Catégorie : Non classé

One String Kse Diev, Cambodian monochord

One String

Published on Nov 28, 2014

It is not made in foreign country and by foreigner. It has over-one-thousand-year history. It was originally born in Cambodia, made by Cambodian and played by Cambodian. However, many Cambodian don’t know the musical instrument –Kse Diev. “Only 7 to 8 people in Cambodia can play Kse Diev,” says Master Sok Duch, the only surviving master of Kse Diev in Cambodia after Pol Pot regime. Through generations, without the support from younger generation, the situation of Kse Diev is getting worse and worse – from being a famous instrument to express the heart and feeling to a wooden piece which is not known by many Cambodian youths. The one-string instrument is now taught how to play at two main places: Wat Bo in Siem Reap province and Cambodia Living Arts in Phnom Penh taught by Master Sok Duch. Among a group of Cambodian youths who are studying at CLA, only two are potential, and the two students normally go to learn it at Master Sok Duch’s home in Takeo province at the weekend. Pol Pot regime and the popularity of foreign musical instruments and culture almost make the great Cambodian Kse Diev unknown to the mass public. The documentary aims to promote Kse Diev to all Cambodian especially youths due to the fact that there’s only one master alive and the master is 88 years old now. Likewise, the documentary will include the vision of the Kse Diev master, Kse Diev students, general Cambodian especially youths, NGOs in preserving Kse Diev and improving its popularity so that this great-but-rare instrument can be known by next generations of Cambodian. Production Team: Dara Saoyuthnea, Yang Chandara, Rin Sokreth.

 

Tiểu Sử Trần Văn Trạch

Tiểu Sử Nghệ Sĩ » Tiểu Sử Trần Văn Trạch

http://music.quehuong.org/bionghesi.php?ID=45

Quái Kiệt Trần Văn Trạch Tân Cổ
» Hội Ca Cầm
» Phiên Gác Đêm Xuân
» Xuân Đất Khách
» Mấy Dặm Sơn Khê
» Xe Lửa Mùng 5
» Sầm Giang Tái Ngộ 03
» Mùa Thu Chết
» Chủ Nhật Buồn
» Chiều Mưa Biên Giới

“Quái kiệt” Trần Văn Trạch
Trần Văn Trạch (1924-1994) thuộc gia đình bốn đời nhạc sĩ, hai bên nội ngoại đều có người trong giới nhạc truyền thống dân tộc.
Trần Văn Trạch sanh năm Giáp Tý, 1924, tại làng Vĩnh Kim tỉnh Mỹ Tho nay là tỉnh Tiền Giang. Lúc nhỏ tên là Trần Quang Trạch, nhưng thủ bộ làng Vĩnh Kim viết là Trần Quan Trạch (không có G). Và tới nay người ta không biết cơ duyên nào đưa đẩy cái tên Trần Văn Trạch đến với ông, thay vì Trần Quan Trạch?
Gia đình có ba anh em.Trần Văn Khê là anh Hai, Trạch thứ Ba, cô em gái Út là Trần Ngọc Sương là ca sĩ có tiếng vào thập niên 50, trước sống ở Canada.
Trần Văn Trạch thuở nhỏ có khiếu nhạc, chơi đờn kìm và tỳ bà theo ngón của cha, ca vọng cổ cũng mùi. Lớn lên trong cái nôi cải lương miền Nam là Mỹ Tho, nơi có gánh hát cải lương đầu tiên vào năm 1917 của thầy Năm Tú hát tại Chợ Cũ Mỹ Tho. Thế nhưng Trần Văn Trạch lại ham học đàn mandoline với Trần Văn Khê và học đờn violon với Nguyễn Mỹ Ca, người anh cô cậu. Trạch đã biết chơi thành thạo những bài nhạc Tây thịnh hành thuở đó như là Marinela…
Ðang học tại College de MyTho, đến năm 1942 Trạch bỏ ngang đi ra mở lò gốm làm chén! Và bởi bản tánh nghệ sĩ nên bị thất bại nên phải “dẹp tiệm”, bỏ xứ lên Sài Gòn lập nghiệp mới!
Trần Văn Trạch lên Sai Gòn vào năm 1945, lúc đầu vào hát cho các phòng trà phục vụ quân đội Pháp với vai trò hoạt náo, ca múa (dacing) những bản nhạc Tây. Trong thời gian nầy anh sống với người vợ đầm và có một đứa con và vì thế anh mấy lần bị Việt Minh bắt với tội danh “Việt gian”!
Nhờ Trần Văn Khê vận động, Trạch được tha nên anh gia nhập vào “Ban nhạc quân đội” Việt Minh cùng Trần Văn Khê đi lưu diễn khắp miền Tây và có lần họ gặp nhạc sĩ Lê Thương ở Bến Tre, Mỹ Tho.
Sau đó độ khoảng năm 46-47 Trạch rời “kháng chiến” về Sài Gòn, cùng em gái là Trần Ngọc Sương mở quán nước giải khát tại khu Bàn Bờ bán cho lính Pháp. Tracco, tên Tây của Trạch do các bạn bè đặt cho anh là vào lúc nầy, bởi thỉnh thoảng anh hát những bài nhạc Tây nhằm câu khách.
Nhạc sĩ Lê Thương lúc năm 1945 về Bến Tre, có thời gian bị Pháp bắt ở Mỹ Tho, sau được thả, về Sài Gòn trong phong trào hồi cư bấy giờ. Không rõ cơ duyên nào đưa đẩy khiến Lê Thương phát hiện cái khả năng hài tiềm ẩn trong con người nghệ sĩ phiêu bồng lãng tử Trần Văn Trạch?
Nhạc sĩ Lê Thương bèn viết bài ca thử nghiệm đầu tiên cho Trạch. Ðó là bài “Hòa Bình 48” hát nhái tiếng súng, đại bác, máy bay liệng bom; rồi bài ca “Liên Hiệp Quốc” hát bằng tiếng Pháp-Anh-Nga-Tàu; bài “Làng Báo Sài Gòn” phê bình các nhà báo nói láo ăn tiền, chạy theo Tây!
Nhờ những bài hát mang chất châm biếm hài của nhạc sĩ Lê Thương mà Trần Văn Trạch chuyển hướng. Anh tự sáng tác những bài hát hài để tự diễn. Bài hát anh sáng tác đầu tay năm 1951 là bài “Anh Xích Lô” mang chất hài vui, nhịp điệu nhanh và lôi cuốn.
Với giọng ca trầm hơi thổ, mang nét mộc mạc miền Nam như Út Trà Ôn, cộng thêm phong thái biểu diễn mới lạ, vui nhộn, độc đáo… nên Trần Văn Trạch làm khán giả say mê cuồng nhiệt.
Anh được khán giả, báo chí phong tặng danh hiệu “Quái Kiệt”. Và tên tuổi quái kiệt Trần Văn Trạch xuất hiện như là một hiện tượng lạ trong nền nghệ thuật Việt Nam suốt gần nửa thế kỷ qua.
Trần Văn Trạch viết và biểu diễn thành công tiếp những bài mà nhắc lại thế hệ tuổi 60, 70 ai cũng biết, đã từng nghe và mê mệt. Ðó là: Chuyến xe lửa mùng 5 (1952), Cái tê lê phôn, Anh chàng thất nghiệp, Cây viết máy, Cái đồng hồ tay, Ðừng có lo…
Trần Văn Trạch còn là người tiên phong khai sanh ra loại hình Ca Vũ Nhạc Kịch-Xiệc-Ảo Thuật tổng hợp trên sân khấu mà chính anh là bầu sô. Cái tên “Ðại Nhạc Hội” của anh đặt ra trở thành loại hình sân khấu mới, hấp dẫn, vui tươi không thể thiếu trong dịp Tết cho tới nay ở trong và ngoài nướcSource: maxreading

Tên Bài Báo về Quái Kiệt Trần Văn Trạch Ngày Đăng
 Viếng Mộ  29 Tháng 10, 2015
 Trần Văn Trạch -Quái Kiệt Một Thời…  24 Tháng 05, 2004

GS TRẦN VĂN KHÊ bàn về Hô Lô tô trong những ngày Tết

GS TRẦN VĂN KHÊ bàn về Hô Lô tô trong những ngày Tết

Published on Sep 9, 2009

Ngoài nghệ thuật hô Bài Chòi ở miền Trung, GS Trần Văn Khê cũng nhắc sơ qua về kiểu chơi hô Lô tô trong miền Nam với phong cách riêng của nó, tạo không khí vui nhộn trong những ngày Tết Việt Nam và có thêm sự so sánh với loại hình nghệ thuật Bài Chòi. Tuy chỉ là trò chơi đơn thuần giải trí nhưng hô Lô tô cũng giúp cho người ta biết suy nghĩ ra những câu hô số hấp dẫn để góp vui thêm cho không khí mùa Xuân, tạo sự hồi hộp chờ đợi muốn biết ai sẽ là người thắng cuộc may mắn nhất… – Chuyên đề Hoa Quê Hương 33 do CLB. Tiếng Hát Quê Hương thực hiện – – Video by Khánh Vân –

 

Recitation of mantra NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT, Vietnamese Buddhism

Recitation of mantra NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT, Vietnamese Buddhism

Published on May 1, 2010

Trần Quang Hải, Vietnamese ethnomusicologist and specialist of overtone singing, has proposed a new type of recitation of mantra NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT from Vietnamese Buddhism. The use of overtones is an experiment suggested by Trần Quang Hải on May 1st 2010 (date of creation) Filmed by Bạch Yến, in Limeil Brevannes, France, May 1st, 2010

Үлэмжийн чанар нэрт ятгач Ч.Мөнх-Эрдэнэ Ulemjiin chanar yatga Monkherdene

Үлэмжийн чанар нэрт ятгач Ч.Мөнх-Эрдэнэ Ulemjiin chanar yatga Monkherdene

Ajoutée le 22 mars 2016

TẠ THÂM : Cấu tạo của Đàn Tranh

Cấu tạo của Đàn Tranh

Đàn Tranh được hình thành trong ban nhạc từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 14. Thời Lý – Trần, Đàn Tranh chỉ có độ 15 dây nên bấy giờ gọi là « Thập ngũ huyền cầm”, qua thời gian, đàn tranh được phát triển thành 16, 17 hay 19 dây.
Đàn Tranh tạo giai điệu trong trẻo, sáng sủa và ngân vang. Đàn Tranh thường được sử dụng để độc tấu, hòa tấu, đệm cho ngâm thơ, hát, tham gia trong các dàn nhạc Tài Tử, phường Bát Âm, dàn Nhã Nhạc và các dàn nhạc dân tộc tổng hợp. Ngày nay, rất nhiều bạn muốn học loại đàn dân tộc này. Với bài viết này, TẠ THÂM giới thiệu với các bạn cấu tạo và chức năng của các bộ phận Đàn Tranh nhé!

 

cau-tao-dan-tranh

 

Hộp đàn: Hình hộp dài, chiều dài khoảng 110cm, đầu đàn hẹp khoảng 13cm, cuối đàn rộng khoảng 20cm.
Mặt đàn: Mặt đàn Tranh vồng lên tượng trưng cho vòm trời làm bằng gỗ xốp, nhẹ . Loại gỗ TẠ THÂM thường làm mặt Đàn Tranh là gỗ Ngô Đồng.
Thành đàn: Làm bằng gỗ trắc, mun hoặc cẩm lai hoặc gỗ gụ
Ðáy đàn: Dưới đáy đàn ở đầu rộng, phía tay phải người đánh đàn có một lỗ thoát âm hình bán nguyệt để lắp dây, ở giữa đàn có 1 lỗ hình chữ nhật để cầm đàn khi di chuyển và ở đầu hẹp có một lỗ tròn nhỏ để treo đàn.
Cầu đàn: Ở đầu rộng, một cầu đàn bằng gỗ, hơi nhô lên và uốn cong theo mặt đàn có các lỗ nhỏ xếp hàng ngang có nạm hoặc cẩn kim loại để xỏ dây.
Ngựa đàn: Trên mặt đàn có nhạn (ngựa đàn) tương ứng với số dây, các con nhạn để đỡ dây đàn và có thể di chuyển được để điều chỉnh độ cao thấp của dây. Để có độ bền và âm thanh tốt, các con nhạn  thường làm bằng gỗ trắc hoặc cẩm lai. Đầu các con nhạn ở vị trí đỡ các dây đàn thường được gắn thêm xương hoặc đồng.
Trục đàn: Ở đầu hẹp đàn Tranh có các trục đàn để lên dây, trục đàn đặt trên mặt đàn còn để giữ một đầu dây xếp hàng chéo do độ ngắn dài của dây, tạo âm thanh cao thấp, trục đàn tốt thường được làm bằng gỗ Trắc, gôc Cẩm Lai hoặc gỗ gụ.
Dây đàn: Dây đàn bằng thép hoặc inox với các cỡ dây khác nhau để phù hợp với tầm âm của cây đàn.
Móng gảy: Ðàn Tranh đàn bằng móng gảy thường được làm bằng đồi mồi, Inox.
Chúc các bạn học đàn Tranh thành công và luôn yêu quý gìn giữ cây đàn truyền thống quý giá này nhé!

http://tatham.vn/cau-tao-cua-dan-tranh-a29.html

TA THAM : Đàn Tranh trong đời sống âm nhạc Việt Nam

Đàn Tranh trong đời sống âm nhạc Việt Nam

Đàn Tranh là một nhạc cụ cổ truyền Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, cây đàn tranh vẫn tồn tại và có nhiều phát triển vượt bậc đến ngày nay. Với tư cách là một trong những nhạc cụ sớm góp phần làm nên bộ mặt văn hóa, nghệ thuật riêng và độc đáo của Việt Nam, cây Đàn Tranh đã có sự gắn bó khăng khít, mật thiết với đời sống tâm hồn của nhân dân ta trải qua nhiều thế kỷ.

 

dan-tranh
Với tư thế về kiểu dáng, gọn nhẹ, cơ động…, đặc biệt màu âm giàu sức biểu cảm và khă năng diễn tấu phong phú, từ vị trí là cây đàn “quý tộc” chốn cung đình xa xưa, dần dần đàn tranh ngày càng trở nên gần gũi với đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động bình dân bên cạnh nhị, đàn nguyệt, sáo, đàn bầu…và được phổ biến ngày càng rộng rãi, đặc biệt từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay.
Sự ra đời của âm nhạc Tài tử – Cải lương đầu thế kỷ XX, với khối lượng bài bản phong phú và phong cách diễn tấu đặc trưng, đã là mảnh đất tốt cho sự phát triển và phổ biến ngày càng rộng rãi của đàn tranh. Năm 1956, trường Âm nhạc Việt Nam ra đời (nay là Học Viện Âm Nhạc Quốc Gia), đàn tranh cùng với các nhạc cụ dân tộc cổ truyền khác được đưa vào giảng dạy và trở thành bộ môn độc lập thuộc khoa Nhạc cụ truyền thống từ năm 1969, đã tiếp tục chắp cánh cho sức phát triển, có tầm vươn lên cả về nhu cầu học tập, sử dụng, thưởng thức cũng như sự hoàn thiện ngày càng cao trong hình thức cấu tạo nhằm phát huy, mở rộng khả năng diễn tấu với số lượng, chất lượng và nội dung bài bản ngày càng mang tính chuyên nghiệp.

 

bieu-dien-dan-tranh
Nói về lịch sử đàn tranh, các nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay, hầu hết đều có chung nhận định: đàn tranh Việt Nam có nguồn gốc từ đàn Gu Zheng (cổ tranh) cổ Trung Hoa và được du nhập vào nước ta khoảng thế kỷ XIII, đời nhà Trần.
Là nhạc cụ gẩy 16 dây, ở miền Bắc thường gọi là Đàn Thập Lục. Ngày nay, trải qua quá trình cải tiến, phát triển, Đàn Tranh còn có các loại 17 dây, 19 dây, 21 dây. Đàn Tranh có phong cách diễn tấu thoải mái, mềm mại, sự sáng sủa, trong trẻo của âm sắc mang vẻ mảnh mai, thảnh thơi, nhiều chất trữ tình.
Đàn tranh Việt Nam có họ hàng xa gần với các cây đàn cùng chủng loại ở châu Á và khu vực. Ngoài Gu Zheng của Trung Hoa nói trên, còn có Kôtô (Nhật Bản), Kayagum (Triều Tiên), Jatắc (Mông Cổ),… điều đó chứng minh quá trình giao lưu, ảnh hưởng qua lại của một không gian, văn hóa nhất định.

http://tatham.vn/dan-tranh-trong-doi-song-am-nhac-viet-nam-a34.html