Catégorie : TIẾNG VIỆT

GS TS Trần Văn Khê, cây đại thụ của nền âm nhạc truyền thống Việt Nam

GS TS Trần Văn Khê, cây đại thụ của nền âm nhạc truyền thống Việt Nam

Published on Jun 24, 2015

Nền âm nhạc Việt Nam và thế giới vừa mất đi một cây đại thụ. Hưởng thọ ở tuổi 94, GS TS Trần Văn Khê luôn tâm huyết và cống hiến cho nền âm nhạc dân tộc Việt Nam cho đến những ngày tháng cuối đời. Chúng ta hãy cùng nhìn lại cuộc đời, sự nghiệp và những cống hiến của GS TS Trần Văn Khê trong chương trình Ngày Trở Về của Đài THVN được thực hiện cách đây 4 năm.

HƯƠNG HỒ : Phản ứng của ‘Vua muỗng’ khi biết tin ung thư, báo VIETNAMNET, 28.04.2017

tran quang hai & hô thu hương , 20.04.17 BÀO VIETNAM NET.jpg

GS TS Trần Quang Hải & tác giả bài phỏng vấn Hồ Thu Hương, Hà nội, 20.04.17

– “Không biết ngày nào tôi sẽ ra đi nhưng nếu chỉ còn một ngày nữa để sống hay 1 tháng, 2 tháng thì vẫn muốn đó không phải là ngày mình phải nằm trên giường bệnh. Còn sống ngày nào, tôi sẽ vui và tận hưởng ngày đó…”, Giáo sư Trần Quang Hải.

Giáo sư Trần Quang Hải, giáo sư Trần Văn Khê
Giáo sư – « Vua muỗng » Trần Quang Hải.

Tôi đã làm những điều ba mình không làm

Thưa Giáo sư Trần Quang Hải, hơn 40 năm tiếp nối con đường nghiên cứu cổ nhạc dân tộc mà cha ông đã theo đuổi. Ông thấy mình đã thật sự thoát khỏi cái bóng của cha hay chưa?

– Ba tôi là đại giáo sư chuyên môn về nhạc Việt Nam và nhạc Á Châu. Tôi đi theo con đường ông, hấp thụ tất cả những tinh hoa và sự giáo dục của ông. Thế nhưng, không dừng lại ở đó, tôi đi xa hơn về nhạc thế giới bao gồm Phi Châu, Úc Châu, Mỹ Châu…

Ngoài âm nhạc truyền thống tôi còn bước vào thế giới của những người trẻ với những thể loại nhạc Techno, Hiphop… để họ biết rằng những nhà nghiên cứu như tôi vẫn đủ khả năng để cảm thụ và chơi những dòng nhạc hiện đại của họ. Khi mình đã hiểu được sở thích, thú vui âm nhạc của giới trẻ sẽ dễ dàng hơn trong việc tiếp cận và truyền dạy.

Giáo sư Trần Quang Hải, giáo sư Trần Văn Khê

Nghiên cứu và viết các bài giới thiệu, công bố những nghiên cứu của mình đối với thế giới là việc chính. Nhưng tôi cũng muốn những người nước ngoài và những bạn trẻ gốc Việt sống ở nước ngoài biết đến âm nhạc Việt Nam không phải theo kiểu ăn đồ hộp. Bởi vậy thái độ của những nhà nghiên cứu là phải gần gũi, tham gia những buổi nói chuyện với đối tượng và độ tuổi khác nhau. Tôi đã trình diễn hơn 3500 buổi tại 70 quốc gia trên thế giới giới thiệu những nhạc cụ độc đáo của dân tộc Việt Nam.

Giáo sư được đào tạo để trở thành nhạc sĩ chơi đàn violin nhưng con đường nào đưa ông về với nhạc cụ dân tộc?

– Tôi sang Pháp và tiếp tục được học với Giáo sư Đỗ Thế Phiệt để trở thành nhạc công chơi đàn vĩ cầm và nhạc cụ Tây Phương. Khi đó ba tôi đang ở Pháp, và ông đưa tôi đến gặp một giáo sư violin nổi tiếng trên thế giới, là bạn của ông. Sau bữa ăn, vị giáo sư ngỏ ý muốn tôi chơi violin thử bằng cách đưa tôi cây đàn trị giá 1 triệu USD. Lần đầu tiên chơi đàn trước bậc thầy tôi run lắm nhưng sau khi lấy lại tinh thần tôi đã chơi mấy bản.

Nghe xong vị giáo sư đáng kính nói: « Cháu đàn nghe tạm được, khả năng của cháu được đào tạo tốt có thể trở thành một giáo sư violin giỏi, những người như thế có hàng chục nghìn ở Pháp. Nếu cháu giỏi hơn được vào chơi ở Dàn nhạc quốc gia opera của Pháp, ngoại hạng hơn nữa trở thành nghệ sĩ biểu diễn trên thế giới có hàng trăm người như thế ở Pháp. 

Nước Pháp không cần thêm một nghệ sĩ violin, mà cần hơn một nghệ sĩ, một chuyên gia về âm nhạc cổ truyền dân tộc Việt. Cháu may mắn vì có người cha là sư tổ về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Vậy cớ sao cháu không quay về cội nguồn? Trở thành một người nối tiếp con đường của cha mình, nối tiếp để giữ vững những truyền thống của Việt Nam?”.

Trong lòng tôi lúc đó thấy buồn nhưng sau đó ngẫm lại thấy ông nói đúng và sau này xin phép ba làm đệ tử. Tôi vẫn nhớ ngày mình nói ý nguyện với ba, ông đã ôm tôi thật chặt, hai cha con rơi những giọt nước mắt của hạnh phúc và sẻ chia. Tôi hiểu, ba đã mong điều này từ lâu lắm rồi. Và chính ông đã nói với giáo sư violin khuyên tôi nên trở về với âm nhạc dân tộc. Suốt 10 năm đi học tôi đã khám phá rất nhiều nhạc lạ lùng, thú vị.

Giáo sư Trần Quang Hải, giáo sư Trần Văn Khê
GS.TS Trần Quảng Hải tại buổi Lễ tiếp nhận sách, băng đĩa tư liệu nghiên cứu âm nhạc của ông cho Học viện Âm nhạc Quốc Gia VN

Từ chối lời đề nghị của chính phủ Pháp

Nhưng tới hôm nay, Giáo sư vẫn đang độc bước trên con đường của mình vì chưa có học trò – đệ tử thật sự nối gót. Đó là điều đáng buồn?

– Đúng, những người theo tôi học để làm các công trình nghiên cứu, các buổi luận văn tại các giảng đường Học viện rất nhiều nhưng đệ tử – học trò ruột tôi không có và chắc cũng “hiếm có khó tìm”. Nhưng tôi không thấy buồn, vì đó là chuyện của những người trẻ không muốn làm, không muốn theo hoặc không thể theo. Tôi là một trong những người khác lạ và có sự đam mê lớn và nhận thức được chuyện quan trọng trong việc đi nghiên cứu cổ nhạc dân tộc.

Tôi từng gặp một phụ huynh có cậu học trò cùng sở thích về âm nhạc dân tộc và đặt câu hỏi: « Anh chị có dám giao con cho tôi trong vòng 10 năm không được gặp? Tôi sẽ huấn luyện cậu này trở thành một nhà nghiên cứu?”, đồng thời tôi cũng hỏi cậu bé: Concó chịu vậy không? và… không ai chịu hết…

Tôi đi theo con đường của ba không phải do ông áp đặt hay bắt buộc. Ông chỉ truyền dạy cho tôi kiến thức, đam mê, nhưng đến khi tôi lựa chọn con đường để đi, để thuyết phục tôi thay đổi, chính ông cũng không nói mà phải nhờ một người khác nói. Với người trẻ không bắt buộc được đâu. Mình phải làm sao để tụi trẻ cảm thấy cái hay cái đẹp, sự hấp dẫn của cổ nhạc để họ có thể ngồi nghe không phải bắt ép.

Giáo sư Trần Quang Hải, giáo sư Trần Văn Khê

Giữa hành trình đến và đi để nghiên cứu về âm nhac dân tộc, trong hơn 40 năm đó đã có lúc nào ông bế tắc, nản lòng và khóc?

– Không hẳn bế tắc, tuyệt vọng nhưng tôi đã khóc… Đó là ngày ba tôi mất, ông đi mang theo một tâm nguyện sẽ thành lập quỹ Trần Văn Khê (Q-TVK) và việc thỉnh nguyện chuyển ngôi nhà 32 Huỳnh Đình Hai trở thành trung tâm Trần Văn Khê (TT-TVK).

Giáo sư Trần Quang Hải, giáo sư Trần Văn Khê

Việc hiến tặng toàn bộ tài liệu nghiên cứu về dân tộc học cho Học Viện âm nhạc Việt Nam thay vì để lại nước Pháp hẳn có mục đích và ý nghĩa to lớn?

– Đúng vậy! Một cánh én nhỏ chẳng thể làm nên mùa xuân. Nếu mình tôi không thể làm hết được, cần có sự cộng hưởng, chia sẻ của tất cả mọi người. Tại Học viện Âm nhạc Quốc gia có những người thay tôi chia sẻ những công trình nghiên cứu của mình, bảo tồn nó để không bị mai một hay thất lạc. Nơi tôi ở bên nước Pháp cũng ngỏ ý mua lại những tài liệu nghiên cứu này và thành lập trung tâm nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam tại đó, đổi lại tôi sẽ được cấp nhà, khoản tiền khá lớn nhưng tôi không đồng ý.

Dù sống nơi xứ lạ hơn 55 năm nay nhưng dòng máu chảy trong tôi là dòng máu Việt Nam, thân thể tôi là con người Việt Nam, tôi nói tiếng mẹ đẻ. Vì thế, không có lý do gì tôi lại hiến tặng tất cả những gì mình dày công nghiên cứu và đặt tất cả tâm huyết, tình cảm về quê hương cho xứ người. Tiền bao nhiêu cũng xài hết. Quan trọng là đến lúc nhắm mắt xuôi tay tôi đã làm được điều có ý nghĩa.

Tôi không muốn sống 2-5 năm trên giường bệnh

Giáo sư đang bị ung thư và ông đối diện với nó như thế nào?

– Tôi chỉ mới biết mình bị ung thư máu cách đây hai tháng khi đi khám sức khỏe. Bác sĩ bảo tôi có thể sống 2 – 5 năm nếu kiên trì xạ trị chiếu điện và theo dõi bệnh thường xuyên còn nếu không vài tháng tôi sẽ chết. Bác sĩ hỏi tôi chọn cách nào?, tôi trả lời: “Tôi muốn vài tháng tôi chết, không muốn sống 2 – 5 năm mà phải nằm trên giường bệnh”. Bác sĩ nói: “Tùy ông thôi nhưng khi gần chết ông sẽ ham sống lắm đấy”.

Đối với tôi, một khi mình đã thỏa mãn những gì mình làm, mãn nguyện ra đi vui vẻ chẳng còn điều gì phải tiếc nuối. Không biết ngày nào sẽ ra đi nhưng nếu chỉ còn một ngày nữa để sống, một ngày hay 1 tháng, 2 tháng nữa để sống tôi vẫn muốn đó không phải là ngày phải nằm trên giường bệnh. Còn sống ngày nào, tôi sẽ vui và tận hưởng ngày đó. Tôi ăn uống như người thường chẳng kiêng khem cái gì, đi những nơi mình muốn đến, làm những gì mình thích và còn dang dở.

Giáo sư Trần Quang Hải, giáo sư Trần Văn Khê

Đó có phải là hệ quả của việc ông  cho phép dùng hóa chất có thể gây ung thư để soi vào cổ họng mình?

– Khi mình làm nghiên cứu, thử nghiệm, mình không biết hậu quả thế nào. Thử nghiệm có thể làm cho mình chết, cũng có thể mang lại cho mình những nhận thức đột phá. Tất cả mọi nghiên cứu có thành quả đều là ngẫu nhiên, chẳng ai biết trước được. Ba tôi đã lo lắng vì tôi dám làm những điều mà ba tôi không làm. Nhưng tôi là người nghiên cứu, khác với người đi trình diễn ở chỗ, tôi phải biết mình hát ở chỗ nào, âm thanh giọng hát mình thoát ra từ đâu…

Trong câu chuyện, chia sẻ của mình ông nhắc đến rất nhiều hai tiếng dân tộc. Điều đó được phát huy như thế nào trong nếp nhà, gia đình của ông ở bên Pháp?

– 60 năm xa đất nước là 60 năm tôi mang theo nếp sống Việt trong ngôi nhà tại Paris, mang theo hàng trăm món ăn Việt trên bàn ăn gia đình. Bữa cơm của gia đình chúng tôi thường có thịt kho nước dừa ăn với dưa hấu hoặc xoài. Ngày tết có bánh chưng bánh tét, Trung thu có bánh dẻo bánh nướng, mồng 5 tháng 5 có bánh trôi bánh chay.

Con tôi ngày xưa học thạc sỹ về âm nhạc, nghiên cứu âm nhạc và 10 năm làm tổ chức những Festival nhạc Tây Phương nhưng sau này bỏ hết bước sang làm ẩm thực, chuyên gia về âm thực. Năm nay nó lại ra cuốn sách những món ăn thuần Việt phân thành từng vùng: Bắc, Trung, Nam. Nó sinh ra ở Pháp nhưng nói tiếng Việt như tôi nói chuyện với bạn.

Không có sự lai căng nào xuất hiện trong những thành viên gia đình tôi. Chúng tôi là thuần Việt.

Cảm ơn những chia sẻ của giáo sư! 

Hương Hồ

http://vietnamnet.vn/vn/giai-tri/di-san-my-thuat-san-khau/gs-tran-quang-hai-doi-mat-voi-can-benh-ung-thu-mau-369969.html

WIKIPEDIA : Tiểu sử GS TRẦN QUANG HẢI

Trần Quang Hải

TQH plays the Jew's harp, Moscow, june 2012 - 2 (2).jpg

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Giáo sư Tiến sĩ Trần Quang Hải (sinh năm 1944) là một chuyên gia về âm nhạc châu Á người Việt Nam.

Mục lục

Thân thế

Ông sinh ngày 13 tháng 5 năm 1944, tại Linh Ðông, quận Thủ Ðức, tỉnh Gia Định. Ông là hậu duệ đời thứ năm của nhạc sĩ cung đình Huế, Trần Quang Thọ (1830-1890), đời thứ bốn của nhạc sĩ nổi tiếng về đàn tỳ bà, Trần Quang. Ông là con trai trưởng của Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê và bà Nguyễn Thị Sương, cựu giáo sư Anh văn Trường nữ Trung học Gia Long.

Sự nghiệp

Chịu ảnh hưởng truyền thống gia đình, ông sớm định hướng theo con đường âm nhạc. Sau khi tốt nghiệp khoa violin tại trường Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn, ông sang Pháp tiếp tục học nâng cao về violin.[1]. Ở đó được cố vấn bởi trưởng dàn nhạc giáo sư Yehudi Menuhin ông đổi sang học các loại nhạc cụ dân tộc khác tại các trường đại học: Louvre, Sorbonne (Paris, Pháp), đại học Cambridge (London, Anh). Ông Hải sau đó lấy bằng tiến sĩ âm nhạc dân tộc người Việt tại Pháp, người thứ hai lấy bằng này sau cha của mình.[2]
Ông bắt đầu làm việc cho Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học tại Bảo tàng Con Người (Musée de l’Homme) Paris (Pháp) từ năm 1968. Ông đã có những nghiên cứu đặc biệt trong lĩnh vực Dân tộc âm nhạc học như: hát đồng song thanh, phát triển gõ muỗng, phát triển kỹ thuật biểu diễn đàn môi… đang được thế giới quan tâm. Ông cũng là thành viên của Hội đồng Âm nhạc truyền thống quốc tế [3]

Ông và vợ là nghệ sĩ Bạch Yến, đã thực hiện hơn 3.000 buổi giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam ở nhiều nước trên thế giới… [4]

Danh hiệu

Ông được tôn xưng danh hiệu « vua muỗng » sau khi chiến thắng tại một cuộc thi gõ muỗng trong khuôn khổ Đại nhạc hội dân nhạc tại Cambridge, Anh vào năm 1967. Tính ra, ông có hơn 60 năm gắn bó với những giai điệu từ muỗng. Ông từng biểu diễn « gõ muỗng » trong hơn 1.500 chương trình biểu diễn, buổi sinh hoạt âm nhạc ở hơn 70 quốc gia, vùng lãnh thổ. Tại Việt Nam, ông được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục người thể hiện tiết tấu – âm thanh đa dạng nhất từ nghệ thuật gõ muỗng.[5]

Đời tư

Ông lập gia đình với nữ ca sĩ Bạch Yến (ca sĩ) ngày 17 tháng 6 năm 1978 tại Paris (Pháp).[6] Trước đó ông có một người con gái riêng. Hai ông bà sau này không có con nhưng sống hạnh phúc [7].

Chú thích

Liên kết ngoài

HOÀNG TUYẾT : Festival đờn ca tài tử quốc gia đầu tiên

Festival đờn ca tài tử quốc gia đầu tiên

Thứ Ba, 07/01/2014 18:33

Ngày 7/1, UBND tỉnh Bạc Liêu cho biết, từ ngày 20-25/4/2014 tại tỉnh sẽ diễn ra Festival đờn ca tài tử Quốc gia lần thứ nhất – Bạc Liêu 2014 với chủ đề “Đờn ca tài tử, tình người- tình đất phương Nam”.

Bà Lê Thị Ái Nam, Phó Chủ tịch tỉnh Bạc Liêu thông báo việc tổ chức Festival lần thứ nhằm tôn vinh và quảng bá nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ, một loại hình nghệ thuật độc đáo của dân tộc Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng. Đây cùng là di sản văn hóa vi vật thể của nhân loại.

Sự kiện này cũng góp phần bảo tồn và phát triển nghệ thuật đờn ca tài tử và phong trào đờn ca tài tử Nam Bộ trong đời sống hiện đại. Mặt khác, cũng giúp quảng bá về vùng đất và con người Nam bộ nói chung và tỉnh Bạc Liêu nói riêng.

UBND Bạc Liêu tổ chức họp báo công bố Festival đờn ca tài tử quốc gia- Bạc Liêu 2014.

Festival lần này sẽ có 21 hoạt động sôi nổi gắn với các cuộc thi, triển lãm, hội thảo hội chợ chính như: Hội chợ thương mai- du lịch; Lễ hội ẩm thực Nam Bộ; Chương trình nghệ thuật khai mạc Festival và lễ đón nhận bằng vinh danh của UNESCO công nhận nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ là di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại; Chương trình nghệ thuật tôn vinh soạn giả trọng nguyễn và soạn giả Yên Lang, thi ảnh nghệ thuật chủ đề “Đất nước, con người Bạc Liêu” và “Khoảnh khắc Festival Đờn ca tài tử Nam Bộ”…

Tin, ảnh: Hoàng Tuyết

http://baotintuc.vn/van-hoa/festival-don-ca-tai-tu-quoc-gia-dau-tien-20140107181411385.htm

TRẦN KIM ĐOÀN : HOÀI NIỆM THẦY VĂN GIẢNG / AI VỀ SÔNG TƯƠNG

Vangiang_1.jpg

   Thầy Ngô Văn Giảng vừa tạ thế tại Úc (ngày 9 tháng 5, 2013) hưởng thọ 89 tuổi.Tin buồn loan ra, tôi bâng khuâng nhớ về 54 năm trước, năm 1959, thầy là giáo sư âm nhạc của chúng tôi tại trường Hàm Nghi, . Thuở ấy, thầy mới ngoài 30, dáng điệu phương cường, đi chiếc xe gắn máy hiệu Zunndapp của Đức nổ bịch bịch nổi bật cả sân trường.
    Tôi còn nhớ ngày đầu tiên khi Thầy bước vào lớp đệ Thất B1 của chúng tôi, trò Trương Phước Ni bắt tay làm loa đứng dậy chào thầy bằng câu: “Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn…” Thầy cười rất tươi cho cả lớp, nhưng cũng lập nghiêm nhìn chú học trò rắn mắt ở dãy bàn cuối lớp. Đây là câu mở đầu của hùng ca Lục Quân Việt Nam, một trong những bài ca mang tiết điệu hành khúc, hùng tráng nổi tiếng nhất của Thầy – nhạc sĩ Văn Giảng – như Thúc Quân, Đêm Mê Linh, Qua Đèo, Nhảy Lửa

   Thầy đã là một nhạc sĩ thành danh, nổi tiếng trong cả nước, trước khi trở thành giáo sư âm nhạc của trường Hàm Nghi.    Nhưng nhiều người chỉ biết Văn Giảng qua những bản hùng ca. Bởi thế, vào mấy năm đầu thập niên 1950, khi bản nhạc để đời của Thầy, Ai Về Sông Tương, trở thành một bản tình ca thời danh với tên tác giả là Thông Đạt có lẽ ít ai để ý rằng, trong góc khuất của những tâm hồn nghệ sĩ thì bên cạnh nhịp đời hào hùng vươn tới vẫn có tiếng thở dài chan chứa điệu buồn.
    Hai niên khóa học với nhạc sĩ Văn Giảng, tôi thích học nhạc thì ít mà mê Thầy kể chuyện thì nhiều. Cứ mỗi cuối giờ, Thầy có một câu chuyện kể về các giai thoại âm nhạc. Thích nhất là những chuyện thâm cung bí sử của những nghệ sĩ âm nhạc tài hoa. Chẳng hạn như bản nhạc Ngày Về của Hoàng Giác, Thầy xướng âm lên và phân tích cho chúng tôi nghe rằng, tiết điệu của bài ca đó có những trường canh trãi dài xa vắng và âm hưởng thương nhớ quặn lòng “rất Tây Phương” vì đây là bản nhạc do một người lính Đức trong đội quân viễn chinh của Pháp viết lên giai điệu. Nhạc sĩ Hoàng Giác chỉ soạn ca từ… Hoặc như bản nhạc Trầm Hương Đốt của Bửu Bác, xuất xứ là bài Hải Triều Âm. Đây là một trong những bản nhạc nghi lễ đầu tiên dùng trong sinh hoạt chùa viện đã bứt phá từ giai điệu ngũ âm “Đăng Đàn Cung” để tiến lên bát cung của phương Tây. Bởi vậy mà ảnh hưởng âm điệu “thánh ca nhà thờ” như âm vang trầm trầm không cao không thấp quá tầm uyển thanh của organ thể hiện rất rõ trong giai điệu của bản nhạc.

   Nhưng thú vị hơn cả là lịch sử bản nhạc Ai Về Sông Tương. Thầy kể rằng, thời trai trẻ, Thầy ở Thành Nội và yêu một cô gái ở Kim Long – Kim Long có gái mỹ miều; trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều trẫm đi… mà – nhưng duyên không thành vì gia đình nho phong của cô bé không có cái nhìn thiện cảm với đời nghệ sĩ, nhất là nghệ sĩ trong ngành âm nhạc, xướng ca… Thế là chia tay và cô bé đi lấy chồng!
   Rồi một hôm, Thầy vào rạp Xi-nê Tân Tân, gần cầu Trường Tiền bên bờ Bắc sông Hương để coi phim “Bé Nhà Trời” (Les enfants du paradis). Ngay trước mắt Thầy, ở hàng ghế trước có một cô Bé tóc dài. Tuy nhìn không rõ mặt nhưng từ dáng dấp đến hương tóc thoang thoảng mùi hoa Ngâu của người thiếu nữ đã làm sống lại hình ảnh người tình Kim Long “ngày xưa Hoàng Thị” ấy. Thầy bị xúc động đến nỗi không thể còn ngồi lại lâu hơn trong rạp chiếu bóng để xem phim, nên vội vàng ra khỏi rạp. Thầy cỡi chiếc xe đạp Dura Mercier của Thầy và đạp xe dọc theo bờ sông Hương để vô cửa Thượng Tứ vào nhà ở Thành Nội. Thoáng chốc dòng sông Hương hiện ra như là dòng sông Tương chia biệt trong truyện tình cổ thư Trung Quốc. Thầy vừa đến nhà là dựng ngay chiếc xe đạp ngoài hiên, đi nhanh vào nhà và vội vã sáng tác bản nhạc bằng tất cả sự hoài niệm và háo hức nghệ thuật với sự chấn động dị thường như phép lạ hóa thân. Bản nhạc Ai Về Sông Tương được viết ra trong vòng mười lăm phút!
   Sau đó, Thầy bí mật ký tên là Thông Đạt và chép một bản gởi ra đài phát thanh toàn quốc là đài Pháp Á ở Hà Nội. Mấy hôm sau, Mạnh Phát vừa là nhạc sĩ vừa là ca sĩ đã hát bản Ai Về Sông Tương lần đầu trên đài Pháp Á Hà Nội. Bản nhạc sáng tác năm 1949 đã nhanh chóng nổi tiếng trong toàn cả nước. Đã trải qua hơn 60 năm, những mối tình đã cũ, những hẹn hò thuở răng trắng tóc xanh đã thành “răng long đầu bạc”. Nhưng Ai Về Sông Tương vẫn mới như thời gian là nước chảy qua cầu, vẫn còn là tiếng lòng tình tự của những đôi tình nhân ước hẹn không thành. Bản nhạc với một giai điệu thướt tha lãng mạn, lời lẽ đậm nét hoài niệm trữ tình làm dậy lên nguồn tình cảm sướt mướt, mượt mà mà rất “sang” ấy như một dòng suối tươi tắn, mát dịu trong một hoàn cảnh tạm hồi sinh sau cuộc chiến:
Ai có về bên bến sông Tương
Nhắn người duyên dáng tôi thương
Bao ngày ôm mối tơ vương
Tháng với ngày mơ nhuốm đau thương
Tâm hồn mơ bóng em luôn
Mong vài lời em ngập hương…
   Cũng theo lời Thầy vui vui kể chuyện rằng, Mạnh Phát, là bạn thân của Văn Giảng, đã nhờ Văn Giảng đến nhà ấn hành tân nhạc gần như độc nhất thời bấy giờ là nhà xuất bản Tinh Hoa ở Huế do ông Tăng Duyệt làm giám Đốc để hỏi cho ra Thông Đạt là ai ngay sau khi bản nhạc phát trên đài Pháp Á. Thầy tảng lờ như không hay biết. Nhưng mãi đến ba tháng sau thì tông tích của Thông Đạt mới được tiết lộ. “Mạnh Phát vô Huế chơi khi biết tui là Thông Đạt, hắn đấm lưng tui thùi thụi như rứa thì thôi!” Thầy Văn Giảng cười vui kể lại.
   Một lần trong giờ học nhạc, trò Nguyễn Xuân Huế là tay đọc tiểu thuyết đệ nhất trong lớp hỏi Thầy: “Thưa Thầy, tại sao mình có sông Hương, mình cũng có Hương giang đầu, Hương giang vỹ mà Thầy lại phải vay mượn sông Tương của Tàu như rứa ạ?”. Thầy trả lời, đại khái là tại sông Hương chưa có chuyện tình nào nổi tiếng trong tình sử như sông Tương. Tương Giang là một con sông ở Trung Hoa, bắt nguồn từ núi Duyên Hải, chảy qua Hồ Nam dài hơn hai ngàn dặm. Còn ý “ai về sông Tương” của Thầy trong bản nhạc là bắt nguồn từ cảm hứng của bốn câu thơ tình sử trích từ khúc Trường Tương Tư của nàng Lương Ý, đời Hậu Chu. Nàng và Lý Sinh yêu nhau say đắm nhưng phải chia tay. Nàng làm thơ mong gửi gấm nguồn tâm sự đau khổ khi phải xa cách người yêu:
Quân tại Tương Giang đầu
Thiếp tại Tương Giang vĩ
Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương Giang thủy

(Chàng ở đầu sông Tương
Thiếp ở cuối sông Tương
Nhớ nhau không thấy mặt
Cùng uống nước sông Tương)
 
                  
 
     Trong những ngày phong trào đấu tranh Phật giáo xẩy ra tại Huế năm 1963, có lần tôi gặp Thầy trên con đò Thừa Phủ, Thầy nói là lên chùa Từ Đàm nhưng đường sá trở ngại phải đi đò sang sông rồi đi bộ lên chùa. Khi đò ra giữa sông tôi nghịch ngợm hỏi Thầy: “Thưa Thầy, đã có ai về sông Tương chưa ạ?” Thầy cũng cười đáp lại: “Đối với tôi thì sông Tương là sông Hương. Tôi chỉ mong cuối đời về lại con sông này…” Ngày đó và bây giờ, tôi tự hiểu khái niệm “cuối đời về lại” của Thầy là linh khí của con người luân lưu sống giữa hồn thiêng sông núi. Nếu vậy, thì hôm nay Thầy đã về sông Tương.
   Đó là lần cuối tôi gặp Thầy Văn Giảng. Nhưng sau đó không lâu, tôi lại được “gặp” Thầy qua một tác phẩm mang tính chất đạo ca của khách hành hương mà tôi đã gặp trên chuyến đò Thừa Phủ: Nhạc phẩm Từ Đàm Quê Hương Tôi. Lần nầy Thầy để tên tác giả là Nguyên Thông. Bản nhạc tuy được liệt vào thể loại nhạc tôn giáo nhưng cả giai điệu lẫn ca từ đã vượt ra ngoài khuôn khổ giới hạn của văn hóa chùa viện. Cảm quan nghệ thuật sáng tạo của người nhạc sĩ tài hoa đã dung hóa được tính chất tráng liệt của hùng ca như Thúc Quân, Lục Quân Việt Nam, làn điệu mượt mà lãng mạn của tình ca như Ai Về Sông Tương, Ai Đưa Con Sáo Sang Sông và biểu tượng thiêng liêng, siêu thoát của đạo ca như Mừng Đản Sanh, Ca Tỳ La Vệ, Từ Đàm Quê Hương Tôi:
Quê hương tôi miền Trung
Sớm hôm chuông chùa nhẹ rung
Tiếng muôn đời hồn tổ tiên kiêu hùng
Ôi uy nghiêm bóng chùa Từ Đàm
Nơi yêu thương phát nguồn đạo vàng
Qua bao giông tố chùa Từ Đàm tôi vẫn còn…
   Những nhạc sĩ tài hoa của nền tân cổ nhạc Việt Nam thuộc thế hệ Chiến Tranh Việt Nam lần lượt ra đi. Nghệ thuật và người nghệ sĩ đến với đời và ra đi không bằng tấm vé một chiều. Tác phẩm để lại cho thế hệ kế thừa sẽ làm cho con đường sáng tạo nghệ thuật rộn ràng và phong quang hơn. Với hơn 50 tác phẩm âm nhạc phong phú giá trị nghệ thuật để lại cho đời, nhạc sĩ Văn Giảng đã cống hiến phần tinh hoa lớn nhất của đời mình vì lợi lạc của tha nhân mà các nhà tu Phật giáo thường gọi là “công hạnh viên thành”. Thế hệ đàn em, học trò như chúng tôi có điểm tựa tinh thần đáng tự hào cùng tấm lòng trân trọng trong giờ phút tưởng niệm và bái biệt Thầy.

 

Trần Kiêm Đoàn
(Xin xem email đính kèm)

DƯƠNG KIM THOA : GS,TS Trần Quang Hải Bảo tồn nhạc dân tộc là công việc của nhiều thế hệ

Bảo tồn nhạc dân tộc là công việc của nhiều thế hệ

Thứ Hai, 02/06/2014, 07:37 [GMT+7]
Hai cha con GS, TS Trần Văn Khê và GS, TS Trần Quang Hải hòa đàn tại tư gia.
Hai cha con GS, TS Trần Văn Khê và GS, TS Trần Quang Hải hòa đàn tại tư gia.

Theo GS, TS Trần Quang Hải, đâu cần phải đợi UNESCO xác nhận giá trị của di sản nghệ thuật dân tộc, chính người Việt phải biết nâng niu, gìn giữ trước khi các di sản phi vật thể đó mất đi…

Nhân việc chuẩn bị hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận danh hiệu di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cho dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh, GS, TS Trần Quang Hải chia sẻ thêm về việc bảo tồn, phát triển nhạc cổ truyền dân tộc.

GS, TS Trần Quang Hải cho biết:

– Việc chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO công nhận dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã được khởi xướng từ năm 2013. Năm nay, Bộ VH-TT&DL muốn bổ túc để hoàn thiện hồ sơ trước khi đưa trình chính thức vào ngày 30-6.

Tất cả chúng ta đều mong dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh sẽ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhưng chuyện được hay không, theo tôi, cũng chỉ là vấn đề bề mặt. Nhìn sâu hơn, chúng ta không cần phải đợi được UNESCO công nhận rồi mới phát triển.

Tôi thấy mọi người hiện hướng về sự ghi nhận của UNESCO, đó là sai lầm. Chúng ta không thể dựa vào sự phán xét của người nước ngoài. Không có lý do gì cần phải có sự nhìn nhận của UNESCO ta mới thấy đó là loại hình nghệ thuật có giá trị. Chân giá trị của hát ví dặm không phải ở đó. Điều quan trọng nhất là khi chính người dân sở tại thấy được giá trị đặc sắc của nghệ thuật truyền thống ở địa phương mình và tìm cách bảo tồn, phát triển.

* Theo ông, điểm đặc sắc nhất ở dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh là gì?

– Hát ví dặm có điểm khác với hát quan họ và ca trù ở chỗ người hát không phải luyện tập, người dân nào cũng hát được. Họ hát ngẫu hứng, hát trong khi đi chơi, hát trong lúc lao động.

Điểm đặc sắc nữa của nó là tính tương tác, đối đáp. Đó là khi có anh chàng ngồi đan nón bên này, thấy bên kia có cô gái trông “vui vui”, bèn tìm cách hát trêu chọc. Cô gái kia bị chọc thì mắc cỡ, phải tìm cách ứng đối. Trong sự đối đáp đó, giai điệu không quan trọng bằng ngôn từ.

Đặc trưng tiếng nói của người Nghệ khá nặng, chỉ có ba âm. Theo đó, trong âm nhạc chỉ có tam cung, tứ cung chứ không phải ngũ cung như dân ca miền Bắc hay miền Nam. Riêng trong hát dặm, có điệu dặm ru có thang âm ngũ cung của miền Bắc, do sự du nhập từ Bắc vào. Tôi cũng nhận ra sự phong phú trong cách luyến láy rất hay của giai điệu dân ca ví dặm.

* Vậy có sự tương đồng hay khác biệt nào giữa tính ngẫu hứng trong dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh và tính ngẫu hứng trong đờn ca tài tử Nam Bộ?

“Giáo dục một thế hệ, không phải chỉ là vấn đề văn hóa, mà còn là giáo dục về âm nhạc. Đó là cách thức có thể mang tới sự sống còn của nhạc dân tộc”GS, TS Trần Quang Hải

– Tính ngẫu hứng trong đờn ca tài tử thể hiện rõ nhất trong khi đờn với nhau. Tùy theo trình độ hiểu biết, tùy theo cách đờn chân phương hay hoa lá, một bản đờn hòa chung sẽ diễn ra theo những cách khác nhau. Trong khi đờn, tính ngẫu hứng còn khiến người ta chọc phá để thử tài nhau, điều này không có trong tính ngẫu hứng của dân ca ví dặm.

Trong đờn ca tài tử, một anh chạy xích-lô, anh thợ cắt tóc có thể đờn chung với một ông kỹ sư, bác sĩ. Còn trong hát ví dặm, sự giao lưu thường diễn ra giữa những người cùng một làng hay cùng một nghề như phường vải, phường nón.

Như vậy, khác biệt cơ bản ở chỗ, hát ví dặm Nghệ Tĩnh có sự phóng túng trong lời ca, không phải trong giai điệu. Còn ở đờn ca tài tử, phóng túng trong giai điệu (tiếng đờn), không phải trong lời ca.

* Cũng giống các loại hình nghệ thuật truyền thống khác, để tồn tại và phát triển, cần có không gian của nó, chúng ta vẫn gọi đó là không gian diễn xướng. Ông nói, năm ngoái đã có dịp đi thực địa tại Nghệ An và Hà Tĩnh. Vậy không gian diễn xướng của dân ca ví dặm theo ông thấy như thế nào?

– Bây giờ về lại những vùng đó, tôi không thấy những gì như đã đọc trong sách vở vì tất cả đều được dựng lại. Tuy vậy, có thể thấy họ đã dựng lại với sự cố gắng và hồ hởi của những người muốn bảo vệ giá trị âm nhạc truyền thống. Họ tới gặp các nghệ nhân để thu âm và thống kê các làn điệu ví dặm còn lại.

Nhưng thời đại bây giờ khác nhiều. Chỉ nói riêng chuyện giặt giũ, ngày xưa người ta ra sông giặt áo, bây giờ còn ai ra sông La vừa giặt vừa hát hết nguyên một ngày, rồi vừa làm việc, lại vừa hát đối đáp với một anh đánh tôm đánh cá nào gần đó.

Chưa kể bây giờ người ta phải dùng loa đài để hát vì hát “chay” không mấy người đủ giọng. Cùng với hệ thống máy phóng thanh thì dàn nhạc đệm cũng khiến người hát không còn chú tâm được vào cảm xúc, tình cảm của làn điệu. Dù thế, vẫn phải khẳng định rất nhiều làn điệu trong dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh đã được các nghệ sĩ thanh nhạc vận dụng thành công trong tác phẩm của mình.

* Ông có thể phân tích rõ hơn nguy cơ sân khấu hóa có thể làm mất các giá trị bản sắc của dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh?

– Khi bị sân khấu hóa, ví dặm có nguy cơ không còn là loại hình nghệ thuật ở trong nguồn gốc dân ca nữa. Từ việc bị sân khấu hóa, nó đi tới chỗ hướng về du lịch. Thêm vào đó, người ta còn phụ họa về hòa âm theo kiểu Tây phương. Họ nói làm như vậy để nâng cao giá trị âm nhạc, có bề dày âm nhạc là không đúng. Nhạc Việt Nam là nhạc đơn ca, đơn điệu, không phải nhạc đa âm. Do đó, việc đệm vào hòa âm là đi sai đường.

Thêm nữa, khi biểu diễn trên sân khấu, người hát bị đèn chiếu vào, đủ các loại xanh, đỏ, tím, vàng. Nguy hiểm nhất là vũ đạo. Những màn múa tới lui phụ họa làm phân tán người nghe khi thưởng thức dân ca.

Tôi nhận thấy, tình trạng sân khấu hóa ở ví dặm cũng nằm chung trong tình trạng sân khấu hóa tổng thể trên toàn quốc. Sân khấu hóa trong quan họ chúng ta đã thấy. Sân khấu hóa trong ca trù chúng ta cũng đã thấy. Rồi còn sân khấu hóa trong hát xoan, trong đờn ca tài tử… Tất cả nhạc dân ca Việt Nam đều đi tới tình trạng sân khấu hóa cũng bởi chuyện sinh kế. Người dân bây giờ không để ý tới chân giá trị của âm nhạc, nghe một điệu hát chay thì “chán lắm”. Giới trẻ nghe dân ca mà không có nhạc đệm đúng theo cách các bạn trẻ thường nghe trong các loại nhạc pop, rock thì cũng “chán lắm”.

Chưa kể tới vấn đề trang phục khi trình diễn hoàn toàn không liên hệ gì tới truyền thống. Cho nên nói tóm lại, sân khấu hóa là hướng đi có thể làm sai lệch tất cả những gì chúng ta cần phải bảo vệ và phát huy.

* Từ góc độ của một nhà nghiên cứu âm nhạc đã đi giảng dạy ở nhiều quốc gia trên thế giới, theo ông, đâu là cách giải quyết vấn đề hiệu quả lâu dài để vừa bảo tồn, phát triển, vừa giúp âm nhạc truyền thống của dân tộc hòa nhập với đời sống đương đại?

– Đây là vấn đề quan trọng, liên hệ tới cả một đường lối giáo dục. Phải đưa dân ca, nhạc truyền thống vào chương trình giáo dục. Chúng ta thấy rằng, cho tới hôm nay, trong chương trình giáo dục của Việt Nam, không có chương trình nào về âm nhạc dân tộc. Nếu có chỉ là một phần rất nhỏ, lại không có phần giảng về lịch sử âm nhạc Việt Nam.

Thử hỏi có bao nhiêu sinh viên Việt Nam du học nước ngoài nắm được nguồn gốc âm nhạc và số loại hình nhạc dân tộc của đất nước mình. Cùng lắm họ chỉ biết tới cải lương, quan họ, hát chèo, đàn tranh, đàn bầu, mà quên mất rằng, ngoài dân tộc Kinh, chúng ta còn 53 dân tộc khác, mỗi dân tộc lại có âm nhạc với bản sắc riêng. Làm sao để đưa vào giáo dục kiến thức âm nhạc truyền thống của các dân tộc anh em khác. Chính vì không hiểu hết sự phong phú, độc đáo của gia tài âm nhạc dân tộc, nhiều người trẻ có tâm thế vọng ngoại, xem cái gì của Tây phương cũng hay hơn vốn cổ ông cha để lại.

Như vậy, muốn bảo tồn, phát triển di sản âm nhạc truyền thống, chúng ta cần thực hiện chương trình giáo dục đi từ cấp tiểu học, trung học và đại học. Trong 12 năm học phổ thông, mỗi năm chỉ cần dạy từng chút về lịch sử âm nhạc, giúp người học biết được âm nhạc của những vùng, miền, dân tộc khác. Như vậy phải có các nhạc viện, trong đó đặc biệt quan tâm bộ môn sư phạm âm nhạc, hay giáo dục âm nhạc. Đây là bộ môn không đi vào vấn đề biểu diễn nhạc cụ, mà chỉ tập trung vào phương pháp giáo dục âm nhạc, giúp người học có hiểu biết chính xác về nguồn gốc âm nhạc.

Tôi đã giảng dạy âm nhạc ở nhiều nơi và thấy về thời lượng giảng dạy âm nhạc, ở Pháp mỗi tuần có một giờ, ở Hungary có 6 giờ một tuần về lịch sử âm nhạc. Ở Na Uy mỗi năm tổ chức 5.000 buổi trình diễn âm nhạc cổ truyền cho trẻ em. Tôi đã được mời sang Na Uy giảng 600 buổi về nhạc Việt Nam cho các em từ 3-16 tuổi. Na Uy là đất nước chỉ có khoảng 4 triệu dân mà họ còn để ý tới vấn đề nhạc Việt Nam, họ muốn trẻ em nước họ được thấy sự mới lạ trong âm nhạc của một đất nước tại Á châu.

Một điều quan trọng là một đứa trẻ sẽ nhớ suốt đời những gì được hấp thụ trong giai đoạn từ 6-10 tuổi. Cần đặt vào tiềm thức trẻ những hình ảnh rất đẹp của truyền thống âm nhạc Việt Nam. Đó là bước đầu của việc đào tạo.

Muốn vậy, giới chuyên môn cần bàn bạc, soạn thảo một chương trình giáo dục âm nhạc trên cả nước. Cũng cần có thêm nhiều học viện âm nhạc ở các địa phương khác nhau. Hiện tại, với 90 triệu dân, chúng ta mới chỉ có 3 nhạc viện, vậy là quá ít. Ở Pháp hiện có gần 6.000 nhạc viện. Tỉnh nơi tôi đang ở chỉ có 20.000 dân nhưng cũng có một nhạc viện nhỏ với 40 giáo sư và khoảng 700 sinh viên. Ở các tỉnh có 200.000-300.000 dân thì số sinh viên nhạc viện cũng tới vài ngàn, số giáo sư cũng tới vài trăm người.

Trong lĩnh vực giáo dục âm nhạc, ở Pháp có sự hỗ trợ của chính phủ trong việc bảo đảm đầu ra cho các bộ môn sư phạm âm nhạc, vì sự bảo đảm đó mà các bậc cha mẹ yên tâm gửi con vào học. Nhưng bây giờ thử hỏi, trong số các du học sinh hằng năm của Việt Nam, bao nhiêu người đi nghiên cứu về nhạc học dân tộc? Hầu như không có. Ngay cả những người đi học để biểu diễn cũng chú trọng nhạc cụ Tây phương vì tâm lý vọng ngoại, cho rằng học xong có thể trở về làm việc trong các nhạc viện.

Nhiều sinh viên theo học nhạc cụ dân tộc trong các nhạc viện có tâm lý mặc cảm vì không đủ khả năng, không đủ tiền để học nhạc cụ Tây phương. Thành ra trong xã hội Việt Nam có sự phân chia giai cấp, cho rằng những người có tiền mới học nhạc Tây phương, người nghèo mới học nhạc cổ truyền. Chúng ta phải làm sao xóa bỏ tất cả những chuyện này. Đây không phải câu chuyện của một ngày, một tháng, một năm, mà là công việc của nhiều thế hệ. Nhưng muốn đi tới đó, chúng ta phải bắt đầu ngay từ bây giờ.

Đất nước đã thống nhất 39 năm, nhưng trong 39 năm đó, chúng ta đã làm được gì để chấn hưng âm nhạc Việt Nam? Chưa gì cả. Những nghệ nhân dân gian – các “báu vật” của âm nhạc truyền thống đang mất dần, trong khi chính phủ vẫn chưa làm được nhiều trong việc đãi ngộ họ. Giới trẻ cũng nhìn vào thực tiễn đó để không ai muốn lăn xả vào con đường bảo vệ vốn cổ.

Trong vấn đề này, tôi khẳng định, cần có sự đồng tâm tham gia của chính phủ và hệ thống giáo dục. Giáo dục một thế hệ, không phải chỉ là vấn đề văn hóa, mà còn là giáo dục về âm nhạc. Tôi nghĩ, đó là cách thức có thể mang tới sự sống còn của nhạc dân tộc.

* Xin trân trọng cảm ơn GS, TS Trần Quang Hải.

DƯƠNG KIM THOA thực hiện

http://www.baodanang.vn/channel/5414/201406/gsts-tran-quang-hai-bao-ton-nhac-dan-toc-la-cong-viec-cua-nhieu-the-he-2332998/

HOÀNG NGUYÊN VŨ : Ca sĩ BẠCH YẾN : Đời tôi toàn những chuyện lạ …

 

BACH YEN JUIN 2013

Giọng hát từng làm mưa gió sân khấu ca nhạc những năm 60 BẠCH YẾN vừa về thăm quê hương sau nhiều năm định cư ở Pháp. Lần đầu tiên, chị kể câu chuyện cuộc đời mình với những chuyện tưởng sẽ mãi vùi chìm trong lớp bụi thời gian .

Sân khấu tối om. Trong bóng tối, một giọng hát liêu trai như chứa cả hồn đêm đông xứ Bắc với những thoáng heo may rờn rợn và lất phất mưa phùn cất lên gọi những năm tháng xa xưa từ thời nhạc sĩ viết ra ca khúc vọng về : « Chiều chưa đi màn đêm rơi xuống . Đâu đấy buông lững lờ tiếng chuông. Đôi cánh chim bâng khuâng rã rời . Cùng mây xám về ngang lững trời . »

Một vệt sáng rọi vào bóng dáng người nghệ sĩ nhỏ bé, cô đơn tiếp tục tấu khúc Đêm đông huyền ảo của cố nhạc sĩ Nguyễn văn Thương bằng một thứ ngôn ngữ biểu diễn lạ đến khó tưởng. Tất cả đều im lặng. Sao lại thế ? Thường quà tặng đối với nghệ sĩ là những tràng pháo tay, nhưng sao lại tặng sự im lặng đến thế này ?

Hình như trong nghệ thuật luôn có những khoảng lặng hiếm hoi vậy đấy . Khoàng lặng để khám phá một điều lạ. Ai hát nhỉ ? Người trẻ thầm tự hỏi. Người già ngồi im. 50 năm vắng bóng trên sân khấu nước nhà của người ca sĩ  cũng đủ để người trẻ phải thầm hỏi vậy. Và dù chỉ một lần trở lại sau ngần ấy thời gian cũngf đủ làm cho những khán giả một thời nhận ra : 50 năm về trước, cũng có một sân khấu thế này, một khoảng đêm thế này, một vệt sáng như thế này và một bóng ca sĩ nhỏ bé thế này

Và giọng hát Bạch Yến vang lên. Và sân khấu cũng im lặng như đêm nay.

Giai nhân trong những ca khúc của nhạc sĩ Lam Phương

Hỏi : Đêm Đông là ca khúc đã mấy chục năm rồi chị chưa hát lại. Và cũng tng đó thời gian biết bao người ghi dấu ấn với nó như Lê Dung, Lệ Thu, Cẩm Văn… Nhưng , cứ nhắc về ca khúc này, là kháng giả cứ nhắc tới Bạch Yến .

bach yen dem dong

Bạch Yến : Điều đầu tiên xin cho Bạch Yến nói lời tri ân với khán thính giả trong nước sau mấy chục năm xa cách . Với « Đêm Đông », tôi không phải là người hát hay nhất nhưng lại là người có cách thể hiện lạ nhất so với những gì trên bản nhạc. Ca khúc được viết theo thể Tango. Khi nghiên cứu ca từ, tôi quyết định hát theo điệu slow rock để diễn tả hết cái nỗi  buồn, nỗi cô đơn của ca khúc.

dem-dong-1-nguyen-van-thuong-amnhacmiennam.blogspot.com-dongnhacxua.com_

Quên sao được lần đầu tiên, tại phòng trà Trúc Lâm Trá thất với những rọck và nhạc chủ yếu để khiêu vũ, nhưng rồi bỗng co một khoảnh khắc sân khấu ngập trong bóng tối, nhạc lắng lại và mọi người cùng lắng . Đó là lần đầu tiên Bạch Yến hát Đêm Đông như một nốt trầm giữa muôn vàn thanh âm vang động. Và cái tên Bạch Yến cũng cứ thế được khẳng định. Để rồi suốt gần một tháng, lúc nào khán giả cũng đến phòng trà đó để nghe Đêm Đông, yêu cầu Bạch Yến hát Đêm Đông…

Hỏi : Sau Đêm Đông  được ít năm thì Bạch Yến rời xa sân khấu đi tư nghiệp ở Pháp và cũng xa quê hương từ độ ấy. Có một lần, MC Nguyễn Ngọc Ngạn cho biết nhạc sĩ Lam Phương từng viết như thế này để dành cho Bạch Yến : « Về làm chi, rồi em lặng lẽ ra đi, gom góp yêu thương quê nhà, dâng hết cho người tình xa ». Thực hư là thế nào, hả chị ?

Bạch Yến : Ông Ngạn nhà văn , nên ông nói cho hình ảnh đấy mà . Chắc gì nhân vật  trong bài hát đó là Bạch Yến chứ ?

Hỏi : Không có lửa làm sao có khói chứ ? Lúc đó trên sân khấu, mặt chị bừng đỏ và cười ấp úng …

Bạch Yến : À, ừ… Nhưng là kỷ niệm xa xưa lắm rồi mà . Lên ông lên bà cả rồi, nhắc chi những chuyện quá vãng …

Hỏi : Với những người yêu nhau, họ thường tự nhủ kỷ niệm đẹp thì nên gìn giữ. Nhưng chị ơi, với những người ngoài cuộc, nhiều khi họ rất muốn biết cái đẹp của kỷ niệm ấy . Rất xin lỗi chị và chồng chị để mạn phép được hỏi, phải là một cô gái như thế nào mới để lại dư âm giai điệu thiết tha về sau đến vậy ?

Bạch Yến : Bạn sẽ ngạc nhiên đấy. Bạch Yến ngày ấy trên sân khấu là người từng đêm hát nhạc rock. Lùi lại một chút thời gian, Bạch Yến là thành viên đội xiệc mô tô bay đấy !

Hỏi : Điều này thì tôi đã được đọc . Nhưng vẫn chưa tưởng tượng  nổi một Bạch Yến nho nhắn, duyên dáng của ngày xưa lại « quậy » với rọck và mạo hiểm trên chiếc mô tô bay …

Bạch Yến : Đời tôi toàn những chuyện kỳ lạ thôi. Trước khi biểu diễn mô tô bay, tôi đã đi hát ở các phòng trà, 11 tuôỉ, tức là vào năm 1953, tôi đã đoạt huy chương vàng tiếng hát nhi đồng trên đài phát thanh Pháp Á. Tôi trải qua một tuổi thơ vất vả và trong một gia đình có 8 anh chị em. Thực ra, gia đình tôi ngày trước thuộc diện khá giả. Ba mẹ sớm chia tay, mẹ tôi vốn giàu tự ái nên không cần sự hỗ trợ kinh tế của Ba tôi nên từ nhỏ, các anh chị em phải lao động sớm .

Năm 1954 nhà tôi bị cháy, cuộc sống  vốn túng quẫn lại càng túng quẫn hơn. Cậu ruột đưa tôi và hai người em nữa huấn luyện mô tô bay để đi làm xiếc.  Sau một năm học xiếc, tôi và em trai (9 tuổi) trở thành những người biểu diễn giỏi nhất đoàn. Cậu bao ăn ở, mỗi ngày biểu diễn mỗi người được thêm mười đồng. Mô tô hồi đó, động cơ đơn giản. Phải chạy xe tốc độ lên những cái thùng trong như ống cống. Tất cả đều mặc cho sự cẩn trọng và rủi rui của số phận. Nếu lơ đễnh, cả xe lẫn người sẽ rơi từ trên cao xuống và mạng sống sẽ khó bảo đảm. Đến giờ, tôi vẫn còn ám ảnh những lần biểu diễn đó, trong suốt hai năm ròng .

Hỏi : Chị có gặp tai nạn lần nào trong hai năm biểu diễn ?

Bạch Yến : Tai nạn nhẹ thì nhiều, tai nạn nặng thì một lần. Và đó cung là lần cuối cùng  để tôi quyết định không mạo hiểm với trò chơi này nữa . Lần đó tôi đang biểu diễn đứng hai chân trên mô tô thì một chú cẩu chạy qua, bất ngờ xe đổ đánh rầm xuống đường. Chút xíu nữa thôi là đầu tôi bị đập xuống lề đường. Quần áo, tay chân te tua. Mình mẩy đau điếng . May thay là khuôn mặt và cái đầu không hề gì .

Hỏi : Thế rồi chị quay lại với nghề hát ? Nhiều người chưa hình dung hết không khí phòng trà cuối những năm 50, đầu những năm 60 của thế kỷ trước như thế nào …

BACH YEN avec Ely Javier à saigon en 1959.jpg

Bạch Yến và ban nhạc Ely Javier

Bạch Yến : Tôi trở lại sân khấu vào cuối năm 1956 ở phòng trà Trúc Lâm Trà Thất , hát một số bài hát bằng tiếng Pháp, nhạc rock và dance . Từ năm 1958 tôi hát với một ban nhạc do một người Philippines tên là Ely Javier. Không khí phòng trà ca nhạc hồi đó cũng khá tưng bừng , khán giả đến các phòng trà chủ yếu là để khiêu vũ, nên giữa người thưởng thức và biểu diễn có những lúc không còn khoảng cách. Vì vậy nên bài Đêm Đông  là một « chuyện hiếm » khi không hề lôi khán giả ra khiêu vũ mà họ vẫn nghe từ đầu đến cuối . Sau 5 năm biểu diễn, tiếng trăm đã nổi ở sân khấu trong nước, có một chỗ đứng đặc biệt trong lòng khán giả, tôi quyết định đi tu nghiệp, vào năm 1961.

Hỏi : Sao chi quyết định đi học, trong khi tiếng tăm, tiền bạc, chị đã có, sự nghiệp đang trên đỉnh cao ?

Bạch Yến : Chính vì có những thứ đó rồi nên mới phải đi học. Sự nổi tiếng đó cũng chỉ là nổi trong một cái ao thôi, không nên  là những con ếch tự hào tiếng mình kêu to, kêu vang trong cái ao làng nhà mình mà  phải đi học kỹ thuật hát bài bản để hát được bền.  Phải biết cách giữ khán giả lại cho mình bằng sự nâng cấp trong sự nghiệp.  Khi ra đi, tôi quyết được thành cống giống như danh ca Edith Piaf, từng làm mưa làm gió sân khấu mọi thời đại với nhạc khúc La Vie en Rose

Hỏi : Và chị đã không quay về. Phải chăng giống như lời hát của Lam Phương : Về làm chi rồi em lặng lẽ ra đi ?

Bạch Yến : Không, tôi không ở lại với lý do của tôi với sự phát triển nghề nghiệp âm nhạc dân tộc và bến đỗ bình yên trong hạnh phúc riêng tư của mình . Nói thật là tôi không biết anh Lam Phương viết ca khúc nào cho mình hay cho ai  Có một lần anh ấy nửa đùa nửa thật : Anh đã viết cho Yến đến hàng trăm ca khúc …

Hỏi : Hàng trăm ca khúc ? Chị không biết ư ?

Bạch Yến : Mãi sau này chị Túy Hồng , vợ của anh Lam Phương (là bạn của tôi) có nói : « Bồ không biết đầy thôi, ổng viết cho bồ nhiều ca khúc thiết tha lắm. Và cứ thế, mình hình dung ra cốt truyện để dựng thành kịch đấy bồ ». Cả hai chị em ôm nhau cười .

Hỏi :Thực ra ca khúc nào anh Lam Phương viết cho chị chắc chắn chị sẽ biết mà . Vì những người trong cuộc luôn hiểu những gì trong lời ca tiếng hát của nhau .

Bạch Yến :  Ồ không, không . Thế mà có ca khúc tôi nghĩ anh Lam Phương viết cho tôi , tè ra lại không phải đầy . Một lần, anh mang đến một ca khúc và nói : « anh đo ni đóng giày để viết cho gịong hát của Yến » . Vỡ bài , tôi rất thích những giai điệu và ca từ và cứ đinh ninh anh viết cho mình , đó là ca khúc « Cho em quên tuổi ngọc ». Nhưng thực tế sau này tôi biết , ca khúc đó không phải viết cho tôi hay đúng hơn, cô gái trong bài hát đó không phải là tôi .

Hỏi : Và chị buồn vì điều đó ?

Bạch Yến : Không . Tác phẩm là tác phẩm. Ai là nhân vật trong đó cũng như nhau cả thôi, đều để lại cho đời cả chứ .Người nghệ sĩ khi qua đồi cũng đâu có mang theo được . Người viết ra một tác phẩm hay và có nhiều người biểu diễn thành công thì phải cám ơn cuộc đời chứ sao lại buồn nhỉ ?

Hỏi : Xin lỗi chị khi khơi lại những điều quá vãng . Chị và anh Lam Phương một thời là một cặp đôi đẹp trong làng nhạc ?

Bạch Yến : Tôi không muốn nhắc đến chuyện này. Anh Lam Phương đã có gia đình và đang bịnh nặng, tôi không muốn gợi nhớ , còn tôi cũng đã có cuộc sống riêng của mình . Tôi chỉ nói được : ngày đó, anh Lam Phương có hỏi cưới tôi nhưng tôi không đồng ý. Mọi chuyện đã kết thúc từ độ ấy .

Âm nhạc dắt chúng tôi đi

Hỏi : Trong cuộc sống, chị quan trọng sự nghiệp hơn hay hạnh phúc hơn ?

Bạch Yến : Dĩ nhiên là hạnh phúc . Chính vì vậy nên tôi đã có vài lần hủy hôn khi tôi nhận thấy người ta đến với tôi bằng cái vẻ hào nhoáng trên sân khấu của mình . Tôi tự hỏi, liệu một ngày mình không hát nữa hay phong độ đi xuống, người ta có còn ở bên cuộc đời mình nữa hay không ? Và thề là tôi thôi. Dù có đi Tây đi Tàu, nổi tiếng nơi này nơi nọ thì gia đình cũng là bến đỗ cuối cùng .

Hỏi : Chính vì vậy nên chị đã hoàn toàn thay đổ về âm nhạc (dân tộc gần như 100%) khi nên duyên với con trai của GS Trần Văn Khê – nhạc sĩ Trần Quang Hải ?

Bạch Yến : Lại thêm một chuyện lạ nhé . Hồi đó tôi từ Mỹ qua Paris chơi và gặp anh Hải. Anh Hải lúc đó đã ly dị vợ và có một cô con gái 5 tuổi. Trong một lần ăn trưa, anh Hải nói : « Mình cưới nhau nhé ». Tôi cứ nghĩ anh đùa nên « Dạ ». Một tuần sau mới tá hỏa rằng anh đã đi phát thiệp cưới hết rồi …

bach-yen-tran-quang-hai

Hỏi : Vậy khác những lần trước , quyết định cưới và phát thiệp, chị vẫn hủy hôn . Còn lần này , không có ý định cưới nhưng phát thiệp chị lại đồng ý . Nghe ngược ngược sao nhỉ !

Bạch Yến : (cười to). Thì đó, cuộc đời tôi toàn những chuyện lạ mà . Thực ra tình yêu nó hiện hữu trong những cử chỉ hàng ngày. Không cứ phải khoác lên nó cái áo những lời nói say đắm, những tuyên bố nọ kia mới là yêu. Mỗi người có một cách yêu thương của mình .

Hỏi : cuộc hôn nhân « tình cờ » này, anh Hải có Tân Hôn dạ khúc để đời . Còn chị, có môt hạnh phúc không phải ai cũng có và một ngã rẽ âm nhạc kỳ diệu ..

Bạch Yến : Hồi đó anh Hải nghèo lắm. Tân hôn dạ khúc được viết cho đám cưới đơn sơ của chúng tôi. Tôi dẫu sao lúc đó cũng là một ca sĩ  nổi tiếng nhưng tôi không nghĩ về những nổi tiếng nọ kia nữa mà mình nghe thoe tiếng gọi của chính mình . Anh Hải thuộc diện đàn ông càng sống càng thấy thú vị. Với anh ấy, tất cả mọi vật đều được biến thành nhạc cụ. Anh ấy mê nhạc dân tộc và tìm trong những điều đơn so bình dị hàng ngày ra ngôn ngữ âm nhạc như người dân lao động vậy. Chính anh đã cho tôi biết âm nhạc dân tộc quan trọng như thế nào . Chính vì vậy, nữa cuộc đời còn lại, tôi đã dành cho chồng và nhạc dân tộc.

Hỏi : Khi chung sống , chị làm mẹ đứa con riêng của anh Hải. Chị có thể nói đôi chút về người mẹ Bạch Yến không ?

Bạch Yến : Tôi nuôi cháu từ lúc 5 tuổi đến khi cháu đi lấy chồng. Vợ trước của anh Hải cũng rất quý tôi. Trong quá trình sống, mẹ con rất hiểu và yêu thương nhau nên khá nhiều người không nghĩ rằng tôi không phàỉ là người sinh ra cháu. Trong gia đình , tôi dạy cháu nói tiếng Việt và luôn ý thức dân tộc mình. Cháu nói tiếng Việt khá đến độ ai cũng nghĩ cháu ở Việt Nam mới sang . Tôi cũng dạy cháu những lễ nghi phép tắc của người phụ nữ Việt Nam .

Trong ngày cưới cháu, tôi hát bài Tân Hôn dạ khúc như lời dặn con mình. Tôi không cầm nổi nuớc mắt khi nói thật cho mọi người biết rằng cháu không phải là con đẻ của tôi vì sự thật vẫn là sự thật, phải để mọi nguời biết . Trong quá trình sống, ranh giới mẹ kế con chồng không còn nữa . Từ trong tâm khảm chúng tôi là mẹ con của nhau và mãi mãi vẫn là thế . Tôi không có con nên moi tình cảm, dành hết cho cháu .

Hỏi : Chi và nhạc sĩ Trần Quang Hải đã có một sự nghiệp biểu diễn nhạc dân tộc lẫy lừng thế giới và phần nào làm rạng danh cho người Việt. Vậy còn trong cuộc sống riêng tự, « ngôn ngữ âm nhạc » riêng của hai người như thế nào ?

images

Trần Quang Hải & Bạch Yến

Bạch Yến : Âm nhạc dắt chúng tôi đi, se duyên thành vợ chồng và kết định mệnh thành những người bạn tri âm tri kỷ của nhau . Tôi thấy mình may mắn vì có được những điều đó. Và may mắn nữa, ở xứ người, chúng tôi sống thuần túy bằng âm nhạc, và là nhạc dân tộc chứ không phải là những thứ gì ở bên ngoài nó .

Anh Hải vừa sáng tạo ra nụ hôn bồi âm. Hai người trong tư thế hôn nhau  và phát ra một âm thanh đặc biệt của âm nhạc giải tỏa mọi thứ.  Nụ hôn này sẽ hàn gắn những rạn nhứt cho những cặp uyên ương nào hay cãi vã và mang lại niềm vui trong cuộc sống gia đình. Với các nước dân số ít  thì sẽ cần thiết (chống chỉ định với các nước dân số đông )

Hỏi : Câu hỏi cuối. Ở độ tuổi gần thất thập, khi về Việt Nam biểu diễn thấy chị có hẳn cả một nhạc sĩ đệm đàn tầm cỡ và một make up chuyên nghiệp đi cùng . Có phải trong biểu diễn chị khá kỹ tính ?

13423786_10154297683644459_9165777870329063636_n

Bạch Yến & Trần Quang Hải và Jean Louis Beydon

_DSC5197

Jean Louis Beydon & Bạch Yến

Bạch Yến : Người đệm đàn cho tôi là anh Jean Louis Beydon, nguyên giám đốc nhạc viện thành phố Vanves ở Pháp và chuyên gia make up Theresa Hà. Họ đều là những người bạn của tôi. Tôi nghĩ, một nghệ sĩ lên sân khấu luôn phải đẹp và phải biết cách hóa trang cho phù hợp với bài hát. Sự đầu tư cẩn thận đó cũng là một cách tôn trọng khán giả. Một nghệ sĩ tài danh đến cỡ nào mà không biết cách tôn trọng khán giả thì sớm bị đào thải đi .

 

 

TRỊNH THANH THỦY : Ở hải ngoại tôi không có ai tiếp nối – TRẦN QUANG HẢI

Tác giả:

vlcsnap-2016-07-18-16h05m20s255

Ở hải ngoại tôi không có ai tiếp nối – Trần Quang Hải

trinhthanhthuy_pic

Trịnh Thanh Thủy thực hiện

Trịnh Thanh Thủy (TTT): Chào Giáo sư Trần Quang HảịGần đây trong một bài viết trên VNExpress, nhạc sĩ Quốc Bảo có phát biểu rằng «Âm nhạc Việt Nam đang đuối sức». Là một nhạc sĩ chuyên về nghệ thuật cổ truyền Việt Nam đương đại,GS nghĩ thế nào về hai ngành nghề GS đang theo đuổi, liệu hai ngành này có nguy cơ mai một hay sụp đổ không? Nó có kéo theo hệ thống âm nhạc Việt Nam không?

GS Trần Quang Hải (TQH): «Âm nhạc Việt Nam đang đuối sức» theo nhạc sĩ Quốc Bảo ư? Điều này chỉ đúng một phần nào theo hiện trạng của nền tân nhạc trẻ Việt Nam tại quốc nội mà thôị Đó là điều phải nhấn mạnh chứ không thể nói một cách mơ hồ vì tân nhạc Việt Nam từ trước tới nay có rất nhiều bài bản đã đi vào đời sống người dân và đã lưu lại trong lòng hàng triệu người trong và ngoài nước từ hơn 50 năm như «Biệt ly» (Doãn Mẫn), «Con thuyền không bến» (Đặng Thế Phong), «Đêm Tàn Bến Ngự» (Dương Thiệu Tước), «Đêm Đông» (Nguyễn Văn Thương), «Chùa Hương» (Hoàng Quý), «Mơ Hoa» (Hoàng Giác), «Gửi gió cho mây ngàn bay» (Tô Vũ), v.v. Ngay cả hiện nay có hàng trăm nhạc sĩ sáng tác hàng nghìn, hàng chục nghìn bài «nổi / chìm» lẫn lộn từ khắp các nẻo đường Việt Nam. Ngay tại hải ngoại, cũng có vài chục nhạc sĩ trẻ hăng say sáng tác và một số ca khúc không dựa vào nhạc xứ nào hết mà rất được yêu thích.

Sau khi Việt Nam bắt đầu mở cửa, trước những luồng nhạc trẻ Tây phương (phần lớn là nhạc Mỹ, Anh, Pháp), và luôn cả nhạc trẻ Nhật, Đại Hàn, Hồng Kông, Trung Quốc, Đài Loan và Thái Lan, các nhạc sĩ trẻ Việt Nam tại quốc nội tìm nguồn cảm hứng qua các luồng sóng nhạc ngoại nhưng chưa kịp «tiêu hóa» và lại phải «nuốt, ngốn» để sáng tác thật mau, thật nhiều sáng tác mới dựa trên nhạc ngoại hầu cung ứng thị trường đang trên đà thay đổi sở thích quá nhanh chóng. Và gần đây, nhạc quốc nội xôn xao về vấn đề “đạo nhạc”. Trong số vài nhạc sĩ bị nghi vấn có Quốc Bảọ NS Quốc Bảo là một nhạc sĩ đàn ghi-ta trong ban nhạc của cố NS Phạm Trọng Cầu và là người dạy nhạc lý ở trường cao đẳng sư phạm. Anh đã từng tự cho mình ngang hàng với cố NS Trịnh Công Sơn, và còn tuyên bố là «tôi ra sức cứu vãn nền ca nhạc Việt Nam».

Tuy nhiên cả hai bài «Tình thôi xót xa» (Bảo Chấn viết lời Việt trên nhạc Nhật) và «Tuổi 16» (Quốc Bảo viết lời Việt trên ca khúc Renaissance Fair) chỉ là ca khúc thông thời thị trường chưa được xếp vào những thành tựu của tân nhạc Việt Nam.

Việc sao chép ca khúc ngoại quốc là hậu quả của nhu cầu của giới trẻ trong nước đòi hỏi cái mới liên tục quá mau hơn đà phát triển tự nhiên, và hiện tượng «siêu sao» đã làm đảo lộn đời sống. Nhạc trẻ không kịp cung ứng nhu cầu quá vội vàng của giới trẻ. Mức sáng tác nhạc bị «chùn» lại và nguồn hứng của các nhạc sĩ cũng cạn đị Nhạc ngữ hết phù hợp với sở thích giới trẻ. Lời không còn lãng mạn du dương như thời tiền chiến mà là những ngôn từ ngớ ngẩn, ngây thơ, đôi khi trắng trợn, thiếu trình độ. Lời nhận xét của NS Quốc Bảo về sự đang đi xuống của âm nhạc Việt Nam hoàn toàn thiếu suy nghĩ, nếu không nói là thiển cận, hấp tấp. Tôi vừa ngạc nhiên lẫn thất vọng khi biết NS Quốc Bảo còn là một nhà phê bình âm nhạc từ nhiều năm qua tại Sài Gòn và có uy tín đối với giới trẻ và nhạc trẻ Việt Nam.

Là một nhạc sĩ nhạc truyền thống Việt Nam và nhạc đương đại Tây phương từ hơn 40 năm tại Pháp, có thể tôi có một cái nhìn khác với một số nhạc sĩ tại quốc nộị Đôi lúc, tôi nghĩ mình được may mắn hơn người khác, tỷ như:

1. Tôi sinh ra trong một gia đình nhạc sĩ cổ truyền từ hơn 150 năm, là đời thứ 5 trong gia đình họ Trần và được hấp thụ hai nền âm nhạc Đông Tâỵ

2. Cái may mắn thứ hai là tôi được học suốt 10 năm, vừa thực tập vừa học lý thuyết nhạc Á châu tại Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương (Centre of Studies for Oriental Music) tại Paris do thân phụ tôi làm giám đốc. Tôi được học nhạc truyền thống Ả rập, nhạc Ba Tư, nhạc Ấn độ, nhạc Trung quốc, Đại Hàn, Nhật, Nam Dương. Chính sự tiếp xúc trực tiếp với những truyền thống nhạc dân tộc của các quốc gia Á châu qua các nhạc khí mà tôi luyện tập đã làm giàu số vốn âm nhạc sẵn có trong tôi, và mở rộng tầm mắt tôi trong việc sáng tác và trình diễn.

3. Cái may thứ ba là tôi học nhạc cổ điển Tây phương ở trường quốc gia âm nhạc Sài Gòn (1955-61), và sau đó theo học lớp sáng tác nhạc điện thanh (electro-acoustical music) năm 1965 với cố nhạc sư Pierre Schaeffer, người sáng lập ra nhạc điện tử (electronic music), và nhạc cụ thể (concrete music).

4. Cái may thứ tư là tôi học môn nghiên cứu nhạc học (musicology) tại đại học đường Sorbonne (1962-67) để có dịp nghe tất cả loại nhạc cổ điển Tây phương từ thời Trung cổ tới đương đại (Schönberg, Xenakis, Boulez, v.v.). Từ năm 1962 tới 1969 tôi học thêm bộ môn dân tộc nhạc học (ethnomusicology) để khám phá gia tài âm nhạc truyền thống thế giớị

5. Cái may thứ năm là tôi được đào tạo thành một nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, thủ đô của văn hóa và văn minh thế giới, và tạo cả một sự nghiệp âm nhạc từ hơn 40 năm quạ Tôi thuộc thế hệ tiên phong của bộ môn nghiên cứu dân tộc nhạc học, tham gia tích cực vào phong trào chấn hưng dân nhạc tại Pháp và Âu châu từ năm 1965 tới 1975.

6. Cái may thứ sáu là tôi vừa là nhà nghiên cứu và vừa là nhạc sĩ trình diễn. Tôi đã trình diễn trên 3.000 buổi tại hơn 60 quốc gia trên thế giới, tham gia tại hơn 130 đại hội liên hoan nhạc truyền thống quốc tế.

Về nhạc cổ truyền, cách đây 50 năm, ít có ai để ý tới nhạc cổ truyền nói chung. Nhạc sĩ Ravi Shankar, một danh cầm đàn Sitar Ấn độ, đã chinh phục Tây phương từ cuối thập niên 50. Ông còn là thầy của George Harrisson (một nhạc sĩ của nhóm The Beatles), của John Coltrane (Jazz). Ông đã làm vang danh nhạc Ấn độ khắp nơi trên thế giớị Ảnh hưởng của nhạc Ấn độ có thể tìm thấy ở nhạc đương đại Âu Mỹ (sáng tác của nhà soạn nhạc Pháp Jacques Charpentier), ở nhạc trẻ pop (The Beatles, và nhiều nhóm nhạc pop khác trong thập niên 60 ở Anh Quốc). Nhạc cổ truyền Nam Mỹ, đặc biệt của xứ Péru, Bolivia đã xâm chiếm thị trường nhạc mới suốt thập niên 60. Rồi tới nhạc Phi Châu, nhạc RAI Ả rập, nhạc du mục Gypsy Đông Âu trong thập niên 70 và 80. Hiện tượng nhạc thế giới (World Music) được phát hiện vào giữa thập niên 80 là sự giao lưu giữa nhạc cổ truyền và nhạc trẻ Tây phương đã giúp cho giới trẻ thế giới khám phá những truyền thống âm nhạc cổ xưa của các lục địạ Gần đây nhất, kỹ thuật hát đồng song thanh của dân Tuva, dân Mông cổ, và dân Xhosa (Nam Phi) được thế giới khâm phục. Cách đây 30 năm, nguyên cả xứ Tuva và xứ Mông cổ chỉ có khoảng vài chục người biết về kỹ thuật hát hai giọng cùng lúc nàỵ Năm 2004, tại hai quốc gia vừa kể có trên 3.000 người hát chuyên nghiệp và hàng năm đều có tổ chức đại hội liên hoan hát đồng song thanh. Nhạc Phật giáo Tây Tạng rất được ưa chuộng từ hơn 40 năm. Ống thổi Didjeridu của thổ dân Úc trở thành nhạc khí rất được ưa thích tại Âu Mỹ từ 1990. Đàn môi Mông của miền thượng du Bắc phần Việt Nam trở thành nhạc khí bán chạy nhất ở Âu Mỹ, đến nỗi có một người Đức đã làm một trang nhà lấy tên là Đàn Môi chuyên bán đàn môi Mông (www.danmoịde),một phần lớn là nhờ vào sự biểu diễn đàn môi Mông do tôi trình diễn từ hơn 20 năm nay tại nhiều đại hội liên hoan nhạc dân tộc trên thế giớị Nhạc đàn gamelan của Nam Dương, nhạc cung đình Gagaku, nhạc tuồng Kabuki, nhạc múa rối Bunraku, nhạc đàn tranh koto của Nhật, nhạc cung đình Ah Ak, nhạc đàn tranh kayakeum của Đại Hàn, nhạc đàn cổ cầm Trung quốc, nhạc cung đình Huế, ca trù, múa rối nước của Việt Nam được thế giới ngưỡng mộ. Sự phát triển và bành trướng nhạc cổ truyền Á châu và thế giới nói chung, và Việt Nam nói riêng, đã cho thấy là nhạc dân tộc ngày càng được phổ biến rộng rãi chứ không có mai một hay sụp đổ…

Nhạc đương đại Tây phương được dạy tại hầu hết các trường quốc gia âm nhạc khắp năm châụ Sự giao lưu giữa các nhạc ngữ cổ điển và dân gian đã tạo một trường phái mới cho nền âm nhạc thế giớị Những nhà sáng tác nhạc đương đại gốc Việt đang sống ở hải ngoại, có thể kể: Cung Tiến, Nghiêm Phú Phi, Phan Quang Phục ở Hoa kỳ; Nguyễn Văn Tường (từ trần 1996), Trương Tăng (từ trần 1989), Tôn Thất Tiết, Nguyễn Thiên Đạo, Trần Quang Hải ở Pháp, Hoàng Ngọc-Tuấn, Nguyễn Mạnh Cường, Lê Tuấn Hùng, Đặng Kim Hiền ở Úc châụ Chỉ có Trần Quang Hải, Hoàng Ngọc-Tuấn, Lê Tuấn Hùng và Đặng Kim Hiền là vừa sáng tác và vừa trình diễn nhạc của mình.

Gia đình tôi (GS Trần Văn Khê, em gái tôi Trần Thị Thủy Ngọc và tôi) đã đào tạo hàng trăm nhạc sinh Việt và ngoại quốc về đàn tranh tại Pháp. Bạch Yến và tôi đã có mặt tại trên cả trăm đại hội liên hoan nhạc quốc tế và trình diễn cả ngàn chương trình tại trên 60 quốc giạ Nữ nhạc sĩ Phương Oanh và nhóm Phượng Ca, sau 35 năm kiên trì đã tạo hàng nghìn nhạc sinh đàn tranh và các nhạc khí khác tại Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ, Na Uy, Úc, Canada, và luôn cả ở Việt Nam. Nữ nhạc sĩ Quỳnh Hạnh cũng mở lớp dạy đàn tranh, bầu, trưng, thu hút khá nhiều nhạc sinh tại Paris. Nhóm Hồng Lạc ở Canada, nhạc sĩ Phạm Đức Thành, nhạc sĩ Khắc Chí, Bích Ngọc ở Canada, nhạc sĩ Nguyễn Thuyết Phong, nữ nhạc sĩ Ngọc Dung, nhóm Lạc Việt ở Hoa kỳ, đã có nhiều sinh hoạt nhạc dân tộc ở khắp Bắc Mỹ.

Nhìn vào nhạc quốc nội, sự phục hưng hay tái sinh của nhạc cung đình Huế (Ngày 7 tháng 11. 2003, UNESCO ban tặng một giấy khen nhìn nhận Nhạc Cung Đình Huế là «kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại» – Chef d’œuvre de l’oral et de l’héritage intangible de l’humanité / Masterpiece of the Oral and Intangible Heritage of Humanity), ca trù, chầu văn, múa rối nước và sự phát triển đàn tranh (nhờ sự đóng góp của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, nữ nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan, nữ nhạc sĩ Phương Bảo, hai nữ nhạc sĩ trẻ Hải Phượng và Thanh Thủy) đã làm cho nhạc cổ truyền khởi sắc với nhiều chuyến đi trình diễn ở nước ngoài từ 15 năm naỵ Các nhóm nhạc sĩ trẻ như Phù Đổng, Tre Xanh, nhạc sĩ Đỗ Lộc, Phạm Thúy Hoan, Hải Phượng, ban ca trù Thái Hà, đoàn múa rối nước Hà nội và Thành phố HCM, cũng như nhiều nghệ sĩ cải lương có mặt thường xuyên tại nhiều đại hội liên hoan quốc tế. Viện âm nhạc Hà nội (32 Nguyễn Thái Học, Hà Nội) là nơi tàng trữ hàng chục ngàn bài hát dân ca, xuất bản nhiều CD, VCD nhạc dân tộc Kinh và các sắc tộc Thái, Gia Rai, Ba-Na, v.v., sách nghiên cứu âm nhạc nói chung, và một phòng triển lãm hàng trăm nhạc khí dân tộc. Bao nhiêu đó đủ cho thấy nhạc cổ truyền Việt Nam vẫn còn sống mạnh tại hải ngoại cũng như trong quốc nộị

TTT: Tôi được biết Giáo Sư có nghiên cứu, thí nghiệm và giảng dạy về kỹ thuật hát đồng song thanh (overtone singing). Giáo Sư có thể cho độc giả biết nó là gì? Và kỹ thuật này có ứng dụng được vào âm nhạc Việt Nam không? Giả dụ một bài tình ca hay dân ca chẳng hạn?

TQH: Hát đồng song thanh là hát cùng một lúc ra hai giọng ở hai cao độ khác nhaụ Một giọng trầm phát ra từ cổ họng tức là giọng chánh (fundamental sound) và một giọng bổng thoát ra từ những bồi âm (overtones) của giọng chánh. Mỗi bồi âm mang một số chỉ định thứ tự cao độ. Điểm quan trọng cần phải biết trong cách hát đồng song thanh là làm sao phải giữ nguyên một cao độ cố định trong khi đó phải di chuyển các bồi âm theo một giai điệu nào đó tùy theo bài bản lựa chọn trong giới hạn giữa bồi âm số 4 và bồi âm số 16. Người Mông cổ và người Tuva chuyên sử dụng bồi âm từ số 6 tới 13. Nếu tôi bắt đầu giọng chánh là Do thì các bồi âm 6, 7, 8, 9, 10, 12, 13 sẽ có cao độ là Sol, La, Do, Ré, Mi, Sol tức là các nốt của một âm giai ngũ cung. Những bài hát thuộc âm giai ngũ cung của các quốc gia khác đều có thể hát với âm giai ngũ cung tạo bởi bồi âm, chẳng hạn như bài “Amazing Grace”. Cái khó thứ ba trong cách hát đồng song thanh là làm sao hãm giọng chánh cho thật nhỏ để cho bồi âm được nghe lớn hơn. Cách này có thể luyện tập với phương pháp nín hơi trong cách lặn dưới nước

Hát đồng song thanh (danh từ này do tôi đề nghị có nghĩa là hát hai giọng cùng một lúc) trong khi người Mông cổ và người Tuva dùng từ ngữ KHOOMEI (có nghĩa là “giọng hầu”). Hát đồng song thanh được phát triển tại Âu châu từ hơn 30 năm nay nhờ vào công trình nghiên cứu của tôi khởi xướng từ năm 1969 tại Paris. Thế giới âm nhạc Tây phương chỉ biết nghệ thuật tạo bồi âm của các nhà sư Tây Tạng thuộc nhánh Gyuto của trường phái Gelugpa (Dalai Lama thuộc trường phái này) qua cách tụng kinh giọng thật trầm và phát ra bồi âm số 10 (quãng 3 trưởng trên 3 bát độ đối với cao độ của giọng chánh của người hát). Nhà soạn nhạc Đức Stockhausen soạn một ca khúc “Stimmung” cho 6 giọng vào năm 1968. Nhưng nghệ thuật hát lạ lùng này chưa được phát triển cho lắm. Phải đợi tới năm 1974, khi dĩa hát “Chants mongols et bouriates” do hãng dĩa Vogue phát hành, theo tài liệu thu thanh của GS Roberte Hamayon và do tôi lựa chọn, rồi khi tôi đã khắc phục kỹ thuật này và bắt đầu dạy và phổ biến khắp Âu châu, thế giới nhạc Tây phương bắt đầu khám phá hát đồng song thanh. Đầu thập niên 80, hát đồng song thanh Tuva được phát hiện qua đại hội liên hoan giọng hầu tại xứ Tuva và một vài ca sĩ Tuva giới thiệu cách hát này tại Âu Mỹ. Lúc đầu tại Mông cổ và Tuva chỉ có vài chục ca sĩ hát kỹ thuật giọng hầu khoomeị Bây giờ (2004), có tới vài ngàn ca sĩ chuyên môn hát khoomei trình diễn khắp các nơi trên thế giới, nổi tiếng nhất của Mông cổ là các ca sĩ Sundui, Tserendava, Ganbold, các nhóm Eschiglen, Altai Kanga, các ca sĩ Genadi Tumat, Mongush Kandar, các nhóm Huun Huur Tu, Shu De, Tuva Ensemble, v.v.

Năm 1995, tôi được mời làm chủ tịch cuộc thi hát giọng hầu tại thủ đô Kyzyl, xứ Tuva, Tây bá lợi Á, với sự tham gia của trên 300 ca sĩ Tuva, và trên 100 thí sinh thuộc các quốc gia Mông cổ, Altai, Khakassia, Nhựt Bổn, Pháp, Hòa Lan, Đức, Canada, Hoa Kỳ. Tôi được mời làm hội viên danh dự của hội ca sĩ hát khoomei của Tuva, hội viên danh dự của Trung tâm quốc tế giọng hầu (International Center of Khoomei). Từ hơn 10 năm nay, đề tài hát đồng song thanh được một số sinh viên nghiên cứu dân tộc nhạc học chọn làm đề tài cho thạc sĩ (M.Ạ / Maitrise), tiến sĩ (Ph.D. / Doctorat). Tôi đã theo dõi và hướng dẫn trên 10 luận án về đề tài này do các sinh viên thuộc các trường đại học Pháp, Đức,Hòa Lan, Ý, Na Uy, Nhật. Hát đồng song thanh có liên hệ tới âm thanh học (acoustics), y học (phoniatrics), âm nhạc điều trị học (music therapy), tâm lý điều trị học (psychotherapy) và sáng tác (composition).

Trong lĩnh vực dạy ca hát, tôi đã dạy nhiều lớp master classes tại các trường âm nhạc nổi tiếng thế giới như trưòng âm nhạc Tshaikovsky ở Moscow (Nga), Paris (Pháp), trường âm nhạc hoàng gia Nhật ở Tokyo (Nhật), trường âm nhạc hoàng gia ở Rotterdam (Hòa Lan), hàn lâm nhạc viện ở Basel (Thụy Sĩ). Một số đông các ca sĩ chuyên nghiệp Tây phương đã theo học với tôi để học cách giữ hơi, hãm hơi, lấy hơị Trong cách hát đồng song thanh, cách thở ra hít vào hoàn toàn khác với kỹ thuật dạy về thở ở các trường âm nhạc.

Trong lĩnh vực trị bịnh, hát đồng song thanh giúp cho người nhút nhát bớt nhút nhát, người bị cà lăm bớt cà lăm (nói lắp), mang lại tự tin cho người tập loại hát nàỵ Ngoài ra loại hát này giúp cho người học Yoga có hơi thở dài hơn, cho người học khí công có nhiều điện lực hơn và cho người học Thiền có nhiều nghị lực tập trung tư tưởng trong khi ngồi thiền.

Từ trên 30 năm nay, có hơn 7000 người theo học với tôi từ 60 quốc giạ Hiện nay có khoảng 20 người học trò Tây phương theo học với tôi đã mở lớp dạy hát đồng song thanh và bành trướng môn phái hát đồng song thanh do tôi đề xướng tại Âu châu từ 1972.

Áp dụng vào trong nhạc Việt Nam: Về nhạc đương đại, tôi là người đầu tiên dùng hát đồng song thanh trong nhạc điện thanh qua bài “Về Nguồn” soạn chung với cố nhạc sĩ Nguyễn văn Tường từ năm 1972 và trình diễn lần đầu vào năm 1975. Sau đó Lê Tuấn Hùng tại Melbourne (Úc), rồi Hoàng Ngọc-Tuấn tại Sydney (Úc) có dùng hát đồng song thanh trong những sáng tác mớị Trong dân nhạc Việt Nam, tôi có thu bài “Cò lả” với kỹ thuật hát đồng song thanh trong dĩa 33 vòng “Music of Vietnam / Tran quang Hai & Hoang Mong Thuy”, hãng Albatros sản xuất, Milan, Ý, 1978.

Các bạn có thể vào đây xem video về kỹ thuật hát đồng song thanh:

Tran Quang Hai sings Amazing Grace with overtones in one breath .

Lesson proposed by Tran Quang Hai for learning throat singing , part 2

 

http://www.canalu.com/canalu/affich…e=&largeur=1024

Dùng quang tuyến X để xem bên trong miệng khi hát đồng song thanh:
http://mediạcines.fr/ramgen/3517/r…1440745852-1.rm

http://honque.com/PhongVan/pvTQH/Sọ..sHarmoniques.ra

TTT: Giáo sư đang hoạt động trên hai lĩnh vực song song: “âm nhạc cổ truyền” và “âm nhạc đương đại”. Theo Giáo sư, hai hoạt động này đóng góp thế nào cho âm nhạc hải ngoại nói riêng và âm nhạc Việt Nam nói chung? Có thể nào chúng ta vừa bảo tồn và giới thiệu di sản âm nhạc cổ truyền với thế giới, vừa phát huy sáng tạo hay ứng dụng nó vào âm nhạc đương đạỉ Có khó khăn không?

TQH: Với trên 3.000 buổi trình diễn nhạc Việt Nam ở hải ngoại từ 1966 tới nay, tôi lúc đầu và từ 1978 cùng với Bạch Yến đã mang dòng nhạc Việt qua tiếng đàn tranh, đàn cò, sinh tiền, muỗng, đàn môi và giọng hát đến với cộng đồng quốc tế và Việt Nam để cho thấy sự phong phú của nhạc dân tộc. Những buổi thuyết trình tại các đại học đường hay hội thảo quốc tế giúp cho người ngoại quốc hiểu thêm về sự đa dạng của các loại nhạc Việt và các sắc tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam. Đó là hình thức giới thiệu nhạc Việt Nam với thế giớị
Muốn hội nhập vào thế giới âm nhạc Tây phương, tôi đã sáng tác giai điệu mới dựa trên các thang âm ngũ cung, chế biến tiết tấu mới lạ dựa trên kỹ thuật đánh trống Việt Nam (toong, tà- roong, táng, cắc, rắc, trắc, sậm, tịch, rù, v.v.), áp dụng vào kỹ thuật gõ muỗng (với trên 10 kỹ thuật mới do tôi sáng tạo). Tôi đã dùng tiếng đàn tranh, đàn môi, muỗng, hát đồng song thanh trong nhạc điện thanh (electro-acoustical music) do cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Tường và tôi hợp tác với nhau trong nhạc phẩm “Về Nguồn” trình bày lần đầu tiên vào tháng 2. 1975 tại thành phố Champigny, Pháp. Tôi đã ứng dụng tiết tấu muỗng vào nhạc tùy hứng tiết tấu để trình diễn với trống zarb của Ba Tư (1972) với free jazz đối thoại với saxo tenor (1982) (dĩa hát 33 vòng “SHAMAN”, hãng Didjeridou Records DJD 001, Paris, 1983, tôi cùng nhạc sĩ Misha Lobko song tấu tùy hứng), đàn môi, hát đồng song thanh với ống thổi Didjeridu của thổ dân Úc (1997) (dĩa CD “Philip Peris / Didjeridu”, hãng Les 5 Planètes, Paris, 1997, tôi cùng Philip Peris tùy hứng qua hai nhạc phẩm trong CD này). Tôi đã hòa đàn môi Việt với các loại đàn môi Na Uy, Anh quốc, Nhật Bản trong một CD chuyên về đàn môi xuất bản tại Na Uy (2000). Tôi sử dụng kỹ thuật hát đồng song thanh để đệm cách tụng kinh Mantra Tây Tạng (2004) tại đại hội liên hoan nhạc quốc tế tại Genova, Ý. Tôi đã dùng âm thanh của đàn tranh, đàn bầu, đàn cò, muỗng, sinh tiền, đàn môi, hát đồng song thanh cho nhạc các phim thương mại của các nhà viết nhạc phim Pháp như Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, Jean Claude Petit từ 1970 tới naỵ

Lúc đầu tiên, tôi gặp rất nhiều khó khăn vì không biết phải làm thế nào để cho thế giới biết tới nhạc Việt Nam. Với thời gian và học hỏi trường kỳ, cũng như với tuổi đời và sự tham gia hàng năm tại các chương trình dân nhạc thế giới, tôi đã gọt giũa những gì thừa thãi, không ích lợi mà chỉ giữ lại những tinh hoa sáng giá và đặc trưng của nhạc Việt. Kinh nghiệm được rút tỉa qua hàng ngàn buổi trình diễn nhạc Việt cho trẻ em Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ và Na Uy đã giúp tôi làm một chương trình hoàn hảo để chinh phục người ngoại quốc qua các buổi giới thiệu nhạc cổ truyền Việt Nam.

TTT: Xin Giáo Sư cho độc giả biết thêm về mình và những hoạt động cùng thành tựu trong lĩnh vực Giáo sư hoạt động.

TQH: Những hoạt động của tôi từ 40 năm qua được kê khai trên các trang nhà (https://tranquanghai.com , https://tranquanghai1944.com). Đứng về mặt nghiên cứu , tôi là hội viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế như Society for Ethnomusicology (Hoa kỳ từ năm 1969), Asian Music Society (Hoa kỳ từ năm 1980), International Council for Traditional Music (Hoa kỳ từ năm 1969), European Seminar for Ethnomusicology (Đức từ năm 1983), Société Francaise d’Ethnomusicologie (sáng lập viên từ năm 1985), International Society for Musicology (Thụy Sĩ từ năm 1977), International Society of Sound Archives (Na Uy từ năm 1978 tới 1995). Tôi vào làm việc cho Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (National Center for Scientific Research) của Pháp từ năm 1968, chuyên về ngành dân tộc nhạc học thuộc nhóm nghiên cứu nhạc dân tộc có trụ sở tại Musée de l’Homme (Viện Bảo Tàng Con Người) ớ Paris quận 16. Nơi đây tôi được đặc trách giao phó về nhạc Việt Nam và nhạc sắc tộc ở Việt Nam. Sau đó tôi chuyên về nghiên cứu các kỹ thuật giọng hát trên thế giới và trở thành chuyên gia về hát đồng song thanh có uy thế nhất trên thế giớị Tôi được mời dạy tại trên 100 trường đại học ở khắp năm châu, tham gia trên 50 hội nghị quốc tế về âm nhạc, viết cho tự điển âm nhạc New Grove Dictionary of Music and Musicians (ấn bản 1980 và 2002) và nhiều tự điển âm nhạc khác ở Âu châu, viết 4 quyển sách về nhạc thế giới, có bài viết trong 12 quyển sách tập thể về nhạc truyền thống (xuất bản tại Pháp, Hoa kỳ, Đức, Lituania, Ý, Anh Quốc, Nhật, Việt Nam) và trên 400 bài viết về nghiên cứu âm nhạc bằng tiếng Pháp, Anh và Việt. Tôi đã thực hiện chung với một nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học gốc Thụy Sĩ tên là Hugo Zemp một cuốn phim 16 ly tựa là “ Le chant des harmoniques” (the Song of Harmonics / Bài hát bồi âm vào năm 1989) đã gặt hái 4 giải thưởng quốc tế. Năm 2004, tôi đồng thực hiện với Luc Souvet một DVD về hát đồng song thanh tựa là “Le chant diphonique” do Trung tâm quốc gia tài liệu sư phạm (CNDP – Centre National de Documentation Pédagogique) của đảo La Réuni-on, Pháp sản xuất. Ngoài ra tôi hướng dẫn trên 10 luận án về hát đồng song thanh của các sinh viên thuộc đại học Pháp, Đức, Ý và Na Uỵ

Về trình diễn âm nhạc với tư cách nhạc sĩ, tôi đã tham gia trên 150 đại hội liên hoan nhạc cổ truyền quốc tế, trình diễn trên 3.000 buổi giới thiệu nhạc Việt Nam tại 60 quốc gia cùng với Bạch Yến. Chúng tôi đã diễn trên 1.500 buổi cho học sinh các trường tiểu trung và đại học do các cơ quan chính phủ các nước Na Uy (Rikskonsertene), Pháp (Jeunesses Musicales de France JMF), Bỉ (Jeunesses Musicales de Belgique JMB), Thụy Sĩ (Jeunesses Musicales Suisses JMS), Úc châu (25 chương trình tại các tỉnh Melbourne, Sydney, Brisbane, Perth). Đối với cộng đồng người Việt hải ngoại, mỗi năm chúng tôi dành 10 chương trình giới thiệu nhạc dân tộc tại những nơi có người Việt cư ngụ từ gần 30 năm quạ

Về sáng tác nhạc, tôi là hội viên của hội tác quyền Pháp (SACEM – Société des Auteurs, Compositeurs et Editeurs de la Musique) từ năm 1980. Số lượng bài hát đủ các loại (tân nhạc, nhạc cho đàn tranh, đàn môi, đàn bầu, hát đồng song thanh, nhạc điện thanh, nhạc tùy hứng) tổng cộng trên 500 bài đã được cầu chứng. Ngoài ra tôi còn là hội viên của hai cơ quan bảo vệ nghệ sĩ trình diễn của Pháp (ADIDAM, và SPEDIDAM).

Về mặt báo chí, tôi viết cho nhiều báo nghiên cứu nhạc dân tộc của nhiều xứ trên thế giớị Ngoài ra tôi viết cho trên 30 tờ báo Việt ngữ ở hải ngoại, đặc biệt có nhiều bài đăng ở các trang nhà trên mạng lưới như http://www.vietnhac.org; http://www.honque.com; http://www.talawas.org.

Về mặt tiểu sử, tôi là cố vấn quốc tế (international adviser) của hai hội tiểu sử nổi tiếng nhất thế giới là WHÓS WHO của Hoa kỳ (American Biographical Institute ABI) và WHÓS WHO của Anh Quốc (International Biographical Centre IBC). Từ 25 năm nay, tôi đã đề nghị nhiều người Việt có tiểu sử ở một trong 26 loại tự điển Whós Whọ Tiểu sử của tôi có trong 15 loại tự điển tiểu sử Whós Who, quyển Vẻ Vang Dân Việt (1996) Trọng Minh, quyển Fils et Filles du Việt Nam (1997) Trọng Minh, Tuyển Tập Nghệ Sĩ (1995) của Trường Kỳ. Tôi là nhạc sĩ Việt Nam chuyên nghiệp đàn cho nhạc các phim của Pháp về nhạc có màu sắc Á châu có tên trong quyển Guide Du Show Business từ 30 năm naỵ

Về mặt các giải thưởng quốc tế, tôi đã thu thập trên 30 giải thưởng, đặc biệt là những giải thưởng sau đây:

1967: Giải Vua Muỗng (King of Spoons) tại Cambridge Folk Music Festival

1983: Giải thưởng của Hàn lâm viện dĩa hát Charles Cros cho dĩa hát “Vietnam / Tran Quang Hai & Bach Yen” (hãng dĩa SM, Pháp)

1986: Huy chương vàng của Hàn lâm viện văn hóa Á châu, Pháp

1990: Giải thưởng ưu hạng của Đại hội liên hoan quốc tế về Phim nghiên cứu tại Parnu, Estonia cho cuốn phim “Le chant des harmoniques” (Bài hát bồi âm) do tôi là đồng tác giả, diễn viên chánh và nhạc sĩ sáng tác nhạc cho phim

1990: Giải thưởng phim hay nhứt về dân tộc nhạc học của Hàn lâm viện khoa hoc Estonia cho phim “Le Chant des Harmoniques”

1990: Giải thưởng về nghiên cứu khoa học của đại hội liên hoan quốc tế phim nghiên cứu cho phim “Le chant des harmoniques”, Palaiseau, Pháp .

1991: Giải thưởng ưu hạng Northern Telecom của đại hội liên hoan quốc tế phim khoa học của Québec cho phim “Le chant des Harmoniques”, Montréal, Canadạ

1991: Giải thưởng Van Laurens của British Association of the Voice và Ferens Institute, Luân đôn, Anh quốc

1995: Giải thưởng đặc biệt về hát đồng song thanh, đại hội liên hoan quốc tế hát đồng song thanh, Kyzyl, Tuva

1996: Huy chương thủy tinh (Medal of Cristal) của Trung Tâm Quốc gia nghiên cứu khoa học, Pháp

1997: Giải thưởng của Hàn lâm viện dĩa hát Charles Cros cho CD Voices of the World, Pháp .

1998: Huy chương công dân danh dự thành phố Limeil Brévannes, Pháp

2002: Bắc đẩu bội tinh (Legion d’Honneur) của Pháp

TTT: Công việc bảo tồn, phát huy và sáng tạo âm nhạc cổ truyền Việt Nam thật khó nhọc và lớn laọ Giáo sư có ai tiếp sức không? Giáo sư có ước vọng gì trong tương laỉ Nếu có thể Giáo sư sẽ làm được gì cho nền âm nhạc Việt Nam?

TQH: Đối với nhạc cổ truyền Việt Nam, ở hải ngoại tôi không có ai tiếp nốị Điều rất dễ hiểu, học nhạc không phải là đối tượng của đa số người Việt di tản. Âm nhạc chỉ là thú tiêu khiểu hơn là cứu cánh trong cuộc đờị Tôi nghĩ là sự phát huy nhạc cổ truyền Việt Nam phải từ trong xứ Việt Nam chứ không thể từ bên ngoài đưa vàọ Bổn phận của tôi chỉ là dọn chỗ, lót đường để cho người ngoại quốc khám phá và tìm hiểu nhạc Việt thêm khi có dịp viếng thăm đất nước Việt Nam. Mặt khác là mang lại cho những trẻ em sinh ra và lớn lên ở hải ngoại những hình ảnh âm thanh của văn hóa Việt để các em đừng quên cội nguồn. Sau đó khi các em có dịp quay về quê hương, sẽ không bị bỡ ngỡ.

Ước vọng của tôi là một ngày nào đó tôi có dịp trở về quê hương với điều kiện thuận tiện, tôi sẽ mang lại cho tất cả những trẻ em Việt Nam hay những sinh viên âm nhạc những kinh nghiệm mà tôi đã thu thập ở hải ngoại, trao lại gia tài âm nhạc mà tôi đã lĩnh hội, hấp thụ suốt cả cuộc đời cho dân tộc Việt. Chỉ có ở Việt Nam là tôi hy vọng tìm được người thừa kế di sản âm nhạc tôi để lạị Ngày đó chưa biết là lúc nào, nhưng tôi tin rằng sẽ có ngày đó trước khi tôi vĩnh viễn ra đị

© 2004 talawas

http://www.tiengviet.com/quoc-bao-nhac-si-tran-quang-hai-noi-ve-quoc-bao-va-am-nhac-vn.html

Sự tráo trở của Khánh Ly

Thứ ba, 07/08/2012 23:58

Giới bầu sô, các nhà tổ chức chương trình và nghệ sĩ ở hải ngoại đặt cho Khánh Lỵ hai biệt hiệu khá phổ biến “nữ hoàng xù show” và “ca sĩ nâng giá”.

Không phải là “Đặc công văn hóa văn nghệ” ở trong nước như lời BĐQ Đỗ Như Quyên cả vú lấp miệng em mà chính sự tráo trở thường xuyên của Khánh Ly đã khiến giới bầu sô, các nhà tổ chức chương trình và nghệ sĩ ở hải ngoại đặt cho Khánh Lỵ hai biệt hiệu khá phổ biến: “Nữ hoàng xù show” và “ca sĩ nâng giá”. Sự ồn ào của dư luận đã dẫn dắt giới truyền thông vào cuộc về vấn đề này.


Khánh Ly và Trịnh Công Sơn.

Nhà báo Nguyễn Văn trong bài viết có tựa đề “Ca sĩ Khánh Ly và Nguyễn Hoàng Đoan nói chuyện với Viet Weekly” đã đặt nhiều câu hỏi liên quan đến những hành động lật lọng của Khánh Ly trong lĩnh vực ca hát.

Mở đầu bài báo này là những dòng mào đầu: LTS: Trong giới bầu show, nghệ sĩ, từ nhiều năm qua, vẫn có nhiều ý kiến về vấn đề ca sĩ Khánh Ly, mặc dù là tiếng hát hàng đầu tại hải ngoại, nhưng lại bị ‘tật” là hay tăng giá tiền cát-sê vào phút cuối, rồi bỏ show, nếu người bầu show đó không chấp nhân deal mới với người ca sĩ này.

Trong vấn đề này, Viet Weekly đã phóng vấn nhiều ca sĩ, bầu show và cả ca sĩ Khánh Ly và Nguyễn Hoàng Đoan, chồng chị và cũng là Manager show cho Khánh Ly để rộng đường dư luận. “Suốt bài báo, chỉ toàn những câu hỏi về các vụ đòi nâng giá vào phút chót và xù show của Khánh Ly”.

Cụ thể: Năm 2002, một bà bầu show tên Nga tổ chức show tại Majestic, đã nhờ ông Duy Thanh mời Khánh Ly và Khánh Ly đồng ý với giá lên 3.000 USD. Nhưng 10 ngày trước show diễn Khánh Ly nói với Duy Thanh nâng giá lên 5.000 USD?

Chuyện Khánh Ly bị một bầu show tại châu Âu thả xuống giữa đường vì đòi nâng giá. Trên xe nhiều người năn nỉ nhưng tay bầu show sau khi đã nhận lời mời với Lệ Thu, rồi các show của Dạ Lan, của Tú V.C… đều được hết Nguyễn Hoàng Đoan rồi Khánh Ly trả lời lấp liếm, quanh co. Xin đơn cử nguyên văn một câu hỏi và câu trả lời:

Viet Weekly: Còn việc về anh Trầm Tử Thiêng, nhiều người cho rằng cho đến phút cuối, theo di chúc của anh Trầm Tử Thiêng, gia đình đã không cho chị đến dự đám tang. Dư luận cho rằng, khi còn tại thế, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, người đã môi giới chị với một show diễn bên Phi-Luật-Tân (Philippine-người viết) hát cho đồng bào bị nạn nghe…chị đòi giá là $3.000. Mọi người đồng ý, trước vài hôm lên đường, chị đã tăng giá lên $2.000. Trầm Tử Thiêng vì giữ thể diện, nên đã móc túi $2.000 trả cho chị. Sau đó quan hệ hai bên mất vui. Trầm Tử Thiêng không muốn nói chuyện với Khánh Ly nữa. Chị nghĩ sao về vụ việc này?

Khánh Ly: Về việc anh Trầm Tử Thiêng nó không đơn giản như mọi người nghĩ đâu. Tôi sẽ viết lại chuyện đó. Cho tôi không trả lời câu này. Tôi muốn viết chính xác hơn là những điều anh nghe vì có rất nhiều chi tiết trong đó dính líu đến tiền bạc, đến đủ thứ. Như vậy là chuyện di chúc của Trầm Tử Thiêng không cho Khánh Ly đến dự đám tang là có thật, nên Khánh Ly không đả động tới phần này trong phần trả lời. Nếu là chuyện không có, chắc chắn Khánh Ly đã phản ứng và đính chính ngay. Còn như  Khánh Ly từ chối trả lời và nói sẽ viết lại sự thật, thì ai sẽ chứng minh sự thật đó, khi nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng đã qua đời!

Dĩ nhiên, mỗi con người sống trên đời này đều có quyền phát biểu lập trường và chính kiến của mình. Vấn đề là phải chân thật với lòng mình. Còn như lập lờ, đánh lận con đen, tiền hậu bất nhất chỉ là kể lừa đảo.


Khánh Ly và Trịnh Công Sơn.

Những năm tháng định cư tại Hoa Kỳ, Khánh Ly và Nguyễn Hoàng Đoan là một trong những người chống phá cách mạng bằng mồm hung hăng nhất. Nhưng năm 1996, khi về Việt Nam với lý do thăm người thân, có lẽ vì sợ bóng, sợ gió, Khánh Ly đã có nhiều phát biểu hoàn toàn ngược lại.

Bà ta nói: “Tôi rất hối hận, tôi muốn trong nước quên đi những lỗi lầm quá khứ của tôi. Tôi chỉ muốn về thăm quê hương như một người bình thường”. Khi được hỏi về động lực khiến Khánh Ly tham gia vào các chương trình ca nhạc mang tính khích động quần chúng của nhóm Hoàng Cơ Minh, bà ta trả lời: “Tôi tham gia vì ham vui, vì có tiền, chứ chẳng bao giờ tin vào Hoàng Cơ Minh cả”. Thế nhưng trở về Mỹ, Khánh Ly lại giở quẻ, tiếp tục tuyên bố hung hăng và tham gia vào các chương trình ca nhạc sặc mùi chống phá nhà nước.

Ngày 4/3/2000, Khánh Ly một mình về Việt Nam lần thứ hai, cũng với mục đích thăm gia đình. Gặp lại những nhà báo từng tiếp xúc với bà con trong lần về trước đây, bà ta lại chữa thẹn: “Dưới sức ép của các phe nhóm phản động, tôi phải hát cho các chương trình của họ. Nếu không sẽ bị coi là không xác định lập trường”.Và Khánh Ly lại hối hận, lại mong bà con thông cảm cho hoàn cảnh.

Về Mỹ, im lặng được một thời gian, ngày 13/1/2004, Khánh Ly lại kêu gọi thành lập hội “Ái hữu ca nhạc” và tẩy chay các nghệ sĩ trong nước sang Mỹ biểu diễn. Cũng trong lần về này, một hôm đến phòng trà Bạch Dương, nhiều người nhận ra Khánh  Ly và yêu cầu bà ta hát cho họ nghe vài bài. Ngẫu hứng, Khánh Ly bước lên sân khấu và hát liền 3 bài.

Một bầu show có mặt tại phòng trà Bạch Dương đã hỏi Khánh Ly: “Mai mốt mời chị về hát, chị có ok không?” Như một quán tính, Khánh Ly nói ngay: “Mời tôi về trả cát-sê bao nhiêu?” Bầu show đáp: “Mỗi bài 2 triệu”.

Bất cứ ai, và ngay cả Khánh Ly cũng thừa hiểu 2 triệu tiền Việt Nam… Vậy mà khi về lại Mỹ, hết Khánh Ly, rồi Nguyễn Hoàng Đoan lại cường điệu với nhiều người: “Việt Nam trả 2 triệu USD tiền cát-sê để mời Khánh Ly về hát, nhưng chắc không có chuyện đó đối với tôi”. Chẳng ai lạ gì với tính cách lật lọng của Khánh Ly.

Trước đây, khi thấy thị trường ca nhạc trong nước còn èo uột, bà ta từng tuyên bố sặc mùi phản động: “Tôi chỉ về khi không còn chế độ cộng sản nữa mà thôi”. Nhưng mới đây, trong cuộc phỏng vấn của đài BBC, Khánh Ly bộc bạch: “Về Việt Nam vẫn nằm trong mơ ước của tôi”.

Bà ta nửa úp nửa mở nói tiếp: “Hiện tôi chưa có ý định di chuyển hay thực hiện một chương trình nào đó ở xa, nên tôi cũng chưa nghĩ đến việc liệu việc về Việt Nam có khó khăn với tôi hay không. Nhưng tôi tin chắc là tôi xin phép về Việt Nam như mọi người khác để về thăm, chắc không có vấn đề gì”. Chẳng biết do suy nghĩ chủ quan, hay được gởi gắm tâm sự. Ca sĩ Thanh Tuyền nói: “Khánh Ly đã 67 tuổi rồi. Cũng mong được về nước để hát trên mảnh đất quê hương mình. Chị ấy muốn về trước khi quá muộn”.

Tôi nghĩ, chuyện Khánh Ly muốn về Việt Nam hát trong thời điểm này, chắc chẳng có gì trở ngại. Chỉ mong, lần này bà ta không lật lọng và ăn nói tiền hậu bất nhất, cuối cùng bài viết này, tôi muốn nói, dù ở đâu trên trái đất này, cái hay cần phải được ca ngợi, cái thiện phải được xiển dương và cái ác càng cần thiết được phê phán.

Hãy sòng phẳng như trường hợp của tay đấm lừng danh Mike Tyson, huyền thoại bóng đá Maradona và vua nhạc rock Michael Jackson. Mỗi người một lĩnh vực, nhưng họ đều là những siêu sao của thế giới. Vậy mà bên cạnh tài năng, những cái xấu của họ trong cuộc sống, cũng bị đem ra mổ xẻ một cách rạch ròi, không thương tiếc, mà chẳng thấy ai nói là bươi móc đời tư hết cả. Bởi đó là sự thật.