Catégorie : Non classé

NGHIÊM NGUYỄN : Khi bài hát bị hát sai lời (Nghiêm Nguyễn)

January 29, 2017

Hiện tượng ca sĩ hát sai lời bài hát xảy ra càng lúc càng nhiều, ở trong nước cũng như hải ngoại. Với đa số khán thính giả, có thể đây chỉ là chuyện nhỏ, không đáng quan tâm, vì chính họ cũng không biết chính xác lời của bài hát. Tuy nhiên với một số người quan tâm, nhất là các nhạc sĩ, các tác giả viết ra bài hát, họ đã buồn lòng không ít về vấn đề này.

Trong bài “Mộng Dưới Hoa”, Nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ từ bài thơ “Tự tình dưới hoa” của thi sĩ Đinh Hùng, câu “Mắt em lả bóng dừa hoang dại”, nhiều người đã hát thành “Mắt em là bóng dừa hoang dại”. Chữ “lả” diễn tả một hình ảnh nên thơ đôi mắt của người thiếu nữ đẹp như bóng dừa rủ xuống.  Hát thành “là” thì câu hát hoàn toàn mất chất thơ đi.  Có một giai thoại về chuyện này. Sau khi sáng tác bản nhạc này, nhạc sĩ Phạm đình Chương thỉnh thoảng có trình diễn bài hát này ở phòng trà Đêm Màu Hồng. Khi hát đến câu “Mắt em lả bóng dừa hoang dại”, ông đột ngột ngừng lại, rồi nói “Lả bóng, các bạn ạ, đừng hát Là bóng, mất đẹp của câu thơ đi”. Sau đó ông lại say sưa hát tiếp.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh cũng từng bộc bạch là mỗi lần nghe ca sĩ hát câu đầu của bài “Chiếc lá cuối cùng”  ông hết sức hồi hộp vì nhiều ca sĩ đã hát “Đêm qua chưa” thành “Đêm chưa qua”. “Đêm qua chưa” là một câu hỏi bâng khuâng, trước sự chia ly không còn ý niệm rõ rệt về thời gian, trong khi đó “Đêm chưa qua” đầy tính xác định. Nếu so sánh, “Đêm qua chưa” nghe hay hơn, đầy tính nghệ thuật hơn là “Đêm chưa qua”.

Cố ca sĩ Quỳnh Giao khi viết về bài hát “Ngọc Lan” của người cha kế là nhạc sĩ Dương thiệu Tước cũng không kềm được sự bực tức khi một câu trong bài hát đã bị hát sai hoàn toàn. Trong tạp ghi Quỳnh Giao, bà đã viết:

Không chỉ là một bài hát, Ngọc Lan là một bài thơ, một bức họa và một đóa thơm lãng mạn. Ca khúc này được nhiều người trình bày, nam lẫn nữ, nhưng có lẽ thích hợp với giọng nữ hơn là nam. Ðiều này hơi lạ vì nội dung gợi ý về bậc nam tử thấy người ngọc trong “giấc xuân yêu kiều” bỗng mê đắm mà… lùi lại để tơ vương trong tâm tưởng. Ngợi ca đóa hoa như vậy thì phải là nam tử chứ?

Về nhạc thì vậy, về lời từ thì thật đáng thương cho Dương Thiệu Tước, cháu nội cụ Dương Khuê.

Ông viết nhạc đã hay mà dùng chữ rất tài cho một hậu thế lại coi thường chữ nghĩa và nỗi dụng công của ông. Khi viết “ngón tơ mềm, chờ phím ngân trùng, mạch tương lai láng”, ông dồn hết thi họa và nhạc vào một câu làm người ứa lệ trước cái đẹp. “Mạch tương lai láng” là một điển cố nói về giọt lệ. Nhưng đời sau lại hát ra “mạch tương lai sáng”. Dẫu có buồn thì cũng chưa đáng khóc bằng “mạch tuôn” hay “mạch tuông lai láng”!

Trong một buổi trình diễn ca nhạc của TT Thúy Nga, nữ ca sĩ  TTH tức HT cũng đã hát  “Mạch tương lai sáng”. Rõ ràng là người nữ ca sĩ này hoàn toàn không hiểu biết gì về ý nghĩa của ca từ này.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng là nạn nhân của rất nhiều trường hợp.  Những bài hát của ông ngoài giai điệu mượt mà, trong ca từ ông thường sáng tạo những từ vựng rất độc đáo, lạ lẫm, tạo nên nét nhạc rất riêng của họ Trịnh. Chẳng hạn như trong bài “Chiều một mình qua phố”.  Khi ông viết “Khi nắng khuya chưa lên”, ông muốn dùng  chữ  “nắng khuya” thay thế ánh trăng lên, thế mà có một nam ca sĩ vì  không hiểu nên đã hát “Khi nắng mưa chưa lên”, làm mất đi cái hình ảnh thi vị đó. Thật uổng cái công sáng tạo chữ nghĩa của ông.

Trong bài “Quỳnh Hương” có câu “Nụ cười khúc khích trên lưng”, vẽ lên một hình ảnh rất dễ thương của người thiếu nữ áp sau lưng chàng trai, miệng cười khúc khích. Nhưng chắc vì quên lời nên một số ca sĩ đã hát cương thành “Nụ cười khúc khích trên môi”, làm mất đi cái hình ảnh dễ thương đó. Trong bài “ Một cõi đi về”, những chữ “ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì” thì bị hát thành “thổi xuống” hay “thổi buốt” , sai lạc cả ý nghĩa.  Hoặc trong bài “Biết đâu nguồn cội”, lời của bài hát là “Em đi qua chuyến đò, thấy con trăng đang nằm ngủ”, thì bị hát thành “thấy con trâu đang nằm ngủ”, từ một hình ảnh lãng mạn hoá thành hình ảnh trần trụi, đời thường.

Nhạc tiền chiến cũng không ngoại lệ. Bài “Hướng về Hà Nội” của nhạc sĩ Hoàng Dương có quá nhiều câu sai khiến tác giả không ít lần muốn đính chính. “Tiếng guốc” trong câu “thanh bình tiếng guốc reo vui” bị hát thành “tiếng hát reo vui”. Với ông, tiếng guốc là âm thanh riêng của Hà Nội, vậy mà thay bằng “tiếng hát” thì còn gì là Hà Nội nữa. Rồi “ Hãy tin ngày ấy anh về” hát thành “Cứ tin ngày ấy anh về”, và câu “đắm say chờ những kiếp sau…” bị hát thành “đắng cay chờ những kiếp sau…”.

Trong câu mở đầu đầy chất thơ bài “Bến Xuân” của nhạc sĩ Văn Cao :”Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước/ Em đến tôi một lần” đã bị hát thành “em đến chơi một lần” hay “em đến thăm một lần”, chỉ đổi một chữ mà làm mất hết hồn thơ của câu hát.

Hiện giờ hầu như các bản in đều in nhầm khiến các ca sĩ đều hát sai câu “Muôn kiếp bên đàn” thành “Muôn kiếp bên nàng” trong bài “Dư Âm” của nhạc sĩ Nguyễn văn Tý. Lòng muốn bên nàng nhưng người xưa không muốn nên phải nói tránh ra là bên đàn, tác giả đã có lần tâm sự, kể lại chuyện tình thời trai trẻ của ông.

Trong bài “Lá đổ muôn chiều” của Đoàn Chuẩn,  câu hát “còn nhớ phương nào hoa đã rơi” đã bị một nam ca sĩ sửa thành “còn nhớ hôm nào hoa đã rơi”. “Phương nào” nói về không gian, nơi chốn, trong khi “hôm nào”, nói về thời gian.  “Còn nhớ phương nào” nghe thi vị, khoáng đãng hơn “còn nhớ hôm nào”.

Tiếng hát vượt thời gian Thái Thanh, ca sĩ được xem diễn tả những sáng tác của  Phạm Duy hoàn hảo nhất cho đến chính tác giả cũng phải khen ngợi là không ai có thể thay thế được, thỉnh thoảngvẫn tự ý sửa lời bài hát, hoặc hát sai khi trình diễn . Có trường hợp nhờ bị sửa mà câu hát trở nên sâu sắc hơn, có ý nghĩa hơn, nhưng không phải lúc nào cũng thành công.

Chẳng hạn như bài “Cho Nhau”, Phạm Duy viết:

Cho nhau ngòi bút cùn trơ….

Cho nhau, cho những câu thơ tàn mùa

Cho nốt đêm mơ về già

Thái Thanh hát:

Cho nhau ngòi bút còn lưa…

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Cho nối đêm mơ về già

Lưa là chữ cổ, có nghĩa còn sót lại, nhưng mang một âm thanh u hoài, luyến lưu, tiếc nuối. Dĩ nhiên ngòi bút cùn trơ mang ý nghĩa chính xác hơn, nhưng nghe không thi vị bằng ngòi bút còn lưa. ”Cho nốt đêm mơ về già “có nghĩa là cho hết đi, không còn chừa gì cả, nhưng “Cho nối đêm mơ về già”, nghe sâu nặng, thủy chung hơn.

Phạm Duy viết :

Cho nhau thù oán hờn ghen

Cho nhau cho cõi âm ty một miền

Thái Thanh hát:

Cho nhau cho nỗi âm ty một miền

Chữ “nỗi” mang ý nghĩa sâu xa, hay hơn chữ “cõi”. Vì từ “cõi” một ý niệm hữu hình về không gian, tuy có vẻ bao la nhưng hữu hạn. Còn “nỗi”, một ý niệm vô hình, diễn tả tâm trạng con người, tưởng chừng như nhỏ bé so với “cõi” không gian, nhưng thật ra mông mênh vô tận lòng người.

Tuy nhiên trong bài “Về miền Trung”, Thái Thanh đã hát sai hai chỗ làm lệch ý nghĩa của bài hát. “Tan thân thiếu phụ, nát đầu hài nhi” bị hát sai thành “Thương thân thiếu phụ, khóc đầu hài nhi”, và “Một chiều nao đốt lửa rực đô thành”, Thái Thanh hát thành “Một chiều mai đốt lửa rực kinh thành”. Chữ “nao” mơ hồ, mông lung, không xác định rõ thời gian, có thể là không bao giờ, trái lại chữ “mai” có vẻ như một xác quyết, mong muốn. Nhạc sĩ Phạm Duy  muốn gây một ấn tượng mạnh mẽ cho người nghe chứ chẳng bao giờ mong có ngày đốt kinh thành Huế.

Chuyện các ca sĩ hát sai lời từ trước đến giờ có lẽ viết mãi cũng không hết. Đó là chưa nói đến chuyện sửa “anh” thành “em” hay ngược lại để phù hợp giới tính của ca sĩ. Có những bài hát không thay đổi ý nghĩa gì nhiều khi bị sửa đổi, tuy nhiên không phải lúc nào cũng xuôi chèo mát mái mà nhiều khi nghe rất ngô nghê, buồn cười.  Phải hiểu là nhạc sĩ sáng tác một bài hát là gửi gấm tâm tình của mình vào trong đó. Vì thế khi thể hiện một bài hát cho có hồn, cho bài hát được thăng hoa hơn, ngoài việc hoà nhập cảm xúc và tâm hồn của mình vào đó, người hát không nên sửa đổi theo ý mình mà làm sai lệch ý tưởng và ý nghĩa của bài hát.

Thử tưởng tượng như trong bài Ngậm Ngùi, Phạm Duy phổ thơ Huy Cận, nếu đổi anh thành em và ngược lại, sẽ nghe một nữ ca sĩ hát như sau:

Tay em anh hãy tựa đầu,

Để em nghe nặng trái sầu rụng rơi

Thì với thân hình nặng hơn 60 kí lô của chàng tựa vào, chắc chắn cả thân người của nàng sẽ rụng rơi chứ không phải trái sầu nào cả.

Tương tự, nghe hết sức kỳ cục khi :

“Anh vuốt tóc em” sửa thành “em vuốt tóc anh” và

“Em khóc trên vai anh” sửa thành “Anh khóc trên vai em” (Một lần cuối, Hoàng Thi Thơ)
“Em ơi nép vào lòng anh” sửa lại là “Anh ơi nép vào lòng nhau” (Đôi ngả chia ly, Khánh Băng)
Trong bài “Này em có nhớ” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, chữ “em”, một người con gái phụ bạc, khiến “tôi”, một người đàn ông phải trách móc, buồn phiền. Thế mà một ca sĩ trong nước khi trình diễn đã đổi ngược lại làm mất hết tính tự sự đầy biểu cảm trong bài nhạc.

Ca sĩ hát sai lời có nhiều nguyên nhân. Từ việc các băng đĩa nhạc phát hành cẩu thả, đến việc những quyển sách nhạc in sai lời mà không bao giờ đính chính. Nhưng xét cho cùng, chủ yếu là từ các ca sĩ; họ đã không chịu tham khảo, tìm hiểu ý nghĩa của bài hát một cách thấu đáo trước khi trình diễn. Ở mỗi tác phẩm, tác giả khổ công gọt giũa từng nốt nhạc, trau chuốt từ câu ca, để qua bài hát chuyển tải những cảm xúc, những tâm tình của họ đến người nghe. Thế mà khi nghe một bản nhạc, hầu như  người ta chỉ quan tâm đến ca sĩ trình bày chứ chẳng ai thèm nhớ hay biết tên tác giả. Ngay cả một số trung tâm sản xuất băng nhạc và một số ca sĩ cũng thế. Cách nay khá lâu nhà văn Bùi Bảo Trúc kể, có lần ông mua một băng nhạc của trung tâm nào đó sản xuất. Khi đọc trên bìa băng nhạc, thấy chỉ liệt kê tên những bản nhạc và ca sĩ trình bày mà không để tên tác giả, ông bực quá vứt băng nhạc vừa mua vào sọt rác. Ông bảo đây là sự vô ơn đối với tác giả.

Cho nên khi thưởng thức hay trình bày một bài hát, người nghe cũng như người hát cần biết đến ai là người đã sáng tác ra bài hát, và sau đó  người hát cố gắng hát cho đúng lời, đúng ý. Đó là cách chúng ta tôn trọng tác giả cũng như thể hiện sự biết ơn của chúng ta đối với họ; những người  mà từ trong cuộc sống với  định mệnh đau thương, nghiệt ngã hay với hạnh phúc êm ả,  ngọt ngào; đã chắt lọc thành chất liệu để cống hiến cho đời những tác phẩm thật tuyệt vời.

NN

Đầu năm 2017

 

ĐẶNG HOÀNH LOAN : CHUYỆN TRÒ VỚI KSO UẾCH – NGƯỜI « LÊN DÂY » CHO DÀN CHIÊNG JRAI

CHUYỆN TRÒ VỚI KSO UẾCH –
NGƯỜI « LÊN DÂY » CHO DÀN CHIÊNG JRAI

Đặng Hoành Loan

Cuối năm 2004 chúng tôi có dịp về điền dã sưu tầm âm nhạc dân gian dân tộc Jrai tại xã Yaka huyện Chư Pã, tỉnh Giai Lai. Buổi làm việc đầu tiên tại xã, chúng tôi được gặp già làng Siu Mi Ing, trưởng thôn Ksor Blao và ông chủ tịch xã Rơ Chăm Ngliu. Buổi gặp mặt diễn ra vui vẻ và thân thiện.

Sau nhiều câu xã giao, nhiều chuyện xa gần về đời sống sinh hoạt xã hội, nào chuyện con đường, chuyện điện về buôn, đến chuyện thay đổi cây, con trong nông nghiệp được trao đi đổi lại khá xôm xả.

Khi men rượu đã ngấm sâu, ché rượu cũng nhạt dần (sau nhiều lần tiêm nước), khói thuốc từ các tẩu thuốc dân gian nhả đặc quánh căn phòng, thì cũng là lúc câu chuyện buôn làng thuở xưa được già làng Siu Mi Ing kể lại. Nào chuyện chiến tranh trước đây giữa hai dòng họ Jrai Hrap với Jrai Hdrung ; chuyện rời buôn từ bên Kon Tum về đây sau cuộc chiến cuối cùng ; chuyện phong tục cưới xin, ma chay ; chuyện lễ hội của làng buôn cũng được già làng kể đến từng chi tiết. Nhưng có lẽ thú vị nhất là chuyện cồng chiêng.

Già làng nói : Từ xa, xa lắm, Yang đã ban cho người Jrai cồng chiêng để mỗi dịp lễ thiêng, người Jrai đánh cồng chiêng, cầu xin Yang cho buôn làng hạnh phúc, cho chiến tranh không xảy ra, cho người chết được đi xa, cho bến nước không ngừng chảy, cho lúa, bắp đầy hạt. Cồng chiêng là thiêng lắm ! Mỗi khi đánh cồng chiêng phải làm lễ xin phép Yang, phải chỉnh lại âm cồng chiêng cho đúng. Âm cồng chiêng có đúng thì tiếng cồng chiêng mới thấu tới Yang, Yang mới hiểu mình cầu xin gì. Còn âm cồng chiêng nó sai thì giọng nó không đúng ,Yang không hiểu được đâu. Chỉ có cồng chiêng mới nói chuyện được với Yang thôi.

Tôi hỏi già làng Siu Mi Ing :

– Thế ai là người chỉnh âm thanh cồng chiêng ?

– Ông Pok Chêng là người chỉnh âm thanh cồng chiêng. Già làng vừa trả lời tôi vừa nâng cần rượu. Ông hút mấy hụm rượu từ chiếc cần trúc dài uốn cong cắm vào ché rượu, rồi nói tiếp : Ở Tây Nguyên buôn làng nào cũng phải có Pok chêng. Ở xã mình cũng có ông Pok chêng tài lắm, ông là Kso Uếch, nhưng hôm nay ông không có nhà, nghe đâu ông đi chỉnh cồng chiêng ở bên Kon Tum.
– Có cách nào để tìm được ông ấy không, già làng ?
– Khó lắm. Ông ấy thường đi chỉnh cồng chiêng khắp nơi. Có lần ông đã đi chỉnh cồng chiêng cho các buôn ở sát biên giới Lào cơ. Bây giời phải sang nhà ông ấy, ở bên làng Mrông Ngõ, rồi hỏi vợ ông ấy thì mới biết – Ông chủ tịch xã Rơ Chăm Ngliu mách bảo chúng tôi.

Thế rồi may rủi đều có số, chúng tôi cũng tìm được ông Pok chêng Kso Uếch khi ông đang chỉnh dàn chiêng trong đám tang người Jrai ở một làng gần thị xã Kon Tum.

Vóc người nhỏ bé, ánh mắt tinh nhanh, vừa nhìn thấy chúng tôi, dường như ông đã đoán biết ý định của những vị khách không mời mà đến này.
– Chào Ksor Uếch ! Có mấy ông ờ Hà Nội vào, muốn được gặp ông. Rchăm Tyh (người cán bộ địa phương cộng tác điền dã cùng chúng tôi) nói.

Ông nhìn chúng tôi một lượt rồi gật đầu, nhưng vẫn không rời khỏi công việc chỉnh chiêng. Ít phút sau ông ngừng tay và nói đôi câu bằng tiếng Jrai. Rchăm Tyh dịch lại cho chúng tôi : « Hai ngày nữa xong việc ở đây tôi sẽ về. Muốn biết chỉnh chiêng như thế nào thì phải có dàn cồng chiêng và phải có người đánh cồng chiêng ». Nói xong ông lại tiếp tục công việc.

Chúng tôi chấp nhận lời đề nghị của ông, bởi chúng tôi hiểu, đó là yêu cầu bức thiết. Chia tay ông chúng tôi trở lại xã Yaka để chuẩn bị những công việc cần thiết cho cuộc : »thuyết trình » chỉnh chiêng của ông.

Đúng hai hôm sau Kso Uếch đã về buôn và cũng vừa lúc chúng tôi hoàn thành tất cả những công việc cần thiết cho cuộc « thuyết trình » này. Dàn chinh chêng (quen gọi là cồng chiêng) cổ 16 chiếc của già làng Siu Mi Ing và các nghệ nhân đánh cồng chiêng của làng Mrông Yố đã có mặt đầy đủ. Tôi ngẫm câu thành ngữ :  » Người Tây Nguyên nói như dao chém lá, như rựa chặt cây » quả không sai.

Khi cuộc chỉnh chiêng bắt đầu, như một chỉ huy dàn nhạc lão luyện, Kso Uếch cầm chiếc chiêng nhỏ khởi nhịp để cả dàn cồng chiêng nổi lên bài chiêng Cúng lúa. Dứt bài chiêng, Kso Uếch nói với chúng tôi : « Dàn chinh chêng này có 3 chêng mất tiếng » cần chỉnh lại. Nói xong ông chọn 3 chiếc chiêng ấy để riêng, rồi nhấc chiếc gùi xủng xoảng đồ nghề bên trong tiến gần lại chỗ chúng tôi.

– Muốn chỉnh chinh chiêng phải có đồ nghề. Đây là Mút pkia (búa gò), đây là Mút theng (búa chỉnh âm), đây là Mút dol (dìu đẽo gỗ), đây là Nét pkia (đe nhỏ sửa chiêng mỏng), đây là Nol psơi pkia (đe lớn sửa chiêng lớn). Ông chậm rãi cầm từng dụng cụ một giới thiệu cho chúng tôi. Dứt lời, ông lấy dùi gõ vào mặt chiếc chiêng Moong Kôốc (chiêng núm) là 1 trong 3 chiếc chiêng ông cho là mất tiếng. Hình như để tìm ra lỗi mất tiếng của chiêng, ông đánh chiêng ở nhiều vị trí khác nhau: khi giữa núm chiêng, khi sát thành chiêng, khi giữa thành và núm chiêng, rồi đánh lúc xa lúc gần. Chêng này chết phải chỉnh lâu lắm – ông quay sang chúng tôi khẳng định, rồi chậm rãi nhét thuốc vào chiếc tẩu tre, châm lửa.

Mặc dù đã có ngót 40 năm hành nghề âm nhạc, nhưng tôi vẫn không hiểu tại sao chiêng vẫn kêu mà ông bảo chiêng chết. Tôi tự nhủ, thôi ngu thì hỏi mà hiểu, còn hơn gật gật đầu mà mù tịt. Thưa Pok chiêng, tôi vẫn thấy chiêng kêu đàng hoàng đấy chứ có câm đâu mà chết ?

Ông cầm chiêng lên, đánh rồi giải thích : Chiêng kêu, nhưng tiếng nó tản khắp mặt chiêng, như thế là chiêng chết. Chiêng không chết là âm chiêng phải phát ra từ giữa mặt chiêng. Ông gõ thêm mấy tiếng chiêng nữa rồi nhìn chúng tôi như hỏi : đã nhận ra chưa ? Thú thực, lúc bấy giờ chúng tôi cũng chỉ mới lờ mờ cảm nhận, nên đành lặng yên không trả lời ông.

Ông điềm nhiên nạp thêm thuốc vào tẩu rồi với tay lấy chiếc chiêng thứ hai, chiếc Mung chinh (chiêng bằng), ông nhấc chinh lên gõ nhẹ vào mặt chinh. Cũng như lần trước, ông cẩn trọng gõ nhiều điểm rồi khẳng định : Chinh này lạc tiếng.

– Làm thế nào mà ông nhận ra chiếc Mung chinh này lạc tiếng giữa lúc 16 chiêng cùng hòa tấu ? Tôi hỏi ông.

– Mình nghe quen thì mình nhận ra thôi. Còn lũ trẻ bây giờ nó lên tỉnh, lên huyện đánh chiêng cốt cho kêu to chứ có biết sai đúng gì đâu, nên hỏi nó, nó cũng không biết đâu.

– Thế chiêng lạc tiếng khác với chiêng chết ở chỗ nào ?

– Chiêng lạc tiếng là nó hát không đúng cái giọng, nhưng âm của nó vẫn ở giữa tâm chiêng.

– Chiêng « hát không đúng cái giọng » tức là chiêng sai bậc âm, có thể là bị thấp và cũng có thể là bị cao, phải không Pok chiêng ?

Ông gật đầu đồng ý, rồi với tay lấy chiếc chiêng thứ ba, chiếc chinh Tơ rớt (chiêng bằng). Cũng lặp lại những thao tác trước đây để thẩm định âm thanh một cách kĩ lưỡng, rồi kết luận : chiêng này câm. Mọi người đều tán thành đúng là chiêng câm vì nó không vang như những chiếc khác.

Sau khi đã xác định đúng lỗi của từng chiếc chiêng, ông bắt đầu chỉnh sửa. Bằng những động tác kĩ thuật rất chỉnh chu và khéo léo, khi dùng búa gõ, khi dùng khúc gỗ dỗ dỗ xuống những điểm cần chỉnh ở cả hai phía trong và ngoài chiêng, khi dùng dùi nạo quét nhẹ từ thành chiêng vòng vào tâm chiêng, rồi lại vòng ngược từ tâm chiêng ra ngoài mặt chiêng. Sau khi hoàn thành mỗi động tác chỉnh sửa ông lại đánh chiêng bằng 2 loại dùi : loại bọc vải và loại không bọc vải để kiểm tra hiệu quả âm thanh.

Hơn một giờ đồng hồ tập trung chỉnh sửa ông đã hoàn tất âm thanh cho 3 chiếc chiêng. Chiêng chết đã có âm thanh giữa tâm chiêng ; chiêng lạc đã chuẩn cao độ ; chiêng câm đã kêu vang như những chiếc chiêng khác.

Tôi nhớ rất rõ và cũng rất ấn tượng khi ông chỉnh xong chiếc Mung chinh. Ông cầm chiếc Mung chinh đến bên người nghệ nhân chơi chiếc Ania chinh. Ông yêu cầu người nghệ nhân đánh chiêng Ania chinh cầm chiêng đứng lên, giơ chiêng song song với chiếc Mung chinh của ông. Sau đó ông đánh mạnh vào chiếc Mung chinh. Ông đánh như vậy độ hai, ba lần, vừa đánh vừa lắng nghe rồi gật đầu tỏ vẻ mỹ mãn.

– Tôi tò mò hỏi ông : Ông đánh thế để làm gì ?

– Để nghe tiếng ngoài chiêng. Hai tiếng ngoài chiêng nhập vào nhau là chiêng đã chỉnh đúng, không còn lạc tiếng nữa.

– Tôi gặng hỏi ông : Tiếng ngoài chiêng là tiếng gì ?

– Là tiếng ngoài chiêng thôi – ông giải thích một cách bí ẩn.

Để tìm nguyên nhân, tôi bắt chiếc ông lặp lại cách so âm thanh giữa hai chiếc chiêng Mung chinh và Ania chinh của ông hai, ba lần và nhận ra rằng : đây là hai chiếc chiêng cùng âm (chênh nhau quãng 8), khi để chúng gần nhau, rồi đánh một trong hai chiếc sẽ tạo nên giao thoa âm thanh. Lúc bấy giờ ta sẽ nghe thấy bồi âm quãng 5 của hai chiêng cùng vang lên rất rõ. Tôi suy đoán, tiếng ngoài chiêng mà Kso Uếch nói, chính là tiếng bồi âm này. Khi hai tiếng bồi âm quãng 5 của 2 chiêng khớp nhau là chiếc chiêng được chỉnh đã chuẩn xác. Nếu quả đúng như vậy (hoặc không đúng như tôi suy đoán) thì lối thử chiêng, bằng cách này để nghe cái « âm thanh ngoài chiêng » ấy cũng đủ chứng minh các dân tộc ở Tây Nguyên đã có một kho « tri thức âm thanh học dân gian » từ rất lâu đời. Nhờ kho « tri thức âm thanh học dân gian » này, mà họ đã chế tác ra muôn vàn những nhạc cụ định âm khác nhau bằng nhiều loại vật liệu từ tự nhiên : đá, tre trúc, nứa, gỗ, đất. Và cũng nhờ có kho tri thức ấy mà họ đã biết biến đổi cồng chiêng của các dân tộc ngoài Tây Nguyên thành nhạc cụ cồng chiêng của người Tây Nguyên – dàn nhạc cụ có tầm nghệ thuật trác tuyệt.

Thử lại lần cuối cùng 3 chiếc chiêng vừa chỉnh âm, ông gật đầu vẻ mỹ mãn rồi trao lại chiêng cho 3 nghệ nhân. Ông cầm chiếc chiêng Đook đốt (chiêng nhỏ có núm), tay phải cầm dùi dơ cao như báo hiệu cho toàn dàn chiêng chuẩn bị. Ông khởi nhịp bằng 3 tiếng chiêng đều đặn, cả dàn chiêng đổ vào theo một trật tự âm thanh và tiết tấu nhất định. Bài chiêng Cúng lúa vang lên, lúc trầm hùng, lúc sống động, khi bí ẩn, đã gây cho người nghe một cảm giác hưng phấn lạ lùng.

Đế lúc bấy giời, những kẻ làm nghề nhạc như chúng tôi mới thấy hết cái hay, cái đẹp âm thanh của một dàn chiêng chuẩn. Dứt bài chiêng Cúng lúa cũng là lúc ông mặt trời cao nguyên đứng ở đỉnh đầu. Chia tay các nghệ nhân đánh cồng chiêng, chia tay Pok chêng Kso Uếch, tôi gạn hỏi ông :

– Ông làm nghề chỉnh chiêng lâu chưa ?

– Tôi theo cha đi chỉnh chiêng từ năm 10 tuổi. Cha dạy tôi, tôi nhớ, rồi tôi cùng làm với cha, dần dần mà biết. Hôm nay tôi mới chỉ nói cho các ông về các lối chỉnh âm thanh cồng chiêng. Còn cách thức sửa lại cồng chiêng mới mua về để nó hát đúng tiếng dân tộc mình thì còn nhiều chuyện lắm.

Bây giờ 70 tuổi rồi, muốn trao lại nghề này cho lớp trẻ thôi.

– Đã có cháu nào đến xin học ông chưa ?
– Cũng có, nhưng không ham lắm. Ông trả lời tôi, rồi cừa buồn.

Nụ cười ấy của ông làm tôi vẫn nhớ mãi. Nó như nói với tôi : nếu không có người làm nghề chỉnh chiêng như ông thì tiếng chiêng sẽ sai lạc. Khi ấy cồng chiêng không còn là tiếng nói giao tiếp thầm kín của người Tây Nguyên với Yang được nữa rồi.
ĐHL

L’image contient peut-être : 2 personnes, personnes debout, barbe et plein air
L’image contient peut-être : une personne ou plus, personnes assises, plein air et eau
J’aimeAfficher plus de réactions

Commenter

DỰ ÁN THÀNH LẬP NHÀ LƯU NIỆM TRẦN VĂN KHÊ tai DALAT, 2017

———- Forwarded message ———-
From: trac trac <ngoctracdalat@gmail.com>
Date: 2017-06-14 13:10 GMT+02:00
Subject: Re: Gởi anh Trác, thơ của Trần Quang Hải
To: Tran Quang Hai <tranquanghai@gmail.com>

NƠI NÀY SẼ LÀ NHÀ LƯU NIÊM TVK trong tương lai

NGÔI NHÀ NÀY DỰ TRÙ SẼ LÀ NHÀ LƯU NIÊM TRẦN VĂN KHÊ

noi này sẽ là nhà lưu niêm TVK trong tương lai bis

chùa Vạn Đức Dalat.jpg

chùa VẠN ĐỨC.jpg

tấm bia chùa Vạn Đức Dalat.jpg

Anh Trần Quang Hải kính mến!

Hôm nay là ngày phước lành đã đến với em và đại gia đình chúng ta. Em đã đến ngôi chùa Vạn Đức (thuộc thành phố Đà Lạt, cách trung tâm 12 km) và được gặp vị trụ trì vốn quen biết từ lâu. Nhưng rất vui, khi đặt vấn đề làm nhà lưu niệm nhạc sĩ Trần Văn Khê là sư trụ trì thuận duyên ngay. Thầy bảo: Tôi rất kính trọng nhạc sĩ Trần Văn Khê vì đó là một người Việt Nam đã đem âm nhạc dân tộc Việt Nam ra nước ngoài, là một con người đầy nhân cách. Nay anh và gia đình bác Trần Văn Khê có ý nguyện này thì tôi xin được ưu tiên dành hẳn một ngôi nhà lớn (trước đây là ngôi chùa cũ) rộng hơn 150 mét vuông để làm nhà lưu niệm nhạc sĩ Trần Văn Khê. Nếu gia đình cần thêm diện tích, tôi sẵn sàng cống hiến, vì tôi rất yêu kính bác Trần Văn Khê.

Khi đặt vấn đề bảo quản, chăm lo, giữ gìn nhà lưu niệm; thầy bảo: Tôi có đầy đủ người để chăm lo công việc này. Anh và gia đình bác Trần Văn Khê không phải lo lắng. Nhà lưu niệm này sẽ là nơi tham quan của Phật tử và du khách. Ở đây tôi không tổ chức bán vé thu tiền.Tôi muốn mọi người Việt Nam phải yêu kính bác Trần Văn Khê vì đó là một con người vĩ đại vì dân tộc Việt Nam.Nếu được, hàng năm nên có những chương trình giới thiệu về nhạc sĩ Trần Văn Khê (ví dụ như Tư tưởng Phật giáo trong âm nhạc Trần Văn Khê chẳng hạn…). Nhà chùa xin được sẵn sàng.

Kính thưa anh,

Như vậy nơi làm nhà lưu niệm mình không phải đầu tư xây dựng, hoặc lo lắng nữa. Vị trí ngôi chùa nằm trên cao rất đẹp. Du khách các nơi đều về đây tham quan, chiêm bái. Nhà lưu niệm nhạc sĩ Trần Văn Khê (nếu được anh và gia đình đồng thuận) sẽ nằm ngay sau ngôi chùa chính. Xung quanh là cây cảnh, bên cạnh là tịnh xá của sư trụ trì, nhiều hoa cây cảnh tre trúcxung quanh rất Việt Nam. Phía trước chùa có xây một ngôi chùa Một Cột (đúng kích thước ở chùa Một Cột Hà Nội) nằm trong một hồ sen. Con đường dẫn vào chùa được xây dựng thuận tiện. Chùa nằm ngay trên Tỉnh lộ chính nối với trung tâm thành phố Đà Lạt và sân bay Liên Khương… Thầy trụ trì mong được tiếp kiến đại diện gia đình bất cứ lúc nào.

Em cảm thấy toại nguyện và sung sướng quá không kiềm chế được, nên thưa lại với anh. Mong anh có ý kiến.

Kính chúc anh và gia dình vui khỏe

Em

TRẦN NGỌC TRÁC

dalat 18h 14.06.2017

Kính gởi các thành viên ban tang lễ,

Hôm nay tôi có một việc xin được trình bày cùng các thành viên .

Tôi có liên lac với em Trần Ngoc Trác (chủ khách sạn Dalat Hoàng Gia ở Dalat) từ vài hôm nay sau khi biết em Trác có ý định thành lập ngôi nhà lưu niệm TVK ở Dalat.

Ngày hôm nay (14.06.2017) em Trần Ngọc Trác có viết thơ báo tin cho tôi biết là có gặp nhà sư trụ trì chùa VẠN ĐỨC ở Dalat và có bàn về việc dựng ngôi nhà lưu niệm TVK . Nhà sư hoàn toàn tán đồng ý đó và sẵn sang hiến tặng ngôi chùa cũ (rộng 150m2, có thể làm rông hơn nếu cần) để làm nhà lưu niệm . (xem hình ảnh kèm theo).

Việc quản lý nhà lưu niệm trong tương lai sẽ do nhà sư trụ trì chùa Vạn Đức đảm nhận vì có nhân sự và điều kiện tài chánh .

Trước khi tôi quyết định, tôi xin tham khảo & kiến của ban tang lễ để có sự đồng nhứt trong việc đồng ý chọn nơi này làm nhà lưu niệm (lá thư của em Trác kèm theo đây cho biết ý của sư trụ trì)

Mong được đón nhận ý kiến của tất cả thành viên ban tang lễ vì đây là dịp may hiếm có để dựng ngôi nhà lưu niệm mà Ba tôi uớc mơ theo di nguyện .

Trân trọng

Trần Quang Hải

Địa chỉ email và số điện thoại của em Trần Ngọc Trác :

ngoctracdalat@gmail.com

đt : 0908111981

VÕ THỊ XUÂN MAI : CHẶNG CUỐI HÀNH TRÌNH “DU KÝ TRẦN VĂN KHÊ”

CHẶNG CUỐI HÀNH TRÌNH “DU KÝ TRẦN VĂN KHÊ”

–

5 năm, một khoảng thời gian không quá dài của một đời người, nhưng đối

với một công việc thì quả là không ngắn. Đó là thời gian được làm việc với GS.TS Trần Văn Khê để xây dựng “Phông lưu trữ các nhân” và chỉnh lý, tu bổ phục chếbộ sưu tập “Du ký”. Lưu lại trong tôi những kỷ niệm khó phai về “Người truyền lửa”, dành trọn cuộc đời cho nghiên cứu văn hóa và âm nhạc truyền thống dân tộc.

Nhiều lần được tiếp xúc, làm việc với GS. TS Trần Văn Khê – Thầy cho tôi ấn tượng sâu sắc ngay lần gặp đầu tiên (năm 2010). Qua trao đổi, trò chuyện tôi được Thầy cho xem những quyển sổ tay ghi lại những chuyến đi dự hội nghị, hội thảo quốc tế về âm nhạc học hay thuyết giảng về âm nhạc truyền thống Việt Namvà Châu Á, từ những thập niên 60, 70 của thế kỷ trước. Thầy ghi chép tỉ mỉ từng sự việc, kèm theo giấy tờ, hình ảnh liên quan đến chuyến đi, một công việc đòi hỏi tính cẩn thận và rất công phu. Nhìn những tập “Du ký”, tôi càng thêm ngưỡng mộ, kính phục một nhà nghiên cứu có phương pháp làm việc khoa học, không chỉ ở lĩnh vực văn hóa nghệ thuật mà cả lĩnh vực lưu trữ tư liệu cá nhân. Qua nguồn tư liệu này, đã phản ảnh rõ nét về cuộc đời và sự nghiệp của một nhà nghiên cứu, đem hết tài năng và tâm huyết đi nhiều nước trên thế giới để truyền bá âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Sau đó, việc xây dựng phông lưu trữ cá nhân của GS được thực hiện hơn ba năm (2010 – 2013). Và với yêu cầu của Thầy “… mong muốn lưu lại những kỷ niệm các nơi mà tôi đã đi qua, của những công việc tôi đã làm, nên mỗi chuyến đi tôi đều ghi và lưu giữ lại đầy đủ các chi tiết trong một tập và coi đó như một dấu ấn của thời gian… Tôi an tâm về sự những tư liệu quý của tôi sẽ được phổ biến rộng rãi mà vẫn còn nguyên vẹn… lưu lại cho thế hệ mai sau…”. Năm 2014, một kế hoạch được thông qua là chỉnh lý, tu bổ phục chế và tiếp tục số hóa cho bộ sưu tập “Du ký”. Công việc được triển khai với sự chỉ đạo trực tiếp của Thầy – một người có trí nhớ tuyệt vời, phong cách làm việc khoa học, giải quyết công việc nhanh chóng, rõ ràng, đầy thuyết phục… Những việc trên được thực hiện đến tháng 6 năm 2015. Đây là khoảng thời gian đáng nhớ nhất trong quảng đời làm việc của tôi, học hỏi rất nhiều điều, khi 5 năm được cộng sự cùng Thầy, từ năm 2010 – 2015.

Đến ngày 24-6- 2015, Thầy vĩnh viễn ra đi! Để lại trong lòng bao thân hữu, môn sinh và những người mộ điệu một niềm tiếc thương không từ ngữ nào tả hết, khi mất đi một cây cao bóng cả về nghiên cứu văn hóa, âm nhạc truyền thống trong nước và quốc tế. Mọi người cảm mến Thầy không chỉ ở tài năng, mà còn ở cốt cách của một người Việt Nam tuổi cao đức trọng. Thầy không chỉ để lại cho đời trí tuệ mà cả một kho tư liệu quý, rất có giá trị nghiên cứu, tham khảo. Như những lời tự sự của Thầy trong quyển Tự truyện “… của một người đã từ lâu thèm được giảng giải về văn hóa nghệ thuật của nước Việt Nam cho lớp trẻ Việt Nam, bằng tiếng nói Việt Nam và trên lãnh thổ Việt Nam…”, một đời Thầy đau đáu nổi niềm dành cho âm nhạc dân tộc.

Sau lễ cúng 49 ngày Thầy mất – 14/8/2015, nhà 32 Huỳnh Đình Hai, Bình Thạnh và di sản của Thầy được gia đình chính thức bàn giao, hiến tặng. Gồm những tư liệu phục vụ nghiên cứu, giảng dạy của Thầy mang từ Pháp về như: sác vở, báo chí, phim ảnh, băng từ, đĩa hát, máy ghi hình, máy ghi âm, máy chuyển tư liệu nghe nhìn, các nhạc khí, một tủ lớn gồm những kỷ vật… gắn liền hành trình hơn nửa thế kỷ đi gần 70 nước trên thế giới để truyền bá âm nhạc dân tộc Việt Nam. Đây là một kho tư liệu quý, rất có giá trị về lĩnh vực văn hóa, âm nhạc truyền thống trong nước và quốc tế, quý về giá trị nội dung và mang đậm tính thời gian mà Thầy đã tạo lập, xem như “sự nghiệp tinh thần”, cần phải gìn giữ để truyền lại cho thế hệ mai sau. Mong rằng một ngày không xa, kho tư liệu quý và những kỷ vật đã hiến tặng, sẽ hiện diện nơi “Nhà lưu niệm Trần Văn Khê”, như di nguyện của Thầy.

Rồi một ngày cuối tháng 8 năm 2015, chỉ sau một tuần khi gia đình bàn giao nhà 32 Huỳnh Đình Hai, bàn thờ, di ảnh… của Thầy đưa về Vĩnh Kim, Tiền Giang. Tâm trạng vui, buồn xen lẫn khi tôi cùng thân hữu, môn sinh trong đoàn xe tiễn đưa hương linh Thầy… Vui vì “lá rụng về cội”, Thầy được đoàn tụ với cha mẹ, ông bà, tổ tiên nơi nhà thờ họ “Nguyễn Tri”. Buồn vì chưa bao giờ tôi nghỉ “chặng cuối hành trình Du ký Trần Văn Khê” kết thúc ở Tiền Giang; mà không phải là Bình Thạnh, Tp.HCM – nơi Thầy đã sống 10 năm cuối đời (2005 – 2015) khi từ Pháp trở về định cư ở Việt Nam. Cảm thấy ngậm ngùi, đắng lòng khi tham gia chặng cuối hành trình của Thầy!

Sau này mỗi khi có dịp đi ngang qua đường Huỳnh Đình Hai, dừng lại trước cổng nhà số 32, bồi hồi nhớ lại những ngày tháng làm việc cùng Thầy, căn phòng vừa là nơi nghỉ ngơi vừa là nơi làm việc. Căn nhà Thầy đã sống những ngày cuối đời, là nơi dừng chân sau những năm tháng bôn ba để truyền bá âm nhạc truyền thống dân tộc. Nhớ những buổi đờn ca tài tử, sinh hoạt chuyên đề… thường xuyên diễn ra nơi này. Đây có lẻ không là tâm trạng của riêng tôi – người cảm mến tài năng, kính trọng đức độ của Thầy, vì đã cống hiến tuổi trẻ, tài năng, nhiệt huyết cả một đời cho âm nhạc dân tộc.

Tất cả những kỷ niệm về Thầy, bây giờ được xếp vào ký ức đẹp, buồn, vô giá đối với tôi – người may mắn được làm việc cùng Thầy để gìn giữ và phát huy giá trị tư liệu văn hóa mà Thầy đã tạo lập, lưu trữ trong hơn 50 năm khi sống trên đất Pháp và mang về Việt Nam gần như đầy đủ.

Thầy ơi! Hãy yên nghỉ. Chúng con mỗi người một vị trí, sẽ tiếp tục thực hiện những công việc còn dỡ dang mà Thầy đã tin tưởng

VÕ THỊ XUÂN MAI

Tháng 4 năm 2016

CV. Hành chính – Lưu trữ

 

Ảnh chụp cùng Thầy nhân dịp “ra mắt trọn bộ Combo (Hồi ký, Audio, phim TVK – Người truyền lửa)” tại Nhà sách Phương Nam – Vincom Q1. Ngày 07 tháng 8 năm 2013.

Những thân hữu, môn sinh tiễn đưa hương linh Thầy về Vĩnh Kim – Tiền Giang, ngày 21/8/2015.

chặng cuối hành trình Du ký TVK

xà lách xoong , một thứ rau có khả năng chống ung thư gấp trăm lần thuốc đặc trị

Cả thế giới đang mở tiệc ăn mừng vì mới phát hiện được một thứ rau có khả năng chống ung thư gấp trăm lần thuốc đặc trị

Theo nghiên cứu được công bố mới đây trên tạp chí The British Journal of Nurition (Anh), ăn khoảng 100g cải xoong mỗi ngày có thể ngăn ngừa ung thư vú và nhiều bệnh ung thư khác.

Cải xoong còn gọi là xà lách xoong, thủy điều thái, tây dương thái…, có tên khoa học: Nasturtium officinale hoặc Nasturtium microphyllum, là một loại thực vật thủy sinh hay bán thủy sinh có mùi hăng, cay.
Cải xoong là một loại rau ăn rất tốt dùng để nấu canh hay xào hoặc chế biến món gỏi rất ngon và tốt cho sức khỏe bởi trong rau cải xoong chứa hàm lượng vitamin C dồi dào, lại có vitamin A, B1, B2 và nhiều chất khoáng, chất xơ.
Theo Đông y, cải xoong tính hàn, vị hơi đắng và hắc có tác dụng lợi tiểu, giúp tiêu hóa tốt, giải độc…dùng chữa bí tiểu, tàn nhang, hỗ trợ điều trị ho lao, đái tháo đường, giúp phòng bệnh bướu cổ, chống lão hóa…
Ngoài ra, cải xoog còn giúp chống oxy hóa, chống độc, làm tăng sức đề kháng cho cơ thể, chống hiện tượng lão hoá bệnh lý, giữ gìn nét trẻ trung và nhất là dùng để chữa thận, mật có sỏi.
Cải xoong có tác dụng khai vị, bổ, kích thích tiêu hóa, cung cấp chất khoáng cho cơ thể, chống thiếu máu , chống bệnh hoại huyết, lọc máu, lợi tiểu, giảm đường huyết, trị ho. Nó còn làm ra mồ hôi, trị giun và giải độc nicotin.
Cả thế giới đang mở tiệc ăn mừng vì mới phát hiện được một thứ rau có khả năng chống ung thư gấp trăm lần thuốc đặc trị, mọc nhan nhản khắp Việt Nam, rẻ hơn cả 1 mớ rau muống!
Tác dụng chống ung thư của cải xoong
Một công dụng lớn của cải xoong rất ít người biết đến là khả năng chống lại bệnh ung thư.
Lợi ích chống ung thư của cải xoong có được là nhờ khả năng làm tăng mức độ chất kháng oxy hóa trong máu và bảo vệ DNA, chống lại những tổn thương do các chất độc hại gây ra.
Các bằng chứng thực nghiệm và lâm sàng cho thấy cải xoong có thể làm giảm nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới, ung thư ruột kết, ung thư cổ tử cung, ung thư vú ở phụ nữ, đồng thời ngăn chặn sự khuếch tán (di căn) các tế bào ung thư sang các cơ quan khác.
Cơ chế này có được chính nhờ glucosinolates, một hoạt chất sinh học thực vật (phytochemical) có trong cải xoong. Khi chúng ta nhai chúng trong miệng chất này sẽ bị thủy phân để sản xuất isothiocynates – hoạt chất có tác dụng chống ung thư mạnh mẽ.
Cả thế giới đang mở tiệc ăn mừng vì mới phát hiện được một thứ rau có khả năng chống ung thư gấp trăm lần thuốc đặc trị, mọc nhan nhản khắp Việt Nam, rẻ hơn cả 1 mớ rau muống!
Cải xoong cũng là nguồn dinh dưỡng đặt biệt phong phú với hoạt chất nasturtiin, tiền thân của isothiocyanate phennethyl.
Theo nghiên cứu được công bố mới đây trên tạp chí The British Journal of Nurition (Anh), ăn khoảng 100g cải xoong mỗi ngày có thể ngăn ngừa ung thư vú cũng như suy giảm nguy cơ ung thư nói chung.
Theo tiến sĩ Nicholas Perricone, cải xoong chứa nhiều vitamin, sắt, canxi, ma-giê, mangan, kẽm và kali hơn so với bông cải xanh, táo và cà chua.
Những người đàn ông và phụ nữ trong lứa tuổi 60, một nửa trong số đó thói quen hút thuốc lá, tham gia nghiên cứu này bằng cách ăn thêm khoảng 100g cải xoong mỗi ngày bên cạnh chế độ ăn uống bình thường liên tục trong tám tuần.
Kết quả cho thấy, có sự suy giảm tổn thương DNA của tế bào máu (sự thiệt hại DNA trong tế bào máu là một chỉ số cho biết có nguy cơ dễ mắc bệnh ung thư). Thêm vào đó, hàm lượng vitamin C trong lá cải xoong cao càng làm gia tăng hiệu quả chống ung thư.
Đồng thời các hoạt chất trong cải xoong cũng gây ra hiệu ứng apoptosis (giết tế bào ung thư). Tương tự như vậy, chiết xuất từ cải xoong thô cũng là “vệ sĩ” cho các tế bào ung thư tuyến tiền liệt và ruột kết nhờ ngăn chặn được sự di căn của các tế bào ác tính.
Hợp chất isothiocyanate từ cải xoong gây ức chế hoạt động của men metalloproteinase-9 (một loại enzyme có khả năng thúc đẩy sự phát triển của các khối u) nhờ đó giúp ngăn chặn sự xâm lấn của các tế bào ung thư nhất là ung thư vú.
Lưu ý: Cải xoong tuy rất tốt nhưng khi chế biến các món trộn, gỏi cần phải rửa sạch rau nhiều lần với nước sạch, muối, thuốc tím để diệt vi khuẩn, ký sinh trùng bám vào rau.

WIKIPEDIA : Hò sông Mã

Hò sông Mã

ho song ma

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Hò sông Mã là một thể loại dân ca ở vùng Thanh Hóa.

Mục lục

Mô tả chung

Lời ca của hò sông Mã mang thể thơ lục bát.

Vắng cơm một bữa chẳng saoVắng em một bữa lao đao cả ngày

Vắng em chỉ một phiên đò

Trầu ǎn chẳng có chuyện đò thì không

Các làn điệu Hò sông Mã được hát theo lối xướng – xô, câu kể của một người bắt cái (thường là người cầm lái) được luân phiên với câu đồng thanh phụ họa của các trai đò.

Các điệu hò được thể hiện theo suốt chặng đường đò đi. Khi con thuyền bơi ngược dòng nước, người ta thể hiện điệu Hò đò ngược, sau mỗi câu kể của người bắt cái như hiệu lệnh để cùng thống nhất động tác lấy đà, các trai đò vừa hùa nhau hát câu xô vừa chống sào đẩy thuyền tiến về phía trước. Chưa hết, con thuyền đôi khi còn phải đối đầu với thác gềnh nữa, cả câu xướng lẫn xô trong Hò vượt thác đều ngắn gọn, chắc nịch. Khi thuyền thong dong trôi theo dòng nước êm ả, người giữ tay lái cất giọng hò các làn điệu Hò xuôi dòng, bốn trai đò chia ra hai bên mạn thuyền thong thả chèo vừa hòa giọng xô vừa nhịp nhàng giậm chân lên mặt ván.

Hò khuya

Trong đêm khuya thanh vắng, tiếng hò vǎng vẳng nghe nao lòng. Khoảng nửa đêm đến sáng trong cảnh tĩnh lặng mênh mông, họ đưa khách vào giấc nồng bằng các điệu Hò ru ngủ. Trai đò còn « phục vụ » khách đò bằng Hò làn ai dựa trên các tích chuyện éo le, cảnh đời sầu bi, tình yêu dang dở. Lúc thuận buồm xuôi gió thảnh thơi ngơi chèo cũng là lúc trai đò tha hồ tâm tình ngẫu hứng. Cùng chia sẻ buồn vui với các chàng trai đò, cùng đối đáp với họ trong những khúc giao duyên tình tứ còn có các nàng khách buôn trên thuyền và đôi khi cả các cô gái ở dọc bên bờ sông nữa. Có khi chẳng biết mặt biết người trên bờ, nhưng mê tiếng hát, phục tài đối đáp đến nỗi thuyền phải cắm lại để hò với nhau vài ba câu.

Các làn điệu

Rất đa dạng về mặt thang âm điệu thức. Dường như hệ thống ngũ cung lâu đời của dân tộc Việt được vận dụng cả vào đây. Có thể thấy từ thang 3 âm, 4 âm đến 5 âm, thậm chí 6 âm nhờ sự kết hợp hai thang âm khác nhau, và gặp đủ mặt 4 thang âm ngũ cung đặc trưng của Việt Nam: Bắc, Nam, Xuân và Oán.

Các làn điệu[1]:

  • Hò Rời bến
  • Hò Đò ngược hay Sắng đò ngược
  • Hò Đò xuôi:
  • Hò Nhịp đôi một
  • Hò Nhịp đôi hai
  • Hò Gióng dã
  • Hò Làn ai
  • Hò Làn văn
  • Hò Ru ngủ
  • Hò Niệm Phật
  • Hò Cầu Chúa
  • Hò lèo 2
  • Hò lèo 3
  • Hò Mắc cạn:
  • Hò Vác
  • Hò Cạn
  • Hò Cặp bến

Các bản nhạc mới dựa trên điệu hò sông Mã

Chú thích

  1. ^ “Danh mục âm nhạc cổ truyền khu vực miền trung – Tây Nguyên”. Viện Nghiên cứu Âm nhạc (Học viện Âm nhạc Huế). Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2010.

Tham khảo

Liên kết ngoài

THU TRANG : Nghệ thuật Bài Chòi Bình Định

Nghệ thuật Bài Chòi Bình Định

 

Nghệ thuật Bài Chòi là thú vui tao nhã của người dân miền Trung Việt Nam nhân dịp đầu xuân. Đây vừa là loại hình nghệ thuật diễn xướng mang tính sáng tạo ngẫu hứng, vừa là trò chơi dân gian vui nhộn, đầy trí tuệ, ra đời từ nhu cầu liên lạc với nhau giữa các chòi canh trên nương rẫy, ở vùng trung du, rồi lan rộng đến các vùng nông thôn và ra cả miền biển.

Bài Chòi là hình thức chơi bài nhưng không mang tính sát phạt, ăn thua như ở sòng bài, mà chỉ để giải trí bằng hình thức đối đáp vui xuân. Người ta đến chơi Bài Chòi cốt để nghe hô Bài Chòi, thưởng thức giọng hô, hát, tài ứng đối và lối diễn trò của “Hiệu” (người hô, hát chính).

Ở Bình Định, từ xưa tới nay, thịnh hành ba hình thức Bài Chòi, gồm: Bài Chòi “truyện” có phông màn, có rạp che chắn; Bài Chòi “lớp”/”chiếu” thể hiện ngay trên chiếu, đi khắp các làng mạc miền quê và hội chơi Bài Chòi thường được trình diễn mỗi dịp xuân về.

Hội chơi Bài Chòi thường diễn ra ở sân đình làng hoặc những khoảng đất rộng, bằng phẳng, gần các khu dân cư, gần chợ, thuận lợi cho mọi người đi dự hội. Để chơi Bài Chòi, người ta dựng 9 hoặc 11 chòi bằng tre, nứa, lợp tranh như những chòi canh giữ rẫy, xếp theo hình chữ U. Chòi ở đáy chữ U gọi là chòi Cái. Người dẫn dắt cuộc chơi là các anh/chị Hiệu, ngồi ở chòi Cái. Họ rút con bài trong ống bài, giơ lên rồi hát những câu hát đố tên con bài ấy, gọi là Hô Thai. Người chơi mua 3 con bài, ngồi trên các chòi để đợi. Nếu cả 3 con bài trùng với những con bài mà anh/chị Hiệu xuớng tên thì thắng cuộc, được lĩnh thưởng, kết thúc một lượt chơi và sau đó, lượt chơi mới lại bắt đầu.

Hội Bài Chòi Bình Định. Ảnh: Hồ sơ, tư liệu Cục Di sản văn hóa

Hội Bài Chòi Bình Định. Ảnh: Hồ sơ, tư liệu Cục Di sản văn hóa

Nhạc cụ đệm trong Bài Chòi thường gồm: đàn nhị, song loan, kèn bóp và trống chiến. “Hiệu” khi hô, hát phải theo nhịp trống, nhịp sanh, có tiếng đàn tiếng kèn đệm theo, làm cho điệu hò thêm réo rắt, hấp dẫn. Đây là người rành các điệu hát nam, hát khách, hát lý… thuộc nhiều thơ, ca dao, biết pha trò, đồng thời, ứng đối nhanh nhẹn. “Hiệu” vừa hô tên con bài được rút từ trong ống thẻ giữa sân hội, vừa biểu diễn những động tác, giọng điệu để góp vui, tăng phần hấp dẫn cho người chơi và người xem hội. Bên cạnh những câu hô đơn giản lấy trong ca dao tục ngữ, hò vè, người chơi còn thi nhau sáng tác các câu hát cho hội chơi Bài Chòi thêm phần phong phú và phù hợp với nhu cầu thưởng thức của người dân. Tích truyện Bài Chòi là những bài học về đạo đức, lòng nhân ái, tình yêu quê hương, đất nước và đoàn kết dân tộc. Nội dung bi hài của Bài Chòi phản ánh nhân tình thế thái và phê phán thói hư tật xấu, khiến người xem phải suy ngẫm hoặc vui cười sảng khoái.

Sinh hoạt Bài Chòi là môi trường thực hành và sáng tạo nghệ thuật, đồng thời giúp bảo tồn vốn văn nghệ dân gian, phong cách trình diễn và các giá trị văn hóa vùng miền. Các thành tố văn hóa nghệ thuật: thơ ca, âm nhạc, hội họa, ngôn ngữ, tập tục… trong Bài Chòi Bình Định được chuyển tải một cách giản dị, tự nhiên, tạo sức hấp dẫn với công chúng, trở thành sinh hoạt tinh thần thiết yếu và phổ biến khắp các huyện, thị của Bình Định. Rất nhiều tục ngữ, ca dao, bài vè… liên tục được biến tấu một cách linh hoạt, diễn tả sinh động mọi cảnh đời, từ tình yêu đôi lứa đến những khúc mắc nhân tình thế thái, tạo nên sự hấp dẫn và riêng biệt của Bài Chòi và cũng góp phần lưu giữ, phổ biến một phần của kho tàng văn học Việt Nam.

Bài Chòi hiện vẫn được duy trì và thực hành thường xuyên không chỉ ở Bình Định mà ở hầu khắp các tỉnh Nam Trung bộ. Tỉnh Bình Định hiện vẫn còn một số câu lạc bộ Bài Chòi cổ thường xuyên trình diễn do những nghệ nhân tâm huyết, yêu nghề tập hợp và truyền dạy cho thế hệ kế tiếp, hoạt động dưới sự bảo trợ của Trung tâm văn hóa tỉnh Bình Định. Các liên hoan, hội diễn Bài Chòi của tỉnh (Bình Định – từ 2010 đến nay), khu vực (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa – 2013, 2014) và liên tỉnh (2011, 2014 và 2015) được tổ chức với sự hỗ trợ của chính quyền, tổ chức xã hội và được cộng đồng nhiệt tình hưởng ứng.

Với những giá trị đặc sắc, Nghệ thuật Bài Chòi Bình Định đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thêó thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2684/QĐ-BVHTTDL ngày 25/8/2014./.

Thu Trang (Theo hồ sơ Di sản văn hóa)