Catégorie : Non classé

Trích một đoạn trong bài viết của * GS. Nguyễn Kỳ Hưng vê hát cải lương

Trích một đoạn trong bài viết của * GS. Nguyễn Kỳ Hưng

????????????????????

Hát cải lương xuất hiện tại miền Nam Việt Nam năm 1920. Thoạt đầu lối hát này nhắm vào việc cải tiến các lối hát tuồng có ảnh hưởng nặng nề của Trung Hoa chẳng hạn như hát bội, sang một hình thức đơn giản và dễ hiểu hơn. Được dựa trên kết cấu của sân khấu Tây phương, hát cải lương đã biến hóa từ những điệu bộ đầy tính biểu trưng, cũng như từ một ngôn ngữ nặng về điển tích, thành ngữ của hát tuồng Trung Hoa sang dạng kịch ngắn.Trong lối hát mới này, tâm lý và cảm xúc của các nhân vật được chú trọng đến nhiều so với lối hát tuồng trước đây. Ngày nay, hát cải lương đã hoàn toàn độc lập từ hát tuồng Trung Hoa trong việc sáng tác các chủ đề. Lối hát chính của cải lương là vọng cổ. Sau này, đoàn cải lương Kim Chung cho phối hợp tân nhạc, vũ, và thơ cho lối hát cải lương (Phạm Duy 1975, tr.148). Các nhạc khí chính cho vọng cổ gồm có các loại nhạc khí cổ truyền như đàn nhị, đàn sến, đàn kìm, sáo trúc, tiêu, trống, và cồng. Các nhạc khí Tây phương được sử dụng có thể kể ra như guitar, violin và saxophone. Về nguồn gốc, Addiss (1971) cho biết với đặc tính âm giai (scale) không chuẩn xác và sự tụt giảm đột ngột của giọng điệu, dân ca Chàm đã ảnh hưởng rất nhiều vào lối hát vọng cổ của người nước ta (tr.36). Sự khám phá của Addiss có thể giải thích được vì sao người xưa lại chọn tên vọng cổ (nghĩa ‘hướng về điều xưa’) cho lối hát này. Hát vọng cổ khởi xuất từ miền Nam và không vay mượn bất kỳ loại hát xưa nào của người nước ta. Nếu có ‘hướng về điều xưa’ thì phải chăng ‘điều xưa’ ở đây là điệu hát ngày xưa của dân tộc Chiêm Thành?

Trần Quang Hải : Âm nhạc Việt Nam từ những ngày đầu đến nay

Âm nhạc Việt Nam từ những ngày đầu đến nay

Sinh trưởng trong một gia đình với 5 thế hệ đi theo dòng nhạc truyền thống dân tộc, nhà âm nhạc – dân tộc học Trần Quang Hải không chỉ đến với dòng nhạc mang âm hưởng truyền thống bằng tính kế thừa và phát huy từ đại gia đình mà còn bằng cả niềm đam mê, bầu nhiệt huyết và tài năng.

Thông qua buổi trò chuyện cởi mở, TQH đã giới thiệu đến chúng ta chiều dài lịch sử nền âm nhạc Việt Nam từ thuở đầu cho đến tận ngày nay. Từ đó, TQH đã mang đến cho chúng ta một cái nhìn tổng thể về âm nhạc truyền thống dân tộc, được thể hiện qua các loại nhạc cụ, các loại hình – thể loại khác nhau, nét đặc trưng về âm sắc – thanh điệu của mỗi vùng miền… Kèm theo đó, xen lẫn với những lí giải sâu sắc, ông còn đưa ra các ví dụ minh họa cụ thể bằng cách thể hiện một vài khúc ca, điệu nhạc truyền thống.

Mặt khác, nhà âm nhạc học cũng thể hiện những nỗ lực cũng như là sự băn khoăn trong việc bảo tồn nền âm nhạc truyền thống nước nhà, mà trong đó cả những thể loại được UNESCO công nhận là “Di sản văn hóa phi vật thể” như Nhã nhạc cung đình.

>> Để biết thêm thông tin chi tiết, xin vui lòng truy cập vào http://tranquanghai.com/

——-

TRAN Quang Hai, est né à Linh Dong Xa (Vietnam), il est issu d’une famille de musiciens traditionnels depuis cinq générations. En 1968, il entre comme ethnomusicologue au CNRS (Centre National de la Recherche Scientifique) jusqu’en 2009, où il prend sa retraite. Son domaine de recherche est la musique vietnamienne, la musique asiatique, et le chant diphonique sibérien.

Il est membre de nombreuses sociétés scientifiques dans le domaine de l’ethnomusicologie : Société d’Ethnomusicologie aux Etats-Unis depuis 1969, Conseil international de Musique Traditionnelle – ICTM depuis 1971 et membre du bureau exécutif depuis 2005, Société Française d’Ethnomusicologie comme membre fondateur depuis 1985, Société international de Guimbardes comme membre fondateur depuis 2000, …

Il a publié beaucoup de CD sur la musique traditionnelle du Vietnam (Grand Prix du Disque Charles Cros en 1983), de DVD sur le chant diphonique (2004, 2005, et 2006) et sur la musique du Vietnam (2000, 2009), un film sur sa vie (2005), et quelques centaines d’articles sur les musiques du monde et le chant diphonique.

Il a reçu la médaille de Cristal du CNRS (1995), la médaille du Chevalier de la Légion d’Honneur (2002), et la médaille d’honneur du Travail, catégorie Grand Or (2009).

  • Date de réalisation : 10 Octobre 2013
    Lieu de réalisation : Fondation Maison des Sciences de l’Homme – ESCoM-AAR – Réseau Asie – 190 avenue de France, 75013 Paris, France
    Durée du programme : 39 min
    Classification Dewey : Sociologie et anthropologie , Groupes raciaux, ethniques, nationaux, Culture et normes de comportement – Anthropologie sociale et culturelle, Histoire du monde. Civilisation, Sociologie de la danse, de la musique, du théâtre (sociologie des arts du spectacle), Méthodes, recherche, statistiques relatives à la musique, Musicologie, Analyse et histoire de la musique en relation avec les groupes ethniques, nationaux, raciaux particuliers, Ethnomusicologie
  • Catégorie : Entretiens
    Niveau : niveau Doctorat (LMD), Recherche
    Disciplines : Anthropologie et Ethnologie, Histoire, Sociologie, Musique
    Collections : TRAN Quang Hai
    ficheLom : Voir la fiche LOM
  • Auteur(s) : TRAN Quang Hai
    producteur : FMSH-ESCoM
    Réalisateur(s) : de PABLO Elisabeth, DO Thi Thanh Tam, LE Thi Thuong, NGUYEN Cong Khanh
  • Langue : VIETNAMIEN
    Mots-clés : ethnologie, sociologie de la musique, Histoire des peuples, anthropologie culturelle, ethnomusicologie, Histoire de la musicologie, Sociologie de la vie quotidienne
    Conditions d’utilisation / Copyright : Tous droits réservés.

commentaires


Ajouter un commentaireLire les commentaires

Aucun commentaire sur cette vidéo pour le moment (les commentaires font l’objet d’une modération)

Dans la même collection

HÀ TÙNG LONG : Trình UNESCO vinh danh hát Then là di sản văn hoá nhân loại

 

Thứ hai, 27/03/2017 – 00:32

Trình UNESCO vinh danh hát Then là di sản văn hoá nhân loại

Dân trí Văn phòng Chính phủ mới có văn bản về việc gửi Hồ sơ quốc gia “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” trình UNESCO xét ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Theo đó, Bộ VHTT&DL sẽ gửi hồ sơ “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” tới UNESCO trước ngày 31/3, để được dự xét trong năm 2018.

Từ bao đời nay, Then đã trở thành sinh hoạt văn hóa tâm linh của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở vùng núi phía Bắc Việt Nam. Theo các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian, loại hình nghệ thuật hát Then chỉ có ở 5 tỉnh là Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang.

Từ bao đời nay, Then đã trở thành sinh hoạt văn hóa tâm linh của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở vùng núi phía Bắc Việt Nam. Ảnh: TL.
Từ bao đời nay, Then đã trở thành sinh hoạt văn hóa tâm linh của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở vùng núi phía Bắc Việt Nam. Ảnh: TL.

Then là một loại hình nghệ thuật tổng hợp chứa nhiều thành tố ngữ văn, âm nhạc, mỹ thuật, múa, diễn xướng dân gian và có giá trị về lịch sử, văn hóa, xã hội. Đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái thường sử dụng hát Then vào những dịp trọng đại như hội làng, cầu đảo của từng gia đình, dòng họ vào dịp năm mới…

Theo các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian, hát Then xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI vào thời nhà Mạc chạy lên Cao Bằng và xây dựng thành quách ở đó.

Theo truyền thuyết, trong số quan lại của nhà Mạc có hai vị tên là Đế Phụng và Đế Đáng rất yêu âm nhạc và thích ca hát, họ đã chế tạo ra tính tẩu và lập ra hai tốp hát để phục vụ cung đình. Về sau dân chúng thấy hay nên bắt chước và được lưu truyền trong dân gian. Theo thời gian, hát Then – đàn tính được lan rộng ra các tỉnh miền núi phía Bắc và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái.

PGS.TS Nguyễn Bình Định – Viện trưởng Viện Âm nhạc, đơn vị đảm nhiệm lập hồ sơ di sản cho biết, trong việc xây dựng hồ sơ, UNESCO yêu cầu phía tham gia phải là người dân, cộng đồng. Vì thế, trong hồ sơ di sản Then có nhiều tỉnh tham gia thì điều cần thiết là tính liên kết cộng đồng. Nhưng từ trước đến nay, chưa có loại hình nghệ thuật nào của bà con các dân tộc vùng núi phía Bắc được công nhận danh hiệu di sản của UNESCO nên quá trình xây dựng gặp rất nhiều khó khăn.

Theo PGS Nguyễn Bình Định, với kinh nghiệm trước đây từng làm hồ sơ cho Ca trù, Đờn ca tài tử, Hát bài chòi… thì việc xây dựng hồ sơ cho Then có những thuận lợi là các thầy Then ở địa phương vẫn còn nhiều, các nghi lễ tín ngưỡng vẫn còn được thực hiện và một phần không kém quan trọng là hiện vật, sách Then bằng tiếng Tày – Hán vẫn còn được gìn giữ nhiều trong những gia đình có truyền thống làm thầy Then. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, nghi lễ Then không được thực hiện vì lý do mê tín đã rơi vào tình trạng trầm lắng, phải phục dựng lại.

Do vậy việc làm hồ sơ cho Then cũng gặp phải không ít khó khăn. Then tồn tại và phát triển ở địa bàn các tỉnh vùng núi phía Bắc, cho nên việc đi lại của các chuyên gia cũng không dễ dàng.

Trong hành trình hoàn thiện Hồ sơ cho “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” việc dịch lời các bài Then cũng là một trở ngại lớn. Đơn cử như người biết tiếng Tày cũng chưa chắc dịch được các bài hát hát Then. Bởi nhiều bài là tiếng cổ, cộng với phải hiểu biết, có kiến thức về tín ngưỡng, tâm linh, dân tộc thì mới dịch được.

“Vì thế, khi làm hồ sơ, chúng tôi đã yêu cầu mỗi tỉnh phải cung cấp một chuyên gia hiểu biết về Then dịch lời rồi mới chọn lọc đưa vào hồ sơ. Chúng tôi từng làm một lễ cấp sắc ở Bắc Cạn, phải dịch lời mất hai tháng mới xong”, PGS.TS Nguyễn Bình Định cho hay.

GS.TSKH Tô Ngọc Thanh nhận định: “Then là một không gian văn hóa dân tộc, một tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đa dạng, vừa phản ánh, miêu tả, vừa gửi gắm, nhắn nhủ những ngọt bùi, đắng cay của cuộc sống ông cha”.

Theo GS Tô Ngọc Thanh, nếu gạt bỏ những yếu tố mê tín đối với việc chữa bệnh thì Then là một không gian văn hóa dân tộc, một tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đa dạng. Ảnh: TL.
Theo GS Tô Ngọc Thanh, nếu gạt bỏ những yếu tố mê tín đối với việc chữa bệnh thì Then là một không gian văn hóa dân tộc, một tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đa dạng. Ảnh: TL.

Theo GS Tô Ngọc Thanh, trong việc nhìn nhận giá trị của thực hành Then cần có sự phân biệt rạch ròi giữa Then cổ và Then mới, giữa Then nghi lễ và Then văn nghệ, nhất là không thể dựa vào Then mới, Then văn nghệ với các lời đã được cải biên để bảo tồn Then cổ, Then nghi lễ.

“Nếu gạt bỏ những yếu tố mê tín đối với việc chữa bệnh mà ngày nay thực tế cũng không còn mấy ai tin thì Then là một không gian văn hóa dân tộc, một tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đa dạng, vừa phản ánh, vừa mô tả, vừa gửi gắm nhắn nhủ những đắng cay của cuộc sống của ông cha. Có thể tìm thấy trong Then không chỉ các thể thơ dân tộc, mà còn cả những biện pháp tu từ, ẩn dụ của nghệ thuật ngôn từ; những làn điệu của tầng dân ca, dân nhạc cổ xưa nhất, những điệu múa đã song hành với Then không biết bao nhiêu năm tháng”, GS Tô Ngọc Thanh nhấn mạnh.

Không những vậy, trong nhiều năm trở lại đây việc cải biên, phát triển các làn điệu Then rất được các nhạc sĩ người dân tộc thiểu số hết sức quan tâm. Những sáng tác đưa Then từ không gian nghi lễ đến không gian sân khấu, đem lại nhiều hứng thú cho không ít khán, thính giả.

Cùng với giá trị trong dân gian, kết hợp các Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái được tổ chức thường xuyên, nhằm nỗ lực thực hành Then trong cộng đồng, di sản Then của Việt Nam đang có nhiều cơ hội để trở thành di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Hà Tùng Long

http://dantri.com.vn/van-hoa/trinh-unesco-vinh-danh-hat-then-la-di-san-van-hoa-nhan-loai-20170327102051965.htm

MINH TRANG : Thanh Thúy: ca sĩ, sĩ quan và phó giám đốc sở

Thanh Thúy: ca sĩ, sĩ quan và phó giám đốc sở

30/11/2017 11:35 GMT+7

TTO – Hai ngày sau khi nhận nhiệm vụ mới là phó giám đốc Sở Văn hóa – thể thao TP.HCM, NSƯT – ca sĩ Thanh Thúy đã dành riêng cho Tuổi Trẻ cuộc trò chuyện.

Thanh Thúy: ca sĩ, sĩ quan và phó giám đốc sở - Ảnh 1.

Ca sĩ Thanh Thúy – Ảnh: TRẦN GIA TIẾN

Tôi luôn tâm niệm xây dựng một sự nghiệp mang tính nền tảng và bền vững. Được đi phục vụ khắp đất nước, gặp gỡ nhiều tấm gương sống và cống hiến hết mình cho cộng đồng, cho xã hội cũng đã tác động lớn đến nhận thức và hành động của mình

Ca sĩ Thanh Thúy

Đó là con đường dài từ khi còn là văn công trẻ của Đoàn nghệ thuật Quân khu 7, đến khi là đại biểu HĐND TP.HCM hai nhiệm kỳ và nay lại ở một vị trí mới « đòi hỏi sự chuyên sâu mà tôi vẫn đang tiếp cận mỗi ngày » như cách chị chia sẻ.

Phấn đấu không ngừng nghỉ

* Sinh ra và trưởng thành trong một gia đình có ba là sĩ quan quân đội, mẹ là thanh niên xung phong, chị nghĩ mình bị ảnh hưởng điều gì nhiều nhất từ gia đình?

– Đó chính là nề nếp, tính kỷ luật, không ngại gian khổ và rất nhiệt thành của người lính.

* Chắc không ít người biết bài hát đầu tiên chị trình diễn lại là một bài cải lương. Nhưng sau này chị lại theo đuổi dòng nhạc nhẹ, nhạc cách mạng. Từ chiến thắng đầu tiên năm 17 tuổi tại cuộc thi Tiếng hát truyền hình TP.HCM, thời điểm nào chị cảm nhận được rõ nhất « đỉnh cao » của mình trong âm nhạc nhất?

– Theo tôi, nghệ thuật khó có đỉnh cao và giới hạn. Tôi cũng chưa khi nào hài lòng tuyệt đối với sự nghiệp âm nhạc của bản thân, mà luôn đặt ra cho mình những mục tiêu để cố gắng.

Dù từng có những sản phẩm âm nhạc, chương trình biểu diễn đạt được thành công nhất định, nhưng có lẽ cảm nhận sự « thăng hoa » nhất với tôi là khi được hát cho những chiến sĩ trẻ xem, hạnh phúc không thể tả được.

Tôi còn nhớ mãi trong live show « Dấu ấn của riêng tôi » vào năm 2015, khán phòng phía dưới tràn ngập sắc áo xanh của các chiến sĩ trẻ. Đây cũng là giai đoạn mình thấy sự nghiệp nghệ thuật của mình đạt độ chín muồi nhất.

* Hành trình từ một cô văn công của Đoàn nghệ thuật Quân khu 7, đến hai lần làm đại biểu HĐND TP.HCM và nay là phó giám đốc Sở Văn hóa – thể thao là một hành trình ra sao?

– Đó là một quá trình phấn đấu không ngừng nghỉ trong học tập và lao động nghệ thuật, quan sát, nắm bắt nhiều mặt của cuộc sống.

Thanh Thúy: ca sĩ, sĩ quan và phó giám đốc sở - Ảnh 4.
Ca sĩ Thanh Thúy – Ảnh: GIA TIẾN

Công việc tại Sở Văn hóa – thể thao hiện rất mới mẻ với tôi, cần thời gian để tiếp cận và nắm bắt. Kinh nghiệm trong chuyên môn chỉ là một phần, quản lý nhà nước là một lĩnh vực rộng và đòi hỏi sự chuyên sâu. Với tôi, cương vị mới là vinh dự, đồng thời là trọng trách, là nhiệm vụ được các cấp lãnh đạo giao phó, mình phải nỗ lực để làm tròn.

Thanh Thúy – Phó giám đốc Sở Văn hóa, thể thao TP.HCM

Nghệ sĩ và trách nhiệm với cộng đồng

* Chị có nhớ chuyến đi thiện nguyện đầu tiên trong vai trò ca sĩ của mình như thế nào không? Chuyến đi đó để lại trong chị những ấn tượng gì?

– Đó là chuyến thăm và biểu diễn phục vụ tại một huyện vùng sâu của tỉnh Long An cách đây hơn 20 năm. Đường đi lúc ấy rất khó khăn, không có đường trải nhựa và rộng như bây giờ, khoảng 90km thôi nhưng đi phải gần 4 tiếng mới tới.

Đường đất đỏ, đi xe hiệu Hải Âu của Liên Xô cũ, ngồi trên xe mà cứ « giật, nảy » liên tục, đến nơi tóc tai, quần áo dính đầy bụi đỏ… Xuống xe tưởng tới nơi, ai dè đâu phải đi đò gần một tiếng nữa. Lúc đó trời gần tối, ngồi trên đò mà bụng đói cồn cào.

Rồi cuối cùng cũng đến nơi. Đón chúng tôi là rất đông khán giả. Họ là những người dân hồn hậu với sân khấu đơn sơ, hoa tặng ca sĩ là những nhánh hoa mận, hoa giấy, nhánh lá đơn sơ, tiết mục nào được khán giả khoái thì có cả chùm quýt căng mọng.

Diễn xong, bầy con nít chen chúc bên trong sân khấu với tờ giấy học trò trên tay đặng… xin chữ ký ca sĩ. Giản dị nhưng là những tình cảm rất thật, ấm áp và trên hết là giá trị tinh thần mà các nghệ sĩ mang lại cho nhân dân ở nơi còn thiếu thốn về nhiều thứ.

Tất cả tình cảm đó đã khiến tôi cảm nhận được rất rõ ý nghĩa của việc mình làm, những vất vả khó khăn của bản thân trở nên nhỏ bé trước tình cảm đong đầy của khán giả.

* Từ đó đến nay, những chuyến đi hát dường như chiếm một phần lớn trong cuộc đời hoạt động nghệ thuật của chị. Phần đông nghệ sĩ vẫn nghĩ vị trí của họ là trên sân khấu, chứ không phải là ở những nơi xa xôi hẻo lánh như vậy. Tại sao chị lại chọn lựa « sân khấu » ấy cho mình?

– Mỗi sân khấu biểu diễn đều có giá trị riêng và mang lại sự thăng hoa nhất định cho người nghệ sĩ.

Tôi không muốn lý tưởng hóa công việc của mình, chỉ là đặc thù công việc thường xuyên đi phục vụ, ưu tiên phục vụ vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo.

Những nơi ấy điều kiện đảm bảo cho hoạt động biểu diễn còn nhiều khó khăn, nhưng tình cảm của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vô cùng ấm áp, nhất là khi họ được đón nghệ sĩ từ TP.HCM về biểu diễn.

Những chuyến đi ấy tạo cho mình những điều không thể nào đong đếm được bằng những giá trị hữu hình, nó xây dựng nên phong cách nghệ sĩ lính Thanh Thúy và nuôi dưỡng hình ảnh lâu bền của mình trong lòng khán giả.

* Thanh Thúy vẫn luôn là cái tên được biết đến, nhưng chưa bao giờ « hot ». Chị nghĩ thế nào về sự « hot » của một nghệ sĩ, khi thời điểm hiện tại rất nhiều người theo đuổi điều này bất chấp là nổi tiếng hay tai tiếng?

– Ai cũng có sự lựa chọn của mình, nó gắn với lý tưởng sống và mục tiêu phấn đấu của bản thân mỗi người. Tôi là một sĩ quan trong quân đội (hàm trung tá – PV), bên cạnh đó tham gia biểu diễn trên thị trường âm nhạc nên sự nghiệp nghệ thuật cũng ảnh hưởng bởi môi trường làm việc trong quân ngũ.

Tôi luôn tâm niệm xây dựng một sự nghiệp mang tính nền tảng và bền vững. Được đi phục vụ khắp đất nước, gặp gỡ nhiều tấm gương sống và cống hiến hết mình cho cộng đồng, cho xã hội cũng đã tác động lớn đến nhận thức và hành động của mình.

Thanh Thúy: ca sĩ, sĩ quan và phó giám đốc sở - Ảnh 7.
Ca sĩ Thanh Thúy – Ảnh: GIA TIẾN

Đưa âm nhạc vào trường học

* Trong lần tái đắc cử HĐND TP.HCM, một trong những dự án mà chị tâm huyết nhất là đưa âm nhạc vào nhà trường, nhất là trường cấp 1 và cấp 2. Điều này có được chị tiếp tục theo đuổi trong cương vị mới của mình hay không, hay chị còn có những ấp ủ khác dành cho thế hệ trẻ?

– Dự án « Đưa âm nhạc dân tộc vào trường phổ thông » đã xây dựng kế hoạch thí điểm tại huyện Hóc Môn, đang chờ UBND huyện cho ý kiến và vận động kinh phí để thực hiện. Đây là một dự án mà tôi luôn quan tâm và mong muốn được nhân rộng, duy trì lâu dài.

* Bây giờ là phó giám đốc Thanh Thúy, liệu có « mất đi » NSƯT – ca sĩ Thanh Thúy của làng nhạc? Nói một cách khác, chị còn tha thiết với nghiệp hát và còn nghĩ đến chuyện cầm mic lại không?

– Yêu cầu công việc hiện tại đòi hỏi ở mình nhiều sự tập trung. Thôi thì cống hiến cho nghệ thuật trên lĩnh vực quản lý vậy.

* Sau hai ngày nhậm chức, lịch trình mỗi ngày của chị có gì thay đổi?

– Sau khi nhận nhiệm vụ, tôi tiếp cận ngay công việc. Mỗi ngày đọc các văn bản pháp luật trên lĩnh vực liên quan, tham dự vài cuộc họp là chuyện bình thường (cười).

Âm nhạc và điện ảnh

1

Ca sĩ Thanh Thúy hát giao lưu với các chiến sĩ trên đảo Sơn Ca (Trường Sa) – Ảnh: T.T.D.

Ca sĩ Thanh Thúy sinh năm 1977 tại Trà Vinh. Năm 15 tuổi, cô tham gia hoạt động tại Đoàn nghệ thuật Quân khu 7.

Năm 1993, Thanh Thúy từng dự thi Tiếng hát truyền hình TP.HCM nhưng chỉ đoạt giải thí sinh nhỏ tuổi nhất.

Đến năm 1994, cô dự thi lại và sau đó được xướng tên cho ngôi vị cao nhất. Năm 1997, Thanh Thúy đoạt giải nhất Tiếng hát truyền hình toàn quốc.

Ngoài sự nghiệp âm nhạc, Thanh Thúy còn có các vai điện ảnh như chị Võ Thị Sáu trong bộ phim Người con gái đất đỏ của đạo diễn Lê Dân vào năm 1995, Lệ Mai trong Đất khách, hai vai Ngọc Hoa – Ngọc Lan trong phim Mắt bướm, Dưới cờ đại nghĩa, Bước qua bóng tối…

Năm 2014, Thanh Thúy lấy bằng loại ưu ngành đạo diễn sân khấu của Trường ĐH Sân khấu điện ảnh và lại thử sức ở lĩnh vực mới là nhạc kịch sân khấu.

Trước khi được bổ nhiệm làm phó giám đốc Sở Văn hóa – thông tin TP.HCM, Thanh Thúy là phó trưởng đoàn Đoàn nghệ thuật Quân khu 7. Chị đã có bằng thạc sĩ nghệ thuật âm nhạc, cao cấp lý luận chính trị.

Nhạc DÂn Tộc Hòa Tấu Đàn Tranh Quê Hương Việt Nam Hay Nhất 2014

Nhạc DÂn Tộc Hòa Tấu Đàn Tranh Quê Hương Việt Nam Hay Nhất 2014

Ajoutée le 8 nov. 2014

Nhạc DÂn Tộc Hòa Tấu Đàn Tranh Quê Hương Việt Nam Hay Nhất 2014 1. Dạo Nam 2. Hương Sen Đồng Tháp 3. Lá Thư Tuyền Tuyến 4. Lới Lơ 5. Sang Xuân 6. Tò Vò 7. Tứ Đại Cảnh 8. Khốc Hoàng Thiên 9. Xuân Quê Hương

Kêu Lô Tô Xưa Có Ai Còn Nhớ ?

Kêu Lô Tô Xưa Có Ai Còn Nhớ ?

Published on Jun 20, 2015

Lô tô là trò chơi phổ biến ở miền Tây trước đây. Cũng như tính cách xuề xòa của người dân miền Tây Nam bộ, cuộc chơi lô tô đơn giản, có thể diễn ra trên nền đất tại bất cứ nơi nào, ở một góc chợ, hay hàng hiên trước nhà. Khi tham dự trò chơi này, mỗi người bỏ tiền ra mua bảng lô tô là một tấm bìa cứng trên đó có in bốn hàng số theo chiều ngang, mỗi hàng có năm ô, mỗi ô ghi một con số khác nhau và không theo thứ tự. Đi đâu mà vội mà vàng / Dừng chân ghé lại gian hàng lô tô / Lô tô lô tô, quý thầy quý cô / Đừng bận tâm suy nghĩ, hãy nghe cho kỹ (nè).

LANG TOI – MY VILLAGE | VIETNAMESE CULTURE SHOW | OFFICIAL TRAILER

LANG TOI – MY VILLAGE | VIETNAMESE CULTURE SHOW | OFFICIAL TRAILER

Ajoutée le 12 juil. 2016

Lang Toi is Vietnamese Culture Show, merged of tradition and innovation, where poetic beauty of Vietnamese village life is presented under new cirque approach using iconic bamboo; breathtaking cirque and twenty different exotic folk instruments performing live. Show performs live at Hanoi Opera House: 01 Trang Tien, Hoan Kiem Dist., Hanoi Update show schedule at: http://www.luneproduction.com For more information: please call: +84 1245 18 11 88 For tickets reservation, please email: reservation@luneproduction.com