này biểu tượng sự hình thành của môn dân tộc nhạc học trên thế giới . Những âm thanh viện, những chuyến đi nghiên cứu dân tộc học, dân tộc nhạc học đã đặt nền tảng vững chắc cho giai đoạn sau thế chiến thứ hai

4. Giai đoạn 4 (1945 trở đi)

Vừa khi chấm dứt chiến tranh, sự tái thiết tình hữu nghị quốc tế, sự tiếp tục nghiên cứu khoa học , sự trao đổi nghiên cứu qua các hội nghị, các buổi tham luận quốc tế đã thúc đẩy một cách mãnh liệt sự phát triển nhanh chóng trong việc thu thập tài liệu âm nhạc của các quốc gia chậm tiến .

Giai đoạn quan trọng bắt đầu từ năm 1950 bằng sự phát triển việc khảo cứu tại chỗ qua sự tìm tòi nhạc cổ truyền thế giới của các nghiên cứu gia Tây phương, sự có mặt của những nhà nghiên cứu thuộc đệ tam thế giới , sự hình thành của nhiều viện nghiên cứu dân tộc nhạc học tại Âu Mỹ, và sự chào đời của hai tập san nghiên cứu nhạc dân tộc : « Journal of the International Folk Music Council (IFMC) năm 1949 tại Gia nã đại (từ năm 1981 đời về New York đổi thành « Yearbook of the International Council for Traditional Music – ICTM, và từ năm 2001, lại dời về trường đại học UCLA ở Los Angeles, California, Mỹ), và « Ethnomusicology » năm 1955 tại Mỹ . Nhiều sách về lý thuyết, phương pháp dân tộc nhạc học bắt đầu được xuất bản .

Từ năm 1970 trở đi, ảnh hưởng lớn mạnh của phương pháp các khoa nhân chủng học (anthropologie – anthropology), ngôn ngữ học (linguistique – linguistics), và tín hiệu học (sémiologie – semiotics), càng ngày càng thấy rõ đối với ngành dân tộc nhạc học . Phương pháp nghiên cứu được chia ra làm hai nhóm :

Nghiên cứu từ bên trong truyền thống (étude interne – internal study hay cultural insider) có nghĩ a là người đi nghiên cứu âm nhạc phải sống ở nơi phát sinh ra loại nhạc đó ít nhứt là một năm để có một cái nhìn toàn diện về sinh hoạt âm nhạc , biết hát hay biết đàn và nói được tiếng nói của dân tộc mình nghiên cứu .

Nghiên cứu từ bên ngoài truyền thống (étude externe – external study hay cultural outsider) nghĩa là nghiên cứu không cần phải biết nói tiếng của dân tộc mình nghiên cứu, không cần phải biết đàn hay hát và không cần phải lưu trú dài hạn . Những người này chỉ cần biết phương pháp nghiên cứu tận tường, biết ký âm , phân tích và làm việc nghiên cứu lý thuyết nhiều hơn và có tính cách đối chiếu .

Khoảng năm 1950 mở màn một kỷ nguyên mới trong lĩnh vực nghiên cứu: sự phát triển máy thu thanh (magnétophone / tape recorder) . Với máy thu thanh ngày càng nhẹ vềtrọng lượng, kỹ xảo về máy móc, hoàn hảo về âm thanh , với dĩa hát 33 vòng có thể nghe nửa giờ một mặt dĩa, rồi tới dĩa laser (disque compact / compact disc) có thể nghe trên một giờ đồng hồ, dĩa laser videodisque (laser videodisc) vừa xem hình, vừa nghe tiếng, và gần đây nhứt là CD Rom vừa có thể xem hình, nghe nhạc và đọc chữ . Một dĩa CDRom thay thế cho cả một cuốn sách, nhiễ CD và nhiều phim videọ Những máy thu thanh như DAT, hay Minidisc thâu âm thanh bằng số (enregistrement numérique hay digital / numeric hay digital recording), thay đổi hoàn toàn phương pháp đi nghiên cứu điền dã (recherche sur le terrain / field research). Máy quay phim từ phim 8mm câm , tới super 8, rồi phim 16 ly với số phút quay phim giới hạn vài phút cho tới các máy quay video (caméscope / camcorder) là loại máy thu hình video đủ loại (Umatic, Betamax, VHS, Super VHS, 8mm, Hi-8 Pro, DVC,vv…) với hình thật rõ theo hệ thống haute définition 400 đường và lên tới 700 đường (700 lignes – 700 lines), nhẹ cân, và âm thanh số (son numérique – numeric sound / enregistrement digital – digital recording), dân tộc nhạc học đã đi một bước rất dài .

Chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi 50 năm (1951-2001), kết quả vàsố lượng sản xuất về sách vở , báo chí, dĩa hát băng nhựa, phim ảnh đã vượt xa cả trăm lần tổng số lượng sản xuất của gần 200 năm trước (1779-1950) . Bao nhiêu đó đủ cho thấy sự tiến bộ khoa học và kỹ thuật đã giúp đỡ rất nhiều trong công cuộc bảo vệ vốn cổ .

Giai đoạn thứ tư này có thể tóm tắt bằng bốn điểm quan trọng:

Dĩa hát nhạc cổ truyền được phổ biến rộng rãi, và từ năm 1983 trở đi đã có trên 15.000 dĩa laser về nhạc cổ truyền đã được phát hành trên thế giới . Đó là nhờ sự nổ lực của một số nhà sản xuất dĩa như Folkways Records (đã nhập vào Smithsonian Institute, Washington DC từ khi ông Moses Asch, sáng lập viên của Folkways từ trần vào giữa thập niên 80, Library of Congress, Lyrichord, Nonesuch bên Mỹ , Musée de l’Homme, Ocora, Le Chant du Monde, Playasound, Arion, Auvidis, Maison des Cultures du Monde, Buda bên Pháp, Philips bên Hòa Lan, Barenreiter Musicaphon, Museum Collection Berlin bên Đức, Topic, Argo, Leader , Tangent Records bên Anh, Victor, Columbia, Toshiba, JVC bên Nhựt, Albatros bên Ý, Melodia bên Nga, vv….

Thiết lập phương pháp mới trong cách làm việc khi đi nghiên cứu tại chỗ .

Những nguyên tắc làm việc trong phòng thí nghiệm, vì tài liệu thu vào băng nhựa sẽ được các nhà nghiên cứu ở các trung tâm nghiên cứu nghe và phân tách trong các căn phòng được trang bị đầy đủ máy móc tối tân hiện đại

Kỹ xảo hóa các bộ máy đo âm thanh, chẳng hạn như các máy hiện giờ được dùng tại Pháp như Sonagraph (máy cho ta hình ảnh của bất cứ âm thanh nào, vừa có màu sắc cho thấy rõ chỗ nào hát mạnh nhẹ ra sao ), Oscilloscope (máy ghi tất cả cao độ các nốt nhạc một cách tinh vi vã sẽ giúp ta biết thêm các quãng bất thường), melograph (máy ghi bằng các lằn về cao độ các làn điệu), stroboconn (máy đo chính xác cao độ các âm thanh mà lỗ tai con người đôi khi không nghe nỗi) spectograph (máy cho ta thấy bồi âm mà giọng hát có thể tạo ra được), và luôn cả máy vi tinh (micro-ordinateur PC computer), loại Macintosh và IBM mới nhứt hiện nay có thể giải quyết nhiều vấn đề về chép nhạc, chuyển thể, chuyển hệ, chuyển cung với các bộ ghi chép nhạc như ENCORE, NOTEWRITER, PROFESSIONAL COMPOSER, vv… Gần đây nhứt, có một vài chương trình đo âm thanh như Frequency analyzer, GRAM cho IBM, hay Soundsculpt cho Macintosh giúp cho các nhà nghiên cứu có thể tự phân tách các làn điệu , kỹ thuật giọng, tiết tấu một cách dễ dàng và ít lệ thuộc vào các máy đo khổng lồ tại các phòng thí nghiệm .

Sự tiến bộ vượt bực này đã đóng góp một phần rất lớn trong việc phân tách làn điệu và tiết tấu, giúp cho những nhà nghiên cứu nhạc học giải quyết nhanh chóng những khúc chiết trong nhạc ngữ cổ truyền dân tộc mà cách đây gần một thế kỷ phải mất nhiều thì giờ để ký âm, vận dụng trí nhớ và nhiều khi còn viết sai làn điệu khi ký âm .

ĐỊNH NGHĨA DÂN TỘC NHẠC HỌC

Những ai học về dân tộc nhạc học đều biết từ vựng này được dùng hiện nay ETHNOMUSICOLOGY (dân tộc nhạc học) là do nhà nhạc học Hòa Lan Jaap Kunst (từ trần năm 1958) đề nghị

Năm 1950, Jaap Kunst , trong một bài vềnhạc học, có đề nghị danh từ « ethno-musicology » (với dấu gạch nối ngang) để thay thế danh từ « comparative musicology » (đối chiếu nhạc học). Ông định nghĩa dân tộc nhạc học như sau : « nghiên cứu nhạc của các giống dân loài người ngoại trừnhạc cổ điển Tây phương và dân nhạc Âu châu » (study of the music of the races of man, except Western classical music and European folk music). Đến năm 1958, Jaap Kunst mới thêm vào định nghĩa trên phần nghiên cứu về khía cạnh xã hội trong âm nhạc .

Khoảng đầu thế kỷ thứ 20, các nhà nhạc học dùng chữ « musicologie comparée / Comparative Musicology » (đối chiếu nhạc học) do chữ Đức là « Vergleichende Musikwissenschaft » mà ra . Sau đó, một số từ vựng khác được thấy xuất hiện đầu tiên trên các bài nghiên cứu nhạc học . Tôi chỉ lựa hai sinh ngữ tiêu biểu nhứt cho môn nghiên cứu này là Pháp và Anh ngữ để giản tiện hóa trong phần trình bày . Chẳng hạn như :

– « musique populaire » (Pháp) / dân nhạc

– « musique folklorique » (Pháp)/ « folk music » (Anh) / dân nhạc

– « musique exotique » (Pháp) / exotic music » (Anh )/ nhạc nước ngoài

– « folklore musical » (Pháp )/ dân nhạc

– « ethnographie musicale » (Pháp) / dân tộc nhạc ký âm học

– « musique ethnique (Pháp/ ethnic music » (Anh) / nhạc sắc tộc

– » musique non-européenne (Pháp) / non european music » (Anh)/ nhạc không Âu châu

– » musique extra-européenne (Pháp) / extra european music » (Anh) / nhạc ngoại Âu châu

– « ethnologie musicale »(Pháp )/ dân tộc nhạc học

– « musique primitive (Pháp)/ primitive music » (Anh)/ nhạc sơ khai

Danh từ đối chiếu nhạc học sống tới năm 1950 rồi được thay thế bằng một danh từ khác « ethno-musicology » (với gạch ngang). Sau đó chữ « ethnomusicology » được ghép chung lại thành một chữ từ năm 1957 . Trong tương lai, trên đà phát triển có thể đi tới chỗ tách rời chữ này ra làm hai và có thể sẽ trở thành « ethnomusic-ology » không chừng ?

Dân tộc nhạc học, theo nghĩa rộng tối đa, gồm tất cả biểu lộ âm thanh có tổ chức (manifestation sonore organisée / organized sound manifestation) . Trong thực tế, vì sự cắt xén cần thiết của khoa học làm thành nhiều bộ môn khác nhau, nhạc cổ điển Tây phương được đưa sang lĩnh vực nhạc cổ điển (musicologie classique / classical musicology) . Tại sao chỉ « biểu lộ âm thanh » (manifestion sonore / sound manifestation) mà không là « âm nhạc » (musique / music) ? Khi nói tới « nhạc bác học » (musique savante / learned music) tức là có sự hiện hữu của « nhạc không bác học » (musique non savante / non learned music) .

Thế nào là nhạc bác học và thế nào là nhạc không bác học ?

Dựa trên quan điểm và cơ sở nào để chỉ định như thế ?Nhạc bác học, theo định nghĩa chung, là loại nhạc có một truyền thống, một lý thuyết, một cách viết nhạc với tên nốt nhạc, một lịch sử . Tất cả loại nhạc nào không hội đủ những điều kiện trên sẽ thuộc vào loại nhạc không bác học và được gọi bằng nhiều từ vựng khác nhau : « musique populaire / folk music » (nhạc bình dân), « musique ethnique/ethnic music » (nhạc sắc tộc), « musique folklorique / folk music » (nhạc dân gian), « musique traditionnelle / traditional music » (nhạc truyền thống) .

Theo định nghĩa nhạc bình dân (musique populaire / folk music) rõ ràng là loại nhạc phát xuất từ dân chúng . Nhưng nhạc bình dân cũng có thể chỉ định một loại nhạc nổi tiếng trong quần chúng . Thí dụ những ca khúc của Ngô Thụy Miên hay của Phạm Duy là nhạc bình dân có nghĩa là nhạc được dân chúng ưa chuộng (les chansons de Ngô Thụy Miên ou celles de Phạm Duy sont « populaires » trong nghĩa popsongs / pop music) . Nghiên cứu các ca khúc tân nhạc có tác giả không thuộc phạm vi của dân tộc nhạc học . Nhạc sắc tộc (musique ethnique / ethnic music) là cách gọi có tính cách giới hạn . Chữ sắc tộc bị một số nhà nghiên cứu tranh cãi và không được nhất trí chấ p nhận . Nhạc dân gian (musique folklorique / folk music) chỉ định những loại nhạc được nghe trong dân gian . Danh từ « folklore » (khoa học dân gian ) và tĩnh từ « folklorique » đã được giới nghiên cứu nhạc dân gian ở Đông Âu (Hung gia lợi, Lỗ Ma Ni) dùng luôn cho tới ngày nay . Danh từ có thay đổi ý nghĩa sau thế chiến thứ hai . Nghĩa thứ nhứt là để chỉ định phong trào « musique folk / folk music » tức là loại nhạc dân gian do thế hệ trẻ ở thành thị học nhạc dân gian và hát lại với nhạc khí và hòa âm mới để phù hợp với tính cách trẻ trung của thế hệ mình đang sống . Nghĩa thứ hai là nhạc do những nhóm địa phương (groupes locaux / local groups) hay quốc gia (ensembles nationaux / national ensembles) muốn bảo lưu truyền thống ca vũ nhạc bằng cách tham gia những đại nhạc hội quốc tế qua những màn múa dân tộc hay ca nhạc dân gian . Vì lý do thiếu tính cách thuần túy và hay thích làm màu mè có vẻ « tài tử » hơn là chuyên nghiệp , cho nên trong tiếng Pháp, khi nói « c’est du folklore » để ám chỉ một chuyện không quan trọng, không thuần túy, hơi có ý khinh miệt .

Hiện nay danh từ « musique traditionnelle / traditional music » (nhạc truyền thống) được quãng bá rộng rãi hơn . Ở Pháp, năm 1987, bộ văn hóa Pháp có tạo một bằng cấp trình độ cao học để tuyển chọn giáo sư dạy nhạc truyền thống trong các trường quốc gia âm nhạc (professeur de musiques traditionnelles aux Conservatoires nationaux de musique / Professor of traditional music at National Conservatories of Music) . Ngay cả một cơ quan nghiên cứu nhạc dân gian quốc tế (IFMC – International Folk Music Council – Hội Đồng quốc tế nhạc dân gian) đã quyết định kể từ năm 1981 được đổi thành tên mới là ICTM – International Council for Traditional Music – Hội đồng quốc tế nhạc truyền thống . Năm 1988, ở Geneva bên Thụy Sĩ, Laurent Aubert chủ trương một tập san nghiên cứu nhạc dân tộc bằng tiếng Pháp mang tên là « Cahiers de Musiques Traditionnelles » (Tập san nhạc truyền thống) .

Gần đây hơn, có một số người sử dụng các từ vựng khác như « sociomusicologie / sociomusicology » (xã hội nhạc học) để chỉ định môn nghiên cứu âm nhạc đi liền với sự biến chuyển của xã hội, nói một cách khác là có thể xuyên qua nhạc ngữ của một thời đại nào đó, có thể đoán được một phần nào xã hội lúc đó ra sao : hòa bình, chiến tranh, hung bạo, thiền tịnh vv…. Có người dùng từ vựng « anthropomusicologie / anthropoloy of music » (nhân chủng nhạc học) để nghiên cứu nhạc thời cổ xưa của mỗi dân tộc, mỗi sắc tộc . Một danh từ khác là « archéomusicologie/ archeomusicology » (khảo cổ nhạc học) để nghiên cứu nhạc thời cổ xưa qua các nhạc khí tìm thấy trong các cuộc thám hiểm, khai quật những di tích lịch sử như trường hợp tìm thấy đàn đá, trống đồng ở Việt Nam thuộc lĩnh vực của môn nghiên cứu này . Đến môn « psychomusicologie / psychomusicology » (tâm lý nhạc học), « musicothérapie / music therapy » (âm nhạc điều trị học), « sémiologie de la musique / semioloy of music » (tín hiệu nhạc học – nghiên cứu dấ u và ký hiệu trong âm nhạc) , các nhà nghiên cứu càng ngày càng đi sâu vào chi tiết và tách rời nhiều lĩnh vực nghiên cứu ra khỏi dân tộc nhạc học để đi đến chỗ chuyên môn hóa .

Chỉ có danh từ »ethnomusicologie / ethnomusicology (dân tộc nhạc học) là được đa số các nhà dân tộc nhạc học thích dùng nhứt và đã được chánh thức hóa qua các quyển tự điển có tiếng trên thế giới như New Grove Dictionary of Music and Musicians (Anh), New Harvard Dictionary of Music (Mỹ), Garland Dictionary of Music (Mỹ), Dictionnaire de la musique/Larousse (Pháp), vv..

Tóm lại, dù dưới hình thức nào đi nữa, từ vựng « ethnomusicologie » (dân tộc nhạc học) có một định nghĩa ra sao ?

Bà Claudie Marcel-Dubois (từ trần vào tháng 2, 1989 tại Pháp ), người tiền phong của bộ môn dân tộc nhạc học ở Pháp, cho rằng » dân tộc nhạc học là bộ môn nghiên cứu theo truyền thống truyền khẩu tất cả những hiện tượng âm thanh liên quan đến đời sống xã hội và văn hóa và kỹ thuật của các nhóm sắc tộc khác nhau (étude selon la tradition orale des phénomènes sonores en relation avec la vie sociale, culturelle et technique de diverses ethnies).

Theo GS Mantle Hood, cựu giám đốc viện dân tộc nhạc học ở UCLA, University of Maryland (Mỹ), định nghĩa môn dân tộc nhạc học là « bộ môn nghiên cứu bất cứ loại nhạc nào có liên hệ tới môi trường văn hóa » (the study of any music in relation to its cultural context).

Theo GS Trần Văn Khê, giáo sư dân tộc nhạc học tại trường đại học Sorbonne (Paris, Pháp) từ 1960 tới 1987 và hiện về hưu nhưng vẫn tích cực hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu qua nhiều chuyến viễn du khắp năm châu, « một bộ môn nghiên cứu vô tư và khoa học những âm thanh thuộc truyền thống truyền khẩu của các sắc tộc trên thế giới qua nhiều điểm khác nhau về lịch sử, dân tộc học, xã hội học và nhạc học » .

GS Gilbert Rouget, chuyên gia vềnhạc Phi châu và tác giả cuốn sách giá trị « Musique et Transe » (Âm nhạc và Lên đồng), cho rằng « dân tộc nhạc học là nhạc học của những nền văn minh được cấu tạo bằng lình vực truyền thống của dân tộc học » (ethnomusicologie est musicologie des civilisations dont l’étude constitue le domaine traditionnel de l’ethnologie)

Nhà nhạc học Hòa Lan Jaap Kunst, cha đẻ của từ vựng « ethnomusicology » đề nghị rằng dân tộc nhạc học là « bộ môn nghiên cứu nhạc cổ truyền và nhạc khí của tất cả mọi tầng lớp văn hóa của nhân loại » (the traditional music and musical instruments of all cultural strata of mankind, from the so-called primitive peoples to the civilized nations) .

GS Bruno Nettl, một nhà nghiên cứu nhạc học đã viết rất nhiều sách vềlý thuyết dân tộc nhạc học, đã đưa ra một định nghĩa như sau : » nghiên cứu nhạc của các xã hội mù chữ, nhạc bác học Á châu và Bắc Phi, nhạc truyền khẩu của các vùng bị văn hóa bác học chế ngự và nhạc bình dân các xứ Âu Mỹ) (la musique des sociétés illettrées, les musiques de Haute Culture de l’Asie et de l’Afrique du Nord, la musique folklorique de tradition orale des régions qui sont dominées par les hautes cultures et la musique de tradition populaire des pays occidentaux).

Bà Monique Brandily (Pháp) chuyên môn về nhạc Phi Châu, đặc biệt xứ Tchad (Phi Châu), nhận định rằng dân tộc nhạc học là « nhạc học các xã hội thuộc thẩm quyền dân tộc học » (la musicologie des sociétés qui relèvent de l’ethnologie) .

Trong khi đó, nhà dân tộc nhạc học Pháp, Bernard Lortat-Jacob, nêu ra hai nhận định về vai trò của « nhạc học gia của sắc tộc » (musicologues de l’ethnique) và phân tách nhạc ngữ qua ký âm và vai trò của « dân tộc học gia của âm nhạc » (ethnologues du musical) là nghiên cứu truyền thống âm nhạc tại chỗ, đời sống âm nhạc dính liền với phong tục tập quán của sắc tộc được nghiên cứu .

Ngoài ra còn có Alan P. Merriam (từ trần trong một tai nạn phi cơ), Miewyslaw Kolinski, Willard Rhodes (từ trần 1992), David P. McAllester, George List, Ludwik Bielawski, Charles Seeger (từ trần năm 1979), Elisabeth Helser bên Mỹ, Jean Jacques Nattiez bên Gia nã đại, Kishibe Shigeo bên Nhựt bổn, Kwabena J.H. Nketia bên Ghana (Phi châu) cũng có đề cập tới định nghĩa danh từ « dân tộc nhạc học » .

Năm1989, trong quyển « Âm nhạc Việt Nam » do tôi biên soạn, nơi trang 298, tôi có định nghĩa dân tộc nhạc học như sau : » dân tộc nhạc học là một bộ môn nghiên cứu tất cả những loại nhạc được nghe trong một quốc gia trong hiện tại (nhạc địa phương cũng như nhạc ngoại quốc, cổ nhạc cũng như tân nhạc) đồng thời nghiên cứu gia tài âm nhạc của lịch sử văn hóa âm nhạc từthời lập quốc đến trước giai đoạn hiện tại, và lịch trình tiến triển của lịch sử văn hóa âm nhạc trên thế giới từ thời thượng cổ tới ngày nay » .

Nhưng bốn năm sau (1993) tôi có thay đổi chút ít về định nghĩa môn dân tộc nhạc học . Trước hết tôi thấy cần phải định nghĩa hai chữ « nhạc học » và « dân tộc học » .Đối với người Việt Nam, và đối với ngành giảng dạy âm nhạc ở Việt Nam, theo thiển ý của tôi, môn nhạc học (musicologie/musicology) là bộ môn nghiên cứu có tính cách đối chiếu lịch sử âm nhạc Việt Nam qua các thể loại (nhạc triều đình, tôn giáo, nhạc thính phòng, nhạc tuồng, dân nhạc, tân nhạc , vv..), nhạc khí, nhạc ngữ, điệu thức, tiết tấu, cũng như lịch sử nhạc bác học Á châu ngang hàng với lịch sử nhạc cổ điển Tây phương .

Còn dân tộc nhạc học là « bộ môn nghiên cứu các thanh nhạc (son/sound), hay tiếng động (bruit/noise) có cấu trúc âm điệu hay tiết tấu của các xã hội không có chữ viết (sociétés sans écriture / societies without writing) hay theo truyền thống truyền miệng (tradition orale / oral tradition), và cũng là bộ môn nghiên cứu đối chiếu tất cả truyền thống âm nhạc thế giới (étude comparée des traditions de musiques du monde / comparative study of world musics’ traditions) từ thời lập quốc đến giai đoạn hiện tại » .

Mặc dù có sự bất đồng về định nghĩa chính xác, việc hiển nhiên là hầu hết các nhà dân tộc nhạc học đều nghiên cứu nhạc ngoài thế giới nhạc cổ điển Tây Phương, chú trọng nhiều về dân nhạc thế giới, vai trò âm nhạc trong một văn hóa nào đó , tiếp xúc trực tiếp với âm nhạc xứ mình nghiên cứu bằng cách sống tại chỗ trong một thời gian ngắn hay dài tùy theo chủ đích nghiên cứu, và áp dụng những khái niệm từ nhân chủng học và ngôn ngữ học phát triển ra . Tài liệu nhạc được thu tại chỗ được đem ra phân tích, đối chiếu vì đa số nhà nghiên cứu đều không phát xuất từ văn hóa âm nhạc đó ra . Nói tóm lại, lĩnh vực nghiên cứu dân tộc nhạc học cho chúng ta thấy một viễn tượng khá đồng nhứt .

Dân tộc nhạc học có hai chiều hướng khác biệt : một là đi về mặt nghiên cứu để đưa đến lý thuyết qua những bài viết và công cụ ho’a lý thuyết trong ngành dạy học; hai là trình diễn cho thật đúng truyền thống, bổ túc bằng những kỹ thuật mới và phát triển thêm với óc sáng tạo . Trong khung cảnh lý thuyết, người nghiên cứu nhạc dân tộc phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu có liên hệ đến những khuôn mẫu (modèles – models), hệ biến hóa (paradigmes – paradigms), khoa học sắc tộc (ethnosciences – ethnosciences), quá trình nhận thức (processus cognitif – cognitive process), tín hiệu học (sémiotiques – semiotics), tín hiệu nhạc học (sémiomusicologie – semiomusicology).

Sự phát triển của dân tộc nhạc học

Đà tiến triển của dân tộc nhạc học không cho phép nhà học giả chỉ nghiên cứu nhạc qua sách vở như xưa nữa, mà giờ đây nhà nhạc học gia phải đi nghiên cứu tại chỗ, làm quen với các loại máy thu thanh (từ máy lớn chuyên nghiệp như NAGRA , STELLAVOX đến các loại máy thu thanh (từ loại máy cassette như SONY, UHER đến các máy Walkman Professional, hay cận đại nhứt như loại máy thu thanh cassette DAT chỉ thu bằng số . DAT có nghĩa là »digital audio tape » một loại máy thu thanh tốt và tối tân trong thập niên 90 do hãng SONY , và CASIO của Nhựt chế rạ Gần đây có máy thu thanh Minidisc của hãng SONY loại thu bằng số như DAT. Người đi nghiên cứu còn phải biết chụp hình, quay phim loại 16ly, hay sử dụng các loại máy quay phim video 8mm hay Hi 8 hay Super VHS, hay loại máy video Digital Handycam của Sony với thu hình bằng số . Ngoài ra phải biết rõ tường tận loại nhạc mình nghiên cứu để tránh tách cách quá chủ quan khi phân tách, đồng thời phải hiểu sơ qua các loại nhạc của mấy xứ láng giềng để có thể đối chiếu, phải biết dân tộc học, ngữ học, xã hội học , âm nhạc học, sử địa , tâm lý học . Rồi lại còn phải thông thạo Anh ngữ, Pháp ngữ, và Đức ngữ để có thể đọc sách báo chuyên môn hầu theo dõi những công trình nghiên cứu trên thế giới . Và cần hơn nữa là phải hiểu thổ ngữ của vùng mình nghiên cứu .

Với bộ môn đa diện như vậy, việc nghiên cứu bây giờ không phải đơn thương độc mã mà phải nghiên cứu tập thể . Ở Pháp đã có nhiều ban nghiên cứu tập thể như « Recherches coopératives sur programme » (tác hợp nghiên cứu theo chương trình), hoặc như « équipe de recherche » (đội nghiên cứu) hay « unité propre de recherche » (đơn vị nghiên cứu), hay như « laboratoire associé , propre » (ban nghiên cứu có tầm vóc rộng lớn) . Tất cả nhóm, ban, đội, đơn vị nghiên cứu này đều do trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (Centre National de la Recherche Scientifique / National Center for Scientific Research) của Pháp cho ngân quỹ nhứt định mỗi năm để được hoàn toàn thoải mái mà nghiên cứu . Ở Mỹ, các giáo sư nghiên cứu trong khung cảnh của viện đại học . Mỗi giáo sư phải dạy hai năm thì được 6 tháng rảnh rang để nghiên cứu chuyện mình thích . Đó là tình trạng chung của các quốc gia khác như Gia nã đại, Đức, Anh, Hòa Lan, Ý đại lợi, Úc châu, Nhật Bổn, Nam Phi, Ba Tây , vv….

Tính đến năm 2001, đã có tới 5000 tiểu luận án và luận án tiến sĩ về dân tộc nhạc học do gần 200 trường đại học trên thế giới cấp phát (xem quyển « Ethnomusicology and folk music. An International Bibliography of Dissertations and Theses » (Dân tộc nhạc học và dân nhạc : sách tổng hợp quốc tế về tiểu luận án và tiến sĩ ) do Frank J. Gillis và Alan P. Merriam thâu thập do Society for Ethnomusicology (Mỹ) xuất bản, 160 trang, năm 1966 và tất cả các số báo « ETHNOMUSICOLOGY » phát hành ba số một năm từ năm 1957 trở đi, xuất bản tại Mỹ . Jaap Kunst đã có kê khai một số lý lịch một số lớn trường đại học có dạy môn dân tộc ở Âu Mỹ nhưng chỉ tới năm 1959 mà thôi .

Ở Pháp bà Claudie Marcel Dubois (mất hồi tháng 2, 1989) bắt đầu dạy môn dân tộc nhạc học ở Paris từ năm 1959 . Hầu hết các nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học ở Pháp hiện nay đa số đều có theo học lớp dân tộc nhạc học của Bạ Sau đó , trường đại học Sorbonne, Paris IV có mở lớp dạy dân tộc nhạc học Đông Phương do giáo sư Trần Văn Khê phụ trách (về hưu từ tháng 10, 1987) . Sau đó giáo sư Manfred Kelkel thay thế. Và từ năm 1998 giáo sư Francois Picard điều khiển môn dạy dân tộc nhạc tại trường đại học Sorbonne . Trường đại học Paris VIII-Saint Denis, trường đại học Paris X – Nanterre, trường Cao đẳng khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales/ School of High Studies for Social Sciences) cũng có dạy môn dân tộc nhạc học . Một số tỉnh ở Pháp như Strasbourg, Poitiers, Montpellier, Toulouse, Rennes, Lille, Lyon, ngành dân tộc nhạc học cũng được bành trướng mạnh mẽ .

Ở Mỹ, phải nói là có nhiều trường đại học dạy về môn dân tộc nhạc học . Có thể kể như UCLA (University of California, Los Angeles) do giáo sư Nazir Ali Jairazbhoy điều khiển cho tới giữa thập niên 90. Hiện nay giáo sư Anthony Seeger phụ trách môn này . Ngoài ra có một số trường đại học nổi tiếng về môn dân tộc nhạc học như University of Hawaii ở Honolulu, University of Maryland, Berkerly University, UCSD (University of California, San Diego), University of Washington, (tiểu bang Washington), Columbia University, New York, University of Bloomington, University of Michigan, Indiana University, Southern Illinois University, vv…Xin xem tiếp: https://tranquanghai.info/tran-quang-hai-dan-toc-nhac…/————————————————————————————–

Giáo sư Trần Quang Hải thoát chết trong gang tấc

GS Trần Quang Hải, con trai trưởng của GS-TS Trần Văn Khê, đã được vợ là nữ danh ca Bạch Yến đưa đi cấp cứu trong tình trạng bị liệt.Giáo sư Trần Quang Hải thoát chết trong gang tấc – GS Trần Quang Hải trong ngày xuất viện 15-5 tại Pháp

Sự việc xảy ra lúc 3 giờ ngày 2-5 (theo giờ địa phương). Hôm 15-5, khi sức khỏe đã hồi phục, GS Trần Quang Hải kể lại quá trình thoát chết trong gang tấc của mình.

« Bạch Yến phải gọi xe cứu thương chở gấp tôi vào bệnh viện Villeneuve St. Georges để cấp cứu vì độ đường trong máu của tôi xuống quá thấp. Khi đó, các bác sĩ đã khám và cho biết tôi bị sưng phổi và suy thận, bên cạnh căn bệnh ung thư máu, tiểu đường mãn tính » – GS Trần Quang Hải nói.

Sau 12 ngày chữa trị, sức khỏe của ông đã trở lại bình thường nhưng 2 bàn chân vẫn bị sưng phù, không thể đi đứng được. Ngày 15-5, các bác sĩ cho ông xuất viện. Ông cho biết bản thân còn sống là điều hạnh phúc để tiếp tục dành thêm thời gian cho hoạt động phổ biến âm nhạc truyền thống Việt Nam trên thế giới.

GS Trần Quang Hải vừa xuất bản 2 quyển sách gồm « 50 năm nghiên cứu nhạc truyền thống Việt Nam » và « Hát đồng song thanh » tại Mỹ. —————————————————————————————-

Con trai GS Trần Văn Khê dùng âm nhạc… chữa bệnh, –

-GS-TS Trần Quang Hải, con trai của GS-TS Trần Văn Khê đã ứng dụng âm nhạc vào việc chữa những căn bệnh như mất giọng nói, khủng hoảng tinh thần…

Ông đã có một số công trình như: phát triển kỹ thuật hát đồng song thanh của dân tộc Mông Cổ và Cộng hòa Tuva vào nhiều địa hạt khác nhau, lập ra trường phái này với khoảng 8.000 người ở 70 quốc gia trên thế giới theo học; áp dụng kỹ thuật đàn môi vào việc chữa trị bệnh mất tiếng của con người.

Suốt 40 năm qua, GS-TS Trần Quang Hải còn miệt mài giới thiệu âm nhạc Việt Nam qua khoảng 3.000 buổi nói chuyện tại hơn 65 quốc gia. Ông còn được tôn vinh là « vua muỗng” vì ứng dụng những kỹ thuật đa dạng của loại vật dụng này vào dân ca và âm nhạc đương đại. Chữa bệnh bằng kỹ thuật thanh nhạc và cái hồn âm nhạc

Giáo sư đã ứng dụng kỹ thuật hát đồng song thanh vào việc chữa bệnh gì cho con người?Ref. link: https://tranvankhe-tranquanghai.com/…/hat-dong-song…/

GS-TS Trần Quang Hải: – Tên đồng song thanh là do tôi đặt ra. Nó bắt nguồn từ kỹ thuật hát độc đáo của một số bộ tộc ở Mông Cổ và Cộng hòa Tuva. Bằng kỹ thuật này, người hát sẽ phát ra hai giọng cùng lúc ở hai cao độ khác nhau. Qua thời gian nghiên cứu, tôi đã phát triển và ứng dụng hát đồng song thanh vào nhiều địa hạt như: âm nhạc điều trị học, tâm lý điều trị học,…

Đặc biệt, có thể ứng dụng Luyện tập hơi thở cũng giúp bà mẹ giữ được hơi thở lúc lâm bồn, nó ngược lại so với bình thường. Ngoài ra nếu tập hát đồng song thanh, cũng có thể giúp những người thiếu tự tin tập trung phát biểu trước đám đông tốt hơn, vì mọi hỷ, nộ, ái, ố của con người đều lồng trong giọng nói. Nói cũng cần phải luyện tập là vậy.

– Đã có nhiều ứng dụng âm nhạc để chữa bệnh tâm thần, cho thai nhi nghe nhạc,… Có sự khác biệt nào trong việc ứng dụng chữa bệnh cho người ở những quốc gia khác nhau không, thưa giáo sư?

– Dùng âm nhạc chữa trị tổn thương tinh thần (khủng hoảng tinh thần) là hoàn toàn có thể. Tuy nhiên còn phụ thuộc việc họ bị tổn thương tâm thần dạng thụ động hay ưa hoạt động mà ứng dụng cho phù hợp. Tất nhiên, cần phải biết xuất xứ của người mình hướng dẫn để hỗ trợ việc chữa trị. Không thể cho bà bầu Việt Nam nghe nhạc giao hưởng nếu bà mẹ này không hiểu về nhạc giao hưởng.

– Người ta vẫn thường khuyên phụ nữ mang thai nghe nhạc cổ điển phương Tây, vì sao giáo sư lại khẳng định điều này không phù hợp?

– Sự tương tác giữa người mẹ và bào thai rất quan trọng. Nếu nghe nhạc mà người mẹ hiểu và cảm nhận trọn vẹn sẽ giúp đứa trẻ phát triển tốt. Vì vậy, áp dụng âm nhạc cho mỗi người tùy theo quốc gia. Nếu phụ nữ Việt Nam nghe nhạc giao hưởng phương Tây không cảm nhận được hoặc ngược lại thì việc ứng dụng này thực tế không đạt được hiệu quả. Nên áp dụng âm nhạc cổ truyền cho họ là tốt nhất vì họ hiểu được cái hồn của âm nhạc mà họ nghe.

Ref. link: https://tranvankhe-tranquanghai.com/…/gs-ts-tran-quang…/

Trình diễn với muỗng.

– Được biết giáo sư cũng sử dụng cả đàn môi để chữa bệnh thiếu thanh quản?

– Việt Nam mình là nơi có nhiều đàn môi nhất thế giới. Nó vừa là loại nhạc cụ dễ làm, rẻ tiền lại vừa phụ trợ cho những người thiếu thanh quản có thể phát ra âm thanh để người đối diện nghe được. Chỉ từ một chiếc thẻ tín dụng không xài nữa hay chiếc thẻ điện thoại đã bóc sim ra cũng có thể làm thành cây đàn môi. Việc chữa trị như không nói được do ung thư thanh quản, các bạn cũng có thể tìm đến tôi, nửa giờ sau là có thể nói cho người đối diện nghe được. Đó là nhờ ứng dụng những kỹ thuật thanh nhạc, có thể nói mà không dùng tới thanh quản. Bằng cách này, chúng ta sẽ giúp người bệnh không bị mặc cảm với mọi người xung quanh khi giao tiếp.

Không tự tôn hay tự ti về âm nhạc dân tộc-

Cũng giống như cha mình, giáo sư đã có khoảng 3.000 buổi giới thiệu về âm nhạc Việt Nam trên khắp thế giới. Giáo sư thường nói gì về âm nhạc Việt Nam?

– Tôi và vợ tôi (nghệ sĩ Bạch Yến – PV) thường chơi đàn tranh, đàn môi, đàn bầu, đàn cò… Chúng tôi đều sử dụng tiếng Việt để biểu diễn, chỉ có giải thích cho thính giả nghe mới dùng tiếng xứ họ, chứ không dịch ra trong khi biểu diễn. Vì chúng tôi quan niệm, đã làm thì phải làm cho đúng với những gì hiện hữu trong âm nhạc và văn hóa Việt Nam. Kể cả trang phục cũng được chúng tôi tuân thủ nghiêm ngặt. Vì âm nhạc phải gắn liền với trang phục.

Ref. link: https://tranquanghai1944.com/tag/hat-dong-song-thanh/

– Xin giáo sư cho biết cụ thể hơn?

– Tùy theo nội dung giới thiệu về âm nhạc cổ truyền Việt Nam theo miền Bắc hay Nam mà chúng tôi lựa chọn trang phục. Tôi luôn mặc áo dài gấm màu xanh hoặc áo trắng bên trong, áo dài the đen bên ngoài và mang guốc. Vợ tôi mặc áo dài hay áo tứ thân tùy thuộc vào buổi biểu diễn nhạc cổ truyền của mỗi miền. Tôi thấy nhiều nghệ sĩ trẻ Việt Nam mặc chưa đúng, ví dụ áo dài dành cho nam chỉ có áo gấm xanh hoặc áo lót bên trong áo the bên ngoài, khăn đóng luôn là màu đen thì các bạn lại biến tấu ra rất nhiều màu sắc không đúng truyền thống.

Đã mặc áo dài thì không nhún nhảy mà phải đi đứng chừng mực nghiêm trang, phong thái vững vàng. Cả cách chào cũng vậy, cần phải học. Ví dụ, khi kết thúc bài biểu diễn, chúng tôi phải chắp tay trước ngực chào khán giả theo cách của Việt Nam mình vì cách chào cũng là nét đặc trưng của mỗi dân tộc. Trong các buổi biểu diễn nhạc cổ truyền cần phải thể hiện đúng, vì chúng ta đang giới thiệu bản sắc văn hóa của Việt Nam ra thế giới để họ hiểu đúng về chúng ta. Không cần mặc đẹp mà phải mặc đúng. Chúng ta phải giữ truyền thống từ đầu tới chân, từ lời ăn tiếng nói đến cách đi đứng khi giới thiệu văn hóa cổ truyền với bạn bè thế giới.

– GS-TS Trần Văn Khê từng chia sẻ rằng muốn tìm người nối nghiệp con đường nghiên cứu, phát triển âm nhạc dân tộc Việt Nam của mình, và có đề cập tới giáo sư…

– Theo tôi, người nối nghiệp Ba tôi phải tiếp nối ngay từ trong xứ. Phải đặt mình trong địa hạt đó mới hiểu hết được. Riêng tôi đã có con đường đi khác. Nhưng cái cốt yếu là tôi vẫn kế thừa phương pháp nghiên cứu ấy, nắm được để sự học trở nên dễ dàng hơn. Tôi cũng cho rằng không nên tự tôn hay tự ti về âm nhạc của một dân tộc. Quan trọng phải là lòng tự hào cái mình có để đóng góp lại cho toàn thể. (Lê Tám thực hiện)—————————————–3 Comments

NGUYỄN VI SƠN : Giới thiệu anh Trần Quang Hải / the multi facet talents of Trân Quang Hải, this amazing artist and scholar.

Son Nguyen

  Thưa quý thân hữu:

Giới thiệu về anh Trần Quang Hải thì không phải dễ, vì chỉ một người, mà bao nhiêu tài nghệ. Viết thì khó, hình ảnh thì có thể đầy đủ hơn.

Mời quý bạn xem Video dưới đây một phần nào thể hiện nhân dáng và tài hoa của GS Âm Nhạc Trần Quang Hải (tôi muốn nhớ tới anh là « Anh Trần Quang Hải » cũng như tôi cũng muốn anh nhó tới tôi là anh Vi Son thay vì BS/GS Nguyễn Vi Sơn).

An aspect of the personality and talent of my friend, the Professor and Researcher of Musicology Trần Quang Hải, Winner of the highly prestigious French Award (Medal) « La Legion d’Honneur »

Kính thưa quý bạn:Bấy nhiêu là hình ảnh, bấy nhiêu là kỷ niệm, và bấy nhiêu đoạn đường đã đi qua của một người mang tên Trần Quang Hải. Mà chúng cũng thể hiện cái đa dạng của tài hoa Trần Quang Hải.

Xin những hình ảnh này, những gì đã mang đến cho tôi bao cảm xúc , sẽ làm tôi luôn nhớ mãi anh Hải là một Người Việt Nam, và là một người bạn. Mà tôi muốn nhắc lại một lần nữa, anh là một người Việt Nam. Một người Việt Nam để cho tôi, để cho bạn hãnh diện vì những cống hiến của anh cho cuộc đời, cho nhân loại.

Những Bẳng Legion d’Honneur do Tổng Pháp trao tặng, những âm thanh kỳ ảo cuả đàn muỗng, cuả đàn môi, của đàn tranh, đàn nhị, đàn Tây Ban Cầm. và thêm nữa những dấu chân anh cùng người yêu một đời Bạch Yến trên khắp năm Châu, Bốn Bể, cũng không làm sao nói hết sự nghiệp của anh, tình yêu của anh cái tinh hoa của anh hiến tặng cho đời.

Dear friends:The above pictures carry with them so many memories, bringing back the scenery of so many byways and highways a man named Trần Quang Hải had covered in his memorable and outstanding life. They are also the embodiment of the multi facet talents of this amazing artist and scholar.

These images, which have brought to me so much emotion, have been a constant reminder that my friend Trần Quang Hải is a Vietnamese and a great friend. And I have to repeat one more time, yes Hải is a VIETNAMESE – a Vietnamese you and me will always be proud of, be inspired by, due to the many contributions he has brought to life and to humanity.

The highest honor bestowed on him by the French President, the enchanting albeit mysterious sounds of so many different musical instruments he played , along with the imprints left behind by him and his beloved spouse Bạch Yến will never be enough to reflect the exquisite, the most achieved gift that he had contributed to life.

Dear Hải: It’s a Joy and an Honor I call you a Friend. And what a Great friend to have in this life!.

Vi SơnMes chers amis:Les images ci-dessus emportent avec elles tellement de souvenirs. Elles me font penser à tous les tronçons de chemins divers parcourus par un homme nommé Trần Quang Hải. Elles reflètent aussi les aspects multiples d’un talent si rare.Ces images qui m’ont apporté tellement d’émotions, sont aussi un rappel constant dans mon coeur que Trần Quang Hải est un Vietnamien et un grand ami. Et je dois répéter une fois de plus que Hải est Vietnamien.

Un Vietnamien à inspirer à vous et à moi un sentiment superbe de fierté quand on pense à toutes les contributions que cet artiste, ce érudit a contribué à la Vie, à l’Humanité. La Légion d’Honneur que le Président de la République Française lui a offert, les sons enchanteurs et ésotériques inculqués dans les pièces de musique qu’il a interprétées, les longues routes quil a parcourues avec sa belle épouse Bạch Yến ne seront jamais assez à refléter ce don si rare, ce cadeau si précieux qu’il a apporté à nous tous.Cher Trần Quang Hải, c’est avec joie et honneur que je t’appelle: MON AMI.

Vi Sơn

LP & CD records of TRAN QUANG HAI

Tran Quang Hai

Tran Quang Hai

Aujourd’hui sur Rakuten, 27 Tran Quang Hai vous attendent au sein de notre rayon . Et cela, aussi bien du côté du neuf que des produits Tran Quang Hai occasion. De quoi nourrir vos convictions personnelles avec la référence Tran Quang Hai si la seconde main fait partie intégrante de vos habitudes d’achat. Dans les deux cas, un facteur reste néanmoins commun : les meilleurs prix du web spécial , c’est sur notre site d’achat en ligne que vous les trouvez ! Alors plus une seconde à perdre, découvrez sans plus tarder nos nombreuses références Tran Quang Hai à prix bas et profitez en prime, en plus réductions et remises très souvent mises à votre disposition, du remboursement de votre commande à hauteur de 5% minimum grâce à notre Club Rakuten. De quoi facilement trouver votre article Tran Quang Hai pas cher sans passer par la case « code promo ». Gain de temps et économie d’argent sur le produit Tran Quang Hai neuf ou d’occasion : que demander de plus !Voir plus

30 résultats Meilleures ventes A propos de «Meilleures ventes»

Vietnam : Fetes Traditionnelles Bach Yen & Tran Quang Hai

Vietnam : Fetes Traditionnelles Bach Yen & Tran Quang HaiCollectif / CD

  • Musiques du monde
  • 1996
  • CD Album

Occasion dès 34,99 €Vendez le vôtre

Guimbardes Du Monde

Guimbardes Du MondeTrân Quang Haï / CD

  • Musiques du monde
  • 2004
  • CD Album

1 avisNeuf dès 14,90 €Occasion dès 12 €Vendez le vôtre

L'eau & Le Vent : La Cithare Vietnamienne

L’eau & Le Vent : La Cithare VietnamienneTran Quang Hai / CD

  • Musiques du monde
  • 1993
  • CD Album

Neuf dès 35 €Occasion dès 25 €Vendez le vôtre

Reves & Realite Au Vietnam

Reves & Realite Au VietnamTran Quang Hai / CD

  • Musiques du monde
  • 1992
  • CD Album

Neuf dès 35 €Occasion dès 9,50 €Vendez le vôtre

Landscapes Of The Highlands

Landscapes Of The HighlandsTran Quang Hai / CD

  • Folk
  • CD Album

Occasion dès 3 €Vendez le vôtre

Cithare Vietnamienne (Special Instrumental)

Cithare Vietnamienne (Special Instrumental)tran quang hai / Disque vinyle

  • 33 Tours
  • Musique du monde

Occasion dès 18,90 €Vendez le vôtre

Vietnam

Vietnamtran quang hai – bach yen / Disque vinyle

  • 33 Tours
  • Musique du monde
  • 1983

Occasion dès 16 €Vendez le vôtre

Vietnam

Vietnamtran quang hai – bach yen / Disque vinyle

  • 33 Tours
  • Folk
  • 1983

Occasion dès 12,80 €Vendez le vôtre

Chansons Et Musique Vietnamienne : Le Chant De La Riviere Des Parfums

Chansons Et Musique Vietnamienne : Le Chant De La Riviere Des Parfumstran quang hai – truong tang / Disque vinyle

  • 33 Tours
  • Variétés internationales
  • 1974

Occasion dès 19,89 €Vendez le vôtre

Viet Nam   Musique Traditionnelle Vol. 10

Viet Nam Musique Traditionnelle Vol. 10Tran Quang Hai et Bach Yen / Disque vinyle

  • 33 Tours
  • Musique du monde

Occasion dès 9,99 €Vendez le vôtre

A La Verticale De L'été - Edition Belge

A La Verticale De L’été – Edition Belge – De Tran Anh Hung avec Tran Nu Yên-Khê / DVD Zone 2 Drame

  • 2000
  • Tous public

4 avisNeuf dès 23,94 €Occasion dès 0,90 €Vendez le vôtre

A La Verticale De L'été

A La Verticale De L’été – De Tran Anh Hung avec Tran Nu Yên-Khê / DVD Zone 2 Drame

  • 2000
  • Tous public

7 avisNeuf dès 18 €Occasion dès 0,90 €Vendez le vôtre

Musiques Du Vietnam - Tradition Du Sud

Musiques Du Vietnam – Tradition Du Sudtran quang hai & hoang mong thuy / Disque vinyle

  • 33 Tours
  • Musique du monde
  • 1976

Occasion dès 12 €Vendez le vôtre

Vietnam Musique   (( Pressage Italie

Vietnam Musique (( Pressage Italietran quang hai & hoang mong thuy / Disque vinyle

  • 33 Tours
  • Variétés internationales
  • 1970

Occasion dès 8,80 €Vendez le vôtre

Musique Traditionnelle Du Vietnam

Musique Traditionnelle Du Vietnamtran quang hai et hoang mong thuy / Disque vinyle

  • 33 Tours
  • Musique du monde
  • 1980

Occasion dès 20 €Vendez le vôtre

Musiques Du Vietnam Tradition Du Sud

Musiques Du Vietnam Tradition Du SudTrân Quang Hai & Hoang Mông Thuy / Disque vinyle

  • 33 Tours
  • Musique du monde
  • 1981

Occasion dès 14,49 €Vendez le vôtre

https://fr.shopping.rakuten.com/s/tran+quang+hai

DISQUES VYNYLE et CD de TRAN QUANG HAI

Plus d’images

Tran Quang Hai

Profil: Tran Quang Hai (May 13, 1944, Linh Dông Xa, Viêt-Nam) is a Vietnamese musician and ethnomusicologist.

Former student at Conservatoire national de musique in Saïgon before moving in France in 1961, Quang Hai learned Oriental music theory with his father Trân Van Khê at Centre d’études de musique orientale founded by Institut de musicologie de Paris – Université de Paris-Sorbonne.

Quang Hai plays more than fifteen different instruments from Vietnam, China, India, Iran, Indonesia and Europe – including jew’s harp and overtones singing. Since 1966, he has given over 2.500 concerts in fifty different countries.

Since 1968, Quang Hai is working at Département d’ethnomusicologie du Musée de l’Homme (Paris, France). He was also a lecturer on Southeast Asian music at the Université de Paris X in Nanterre, France (1988-1995). More Sites: tranquanghai.info, membres.lycos.fr, tranquanghai.musicblog.fr, tranquanghai.blogspot.com Variantes : Tout Voir | Tran Quang HaiDr. Tran Quang Hai, Hai, Trãn Quang Hải [a546262]

https://www.discogs.com/artist/546262-Tran-Quang-Hai

Artiste

1 – 16 de 16 Trier Afficher

Albums
Cithare Vietnamienne (Le Dan Tranh) ‎(LP)Le Chant Du MondeLDX 744541971
Trần Quang Hải* Et Trủỏng Tăng*Tiếng Hát Sông Hương – Le Chant De La Rivière Des Parfums ‎(LP, Album)PES5280031973
Tran Quang Hai & Hoang Mong ThuyMusiques Du Vietnam – Tradition Du Sud
Anthologie De La Musique Des Peuples1976
Trân Van Khê, Trân Quang Hai*, Trân Thi Thuy NgocViêt-Nam: Nouvelle Musique Traditionnelle
Ocora1976
Tran Quang Hai Et Hoang Mong ThuyMusique Traditionnelle Du Vietnam ‎(LP)Aide À L’Enfance Du VietnamAEV 11976
Tran Quang Hai Et Bach YenVietnam ‎(LP, Album, Gat)Playa SoundPS 335141977
Tran Quang Hai & Hoang Mong ThuyMusic Of Vietnam
Albatros (2)1978
Trẩn Quang Hái* Et Bạch Yên*Cithare Et Chansons Populaires Du Vietnam ‎(LP, Album, Gat)Aide À L’Enfance Du VietnamAEV 21979
Tran Quang Hai And Bach YenVietnamese Dan Tranh Music ‎(LP, Album)LyrichordLLST 73751982
Misha Lobko / Tran Quang HaiShaman ‎(LP, Album)Didjeridou RecordsDJD 011982
Trãn Quang Hải* / Bạch Yên*Vietnam ‎(LP, Album)Arc En CielSM 30-11.971983
Cithare Vietnamienne = Vienamese Zither ‎(CD, Album)Playa SoundPS 651031993
Guimbardes Du Monde – Jew’s Harps Of The World ‎(CD)Playa SoundPS 660091997
Landscape Of The Highlands ‎(CD, Album)Latitudes (3)LAT 506121997
Compilations
Tran Quang Hai, Bach YenVietnam: Rêves Et Realités · Dreams & Reality
Playa Sound1988
John Wright (8), Emmanuelle Parrenin, Steve Waring, Jean-François Dutertre, Jean-Jacques Milteau, Marc Perrone, Roger Mason (3), René Zosso, Jean-Loup Baly, Guem, Tran Quang Hai, Pierre Toussaint, Mary Rhoads*, Ted FureyThat’s All Folk! – Anthologie de La Musique Folk – Anthology Of Folk Music ‎(2xCD, Comp, dig)Le Chant Du MondeCML 5741015.161997

1 – 16 de 16 Afficher

Avis

Ajouter un avis

Listes

Ajouter à une liste Voir plus de listes →

Vidéos (14) Éditer

https://www.youtube-nocookie.com/embed/?playlist=dQs5O8Imuuw%2CSpRi2Iykw8I%2Cy09HwWNXpTE%2C2ntg2fq54a0%2CqIcGVUYGo3I%2CxC3_YN2ptBI%2CJNlfWq6By90%2CpIawLqX8ojQ%2CpGAoOtxvavQ%2Cc4zyZ9DLZEU%2CesJJ_Y1Qmqk%2Ci7O4BF2hZnE%2C4_k2L8zvNSg%2C8bBsSIkEIeQ&loop=true&enablejsapi=1&origin=https%3A%2F%2Fwww.discogs.com&widgetid=1 TRAN QUANG HAI dans MAP: la guimbarde
4:33Tran Quang Hai & Hoang Mong Thuy ‎– Phu Luc (Vinyl)
4:06Viet-nam Improvisations – Improvisation Dans Le Mode Triste
7:26Misha Lobko / Tran Quang Hai ‎– Shaman (excerpt)
3:35Musique du Vietnam (Grand Prix Du Disque)
1:39Tran Quang Hai ‎– Guimbardes Du Monde / Jew’s Harps Of The World (1997, full album)
54:45Trãn Quang Hải and Bạch Yên [Tran Quang Hai and Bach Yen] – Au O Vi Dau
1:35TRAN QUANG HAI plays a Vietnamese 3 tongue Jew’s harp
2:18Qua Cầu Gió Bay- Trân Quang Hải Hoàng Mông Thuy.mpg
3:43Trãn Quang Hải and Bạch Yên [Tran Quang Hai and Bach Yen] – Ly Ngua O
2:06TRAN QUANG HAI plays the Vietnamese Baby Dan Moi
2:29Trân Quang Hai & Hoàng Mông Thuy – – Doc tau sinh tien
1:16Trãn Quang Hải and Bạch Yên [Tran Quang Hai and Bach Yen] – Ly Con Sao
2:17Tran Quang Hai plays the Viet baby Dàn môi Jew’s harp

WORLD PREMIERE: TRAN QUANG HAI plays the famous Tuvin folk tune with the COVID 19 MASK as a musical bow, 23/10/2020

TQH PLAYS THE COVID MASK 23 10 20

120 views•Oct 23, 2020222ShareSaveQuangHai Tran 6.52K subscribers WORLD PREMIERE: TRAN QUANG HAI plays the famous Tuvin folk tune with the COVID 19 MASK as a musical bow , in Limeil Brévannes, France, 23.10.2020

Tran QUANG Hai uses the mask COVID 19 as a musical bow to play the music. You can hear the Tuvin folk tune by the mask COVID 19, 23/10/20

Trần Quang Hải chuyển mặt nạ Covid 19 thành nhạc cụ. Các bạn nghe giai điệu dân ca xứ Tuva với mặt nạ. Có lẽ đây là lần đầu mặt nạ COVID trở thành nhạc cụ đo Trần Quang Hải nghĩ ra,23/10/20

TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI : tiếng Việt (cập nhựt 17/10/2020)

TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI : tiếng Việt

Tran Quang Hai

Tiểu sử TRẦN QUANG HẢI (Tran Quang Hai’s biography in Vietnamese)

Trần Quang Hải, sinh ngày 13 tháng 5, 1944 tại làng Linh Đông Xã , tỉnh Gia Định, miền Nam nước Việt Nam. Con trai trưởng của GS TS Trần Văn Khê (sinh ngày 24 tháng 7, 1921) và bà Nguyễn Thị Sương, cựu giáo sư Anh văn trường nữ trung học Gia Long (sinh ngày 19 tháng 9, 1921).Trần Quang Hải kết hôn cùng nữ danh ca Bạch Yến ngày 17 tháng 6, 1978 tại Paris (Pháp). Bạch Yến nổi tiếng với bài « Đêm Đông » vào năm 1957, và chuyên về nhạc ngoại quốc Tây phương lúc đầu của sự nghiệp cầm ca . Sau khi thành hôn với Trần Quang Hải , Bạch Yến chuyển sang dân ca và cùng phổ biến nhạc dân tộc với chồng khắp thế giới .Trần Quang Hải xuất thân từ một gia đình nhạc sĩ cổ truyền từ nhiều đời và anh là nhạc sĩ đời thứ năm . Ngoài ra anh là dân tộc nhạc học gia (ethnomusicologist – ethnomusicologue) chuyên về nhạc Việt, Á châu và hát đồng song thanh từ năm 1968, thuyết trình viên , nhạc sĩ sáng tác, chuyên gia về sư phạm âm nhạc, và thành viên của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique)

Vài dòng về khuôn mặt Trần Quang Hải. Anh đã theo gót cha anh , GS Trần Văn Khê trên đường nghiên cứu dân tộc nhạc học. Anh đã tạo một hướng đi riêng trong địa hạt trình diễn về nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc tùy hứng, nhạc đương đại cũng như phương pháp nghiên cứu thể nghiệm qua hát đồng song thanh .

Gia đình nhạc sĩ cổ truyền

1. Trần Quang Thọ (1830-1890), ông sơ của tôi là quan án sát, theo Phan Thanh Giản sang Pháp để thương thuyết nhưng thất bại , treo ấn từ quan , vào Nam , cư ngụ tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho. Rất giỏi về nhã nhạc Huế .

2. Trần Quang Diệm (1853-1925), ông cố của tôi là người đàn tỳ bà rất hay , được gởi ra thành nội Huế để học nhạc cung đình và chuyên về đàn tỳ bà . Ông đã sáng chế ra cách viết bài bản cho đàn tỳ bà , nhưng tiếc thay là tất cả tài liệu đó bị thất lạc vì chiến tranh .

3. Trần Quang Triều (1897-1931), ông nội của tôi là người đàn kìm rất giỏi, biệt hiệu Bảy Triều trong giới cải lương, đã đặt ra cách lên dây TỐ LAN cho đàn kìm để đàn những bài buồn ai oán. Hiện nay chỉ còn một số rất ít nhạc sĩ cổ nhạc biết đàn dây này (như nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo , GS Trần Văn Khê)

4. Trần Văn Khê (1921 – ), ba của tôi là người đã đưa nhạc cổ truyền Việt Nam lên hàng quốc tế và làm rạng danh nhạc Việt trên thế giới ở địa hạt trình diễn cũng như nghiên cứu . Con trai trưởng trong gia đình có ba người con (ba tôi GS Trần Văn Khê, chú ba tôi là Quái kiệt Trần Văn Trạch, cô tư tôi là Trần Ngọc Sương từng nổi tiếng là ca sĩ tân nhạc vào đầu thập niên 50) , ông đã hăng hái trong phong trào nhạc mới lúc trẻ (cùng thời với nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Phạm Duy) và quay về nhạc cổ khi soạn luận án tiến sĩ tại Pháp . Từng là giáo sư nhạc Đông phưong tại trường đại học Sorbonne (Paris, Pháp), giám đốc nghiên cứu của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (Paris , Pháp), sáng lập viên Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương ở Paris, và từng giữ chức phó chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO . Hưu trí từ năm 1987, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu và đóng góp một vai trò lớn cho hai hồ sơ Nhạc cung đình Huế (được danh hiệu kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2003) và Nhạc Cồng chiêng Tây Nguyên (kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2005). Ông định cư ở Việt Nam sau 55 năm sống ở Pháp, và là cố vấn cho hồ sơ Ca Trù để đệ trình lên UNESCO cho năm 2007 và cho hồ sơ Đờn ca tài tử nam bộ cho năm 2011 dành cho kiệt tác văn hóa phi vật thể. Ngày 24 tháng 6 năm 2015 , ông từ trần tại quận Bình Thạnh, TP HCM, Việt Nam . .

5. Trần Quang Hải (1944 – ) , cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký, sau khi tốt nghiệp âm nhạc viện Saigon với bộ môn vĩ cầm (học với cố GS Đỗ Thế Phiệt), đi sang Pháp năm 1961 và học nhạc học tại trường đại học Sorbonne và dân tộc nhạc học ở trường cao đẳng khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales). Tôi bắt đầu làm việc cho trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) với ê-kíp nghiên cứu tại Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng Con người (Département d’ ethnomusicologie du Musée de l’Homme) từ 1968 cho tới 2009 thì về hưu). Trình diễn trên 3,500 buổi tại 70 quốc gia, tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học, sáng tác nhạc hơn 400 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng , hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng, đương đại . Đã thực hiện 23 dĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết ba quyển sách, làm 4 DVD, 4 phim và hội viên của trên 20 hội nghiên cứu thế giới .Con đường nghiên cứu của tôi nhắm về sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành loại nhạc thế giới (world music), pha trộn nhạc tùy hứng , jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc hoàn toàn mới lạ .SỰ NGHIỆP1. 1955-1961 trường quốc gia âm nhạc Saigon, tốt nghiệp vĩ cầm (lớp GS Đỗ Thế Phiệt)2. 1954-1961 trường trung học Pétrus Ký, Saigon.3. 1963-1970 Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương (CEMO – Centre d’Etudes de Musique Orientale – Center of Studies for Oriental Music, Paris) , học các truyền thống nhạc Ba Tư (Iran), Ấn độ (Inde), Trung Quốc (Chine), Nhật Bổn (Japon), Nam Dương (Indonesie), Đông Nam Á (Asie du Sud-Est), Việt Nam (Vietnam)4. 1963 trường Ecole du Louvre, Paris5. 1965 certificate of proficiency in English (chứng chỉ Anh văn) , University of Cambridge, Anh quốc6. 1965 certificat de littérature française (chứng chỉ văn chương Pháp), Université de Sorbonne, Paris.7. 1967 cao học dân tộc nhạc học trường cao đẳng khoa học xã hội, Paris8. 1969 chứng chỉ âm thanh học (certificat d’acoustique musicale) , Paris9. 1970 văn bằng cao đẳng nhạc Việt trung tâm nghiên cứu nhạc đông phương , Paris10. 1973 tiến sĩ dân tộc nhạc học trường cao đẳng khoa học xà hội, Paris11. 1989 văn bằng quốc gia giáo sư nhạc truyền thống , Paris.Từ năm 1965 tới 1966 theo học lớp nhạc điện thanh (musique électro-acoustique) với GS Pierre Schaeffer, người sáng lập loại nhạc điện tử ở Pháp .Từ năm 1968 tới 2009, tôi làm việc tại Viện dân tộc nhạc học của Viện Bảo Tàng Con Người (Département d’Ethnomusicologie du Musée de l’Homme) ở Paris (Pháp) . Từ năm 1968 tới 1987, tôi làm việc ở Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng nghệ thuật và truyền thống dân gian (Département d’Ethnomusicologie du Musée des Arts et Traditions Populaires) ở Paris (Pháp)Nghiên cứu sư của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS) ở Paris từ năm 1968. Từng là thành viên của nhiều ê-kíp nghiên cứu (RCP 178 – Recherche coopérative sur programme từ 1968 tới 1973 ; ER 65 – Equipe de recherche từ 1974 tới 1981 ; Laboratoire Associé từ 1974 tới 1987 ; UPR 165 – Unité Propre de Recherche từ 1982 tới 1985 ; UMR 9957 – Unité Mixte de Recherche từ 1986 tới 1997 ; UMR 8574 – Unité Mixte de Recherche từ 1997 tới 2004 ; UMR 7173 – Unité Mixte de Recherche từ 2005 trở đi)Từ 1970 tới 1975 : giáo sư đàn tranh của Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương , ParisTrong suốt thời gian 55năm hành nghề nhạc sĩ chuyên nghiệp (1962 -2017) tôi đã trình diễn trên 3.500 buổi cho khán giả Tây phương , và trên 1.500 buổi diễn cho học trò trên thế giới do các cơ quan chính thức của Na Uy (Rikskonsertene), Bỉ (Jeunesses Musicales de Belgique), Thụy Sĩ (Jeunesses Musicales Suisses), Pháp (Jeunesses Musicales de France, Association départementale pour diffusion et initiation musicale – ADDIM).

Từ 1971 tôi đã làm 15 dĩa 30cm / 33 vòng và 8 CD về nhạc cổ truyền Việt Nam , đặc biệt là về đàn tranh. Nhiều sáng tác đã đưọc thu vào dĩa và được đăng trong các quyển tự điển Who’s Who in Music (từ năm 1987) , Who’s Who in the World (từ năm 1981 ), và Who’s Who in France (từ năm 1997).Về sáng tác nhạc, tôi có viết 12 ca khúc nhi đồng với sự cộng tác của nhà văn Duyên Anh năm 1984. Tôi đã sáng tác trên 400 nhạc phẩm đủ loại với ca khúc viết tiếng Việt, Pháp, Anh và nhạc cho đàn tranh, đàn bầu, muỗng, đàn môi và hát đồng song thanh . Ngoài ra còn viết nhạc cho phim « Long Vân Khánh Hội »của Lê Lâm vào năm 1980, phim « Le Chant des Harmoniques » (Bài ca bồi âm) vào năm 1989, và cho phim « La Rencontre du Coq et du Dragon » (Cuộc hội ngộ giữa Gà và Rồng) vào năm 1998 .

Với tư cách nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học, tôi đã viết nhiều bài cho các tập san nghiên cứu nhạc học như « The World of Music » (UNESCO), « Journal of Asian Music Society (Cornell University, Hoa Kỳ), « Yearbook of the International Council for Traditional Music –ICTM, Hoa Kỳ), « Cahiers de Musiques Traditionnelles » (Thụy Sĩ ), « Koukin Journal » (Tokyo, Nhật Bản). Tôi có viết một bài về nhạc Cao miên cho New Grove Dictionary of Music and Musicians, ấn bản lần thứ 1 (1980) (20 quyển, London, Anh quốc), định nghĩa vài nhạc cụ Việt Nam cho New Grove Dictionary of Music, ấn bản lần thứ nhì (2001) (29 quyển, London, Anh quốc), định nghĩa cho trên 200 từ nhạc cụ của Việt Nam, và Đông Nam Á cho New Grove Dictionary of Musical Instruments, ấn bản lần thứ nhứt (1984) (3 quyển, London, Anh quốc)Tôi viết lịch sử nhạc Việt Nam, Lào, Cao Miên và Thái Lan cho quyển tự điển Algemeine Muziekencyclopedia (1082-1984, Hòa Lan), và nhiều bài cho tự điển Encyclopaedia Universalis (1984, 1986, 1988 , 1990, 1991, Paris)

Tôi đã làm 4 DVD về giọng và hát đồng song thanh : « Le Chant diphonique » với CRDP (trung tâm địa phương tài liệu sư phạm và Hàn lâm viên La Réunion, 2004), « Le chant des Harmoniques » (CNRS – Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học, 2005), « La Voix » với nhà xuất bản Lugdivine (2006, Lyon, Pháp), và « The Song of Harmonics » với CNRS, Paris, 2006.Ngoài ra Pierre Ravach có làm một cuốn phim  (TRẦN QUANG HẢI : parcours d’un musicien vietnamien / Trần Quang Hải : hành trình của một nhạc sĩ việt nam ), Bruxelles, Bỉ vào năm 2005. Bùi Xuân Quang và Paris Vietnam Productions thực hiện một cuốn video « Variations sur la musique vientamienne par Trần Quang Hải et Bạch Yến / các biến thể về nhạc việt với Trần Quang Hải & Bạch Yến) Paris, 2009.   Nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học cũng là đạo diễn Pháp Patrick Kersalé đã thực hiện hai chương trình video « Mystères des Voix du Monde » (Sự huyền bí của các gịong thế giới) (2012), và « Le Chant des Harmoniques » (Bài ca bồi âm) (2013) với tôi là nhân vật chính của hai video này .

Giảng dạy ở các trường đại học , viện bảo tàng và trung tâm nghiên cứu trên thế giớiTôi đã từng được mời dạy và thuyết trình tại nhiều trường đại học, trung tâm nghiên cứu và viện bảo tàng ở khắp năm châu :

Mỹ : University of Hawaii (1977), University of Berkeley (1977), University of Maryland (1980), Columbia University (1983), Museum of Modern Art (MOMA ở New York, 1984), University of California, San Diego (UCSD, 1990), Cornell University (1994), Thomas University (Minneapolis, 1996), Foundation of the Voice, Philadelphia (1997), Wisconsin University, Madison (1998), George Mason University (2000), California State University Long Beach (2019)

CANADA : Université de Montréal (1991), York University, Toronto (1994), University of Toronto (1994), Royal Museum of Ontario, Toronto (1994),.Saint John’s University, Saint John’s, Canada (2011)

BRAZIL : Âm nhạc viện, Rio de Janeiro (1983), University of Rio de Janeiro (1998, 2006), University of Recife (1998), Faculty of Music , Rio de Janeiro (2006)

Nam Phi : University of Cape Town (1984, 1997), Stellenbosch University, Cape Town (1984), University of Fort Hare, Fort Hare (2011)

Úc Châu : Monash University, Melbourne (1986), Sydney University, Sydney (1986), Western Australian University, Perth (1986), College of Advanced Education, Melbourne (1988), University of Canberra (1995)

Đại Hàn : National Seoul University (1981), National Institute of Performing Arts, Seoul (1994), Academy of Korean Studies, Seoul (2006)

Nhật Bản : Royal Academy of Music (1981), University of Hiroshima, Hiroshima (1999), Osaka University of Fine Arts , Osaka (2000).

Đài Loan : University of Taiwan, Taipei (2000), National Center of the Arts , Taipei (2000, 2002)

Thái Lan : University of Mahasarakham (1986), Chulalongkorn University, Bangkok (2012, 2019)

Việt Nam : Viện âm nhạc Hà nội, Hà nội (2002, 2006, 2017 ), Trung tâm văn hóa Pháp, Hà Nội (2006), Âm nhạc viện thành phố HCM (2006), Học Viện Âm nhạc quốc gia, Hà nội (2017)

Trung Quốc : Âm nhạc viện Thượng Hải (2012)

Lebanon : CLAC (Centre de lecture et d’animation culturelle – trung tâm văn hóa), ở các tỉnh Barja, Mansoura, Kfar Debyan, Amioun (2002)

Đức : Volkekunde Museum, Berlin (1985), Musik Hochschule , Detmold (1994), Institute of Psychotherapy, Heidelberg (1997), Musik Hochschule, Stuttgart (2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006,2013 ), Musik Hochschule, Hanover (2003), Aachen Universitet, Aachen (2003), Erfurt University (2004)

Belarus : Music Academy of Belarus, Minsk (1996)

Bỉ : Institute of Musicology , Louvain (1976), Royal Museum of Central Africa, Tervuren (1976), Royal Instrumental Museum, Brussels (1980, 2001), University of Anwerpen (1981), Institute of Living Voice , Anverpen (2001), Royal Museum of Mariemont, Mariemont (2002), Conservatory of Music, Mons (2006)

Đan Mạch : Musikhistoriska Museum, Copenhagen (1972), Institute of Danish Folk Archive, Copenhagen (1972), Odin Teatret (Laboratorium of NordicTheatrical Researches), Holstebro (1998), Laboratory of theatrical experimental researches Cantabile 2, Wordingborg (2000).

Tây Ban Nha : Summer University, Madrid (1990)

Pháp : Paris : Université de Paris X-Nanterre (1985-92), Université de Paris VIII –Saint Denis (1991, 1993), Université de Paris IV-Sorbonne (1989), Centre d’Etudes de Musique Orientale (1970-1975), Ecole Nationale des Langues Orientales Vivantes – ENLOV (1991, 2006), Laboratoire d’Acoustique Musicale (1971, 1974), IUFM, Université de Cergy (1996, 1997, 1998, 1999, 2001)Nice : Université de Nice (1990), Musée des Arts Asiatiques (1999, 2000, 2003)Tours : Université de Tours (1975)Montpellier : Université de Montpellier 3 (1996, 1997, 1998, 1999, 2000, 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006)Toulouse : Université de Toulouse (1985, 1991, 1995, 1997)Marseille : Conservatoire National de Musique (1987)Strasbourg : Conservatoire National Régional – CNR (1995, 1997, 1998)Mulhouse : Ecole Doctorale (2000), Université de la Haute Alsace (2005)Rennes : Conservatoire de Musique (1980), Université de Rennes (1999, 2000, 2001, 2004), IFMI de Rennes (2005)Poitiers : Université de Poitiers (2000)Bordeaux : Université de Bordeaux 2 Victor Segalen (2001)Lille : Université de Lille (2004)

Vương quốc Anh : Horniman Museum , London (1972), University of Durham (1985), University of London (1991), City University, London (1992), SOAS – School of Oriental and African Studies, London (1998), University of Reading, Reading (2004, 2005) Queen’s University, Belfast (1984),

Ái nhĩ lan : University of Limerick, Limerick (2004, 2005, 2017), University of Cork, Cork (2005),

Ý đại lợi – Italy: Institute of Musicology, Bologna (1979), University of Bologna (2000, 2003), Foundazione San Georgio Cini , Istituto Interculturale di Studi Musicali Comparati (1979, 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006), Santa Cecilia Nazionale Academia, Roma (1994), University of Roma (1994), Institute of Musicology and Linguistics, Venezia (1996), Teatro La Fenice , Venezia ( 1995, 1996, 1997), Academy of Music, Sienna (1999), Institute of Musictherapy, Padova (2001, 2016).

Lituania : Music Academy of Lituana, , Vilnius (1997)

 Na Uy – Norway : Institute of Musicology, Trondheim (1976, 1980, 1981), University of Oslo (1979), Music Academy Grieg, Bergen (2004), Conversatory of Music, Oslo (2005, 2006)

Hà Lan – Holland : Jaap Kunst Centrum, Amsterdam (1974), Gemeente Museum, Den Haag (1980), Tropen Museum, Amsterdam (1992, 1998), University of Leiden , Leiden (2000), University of Groningen , Groningen (1998)

Ba Lan – Poland : Summer University, Warsaw (1997), University of Wroclaw (2013, 2016)

Nga – Russia : Âm nhạc viện Chaikowsky , Moscova (1993), Institute of World Music Research , Moscova (1993, 2012), International Centre of Khoomei, Kyzyl, Tuva (1995)Slovakia : Music Academy, Nitra (1997)

Thụy Điển – Sweden : Lund University , Lund (1976), Stockholm University, Stockholm (1976), Music Museet , Stockholm (1981), Royal Music Academy, Stockholm (1985)

Thụy Sĩ – Switzerland : Ethnographical Museum, Basel (1969), Music Academy, Basel (1993, 1995).

Yugoslavia : Music Academy, Sarajevo (1991)

Slovenia : Music Academy of the University in Ljubljana (2006, 2011)

Croatia: Institute of Ethnology and Folklore Research in Zagreb (2006)

ĐẠI HỘI LIÊN HOAN VÀ HỘI NGHỊ QUỐC TẾ

Trong vai trò nhạc sĩ , tôi đã trình diễn tại hơn 130 đại hội liên hoan nhạc truyền thống sau đây:

1970 :*Festival International du Son (Nhạc hội quốc tế về âm thanh), Paris, Pháp-France

*Festival of Arts – Chiraz / Persepolis (Nhạc hội về nghệ thuật), Chiraz, Ba Tư-Iran

1971 :*Cinq Journées de Rencontre avec le Groupe de Recherches Musicales (5 ngày gặp gỡ với Nhóm Nghiên cứu nhạc), Paris, Pháp –

 FranceSemaine culturelle indochinoise (Tuần lễ văn hóa Đông Dương), Geneva, Thụy Sĩ (Switzerland)

*Oriental Music Festival (Đại hội liên hoan nhạc đông phương), Berlin, Đức – Germany .

*Festival de Musique d’Ajaccio (Đại hội liên hoan âm nhạc tại Ajaccio), đảo Corsica, Pháp

*15 Jours de Musique Traditionnelle avec le Folkclub Le Bourdon (15 ngày nhạc truyền thống với hội dân nhạc Le Bourdon), Geneva, Thụy sĩ – Switzerland .

1972 :*Pampelune Music Festival (nhạc hội tại Pampluna), Pampluna, Tây ban nha – Spain

*La Geolette d’Or , Knokke le Zoute , Bỉ – Belgium

*Festival of Traditional Music in Vesdun (Nhạc hội nhạc cổ truyền), Vesdun, Pháp-France

*SIGMA 8 : Festival de musique contemporaine (đại hội nhạc truyền thống), Bordeaux, Pháp-France.

1973 :*Festival de musique de Royan (nhạc hội tỉnh Royan), Royan, Pháp – France

*Festival international de Musique Traditionnelle (nhạc hội quốc tế nhạc truyền thống), Le Havre, Pháp – France

*Festival international de Cultures et Jeunesses (Nhạc hội quốc tế về văn hóa và tuổi trẻ), Presles, Pháp – France .

1974 :*Festival de Musiques Traditionnelles (Nhạc hội nhạc cổ truyền), Bezon, Pháp-France

*Festival international de Musique Folk (Nhạc hội quốc tế nhạc dân gian), Colombes, Pháp-France .

*Festival de Musique du Haut Var (Nhạc hội vùng Haut Var), Pháp – France

*Musicultura (Văn hóa âm nhạc), Breukelen, Hà Lan – the Netherlands

1975 :*Trois jours de musique folk (3 ngày dân nhạc), Conflans Sainte Honorine, Pháp – France

*5ème Festival de Musique contemporaine (Nhạc hội nhạc đương đại lần thứ 5), Bourges, Pháp – France .

*La Geolette d’Or, Knokke le Zoute, Bỉ – Belgium

*Festival de Musique de Tradition orale (Nhạc hội truyền thống truyền miệng), Châlon sur Saône, Pháp-France

*Festival international de musique (nhạc hội quốc tế), Olivet , Pháp – France

1976 :*Le Printemps des Peuples Présents (Mùa Xuân của các dân tộc hiện tại), Paris, Pháp-France

*Festival de Musique d’Eté (Nhạc hội hè), Chailles, Pháp-France

*Festival du Marais (Nhạc hội khu Marais), Paris, Pháp-France

*Journées Musicales Internationales (Ngày nhạc quốc tế), Vernou, Pháp – France

*Un mois d’Arts Asiatiques (Một tháng nghệ thuật á châu), Laon, Pháp-France

*Oriental Music Festival (Nhạc hội nhạc Đông phương), Durham, Anh quốc – United Kingdom

*Festival de Musique de l’Asie du Sud-Est (Nhạc hội Đông Nam Á), Laon, Pháp- France

1977 :*Journées Musicales Internationales (Ngày Nhạc quốc tế), Vernou, Pháp-France

*World Music Festival (Nhạc hội nhạc thế giới), Berkeley, Hoa Kỳ -USA

*World Conference of the IFMC (Hội nghị thế giới IFMC), Honolulu, Hawaii, Mỹ – USA

1978 : *Journées Musicales Internationales (Ngày Nhạc quốc tế), Vernou, Pháp-France

*Festival de Musique Traditionnelle, Lugano, Thụy sĩ- Switzerland

*Fête de la Saint Jean (Lễ thánh Jean), Dieppe, Pháp-France

1979 :*Oriental Music Festival (Nhạc hội nhạc Đông phương), Durham, Anh quốc-United Kingdom

*Festival International de Musique Contemporaine (Nhạc hội quốc tế nhạc đương đại), Clichy, Pháp-France

*World Conference of the IFMC (Hội nghị thế giới IFMC), Oslo, Na Uy – Norway

1980 :*Festival d’Automne (Nhạc hội mùa thu), Paris, Pháp-France

*Festival International de Musique traditionnelle (Nhạc hội quốc tế nhạc truyền thống), Sarajevo, Nam tư-Yugoslavia1981 :

*Asian Music Festival (Nhạc hội Á châu), Seoul, Đại Hàn- Republic of Korea*World Conference of the IFMC (Hội nghị thế giới IFMC) , Seoul, Đại Hàn, Korea

1982 :*Chamber Music Festival (Nhạc hội nhạc thính phòng), Kuhmo, Pháp-France

*Polyphonix : Poésie et Musique (Nhạc hội về Thơ và Nhạc), Paris, Pháp-France

1983 :*First World Music Festival (Nhạc hội nhạc thế giới lần thứ nhất), Rio de Janeiro, Ba Tây – Brazi

l*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), New York, Mỹ – USA

1984 :*Polyphonix : Poetry and Music (Nhạc hội về Thơ và Nhạc), New York, Hoa Kỳ -USA

*Folk Music Festival (Nhạc hội dân nhạc) , Kaustinen, Phần Lan-Finland

*New Music Festival (Đại hội nhạc mới), Vitaasarii, Phần Lan-Finland

*Chamber Music Festival (Đại hội nhạc thính phòng), Kuhmo, Phần Lan-Finland

*Festival of World Musical Cultures (Đại hội văn hóa nhạc thế giới), Cape Town, Nam Phi- South Africa

1985 :*First World Festival of Traditional Music (Đại hội thế giới nhạc cổ truyền lần thứ nhất), Belfast, Bắc Ái nhĩ lan – Northern Ireland, United Kingdom

*Festival international de musique(đại hội quốc tế âm nhạc), Langeais, Pháp-France

*Festival estival (đại hội mùa hè), Paris, Pháp-France

1986 :*Festival de Musique des Trois Continents (Đại hội nhạc ba lục địa), Nice, Pháp-France

*Festival de Musique Traditionnelle – Nord/Sud (Đại hội nhạc truyền thống -Bắc/Nam), Paris, Pháp-France

*Festival de Musiques des Immigrants (Đại hội nhạc di dân), Paris, Pháp-France

1987 : *Polyphonix : Poésie et Musique (Đại hội Thơ và Nhạc), Paris, Pháp-France

*Festival de Musique Folk (Đại hội dân nhạc), Ris Orangis, Pháp-France

1988 :*Premières Rencontres d’Expressions Vocales (Cuộc gặp gỡ đầu tiên về Giọng hát), Abbaye de Fontevraud, Pháp-France

*World Music Festival (đại hội nhạc thế giới) , Melbourne, Úc châu – Australia

*People’s Music Festival (đại hội nhạc dân chúng), Milano, Ý-Italy

*Festival de Musique asiatique (đại hội nhạc Á châu), Estampes, Pháp-France

1989 :*Bicentenaire de la Révolution Française (Đại hội nhạc kỷ niệm 200 năm cách mạng Pháp), Paris , Pháp-France

*Festival international de Saint Herblain (đại hội quốc tế âm nhạc tỉnh Saint Herblain), Saint Herblain, Pháp-France

*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Schladming, Áo quốc-Austria

1990 :*Music Festival « Bloomed Sounds, Floating Song »( Đại hội âm nhạc “âm thanh nở, ca khúc trôi”), Osaka, Nhật Bản-Japan

 *First Forum of Pacific and Asian Arts (Đại hội nhạc Á châu và Thái bình dương lần thứ nhất), Kobe, Nhật Bản-Japan

.*Asian Music Festival (Nhạc hội Á châu), Tamba, Nhật Bản-Japan.

*Festival de Musique Traditionnelle (Nhạc hội nhạc cổ truyền), Arzila, Maroc – Morocco

*Berlin Music Festival (Nhạc hội thành phố Berlin), Berlin, Đức – Germany

*Vox Populi (Nhạc hội về Giọng), Bruxelles, Bỉ-Belgium

1991 : *700 ans de Suisse (Nhạc hội 700 năm thành lập xứ Thụy Sĩ), Lausanne, Thụy Sĩ-Switzerland

*Festival de Musique de Saint Denis (Nhạc hội tỉnh Saint Denis), Saint Denis, Pháp-France

*String Music Festival (Nhạc hội đàn dây), Berlin, Đức-Germany

*Voice Festival (Đại hội Giọng), Rotterdam, Hà Lan – the Netherlands

1992 :*4ème Rencontre de Chants Polyphoniques (Gặp gỡ lần thứ 4 Hát Đa âm), Calvi, Corse, Pháp

*Festival autour de la Voix (Đại hội quanh về Giọng), Argenteuil, Pháp-France

*Festival sur l’esprit des Voix (Đại hội về Giọng), Périgueux, Pháp-France

*Festival de Musique de Montréal, (đại nhạc hội kỷ niệm 350 thành lập xứ Canada), Montréal, Canada .

1993 :*Festival de Musique Folk (Đại hội nhạc dân gian), Ris Orangis, Pháp-France

*Voice Festival (Đại hội về Giọng), Volterra, Ý – Italy

*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Berlin, Đức – Germany

1994 :*Festival de Musique Traditionnelle (Đại hội nhạc cổ truyền), Azrilah, Maroc-Morocco

*Festival de Musiques du Monde (Đại hội nhạc thế giới), Nantes, Pháp-France

*First Festival and International Conference of the Pacific / Asian Society for Ethnomusicology (Đại nhạc hội và hội nghị quốc tế lần thứ nhất ), Seoul, Hàn quốc-Korea

1995:*Giving Voice : A Geography of the Voice (Đại hội về Giọng), Cardiff, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom

*2nd International Festival of Throat Singing Khoomei (Đại hội quốc tế lần thứ 2 về Hát đồng song thanh), Kyzyl, Tuva, Nga – Russia

*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Canberra, Úc chậu – Australia

1996:*Voice Festival (Đại hội về giọng), Grosetto, Ý-Italy

*Giving Voice: A Geography of the Voice (Đại hội về Giọng), Cardiff, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom

*4th World Festival of Choral Music (Đại hội thế giới lần thứ 4 về nhạc hợp xướng), Sydney, Úc châu – Australia

*1st World Meeting of Vietnamese Music (Gặp gỡ thế giới lần thứ nhất về nhạc Việt), Minneapolis, Mỹ – USA

1997:*International Festival of Music (Đại nhạc hội quốc tế), Cape Town, Nam Phi – South Africa

*Festival de Musique Folk (Đại hội nhạc dân gian), Ris Orangis, Pháp – France

*Giving Voice : An Archeology of the Voice (Đại hội về Giọng), Aberyswith, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom

*Festival Régional de Musiques Traditionnelles (Đại hội địa phương nhạc cổ truyền), Montpellier, Pháp – France

*World Conference of the ICTM (Hội nghị quốc tế ICTM), Nitra, Slovakia

1998 : *International Festival of Stringed Instruments (Đại hội quốc tế đàn dây), Amsterdam, Hà lan – the Netherlands

*International Festival of Mediterranean Music (Đại hội quốc tế nhạc Địa Trung Hải), Genova, Ý – Italy

*Asian Music Festival in Europe (Đại hội nhạc Á châu ở Âu châu), London, Anh quốc – Great Britain

*Printemps pour la culture vietnamienne (Mùa Xuân cho văn hóa Việt), Paris, Pháp-France

*Festival de la Voix (Đại hội về Giọng), Auch, Pháp-France

*3rd World Jew’s Harp Festival (Đại hội thế giới lần thứ 3 về Đàn Môi), Molln, Áo quốc-Austria

*Bela Bartok Festival of Contemporary Music (Đại hội Bela Bartok nhạc đương đại), Szombathely, Hungari – Hungary

*Asian Music Festival (Đại hội nhạc Á châu), Firenze , Ý-Italy

*International Voice Festival (Đại hội quốc tế về Giọng), Rio de Janeiro, Braxin- Brazil

1999 :*Festival d’Auch (Đại hội về giọng thành phố Auch), Auch , Pháp – France

*Festival international de Musique de Saint Chartier (Đại hội quốc tế nhạc cổ truyền), Saint Chartier, Pháp-France

*Giving Voice : A Divinity of the Voice (Đại hội về Giọng), Aberyswith, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom

*Bela Bartok Festival of Contemporary Music (Đại hội Bela Bartok nhạc đương đại), Szombathely, Hungari – Hungary

*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Hiroshima, Nhật Bản – Japan

2000:*Festival Printemps musical de Pérouges (Nhạc hội mùa xuân tỉnh Pérouges), Pérouges, Pháp-France

*Fête de la Musique (Ngày lễ âm nhạc), Paris, Pháp-France

*International Jew’s harp Festival (Đại hội quốc tế Đàn môi), Moll, Áo quốc-Austria

*Festival of Dances and Folk Music (Đại hội múa và nhạc dân gian), Rudolstadt, Đức – Germany

*Festival de Musiques des 5 continents (Đại hội nhạc 5 châu), Mauléon, Pháp-France

*International Festival of Extreme Voices (Đại hội quốc tế về Giọng), Genova, Ý-Italy

*International Festival of Qin music (Đại hội quốc tế về nhạc đàn tranh), Amsterdam, Hà Lan – the Netherlands

*Festival de Voix d’Hommes (Đại hội Giọng Nam), Bretagne, Pháp – France

*Festival of Traditional Music (Đại hội nhạc cổ truyền), Đài Bắc, Đài loan – Taiwan

2001 :*Colloque de la Voix chantée (Hội nghị về Giọng ), Lyon, Pháp – France

*Festival de Musique Traditionnelle (Đại hội nhạc cổ truyền), Denain, Pháp-France

*City London Music Festival (Đại nhạc hội thành phố London), London, Anh quốc –England

*Fête de la Musique (Lễ âm nhạc), Paris, Pháp – France

*Festival « Performato » (Đại nhạc hội Performato), Rio de Janeiro, Braxin – Brazil

*International Festival of Choral Music (Đại hội quốc tế nhạc hợp xướng), Singapore

*Festival “1000 Facettes de la Voix” (Đại hội 1000 bộ mặt của Giọng), Village du Lac, Pháp-France

*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Rio de Janeiro, Braxin – Brazil

2002 :*International Voice Festival (Đại hội quốc tế về Giọng), Genova , Ý –Italy

*Fête de la Musique (Lễ âm nhạc), Beirut, Liban – Lebanon

*International Congress of Yoga (Hội nghị quốc tế về Yoga), Vogüe, Pháp – France

*6th World Symposium of Choral Music (Đại hội thế giới lần thứ 6 về nhạc hợp xướng), Minneapolis, Mỹ – USA

*4th World Jew’s Harp Festival (Đại hội thế giới lần thứ 4 về Đàn Môi), Raudal, Na Uy- Norway

*International Congress of Polyphony (Hội nghị quốc tế nhạc đa âm), Tbilissi, Georgia

2003*International Music Festival of Telemark (Đại hội quốc tế âm nhạc ở Telemark), Bo, Na Uy – Norway

*Festival de culture vietnamienne (Đại hội văn hóa Việt), Lausanne, Thụy Sĩ – Switzerland

*International Congress of Psychotherapy (Hội nghị quốc tế tâm lý điều trị học), Hanover, Đức – Germany

*International Festival “Voice of the World” (Đại hội quốc tế “Giọng thế giới”, Bologna, Ý- Italy

2004:*World Conference of the ICTM(Hội nghị thế giới ICTM), Fuzhou, Trung quốc – China

*International Festival “Making New Waves” (Đại hội quốc tế nhac đương đại), Budapest, Hungari – Hungary

*International Congress of Musical Acoustics (Hội nghị quốc âm thanh nhạc học), Nara, Nhật Bản – Japan

*International Congress of Acoustics (Hội nghị quốc tế âm thanh học), Kyoto, Nhật Bản – Japan

*International Congress of Yoga (Hội nghị quốc tế về Yoga), Vogüe, Pháp – France

*International Festival of Mediterranean Music (Đại hội quốc tế nhạc Địa Trung Hải), Genova, Ý – Italy

*3ème Festival “Le Rêve de l’Aborigène » (Đại hội nhạc đàn môi, didjeridu và hát đồng song thanh lần thứ 3), Poitiers, Pháp – France

*International Congress of Shamanism (Đại hội quốc tế về đồng bóng), Trường đại học Donau, Krems, Áo quốc – Austria

*Manifestations scientifiques et musicales dans le cadre “Lille, Ville européenne Culturelle

 *2004 (Sinh hoạt khoa học và âm nhạc trong khung cảnh « Lille, thành phố Âu châu văn hóa 2004), Lille, Pháp – France

*International Seminar on Voice (Hội nghị quốc về Giọng), Reading, University of Reading,, Anh quốc – England.

*International Symposium of Sung and Spoken Voice (Hội nghị quốc tế về giọng hát và giọng nói, Stuttgart, Đức – Germany

.2005:*International Festival of Avant Garde Music “Making New Waves” (Đại hội quốc tế ậm nhạc đương đại), Budapest, Hungari – Pháp

*International Festival of Choral Music (Đại hội quốc tế về hát hợp xướng), Erfurt, Đức – Germany.

*International Festival of Choral Music (Đại hội quốc tế về hát hợp xướng), Arnheim, Hà Lan – the Netherlands

*International Festival of Mediterranean Music (Nhạc hội quốc tế nhạc Địa Trung Hải), Genova, Ý-Italy

*Sunplash Festival (Nhạc hội nhạc Reggae), Ý – Italy*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Sheffield, Anh quốc

.*MELA Festival (Đại nhạc hội MELA về nhạc thế giới), Oslo, Na Uy – Norway.

*1st World Festival of Marranzanu (Đại hội thế giới về Đàn môi lần thứ nhất), Cantania, Sicily, Ý – Italy

*International Symposium of Voice (Hội nghị quốc tế về Giọng), Stuttgart, Đức – Germany

*“30 ans d’existence de l’Université en Haute Alsace” (Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập trường đại học Haute Alsace), Mulhouse, Pháp – France

*International Festival of Traditonal Music (Đại hội quốc tế nhạc truyền thống), Limerick, Ái nhĩ lan – Ireland.

2006:*Tết in Seattle (Đại hội âm nhạc Tết tại Seattle), Seattle, Mỹ – USA

*2ème Rencontre sur la parole chantée (Cuộc gặp gỡ thứ nhì về lời hát), Rio de Janeiro, Braxin- Brazil

.*Festival « La Semaine du Son » (Đại hội tuần lễ âm thanh), Châlon sur Saône, Pháp – France

*International Seminar on Ca Trù (hội thảo quốc tế về Ca Trù ), Hà Nội, Việt Nam

*Festival international des Musiques Sacrées (Đại hội quốc tế nhạc tôn giáo), Fribourg, Thụy Sĩ – Switzerland.

*5th International Jew’s Harp Festival (Đại hội quốc tế Đàn môi lần thứ 5), Amsterdam, Hà Lan – the Netherlands

*MELA Festival (Đại hội quốc tế nhạc thế giới), Oslo, Na Uy – Norway

*International Meeting of the ICTM (Hội thảo quốc tế ICTM), Ljubliana, Slovenia

*International Congress of Applied Ethnomusicology (Hội nghị quốc tế về dân tộc nhạc học áp dụng ), Ljubljana, Slovenia

.*International Symposium of Voice (Hội nghị quốc tế về Giọng), Stuttgart, Đức – Germany

*International Meeting “Music as Memory” (Hội thảo quốc tế “Nhạc như là Trí Nhớ), Oslo, Na Uy – Norway.

*The Global Forum on Civilization and Peace (Hội thảo về văn minh và hòa bình), Seoul, Đại Hàn – Republic of Korea.

2007 *“Bilan du film ethnographique” (Đại hội liên hoan phim nghiên cứu), Paris, France (march)

*“Voice Festival / 9th session of the ILV/ CETC”, (đại hội liên hoan về giọng) Buenos Aires, Argentina (march)

*“Symposium on music therapy”, (hội thảo về âm nhạc điều trị học) Sao Paulo, Brazil (april)

*“Bergen International Music OI OI Festival”, (Đại hội liên hoan quốc tế tại Bergen) Bergen, Norway (may-june)

*“Homage to Demetrio Stratos” (Lễ hội kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)

*“39th World conference of the ICTM” (hội nghị quốc tế ICTM), Vienna, Austria (july)

*“PEVOC 7 – International Congress on Voice”, (PEVOC , hội nghị quốc tế về Giọng) Groningen, the Netherlands (august)

*“International Doromb Jew’s Harp Festival” (đại hội liên hoan quốc tế về đàn môi), Hungary (september)

2008 *“A Week of Sound Festival, Lyon”, (Đại hội liên hoan một tuần về âm thanh) France (january)

*“Unesco Congress of World Heritage”(Hội nghị UNESCO về di sản thế giới), Canberra, Australia (February “

*“Giving Voice” (Đại hội liên hoan về Giọng), Aberystwith, New Wales (march)

*“Bergen International Music OI OI Festival”( đại hội liên hoan quốc tế về nhạc tại Bergen) Bergen, Norway (may/june)

*“Homage to Demetrio Stratos” (đại hội nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)

* »A Voix Haute » Festival, (đại hội liên hoan về giọng hát) Bagnères de Bigorre, France (august)

*“MELA music festival” (Đại hội liên hoan quốc tế nhạc dân tộc MELA) , Oslo, Norway (august)

*“International Voice Festival” (Đại hội liên hoan giọng hát quốc tế), Dresden, Germany (september)

2009 *“Voice Festival” (đại hội liên hoan về Giọng), Switzerland (may)

*“Homage to Demetrio Stratos” (đại hội nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)

*“40th World conference of the ICTM” (hội nghị quốc tế ICTM), Durban, South Africa (july)

*“International Congress of Voice Teachers”(hội nghị quốc tế các giáo sư dạy giọng), Paris, France (july)

*“MELA Music Festival” (đại hội liên hoan nhạc dân tộc quốc tế MELA), Oslo, Norway (august)

2010 *“Homage to Demetrio Stratos” (đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)

 *“International of Sound” (đại hội liên hoan âm thanh quốc tế), Saint John’s, Canada (july)

*“ICTM 2 study groups meeting”j hội thảo ICTM về nhạc sắc tộc và dân tộc nhạc học ứng dụng) , Hanoi , Vietnam (july)

*“Vietnamese Guiness Record Ceremony” (Lễ trao giải kỷ lục Việt Nam), Ho Chi Minh city, Vietnam, (december)

2011 *“International Symposium on Don Ca tai tu Nam bo”(hội thảo quốc tế về đờn ca tài tử nam bộ), Ho Chi Minh city (January)

*“International colloquial about 400 years of the birth of Phu Yen city” (hội thảo quốc tế về 400 năm thành phố Phú Yên được sinh ra ), Phu Yên, Vietnam (april)

*“Le Vietnam à Lorient”, (Việt Nam tại tỉnh Lorient , Pháp) Lorient, France (may)

*“World Jew’s Harp Festival” (Đại hội liên hoan đàn môi thế giới )in Yakutsk, Yakutia (june)

*“Homage to Demetrio Stratos”( đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)

*“International Festival of Mediterranean Music” (đại hội liên hoan quốc tế nhạc địa trung hải), Genova, Italy (july)

*“41stWorld Conference ICTM” (hội nghị quốc tế ICTM) in Saint John’s , Canada (july)

*“World Symposium of Choral Music” (hội thảo thế giới nhạc hợp xướng), Puerto Madryn, Argentina (august)

*“Spring Festival of South African Music” (đại hội liên hoan mùa xuân nhạc Nam Phi), Fort Hare, South Africa (september)

 *“International Festival of Humour and Music” (đại hội liên hoan hài hước và nhạc) , Stavanger, Norway (september)

*“Peace Festival” (đại hội liên hoan về hòa bình), Wroclaw, Poland (october)

*“30th International Ethnographical Film Festival” (đại hội liên hoan phim ảnh nghiên cứu quốc tế), Paris, (november)

 *“International Conference of Arirang” (hội nghị quốc tế về bản nhạc dân ca Arirang), Seoul, Korea (December

)2012 *Festival d’Auch (đại hội liên hoan về giọng tại tỉnh Auch), Auch, France (april)

*Festival Music Night (đại hội liên hoan nhạc ban đêm), Munich, Germany (april)

2013 *Festival de la Voix (đại hội liên hoan về giọng) Colombes, France (may)

*42nd ICTM WORLD CONFERENCE (hội nghị quốc tế ICTM) , Shang Hai , China (july)

 *Festival Les Nuits du Monde “Vietnam Style” (đại hội liên hoan Đêm thế giới), Geneva, Switzerland (November)

 *Exhibition VOICE – « Voices of the World » (triển lãm GIỌNG – Giọng của thế giới), City of Sciences, Paris, France (december 2013 – september 2014)

*Congress “Biomedical Signal Processing & Control (Elsevier) devoted to the workshop MAVEBA (hội y khoa về Giọng), Florence, Italy (december)

*World Marranzano Festival (đại hội liên hoan thế giới đàn môi) , Catania, Sicily, Italy (december)

2014 *Festival “Pauses Musicales” (đại hội liên hoan giải lao âm nhạc), Toulouse, France (February)

*“Promenade Vietnam” (Đi dạo Việt Nam), City of Music, Paris, France (march)

*International Conference “Safeguarding & Promotion of Folk Songs in the Contemporary Society” (hội nghị quốc tế về bảo vệ và quảng bá dân ca trong xã hội đương đại), Vinh city, province of Nghệ An, Vietnam (may)

*Ancient Trance Festival – Jew’s harp world festival, (đaị hội liên đàn môi thế giới) Taucha, Germany (august)

*10 Internationale Stuttgarter Stimmtage, (hội thảo quốc tề về goịng) Stuttgart, Germany (october)

 *Opening ceremony of the World Vocal Clinic / Deutsche Stimmklinik (lễ khai mạc về giọng khía cạnh y khoa), Hamburg, Germany (october)

*Festival « Il teatro vivo », (đại hội liên hoan nhà hát linh động) Bergamo, Italy (november)

2015 *Omaggio a Demetrio Stratos (đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone, Italy (june)

*43rdICTM World Conference (hội nghị quốc tế ICTM) , Astana, Kazakhstan (july)

 *Festival of Hát Then Nùng Thái (đại hội liên hoan hát then nùng thái), Việt Bắc , Vietnam (september)

*Convegne, Concerti e master class dedicati al « canto sardo e canto armonico nel mondo » (hội thảo, khóa dạy hát đồng song thanh”, Sorso , Sardinia, Italy (october)

2016 *Festival of Chầu Văn (Vietnamese music of possession ) (đại hội liên hoan chầu văn), Nam Định, Vietnam (january)

*Voice Encounters : Voice Pedagogy, (Cuộc gặp gỡ về giọng – sư phạm giọng) Wroclaw, Poland (april)

*International Meeting A GRAN VOCE (gặp gỡ quốc tế về giọng) , Vicenza , Italy (may)

*Omaggio a Demetrio Stratos 2016 (đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone, Italy (june)

*Ancient Trance Festival , (đại hội liên hoan nhạc dân tộc)Taucha, Germany (August)

*12th international Voice Symposium « BRAIN & VOICE » (hội thảo quốc tế về gịong ), Salzburg , Austria (august)

2017 *44th ICTM World Conference (hội nghị quốc tế ICTM), Limerick, Ireland (july)

*Congress “Voci e Soni “Di Dentro e Di Fuori” (hội nghị về Giọng và Âm thanh), Padova, Italy (october)

 *Congress La Voce Artistica (hội nghị về Giọng nghệ thuật) 2017 XI edìtion, Ravenna, Italy (october)

2018“ Fontefina Festival  (đại hội nhạc dân gian ), Folignano, Italy (july)

2019 *10th Marranzano World Festival (đại hội thế giối đàn môi), Catania, Italy (June)

*45th ICTM World Conference ( hội nghị quốc tế ICTM), Bangkok, Thailand (July)

*29th Festivale Musicale del Mediterraneo (đại hội liên hoan quốc tế nhạc địa trung hải), Genova, Ialy (September)

*Umbria in Voce 5 (đại hội liên hoan về giọng), Gubbio, Italy (November)

2020 * La Voce Harmonica (đại hội liên hoan giọng bồi âm), Gubbio, Italy (February)s

Tôi đã sáng tạo một số kỹ thuật mới cho muỗng được thấy ở Việt Nam vào cuối thập niên 40 (gần 70 năm).Ngoài ra tôi khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh từ năm 1969 và hiện nay được xem như chuyên gia có được nhiều giới nghiên cứu về dân tộc nhạc học, âm thanh học, nhạc đương đại, y học biết tới khắp nơi trên thế giới .

Tôi đã thể nghiệm nhiều loại nhạc với tư cách nhạc sĩ. Tôi đã từng chơi nhạc Free Jazz với nhóm Alain Brunet Quartet), nhạc pop, nhạc điện thanh (electro- acoustical music) qua bài Về Nguồn (soạn chung với Nguyễn Văn Tường được trình bày lần đầu tiên năm 1975 tai Champigny sur Marne, Pháp), nhạc tùy hứng (hợp tác với Arlette Bon vũ sư đương đại năm 1972, với Muriel Jaer, vũ sư đương đại nhiều năm từ 1973 tới 1980, qua bài Shaman với Misha Lobko vào năm 1982, Paris).

Tôi đã cộng tác trình diễn trong các dĩa CD như với Philip Peris (tôi chơi đàn môi và hát đồng song thanh hòa với kèn thổ dân Úc didjeridu năm 1997), với các nhạc sĩ đàn môi qua hai CD về đàn môi năm 1999 và một CD đàn môi với John Wright, Leo Tadagawa và Svein Westad năm 2000. Dĩa VIETNAM / TRAN QUANG HAI & BACH YEN do hãng SM Studio sản xuất tại Paris năm 1983 đã đưọc giải thưỏng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1983, và dĩa LES VOIX DU MONDE do hãng Le Chant Du Monde sản xuất năm 1996 tại Paris cũng được giải thưởng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1996.

Hội Viên các hội nghiên cứu

• Society for Ethnomusicology (Hội Dân tộc nhạc học), Hoa Kỳ, từ 1969

• Asian Music Society (Hội Nhạc Á châu), Hoa Kỳ, từ 1978

• ICTM (Hội đồng quốc tế nhạc truyền thống), Hoa Kỳ, từ 1976(đưọc bầu làm thành viên của ủy ban chấp hành – member of the Executive Board từ 2005-2017)

• Société Internationale de Musicologie (Hôi quốc tế nhạc học), Thụy Sĩ, từ 1977

• International Association of Sound Archives (IASA) (Hội quốc tế âm thang viện), Úc châu từ 1978

• Association of the Foundation of Voice (Hội về Giọng), Hoa Kỳ từ 1997

• Société de Musicologie (Hội nhạc học), Pháp, từ 1980

• Société Francaise d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Pháp) từ 1985 (sáng lập viên)

• CIMCIM (Unesco) từ 1983

• Séminaire Européen d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Âu châu), Thụy Sĩ , từ 1983

.• Association Francaise d’Archives sonores (Hội âm thanh viện Pháp) từ 1979

• Centre d’Etudes de Musique Orientale (Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương), Paris, từ 1962 (giáo sư của trung tâm từ 1970 tới 1975)

• Centre d’Etudes Vietnamiennes (Trung tâm nghiên cứu Việt học), Pháp ,từ 1987

• Association Francaise de Recherche sur l’Asie du Sud-Est (Hội nghiên cứu Đông Nam Á Pháp), Pháp từ 1986.

• Société des Auteurs , Compositeurs et Editeurs de la Musique (SACEM) , Pháp, từ 1980

• International Center of Khoomei (Trung tâm quốc tế Hát đồng song thanh), Kyzyl, Tuva, Nga từ 1995.

• International Jew’s Harp Society (Hội quốc tế Đàn Môi) , Áo quốc, từ 1998 (sáng lập viên)

• Scientific Association of Vietnamese Professionals (Hội khoa học chuyên gia Việt Nam) (hội viên danh dự) , Canada từ 1992.

• Vietnamese Institute for Musicology (Viện Âm nhạc Hà nội), Việt Nam từ 2004, (hội viên danh dự)

• American Biographical Institute and Research Association (ABIRA) , Hoa kỳ, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế)

• International Biographical Association (IBA), Anh quốc, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế)

• Encyclopaedia Universalis Tự điển, Pháp, từ 1985 (cố vấn cho giải thưởng Diderot)

• American Order of Excellency, Hoa Kỳ, từ năm 1998 (sáng lập viên)

• World Wide Library, Hoa Kỳ (thành viên)

.• Vietnamese Public Library of Knowledge (ViPLOK) (founding member of the editorial board), Hoa Kỳ từ 2006.

NHỮNG QUYỂN SÁCH CÓ TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI

Sau đây là những quyển tiểu sử Who’s Who và các quyển sách khác có đăng tiểu sử của tôi :

• Dictionary of International Biography, ấn bản thứ 15, Anh quốc

• Men of Achievement, ấn bản thứ 5, 6, và 7, Anh quốc

• International Who’s Who in Music, từ ấn bản thứ 8 cho tới hiện nay (2020), Anh quốc

• Who’s Who in Europe, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc

• Men and Women in Distinction, ấn bản thứ 1 và 2, Anh quốc

• International Register of Profiles, ấn bản thứ 4 và 5 , Anh quốc .

• International Who’s Who of Intellectuals, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc

• The First Five Hundred, ấn bản thứ nhất, Anh quốc

• Who’s Who in the World, từ ấn bản thứ 5 tới nay (2020), Hoa Kỳ

• 5,000 Personalities in the World, ấn bản thứ nhất, Hoa kỳ

• International Directory of Distinguished Leadership, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ

• International Book of Honor, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ

• Who’s Who in Entertainment, ấn bản thứ 3, Anh quốc

• Who’s who in France, từ ấn bản thứ 29 tới nay (2020), Pháp

• Nouvelle Dictionnaire Européen, từ ấn bản thứ 5 tới ấn bản thứ 9, Bỉ•

Who’s Who in International Art, ấn bản thứ nhất, Thụy Sĩ

• Vẻ Vang Dân Việt – The Pride of the Vietnamese, quyển 1, ấn bản thứ 1 và 2, Hoa Kỳ

• Fils et Filles du Viet Nam , ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ

• Tuyển tập nghệ sĩ (Selection of Artists), quyển 1, Canada

• Guide du Show Business, từ 1986 tới nay (2020), Pháp

• The Europe 500 Leaders for the New Century, Barons Who’s Who, Hoa Kỳ

• QUID, từ 2000 tới (2017) , Pháp

• 500 Great Minds of the Early 21st Century, Bibliotheque World Wide, Hoa Kỳ

• Officiel Planète,từ năm 2000 tới nay (2020), nhà xuất bản IRMA, Pháp

NHỮNG GIẢI THƯỞNG

• 1983 : Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros (Giải thưởng tối cao của Hàn Lâm viện dĩa hát Charles Cros) cho dĩa hát “Viet Nam / Tran Quang Hai & Bach Yen” do hãng SM Studio sản xuất tại Paris, Pháp

• 1986 : Médaille d’Or (Huy chương vàng) của Hàn lâm viện văn hóa Á châu, Paris, Pháp

• 1987 : D.MUS (Hon) (tiến sĩ danh dự) của International University Foundation, Hoa Kỳ

.• 1988 : International Order of Merit của International Biographical Centre, Cambridge, Anh quốc.

• 1989 : Ph.D.(HON) (Tiến sĩ danh dự) của Albert Einstein International Academy Foundation, Hoa Kỳ

• 1990 : Grand Prix du Festival International du Film Anthropologique et Visuel (Giải thưởng tối cao của đại hội quốc tế phim nhân chủng và hình ảnh) cho phim “Le Chant des Harmoniques” (Tiếng hát bồi âm) do tôi là tác giả, diễn viên chánh và viết nhạc cho phim, Parnü, Estonia.

• 1990 : Prix du Meilleur Film Ethnomusicologique (Giải thưỏng phim hay nhất về dân tộc nhạc học) cho phim “Le Chant des Harmoniques” (Tiếng hát bồi âm) do Hàn lâm viện khoa học cấp, Parnü, Estonia

• 1990 : Prix Spécial de la Recherche (Giải thuởng đặc biệt về nghiên cứu) của Đại hội quốc tế điện ảnh khoa học dành cho phim “Le chant des harmoniques” (Tiếng hát bồi âm), Palaiseau, Pháp.

• 1991 : Grand Prix Northern Telecom (Giải thưởng tối cao Northern Telecom) của Đại hội quốc tế Phim khoa học lần thứ nhì của Québec dành cho phim “Le chant des harmoniques” (Tiếng hát bồi âm), Montréal, Canada .

• 1991 : Prix Van Laurens (Giải thưởng Van Laurens) của British Association of the Voice và Ferens Institute của London tặng cho bài tham luận của tôi mang tên là “Discovery of overtone singing” (Khám phá hát đồng song thanh), London, Anh quốc .

• 1991 : Alfred Nobel Medal (Huy chương Alfred Nobel)của Albert Einstein Academy Foundation, Hoa Kỳ

• 1991 : Grand Ambassador (Huy chương Đại sứ lớn) của American Biographical Institute, Hoa kỳ

• 1991 : Men of the Year (Người của Năm 1991) do American Biographical Institute tặng, Hoa kỳ

• 1991 : Men of the Year (Người của Năm 1991) do International Biographical Centre tặng, Cambridge, Anh quốc.

• 1994 : Men of the Year (Người của Năm 1994) do American Biographical Institute tặng , Hoa kỳ

• 1994 : Gold Record of Achievement (Kỷ lục vàng về thành đạt) do American Biographical Institute tặng, Hoa Kỳ

• 1995 : Giải thưởng đặc biệt về hát đồng song thanh tại Đại hội liên hoan hát đồng song thanh, Kyzyl, Tuva, Nga

• 1996 : Médaille de Cristal (Huy chương thủy tinh) do Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học tặng cho 25 năm nghiên cứu hát đồng song thanh, Pháp

• 1997 : Grand Prix du disque de l’Académie Charles Cros (Giải thưởng tối cao của Hàn lâm viện Charles Cros) cho dĩa hát “Voix du Monde » (Giọng Thế giới), Pháp

.• 1997 : Diapason d’Or de l’Année 1997 (Dĩa vàng năm 1997) cho dĩa hát « Voix du Monde », Pháp

• 1997 : CHOC de l’année 1997 (Ấn tượng mạnh nhất trong năm 1997) cho dĩa hát « Voix du Monde », Pháp

• 1998 : Médaille d’Honneur (Huy chương danh dự dành cho công dân danh dự) của thành phố Limeil Brévannes (nơi tôi cư ngụ), Pháp

.• 1998 : Giải thưởng đặc biệt của Đại hội thế giới về Đàn Môi, Molln, Áo quốc

• 2002 : Chevalier de la Légion d’Honneur (Hiệp sĩ Bắc đẩu bội tinh), huy chương tối cao của Pháp, Pháp .

• 2009 : Huy chương lao động hạng đại kim (Médaille du Travail, catégorie Grand Or), bộ lao động Pháp

.• 2015 : Bằng cấp danh dự của Viện Bảo tàng đàn môi, Yakutsk, xứ Yakutia

• 2017 : Huy chương sáng lập viên hội dân tộc nhạc học Pháp, Paris, Pháp

SÁCH DO TRẦN QUANG HẢI VIẾT

• Biên Khảo Nhạc Việt Nam , nhà xuất bản Bắc Đẩu, 362 trang , 1989, Paris, Pháp

• Musiques du Monde (Nhạc thế giới) : với sự hợp tác của Michel Asselineau và Eugène Bérel, nhà xuất bản J-M Fuzeau, 360 trang, 3 CD, 1993, Courlay, Pháp• Musics of the World (Nhạc thế giới) : nhà xuất bản J-M Fuzeau, 360 trang, 3 CD, 1994, Courlay, Pháp . Bản dịch tiếng Đức được xuất bản năm 1996, bản dịch tiếng Tây Ban Nha xuất bản năm 1998.• Musiques et Danses Traditionnelles d’Europe (Nhạc và vũ truyền thống Âu châu) : với sự hợp tác của Michel Asselineau, Eugène Bérel và FAMDT, nhà xuất bản J-M Fuzeau, 380 trang, 2 CD, 1996, Courlay, Pháp

*TRẦN QUANG HẢI : 50 năm nghiên cứu nhạc Việt dân tộc, nhà xuất bản Nhân văn nghệ thuật, California, Hoa Kỳ,  462 trang, 2019

*TRẦN QUANG HẢI : 50 years of research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing, nhà xuất bản Nhân Văn Nghệ thuật, California, Hoa Ky , 414 trang, 2019

.DVD do TRẦN QUANG HẢI biên soạn

• Le Chant Diphonique, (Hát đồng song thanh) 27 phút, với 2 bản (tiếng Pháp và tiếng Anh), nhà xuất bản CRDP của đảo Réunion, 2004. Đồng tác giả: Trần Quang Hải và Luc Souvet

*HAI : parcours d’un musicien vietnamien (HẢI : hành trính của một nhạc sĩ Việt Nam), đạo diễn Pierre Ravach, , phim video 52 phút , máu, Bruxelles, Bỉ, 2005

• Le Chant des Harmoniques (Bài hát bồi âm), 38 phút, bản tiếng Pháp, nhà xuất bản CNRS Audiovisuel, 2005, Meudon, Pháp . Đồng tác giả: Trần Quang Hải và Hugo Zemp• The Song of Harmonics, (Bài hát bồi âm) 38 phút , bản tiếng Anh, nhà xuất bản CNRS Audiovisuel, 2006, Meudon, Pháp. Đồng tác giả : Trần quang Hải và Hugo Zemp

• Thèm’Axe 2 LA VOIX (Giọng), 110 phút, bản tiếng Pháp, nhà xuất bản Lugdivine, Lyon, 2006 . Tác giả : Patrick Kersalé với sự hợp tác của Trần Quang Hải

*Variations sur la musique vietnamienne par Tran Quang Hai & Bach Yen (Những biến thể về nhạc Việt với Trần Quang Hải & Bạch Yến, đạo diễn Bùi Xuân Quang , sản xuất Productions Paris Vietnam, 52 phút,  Paris, 2009

.NHỮNG BIẾN CỐ QUAN TRỌNG TRÊN THẾ GIỚI

Tôi là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên tham gia trình diễn tại những biến cố lịch sử quan trọng trên thế giới

• 1988 : 200 năm thành lập xứ Úc

• 1989 : 200 năm Cách mạng Pháp

• 1991 : 700 năm thành lập xứ Thụy Sĩ

• 1992 : 350 năm thành lập thành phố Montréal, Canada

• 1992 : 500 năm khám phá Mỹ châu của Chritophe Colombus

• 1994 : 600 năm thành lập thủ đô Seoul, Đại Hàn

• 1996 : 50 năm vua Thái Lan trị via

• 2000 : 100 năm thành lập âm thanh viện Berlin, Đức

• 2004 : Genova , thành phố văn hóa Âu châu, Ý

• 2004 : Lille , thành phố văn hóa Âu châu, Pháp

• 2005 : 100 năm xứ Na Uy được độc lập .

Tôi là nhạc sĩ Việt Nam tham gia nhiều nhất Ngày Lễ Âm nhạc do Pháp đề xướng từ lúc đầu tiên vào năm 1982, rồi năm 1984, 1985 , 1987, 1989 tại Paris, rồi năm 1991 tại đảo La Réunion, rồi năm 2000, 2001 tại Paris, năm 2002 tại Beirut (Lebanon)

Tôi là nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đàn nhạc phim của các nhà viết nhạc phim của Pháp như Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, Jean Claude Petit , và trình diễn những nhạc phẩm đương đại của các nhà soạn nhạc như Nguyễn Văn Tường, Bernard Parmegiani, Nicolas Frize, Yves Herwan Chotard.

Tôi là nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đã trình diễn trên 3.500 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 70 quốc gia từ năm 1966, 1.500 buổi cho học sinh các trường học ở Âu Châu, giảng dạy tại hơn 100 trường đại học trên thế giới, tham dự trên 130 đại hội liên hoan âm nhạc quốc tế và có trên 8.000 người theo học hát đồng song thanh .

Liên lạc : TRẦN QUANG HẢI điện thoại di động :+33 (0)6 50 25 73 67

email: tranquanghai@gmail.com

trang nhà : https://tranquanghai.com

https://tranquanghai1944.com

https://tranvankhe-tranquanghai.com

địa chỉ: 12 RUE GUTENBERG , 94450 LIMEIL BREVANNES, FRANCE

TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI : tiếng Việt

Tran Quang Hai

rSeagtptaeisSmbear pSo2n1s,or rn20am1ogtledSdc7  · Shared with Public

Public

Tiểu sử TRẦN QUANG HẢI (Tran Quang Hai’s biography in Vietnamese)

Trần Quang Hải, sinh ngày 13 tháng 5, 1944 tại làng Linh Đông Xã , tỉnh Gia Định, miền Nam nước Việt Nam. Con trai trưởng của GS TS Trần Văn Khê (sinh ngày 24 tháng 7, 1921) và bà Nguyễn Thị Sương, cựu giáo sư Anh văn trường nữ trung học Gia Long (sinh ngày 19 tháng 9, 1921).Trần Quang Hải kết hôn cùng nữ ca sĩ Bạch Yến ngày 17 tháng 6, 1978 tại Paris (Pháp). Bạch Yến nổi tiếng với bài « Đêm Đông » vào năm 1957, và chuyên về nhạc ngoại quốc Tây phương lúc đầu của sự nghiệp cầm ca . Sau khi thành hôn với Trần Quang Hải , Bạch Yến chuyển sang dân ca và cùng phổ biến nhạc dân tộc với chồng khắp thế giới .Trần Quang Hải xuất thân từ một gia đình nhạc sĩ cổ truyền từ nhiều đời và anh là nhạc sĩ đời thứ năm . Ngoài ra anh là dân tộc nhạc học gia (ethnomusicologist – ethnomusicologue) chuyên về nhạc Việt, Á châu và hát đồng song thanh từ năm 1968, thuyết trình viên , nhạc sĩ sáng tác, chuyên gia về sư phạm âm nhạc, và thành viên của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique)Vài dòng về khuôn mặt Trần Quang Hải. Anh đã theo gót cha anh , GS Trần Văn Khê trên đường nghiên cứu dân tộc nhạc học. Anh đã tạo một hướng đi riêng trong địa hạt trình diễn về nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc tùy hứng, nhạc đương đại cũng như phương pháp nghiên cứu thể nghiệm qua hát đồng song thanh .

Gia đình nhạc sĩ cổ truyền

1. Trần Quang Thọ (1830-1890), ông sơ của tôi là quan án sát, theo Phan Thanh Giản sang Pháp để thương thuyết nhưng thất bại , treo ấn từ quan , vào Nam , cư ngụ tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho. Rất giỏi về nhã nhạc Huế .

2. Trần Quang Diệm (1853-1925), ông cố của tôi là người đàn tỳ bà rất hay , được gởi ra thành nội Huế để học nhạc cung đình và chuyên về đàn tỳ bà . Ông đã sáng chế ra cách viết bài bản cho đàn tỳ bà , nhưng tiếc thay là tất cả tài liệu đó bị thất lạc vì chiến tranh .

3. Trần Quang Triều (1897-1931), ông nội của tôi là người đàn kìm rất giỏi, biệt hiệu Bảy Triều trong giới cải lương, đã đặt ra cách lên dây TỐ LAN cho đàn kìm để đàn những bài buồn ai oán. Hiện nay chỉ còn một số rất ít nhạc sĩ cổ nhạc biết đàn dây này (như nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo , GS Trần Văn Khê)

4. Trần Văn Khê (1921 – ), ba của tôi là người đã đưa nhạc cổ truyền Việt Nam lên hàng quốc tế và làm rạng danh nhạc Việt trên thế giới ở địa hạt trình diễn cũng như nghiên cứu . Con trai trưởng trong gia đình có ba người con (ba tôi GS Trần Văn Khê, chú ba tôi là Quái kiệt Trần Văn Trạch, cô tư tôi là Trần Ngọc Sương từng nổi tiếng là ca sĩ tân nhạc vào đầu thập niên 50) , ông đã hăng hái trong phong trào nhạc mới lúc trẻ (cùng thời với nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Phạm Duy) và quay về nhạc cổ khi soạn luận án tiến sĩ tại Pháp . Từng là giáo sư nhạc Đông phưong tại trường đại học Sorbonne (Paris, Pháp), giám đốc nghiên cứu của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (Paris , Pháp), sáng lập viên Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương ở Paris, và từng giữ chức phó chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO . Hưu trí từ năm 1987, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu và đóng góp một vai trò lớn cho hai hồ sơ Nhạc cung đình Huế (được danh hiệu kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2003) và Nhạc Cồng chiêng Tây Nguyên (kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2005). Ông định cư ở Việt Nam sau 55 năm sống ở Pháp, và là cố vấn cho hồ sơ Ca Trù để đệ trình lên UNESCO cho năm 2007 và cho hồ sơ Đờn ca tài tử nam bộ cho năm 2011 dành cho kiệt tác văn hóa phi vật thể. Ngày 24 tháng 6 năm 2015 , ông từ trần tại quận Bình Thạnh, TP HCM, Việt Nam . .

5. Trần Quang Hải (1944 – ) , cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký, sau khi tốt nghiệp âm nhạc viện Saigon với bộ môn vĩ cầm (học với cố GS Đỗ Thế Phiệt), đi sang Pháp năm 1961 và học nhạc học tại trường đại học Sorbonne và dân tộc nhạc học ở trường cao đẳng khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales). Tôi bắt đầu làm việc cho trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) với ê-kíp nghiên cứu tại Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng Con người (Département d’ ethnomusicologie du Musée de l’Homme) từ 1968 cho tới 2009 thì về hưu). Trình diễn trên 3,500 buổi tại 70 quốc gia, tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học, sáng tác nhạc hơn 400 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng , hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng, đương đại . Đã thực hiện 23 dĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết ba quyển sách, làm 4 DVD, 4 phim và hội viên của trên 20 hội nghiên cứu thế giới .Con đường nghiên cứu của tôi nhắm về sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành loại nhạc thế giới (world music), pha trộn nhạc tùy hứng , jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc hoàn toàn mới lạ .SỰ NGHIỆP1. 1955-1961 trường quốc gia âm nhạc Saigon, tốt nghiệp vĩ cầm (lớp GS Đỗ Thế Phiệt)2. 1954-1961 trường trung học Pétrus Ký, Saigon.3. 1963-1970 Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương (CEMO – Centre d’Etudes de Musique Orientale – Center of Studies for Oriental Music, Paris) , học các truyền thống nhạc Ba Tư (Iran), Ấn độ (Inde), Trung Quốc (Chine), Nhật Bổn (Japon), Nam Dương (Indonesie), Đông Nam Á (Asie du Sud-Est), Việt Nam (Vietnam)4. 1963 trường Ecole du Louvre, Paris5. 1965 certificate of proficiency in English (chứng chỉ Anh văn) , University of Cambridge, Anh quốc6. 1965 certificat de littérature française (chứng chỉ văn chương Pháp), Université de Sorbonne, Paris.7. 1967 cao học dân tộc nhạc học trường cao đẳng khoa học xã hội, Paris8. 1969 chứng chỉ âm thanh học (certificat d’acoustique musicale) , Paris9. 1970 văn bằng cao đẳng nhạc Việt trung tâm nghiên cứu nhạc đông phương , Paris10. 1973 tiến sĩ dân tộc nhạc học trường cao đẳng khoa học xà hội, Paris11. 1989 văn bằng quốc gia giáo sư nhạc truyền thống , Paris.Từ năm 1965 tới 1966 theo học lớp nhạc điện thanh (musique électro-acoustique) với GS Pierre Schaeffer, người sáng lập loại nhạc điện tử ở Pháp .Từ năm 1968 tới 2009, tôi làm việc tại Viện dân tộc nhạc học của Viện Bảo Tàng Con Người (Département d’Ethnomusicologie du Musée de l’Homme) ở Paris (Pháp) . Từ năm 1968 tới 1987, tôi làm việc ở Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng nghệ thuật và truyền thống dân gian (Département d’Ethnomusicologie du Musée des Arts et Traditions Populaires) ở Paris (Pháp)Nghiên cứu sư của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS) ở Paris từ năm 1968. Từng là thành viên của nhiều ê-kíp nghiên cứu (RCP 178 – Recherche coopérative sur programme từ 1968 tới 1973 ; ER 65 – Equipe de recherche từ 1974 tới 1981 ; Laboratoire Associé từ 1974 tới 1987 ; UPR 165 – Unité Propre de Recherche từ 1982 tới 1985 ; UMR 9957 – Unité Mixte de Recherche từ 1986 tới 1997 ; UMR 8574 – Unité Mixte de Recherche từ 1997 tới 2004 ; UMR 7173 – Unité Mixte de Recherche từ 2005 trở đi)Từ 1970 tới 1975 : giáo sư đàn tranh của Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương , ParisTrong suốt thời gian 55năm hành nghề nhạc sĩ chuyên nghiệp (1962 -2017) tôi đã trình diễn trên 3.500 buổi cho khán giả Tây phương , và trên 1.500 buổi diễn cho học trò trên thế giới do các cơ quan chính thức của Na Uy (Rikskonsertene), Bỉ (Jeunesses Musicales de Belgique), Thụy Sĩ (Jeunesses Musicales Suisses), Pháp (Jeunesses Musicales de France, Association départementale pour diffusion et initiation musicale – ADDIM).

Từ 1971 tôi đã làm 15 dĩa 30cm / 33 vòng và 8 CD về nhạc cổ truyền Việt Nam , đặc biệt là về đàn tranh. Nhiều sáng tác đã đưọc thu vào dĩa và được đăng trong các quyển tự điển Who’s Who in Music (từ năm 1987) , Who’s Who in the World (từ năm 1981 ), và Who’s Who in France (từ năm 1997).Về sáng tác nhạc, tôi có viết 12 ca khúc nhi đồng với sự cộng tác của nhà văn Duyên Anh năm 1984. Tôi đã sáng tác trên 400 nhạc phẩm đủ loại với ca khúc viết tiếng Việt, Pháp, Anh và nhạc cho đàn tranh, đàn bầu, muỗng, đàn môi và hát đồng song thanh . Ngoài ra còn viết nhạc cho phim « Long Vân Khánh Hội »của Lê Lâm vào năm 1980, phim « Le Chant des Harmoniques » (Bài ca bồi âm) vào năm 1989, và cho phim « La Rencontre du Coq et du Dragon » (Cuộc hội ngộ giữa Gà và Rồng) vào năm 1998 .Với tư cách nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học, tôi đã viết nhiều bài cho các tập san nghiên cứu nhạc học như « The World of Music » (UNESCO), « Journal of Asian Music Society (Cornell University, Hoa Kỳ), « Yearbook of the International Council for Traditional Music –ICTM, Hoa Kỳ), « Cahiers de Musiques Traditionnelles » (Thụy Sĩ ), « Koukin Journal » (Tokyo, Nhật Bản). Tôi có viết một bài về nhạc Cao miên cho New Grove Dictionary of Music and Musicians, ấn bản lần thứ 1 (1980) (20 quyển, London, Anh quốc), định nghĩa vài nhạc cụ Việt Nam cho New Grove Dictionary of Music, ấn bản lần thứ nhì (2001) (29 quyển, London, Anh quốc), định nghĩa cho trên 200 từ nhạc cụ của Việt Nam, và Đông Nam Á cho New Grove Dictionary of Musical Instruments, ấn bản lần thứ nhứt (1984) (3 quyển, London, Anh quốc)Tôi viết lịch sử nhạc Việt Nam, Lào, Cao Miên và Thái Lan cho quyển tự điển Algemeine Muziekencyclopedia (1082-1984, Hòa Lan), và nhiều bài cho tự điển Encyclopaedia Universalis (1984, 1986, 1988 , 1990, 1991, Paris)

Tôi đã làm 4 DVD về giọng và hát đồng song thanh : « Le Chant diphonique » với CRDP (trung tâm địa phương tài liệu sư phạm và Hàn lâm viên La Réunion, 2004), « Le chant des Harmoniques » (CNRS – Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học, 2005), « La Voix » với nhà xuất bản Lugdivine (2006, Lyon, Pháp), và « The Song of Harmonics » với CNRS, Paris, 2006.Ngoài ra nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học cũng là đạo diễn Pháp Patrick Kersalé đã thực hiện hai chương trình video « Mystères des Voix du Monde » (Sự huyền bí của các gịong thế giới) (2012), và « Le Chant des Harmoniques » (Bài ca bồi âm) (2013) với tôi là nhân vật chính của hai video này .

Giảng dạy ở các trường đại học , viện bảo tàng và trung tâm nghiên cứu trên thế giớiTôi đã từng được mời dạy và thuyết trình tại nhiều trường đại học, trung tâm nghiên cứu và viện bảo tàng ở khắp năm châu :

Mỹ : University of Hawaii (1977), University of Berkeley (1977), University of Maryland (1980), Columbia University (1983), Museum of Modern Art (MOMA ở New York, 1984), University of California, San Diego (UCSD, 1990), Cornell University (1994), Thomas University (Minneapolis, 1996), Foundation of the Voice, Philadelphia (1997), Wisconsin University, Madison (1998), George Mason University (2000).

CANADA : Université de Montréal (1991), York University, Toronto (1994), University of Toronto (1994), Royal Museum of Ontario, Toronto (1994),.Saint John’s University, Saint John’s, Canada (2011)

BRAZIL : Âm nhạc viện, Rio de Janeiro (1983), University of Rio de Janeiro (1998, 2006), University of Recife (1998), Faculty of Music , Rio de Janeiro (2006)

Nam Phi : University of Cape Town (1984, 1997), Stellenbosch University, Cape Town (1984), University of Fort Hare, Fort Hare (2011)

Úc Châu : Monash University, Melbourne (1986), Sydney University, Sydney (1986), Western Australian University, Perth (1986), College of Advanced Education, Melbourne (1988), University of Canberra (1995)

Đại Hàn : National Seoul University (1981), National Institute of Performing Arts, Seoul (1994), Academy of Korean Studies, Seoul (2006)

Nhật Bản : Royal Academy of Music (1981), University of Hiroshima, Hiroshima (1999), Osaka University of Fine Arts , Osaka (2000).

Đài Loan : University of Taiwan, Taipei (2000), National Center of the Arts , Taipei (2000, 2002)

Thái Lan : University of Mahasarakham (1986), Chulalongkorn University, Bangkok (2012)

Việt Nam : Viện âm nhạc Hà nội, Hà nội (2002, 2006, 2017 ), Trung tâm văn hóa Pháp, Hà Nội (2006), Âm nhạc viện thành phố HCM (2006), Học Viện Âm nhạc quốc gia, Hà nội (2017)Lebanon : CLAC (Centre de lecture et d’animation culturelle – trung tâm văn hóa), ở các tỉnh Barja, Mansoura, Kfar Debyan, Amioun (2002)Đức : Volkekunde Museum, Berlin (1985), Musik Hochschule , Detmold (1994), Institute of Psychotherapy, Heidelberg (1997), Musik Hochschule, Stuttgart (2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006,2013 ), Musik Hochschule, Hanover (2003), Aachen Universitet, Aachen (2003), Erfurt University (2004)Belarus : Music Academy of Belarus, Minsk (1996)Bỉ : Institute of Musicology , Louvain (1976), Royal Museum of Central Africa, Tervuren (1976), Royal Instrumental Museum, Brussels (1980, 2001), University of Anwerpen (1981), Institute of Living Voice , Anverpen (2001), Royal Museum of Mariemont, Mariemont (2002), Conservatory of Music, Mons (2006)Đan Mạch : Musikhistoriska Museum, Copenhagen (1972), Institute of Danish Folk Archive, Copenhagen (1972), Odin Teatret (Laboratorium of NordicTheatrical Researches), Holstebro (1998), Laboratory of theatrical experimental researches Cantabile 2, Wordingborg (2000).Tây Ban Nha : Summer University, Madrid (1990)Pháp : Paris : Université de Paris X-Nanterre (1985-92), Université de Paris VIII –Saint Denis (1991, 1993), Université de Paris IV-Sorbonne (1989), Centre d’Etudes de Musique Orientale (1970-1975), Ecole Nationale des Langues Orientales Vivantes – ENLOV (1991, 2006), Laboratoire d’Acoustique Musicale (1971, 1974), IUFM, Université de Cergy (1996, 1997, 1998, 1999, 2001)Nice : Université de Nice (1990), Musée des Arts Asiatiques (1999, 2000, 2003)Tours : Université de Tours (1975)Montpellier : Université de Montpellier 3 (1996, 1997, 1998, 1999, 2000, 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006)Toulouse : Université de Toulouse (1985, 1991, 1995, 1997)Marseille : Conservatoire National de Musique (1987)Strasbourg : Conservatoire National Régional – CNR (1995, 1997, 1998)Mulhouse : Ecole Doctorale (2000), Université de la Haute Alsace (2005)Rennes : Conservatoire de Musique (1980), Université de Rennes (1999, 2000, 2001, 2004), IFMI de Rennes (2005)Poitiers : Université de Poitiers (2000)Bordeaux : Université de Bordeaux 2 Victor Segalen (2001)Lille : Université de Lille (2004)Vương quốc Anh : Horniman Museum , London (1972), University of Durham (1985), University of London (1991), City University, London (1992), SOAS – School of Oriental and African Studies, London (1998), University of Reading, Reading (2004, 2005) Queen’s University, Belfast (1984),Ái nhĩ lan : University of Limerick, Limerick (2004, 2005, 2017), University of Cork, Cork (2005), Ý đại lợi – Italy: Institute of Musicology, Bologna (1979), University of Bologna (2000, 2003), Foundazione San Georgio Cini , Istituto Interculturale di Studi Musicali Comparati (1979, 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006), Santa Cecilia Nazionale Academia, Roma (1994), University of Roma (1994), Institute of Musicology and Linguistics, Venezia (1996), Teatro La Fenice , Venezia ( 1995, 1996, 1997), Academy of Music, Sienna (1999), Institute of Musictherapy, Padova (2001, 2016).Lituania : Music Academy of Lituana, , Vilnius (1997) Na Uy – Norway : Institute of Musicology, Trondheim (1976, 1980, 1981), University of Oslo (1979), Music Academy Grieg, Bergen (2004), Conversatory of Music, Oslo (2005, 2006)Hà Lan – Holland : Jaap Kunst Centrum, Amsterdam (1974), Gemeente Museum, Den Haag (1980), Tropen Museum, Amsterdam (1992, 1998), University of Leiden , Leiden (2000), University of Groningen , Groningen (1998)Ba Lan – Poland : Summer University, Warsaw (1997), University of Wroclaw (2013, 2016)Nga – Russia : Âm nhạc viện Chaikowsky , Moscova (1993), Institute of World Music Research , Moscova (1993, 2012), International Centre of Khoomei, Kyzyl, Tuva (1995)Slovakia : Music Academy, Nitra (1997)Thụy Điển – Sweden : Lund University , Lund (1976), Stockholm University, Stockholm (1976), Music Museet , Stockholm (1981), Royal Music Academy, Stockholm (1985)Thụy Sĩ – Switzerland : Ethnographical Museum, Basel (1969), Music Academy, Basel (1993, 1995).Yugoslavia : Music Academy, Sarajevo (1991)Slovenia : Music Academy of the University in Ljubljana (2006, 2011)Croatia: Institute of Ethnology and Folklore Research in Zagreb (2006)ĐẠI HỘI LIÊN HOAN VÀ HỘI NGHỊ QUỐC TẾTrong vai trò nhạc sĩ , tôi đã trình diễn tại hơn 130 đại hội liên hoan nhạc truyền thống sau đây:1970 :*Festival International du Son (Nhạc hội quốc tế về âm thanh), Paris, Pháp-France*Festival of Arts – Chiraz / Persepolis (Nhạc hội về nghệ thuật), Chiraz, Ba Tư-Iran1971 :*Cinq Journées de Rencontre avec le Groupe de Recherches Musicales (5 ngày gặp gỡ với Nhóm Nghiên cứu nhạc), Paris, Pháp – FranceSemaine culturelle indochinoise (Tuần lễ văn hóa Đông Dương), Geneva, Thụy Sĩ (Switzerland)*Oriental Music Festival (Đại hội liên hoan nhạc đông phương), Berlin, Đức – Germany .*Festival de Musique d’Ajaccio (Đại hội liên hoan âm nhạc tại Ajaccio), đảo Corsica, Pháp*15 Jours de Musique Traditionnelle avec le Folkclub Le Bourdon (15 ngày nhạc truyền thống với hội dân nhạc Le Bourdon), Geneva, Thụy sĩ – Switzerland .1972 :*Pampelune Music Festival (nhạc hội tại Pampluna), Pampluna, Tây ban nha – Spain*La Geolette d’Or , Knokke le Zoute , Bỉ – Belgium*Festival of Traditional Music in Vesdun (Nhạc hội nhạc cổ truyền), Vesdun, Pháp-France*SIGMA 8 : Festival de musique contemporaine (đại hội nhạc truyền thống), Bordeaux, Pháp-France.1973 :*Festival de musique de Royan (nhạc hội tỉnh Royan), Royan, Pháp – France*Festival international de Musique Traditionnelle (nhạc hội quốc tế nhạc truyền thống), Le Havre, Pháp – France*Festival international de Cultures et Jeunesses (Nhạc hội quốc tế về văn hóa và tuổi trẻ), Presles, Pháp – France .1974 :*Festival de Musiques Traditionnelles (Nhạc hội nhạc cổ truyền), Bezon, Pháp-France*Festival international de Musique Folk (Nhạc hội quốc tế nhạc dân gian), Colombes, Pháp-France .*Festival de Musique du Haut Var (Nhạc hội vùng Haut Var), Pháp – France*Musicultura (Văn hóa âm nhạc), Breukelen, Hà Lan – the Netherlands1975 :*Trois jours de musique folk (3 ngày dân nhạc), Conflans Sainte Honorine, Pháp – France*5ème Festival de Musique contemporaine (Nhạc hội nhạc đương đại lần thứ 5), Bourges, Pháp – France .*La Geolette d’Or, Knokke le Zoute, Bỉ – Belgium*Festival de Musique de Tradition orale (Nhạc hội truyền thống truyền miệng), Châlon sur Saône, Pháp-France*Festival international de musique (nhạc hội quốc tế), Olivet , Pháp – France1976 :*Le Printemps des Peuples Présents (Mùa Xuân của các dân tộc hiện tại), Paris, Pháp-France*Festival de Musique d’Eté (Nhạc hội hè), Chailles, Pháp-France*Festival du Marais (Nhạc hội khu Marais), Paris, Pháp-France*Journées Musicales Internationales (Ngày nhạc quốc tế), Vernou, Pháp – France*Un mois d’Arts Asiatiques (Một tháng nghệ thuật á châu), Laon, Pháp-France*Oriental Music Festival (Nhạc hội nhạc Đông phương), Durham, Anh quốc – United Kingdom*Festival de Musique de l’Asie du Sud-Est (Nhạc hội Đông Nam Á), Laon, Pháp- France1977 :*Journées Musicales Internationales (Ngày Nhạc quốc tế), Vernou, Pháp-France*World Music Festival (Nhạc hội nhạc thế giới), Berkeley, Hoa Kỳ -USA*World Conference of the IFMC (Hội nghị thế giới IFMC), Honolulu, Hawaii, Mỹ – USA1978 : *Journées Musicales Internationales (Ngày Nhạc quốc tế), Vernou, Pháp-France*Festival de Musique Traditionnelle, Lugano, Thụy sĩ- Switzerland*Fête de la Saint Jean (Lễ thánh Jean), Dieppe, Pháp-France 1979 :*Oriental Music Festival (Nhạc hội nhạc Đông phương), Durham, Anh quốc-United Kingdom*Festival International de Musique Contemporaine (Nhạc hội quốc tế nhạc đương đại), Clichy, Pháp-France*World Conference of the IFMC (Hội nghị thế giới IFMC), Oslo, Na Uy – Norway1980 :*Festival d’Automne (Nhạc hội mùa thu), Paris, Pháp-France*Festival International de Musique traditionnelle (Nhạc hội quốc tế nhạc truyền thống), Sarajevo, Nam tư-Yugoslavia1981 :*Asian Music Festival (Nhạc hội Á châu), Seoul, Đại Hàn- Republic of Korea*World Conference of the IFMC (Hội nghị thế giới IFMC) , Seoul, Đại Hàn, Korea1982 :*Chamber Music Festival (Nhạc hội nhạc thính phòng), Kuhmo, Pháp-France*Polyphonix : Poésie et Musique (Nhạc hội về Thơ và Nhạc), Paris, Pháp-France1983 :*First World Music Festival (Nhạc hội nhạc thế giới lần thứ nhất), Rio de Janeiro, Ba Tây – Brazil*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), New York, Mỹ – USA1984 :*Polyphonix : Poetry and Music (Nhạc hội về Thơ và Nhạc), New York, Hoa Kỳ -USA*Folk Music Festival (Nhạc hội dân nhạc) , Kaustinen, Phần Lan-Finland*New Music Festival (Đại hội nhạc mới), Vitaasarii, Phần Lan-Finland*Chamber Music Festival (Đại hội nhạc thính phòng), Kuhmo, Phần Lan-Finland*Festival of World Musical Cultures (Đại hội văn hóa nhạc thế giới), Cape Town, Nam Phi- South Africa1985 :*First World Festival of Traditional Music (Đại hội thế giới nhạc cổ truyền lần thứ nhất), Belfast, Bắc Ái nhĩ lan – Northern Ireland, United Kingdom*Festival international de musique(đại hội quốc tế âm nhạc), Langeais, Pháp-France*Festival estival (đại hội mùa hè), Paris, Pháp-France1986 :*Festival de Musique des Trois Continents (Đại hội nhạc ba lục địa), Nice, Pháp-France*Festival de Musique Traditionnelle – Nord/Sud (Đại hội nhạc truyền thống -Bắc/Nam), Paris, Pháp-France*Festival de Musiques des Immigrants (Đại hội nhạc di dân), Paris, Pháp-France1987 : *Polyphonix : Poésie et Musique (Đại hội Thơ và Nhạc), Paris, Pháp-France*Festival de Musique Folk (Đại hội dân nhạc), Ris Orangis, Pháp-France1988 :*Premières Rencontres d’Expressions Vocales (Cuộc gặp gỡ đầu tiên về Giọng hát), Abbaye de Fontevraud, Pháp-France*World Music Festival (đại hội nhạc thế giới) , Melbourne, Úc châu – Australia*People’s Music Festival (đại hội nhạc dân chúng), Milano, Ý-Italy*Festival de Musique asiatique (đại hội nhạc Á châu), Estampes, Pháp-France1989 :*Bicentenaire de la Révolution Française (Đại hội nhạc kỷ niệm 200 năm cách mạng Pháp), Paris , Pháp-France*Festival international de Saint Herblain (đại hội quốc tế âm nhạc tỉnh Saint Herblain), Saint Herblain, Pháp-France*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Schladming, Áo quốc-Austria1990 :*Music Festival « Bloomed Sounds, Floating Song »( Đại hội âm nhạc “âm thanh nở, ca khúc trôi”), Osaka, Nhật Bản-Japan *First Forum of Pacific and Asian Arts (Đại hội nhạc Á châu và Thái bình dương lần thứ nhất), Kobe, Nhật Bản-Japan .*Asian Music Festival (Nhạc hội Á châu), Tamba, Nhật Bản-Japan.*Festival de Musique Traditionnelle (Nhạc hội nhạc cổ truyền), Arzila, Maroc – Morocco*Berlin Music Festival (Nhạc hội thành phố Berlin), Berlin, Đức – Germany*Vox Populi (Nhạc hội về Giọng), Bruxelles, Bỉ-Belgium1991 : *700 ans de Suisse (Nhạc hội 700 năm thành lập xứ Thụy Sĩ), Lausanne, Thụy Sĩ-Switzerland*Festival de Musique de Saint Denis (Nhạc hội tỉnh Saint Denis), Saint Denis, Pháp-France*String Music Festival (Nhạc hội đàn dây), Berlin, Đức-Germany*Voice Festival (Đại hội Giọng), Rotterdam, Hà Lan – the Netherlands1992 :*4ème Rencontre de Chants Polyphoniques (Gặp gỡ lần thứ 4 Hát Đa âm), Calvi, Corse, Pháp*Festival autour de la Voix (Đại hội quanh về Giọng), Argenteuil, Pháp-France*Festival sur l’esprit des Voix (Đại hội về Giọng), Périgueux, Pháp-France*Festival de Musique de Montréal, (đại nhạc hội kỷ niệm 350 thành lập xứ Canada), Montréal, Canada .1993 :*Festival de Musique Folk (Đại hội nhạc dân gian), Ris Orangis, Pháp-France*Voice Festival (Đại hội về Giọng), Volterra, Ý – Italy*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Berlin, Đức – Germany1994 :*Festival de Musique Traditionnelle (Đại hội nhạc cổ truyền), Azrilah, Maroc-Morocco*Festival de Musiques du Monde (Đại hội nhạc thế giới), Nantes, Pháp-France*First Festival and International Conference of the Pacific / Asian Society for Ethnomusicology (Đại nhạc hội và hội nghị quốc tế lần thứ nhất ), Seoul, Hàn quốc-Korea1995:*Giving Voice : A Geography of the Voice (Đại hội về Giọng), Cardiff, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom*2nd International Festival of Throat Singing Khoomei (Đại hội quốc tế lần thứ 2 về Hát đồng song thanh), Kyzyl, Tuva, Nga – Russia*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Canberra, Úc chậu – Australia1996:*Voice Festival (Đại hội về giọng), Grosetto, Ý-Italy*Giving Voice: A Geography of the Voice (Đại hội về Giọng), Cardiff, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom*4th World Festival of Choral Music (Đại hội thế giới lần thứ 4 về nhạc hợp xướng), Sydney, Úc châu – Australia*1st World Meeting of Vietnamese Music (Gặp gỡ thế giới lần thứ nhất về nhạc Việt), Minneapolis, Mỹ – USA1997:*International Festival of Music (Đại nhạc hội quốc tế), Cape Town, Nam Phi – South Africa*Festival de Musique Folk (Đại hội nhạc dân gian), Ris Orangis, Pháp – France*Giving Voice : An Archeology of the Voice (Đại hội về Giọng), Aberyswith, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom*Festival Régional de Musiques Traditionnelles (Đại hội địa phương nhạc cổ truyền), Montpellier, Pháp – France*World Conference of the ICTM (Hội nghị quốc tế ICTM), Nitra, Slovakia1998 : *International Festival of Stringed Instruments (Đại hội quốc tế đàn dây), Amsterdam, Hà lan – the Netherlands*International Festival of Mediterranean Music (Đại hội quốc tế nhạc Địa Trung Hải), Genova, Ý – Italy*Asian Music Festival in Europe (Đại hội nhạc Á châu ở Âu châu), London, Anh quốc – Great Britain*Printemps pour la culture vietnamienne (Mùa Xuân cho văn hóa Việt), Paris, Pháp-France*Festival de la Voix (Đại hội về Giọng), Auch, Pháp-France*3rd World Jew’s Harp Festival (Đại hội thế giới lần thứ 3 về Đàn Môi), Molln, Áo quốc-Austria*Bela Bartok Festival of Contemporary Music (Đại hội Bela Bartok nhạc đương đại), Szombathely, Hungari – Hungary*Asian Music Festival (Đại hội nhạc Á châu), Firenze , Ý-Italy*International Voice Festival (Đại hội quốc tế về Giọng), Rio de Janeiro, Braxin- Brazil1999 :*Festival d’Auch (Đại hội về giọng thành phố Auch), Auch , Pháp – France*Festival international de Musique de Saint Chartier (Đại hội quốc tế nhạc cổ truyền), Saint Chartier, Pháp-France*Giving Voice : A Divinity of the Voice (Đại hội về Giọng), Aberyswith, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom*Bela Bartok Festival of Contemporary Music (Đại hội Bela Bartok nhạc đương đại), Szombathely, Hungari – Hungary*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Hiroshima, Nhật Bản – Japan2000:*Festival Printemps musical de Pérouges (Nhạc hội mùa xuân tỉnh Pérouges), Pérouges, Pháp-France*Fête de la Musique (Ngày lễ âm nhạc), Paris, Pháp-France*International Jew’s harp Festival (Đại hội quốc tế Đàn môi), Moll, Áo quốc-Austria*Festival of Dances and Folk Music (Đại hội múa và nhạc dân gian), Rudolstadt, Đức – Germany*Festival de Musiques des 5 continents (Đại hội nhạc 5 châu), Mauléon, Pháp-France*International Festival of Extreme Voices (Đại hội quốc tế về Giọng), Genova, Ý-Italy*International Festival of Qin music (Đại hội quốc tế về nhạc đàn tranh), Amsterdam, Hà Lan – the Netherlands*Festival de Voix d’Hommes (Đại hội Giọng Nam), Bretagne, Pháp – France*Festival of Traditional Music (Đại hội nhạc cổ truyền), Đài Bắc, Đài loan – Taiwan2001 :*Colloque de la Voix chantée (Hội nghị về Giọng ), Lyon, Pháp – France*Festival de Musique Traditionnelle (Đại hội nhạc cổ truyền), Denain, Pháp-France*City London Music Festival (Đại nhạc hội thành phố London), London, Anh quốc –England*Fête de la Musique (Lễ âm nhạc), Paris, Pháp – France*Festival « Performato » (Đại nhạc hội Performato), Rio de Janeiro, Braxin – Brazil*International Festival of Choral Music (Đại hội quốc tế nhạc hợp xướng), Singapore*Festival “1000 Facettes de la Voix” (Đại hội 1000 bộ mặt của Giọng), Village du Lac, Pháp-France*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Rio de Janeiro, Braxin – Brazil2002 :*International Voice Festival (Đại hội quốc tế về Giọng), Genova , Ý –Italy*Fête de la Musique (Lễ âm nhạc), Beirut, Liban – Lebanon*International Congress of Yoga (Hội nghị quốc tế về Yoga), Vogüe, Pháp – France*6th World Symposium of Choral Music (Đại hội thế giới lần thứ 6 về nhạc hợp xướng), Minneapolis, Mỹ – USA*4th World Jew’s Harp Festival (Đại hội thế giới lần thứ 4 về Đàn Môi), Raudal, Na Uy- Norway*International Congress of Polyphony (Hội nghị quốc tế nhạc đa âm), Tbilissi, Georgia2003*International Music Festival of Telemark (Đại hội quốc tế âm nhạc ở Telemark), Bo, Na Uy – Norway*Festival de culture vietnamienne (Đại hội văn hóa Việt), Lausanne, Thụy Sĩ – Switzerland*International Congress of Psychotherapy (Hội nghị quốc tế tâm lý điều trị học), Hanover, Đức – Germany*International Festival “Voice of the World” (Đại hội quốc tế “Giọng thế giới”, Bologna, Ý- Italy2004:*World Conference of the ICTM(Hội nghị thế giới ICTM), Fuzhou, Trung quốc – China*International Festival “Making New Waves” (Đại hội quốc tế nhac đương đại), Budapest, Hungari – Hungary*International Congress of Musical Acoustics (Hội nghị quốc âm thanh nhạc học), Nara, Nhật Bản – Japan*International Congress of Acoustics (Hội nghị quốc tế âm thanh học), Kyoto, Nhật Bản – Japan*International Congress of Yoga (Hội nghị quốc tế về Yoga), Vogüe, Pháp – France*International Festival of Mediterranean Music (Đại hội quốc tế nhạc Địa Trung Hải), Genova, Ý – Italy*3ème Festival “Le Rêve de l’Aborigène » (Đại hội nhạc đàn môi, didjeridu và hát đồng song thanh lần thứ 3), Poitiers, Pháp – France*International Congress of Shamanism (Đại hội quốc tế về đồng bóng), Trường đại học Donau, Krems, Áo quốc – Austria*Manifestations scientifiques et musicales dans le cadre “Lille, Ville européenne culturelle *2004 (Sinh hoạt khoa học và âm nhạc trong khung cảnh « Lille, thành phố Âu châu văn hóa 2004), Lille, Pháp – France*International Seminar on Voice (Hội nghị quốc về Giọng), Reading, University of Reading,, Anh quốc – England.*International Symposium of Sung and Spoken Voice (Hội nghị quốc tế về giọng hát và giọng nói, Stuttgart, Đức – Germany.2005:*International Festival of Avant Garde Music “Making New Waves” (Đại hội quốc tế ậm nhạc đương đại), Budapest, Hungari – Pháp*International Festival of Choral Music (Đại hội quốc tế về hát hợp xướng), Erfurt, Đức – Germany.*International Festival of Choral Music (Đại hội quốc tế về hát hợp xướng), Arnheim, Hà Lan – the Netherlands*International Festival of Mediterranean Music (Nhạc hội quốc tế nhạc Địa Trung Hải), Genova, Ý-Italy*Sunplash Festival (Nhạc hội nhạc Reggae), Ý – Italy*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Sheffield, Anh quốc.*MELA Festival (Đại nhạc hội MELA về nhạc thế giới), Oslo, Na Uy – Norway.*1st World Festival of Marranzanu (Đại hội thế giới về Đàn môi lần thứ nhất), Cantania, Sicily, Ý – Italy*International Symposium of Voice (Hội nghị quốc tế về Giọng), Stuttgart, Đức – Germany*“30 ans d’existence de l’Université en Haute Alsace” (Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập trường đại học Haute Alsace), Mulhouse, Pháp – France*International Festival of Traditonal Music (Đại hội quốc tế nhạc truyền thống), Limerick, Ái nhĩ lan – Ireland.2006:*Tết in Seattle (Đại hội âm nhạc Tết tại Seattle), Seattle, Mỹ – USA*2ème Rencontre sur la parole chantée (Cuộc gặp gỡ thứ nhì về lời hát), Rio de Janeiro, Braxin- Brazil .*Festival « La Semaine du Son » (Đại hội tuần lễ âm thanh), Châlon sur Saône, Pháp – France*International Seminar on Ca Trù (hội thảo quốc tế về Ca Trù ), Hà Nội, Việt Nam*Festival international des Musiques Sacrées (Đại hội quốc tế nhạc tôn giáo), Fribourg, Thụy Sĩ – Switzerland.*5th International Jew’s Harp Festival (Đại hội quốc tế Đàn môi lần thứ 5), Amsterdam, Hà Lan – the Netherlands*MELA Festival (Đại hội quốc tế nhạc thế giới), Oslo, Na Uy – Norway*International Meeting of the ICTM (Hội thảo quốc tế ICTM), Ljubliana, Slovenia*International Congress of Applied Ethnomusicology (Hội nghị quốc tế về dân tộc nhạc học áp dụng ), Ljubljana, Slovenia.*International Symposium of Voice (Hội nghị quốc tế về Giọng), Stuttgart, Đức – Germany*International Meeting “Music as Memory” (Hội thảo quốc tế “Nhạc như là Trí Nhớ), Oslo, Na Uy – Norway.*The Global Forum on Civilization and Peace (Hội thảo về văn minh và hòa bình), Seoul, Đại Hàn – Republic of Korea.2007 *“Bilan du film ethnographique” (Đại hội liên hoan phim nghiên cứu), Paris, France (march)*“Voice Festival / 9th session of the ILV/ CETC”, (đại hội liên hoan về giọng) Buenos Aires, Argentina (march)*“Symposium on music therapy”, (hội thảo về âm nhạc điều trị học) Sao Paulo, Brazil (april)*“Bergen International Music OI OI Festival”, (Đại hội liên hoan quốc tế tại Bergen) Bergen, Norway (may-june)*“Homage to Demetrio Stratos” (Lễ hội kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june) *“39th World conference of the ICTM” (hội nghị quốc tế ICTM), Vienna, Austria (july)*“PEVOC 7 – International Congress on Voice”, (PEVOC , hội nghị quốc tế về Giọng) Groningen, the Netherlands (august)*“International Doromb Jew’s Harp Festival” (đại hội liên hoan quốc tế về đàn môi), Hungary (september)2008 *“A Week of Sound Festival, Lyon”, (Đại hội liên hoan một tuần về âm thanh) France (january) *“Unesco Congress of World Heritage”(Hội nghị UNESCO về di sản thế giới), Canberra, Australia (February “ *“Giving Voice” (Đại hội liên hoan về Giọng), Aberystwith, New Wales (march) *“Bergen International Music OI OI Festival”( đại hội liên hoan quốc tế về nhạc tại Bergen) Bergen, Norway (may/june) *“Homage to Demetrio Stratos” (đại hội nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june) * »A Voix Haute » Festival, (đại hội liên hoan về giọng hát) Bagnères de Bigorre, France (august) *“MELA music festival” (Đại hội liên hoan quốc tế nhạc dân tộc MELA) , Oslo, Norway (august) *“International Voice Festival” (Đại hội liên hoan giọng hát quốc tế), Dresden, Germany (september)2009 *“Voice Festival” (đại hội liên hoan về Giọng), Switzerland (may) *“Homage to Demetrio Stratos” (đại hội nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june) *“40th World conference of the ICTM” (hội nghị quốc tế ICTM), Durban, South Africa (july) *“International Congress of Voice Teachers”(hội nghị quốc tế các giáo sư dạy giọng), Paris, France (july) *“MELA Music Festival” (đại hội liên hoan nhạc dân tộc quốc tế MELA), Oslo, Norway (august)2010 *“Homage to Demetrio Stratos” (đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june) *“International of Sound” (đại hội liên hoan âm thanh quốc tế), Saint John’s, Canada (july) *“ICTM 2 study groups meeting”j hội thảo ICTM về nhạc sắc tộc và dân tộc nhạc học ứng dụng) , Hanoi , Vietnam (july) *“Vietnamese Guiness Record Ceremony” (Lễ trao giải kỷ lục Việt Nam), Ho Chi Minh city, Vietnam, (december)2011 *“International Symposium on Don Ca tai tu Nam bo”(hội thảo quốc tế về đờn ca tài tử nam bộ), Ho Chi Minh city (January) *“International colloquial about 400 years of the birth of Phu Yen city” (hội thảo quốc tế về 400 năm thành phố Phú Yên được sinh ra ), Phu Yên, Vietnam (april) *“Le Vietnam à Lorient”, (Việt Nam tại tỉnh Lorient , Pháp) Lorient, France (may) *“World Jew’s Harp Festival” (Đại hội liên hoan đàn môi thế giới )in Yakutsk, Yakutia (june) *“Homage to Demetrio Stratos”( đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june) *“International Festival of Mediterranean Music” (đại hội liên hoan quốc tế nhạc địa trung hải), Genova, Italy (july) *“41stWorld Conference ICTM” (hội nghị quốc tế ICTM) in Saint John’s , Canada (july) *“World Symposium of Choral Music” (hội thảo thế giới nhạc hợp xướng), Puerto Madryn, Argentina (august) *“Spring Festival of South African Music” (đại hội liên hoan mùa xuân nhạc Nam Phi), Fort Hare, South Africa (september) *“International Festival of Humour and Music” (đại hội liên hoan hài hước và nhạc) , Stavanger, Norway (september) *“Peace Festival” (đại hội liên hoan về hòa bình), Wroclaw, Poland (october) *“30th International Ethnographical Film Festival” (đại hội liên hoan phim ảnh nghiên cứu quốc tế), Paris, (november) *“International Conference of Arirang” (hội nghị quốc tế về bản nhạc dân ca Arirang), Seoul, Korea (december)2012 *Festival d’Auch (đại hội liên hoan về giọng tại tỉnh Auch), Auch, France (april) *Festival Music Night (đại hội liên hoan nhạc ban đêm), Munich, Germany (april)2013 *Festival de la Voix (đại hội liên hoan về giọng) Colombes, France (may) *42nd ICTM WORLD CONFERENCE (hội nghị quốc tế ICTM) , Shang Hai , China (july) *Festival Les Nuits du Monde “Vietnam Style” (đại hội liên hoan Đêm thế giới), Geneva, Switzerland (November) *Exhibition VOICE – « Voices of the World » (triển lãm GIỌNG – Giọng của thế giới), City of Sciences, Paris, France (december 2013 – september 2014) *Congress “Biomedical Signal Processing & Control (Elsevier) devoted to the workshop MAVEBA (hội y khoa về Giọng), Florence, Italy (december) *World Marranzano Festival (đại hội liên hoan thế giới đàn môi) , Catania, Sicily, Italy (december)2014 *Festival “Pauses Musicales” (đại hội liên hoan giải lao âm nhạc), Toulouse, France (February) *“Promenade Vietnam” (Đi dạo Việt Nam), City of Music, Paris, France (march) *International Conference “Safeguarding & Promotion of Folk Songs in the Contemporary Society” (hội nghị quốc tế về bảo vệ và quảng bá dân ca trong xã hội đương đại), Vinh city, province of Nghệ An, Vietnam (may) *Ancient Trance Festival – Jew’s harp world festival, (đaị hội liên đàn môi thế giới) Taucha, Germany (august) *10 Internationale Stuttgarter Stimmtage, (hội thảo quốc tề về goịng) Stuttgart, Germany (october) *Opening ceremony of the World Vocal Clinic / Deutsche Stimmklinik (lễ khai mạc về giọng khía cạnh y khoa), Hamburg, Germany (october) *Festival « Il teatro vivo », (đại hội liên hoan nhà hát linh động) Bergamo, Italy (november)2015 *Omaggio a Demetrio Stratos (đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone, Italy (june) *43rdICTM World Conference (hội nghị quốc tế ICTM) , Astana, Kazakhstan (july) *Festival of Hát Then Nùng Thái (đại hội liên hoan hát then nùng thái), Việt Bắc , Vietnam (september) *Convegne, Concerti e master class dedicati al « canto sardo e canto armonico nel mondo » (hội thảo, khóa dạy hát đồng song thanh”, Sorso , Sardinia, Italy (october)2016 *Festival of Chầu Văn (Vietnamese music of possession ) (đại hội liên hoan chầu văn), Nam Định, Vietnam (january) *Voice Encounters : Voice Pedagogy, (Cuộc gặp gỡ về giọng – sư phạm giọng) Wroclaw, Poland (april) *International Meeting A GRAN VOCE (gặp gỡ quốc tế về giọng) , Vicenza , Italy (may) *Omaggio a Demetrio Stratos 2016 (đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone, Italy (june) *Ancient Trance Festival , (đại hội liên hoan nhạc dân tộc)Taucha, Germany (August) *12th international Voice Symposium « BRAIN & VOICE » (hội thảo quốc tế về gịong ), Salzburg , Austria (august)2017 *44th ICTM World Conference (hội nghị quốc tế ICTM), Limerick, Ireland (july)*Congress “Voci e Soni “Di Dentro e Di Fuori” (hội nghị về Giọng và Âm thanh), Padova, Italy (october) *Congress La Voce Artistica (hội nghị về Giọng nghệ thuật) 2017 XI edìtion, Ravenna, Italy (october)Tôi đã sáng tạo một số kỹ thuật mới cho muỗng được thấy ở Việt Nam vào cuối thập niên 40 (gần 70 năm).Ngoài ra tôi khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh từ năm 1969 và hiện nay được xem như chuyên gia có được nhiều giới nghiên cứu về dân tộc nhạc học, âm thanh học, nhạc đương đại, y học biết tới khắp nơi trên thế giới .Tôi đã thể nghiệm nhiều loại nhạc với tư cách nhạc sĩ. Tôi đã từng chơi nhạc Free Jazz với nhóm Alain Brunet Quartet), nhạc pop, nhạc điện thanh (electro- acoustical music) qua bài Về Nguồn (soạn chung với Nguyễn Văn Tường được trình bày lần đầu tiên năm 1975 tai Champigny sur Marne, Pháp), nhạc tùy hứng (hợp tác với Arlette Bon vũ sư đương đại năm 1972, với Muriel Jaer, vũ sư đương đại nhiều năm từ 1973 tới 1980, qua bài Shaman với Misha Lobko vào năm 1982, Paris).Tôi đã cộng tác trình diễn trong các dĩa CD như với Philip Peris (tôi chơi đàn môi và hát đồng song thanh hòa với kèn thổ dân Úc didjeridu năm 1997), với các nhạc sĩ đàn môi qua hai CD về đàn môi năm 1999 và một CD đàn môi với John Wright, Leo Tadagawa và Svein Westad năm 2000. Dĩa VIETNAM / TRAN QUANG HAI & BACH YEN do hãng SM Studio sản xuất tại Paris năm 1983 đã đưọc giải thưỏng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1983, và dĩa LES VOIX DU MONDE do hãng Le Chant Du Monde sản xuất năm 1996 tại Paris cũng được giải thưởng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1996.Hội Viên các hội nghiên cứu• Society for Ethnomusicology (Hội Dân tộc nhạc học), Hoa Kỳ, từ 1969• Asian Music Society (Hội Nhạc Á châu), Hoa Kỳ, từ 1978• ICTM (Hội đồng quốc tế nhạc truyền thống), Hoa Kỳ, từ 1976(đưọc bầu làm thành viên của ủy ban chấp hành – member of the Executive Board từ 2005)• Société Internationale de Musicologie (Hôi quốc tế nhạc học), Thụy Sĩ, từ 1977• International Association of Sound Archives (IASA) (Hội quốc tế âm thang viện), Úc châu từ 1978• Association of the Foundation of Voice (Hội về Giọng), Hoa Kỳ từ 1997• Société de Musicologie (Hội nhạc học), Pháp, từ 1980• Société Francaise d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Pháp) từ 1985 (sáng lập viên)• CIMCIM (Unesco) từ 1983• Séminaire Européen d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Âu châu), Thụy Sĩ , từ 1983.• Association Francaise d’Archives sonores (Hội âm thanh viện Pháp) từ 1979• Centre d’Etudes de Musique Orientale (Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương), Paris, từ 1962 (giáo sư của trung tâm từ 1970 tới 1975)• Centre d’Etudes Vietnamiennes (Trung tâm nghiên cứu Việt học), Pháp ,từ 1987• Association Francaise de Recherche sur l’Asie du Sud-Est (Hội nghiên cứu Đông Nam Á Pháp), Pháp từ 1986.• Société des Auteurs , Compositeurs et Editeurs de la Musique (SACEM) , Pháp, từ 1980• International Center of Khoomei (Trung tâm quốc tế Hát đồng song thanh), Kyzyl, Tuva, Nga từ 1995.• International Jew’s Harp Society (Hội quốc tế Đàn Môi) , Áo quốc, từ 1998 (sáng lập viên)• Scientific Association of Vietnamese Professionals (Hội khoa học chuyên gia Việt Nam) (hội viên danh dự) , Canada từ 1992.• Vietnamese Institute for Musicology (Viện Âm nhạc Hà nội), Việt Nam từ 2004, (hội viên danh dự)• American Biographical Institute and Research Association (ABIRA) , Hoa kỳ, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế)• International Biographical Association (IBA), Anh quốc, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế)• Encyclopaedia Universalis Tự điển, Pháp, từ 1985 (cố vấn cho giải thưởng Diderot)• American Order of Excellency, Hoa Kỳ, từ năm 1998 (sáng lập viên)• World Wide Library, Hoa Kỳ (thành viên).• Vietnamese Public Library of Knowledge (ViPLOK) (founding member of the editorial board), Hoa Kỳ từ 2006.NHỮNG QUYỂN SÁCH CÓ TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢISau đây là những quyển tiểu sử Who’s Who và các quyển sách khác có đăng tiểu sử của tôi :• Dictionary of International Biography, ấn bản thứ 15, Anh quốc• Men of Achievement, ấn bản thứ 5, 6, và 7, Anh quốc• International Who’s Who in Music, từ ấn bản thứ 8 cho tới hiện nay (2017), Anh quốc• Who’s Who in Europe, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc• Men and Women in Distinction, ấn bản thứ 1 và 2, Anh quốc• International Register of Profiles, ấn bản thứ 4 và 5 , Anh quốc .• International Who’s Who of Intellectuals, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc• The First Five Hundred, ấn bản thứ nhất, Anh quốc• Who’s Who in the World, từ ấn bản thứ 5 tới nay (2017), Hoa Kỳ• 5,000 Personalities in the World, ấn bản thứ nhất, Hoa kỳ• International Directory of Distinguished Leadership, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ• International Book of Honor, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ• Who’s Who in Entertainment, ấn bản thứ 3, Anh quốc• Who’s who in France, từ ấn bản thứ 29 tới nay (2017), Pháp• Nouvelle Dictionnaire Européen, từ ấn bản thứ 5 tới ấn bản thứ 9, Bỉ• Who’s Who in International Art, ấn bản thứ nhất, Thụy Sĩ • Vẻ Vang Dân Việt – The Pride of the Vietnamese, quyển 1, ấn bản thứ 1 và 2, Hoa Kỳ• Fils et Filles du Viet Nam , ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ• Tuyển tập nghệ sĩ (Selection of Artists), quyển 1, Canada• Guide du Show Business, từ 1986 tới nay (2017), Pháp• The Europe 500 Leaders for the New Century, Barons Who’s Who, Hoa Kỳ• QUID, từ 2000 tới nay (2017) , Pháp• 500 Great Minds of the Early 21st Century, Bibliotheque World Wide, Hoa Kỳ• Officiel Planète,từ năm 2000 tới nay (2017), nhà xuất bản IRMA, PhápNHỮNG GIẢI THƯỞNG• 1983 : Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros (Giải thưởng tối cao của Hàn Lâm viện dĩa hát Charles Cros) cho dĩa hát “Viet Nam / Tran Quang Hai & Bach Yen” do hãng SM Studio sản xuất tại Paris, Pháp• 1986 : Médaille d’Or (Huy chương vàng) của Hàn lâm viện văn hóa Á châu, Paris, Pháp• 1987 : D.MUS (Hon) (tiến sĩ danh dự) của International University Foundation, Hoa Kỳ.• 1988 : International Order of Merit của International Biographical Centre, Cambridge, Anh quốc.• 1989 : Ph.D.(HON) (Tiến sĩ danh dự) của Albert Einstein International Academy Foundation, Hoa Kỳ• 1990 : Grand Prix du Festival International du Film Anthropologique et Visuel (Giải thưởng tối cao của đại hội quốc tế phim nhân chủng và hình ảnh) cho phim “Le Chant des Harmoniques” (Tiếng hát bồi âm) do tôi là tác giả, diễn viên chánh và viết nhạc cho phim, Parnü, Estonia.• 1990 : Prix du Meilleur Film Ethnomusicologique (Giải thưỏng phim hay nhất về dân tộc nhạc học) cho phim “Le Chant des Harmoniques” (Tiếng hát bồi âm) do Hàn lâm viện khoa học cấp, Parnü, Estonia• 1990 : Prix Spécial de la Recherche (Giải thuởng đặc biệt về nghiên cứu) của Đại hội quốc tế điện ảnh khoa học dành cho phim “Le chant des harmoniques” (Tiếng hát bồi âm), Palaiseau, Pháp.• 1991 : Grand Prix Northern Telecom (Giải thưởng tối cao Northern Telecom) của Đại hội quốc tế Phim khoa học lần thứ nhì của Québec dành cho phim “Le chant des harmoniques” (Tiếng hát bồi âm), Montréal, Canada .• 1991 : Prix Van Laurens (Giải thưởng Van Laurens) của British Association of the Voice và Ferens Institute của London tặng cho bài tham luận của tôi mang tên là “Discovery of overtone singing” (Khám phá hát đồng song thanh), London, Anh quốc .• 1991 : Alfred Nobel Medal (Huy chương Alfred Nobel)của Albert Einstein Academy Foundation, Hoa Kỳ• 1991 : Grand Ambassador (Huy chương Đại sứ lớn) của American Biographical Institute, Hoa kỳ• 1991 : Men of the Year (Người của Năm 1991) do American Biographical Institute tặng, Hoa kỳ• 1991 : Men of the Year (Người của Năm 1991) do International Biographical Centre tặng, Cambridge, Anh quốc.• 1994 : Men of the Year (Người của Năm 1994) do American Biographical Institute tặng , Hoa kỳ• 1994 : Gold Record of Achievement (Kỷ lục vàng về thành đạt) do American Biographical Institute tặng, Hoa Kỳ• 1995 : Giải thưởng đặc biệt về hát đồng song thanh tại Đại hội liên hoan hát đồng song thanh, Kyzyl, Tuva, Nga• 1996 : Médaille de Cristal (Huy chương thủy tinh) do Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học tặng cho 25 năm nghiên cứu hát đồng song thanh, Pháp• 1997 : Grand Prix du disque de l’Académie Charles Cros (Giải thưởng tối cao của Hàn lâm viện Charles Cros) cho dĩa hát “Voix du Monde » (Giọng Thế giới), Pháp.• 1997 : Diapason d’Or de l’Année 1997 (Dĩa vàng năm 1997) cho dĩa hát « Voix du Monde », Pháp• 1997 : CHOC de l’année 1997 (Ấn tượng mạnh nhất trong năm 1997) cho dĩa hát « Voix du Monde », Pháp• 1998 : Médaille d’Honneur (Huy chương danh dự dành cho công dân danh dự) của thành phố Limeil Brévannes (nơi tôi cư ngụ), Pháp.• 1998 : Giải thưởng đặc biệt của Đại hội thế giới về Đàn Môi, Molln, Áo quốc• 2002 : Chevalier de la Légion d’Honneur (Hiệp sĩ Bắc đẩu bội tinh), huy chương tối cao của Pháp, Pháp .• 2009 : Huy chương lao động hạng đại kim (Médaille du Travail, catégorie Grand Or), bộ lao động Pháp.• 2015 : Bằng cấp danh dự của Viện Bảo tàng đàn môi, Yakutsk, xứ Yakutia• 2017 : Huy chương sáng lập viên hội dân tộc nhạc học Pháp, Paris, PhápSÁCH DO TRẦN QUANG HẢI VIẾT• Biên Khảo Nhạc Việt Nam , nhà xuất bản Bắc Đẩu, 362 trang , 1989, Paris, Pháp• Musiques du Monde (Nhạc thế giới) : với sự hợp tác của Michel Asselineau và Eugène Bérel, nhà xuất bản J-M Fuzeau, 360 trang, 3 CD, 1993, Courlay, Pháp• Musics of the World (Nhạc thế giới) : nhà xuất bản J-M Fuzeau, 360 trang, 3 CD, 1994, Courlay, Pháp . Bản dịch tiếng Đức được xuất bản năm 1996, bản dịch tiếng Tây Ban Nha xuất bản năm 1998.• Musiques et Danses Traditionnelles d’Europe (Nhạc và vũ truyền thống Âu châu) : với sự hợp tác của Michel Asselineau, Eugène Bérel và FAMDT, nhà xuất bản J-M Fuzeau, 380 trang, 2 CD, 1996, Courlay, Pháp .DVD do TRẦN QUANG HẢI biên soạn• Le Chant Diphonique, (Hát đồng song thanh) 27 phút, với 2 bản (tiếng Pháp và tiếng Anh), nhà xuất bản CRDP của đảo Réunion, 2004. Đồng tác giả: Trần Quang Hải và Luc Souvet• Le Chant des Harmoniques (Bài hát bồi âm), 38 phút, bản tiếng Pháp, nhà xuất bản CNRS Audiovisuel, 2005, Meudon, Pháp . Đồng tác giả: Trần Quang Hải và Hugo Zemp• The Song of Harmonics, (Bài hát bồi âm) 38 phút , bản tiếng Anh, nhà xuất bản CNRS Audiovisuel, 2006, Meudon, Pháp. Đồng tác giả : Trần quang Hải và Hugo Zemp• Thèm’Axe 2 LA VOIX (Giọng), 110 phút, bản tiếng Pháp, nhà xuất bản Lugdivine, Lyon, 2006 . Tác giả : Patrick Kersalé với sự hợp tác của Trần Quang Hải .NHỮNG BIẾN CỐ QUAN TRỌNG TRÊN THẾ GIỚITôi là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên tham gia trình diễn tại những biến cố lịch sử quan trọng trên thế giới• 1988 : 200 năm thành lập xứ Úc• 1989 : 200 năm Cách mạng Pháp• 1991 : 700 năm thành lập xứ Thụy Sĩ• 1992 : 350 năm thành lập thành phố Montréal, Canada• 1992 : 500 năm khám phá Mỹ châu của Chritophe Colombus• 1994 : 600 năm thành lập thủ đô Seoul, Đại Hàn• 1996 : 50 năm vua Thái Lan trị vì • 2000 : 100 năm thành lập âm thanh viện Berlin, Đức• 2004 : Genova , thành phố văn hóa Âu châu, Ý• 2004 : Lille , thành phố văn hóa Âu châu, Pháp• 2005 : 100 năm xứ Na Uy được độc lập .Tôi là nhạc sĩ Việt Nam tham gia nhiều nhất Ngày Lễ Âm nhạc do Pháp đề xướng từ lúc đầu tiên vào năm 1982, rồi năm 1984, 1985 , 1987, 1989 tại Paris, rồi năm 1991 tại đảo La Réunion, rồi năm 2000, 2001 tại Paris, năm 2002 tại Beirut (Lebanon)Tôi là nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đàn nhạc phim của các nhà viết nhạc phim của Pháp như Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, Jean Claude Petit , và trình diễn những nhạc phẩm đương đại của các nhà soạn nhạc như Nguyễn Văn Tường, Bernard Parmegiani, Nicolas Frize, Yves Herwan Chotard.Tôi là nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đã trình diễn trên 3.500 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 70 quốc gia từ năm 1966, 1.500 buổi cho học sinh các trường học ở Âu Châu, giảng dạy tại hơn 100 trường đại học trên thế giới, tham dự trên 130 đại hội liên hoan âm nhạc quốc tế và có trên 8.000 người theo học hát đồng song thanh .

Liên lạc : TRẦN QUANG HẢI điện thoại di động :+33 (0)6 50 25 73 67

email: tranquanghai@gmail.com

trang nhà : https://tranquanghai.com

https://tranquanghai1944.com

https://tranvankhe-tranquanghai.com

địa chỉ: 12 RUE GUTENBERG , 94450 LIMEIL BREVANNES, FRANCE

Comments

Nguyen TrangSuper !!! Un GRAND HOMME. Rất tự hào về chú Hải.

1

  •  · Reply
  •  · 4h

Write a reply…

Write a comment…