Catégorie : Non classé

GS TRẦN VĂN KHÊ bàn về Hô Lô tô trong những ngày Tết

GS TRẦN VĂN KHÊ bàn về Hô Lô tô trong những ngày Tết

Published on Sep 9, 2009

Ngoài nghệ thuật hô Bài Chòi ở miền Trung, GS Trần Văn Khê cũng nhắc sơ qua về kiểu chơi hô Lô tô trong miền Nam với phong cách riêng của nó, tạo không khí vui nhộn trong những ngày Tết Việt Nam và có thêm sự so sánh với loại hình nghệ thuật Bài Chòi. Tuy chỉ là trò chơi đơn thuần giải trí nhưng hô Lô tô cũng giúp cho người ta biết suy nghĩ ra những câu hô số hấp dẫn để góp vui thêm cho không khí mùa Xuân, tạo sự hồi hộp chờ đợi muốn biết ai sẽ là người thắng cuộc may mắn nhất… – Chuyên đề Hoa Quê Hương 33 do CLB. Tiếng Hát Quê Hương thực hiện – – Video by Khánh Vân –

 

Recitation of mantra NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT, Vietnamese Buddhism

Recitation of mantra NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT, Vietnamese Buddhism

Published on May 1, 2010

Trần Quang Hải, Vietnamese ethnomusicologist and specialist of overtone singing, has proposed a new type of recitation of mantra NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT from Vietnamese Buddhism. The use of overtones is an experiment suggested by Trần Quang Hải on May 1st 2010 (date of creation) Filmed by Bạch Yến, in Limeil Brevannes, France, May 1st, 2010

Үлэмжийн чанар нэрт ятгач Ч.Мөнх-Эрдэнэ Ulemjiin chanar yatga Monkherdene

Үлэмжийн чанар нэрт ятгач Ч.Мөнх-Эрдэнэ Ulemjiin chanar yatga Monkherdene

Ajoutée le 22 mars 2016

TẠ THÂM : Cấu tạo của Đàn Tranh

Cấu tạo của Đàn Tranh

Đàn Tranh được hình thành trong ban nhạc từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 14. Thời Lý – Trần, Đàn Tranh chỉ có độ 15 dây nên bấy giờ gọi là « Thập ngũ huyền cầm”, qua thời gian, đàn tranh được phát triển thành 16, 17 hay 19 dây.
Đàn Tranh tạo giai điệu trong trẻo, sáng sủa và ngân vang. Đàn Tranh thường được sử dụng để độc tấu, hòa tấu, đệm cho ngâm thơ, hát, tham gia trong các dàn nhạc Tài Tử, phường Bát Âm, dàn Nhã Nhạc và các dàn nhạc dân tộc tổng hợp. Ngày nay, rất nhiều bạn muốn học loại đàn dân tộc này. Với bài viết này, TẠ THÂM giới thiệu với các bạn cấu tạo và chức năng của các bộ phận Đàn Tranh nhé!

 

cau-tao-dan-tranh

 

Hộp đàn: Hình hộp dài, chiều dài khoảng 110cm, đầu đàn hẹp khoảng 13cm, cuối đàn rộng khoảng 20cm.
Mặt đàn: Mặt đàn Tranh vồng lên tượng trưng cho vòm trời làm bằng gỗ xốp, nhẹ . Loại gỗ TẠ THÂM thường làm mặt Đàn Tranh là gỗ Ngô Đồng.
Thành đàn: Làm bằng gỗ trắc, mun hoặc cẩm lai hoặc gỗ gụ
Ðáy đàn: Dưới đáy đàn ở đầu rộng, phía tay phải người đánh đàn có một lỗ thoát âm hình bán nguyệt để lắp dây, ở giữa đàn có 1 lỗ hình chữ nhật để cầm đàn khi di chuyển và ở đầu hẹp có một lỗ tròn nhỏ để treo đàn.
Cầu đàn: Ở đầu rộng, một cầu đàn bằng gỗ, hơi nhô lên và uốn cong theo mặt đàn có các lỗ nhỏ xếp hàng ngang có nạm hoặc cẩn kim loại để xỏ dây.
Ngựa đàn: Trên mặt đàn có nhạn (ngựa đàn) tương ứng với số dây, các con nhạn để đỡ dây đàn và có thể di chuyển được để điều chỉnh độ cao thấp của dây. Để có độ bền và âm thanh tốt, các con nhạn  thường làm bằng gỗ trắc hoặc cẩm lai. Đầu các con nhạn ở vị trí đỡ các dây đàn thường được gắn thêm xương hoặc đồng.
Trục đàn: Ở đầu hẹp đàn Tranh có các trục đàn để lên dây, trục đàn đặt trên mặt đàn còn để giữ một đầu dây xếp hàng chéo do độ ngắn dài của dây, tạo âm thanh cao thấp, trục đàn tốt thường được làm bằng gỗ Trắc, gôc Cẩm Lai hoặc gỗ gụ.
Dây đàn: Dây đàn bằng thép hoặc inox với các cỡ dây khác nhau để phù hợp với tầm âm của cây đàn.
Móng gảy: Ðàn Tranh đàn bằng móng gảy thường được làm bằng đồi mồi, Inox.
Chúc các bạn học đàn Tranh thành công và luôn yêu quý gìn giữ cây đàn truyền thống quý giá này nhé!

http://tatham.vn/cau-tao-cua-dan-tranh-a29.html

TA THAM : Đàn Tranh trong đời sống âm nhạc Việt Nam

Đàn Tranh trong đời sống âm nhạc Việt Nam

Đàn Tranh là một nhạc cụ cổ truyền Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, cây đàn tranh vẫn tồn tại và có nhiều phát triển vượt bậc đến ngày nay. Với tư cách là một trong những nhạc cụ sớm góp phần làm nên bộ mặt văn hóa, nghệ thuật riêng và độc đáo của Việt Nam, cây Đàn Tranh đã có sự gắn bó khăng khít, mật thiết với đời sống tâm hồn của nhân dân ta trải qua nhiều thế kỷ.

 

dan-tranh
Với tư thế về kiểu dáng, gọn nhẹ, cơ động…, đặc biệt màu âm giàu sức biểu cảm và khă năng diễn tấu phong phú, từ vị trí là cây đàn “quý tộc” chốn cung đình xa xưa, dần dần đàn tranh ngày càng trở nên gần gũi với đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động bình dân bên cạnh nhị, đàn nguyệt, sáo, đàn bầu…và được phổ biến ngày càng rộng rãi, đặc biệt từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay.
Sự ra đời của âm nhạc Tài tử – Cải lương đầu thế kỷ XX, với khối lượng bài bản phong phú và phong cách diễn tấu đặc trưng, đã là mảnh đất tốt cho sự phát triển và phổ biến ngày càng rộng rãi của đàn tranh. Năm 1956, trường Âm nhạc Việt Nam ra đời (nay là Học Viện Âm Nhạc Quốc Gia), đàn tranh cùng với các nhạc cụ dân tộc cổ truyền khác được đưa vào giảng dạy và trở thành bộ môn độc lập thuộc khoa Nhạc cụ truyền thống từ năm 1969, đã tiếp tục chắp cánh cho sức phát triển, có tầm vươn lên cả về nhu cầu học tập, sử dụng, thưởng thức cũng như sự hoàn thiện ngày càng cao trong hình thức cấu tạo nhằm phát huy, mở rộng khả năng diễn tấu với số lượng, chất lượng và nội dung bài bản ngày càng mang tính chuyên nghiệp.

 

bieu-dien-dan-tranh
Nói về lịch sử đàn tranh, các nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay, hầu hết đều có chung nhận định: đàn tranh Việt Nam có nguồn gốc từ đàn Gu Zheng (cổ tranh) cổ Trung Hoa và được du nhập vào nước ta khoảng thế kỷ XIII, đời nhà Trần.
Là nhạc cụ gẩy 16 dây, ở miền Bắc thường gọi là Đàn Thập Lục. Ngày nay, trải qua quá trình cải tiến, phát triển, Đàn Tranh còn có các loại 17 dây, 19 dây, 21 dây. Đàn Tranh có phong cách diễn tấu thoải mái, mềm mại, sự sáng sủa, trong trẻo của âm sắc mang vẻ mảnh mai, thảnh thơi, nhiều chất trữ tình.
Đàn tranh Việt Nam có họ hàng xa gần với các cây đàn cùng chủng loại ở châu Á và khu vực. Ngoài Gu Zheng của Trung Hoa nói trên, còn có Kôtô (Nhật Bản), Kayagum (Triều Tiên), Jatắc (Mông Cổ),… điều đó chứng minh quá trình giao lưu, ảnh hưởng qua lại của một không gian, văn hóa nhất định.

http://tatham.vn/dan-tranh-trong-doi-song-am-nhac-viet-nam-a34.html

Hoàng Thi: Tâm huyết của các nghệ sĩ ‘cứu’ và bảo tồn hát xẩm

Thứ sáu, 10/4/2015 | 14:53 GMT+7

Tâm huyết của các nghệ sĩ ‘cứu’ và bảo tồn hát xẩm

Nhạc sĩ Thao Giang đi đầu trong sưu tầm, phục dựng nghệ thuật hát xẩm. Nhiều nghệ sĩ trong đó có những người trẻ tuổi góp phần nhân rộng và mang lại sức sống cho loại hình này.

Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam của nhạc sĩ Thao Giang ra đời năm 2005 với mục đích khôi phục, bảo tồn các loại hình âm nhạc dân gian, trong đó có hát xẩm. Đây được coi là cái nôi phục dựng, phát triển hát xẩm trong đời sống hiện nay. Nhạc sĩ Thao Giang cho biết, trước đó ông đã mất gần 20 năm nghiên cứu, sưu tầm bài xẩm từ các nghệ nhân dân gian khắp tỉnh thành thông qua phương pháp điền dã.

Thời đó, phương tiện ghi âm còn hạn chế. Việc ghi chép chủ yếu là bằng trí nhớ, học trực tiếp từ các cụ. Phương tiện đi lại cũng khó khăn. Tuy nhiên, bằng nỗ lực và niềm đam mê, nhạc sĩ Thao Giang đã ghi lại một phần lớn di sản âm nhạc dân tộc trước khi nhiều nghệ nhân hát xẩm qua đời.

Ha-Thi-Cau-6780-1428634134.jpg

Việc cứu xẩm diễn ra giữa bối cảnh chỉ rất ít các nghệ nhân dân gian còn sống. Cụ Hà Thị Cầu cũng đã qua đời năm 2013.

Nhà nghiên cứu khẳng định, xẩm là loại hình âm nhạc dân gian có tính chuyên nghiệp chứ không phải bản năng, thô sơ. Nghiên cứu về hát xẩm, hệ thống lại toàn bộ làn điệu, ông thấy rằng nó được quy định chặt chẽ ở bốn điểm: cấu trúc âm nhạc, văn học, nhạc khí và môi trường diễn xướng.

Xưa nay, nhiều người vẫn nghĩ, hát xẩm là chỉ những người đi hát ăn xin. Thực tế không phải vậy. « Người hát xẩm không chỉ lang thang. Ngoài xẩm chợ, xẩm tàu điện… còn có hát xẩm nhà tơ (hát xẩm thính phòng). Đối chiếu bốn điểm quy chuẩn, chúng tôi thấy trong xẩm thính phòng, cấu trúc âm nhạc không ồn ào, giai điệu nhẹ nhàng, tinh tế hơn, không xô bồ như ngoài chợ mà cũng không trữ tình như trên tàu điện. Về văn học, nó đề cập đến những câu chuyện có tích của Trung Hoa chứ không phải chuyện con tôm, con cá. Về nhạc khí, đàn bầu, đàn hồ được thay cho trống phách vì diễn trong nhà ». Nhạc sĩ Thao Giang cho rằng, việc giới thiệu xẩm phải giới thiệu toàn diện để thấy xẩm là loại hình nghệ thuật có thể sánh ngang với mọi thứ nghệ thuật mà mọi người đã và đang yêu thích.

Nghệ sĩ Quang Long của nhóm Xẩm Hà Thành cũng là một trong những người theo đuổi nghiên cứu nghệ thuật này. Ông cho rằng, xẩm khó tiếp cận với các thế hệ sau bởi chủ yếu được chuyển tải bằng hình thức truyền miệng, không như chèo, quan họ… sớm được đưa lên sân khấu biểu diễn chuyên nghiệp, được biểu diễn thường xuyên trong các dịp lễ hội. Vì thế, việc phục dựng thể loại này trong điều kiện các nghệ nhân đã ra đi gần hết, đưa lên sân khấu là một nỗ lực không hề nhỏ.

Nhạc sĩ Thao Giang, Quang Long, ca sĩ Thanh Ngoan, nghệ sĩ Văn Ty, Xuân Hoạch, Mai Tuyết Hoa, Khương Cường… là những người đi đầu trong việc bảo tồn, gìn giữ thể loại này. Ngoài việc « cứu » một phần di sản mà các nghệ nhân để lại, những người nghiên cứu về hát xẩm còn có trách nhiệm tìm ra quy luật, nguyên lý cổ xưa, rồi bổ sung, sáng tác làn điệu mới phù hợp với nội dung và nhịp sống hiện đại.

Nghệ sĩ không nghĩ tới việc kiếm tiền từ hát xẩm

Các nghệ sĩ theo học xẩm tại Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam của nhạc sĩ Thao Giang phần lớn thuộc thế hệ 8X, đều đã thành nghề, cùng thầy của họ đi diễn nhiều nơi. Ngoài các đêm diễn hàng tuần ở chợ Đồng Xuân và quanh phố cổ được thành phố Hà Nội hỗ trợ một khoản nhỏ, các buổi diễn trong nội thành của nhóm thu được từ 12 tới 16 triệu đồng một đêm. Số tiền này, theo nhạc sĩ Thao Giang, có thể giúp các học trò của ông trang trải việc học nâng cao kiến thức về hát xẩm.

Nhạc sĩ chia sẻ thêm, các nghệ sĩ trẻ hoàn toàn có thể đi diễn phòng trà kiếm tiền nhưng họ vẫn gắn liền với gánh hát của ông vì đam mê với xẩm và các loại hình âm nhạc dân tộc. « Mục tiêu của chúng tôi là tạo ra những thế hệ nghệ sĩ không chỉ biết biểu diễn mà phải có trình độ lý giải, nghiên cứu, đúc kết, tìm ra quy luật, tiếp tục truyền dạy và sau này có thể sáng tác thêm các làn điệu mới… Các em sau này sẽ là chủ nhân của những di sản tinh thần này », Thao Giang nói.

xam-4679-1428634138.jpg

Các nghệ sĩ biểu diễn trong đêm « Xẩm và Đời » của nhóm xẩm Hà Thành.

Nhóm Xẩm Hà Thành với ba thành viên chính là Quang Long, Mai Tuyết Hoa, Khương Cương vốn cũng từ cái nôi do nhạc sĩ Thao Giang gây dựng, nhưng đã tách ra từ khoảng năm 2009 – 2010 để nhân rộng nghệ thuật hát xẩm đồng thời được hoạt động theo ý thích riêng. Nghệ sĩ Quang Long chia sẻ, để theo đuổi nghệ thuật hát xẩm, các nghệ sĩ đều phải bỏ tiền túi rất nhiều bên cạnh sự hỗ trợ của các đơn vị, bạn bè…

Theo Quang Long, nghệ thuật hát xẩm vốn không phải để kiếm tiền. Các nghệ nhân dân gian như cụ Hà Thị Cầu, Tô Quốc Phương… đều có cuộc sống vất vả. Họ hát vì niềm đam mê là chính. Các nghệ sĩ ngày nay, cũng không mong muốn kiếm tiền nhờ hát xẩm, mà chỉ mong nghệ thuật này sống lại trong đời sống và ngày càng khẳng định được giá trị của nó. Nghệ sĩ Quang Long cũng mong rằng việc bảo tồn xẩm không chỉ xuất phát từ đam mê, ý thích của các cá nhân, mà được đưa vào chiến lược phát triển văn hóa chung của nhà nước.

Hoàng Thi

https://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/nhac/lang-nhac/tam-huyet-cua-cac-nghe-si-cuu-va-bao-ton-hat-xam-3175650.html

 

TUYỂN TẬP CÁC BÀI TÁN TỤNG PHẬT GIÁO THEO NGHI THỨC HUẾ – BUDDHIST CHANTING

TUYỂN TẬP CÁC BÀI TÁN TỤNG PHẬT GIÁO THEO NGHI THỨC HUẾ – BUDDHIST CHANTING

Published on Jun 12, 2016

TUYỂN TẬP CÁC BÀI TÁN TỤNG PHẬT GIÁO THEO NGHI THỨC HUẾ – BUDDHIST CHANTING —————————————————————— Welcome to Buddhism Channel 1 & 2 :