Catégorie : TRAN QUANG HAI

Livre de TRAN QUANG HAI : 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing sur AMAZON -TRAN QUANG HAI ‘s book on AMAZON – Sach Tran Quang Hai co the mua o AMAZON

F
Livre de TRAN QUANG HAI : 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing sur AMAZON -TRAN QUANG HAI ‘s book on AMAZON “TRAN QUANG HAI : 50 YEARS OF RESEARCH ON VIETNAMESE TRADITIONAL MUSIC AND OVERTONE SINGING”
https://www.amazon.fr/s/ref=sr_gnr_fkmr0?rh=i%3Aenglish-books%2Ck%3Atran+quang+hai&keywords=tran+quang+hai&ie=UTF8&qid=1550828375
Partager EUR 13,86

  • Tous les prix incluent la TVA.

Livraison à partir de EUR 0,01 en France métropolitaine. En stock. Expédié et vendu par Amazon. Emballage cadeau disponible. Quantité : Ajouter au panier Acheter cet article


Votre adresse de livraison: Ajoutez à votre liste Vous l’avez déjà ? Vendez sur Amazon

Voir les 2 images

TRAN QUANG HAI: 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing (Anglais) Broché – 29 janvier 2019

de Dr. Hai Quang Tran (Auteur) Soyez la première personne à écrire un commentaire sur cet article


Voir les formats et éditions

Voulez-vous le faire livrer le mardi 26 fév.? Choisissez la Livraison Express au cours de votre commande. En savoir plus.Note: Cet article est éligible à la livraison en points de collecte. Détails

TRỊNH THANH THUỶ : ĐẠI HỌC CALSTATE LONG BEACH, CA vinh danh GS TRẦN QUANG HẢI , 10.02.2019


Đại Học Calstate Long Beach, CA

vinh danh GS Trần Quang Hải

Trịnh Thanh Thuỷ & Trần Quang Hải

Trịnh Thanh Thủy thực hiện

Từ lúc nghe tin Trần Quang Hải, giáo sư tiến sĩ ngành Dân Tộc Nhạc Học (Ethnomusicology) mắc một bệnh nan y là ung thư máu, các anh chị em trong nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian” rất xúc động và có ý định làm một cái gì đó cho ông. Ngày 10 tháng 2, 2019, hai chi nhánh Bắc và Nam Cali của nhóm đã đồng phối hợp thực hiện một buổi chiều văn hoá nghệ thuật và ra mắt sách cho Trần Quang Hải.

blank

Pic 1 GS Quyên Di trao bằng tưởng lục cho GS TQHải

blank

Pic 2 Bà Frances Thế Thủy trao bằng cho GS TQHải

Cuốn sách “Trần Quang Hải: 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt” là một tổng hợp các công trình nghiên cứu về âm nhạc của ông đã được góp mặt cùng kho tàng tài liệu âm nhạc VN. GS Hải đã từ Paris bay qua để dự buổi hội ngộ và ra mắt sách hy hữu này. Ngoài một số sinh viên của hai trường đại học Calstate và Fullerton, khoảng gần 200 thân hữu và đồng hương người Việt nghe tin đã về tham dự.

Nguyên GS TQHải là chồng của nữ danh ca Bạch Yến, con trai của cố GS Trần Văn Khê, một nhà nghiên cứu văn hoá và âm nhạc cổ truyền rất nổi tiếng ở VN. GS Hải lấy bằng tiến sĩ âm nhạc dân tộc người Việt tại Pháp, làm việc cho Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học tại Bảo tàng Con người ở Pháp(Musée de l’Homme). Ông đã có những nghiên cứu đặc biệt trong lĩnh vực Dân tộc âm nhạc học như: hát đồng song thanh, phát triển gõ muỗng. Ông được tôn xưng danh hiệu “vua muỗng” và Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục “Ông là người trình diễn đàn môi Mông(Hmong) tại nhiều quốc gia nhất thế giới.” Ông cũng là thành viên của Hội đồng Âm nhạc truyền thống quốc tế. Ông và danh ca Bạch Yến đã thực hiện hơn 3.000 buổi giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam ở 70 nước trên thế giới…(Theo Wiki) 

blank

Pic 3 Ban đại diện nhóm NVNT&TTG

blank

Pic 4 Ban hợp ca

Nhân dịp buổi ra mắt sách được tổ chức tại đại học Calstate Long Beach, CA, USA, bà Teri Yamada, khoa trưởng Khoa Nghiên Cứu Về Người Á Châu Và Người Mỹ gốc Á đã vinh danh GS TS TQHải.

Thật tiếc, bà Teri Yamada đã không được gặp mặt giáo sư vì giờ cuối bà phải bay qua Ấn Độ dự một buổi lễ hội về văn hoá, nên bà viết một lá thư rất chân tình gởi ông. Bà cáo lỗi và ủy nhiệm GS Quyên Di thay bà chào mừng, vinh danh và trao bằng tưởng lục cho ông. 

GS Quyên Di dạy ở đây và cũng là thành viên trong khoa nghiên cứu này cho biết thêm, “Đây là một vinh dự cho cộng đồng VN vì hiếm khi khoa trưởng Yamada viết một lá thư trân trọng như thế này. Tôi đã từng dự nhiều buổi vinh danh nhưng chưa bao giờ tôi thấy bà viết một lá thư như thế. Trước đó bà đã đọc tất cả các tài liệu viết về GS, cả những tài liệu của GS viết, nghiên cứu rồi đúc kết lại thành bức thư nói trên và trân trọng trao bằng tưởng lục cho GS. Bà thay mặt đại học Calstate Long Beach vinh danh GS Hải đã có công phi thường đóng góp vào kho tàng âm nhạc VN qua các công trình nghiên cứu âm nhạc, văn hoá, nghệ thuật dân tộc qua thời gian, qua các thế hệ.

blank

Pic 5 Hàng đứng: Nhóm NVNT&TTG, Hàng ngồi: GS Tahara, GS TQHải, TT Kiều Chinh, NV Nguyễn Quang, NV Quyên Di

blank

Pic 6 Quan Khách

Ngoài ra bà Frances Thế Thủy, ủy viên giáo dục học khu Westminster cũng lên trao bằng tưởng lục cho ông. Hiện diện trong buổi lễ có tài tử Kiều Chinh, GS Tahara Hiroki, BS Steven Le, nhà văn Nguyễn Quang (phu quân Minh Đức Hoài Trinh), NS Lê Văn Khoa và phu nhân, NS Võ Tá Hân và phu nhân, BS Phạm Gia Cổn và phu nhân, bà quả phụ Lê Trọng Nguyễn, Nhạc Trưởng Bùi Quỳnh Giao..v..v…

Sự có mặt của GS người Nhật Tahara Hiroki hôm nay đã khiến tôi rất ngạc nhiên. Ông là người Nhật 100% mà nói và viết tiếng Việt rất sành sõi, thích ăn nước mắm, thích nhạc Việt Bolero. Tôi hỏi ông duyên cớ nào ông lại có mặt ở đây hôm nay. Ông nói ông hâm mộ tài năng của GS TQ Hải mà bay qua Mỹ để được gặp GS Hải. GS Hải rất nổi tiếng ở bên Nhật vì GS đã có nhiều đề tài nghiên cứu về âm nhạc và làm việc chung với các nhà nghiên cứu âm nhạc của Nhật Bản về nhạc cung đình Huế và nhạc dân tộc VN nói chung. GS Tahara cũng nghe tiếng của cố GS Trần Văn Khê là cha của GS Hải nhưng tiếc quá không được gặp cụ vì cụ đã qua đời.

Tôi hỏi thêm là GS Tahara thích nhạc Bolero vậy GS có thấy nhạc cổ truyền Vn có gần gụi với nhạc Bolero VN không? Ông bảo ông thấy nhạc Bolero Vn gần giống với nhạc Tanka của Nhật hơn, nhưng khác ở chỗ Tanka không có tố chất ngọt ngào còn Bolero phải hát ngọt ngào, mượt mà, đầy cảm xúc mới được.

blank

Pic 7 Ông bà GS Lê Văn Khoa, Nguyễn Hùng và NV Việt Hải(ngồi)

blank

pic 8 Trình diễn thời trang áo dài Bà Nhu

GS Trần Mạnh Chi là trưởng nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng thời gian”, đồng thời là trưởng ban tổ chức đã lên giới thiệu các thành viên Bắc và Nam Cali của nhóm, có nhà văn Trần Việt Hải là cố vấn. GS Quyên Di và Thụy Vy là 2 MC chính của buổi vinh danh.

GS TQHải được mời lên và ông xuất hiện với một vóc dáng rất khoẻ mạnh, giọng nói thì hùng hồn, sang sảng. Ông cám ơn BTC đã thực hiện buổi rms này và nói về quá trình hoạt động của ông ở hải ngoại.

Ông qua Pháp năm 1961 tới nay đã 58 năm. Thời gian đầu để học nhạc Tây Phương và nghiên cứu về nhạc học. Sau đó ông đi tìm hiểu thêm và khám phá ra âm nhạc VN không chỉ đơn thuần có Hò, Xang, Xê, Cống, đàn cò, đàn tỳ bà, độc huyền hay hát chèo, cải lương. Nhạc VN còn có nhạc của 53 sắc tộc khác của những dân tộc ở cao nguyên Trung phần như Ba na, Gia Rai, Êđê, Xê đăng… Ở phía Bắc có người Thái, Tày, Thổ, Nùng, Dao…. cũng có nhạc. Nghĩa là nhạc VN có thiên hình vạn trạng do sự phối hợp của nhiều loại. Trong số các nhạc cụ được sáng chế ngày nay có 3 cây đàn là niềm tự hào cho cái đẹp của VN. Đó là đàn T’rưng của người sắc tộc Gia Rai, đàn K’ni 2 giây và cây đàn đá. Ông đã đi khắp nơi trên thế giới để giới thiệu những cái hay cái đẹp của âm nhạc VN, như nhạc Cung Đình Huế, nhạc của đồng bào thiểu số, các loại Hát Tuồng, hát Chèo, Ca Trù, Ca Huế, Đàn Ca Tài Tử Nam Bộ. Ông giới thiệu cho toàn cầu biết sự phong phú đa dạng của nhạc VN.

blank

Pic 9 Triển lãm tranh

Ông đã giới thiệu và trình diễn lối hát Đồng Song Thanh và biểu diễn Đàn Môi khiến các cử toạ kinh ngạc và vỗ tay tán thưởng nồng nhiệt. Trong quá trình nghiên cứu ông khám phá ra loại hát Đồng Song Thanh của người Mông Cổ vùng Tây Bá Lợi Á tức là hát 2 giọng cùng một lúc, có thể đổi từ giọng chính thành giọng cao. Để cải tiến, ông đã tạo ra phương pháp hát Đồng Song Thanh mới. Hơn thế nữa, có thể dùng phương pháp hát này để trị bệnh cho những người bị đứt thanh quản có thể nói được mà không phải phẫu thuật. Lúc nghiên cứu ông đã chấp nhận để người ta chiếu quang tuyến X trong một thời gian dài để thí nghiệm, nhằm biết được hoạt động của các thớ thịt ở cổ họng khi không dùng đến dây thanh quản mà vẫn tạo ra được tiếng nói. Các bác sĩ chuyên khoa khuyến cáo ông có thể bị ung thư cổ họng nhưng ông đã sẵn sàng ký vào biên bản cam kết, biến mình thành “con vật” thí nghiệm cho những nghiên cứu của mình bất chấp cả tính mạng.

Để buổi ra mắt sách đầy tính văn hoá nghệ thuật thêm đặc sắc, BTC đã trình diễn một màn “Thời trang với áo dài qua thời gian” với sự góp mặt của các anh chị em trong nhóm cùng sự tham gia của Hội Ái Hữu Sinh Viên VN Fullerton. Những chiếc áo dài từ cổ truyền, Lemur Cát Tường, Bà Nhu, Bà Ba, cho tới cách tân qua các thời đại đã làm khán giả thích thú và kinh ngạc. Những hoạ phẩm nghệ thuật cũng được triển lãm do các hoạ sĩ đóng góp như: Lưu Anh Tuấn, Lê Thúy Vinh, Hồ Thành Đức, Bé Ký, Hoàng Vinh, Đàm Quốc Cường, Lương Nguyễn, Nguyễn Thái Bình…Các màn hợp ca, song ca mang đầy tính dân tộc do các nhạc sĩ, ca sĩ đồng trình bày đã góp phần phong phú cho buổi rms.

Tôi được tiếp xúc với GS Lê Văn Khoa và xin ông chia sẻ cảm nghĩ về âm nhạc cổ truyền khi ông là một nhạc trưởng chuyên về âm nhạc Tây Phương. Ông nói “Âm nhạc là ngôn ngữ không lời khi con người không hiểu nhau thì âm nhạc giúp để hiểu nhau. Cho nên dù là nhạc cổ truyền hay tây phương nó cũng vẫn là âm nhạc. Từ lâu người Việt cổ súy và bảo vệ tối đa nhạc truyền thống, không muốn nó lai nhạc tây Phương. Người theo nhạc tây phương thì cho rằng phương thức làm việc của tây phương có hệ thống ngon lành hơn, nên coi thường nhạc cổ. Như vậy thì thiệt hại quá, tôi dung hoà cả hai bằng cách dùng dân ca VN viết cho nhạc cổ truyền của người Ukraine và họ rất ngạc nhiên. Họ nói lần đầu tiên trên thế giới mới có người làm như vậy. Tôi dùng đàn tranh, đàn t’rưng bằng tre cho hoà tấu với dàn nhạc Tây Phương mới trình diễn ở Houston tháng 11/2018 khiến ai cũng ngạc nhiên hết. Họ thấy thích thú vì cả hai đều hoà điệu. Mục đích của tôi là làm sao phổ cập để cho cả 2 hoà nhịp.

Trịnh Thanh Thủy thực hiện

Orange County, CA

https://vietbao.com/a291047/dai-hoc-calstate-long-beach-ca-vinh-danh-gs-tran-quang-hai?fbclid=IwAR2ego3xkqiTidQBByrA9n2OJW8iC4jSpmuBptUGni-Y5hkfPO-9DYtNc3A

Book: TRAN QUANG HAI : 50 Years of Research in Vietnamese Music and Overtone Singing, released in February 10th 2019 from 11:am to 15:30pm, at CSU LB, lecture hall room ( next to student union), 1250 Bellflower Blvd, CA 90840in the USA

Book: TRAN QUANG HAI : 50 Years of Research in Vietnamese Music and Overtone Singing, released in February 10th 2019 from 11:am to 15:30pm, at CSU LB, lecture hall room ( next to student union), 1250 Bellflower Blvd, CA 90840in the USA


PREFACE
Professor Tran Quang Hai asked me to write an introduction to this book about his Life and his Work.
Not an easy task since his life is not a mere portrait hung on a wall for anyone to look at and describe, if one can.
Professor Hai’s life is a long road.
A long road that is.
A road which brings back the scenery of so many byways and highways this amazing man had covered in his memorable and outstanding life. They are the embodiment of the multifacet talents of an amazing artist and scholar.
Being a friend of Professor Hai does not make the task of introducing this book to the reader an easier task. There is always this concern that the writer, being a friend may be skewed to his favor and overstate the facts. Or on the contrary, for that same reason, being concerned of a perception of favoritism, the writer may try to minimize the facts. But should it be a concern? For a man of such talent and integrity, and a body of work which cannot be less than a rare precious jewel, under- or overstatement becomes an irrelevant issue.
To summarize it, the life of Professor Tran Quang Hai is a great but challenging road well-traveled.
And it is traveled by a traveler who, not only is not afraid to conquer it, he has been eager to make it fuller, better, more captivating, albeit more challenging not only for himself, but also for people and future generations who are going to travel this same road.
The Road is Musicology.
Not just from Vietnam where Professor Hai came from. Being born one day in May, 1944, in the Province of Dong Nai, South Viet Nam – a region blessed by its beauty and peaceful life, and also by its inspiring richness in resources and popular culture – the soul of this magnificent scholar and artist as Resourceful and Inspiring as the region he comes from. A soul being shaped by many generations of illustrious ancestors, giants in the field of Vietnamese Musicology with his father Tran Van Khe being an accomplished scholar of Vietnamese and World Musicology.
Professor Hai’s road of musicology practice and musicology research goes beyond the confines of his country of origin.
It covers Vietnamese/Oriental Music, from traditional Vietnamese Music of all genres, to the musical background of the Montagnards in the Vietnamese Highlands. It went on beyond borders to address the wonderful aspects of the Musical Heritage of different countries spanning from Southeast Asia to Central Asia to reach as far as Israel, Central Europe to Western Europe.
Professor Hai has been working for the National Center for Scientific Research (CNRS) in France since 1968, and is now retired after working for 41 years at the Department of Ethnomusicology of the Musée de l’Homme (Paris). He was a lecturer on South East Asian music at the University of Paris X – Nanterre (1988-1995).
He plays 15 musical instruments from Vietnam, China, India, Iran, Indonesia and Europe. Since 1966, he has given over 3,000 concerts in 70 countries, and has taken part in a hundred or so international traditional music festivals. He has taken part in radio and television broadcasts in Europe, America, Asia, Africa, and Australia.
Professor Hai has perfected and made us understand more the Jew’s Harp, the Song of Harmonics, he is the greatest specialist in overtone singing.
Apart from his artistic activities, he is also interested in musical research. He has improved the technique of spoons playing and of the Jew’s harp. In 1970 he found the key to the technique of overtone singing. The film « Le Chant des Harmoniques  » (The Song of Harmonics) which he co-produced with Hugo Zemp, and in which he was the principal actor and composer of the film music, won four awards at international scientific film festivals in Estonia (1990), France (1990), and Canada (1991). He is considered as the greatest specialist in overtone singing in the world.
Dr. Tran has written numerous articles on Vietnamese and Asian music (New Grove Dictionary of Music and Musicians, New Grove Dictionary of Musical Instruments, Algemeine Muziekencyclopedia, Encyclopaedia Universalis). He has also recorded 15 LPs and 2 CDs (one of which obtained the Grand Prix de l’Academie de Disque Charles Cros in 1983). He has composed hundreds of popular songs. His musical experience is very varied: contemporary music, electro-acoustical music, improvisation, film music. He continues to preserve and develop traditional Vietnamese music (numerous new compositions for the 16 stringed zither Đàn tranh).
He has received a Gold Medal for music from the Asian Cultural Academy, and honorary doctorates from the International University Foundation (USA), and the Albert Einstein International Academy (USA).
Along with multiple international awards, in June 2002, he received the medal of Knight of the Legion of Honor from the French President Jacques Chirac. In 2009, he was the recipient of the Medal of Honor, category Great Gold for his 41 years as a public servant of France.
He is the only Vietnamese to have taken part as a performer or composer in such great historical events as the Australia’s Bicentenary celebrations (1988), the Bicentenary of the French Revolution in Paris (1989), the 700th Anniversary of the Birth of Switzerland (1991), the 350th Anniversary of the Founding of Montreal (1992), the 500th anniversary of the discovery of America (1992), the 600 Years of Seoul-Korea (1994), the Jubilee of the King of Thailand (1996), the 1,000 Years of Trondheim in Norway (1997).
As I have said. Dr. Hai’s life is a long Road. A long Road indeed – not only for its length, but also for what has been left behind it.
For the two countries, Viet Nam and France, which are so dear to Professor Hai, his life will always be one of a model scholar for future generations to learn from, a symbol of pride never to fade away no matter the months and years.
For the World, Professor Tran Quang Hai will be remembered as a talented scholar with unparalleled character. Humble and compassionate. But call him simply a World Artist.
This book does render justice, if in part, to this Great Man and his Life. Well deserving to read with time well spent.
For me, Tran Quang Hai will always be, simply, My Friend. And the Honor is mine and the joy well shared.                                                                                       
Dr. Son Vi Nguyen, M.D.                                                                                                                  
Former Assistant Professor of Psychiatry
The University of Texas, School of Medicine at Houston.
Texas Tech University



Dr. NGUYEN VI SON , M.D.
Contents of the Book
Tran Quang Hai’s Biography. 1
Vietnamese Music from a Cultural Perspective. 53
Cithare vietnamienne, guimbarde, cuillères au service de la musique électro-acoustique  111
Music of The Montagnards of Vietnam.. 125
Recherches Introspectives et Expérimentales sur le chant diphonique  173
Original Research and Acoustical Analysis in connection with the Xöömij Style of Biphonic Singing  211
Recherches expérimentales sur le chant diphonique. 239
Numbers in Asian Music. 361
Caratteristiche fisiologiche e acustiche del Canto Difonico. 383
SELECTION OF VIDEO CLIPS PERFORMED BY TRAN QUANG HAI 457

Dr. NGUYEN VI SON , MD

QUYỀN DI và TRẦN VIỆT HẢI : VÀ CON TIM ĐÃ VUI TRỞ LẠI, TÌNH CA HAY THÁNH CA?


Trong tứ diệu đế của Phật giáo thì khổ đế đứng đầu. Nguyên nhân khiến người ta khổ chính là sinh, lão, bệnh, tử: sinh ra đã là khổ, già lão cũng là khổ, bệnh tật thì rất khổ mà cái chết cũng vẫn là khổ. Trong bốn cái khổ này, bệnh là cái khổ đáng ngại nhất.
Thời đại này, người ta có quá nhiều thứ bệnh, bệnh bên ngoài cũng khổ mà bệnh nội thương cũng khổ. Một trong những thứ bệnh xem như bất trị của thời đại chính là ung thư.

Bệnh là điều cụ thể, hiện hữu trong cuộc đời mỗi con người. Ai trong chúng ta mà không bệnh, chẳng bệnh nặng, cũng bệnh nhẹ. Có những thứ bệnh dai dẳng, trị không dứt, hành hạ “con bệnh” hết năm này qua năm khác. Để tìm sự an lạc, ngoài việc trị bệnh, người ta còn phải tập “sống chung với bệnh”.
Người có tinh thần lạc quan nhìn bệnh với một thái độ tích cực:
1. Bệnh là dịp để ta nhận ra tín hiệu của cơ thể. Khi ta bị bệnh là lúc cơ thể gửi cho ta một tín hiệu về những lệch lạc trong cách sống, cách ăn uống, cách làm việc. Nhờ tín hiệu này mà ta có thể điều chỉnh cách sống của mình cho lành mạnh hơn.
2. Bệnh giúp ta ý thức hơn về nhu cầu tinh thần và tâm linh. Không bệnh thì ta cứ sống khơi khơi, bệnh rồi, ta mới thấy ngoài cuộc sống ngoại diện, đời mình còn có cuộc sống nội tâm và tâm linh. Nó âm thầm hơn nhưng sâu xa hơn. Nó làm cho con người mình trưởng thành quân bình và nó giúp ta ý thức được cái hữu hạn, vô thường của đời người.
3. Bệnh giúp ta sống an hoà hơn, bác ái, từ bi hơn. Có bệnh ta mới hiểu được nỗi “đau” của người khác, từ đó có sự đồng cảm với tha nhân. Tục ngữ Việt Nam có câu nói rất đơn sơ, mộc mạc nhưng rất cụ thể: “Có đau mắt mới biết thương người mù.”
4. Bệnh giúp ta biết sống khiêm nhường hơn, không cậy vào sức mình, không xem mình trổi vượt hơn người khác. Bị bệnh thì ai cũng khổ, cũng đau đớn như nhau.
5. Bệnh cho ta thêm nghị lực. Nghị lực để chống lại cái đau và nghị lực để chịu được cái đau.
Lý thuyết về bệnh thì như thế. Nhưng bệnh, mà nhất là bệnh nan y, nay khỏi được thì quả là một niềm vui lớn. Đây là niềm vui của hai chị… mà hôm nay chúng ta cùng vui mừng với hai chị, vì hai chị đã trải qua cơn bệnh nan y, nay hoàn toàn bình phục.

Hết bệnh thì vui, cái vui bên ngoài và cái vui sâu xa trong tâm hổn, cái vui mà nhạc sĩ Đức Huy đã có một cách diễn đạt rất hay, rất đẹp là “và con tim đã vui trở lại”.
Đây là một bài hát rất hay, rất ý nghĩa của Đức Huy. Chúng ta đã hát bài này nhiều lần. Đơn ca cũng có, hợp ca cũng có, mà đồng ca tưng bừng nhộn nhịp, vừa hát vừa đưa cao tay quơ qua quơ lại cũng có.

Hôm nay chúng ta có dịp nhắc lại lời ca của bài hát tuyệt vời này:

Tìm một con đường, tìm một lối đi
Ngày qua ngày, đời nhiều vấn nghi
Lạc loài niềm tin sống không ngày mai
Sống quên không ai cần ai
Cứ vui cho trọn đêm nay
Rồi cuộc vui tàn, mọi người bước đi, một mình tôi về, nhiều lần ướt mi
Tình yêu đã đến trong ánh nắng mai
Xóa tan màn đêm u tối
Cho tôi biến đổi tâm hồn thành một người mới.
Và con tim đã vui trở lại
Tình yêu đến cho tôi ngày mai
Tình yêu chiếu ánh sáng vào đời
Tôi hy vọng được ơn cứu rỗi
Và con tim đã vui trở lại
Và niềm tin đã dâng về Người
Cho tâm hồn nguyện yêu mãi riêng Người mà thôi
Và bây giờ ngày buồn đã qua
Nhiều lỗi lầm cũng được thứ tha
Tình yêu đã đến trong ánh nắng mai
Xóa tan màn đêm u tối
Cho tôi biến đổi tâm hồn thành một người mới…
Dẫu như tôi phải đi qua vực sâu u tối
Tôi sẽ không sợ hãi gì vì Người ở gần bên tôi mãi…

https://www.youtube.com/watch…

Bài hát mang một âm điệu vui tươi, lôi cuốn. Và vì bài hát nhắc đến Tình Yêu: “Tình yêu đến cho tôi ngày mai. Tình yêu chiếu ánh sáng vào đời” và “Tình yêu đã đến trong ánh nắng mai” nên chúng ta dễ nghĩ rằng đây là một bài tình ca.

Thì cũng không sai! Đây chính là bài ca ngợi tình yêu, nhưng không phải là tình yêu của một đôi thanh niên nam nữ, mà là tình yêu giữa con người với Thiên Chúa. Chúng ta để ý thấy chữ “Người” trong “Và niềm tin đã dâng về Người. Cho tâm hồn nguyện yêu mãi riêng Người mà thôi” là một chữ Người viết hoa một cách tôn kính.

Nếu tôi không lầm thì Đức Huy đã dựa vào Thánh Vịnh 23 của thánh vương David để dệt nên lời nhạc này. Đây là một thánh vịnh được rất nhiều người yêu thích và dùng để cầu nguyện. Thánh vịnh này nói về một mục tử (người chăn chiên) yêu thương, chiều chuộng và bảo vệ chiên của mình:

“CHÚA là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành
và bổ sức cho tôi.
Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính
vì danh dự của Người.
Lạy Chúa, dầu qua thung lũng âm u
con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.
Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm…”

https://www.youtube.com/watch…

Trong bài hát, Đức Huy đã diễn đại lời Thánh Vịnh bằng ngôn ngữ của mình: “Dẫu như tôi phải đi qua vực sâu u tối, tôi sẽ không sợ hãi gì vì Người ở gần bên tôi mãi…”

Bài hát diễn tả sự biến đổi tâm hồn của một kẻ thiếu niềm tin trong cuộc sống. Khi ta không có niềm tin thì cuộc đời tăm tối và nhiều nghi ngờ, cuộc đời nhiều đau khổ, cô đơn và nước mắt mà Đức Huy diễn tả là “một mình tôi về nhiều lần ướt mi.” Nhưng một khi đã khám phá ra Tình Yêu Thiên Chúa, đã có đức tin thì “Tình yêu đã đến trong ánh nắng mai, xóa tan màn đêm u tối. Cho tôi biến đổi tâm hồn thành một người mới.”

“Người mới” là người nào? Người mới là người đã được phục sinh cùng với Chúa Giêsu phục sinh. “Biến đổi tâm hồn thành một người mới…” Tôi nghĩ rằng Đức Huy đã chịu ảnh hưởng lời ngôn sứ Ê-dê-ki-en: “Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt Thần Khí mới vảo lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt”. (Ê­dê­ki­en 36,26).

Một bài hát tuyệt vời. Bài Tình Ca mà cũng là bài Thánh Ca. Và chúng ta cất tiếng hát bài ca này với một con người mới, một tâm hồn mới, một trái tim mới, trái tim bằng thịt, đập những nhịp đập của yêu thương nồng nàn chứ không phải một trái tim chai đá.

Xin hãy chúc mừng nhau, sau cơn mưa trời lại sáng … Cầu xin thân hữu bạn bè được bình phục, cũng như để mừng cho tất cà chúng ta có quả tim biết yêu thương. Và giờ đây xin hãy hát tặng nhạc sĩ Trần Quang Hải và tất cả chúng ta bài hát “Và Con Tim Đã Vui Trở Lại” tuyệt vời này.

GS. Quyên Di.
———————————————————————————-

Và Con Tim Đã Vui Trở Lại…

Hôm nay là ngày anh chị em liên nhóm Nhóm Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian qui tụ trong buổi vinh danh GS/TS Trần Quang Hải. Cũng để làm buổi ca nhạc vui mừng hay chúc mừng quý anh chị: Trần Quang Hải, Huỳnh Anh và Hồ Thanh Thanh, hay tên văn nghệ mà chúng tôi thường gọi chị là « Thanh Thanh ». Cách đây 2 năm chị Thanh Thanh vướng mắc căn bệnh hiểm nghèo. Trong đời sống thường nhật mà mọi chúng ta đang có cuộc sống bình thường, rồi bỗng dưng ta bị chẩn đoán mắc một căn bệnh nào đó, nếu chẳng may thì số phần khó đoán được tính mạng mình sẽ ra sao. Dĩ nhiên có nỗi lo âu, buồn phiền, mất ăn, mất ngủ.

Rồi trong năm vừa qua, anh chị em chúng tôi nhận được tin một số anh chị chẳng may bị bịnh, hay bị nạn. Đối với con người tiến trình « Sinh Bệnh Lão Tử » không ai tránh khỏi cả. Nào những: Nhồi máu cơ tim, ung thư, tai biến mạch máu não,…
Ví dụ tai biến mạch máu là căn bệnh khá nguy hiểm, khiến bệnh nhân bị xuất huyết não, nên bị bán thân bất toại. Căn bệnh tai biến mạch máu não thực sự là bệnh phổ thông trên khắp thế giới, hậu quả của nó có thể đem hệ lụy lâu dài đối với bệnh nhân, nếu bị nặng sẽ bị tàn phế suốt đời. Tại xứ Mỹ hàng năm có khoảng 800,000 người bị mắc phải stroke (new patients) cho 2 loại nặng và nhẹ, tức minor stroke hay severe stroke. Trong con số 800,000 đó thì có 130,000 trường hợp bị tử vong, tức khoảng 16% bị vong mạng. Trong khi căn bệnh ung thư theo thống kê 2015 số ngưòi mắc phải là 1,658,370 (bệnh nhân mới hay new cases), không kể những người bị hơn một năm trước đó và ung thư đã cướp đi mạng sống của 589,430 người tại Hoa Kỳ. Riêng bệnh ung thư ngực (breast cancer) thì cứ mỗi 100,000 bệnh nhân mắc phải có 22% là số người bị tử vong.

Tóm lại trong cuộc sống yên bình hôm nay, chúng ta không biết ngày mai sẽ ra sao. Đời sống vô thường, kiếp sống đầy rủi ro, bất trắc. Nhưng hôm nay các bạn ta thì người đã bình phục, hay người đang mắc phải, tất cả bạn bè, anh chị em nhóm văn nghệ Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiêng Thời Gian qui tụ nhau lại để cầu an và chúc mừng trong buổi lễ này, chúng tôi xin được nói lời cầu an và chúc mừng gửi dến những thân hữu bạn bè. Lời chúc mừng khỏi bệnh như ý tưởng « Và con tim đã vui trở lại », bài nhạc của nhạc sĩ Đức Huy, trong đó có câu « … chờ tình yêu đến trong ánh nắng mai, xóa tan màn đêm u tối, cho tôi biến đổi tâm hồn thành một người mới…”

https://www.youtube.com/watch…

Ngày hôm nay, tình yêu thương của mọi ngươi đến chung vui với những người bạn của chúng ta để xin xóa tan những lo âu, những ưu phiền và để con tim đã vui trở lại…

Một lần nữa xin chúc mừng, chúc mừng cho mọi người! Đặc biệt GS. Trần Quang Hải.

TRẦN VIỆT HẢI

ĐỀ NGHỊ CỦA THẦY SUM LÀM QUÀ TẶNG TRẦN QUANG HẢI NHÂN DỊP RMS Ở CSU LONG BEACH, 10.02.2019

Dear Các Em 

 TSAN TRẦN QUANG HẢI là Trưởng nam Cố TSAN TRẦN VĂN KHÊ, CẢ HAI VỊ đều là CỰU HỌC SINH PETRUS KÝ và đều đã làm rạng danh TRƯỜNG PETRUS KÝ của chúng ta ở Trong nước cũng như ở Hải ngoại. 

Nay nhân dịp TS TRẦN QUANG HẢI từ PARIS sang CALIFORNIA RA MẮT SÁCH và được VĂN NGHỆ SĨ, NHẠC SĨ và ĐỒNG BÀO chào đón nhiệt liệt, THẦY đề nghị HỘI PETRUS KÝ NAM CALI chúng ta nên thực hiện một TROPHY haymột PLAQUE vinh danh TS TRẦN QUANG HẢI và sẽ trao tặng nhân Ngày RA MẮT SÁCH sẽ được long trọng tổ chức tại UCS LONG BEACH vào ngày Chủ Nhật Feb. 10, 2019 sắp tới.  

 EM ĐẠT liên lạc với Anh HẢI, Anh CHI và Chị THỦY để lo việc nầy cho kịp ngày. Có gì trở ngại trình THẦY hay  

 THẦY SUM

DƯƠNG VĂN SUM

TRẦN QUANG HẢI : Vài dòng về người cô của tôi Trần Ngọc Sương (1925-2017)

Vài dòng về người cô của tôi Trần Ngọc Sương (1925-2017)Tran Quoc Bao·Thứ Tư, 10 tháng 1, 2018

(trích bài viết của nhạc sĩ Trần Quang Hải đăng trong tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ số 153 phát hành ngày 12 tháng 1 năm 2018)

Rất nhiều người biết tới thân phụ tôi (cố GS Trần Văn Khê, 1921-2015) và chú tôi (cố Quái kiệt Trần Văn Trạch, 1924-1994). Nhưng rất ít người biết người cô của tôi Trần Ngọc Sương (em út trong 3 anh em họ Trần, sinh năm 1925, từ trần ngày 25 tháng 12 năm 2017 tại thành phố Montréal, Canada). Tôi không có dịp may gặp cô Ngọc Sương nhiều lần khi ở Saigon lúc tôi còn nhỏ. Chỉ nhớ là vào năm 1949, khi ba tôi lên đường sang Pháp vào tháng 5, tôi được tạm trú ở nhà cô tôi một thời gian ngắn. Lúc đó tôi được nghe cô tôi tập hát ở nhà. Hỏi ra bây giờ mới biết là cô tôi từng lên sân khấu trình diễn và có thâu dĩa than 78 vòng từ 1948 tới 1950 với tên ca sĩ là Ngọc Sương, sau đó đổi tên là Thủy Ngọc. Hai bài hát mà tôi còn nhớ và được nghe cô tôi hát là Chim Chích Chòe (nhạc của Đức Quỳnh) và Thiếu Nữ Việt Nam (nhạc của Lưu Hữu Phước). Cô Ngọc Sương (sinh năm 1925) lớn tuổi hơn các nữ ca sĩ nổi danh thời đó như Mộc Lan (1931), Tâm Vấn (1933), Châu Hà (1933), Kim Tước (1938). Có thể nói cô Ngọc Sương là nữ ca sĩ hiếm ở Saigon trong thời gian 1948-50. Khi lập gia đình, cô tôi rời bỏ sân khấu đóng vai trò người vợ hiền, người mẹ chăm sóc các con. Cô đã có 7 người con – 2 sống ở Pháp, 1 sống ở Mỹ, và 4 sống ở Canada hiện nay.

Kỷ niệm khó quên Khi Saigon không còn nữa, gia đình cô tôi bị phân tán. Sau cùng cô tôi sang định cư ở Canada cho tới ngày trút hơi thở cuối cùng. Năm 1994, cô tôi dự định tổ chức một chương trình đại quy mô với ba anh em họ Trần (Khê – Trạch – Sương) cùng với sự hợp tác của Bạch Yến và tôi. Giấc mộng đó bị ngăn trở khi chú tôi Trần Văn Trạch ngã bịnh tại Paris và từ trần ngày 12 tháng 4 năm 1994 (một tháng trước khi chương trình được khai mạc tại Montréal, Canada, vào ngày 22 tháng 5 năm 1994). Thế là chương trình “Sầm Giang tái ngộ” mất đi sự hiện diện của một quái kiệt mà cô tôi đã cố tìm tài liệu để ghi lại những tiết mục hài hước tiêu biểu của chú tôi từ trước tới nay, đặc biệt là bản “Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia” và những bài nhạc khác “Tai Nạn Tê-lê-phôn”, “Xe Lửa Mùng 5”, v.v… Chương trình được cô tôi tổ chức thành công vào cuối tháng 5, 1994. Chương trình này được em Trịnh Hoàng Diệu đưa lên Youtube toàn bộ “Sầm Giang tái ngộ”: https://www.youtube.com/watch?v=SiL34EfWdNQ

Truyền thống gia đình cô Ngọc Sương được tiếp nối qua giọng hát của cô con gái tên là Hoàng Mộng Thúy Cô Ngọc Sương có một con gái duy nhứt trong số 7 người con. Tên cô con gái là Trịnh Huỳnh Yến, với biệt hiệu đi hát là Hoàng Mộng Thúy (sinh năm 1951). Hoàng Mộng Thúy sang Pháp năm 1974 gặp tôi là anh em cô cậu. Tôi đã đào tạo Hoàng Mộng Thúy thành ca sĩ dân ca qua hai dĩa hát 30cm/33 vòng (Vietnam: tradition du Sud / Trần Quang Hải & Hoàng Mộng Thúy, phát hành năm 1976 tại Paris, và dĩa Musica del Vietnam phát hành tại Milano, xứ Ý vào năm 1978). Sau đó Hoàng Mộng Thúy thành lập gia đình và từ giã lĩnh vực âm nhạc không còn trình diễn với tôi nữa. Năm 2013 tôi có dịp sang Canada, gặp lại cô Ngọc Sương lần cuối cùng. Và năm 2017, trong dịp lễ Giáng Sinh 2017, cô tôi trút hơi thở cuối cùng, mang theo những kỷ niệm riêng và theo gót hai người anh nổi tiếng Trần Văn Khê và Trần Văn Trạch. Paris, Pháp Ngày 9 tháng 1 năm 2018

Bài Viết Của nhà văn Hồ Trường An về Ca Sĩ Ngọc Thủy (tức Cô Trần Ngọc Sương)

Hai anh em Trần Văn Khê và Trần Văn Trạch thuộc giòng giõi âm nhạc ở đất Sầm Giang (Rạch Gầm) thuộc tỉnh Mỹ Tho. Khi hát cho hãng đĩa Oria thì Ông Khê lấy biệt hiệu là Hải Minh (tên ghép của hai cậu con trai của Ông là Trần Quang Hải và Trần Quang Minh). Trần Văn Khê là chồng của bà giáo sư Nguyễn Thị Sương. Cô Sương là thầy dậy môn Anh Văn của nhà văn Kiệt Tấn và tôi khi cả hai ngồi lớp Đệ Thất A trường Cao Tiểu Vĩnh Long. Rồi đó, khi chúng tôi chuyển qua chương trình học ban Thành Chung và ngồi năm Đệ tam niên A thì cô Sương dậy chúng tôi môn Pháp văn. Cô Sương ăn ở với thầy Khê được bốn mặt con, kể theo thứ tự là Trần Quang Hải, Trần Quang Minh, Trần Thị Thủy Tiên và Trần Thị Thủy Ngọc. Giờ đây, Trần Quang Hải và Trần Thị Thủy Ngọc đều trở thành nhà nhạc học lừng danh. Vợ của Hải là nữ danh ca Bạch Yến. Ngoài ra, người em gái út của thầy Khê và anh Trạch là chị Trần Ngọc Sương. Hồi còn con gái, chị hát cho đài Pháp Á, lấy tên cháu gái Thủy Ngọc của mình làm cái nghệ danh cho mình. Nữ ca sĩ Thủy Ngọc có giọng kim cao vút, hát bài “Áng Mây Chiều” của Dương Thiệu Tước thì không chê vào đâu được. Về sau này, con gái của chị Thủy Ngọc tên là Trịnh Quỳnh Yến theo Trần Quang Hải học nhạc và cùng đi trình diễn khắp Âu Châu và Mỹ Châu với Hải. Cô lấy biệt hiệu là Hoàng Mộng Thúy. Cô hát dân ca ba miền thật hay, ngâm thơ rất rựa ràng và cho giọng mình thâu vào dĩa rất nhiều. Tiếc thay, khi cô lấy ông chồng bác sĩ y khoa thì giải nghệ luôn. Sau đó, Trần Quang Hải kết hôn với nữ danh ca Bạch Yến và chính Bạch Yến thay thế Hoàng Mộng Thúy theo Hải đi lưu diễn khắp Âu Mỹ để phổ biến cái đẹp ngành âm nhạc Việt Nam.