Catégorie : Non classé

theo NGUYỄN NGỌC CHÍNH: NGÔN NGỮ SÀI GÒN XƯA

Bài viết bởi thiên thanh » Thứ sáu 23/09/16 17:53 Hình ảnh


Ngôn ngữ Sài Gòn xưa
__________________________________________________________
Nguyễn Ngọc Chính

Có thể nói, bất kỳ một ngôn ngữ trên trái đất này cũng đều trải qua hình thức vay mượn từ các ngôn ngữ khác. Ảnh hưởng về văn hóa là một trong những tác động chính trong việc vay mượn về ngôn ngữ. Ngoài ra, còn phải kể đến các yếu tố khác như địa lý, lịch sử, chính trị và xã hội trong việc hình thành ngôn ngữ vay mượn.

Miền Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng vốn là một “melting pot”, dễ dàng hòa nhập với các nền văn hóa khác từ tiếng Tàu, tiếng Pháp và cuối cùng là tiếng Anh. Ở đây, xin được bàn về ảnh hưởng của Trung Hoa mà ta thường gọi nôm na là Tàu cùng những biến thể như Người Tàu, Ba Tàu, Các Chú, Khách Trú và Chệt hoặc Chệc.

Gia Định Báo (số 5, năm thứ 6, phát hành ngày 16/2/1870) giải thích :

“…An-nam ta kêu là Tàu, người bên Tàu, là vì khách thường đi tàu qua đây, lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu v.v…

Từ Ba-Tàu có cách giải thích như sau : Ba có nghĩa là ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa làm ăn và sinh sống : vùng Cù Lao Phố (Đồng Nai), Sài Gòn-Chợ Lớn, Hà Tiên, từ Tàu bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi sang An Nam, nhưng dần từ Ba Tàu lại mang nghĩa miệt thị, gây ảnh hưởng xấu…”

“…Kêu Các-chú là bởi người Minh-hương mà ra; mẹ An-nam cha Khách nên nhìn người Tàu là anh em, bằng không thì cũng là người đồng châu với cha mình, nên mới kêu là Các-chú nghĩa là anh em với cha mình. Sau lần lần người ta bắt chước mà kêu bậy theo làm vậy…”

“… Còn kêu là Chệc là tại tiếng Triều Châu kêu tâng Chệc nghĩa là chú. Người bên Tàu hay giữ phép, cũng như An-nam ta, thấy người ta tuổi đáng cậu, cô, chú, bác thì kêu tâng là chú là cậu vân vân. Người An-nam ta nghe vậy vịn theo mà kêu các ảnh là Chệc…”

Cách giải thích thuật ngữ nói trên của Gia Định Báo từ thế kỷ thứ 19 được coi là tạm ổn vì đây là một trong những tài liệu xưa có xuất xứ từ miền Nam. Theo Lê ngọc Trụ trong Tầm nguyên Tự điển Việt Nam, chệc hay chệt là tiếng Tiều gọi chữ thúc, nghĩa là “em trai của cha”. Người bình dân gọi Chệc để chỉ chung người Hoa.

Người Quảng Đông cho là gọi như thế có ý miệt thị, người Triều Châu trái lại, chấp nhận vì họ được tôn là chú. Ở miền Nam, “các chú” Quảng làm ăn buôn bán khá hơn “các chú chệc” người Tiều lam lũ trong nghề làm rẫy, tằn tiện nên không biết có phải vì
vậy mới có câu:

Quảng Đông ăn cá bỏ đầu
Tiều Châu lượm lấy đem về kho tiêu !

Hình ảnh

Người Tiều lại chê dân Quảng không biết ăn cá. Họ nói món cháo cá Tiều khi ăn có vị ngọt đặc biệt nhờ chỉ rửa sạch bên ngoài, giữ lại nguyên si vảy, đầu và cả ruột ! Dân Tiều ở miền Nam “chuyên trị” những món cá chim hấp, bò viên, tôm viên, ruột heo nấu cải chua… và nhất là món hủ tíu Tiều Châu.

Người ta còn dùng các từ như Khựa, Xẩm, Chú Ba… để chỉ người Tàu, cũng với hàm ý miệt thị, coi thường. Tuy nhiên, có sự phân biệt rõ ràng trong cách gọi: phụ nữ Tàu được gọi là thím xẩm còn nam giới thì lại là chú ba.

Năm 1956, chính phủ Ngô Đình Diệm của nền Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963) đã có một quyết định khá táo bạo, buộc tất cả Hoa kiều phải nhập quốc tịch Việt Nam, nếu không sẽ bị trục xuất. Thương nghiệp tại miền Nam sau thời Pháp thuộc phần lớn nằm trong quyền kiểm soát của Hoa kiều. Vì vậy, chính phủ cố tạo sức mạnh cho doanh nhân Việt bằng cách hạn chế quyền lợi của người Hoa.

Đạo luật 53 cấm ngoại kiều (nhắm vào Hoa kiều) tham gia 11 nghề liên quan đến thóc gạo, điền địa, buôn bán thịt cá, than đá, dầu lửa, thu mua sắt vụn… được chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành vào tháng 9/1956. Đạo luật này đã làm xáo trộn kinh tế trong nước nhưng đã có tác động mạnh đến nền công thương nghiệp của người Việt vào thời kỳ đó. Đa số người Hoa đã nhập tịch Việt, tính đến năm 1961, trong số 1 triệu Hoa kiều ở miền Nam chỉ còn khoảng 2.000 người giữ lại Hoa tịch.

Người Tàu kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc ba lĩnh vực quan trọng : sản xuất, phân phối và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện… và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập cảng.

Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường. Cũng vì thế, ở Sài Gòn có câu mỉa mai : “Sống phá rối thị trường, chết chật đường chật sá” để ám chỉ người Tàu khi còn sống lũng đoạn nền kinh tế và đến lúc chết lại tổ chức những đám ma một cách rình rang.

Cũng như người Tàu ở Hồng Kông và Macao, người Tàu ở miền Nam đa số nói tiếng Quảng Đông (Cantonese) chứ không nói tiếng Quan Thoại (Mandarin) mà ngày nay gọi là tiếng Phổ Thông. Cũng vì thế, ngôn ngữ Sài Gòn xưa vay mượn từ tiếng Quảng Đông được khoảng 71 triệu người Hoa trên khắp thế giới sử dụng.

Người Sài Gòn thường ví những người “ăn nói không đâu vào đâu” là “nói hoảng, nói tiều” thực ra là “nói tiếng Quảng Đông, nói tiếng Triều Châu”. Điều này cho thấy tiếng Quảng Đông xuất hiện rất nhiều trong ngôn ngữ miền

Nam trước năm 1975, kế đến mới là tiếng Triều Châu. Trên thực tế, người Tàu có đến 5 nhóm Hoa kiều, được gọi là Ngũ Bang tại miền Nam : Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Khách Gia (người Hẹ).

Trong lĩnh vực ẩm thực của Sài Gòn xưa, ảnh hưởng của người Tàu gốc Quảng Đông rất đậm nét. Nói cho công bằng, bên cạnh số đông các tửu lầu, cao lâu của người Tàu gốc Quảng Đông, ở Sài Gòn – Chợ Lớn cũng có lai rai một số tiệm Tàu khác như tiệm Hủ tíu Triều Châu ở đối diện Chợ Lớn Mới, Cơm Gà Hải Nam ở Chợ An Đông hay đường Tôn Thọ Tường.

Theo nhà văn Bình-nguyên Lộc, thời tiền chiến trước 1945, các phổ ky trong tiệm Tàu còn có kiểu kêu vào bếp những món ăn thực khách gọi y như người ta gọi “lô-tô” (bingo), dĩ nhiên bằng tiếng Quảng Đông :

– Bàn số 3, bên Đông, bà lùn, cà phê ít, sữa nhiều !
– Bàn số 4, bên Đông, hủ tíu không giá.
– Bàn số 1, bên Tây, thêm bánh bao ngọt thằng nhỏ.
– Bàn số 2, bên Tây, ông già râu, cà phê đen ly lớn, xíu mại to.

Chủ tiệm thường biết rõ tính nết và sở thích ăn uống của mỗi khách quen, nên họ thường đặt cho mỗi người một cái tên thuộc loại… “hỗn danh”. Khi khách ăn xong lại quầy trả tiền thì phổ ky rao những câu hóm hỉnh bằng tiếng Quảng Đông, chẳng hạn như :

– Ông đầu hói mang khăn rằn, một đồng hai cắc.
– Bà hai mập, ba đồng sáu cắc.
– Ông chủ ốm nón nỉ, tám đồng tư, hai bánh bao mang về.

Nổi tiếng tại Sài Gòn xưa có các nhà hàng Đồng Khánh, Arc-en-ciel, Soái Kình Lâm, Bát Đạt, Á Đông, Đại La Thiên, Triều Châu…

Cơm Tàu thường được để trong những cái thố nhỏ nên được gọi là cơm thố, chỉ là cơm trắng dùng chung với các món ăn nhưng không nấu bằng nồi mà chỉ hấp cách thủy để cho chín gạo. Thông thường một người ăn chừng một hoặc hai thố là no. Có người lại ca tụng ăn cơm thố chỉ cần chan chút hắc xì dầu (nước tương đen) pha với dấm Tiều thêm chút ớt là đã thấy ngon rồi.

Nghĩ lại cũng đúng nhưng nếu ăn kiểu này thì những tiệm nổi tiếng như Siu Siu bên hông chợ An Đông hay Siu Siu ở đầu hẻm Nguyễn Duy Dương (hình như ở số nhà 61) chắc đã dẹp tiệm từ lâu rồi. Cơm chiên Dương Châu cũng là món ăn du nhập từ Quảng Đông. Nhiều người rất khoái cơm chiên nhưng ít người biết từ khởi thủy đây chỉ là các thức ăn dư thừa được chế biến lại.

Cũng thuộc loại thức ăn dư thừa có món tài páo (bánh bao). Bạn không tin ư ? Nhân bánh bao là thịt vụn được xào lên, trộn với lạp xưởng và trứng (sau này được thay bằng trứng cút kể từ khi dịch cút lan truyền khắp Sài Gòn, nhà nhà nuôi cút, người người ăn trứng cút). Vỏ bánh bao được làm bằng bột mì, sau khi hấp chín bột nở phình ra trông thật hấp dẫn.

Có người bảo cơm chiên Dương Châu và bánh bao thể hiện tính tằn tiện và tiết kiệm của người Tàu, không bỏ phí thức ăn thừa! Nói cho vui vậy thôi chứ từ cơm chiên, bánh bao đến các loại sơn hào hải vị như bào ngư, vi cá, yến sào… đều đòi hỏi cách chế biến, đó là nghệ thuật nấu ăn.

Các tiệm “cà phê hủ tíu” của Tàu lan rộng ra nhiều nơi chứ không riêng gì trong Chợ Lớn. Khắp Sài Gòn, Gia Định rồi xuống đến Lục Tỉnh đi đâu cũng thấy những xe mì, xe hủ tíu, chỉ nhìn cách trang trí cũng có thể biết được chủ nhân là người Tàu. Họ có kiểu cách riêng biệt với những chiếc xe bằng gỗ, thiết kế một cách cầu kỳ. Phần trên xe là những tấm kính tráng thủy có vẽ hình các nhân vật như Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi, Triệu Tử Long… trong truyện Tam Quốc.

Ăn điểm tâm thì có mì, hủ tíu, bánh bao, há cảo, xíu mại… Khách thường gọi một ly xây chừng, đó là một ly cà phê đen nhỏ hay tài phế (cà phê đen lớn). Sang hơn thì gọi phé nại (cà phê sữa) hoặc bạt xỉu (nhiều sữa nhưng ít cà phê) với sữa đặc có đường hiệu Ông Thọ hoặc Con Chim. Có người lại dùng bánh tiêu hoặc dầu-cha-quẩy nhúng vào cà phê để ăn thay cho các món điểm tâm đắt tiền.

Vào một quán nước bình dân trong Chợ Lớn ta có thể gọi một ly suỵt xủi và người phục vụ đem ra một ly đá chanh mát lạnh. Tại các tiệm “cà phê hủ tíu” luôn luôn có bình trà để khách có thể nhâm nhi nhậm xà (uống trà) trước khi gọi phổ ky đến để thảy xu (tính tiền). (Nhậm xà còn có nghĩa là tiền hối lộ, tiền trà nước). Người sành điệu còn “xổ” một tràng “broken Cantonese”: “Hầm bà làng kỵ tố ?” (Hết thảy bao nhiêu tiền ?).

Hình ảnh

Những từ ngữ vay mượn của người Tàu dùng lâu hóa quen nên có nhiều người không ngờ mình đã sử dụng ngôn ngữ ngoại lai. Chẳng hạn như ta thường lì xì cho con cháu vào dịp Tết hoặc lì xì cho thầy chú (cảnh sát) để tránh phiền nhiễu, cũng là một hình thức hối lộ.

Lạp xưởng (người Bắc gọi là Lạp xường) là một món ăn có nguồn gốc từ bên Tàu, tiếng Quảng Châu là lạp trường: ngày lễ Tất niên và ruột heo khô. Cũng vì thế vào dịp giáp Tết các cửa hàng nổi tiếng như Đồng Khánh, Đông Hưng Viên trưng bày la liệt các loại lạp xưởng, nào là lạp xưởng mai quế lộ, lạp xưởng khô, lạp xưởng tươi…

Chế biến lạp xưởng là nghề của các Chú Ba trong Chợ Lớn. Lạp xưởng được làm từ thịt heo nạc và mỡ, xay nhuyễn, trộn với rượu, đường rồi nhồi vào ruột heo khô để chín bằng cách lên men tự nhiên. Lạp xưởng màu hồng hoặc nâu sậm vì chắc hẳn có thêm chút bột màu.

Lạp xưởng ở Sóc Trăng thuộc miền Lục tỉnh cũng rất nổi tiếng cùng với món bánh pía, một món đặc biệt của người Tiều gốc từ Triều Châu. Đôi khi bánh pía còn được gọi là bánh lột da, thực chất có nguồn gốc từ bánh trung thu theo kiểu Tô Châu nhưng khác với loại bánh trung thu mà ta thường thấy. Đây là loại bánh có nhiều lớp mỏng và nhân bánh có trộn thịt mỡ.

Bánh pía do một số người Minh Hương di cư sang Việt Nam từ thế kỷ 17 mang theo. Trước đây, việc làm bánh pía hoàn toàn mang tính thủ công và phục vụ cho nhu cầu của từng gia đình. Bánh pía ngày trước cũng khá đơn giản, vỏ ngoài làm bằng bột mì có nhiều lớp da mỏng bao lấy phần nhân, lớp da ngoài dày thường để in chữ, nhân làm bằng đậu xanh và mỡ heo chứ không có lòng đỏ trứng muối và các loại thành phần khác như ngày nay.

Do thị hiếu của người tiêu dùng mà các lò bánh mới thêm các thành phần hương liệu khác như sầu riêng, khoai môn, lòng đỏ trứng muối…

Vịt quay Bắc Kinh và vịt quay Tứ Xuyên là những món nổi tiếng của Tàu. Đặc trưng của món vịt quay là da vịt mỏng, giòn, màu vàng sậm. Tại miền Nam, vịt quay và thịt heo quay cũng được người Quảng Đông đưa vào danh sách ẩm thực. Vịt quay hoặc heo quay theo đúng kiểu Tàu là phải ăn với bánh bao chay (không nhân) nhưng người Việt cũng chế thêm món bánh hỏi thịt quay ăn với các loại rau, chấm nước mắm cho hợp với khẩu vị. Ngày xưa, trong Chợ Lớn, nổi tiếng về heo quay, vịt quay có khu vực đường Tôn Thọ Tường, ở Sài Gòn thì khu Chợ Cũ có vài tiệm heo quay của người Tàu. Chuyện kể có một ông cà lăm đi mua thịt quay, khi ông lắp bắp: “Bán… cho tôi… 20 đồng… thịt quay…” thì Chú Ba với tay nghề chặt thịt cũng vừa chặt xong đúng 20 đồng!

Hết “ăn” giờ lại sang đến “chơi”. Chuyện cờ bạc trong ngôn từ của người Sài Gòn xưa đã xuất hiện không ít những từ ngữ từ tiếng Tàu. Tài Xỉu (phiên âm từ tiếng Tàu có nghĩa là Đại – Tiểu) là trò chơi dân gian có từ rất lâu. Chỉ cần 1 cái đĩa, 1 cái bát và 3 hột xí ngầu cũng có thể lập sòng tài xỉu nên còn có tên là xóc đĩa.

Hình ảnh

Hột xí ngầu có sáu mặt, mỗi mặt có từ một đến sáu chấm, tương đương từ một đến sáu điểm. Khi ráp sòng, người ta để cả ba hột lên chiếc đĩa sứ, chụp bát lên trên rồi lắc. Tổng số điểm của ba hột từ mười trở xuống gọi là xỉu, trên con số mười là tài. Sau khi chủ sòng lắc đĩa, người chơi đoán hoặc tài hoặc xỉu mà đặt cược. Chuyện thắng thua trong tài xỉu tùy thuộc vào tay nghề của người xóc đĩa, còn được gọi là hồ lỳ. Xác suất chủ sòng là từ 60 đến 70% thắng nhưng vì lỡ mang kiếp đỏ đen nên con bạc vẫn bị thu hút vào sòng xóc đĩa.

Các loại bài và hình thức chơi bài cũng có xuất xứ từ tiếng Tàu. Binh xập xám (13 cây) có những thuật ngữ như mậu binh (không cần binh cũng thắng), cù lủ (full house) là 3 con bài cùng số và một cặp đôi, ví dụ như 3 con chín + 2 con K (lớn nhất là cù lủ ách (ace), nhỏ nhất dĩ nhiên là cù lủ hai, thùng (flush) là 5 con cùng nước (suit) mà không theo trật tự liền nhau, ngược lại là sảnh (straight) là 5 con theo trật tự liền nhau nhưng không cùng nước. Kho từ vựng trong xập xám còn có xám chi (3 con cùng loại – three of a kind), thú (two) hay thú phé (two separate pairs) là hai cặp và một con bất kỳ nào khác.

“Thứ nhất tứ quý (4 con bài cùng số) thứ nhì đồng hoa (cùng một nước như cơ, rô, chuồn, bích)” là một trong số cả rừng từ ngữ của dân binh xập xám.

Ở phần trên đã bàn về hai khía cạnh “ăn” và “chơi”, còn một khía cạnh đóng vai trò không kém phần quan trọng là “làm” của người Tàu. Nghề nghiệp được xếp thấp nhất của người Tàu là nghề lạc xoong hay nói theo tiếng Việt là mua ve chai, người miền Bắc gọi là đồng nát.

Chú Hỏa (1845-1901), người Phúc Kiến, xuất thân từ nghề này nhưng về sau lại là một trong 4 người giàu nhất Sài Gòn xưa: “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa”.

Một số người Tàu hành nghề bán chạp phô với các mặt hàng thuộc loại tả pín lù nhưng sẵn sàng đáp ứng được mọi nhu cầu hằng ngày của người lao động trong xóm.

Tiệm chạp phô chỉ có mục đích lượm bạc cắc từ cây kim, sợi chỉ đến cục xà bông Cô Ba, quả trứng, thẻ đường. Người Tàu kiên trì trong công việc bán tạp hóa, ông chủ ung dung đếm tiền mỗi tối và ẩn dưới tiệm chạp phô là cả một gia tài được tích lũy. Người ta chỉ biết điều này khi có phong trào vượt biên. Tính rẻ “3 cây một người” thế mà cả gia đình chủ tiệm chạp phô vẫn thừa sức vượt biển để tìm đến bến bờ tự do.

Cao cấp hơn là những xì thẩu, những người thành công trong kinh doanh. Điển hình cho giai cấp xì thẩu là Trần Thành, bang trưởng Triều Châu, với hãng bột ngọt Vị Hương Tố rồi các mặt hàng mì gói Hai Con Tôm, nước tương, tàu vị yểu đã chinh phục thị trường miền Nam từ thập niên 60 để trở thành “ông vua không ngai trong vương quốc Chợ Lớn”.

Xì thẩu Lý Long Thân làm chủ 11 ngành sản xuất và dịch vụ, 23 hãng xưởng lớn: hãng dệt Vinatexco, Vimytex, hãng nhuộm Vinatefinco, hãng cán sắt Vicasa, hãng dầu ăn Nakyco, hãng bánh ngọt Lubico, Ngân Hàng Nam Việt, Ngân Hàng Trung Nam, khách sạn Arc en Ciel, hãng tàu Rạng Đông…

Xì thẩu Lâm Huê Hồ được nhiều người gọi là “chủ nợ của các ông chủ”. Ông là người giữ nhiều tiền mặt nhất miền Nam, số tiền ông có trong tay bằng vốn của nhiều ngân hàng tư nhân cỡ nhỏ như Nam Đô, Trung Việt gộp lại. Lâm Huê Hồ còn nổi tiếng là vua phế liệu, chuyên thầu quân cụ và võ khí phế thải rồi bán lại cho những doanh nhân trong ngành luyện cán sắt hay bán lại cho Nhật Bản. Người Sài Gòn thường nói: “Trần Thành, Lý Long Thân chỉ có Tiếng nhưng Lâm Huê Hồ lại có miếng”.

Xì thẩu Vương Đạo Nghĩa, chủ hãng kem đánh răng Hynos, là một người có óc làm ăn cấp tiến. Ông là người có rất nhiều sáng kiến để quảng cáo sản phẩm trên các cửa hàng ăn uống, chợ búa, hệ thống truyền thanh và truyền hình.

Có rất nhiều xì thẩu được Sài Gòn xưa gọi là vua. Trương Vĩ Nhiên, “vua ciné”, là chủ hãng phim Viễn Đông và gần 20 rạp ciné tại Sài Gòn – Chợ Lớn: Eden, Đại Nam, Opéra, Oscar, Lệ Thanh, Hoàng Cung, Đại Quang, Palace, Thủ Đô…; Lý Hoa, “vua xăng dầu”, là đại diện độc quyền các hãng Esso, Caltex, Shell phân phối nhiên liệu cho thị trường nội địa; Đào Mậu, “vua ngân hàng”, Tổng giám đốc Trung Hoa Ngân Hàng (một trong hai ngân hàng châu Á lớn nhất tại Sài Gòn cùng với Thượng Hải Ngân Hàng).

Bên cạnh đó lại có Lại Kim Dung là “nữ hoàng gạo”. Giá gạo tại miền Nam là do công ty của bà ấn định, chính phủ đã có lúc phải hợp tác với “nữ hoàng gạo” để ổn định giá gạo trên thị trường. Tạ Vinh là một trường hợp xì thẩu đặc biệt. Năm 1964, Tạ Vinh bị Ủy Ban Hành Pháp Trung ương của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ xử bắn tại pháp trường cát trước chợ Bến Thành vì tội “gian thương, đầu cơ tích trữ gạo, gây xáo trộn thị trường”. Dân chúng và báo chí gọi Tạ Vinh là “hạm gạo”.

(theo Nguyễn Ngọc Chính– Hồi ức một đời người)

C

Bài viết bởi thiên thanh » Thứ sáu 23/09/16 17:53 Hình ảnh


Ngôn ngữ Sài Gòn xưa
__________________________________________________________
Nguyễn Ngọc Chính

Có thể nói, bất kỳ một ngôn ngữ trên trái đất này cũng đều trải qua hình thức vay mượn từ các ngôn ngữ khác. Ảnh hưởng về văn hóa là một trong những tác động chính trong việc vay mượn về ngôn ngữ. Ngoài ra, còn phải kể đến các yếu tố khác như địa lý, lịch sử, chính trị và xã hội trong việc hình thành ngôn ngữ vay mượn.

Miền Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng vốn là một “melting pot”, dễ dàng hòa nhập với các nền văn hóa khác từ tiếng Tàu, tiếng Pháp và cuối cùng là tiếng Anh. Ở đây, xin được bàn về ảnh hưởng của Trung Hoa mà ta thường gọi nôm na là Tàu cùng những biến thể như Người Tàu, Ba Tàu, Các Chú, Khách Trú và Chệt hoặc Chệc.

Gia Định Báo (số 5, năm thứ 6, phát hành ngày 16/2/1870) giải thích :

“…An-nam ta kêu là Tàu, người bên Tàu, là vì khách thường đi tàu qua đây, lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu v.v…

Từ Ba-Tàu có cách giải thích như sau : Ba có nghĩa là ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa làm ăn và sinh sống : vùng Cù Lao Phố (Đồng Nai), Sài Gòn-Chợ Lớn, Hà Tiên, từ Tàu bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi sang An Nam, nhưng dần từ Ba Tàu lại mang nghĩa miệt thị, gây ảnh hưởng xấu…”

“…Kêu Các-chú là bởi người Minh-hương mà ra; mẹ An-nam cha Khách nên nhìn người Tàu là anh em, bằng không thì cũng là người đồng châu với cha mình, nên mới kêu là Các-chú nghĩa là anh em với cha mình. Sau lần lần người ta bắt chước mà kêu bậy theo làm vậy…”

“… Còn kêu là Chệc là tại tiếng Triều Châu kêu tâng Chệc nghĩa là chú. Người bên Tàu hay giữ phép, cũng như An-nam ta, thấy người ta tuổi đáng cậu, cô, chú, bác thì kêu tâng là chú là cậu vân vân. Người An-nam ta nghe vậy vịn theo mà kêu các ảnh là Chệc…”

Cách giải thích thuật ngữ nói trên của Gia Định Báo từ thế kỷ thứ 19 được coi là tạm ổn vì đây là một trong những tài liệu xưa có xuất xứ từ miền Nam. Theo Lê ngọc Trụ trong Tầm nguyên Tự điển Việt Nam, chệc hay chệt là tiếng Tiều gọi chữ thúc, nghĩa là “em trai của cha”. Người bình dân gọi Chệc để chỉ chung người Hoa.

Người Quảng Đông cho là gọi như thế có ý miệt thị, người Triều Châu trái lại, chấp nhận vì họ được tôn là chú. Ở miền Nam, “các chú” Quảng làm ăn buôn bán khá hơn “các chú chệc” người Tiều lam lũ trong nghề làm rẫy, tằn tiện nên không biết có phải vì
vậy mới có câu:

Quảng Đông ăn cá bỏ đầu
Tiều Châu lượm lấy đem về kho tiêu !

Hình ảnh

Người Tiều lại chê dân Quảng không biết ăn cá. Họ nói món cháo cá Tiều khi ăn có vị ngọt đặc biệt nhờ chỉ rửa sạch bên ngoài, giữ lại nguyên si vảy, đầu và cả ruột ! Dân Tiều ở miền Nam “chuyên trị” những món cá chim hấp, bò viên, tôm viên, ruột heo nấu cải chua… và nhất là món hủ tíu Tiều Châu.

Người ta còn dùng các từ như Khựa, Xẩm, Chú Ba… để chỉ người Tàu, cũng với hàm ý miệt thị, coi thường. Tuy nhiên, có sự phân biệt rõ ràng trong cách gọi: phụ nữ Tàu được gọi là thím xẩm còn nam giới thì lại là chú ba.

Năm 1956, chính phủ Ngô Đình Diệm của nền Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963) đã có một quyết định khá táo bạo, buộc tất cả Hoa kiều phải nhập quốc tịch Việt Nam, nếu không sẽ bị trục xuất. Thương nghiệp tại miền Nam sau thời Pháp thuộc phần lớn nằm trong quyền kiểm soát của Hoa kiều. Vì vậy, chính phủ cố tạo sức mạnh cho doanh nhân Việt bằng cách hạn chế quyền lợi của người Hoa.

Đạo luật 53 cấm ngoại kiều (nhắm vào Hoa kiều) tham gia 11 nghề liên quan đến thóc gạo, điền địa, buôn bán thịt cá, than đá, dầu lửa, thu mua sắt vụn… được chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành vào tháng 9/1956. Đạo luật này đã làm xáo trộn kinh tế trong nước nhưng đã có tác động mạnh đến nền công thương nghiệp của người Việt vào thời kỳ đó. Đa số người Hoa đã nhập tịch Việt, tính đến năm 1961, trong số 1 triệu Hoa kiều ở miền Nam chỉ còn khoảng 2.000 người giữ lại Hoa tịch.

Người Tàu kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc ba lĩnh vực quan trọng : sản xuất, phân phối và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện… và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập cảng.

Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường. Cũng vì thế, ở Sài Gòn có câu mỉa mai : “Sống phá rối thị trường, chết chật đường chật sá” để ám chỉ người Tàu khi còn sống lũng đoạn nền kinh tế và đến lúc chết lại tổ chức những đám ma một cách rình rang.

Cũng như người Tàu ở Hồng Kông và Macao, người Tàu ở miền Nam đa số nói tiếng Quảng Đông (Cantonese) chứ không nói tiếng Quan Thoại (Mandarin) mà ngày nay gọi là tiếng Phổ Thông. Cũng vì thế, ngôn ngữ Sài Gòn xưa vay mượn từ tiếng Quảng Đông được khoảng 71 triệu người Hoa trên khắp thế giới sử dụng.

Người Sài Gòn thường ví những người “ăn nói không đâu vào đâu” là “nói hoảng, nói tiều” thực ra là “nói tiếng Quảng Đông, nói tiếng Triều Châu”. Điều này cho thấy tiếng Quảng Đông xuất hiện rất nhiều trong ngôn ngữ miền

Nam trước năm 1975, kế đến mới là tiếng Triều Châu. Trên thực tế, người Tàu có đến 5 nhóm Hoa kiều, được gọi là Ngũ Bang tại miền Nam : Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Khách Gia (người Hẹ).

Trong lĩnh vực ẩm thực của Sài Gòn xưa, ảnh hưởng của người Tàu gốc Quảng Đông rất đậm nét. Nói cho công bằng, bên cạnh số đông các tửu lầu, cao lâu của người Tàu gốc Quảng Đông, ở Sài Gòn – Chợ Lớn cũng có lai rai một số tiệm Tàu khác như tiệm Hủ tíu Triều Châu ở đối diện Chợ Lớn Mới, Cơm Gà Hải Nam ở Chợ An Đông hay đường Tôn Thọ Tường.

Theo nhà văn Bình-nguyên Lộc, thời tiền chiến trước 1945, các phổ ky trong tiệm Tàu còn có kiểu kêu vào bếp những món ăn thực khách gọi y như người ta gọi “lô-tô” (bingo), dĩ nhiên bằng tiếng Quảng Đông :

– Bàn số 3, bên Đông, bà lùn, cà phê ít, sữa nhiều !
– Bàn số 4, bên Đông, hủ tíu không giá.
– Bàn số 1, bên Tây, thêm bánh bao ngọt thằng nhỏ.
– Bàn số 2, bên Tây, ông già râu, cà phê đen ly lớn, xíu mại to.

Chủ tiệm thường biết rõ tính nết và sở thích ăn uống của mỗi khách quen, nên họ thường đặt cho mỗi người một cái tên thuộc loại… “hỗn danh”. Khi khách ăn xong lại quầy trả tiền thì phổ ky rao những câu hóm hỉnh bằng tiếng Quảng Đông, chẳng hạn như :

– Ông đầu hói mang khăn rằn, một đồng hai cắc.
– Bà hai mập, ba đồng sáu cắc.
– Ông chủ ốm nón nỉ, tám đồng tư, hai bánh bao mang về.

Nổi tiếng tại Sài Gòn xưa có các nhà hàng Đồng Khánh, Arc-en-ciel, Soái Kình Lâm, Bát Đạt, Á Đông, Đại La Thiên, Triều Châu…

Cơm Tàu thường được để trong những cái thố nhỏ nên được gọi là cơm thố, chỉ là cơm trắng dùng chung với các món ăn nhưng không nấu bằng nồi mà chỉ hấp cách thủy để cho chín gạo. Thông thường một người ăn chừng một hoặc hai thố là no. Có người lại ca tụng ăn cơm thố chỉ cần chan chút hắc xì dầu (nước tương đen) pha với dấm Tiều thêm chút ớt là đã thấy ngon rồi.

Nghĩ lại cũng đúng nhưng nếu ăn kiểu này thì những tiệm nổi tiếng như Siu Siu bên hông chợ An Đông hay Siu Siu ở đầu hẻm Nguyễn Duy Dương (hình như ở số nhà 61) chắc đã dẹp tiệm từ lâu rồi. Cơm chiên Dương Châu cũng là món ăn du nhập từ Quảng Đông. Nhiều người rất khoái cơm chiên nhưng ít người biết từ khởi thủy đây chỉ là các thức ăn dư thừa được chế biến lại.

Cũng thuộc loại thức ăn dư thừa có món tài páo (bánh bao). Bạn không tin ư ? Nhân bánh bao là thịt vụn được xào lên, trộn với lạp xưởng và trứng (sau này được thay bằng trứng cút kể từ khi dịch cút lan truyền khắp Sài Gòn, nhà nhà nuôi cút, người người ăn trứng cút). Vỏ bánh bao được làm bằng bột mì, sau khi hấp chín bột nở phình ra trông thật hấp dẫn.

Có người bảo cơm chiên Dương Châu và bánh bao thể hiện tính tằn tiện và tiết kiệm của người Tàu, không bỏ phí thức ăn thừa! Nói cho vui vậy thôi chứ từ cơm chiên, bánh bao đến các loại sơn hào hải vị như bào ngư, vi cá, yến sào… đều đòi hỏi cách chế biến, đó là nghệ thuật nấu ăn.

Các tiệm “cà phê hủ tíu” của Tàu lan rộng ra nhiều nơi chứ không riêng gì trong Chợ Lớn. Khắp Sài Gòn, Gia Định rồi xuống đến Lục Tỉnh đi đâu cũng thấy những xe mì, xe hủ tíu, chỉ nhìn cách trang trí cũng có thể biết được chủ nhân là người Tàu. Họ có kiểu cách riêng biệt với những chiếc xe bằng gỗ, thiết kế một cách cầu kỳ. Phần trên xe là những tấm kính tráng thủy có vẽ hình các nhân vật như Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi, Triệu Tử Long… trong truyện Tam Quốc.

Ăn điểm tâm thì có mì, hủ tíu, bánh bao, há cảo, xíu mại… Khách thường gọi một ly xây chừng, đó là một ly cà phê đen nhỏ hay tài phế (cà phê đen lớn). Sang hơn thì gọi phé nại (cà phê sữa) hoặc bạt xỉu (nhiều sữa nhưng ít cà phê) với sữa đặc có đường hiệu Ông Thọ hoặc Con Chim. Có người lại dùng bánh tiêu hoặc dầu-cha-quẩy nhúng vào cà phê để ăn thay cho các món điểm tâm đắt tiền.

Vào một quán nước bình dân trong Chợ Lớn ta có thể gọi một ly suỵt xủi và người phục vụ đem ra một ly đá chanh mát lạnh. Tại các tiệm “cà phê hủ tíu” luôn luôn có bình trà để khách có thể nhâm nhi nhậm xà (uống trà) trước khi gọi phổ ky đến để thảy xu (tính tiền). (Nhậm xà còn có nghĩa là tiền hối lộ, tiền trà nước). Người sành điệu còn “xổ” một tràng “broken Cantonese”: “Hầm bà làng kỵ tố ?” (Hết thảy bao nhiêu tiền ?).

Hình ảnh

Những từ ngữ vay mượn của người Tàu dùng lâu hóa quen nên có nhiều người không ngờ mình đã sử dụng ngôn ngữ ngoại lai. Chẳng hạn như ta thường lì xì cho con cháu vào dịp Tết hoặc lì xì cho thầy chú (cảnh sát) để tránh phiền nhiễu, cũng là một hình thức hối lộ.

Lạp xưởng (người Bắc gọi là Lạp xường) là một món ăn có nguồn gốc từ bên Tàu, tiếng Quảng Châu là lạp trường: ngày lễ Tất niên và ruột heo khô. Cũng vì thế vào dịp giáp Tết các cửa hàng nổi tiếng như Đồng Khánh, Đông Hưng Viên trưng bày la liệt các loại lạp xưởng, nào là lạp xưởng mai quế lộ, lạp xưởng khô, lạp xưởng tươi…

Chế biến lạp xưởng là nghề của các Chú Ba trong Chợ Lớn. Lạp xưởng được làm từ thịt heo nạc và mỡ, xay nhuyễn, trộn với rượu, đường rồi nhồi vào ruột heo khô để chín bằng cách lên men tự nhiên. Lạp xưởng màu hồng hoặc nâu sậm vì chắc hẳn có thêm chút bột màu.

Lạp xưởng ở Sóc Trăng thuộc miền Lục tỉnh cũng rất nổi tiếng cùng với món bánh pía, một món đặc biệt của người Tiều gốc từ Triều Châu. Đôi khi bánh pía còn được gọi là bánh lột da, thực chất có nguồn gốc từ bánh trung thu theo kiểu Tô Châu nhưng khác với loại bánh trung thu mà ta thường thấy. Đây là loại bánh có nhiều lớp mỏng và nhân bánh có trộn thịt mỡ.

Bánh pía do một số người Minh Hương di cư sang Việt Nam từ thế kỷ 17 mang theo. Trước đây, việc làm bánh pía hoàn toàn mang tính thủ công và phục vụ cho nhu cầu của từng gia đình. Bánh pía ngày trước cũng khá đơn giản, vỏ ngoài làm bằng bột mì có nhiều lớp da mỏng bao lấy phần nhân, lớp da ngoài dày thường để in chữ, nhân làm bằng đậu xanh và mỡ heo chứ không có lòng đỏ trứng muối và các loại thành phần khác như ngày nay.

Do thị hiếu của người tiêu dùng mà các lò bánh mới thêm các thành phần hương liệu khác như sầu riêng, khoai môn, lòng đỏ trứng muối…

Vịt quay Bắc Kinh và vịt quay Tứ Xuyên là những món nổi tiếng của Tàu. Đặc trưng của món vịt quay là da vịt mỏng, giòn, màu vàng sậm. Tại miền Nam, vịt quay và thịt heo quay cũng được người Quảng Đông đưa vào danh sách ẩm thực. Vịt quay hoặc heo quay theo đúng kiểu Tàu là phải ăn với bánh bao chay (không nhân) nhưng người Việt cũng chế thêm món bánh hỏi thịt quay ăn với các loại rau, chấm nước mắm cho hợp với khẩu vị. Ngày xưa, trong Chợ Lớn, nổi tiếng về heo quay, vịt quay có khu vực đường Tôn Thọ Tường, ở Sài Gòn thì khu Chợ Cũ có vài tiệm heo quay của người Tàu. Chuyện kể có một ông cà lăm đi mua thịt quay, khi ông lắp bắp: “Bán… cho tôi… 20 đồng… thịt quay…” thì Chú Ba với tay nghề chặt thịt cũng vừa chặt xong đúng 20 đồng!

Hết “ăn” giờ lại sang đến “chơi”. Chuyện cờ bạc trong ngôn từ của người Sài Gòn xưa đã xuất hiện không ít những từ ngữ từ tiếng Tàu. Tài Xỉu (phiên âm từ tiếng Tàu có nghĩa là Đại – Tiểu) là trò chơi dân gian có từ rất lâu. Chỉ cần 1 cái đĩa, 1 cái bát và 3 hột xí ngầu cũng có thể lập sòng tài xỉu nên còn có tên là xóc đĩa.

Hình ảnh

Hột xí ngầu có sáu mặt, mỗi mặt có từ một đến sáu chấm, tương đương từ một đến sáu điểm. Khi ráp sòng, người ta để cả ba hột lên chiếc đĩa sứ, chụp bát lên trên rồi lắc. Tổng số điểm của ba hột từ mười trở xuống gọi là xỉu, trên con số mười là tài. Sau khi chủ sòng lắc đĩa, người chơi đoán hoặc tài hoặc xỉu mà đặt cược. Chuyện thắng thua trong tài xỉu tùy thuộc vào tay nghề của người xóc đĩa, còn được gọi là hồ lỳ. Xác suất chủ sòng là từ 60 đến 70% thắng nhưng vì lỡ mang kiếp đỏ đen nên con bạc vẫn bị thu hút vào sòng xóc đĩa.

Các loại bài và hình thức chơi bài cũng có xuất xứ từ tiếng Tàu. Binh xập xám (13 cây) có những thuật ngữ như mậu binh (không cần binh cũng thắng), cù lủ (full house) là 3 con bài cùng số và một cặp đôi, ví dụ như 3 con chín + 2 con K (lớn nhất là cù lủ ách (ace), nhỏ nhất dĩ nhiên là cù lủ hai, thùng (flush) là 5 con cùng nước (suit) mà không theo trật tự liền nhau, ngược lại là sảnh (straight) là 5 con theo trật tự liền nhau nhưng không cùng nước. Kho từ vựng trong xập xám còn có xám chi (3 con cùng loại – three of a kind), thú (two) hay thú phé (two separate pairs) là hai cặp và một con bất kỳ nào khác.

“Thứ nhất tứ quý (4 con bài cùng số) thứ nhì đồng hoa (cùng một nước như cơ, rô, chuồn, bích)” là một trong số cả rừng từ ngữ của dân binh xập xám.

Ở phần trên đã bàn về hai khía cạnh “ăn” và “chơi”, còn một khía cạnh đóng vai trò không kém phần quan trọng là “làm” của người Tàu. Nghề nghiệp được xếp thấp nhất của người Tàu là nghề lạc xoong hay nói theo tiếng Việt là mua ve chai, người miền Bắc gọi là đồng nát.

Chú Hỏa (1845-1901), người Phúc Kiến, xuất thân từ nghề này nhưng về sau lại là một trong 4 người giàu nhất Sài Gòn xưa: “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa”.

Một số người Tàu hành nghề bán chạp phô với các mặt hàng thuộc loại tả pín lù nhưng sẵn sàng đáp ứng được mọi nhu cầu hằng ngày của người lao động trong xóm.

Tiệm chạp phô chỉ có mục đích lượm bạc cắc từ cây kim, sợi chỉ đến cục xà bông Cô Ba, quả trứng, thẻ đường. Người Tàu kiên trì trong công việc bán tạp hóa, ông chủ ung dung đếm tiền mỗi tối và ẩn dưới tiệm chạp phô là cả một gia tài được tích lũy. Người ta chỉ biết điều này khi có phong trào vượt biên. Tính rẻ “3 cây một người” thế mà cả gia đình chủ tiệm chạp phô vẫn thừa sức vượt biển để tìm đến bến bờ tự do.

Cao cấp hơn là những xì thẩu, những người thành công trong kinh doanh. Điển hình cho giai cấp xì thẩu là Trần Thành, bang trưởng Triều Châu, với hãng bột ngọt Vị Hương Tố rồi các mặt hàng mì gói Hai Con Tôm, nước tương, tàu vị yểu đã chinh phục thị trường miền Nam từ thập niên 60 để trở thành “ông vua không ngai trong vương quốc Chợ Lớn”.

Xì thẩu Lý Long Thân làm chủ 11 ngành sản xuất và dịch vụ, 23 hãng xưởng lớn: hãng dệt Vinatexco, Vimytex, hãng nhuộm Vinatefinco, hãng cán sắt Vicasa, hãng dầu ăn Nakyco, hãng bánh ngọt Lubico, Ngân Hàng Nam Việt, Ngân Hàng Trung Nam, khách sạn Arc en Ciel, hãng tàu Rạng Đông…

Xì thẩu Lâm Huê Hồ được nhiều người gọi là “chủ nợ của các ông chủ”. Ông là người giữ nhiều tiền mặt nhất miền Nam, số tiền ông có trong tay bằng vốn của nhiều ngân hàng tư nhân cỡ nhỏ như Nam Đô, Trung Việt gộp lại. Lâm Huê Hồ còn nổi tiếng là vua phế liệu, chuyên thầu quân cụ và võ khí phế thải rồi bán lại cho những doanh nhân trong ngành luyện cán sắt hay bán lại cho Nhật Bản. Người Sài Gòn thường nói: “Trần Thành, Lý Long Thân chỉ có Tiếng nhưng Lâm Huê Hồ lại có miếng”.

Xì thẩu Vương Đạo Nghĩa, chủ hãng kem đánh răng Hynos, là một người có óc làm ăn cấp tiến. Ông là người có rất nhiều sáng kiến để quảng cáo sản phẩm trên các cửa hàng ăn uống, chợ búa, hệ thống truyền thanh và truyền hình.

Có rất nhiều xì thẩu được Sài Gòn xưa gọi là vua. Trương Vĩ Nhiên, “vua ciné”, là chủ hãng phim Viễn Đông và gần 20 rạp ciné tại Sài Gòn – Chợ Lớn: Eden, Đại Nam, Opéra, Oscar, Lệ Thanh, Hoàng Cung, Đại Quang, Palace, Thủ Đô…; Lý Hoa, “vua xăng dầu”, là đại diện độc quyền các hãng Esso, Caltex, Shell phân phối nhiên liệu cho thị trường nội địa; Đào Mậu, “vua ngân hàng”, Tổng giám đốc Trung Hoa Ngân Hàng (một trong hai ngân hàng châu Á lớn nhất tại Sài Gòn cùng với Thượng Hải Ngân Hàng).

Bên cạnh đó lại có Lại Kim Dung là “nữ hoàng gạo”. Giá gạo tại miền Nam là do công ty của bà ấn định, chính phủ đã có lúc phải hợp tác với “nữ hoàng gạo” để ổn định giá gạo trên thị trường. Tạ Vinh là một trường hợp xì thẩu đặc biệt. Năm 1964, Tạ Vinh bị Ủy Ban Hành Pháp Trung ương của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ xử bắn tại pháp trường cát trước chợ Bến Thành vì tội “gian thương, đầu cơ tích trữ gạo, gây xáo trộn thị trường”. Dân chúng và báo chí gọi Tạ Vinh là “hạm gạo”.

(theo Nguyễn Ngọc Chính– Hồi ức một đời người)

Thoại Hà – Tam Kỳ :Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo qua đời

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo qua đời

Đồng ThápNhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo mất ở tuổi 104 tại nhà riêng lúc 18h50 ngày 7/1, sau thời gian chữa bệnh già.

Con gái cố nhạc sư – bà Thu Anh – cho biết ông mất sau thời gian hôn mê. Nhạc sư vừa sang tuổi mới vào ngày 1/1 đầu năm. Đông đảo nghệ sĩ, học trò của nhạc sư cho biết thương tiếc và tri ân người thầy họ kính trọng.

Tiến sĩ Lê Hồng Phước – chuyên nghiên cứu ngành lịch sử văn hóa của Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM – nói dù biết nhạc sư qua đời theo quy luật thời gian, anh vẫn bàng hoàng. Hồng Phước lần đầu gặp gỡ nhạc sư là vào năm 2015, khi anh vừa tu nghiệp ở Paris về nước. Từ đó đến khi ông qua đời, anh thường xuyên lui tới để thọ giáo ông về âm nhạc dân tộc.

Anh Hồng Phước nói: « Nếu tính cải lương ra đời vào năm 1918 thì tuổi đời của ông bằng với chiều dài phát triển của lịch sử cải lương. Ông là người duy nhất, thuộc thế hệ ban đầu của nền cải lương, sống vượt tuổi 100, trong khi những bậc tài danh đồng niên, như danh cầm Sáu Tửng – cha của nghệ sĩ Bạch Huệ – hay người thế hệ sau như thầy Ba Tu, đều mất. Thầy Vĩnh Bảo là nghệ nhân đóng nhạc cụ miền Nam cừ khôi, một nghệ sĩ trình tấu nhạc dân tộc tài ba, tinh tế. Đồng thời, ông là một nhà lý luận bậc thầy về âm nhạc dân tộc. Ông nghiên cứu sâu về nhạc dân tộc miền Nam, nhất là đàn tranh. Suốt 5 năm may mắn được gần gũi ông, tôi học hỏi rất nhiều, không chỉ âm nhạc mà còn về văn hóa dân tộc ».

Nhạc sư Vĩnh Bảo ra mắt sách mới - Những giai điệu cuộc đời - ở quê nhà Đồng Tháp hồi tháng 5. Ảnh: Thành Nguyễn.
Nhạc sư Vĩnh Bảo ra mắt sách – « Những giai điệu cuộc đời » – ở quê nhà Đồng Tháp hồi tháng 5/2020. Ảnh: Thành Nguyễn.

Ads by

Cuối 2020, nhạc sư nhập viện chữa bệnh già. Đầu tháng 12/2020, khi được đưa về nhà, ông vẫn hôn mê. Nhiều học trò như Nghệ sĩ Ưu tú Văn Hai, đạo diễn Tấn Phát, tiến sĩ Lê Hồng Phước, nghệ sĩ Hải Phượng… từ TP HCM về thăm, quây quần bên giường bệnh, đàn hát, mong ông vượt bạo bệnh.

Lễ viếng nhạc sư bắt đầu từ 10h ngày 8/1 tại Câu lạc bộ hưu trí thành phố Cao Lãnh. Lễ di quan diễn ra vào 10h ngày 10/1, linh cữu được hỏa táng tại Nghĩa trang Quản Khánh.

Những lần hòa đàn bên đồng nghiệp, học trò của nhạc sư Vĩnh Bảo. Video: Thái Bảo tổng hợp.

Sinh thời, giáo sư Trần Văn Khê từng gọi thầy Vĩnh Bảo là ‘hậu tổ’ của đờn ca tài tử và cải lương Nam bộ. Nguyễn Vĩnh Bảo sinh 1918 tại làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (đơn vị hành chính thời Pháp thuộc) trong một gia đình nho học yêu đờn ca tài tử. Năm năm tuổi, ông đã biết chơi đàn kìm, đàn cò, 10 tuổi biết chơi thêm nhiều loại nhạc cụ dân tộc. Ông là nhạc sư, nhà nghiên cứu âm nhạc, giáo sư giảng dạy âm nhạc truyền thống vừa là nhạc sĩ trình tấu, kiêm nghệ nhân đóng đàn. Ông cải tiến đàn tranh từ 16 dây thành đàn 17, 19 và 21 dây với kích thước và âm vực rộng hơn.

Từ năm 1955 cho đến năm 1964, ông dạy đàn tranh và cũng là trưởng ban nhạc cổ miền Nam tại Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ ở Sài Gòn. Ngoài ra, ông đi diễn thuyết và trình tấu âm nhạc dân tộc ở nhiều nơi trên thế giới.

Ông và giáo sư Trần Văn Khê là hai bậc thầy từng dành tâm huyết trọn đời nâng tầm nghệ thuật đờn ca tài tử. Năm 1972, ông và giáo sư Trần Văn Khê diễn tấu ghi âm đĩa Nhạc tài tử Nam bộ cho hãng Ocora và UNESCO tại Paris, Pháp. Từ năm 1970-1972, ông Nguyễn Vĩnh Bảo là giáo sư đặc biệt thỉnh giảng về đàn tranh tại Đại học Illinois, Mỹ. Trong quyển Những giai điệu cuộc đời, giáo sư Nguyễn Thuyết Phong viết: « Giữa hai giai đoạn lịch sử từ thời thuộc địa cho đến khi độc lập, nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo là viên gạch nối thật dài, thật lấp lánh. Thế hệ chúng tôi cần học hỏi, và mong những bài học đó sẽ lưu lại cho nhiều thế hệ mai sau ».

Ông nhận giải thưởng Đào Tấn của Việt Nam năm 2005. Năm 2006, ông là nhạc sư hiếm hoi của Việt Nam, trong số sáu nhạc sư có tầm ảnh hưởng trên thế giới, được vinh danh tại hội thảo Dân tộc Nhạc học thế giới (Ethnomusicology) ở Honolulu (Mỹ). Năm 2008, nhạc sư Vĩnh Bảo được chính phủ Pháp tặng Huy chương nghệ thuật và văn học (Ordre des Arts et des Lettres) cấp bậc Officier. Năm 2014, ông nhận bằng khen của Thủ tướng chính phủ vì có thành tích trong việc bảo tồn, phát huy nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ. Năm 2015, ông được trao tặng giải thưởng Phan Châu Trinh cho những đóng góp trong việc sưu tầm và truyền bá nhạc dân tộc.

Nhạc sư có hàng trăm môn sinh ở khắp nơi, từ các tỉnh thành trong nước đến châu Á, châu Âu, Australia, Mỹ. Ở tuổi bách niên, ông sử dụng mạng Internet thành thạo để dạy học. Những buổi online, dù cách xa nửa vòng trái đất, ông vẫn chỉnh sửa từng nốt nhạc, hòa đàn cùng học trò. Mỗi tuần, các học trò ghé thăm ông, nghe nhạc sư dạy những bản đàn mới. Cách sống nhẹ nhàng, thanh tao của ông vận vào tiếng đàn làm say lòng người. Có những ngón đàn từng được ông gảy hàng nghìn lần, khi dạo lại vẫn khiến người nghe xúc động.Nhạc sư từng thổ lộ: « Cũng lạ, đã có rất nhiều ông Tây bà đầm không chịu học đồ, rê, mi, fa, sol, la, si mà tìm tới tôi để học hò, xự, xang, xê, cống ».

Qua gần một thế kỷ sống và dạy nhạc dân tộc, đàn tranh ở TP HCM, cuối tháng 5/2018, Nguyễn Vĩnh Bảo rời TP HCM trở về quê hương Đồng Tháp an hưởng tuổi già, sau hơn 70 năm xa quê. Ở tuổi xưa nay hiếm, ông vẫn giữ trí nhớ tốt, chủ động trong nhiều sinh hoạt. Hồi giữa tháng 7/2019, Nguyễn Vĩnh Bảo trải qua cuộc phẫu thuật gây mê điều trị sạn hạch miệng. Các bác sĩ Bệnh viện răng hàm mặt Trung Ương TP HCM nỗ lực chữa trị cho ông. Sau ca mổ, sức khỏe nhạc sư hồi phục tốt. Hồi cuối tháng 5, ông ra mắt sách Những giai điệu cuộc đời, truyện ký về chặng đường gắn bó nhạc dân tộc của ông. Cuối tháng 9, ông còn dự sự kiện giỗ tổ ngành sân khấu ở quê nhà Cao Lãnh. Hôm 8/10, tỉnh dậy sau một ca phẫu thuật, ông còn hát được bài Bá Lý Hề điệu Tứ Đại Oán để tặng cho người mình thương mến.

Nguyễn Vĩnh Bảo từng tâm sự, cuối đời, ông không mong có một buổi hòa nhạc lớn cho riêng mình, cũng không mong tên tuổi được vinh danh, chỉ muốn lưu giữ những nét nhạc cổ truyền nguyên bản nhất cho thế hệ trẻ hơn. Toàn bộ tư liệu sự nghiệp của ông hiện được giữ trong nhà lưu niệm, nằm ở khuôn viên Bảo Tàng tỉnh Đồng Tháp. Nhiều đầu sách về âm nhạc, cách dạy đàn tranh, băng đĩa các loại, những bài báo trong và ngoài nước viết về nhạc sư, những tư liệu trao đổi qua lại giữa ông và cố Giáo sư Trần Văn Khê cùng học trò, thủ bút đến những bài giảng, huân chương, bằng khen trong và ngoài nước… ghi nhận một quá trình nghệ thuật bền bỉ.

Nhạc sư Vĩnh Bảo bên vợ - bà Trâm Anh sinh thời. Ảnh tư liệu.
Nhạc sư Vĩnh Bảo bên vợ – bà Trâm Anh sinh thời. Ảnh tư liệu.

Sinh thời, ông nổi tiếng với mối tình hơn 80 năm cùng vợ – bà Trâm Anh, người đẹp Sóc Trăng một thời. Yêu bà, ông đặt tên tất cả con theo tên vợ, từ Thu Anh, Trung Anh, Tam Anh, Tùng Anh, Tú Anh, Tiến Anh, Tường Anh. Năm 2014, sau 68 năm chung sống, vợ ông qua đời, để lại ông cho các con phụng dưỡng. Nhạc sư viết về vợ: « Đôi lúc tôi ngẫm cuộc đời mình nếm trải biết bao ngọt bùi, cay đắng. Tôi cố gắng để vượt qua những chặng đường thật khó khăn, phải biết chấp nhận thay vì chỉ biết than khóc, buông xuôi. May mắn tôi gặp người bạn đời Trâm Anh yêu quý. Trâm Anh đã mang đến cho tôi bao nguồn cảm hứng từ sự ngọt ngào, dịu dàng và cả nghị lực ».

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo 102 tuổi
Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo phục hồi tốt sau ca mổ gây mê, giữ tiếng đàn nội lực và sống đời thanh đạm ở quê nhà Đồng Tháp (2019). Video: Vũ Ngọc Thịnh.

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo phục hồi tốt sau ca mổ gây mê, giữ tiếng đàn nội lực và sống đời thanh đạm ở quê nhà Đồng Tháp (2019). Video: Vũ Ngọc Thịnh.

Thoại Hà – Tam Kỳ 

https://vnexpress.net/nhac-su-nguyen-vinh-bao-qua-doi-4217818.html

Tiễn Đưa Nhạc Sĩ LAM PHƯƠNG | The Jimmy TV

Tiễn Đưa Nhạc Sĩ LAM PHƯƠNG | The Jimmy TV

1 690 vues•Première diffusée il y a 4 heures1672PartagerEnregistrerThe JIMMY TV Một vài hình ảnh kỷ niệm trong ngày đưa tiễn nhạc sĩ Lam Phương về với cát bụi Cám ơn ca sĩ Hoàng Hiệp đã cho phép The Jimmy TV sử dụng ca khúc « Đường Trần » của NS Lam Phương mà anh đã thâu âm. To Support The JIMMY TV: ZELLE: 801.916.2745 jimmyha93@gmail.com Bước Chân Dĩ Vãng: https://www.youtube.com/playlist?list… The Portrait http://bit.ly/ThePortraitTJC Tác giả & Tuyệt phẩm http://bit.ly/Tacgiatuyetpham ❤ Chúng ta – Những tâm hồn yêu nhạc sẽ gặp nhau qua màn ảnh của The Jimmy TV ❤ FOLLOW THE JIMMY TV ☞ Youtube: http://bit.ly/Thejimmychannel ☞ Facebook: https://www.facebook.com/TheJIMMYTV/ ☞ Instagram: https://www.instagram.com/the_jimmy_t…

Trực Tiếp Chương Trình Tang Lễ Nhạc Sĩ Lam Phương, phần 2

FR

Trực Tiếp Chương Trình Tang Lễ Nhạc Sĩ Lam Phương

171 677 vues•Diffusé en direct il y a 19 heures2,1 k78PartagerEnregistrerThuy Nga 4,4 M abonnés Trực Tiếp Chương Trình Tang Lễ Nhạc Sĩ Lam Phương

Cập nhật tình hình sức khỏe Danh ca Lệ Thu

Cập nhật tình hình sức khỏe Danh ca Lệ Thu

Cập Nhật Tình Hình Sức Khoẻ Cô Lệ Thu

Jimmy vừa mới nhận được tin từ ICU chỗ cô Lệ Thu đang điều trị thì: »Her name is still showing in the daily census so she’s still ok »Vẫn còn hy vọng, chúng ta tiếp tục cầu nguyện cho cô (JIMMY NHỰT HÀ 03.01.2021)

53 263 vues•2 janv. 20211,2 k19PartagerEnregistrerThe JIMMY TV

NHỮNG CA SĨ HÁT BẢN « CHO EM QUÊN TUỔI NGỌC » (nhạc & lời : LAM PHƯƠNG)

NHẠC SĨ LAM PHƯƠNG

Cho Em Quên Tuổi Ngọc – Hoàng Kim | ASIA 77 – YouTubewww.youtube.com › watch4:37Cho Em Quên Tuổi Ngọc – Hoàng Kim | ASIA 77BUY ON VIMEO: … Cáo – 555 Bài Hát Nhạc Vàng, Bolero Song …Dec 19, 2015 · Uploaded by Asia Entertainment Official


CHO EM QUÊN TUỔI NGỌC. Ca sĩ: Ngọc Lan. HD – YouTubewww.youtube.com › watch
4:08Nữ hoàng của những nỗi buồn đã khiến hàng triệu trái tim yêu … CHO EM QUÊN TUỔI NGỌC (Lass mir Jungenzeit vergessen …Nov 12, 2015 · Uploaded by Dang Phu Tien


PBN 102 | Lam Anh – Cho Em Quên Tuổi Ngọc – YouTubewww.youtube.com › watch
5:39Lam Anh – Cho Em Quên Tuổi Ngọc (Lam Phương)PBN 102 – Nhạc Yêu … BẠCH YẾN hát tình ca Lam Phương …Mar 21, 2019 · Uploaded by Thuy Nga


Ngọc Anh – Cho Em Quên Tuổi Ngọc (Lam Phương) – YouTubewww.youtube.com › watch
4:48Ngọc Anh – Cho Em Quên Tuổi Ngọc (Lam Phương)VSTAR Season 5 – Results Show Live at Saigon Performing …Nov 6, 2018 · Uploaded by Thuy Nga


Cho Em Quên Tuổi Ngọc – Ngọc Lan | Tác Giả … – YouTubewww.youtube.com › watch
4:09Ngọc Lan được cho là một trong những ca sĩ thành công và nổi tiếng … sách bài hát: ▻Đăng ký kênh: http://ngoclan …Sep 21, 2020 · Uploaded by Ca Sĩ Ngọc Lan


CHO EM QUÊN TUỔI NGỌC (Lam Phương) – Bạch … – YouTubewww.youtube.com › watch
5:11CHO EM QUÊN TUỔI NGỌC (Lam Phương) – Bạch Yến. 6,188 views6.1K … Ne Me Quitte Pas – Jacques Brel – Ca …Apr 21, 2019 · Uploaded by Nguyễn Nguyễn Studio

BẠCH YẾN


Lời bài hát Cho Em Quên Tuổi Ngọc (Lam Phương) [có nhạc …lyric.tkaraoke.com › cho_em_quen_t…
Translate this pageCho Em Quên Tuổi Ngọc Lam Phương . Ca sĩ thể hiện: Hương Lan, Thu Minh, Kiều Nga, Nhật Hạ, Tiêu Châu Như Quỳnh, Thái Hà, Ngọc Anh, Lệ Hằng, Trần …


Cho Em Quên Tuổi Ngọc (nhạc sĩ Lam Phương) – Câu chuyện …nhacxua.vn › … › Tiểu sử các bài hát
· Translate this pageBài Cho Em Quên Tuổi Ngọc là một tuyệt phẩm của nhạc sĩ Lam … Bài hát đã lách thoát khỏi dòng nhạc thông thường mà Lam …Sep 14, 2018 · Uploaded by Dang Phu Tien


Cho Em Quên Tuổi Ngọc – Khánh Hà – NhacCuaTuiwww.nhaccuatui.com › Bài hát tru tinh › khanh ha
… đời sau em k… | Nghe nhạc hay online mới nhất chất lượng cao. … Lời bài hát: Cho Em Quên Tuổi Ngọc. Lời đăng bởi: … Nhìn Những Mùa Thu Đi · Thái Hiền …


Cho Em Quên Tuổi Ngọc – Bạch Yến – Zing MP3zingmp3.vn › bai-hat › Cho-Em-Que…
Translate this pageCho Em Quên Tuổi Ngọc – Bạch Yến Tải download 320 nhạc chờ Cho Em Quen Tuoi Ngoc,- Bach Yen. … Phạm Hồng Phước. 05:46. Chỉ Còn Những Mùa Nhớ … Những Bài Hát Hay Nhất Của Hoài Lâm · Hoài Lâm …


Cho Em Quên Tuổi Ngọc – Bạch Yến – Zing MP3zingmp3.vn › bai-hat › Cho-Em-Que…
Translate this pageCho Em Quên Tuổi Ngọc – Bạch Yến Tải download 320 nhạc chờ Cho Em Quen Tuoi Ngoc,- Bach Yen. … Phạm Hồng Phước. 05:46. Chỉ Còn Những Mùa Nhớ … Những Bài Hát Hay Nhất Của Hoài Lâm · Hoài Lâm …


Cho Em Quên Tuổi Ngọc – Thanh Hà – Zing MP3zingmp3.vn › bai-hat › Cho-Em-Que…
Translate this pageCho Em Quên Tuổi Ngọc – Thanh Hà Tải download 320 nhạc chờ Cho Em Quen Tuoi Ngoc,- Thanh Ha. … Những Bài Hát Hay Nhất Của Hoài Lâm · Hoài Lâm …


Cho Em Quên Tuổi Ngọc – Bạch Yến – Nhac.vnnhac.vn › bai-hat › cho-em-quen-tuo…
· Translate this pageNghe Cho Em Quên Tuổi Ngọc – Bạch Yến chất lượng cao cực nhanh. Tải Cho … Nhạc sĩ: Lam Phương … Những Bài Hát …Aug 7, 2015 · Uploaded by May Tran


Cho Em Quên Tuổi Ngọc – Ngọc Lan – NhacCuaTuiwww.nhaccuatui.com › Bài hát nhac trinh › ngoc lan
Cho Em Quên Tuổi Ngọc – Ngọc Lan | Tác giả: Lam Phương Cho em quên cơn mộng ảo xa xôi thơ ngây ngày nào Em … Lời bài hát: Cho Em Quên Tuổi Ngọc.


Lãng du ca – Cho em quên tuổi ngọc -C’est toi ( Lam…fr-fr.facebook.com › videos › cho-e…
· Translate this page4:01Cho em quên tuổi ngọc -C’est toi ( Lam Phương ) C’est toi qui emportes mon … Thực sự, những ca sĩ ấy, kể cả …Jan 29, 2016


CHO EM QUÊN TUỔI NGỌC – ca khúc duy nhất nhạc sĩ Lam …gocnhosantruong.com › chia-vui › 2…
Translate this pageImage result for Cho Em Quên Tuổi Ngọc Nguyên Nhung photos … Thực sự, những ca sĩ ấy, kể cả Bạch Yến, giọng hát và cách diễn tả đều thật là hay, nhưng …


Cho Em Quên Tuổi Ngọc – Bạch Yếnamnhac.fm › nhac › 465-bach-yen
Translate this pageCho Em Quên Tuổi Ngọc … BẠCH YẾN HÁT TÌNH CA LAM PHƯƠNG Bài hát, Em Đi Rồi » … Chỉ những album tên CHỮ IN mới có MP3 để nghe. Cám ơn các …


Cho Em Quên Tuổi Ngọc – Nhiều Ca Sĩ-Khang Audiokhang-audio.com › detail › dong-nh…
Translate this pageCho Em Quên Tuổi Ngọc – Nhiều Ca Sĩ. Thể Loại: CD Gốc Nhạc Vàng, Hải Ngoại, Bolero. Ca sĩ: Nhiều Ca Sĩ. List bài hát: 1. LK; Tình Chết Theo Mùa Đông, …


Lời bài hát Cho em quên tuổi ngọc- Loi bai hat Cho em quen …loibaihat.biz › lyric › jcsbk › choem…
Translate this pageLời bài hát Cho em quên tuổi ngọc– Lam Phương, ca sĩ: Ngọc Lan,Lam Anh,Ngọc … ngọc – Lam Phương Lyrics, loi bai hat Cho em quen tuoi ngoc – lam phuong, …


Cho em quên tuổi ngọc – Hà Thúy Anh – Video Dailymotionwww.dailymotion.com › video
· Translate this page8:29Những ca khúc hay nhất của những nhạc được yêu thích nhất xuất hiện … THVL | Hãy nghe tôi hát 2018 – Tập 2[8]: Cho …Aug 8, 2019 · Uploaded by THVL Ca Nhạc


Nhạc sĩ Lam Phương hội ngộ khán giả Thủ đô với ‘Cho em …baotintuc.vn › … › Đời sống văn hoá
Translate this pageAug 23, 2017 — LiveConcert “Lam Phương- Cho em quên tuổi ngọc” của nhạc Lam Phương sẽ diễn ra tối 25/8, tại tại Nhà hát Tuổi trẻ. … Cùng với những nhạc phẩm nổi tiếng của ông, 20 ấn phẩm đặc biệt nhất về nhạc cũng sẽ … “Sẽ là một ẩn số thú vị với khán giả yêu mến tình ca Lam Phương vì một làn gió tươi trẻ, …


CHO EM QUÊN TUỔI NGỌC ! | Một thời Sài Gòncafevannghe.wordpress.com › cho-e…
Translate this pageFeb 13, 2016 — Ca khúc : Cho em quên tuổi ngọc Hoàng Kim … Thực sự, những ca sĩ ấy, kể cả Bạch Yến, giọng hát và cách diễn tả … Vậy mà trong Asia cuốn này, nhạc sĩ Trúc Hồ còn mở rộng âm vực khi soạn hòa âm; NS Lam Phuong 5 …


Danh ca Bạch Yến chưa quên tuổi ngọc – Báo Bà Rịa Vũng Tàubaobariavungtau.com.vn › danh-ca-…
Translate this pageSep 20, 2019 — Tôi nhớ lần đầu tiên nghe bài Cho em quên tuổi ngọc của nhạc sĩ Lam … thức còn kể về những thăng trầm, truân chuyên của chính người hát, …


Những ca khúc để đời của nhạc sĩ Lam Phương – Báo Phụ Nữwww.phunuonline.com.vn › nhung-…
Translate this page6 days ago — Cho em quên tuổi ngọc là một trong những số đó. Bài hát nói về mối tình dở dang của ông với danh ca Bạch Yến. Nam nhạc sĩ ngỏ lời cầu hôn …


Phạm Quỳnh Anh tiếp tục bị chê dở khi hát ‘Cho em quên tuổi …baomoi.com › Giải trí › Âm nhạc
· Translate this pageAug 28, 2018 — Cho em quên tuổi ngọc – Phạm Quỳnh Anh Nữ ca sĩ tiếp tục nhận ý kiến … « Giọng hát Phạm Quỳnh Anh có những chỗ hơi bị thô, hay quá trầm, …


Ca sĩ Bạch Yến: Én trắng có hờn quên tuổi ngọc… | Báo Công …vnca.cand.com.vn › doi-song-van-hoa
Translate this pageMar 18, 2014 — … chị ca bài « Cho em quên tuổi ngọc » – khúc ca mà Lam Phương viết cho chị. … Và đó là tình yêu những ngày thơ ngây, đẹp như những vần nhạc tình mà … Lần này về Việt Nam, Bạch Yến thu âm 10 bài hát của nhạc sĩ Lam …


Cho Em Quên Tuổi Ngọc – Thanh Ngọc – Mocha videom.nhac.mocha.com.vn › audio
Translate this pageLỜI BÀI HÁT. Cho em quên cơn mộng … BÀI HÁT CỦA THANH NGỌC · Cho Em Quên Tuổi Ngọc. ĐỘC QUYỀN … Công ty đại diện: Ca sĩ Tự Do. Giải nhì Tiếng …


Cho Em Quên Tuổi Ngọc mới ra mắt tại đây – Xem lời bài hátxemloibaihat.com › cho-em-quen-tu…
Translate this pageNov 10, 2020 — Có phải bạn đang muốn tìm kiếm Cho Em Quên Tuổi Ngọc phải không? Có phải bạn muốn xem lời các bản nhạc bolero phải không?


Đêm nhạc Lam Phương : « Cho em quên tuổi ngọc »-Nhà hát tu www.nhahattuoitre.vn › chi-tiet › de…
Translate this pageAug 25, 2017 — Đêm nhạc Lam Phương : « Cho em quên tuổi ngọc« . Đêm nhạc Lam Phương : PrevNext. Âm nhạc là nhịp cầu giao cảm chứa đựng tất cả những trạng thái … tại sân khấu Nhà hát Tuổi trẻ, với sự xuất hiện của các ca sĩ: Mạnh …


QueHuong Not Nhac – Nốt Nhạc: Cho Em Quên Tuổi Ngọc …music.quehuong.org › viewmusicsheet
Translate this pageNốt Nhạc » Cho Em Quên Tuổi Ngọc, Tác Giả: Lam Phương. Loại, Tên Bài Hát, Tên Nghệ Sĩ, Xem. Lời Nhạc, Xem: … Những Bài Nốt Nhạc Khác. » Giã Từ Đà …


Lời bài hát Cho Em Quên Tuổi Ngọc – TimMaSoKaraoke.Comtimmasokaraoke.com › Lời bài hát
Translate this pageLời bài hát « Cho Em Quên Tuổi Ngọc« : Cho em quên cơn mộng ảo xa xôi thơ ngây ngày nào Em quên được phút trong tay mưa bay dạt dào Ðến muôn …


Tải Bài Hát Cho Em Quên Tuổi Ngọc- Lyrics(lời bài hát) – Lệ …nhacvietnam.mobi › Tải Nhạc Hay
· Translate this pageVới Ca khúc Cho Em Quên Tuổi Ngọc do ca sĩ Lệ Hằng thể hiện, Các bạn có thể nghe, download (tải nhạc) bài hát Cho Em Quen Tuoi Ngoc mp3, playlist/album …


[Sheet] Cho em quên tuổi ngọc – Lam Phương – Vàng Sonvangson.info › sheet › sheet-cho-em-…
Translate this page[Sheet] Cho em quên tuổi ngọc – Lam Phương … Mọi ý kiến đóng góp thân mời quý bạn để lại bình luận ở mỗi bài đăng hoặc gửi liên hệ … tìm kiếm với tên nhạc sĩ hoặc tham khảo trong danh mục Nhạc sĩ & Những sáng tác để đời … Lâm Nguyễn on Ảo ảnh – Y VânMình không biết ẩn sau bài hát có bóng hồng nào, h…


Cho Em Quên Tuổi Ngọc – Ngọc Lan ~ Nghe nhạc mp3, tải …nhacgoc.com › vietnam › v-pop
Translate this pageNghe online bai hat Cho Em Quên Tuổi Ngọc do ca sĩ Ngọc Lan thể hiện. Tải nhạc dạng mp3, m4a, lossless và xem lời bài hát Cho Em Quên Tuổi Ngọc hoàn …


Cho em quên tuổi ngọc – Hồng Yến | Viet Luan – Báo Việt Luậnvietluan.com.au › cho-em-quen-tuoi-…
Translate this pageSep 18, 2020 — Mời các bạn nghe một bài hát rất nổi tiếng của nhac sĩ Lam Phương: Cho em quên tuổi ngọc. Quay phim , thu thanh: Gia Hung. Video clip và …


Bài Cho Em Quên Tuổi Ngọc – Lam Phương | HoinVtncs-mgwww.hoinvtncs-mg.de › archive
Translate this pageOct 24, 2020 — Bài Cho Em Quên Tuổi Ngọc viết về một người con gái, và chỉ dành cho giọng nữ hát, nên chưa thấy có nam ca sĩ nào hát bài này. Các danh ca …


Cho Em Quên Tuổi Ngọc Loi bai hat – Đông Quân – Lyric Của …www.lyriccuatui.com › Trữ Tình
Translate this pageOct 7, 2018 — Ca khúc Cho Em Quên Tuổi Ngọc do ca sĩ Đông Quân. thể hiện, thuộc thể loại Trữ Tình. Các bạn có thể nghe, download (tải nhạc) bài hát Cho …


Hợp âm Cho em quên tuổi ngọc – Lam Phương – Hợp Âm Việthopamviet.vn › chord › song › cho-…
Translate this pageHợp âm Cho em quên tuổi ngọc – Intro: [Am][Dm]-[G][C]-[F][Dm]-[Am][E7] 1. Cho [Am] em quên cơn … Nghe bài hát. Ngọc Lan Bm … Xem thêm các ca sĩ khác …


Lam Phương “Cảm ơn người tình” trên xứ mộng Đà Lạtviettimes.vn › lam-phuong-cam-on-n…
· Translate this pageDec 5, 2019 — Ca sĩ Họa Mi và Elvis Phương hát tình ca Lam Phương … Ca khúc « Cho em quên tuổi ngọc« , một tuyệt phẩm được nhạc sĩ Lam Phương sáng … Trong cuộc đời nhiều thăng trầm và hào hoa, những người tình trong đời thực …


Cho Em Quên Tuổi Ngọc – Bảo Yến – Muvi.vnm.muvi.vn › bai-hat
Translate this pageCho Em Quên Tuổi Ngọc – Bảo Yến | Lời bài hát: Cho em quên cơn mộng ảo xa xôi thơ … Bài hát cùng ca sĩ. Mây Tím Chiều Thu. Bảo Yến. Những Đồi Hoa Sim.


Nghe lại những tình khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Lam Phươngvtc.vn › Văn hóa – Giải trí › Sao Việt
Translate this pageNghe lại những tình khúc nổi tiếng của nhạc Lam Phương. 15:15 23/12/2020 Sao Việt. (VTC News) – … Video: Phạm Quỳnh Anh hát « Cho em quên tuổi ngọc« .


Ngọc Anh – Cho Em Quên Tuổi Ngọc (Lam Phương) – Đại Gia …nhac-bolero.com › ca-nhac › ngoc-a…
Translate this pageNhững Ca Khúc TUỔI HỌC TRÒ hay nhất – PBN Collection 2. Lượt Xem: 608.370 … PBN Valentine Collection | Bài Hát Hay Về Tình Yêu (Vol 2). Lượt Xem: …


Nghe lại những bản tình khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Lam … – VOVvov.vn › van-hoa › nghe-lai-nhung-…
· Translate this page6 days ago — Cùng nghe lại một số bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Lam Phương: Error loading … Cho em quên tuổi ngọc – Phạm Quỳnh Anh. Error loading …


album Cho em quên tuổi ngọc | Từ khóa – TinNhac.comtinnhac.com › album-cho-em-quen-t…
· Translate this pageTất cả tin tức về từ khóa: album Cho em quên tuổi ngọc (1 kết quả) … bay bổng là những gì khán giả cảm nhận được sau khi nghe album đầu tay của nữ ca sĩ …


Sắp diễn ra Live concert “Cho em quên tuổi ngọc” của nhạc sỹ …thoibaonganhang.vn › … › Văn hóa
Translate this pageAug 23, 2017 — Live concert “Cho em quên tuổi ngọc” sẽ mang đến một dấu ấn mới, một … ngợi ca và có rất nhiều giai thoại đáng yêu về lịch sử ra đời, và những mối … tân nhạc Việt Nam trong 100 năm qua cùng các giọng hát được công …


Cho Em Quên Tuổi Ngọc – Tác giả Lam Phương | Bài hát …www.pinterest.ca › … › Xoi
Translate this page27-10-2018 – Bài hát: » Cho Em Quên Tuổi Ngọc Loại Tên Bài Hát Tên Nghệ Sĩ Xem Lời Nhạc Xem: … Tuổi Ngọc Lam Phương 206 sheetcakhuc.com/cho-em-quen-tuoi-ngoc-tac-gia-lam-phuong-… … Mọi người cũng thích những ý tưởng này.


Ca sĩ Đức Tuấn giới thiệu album Trọn một kiếp yêu – BÁO SÀI …www.sggp.org.vn › ca-si-duc-tuan-gi…
· Translate this pageJun 18, 2020 — Ca sĩ Đức Tuấn vừa giới thiệu dự án âm nhạc mới nhất Trọn một kiếp yêu … hát chung cùng ca sĩ Ngọc Khuê, Cho em quên tuổi ngọc hát cùng Hồng … Cũng chính với cách hát này mà những âm sắc đẹp trong tiếng hát Đức …


Phạm Quỳnh Anh tiếp tục bị chê dở khi hát ‘Cho em quên tuổi …log.zingnews.com.vn › Âm nhạc
· Translate this pageAug 28, 2018 — Cho em quên tuổi ngọc – Phạm Quỳnh Anh Nữ ca sĩ tiếp tục nhận ý kiến trái chiều … Pham Quynh Anh bi che khi hat nhac Lam Phuong anh 1 … Hát lại những tình khúc nổi tiếng nhiều năm qua Phạm Quỳnh Anh còn vướng …


Nghe lại những bản tình khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Lam …vovlive.vn › Âm nhạc
Translate this page6 days ago — Cùng nghe lại một số bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Lam Phương: Your browser … Cho em quên tuổi ngọc – Phạm Quỳnh Anh. Your browser …


Cho em quên tuổi ngọc – Trương Diễm – Chu Thịchuthi.com.vn › video › cho-em-que…
· Translate this pageJul 19, 2019 — Cho em quên tuổi ngọc Biểu diễn: Trương Diễm Sáng tác: Lam Phương. … Từ những mặt hàng được bày bán, lối thiết kế, bài trí đến cách vận … HCM và là diễn viên của Đoàn Vũ kịch, Nhà hát Giao hưởng Nhạc Vũ kịch TP.


Cho Em Quên Tuổi Ngọc – Đông Kha – tvvn.orgwww.tvvn.org › …
Translate this pageOct 16, 2019 — Vào những năm 1980, Lam Phương ở Pháp, có một người bạn rất yêu văn … Cho Em Quên Tuổi Ngọc có lẽ là bài hát đầu tiên mà nhạc sĩ Lam …


Nhạc sĩ Lam Phương qua đời ở tuổi 83www.bbc.com › vietnam-55420896
Translate this page


Thái Châu phản đối Họa Mi so sánh thí sinh với ca sĩ Bạch Yếnthanhnien.vn › van-hoa › thai-chau-…
· Translate this pageDec 29, 2017 — Đây cũng là bài hát duy nhất nhạc sĩ Lam Phương viết bằng hai thứ tiếng Pháp, Việt. … Thúy Huyền thể hiện ca khúc Cho em quên tuổi ngọc … Trước những lời nhận xét của Họa Mi, Thái Châu cho biết đừng nên so sánh thí …


Bach Yen hat CHO EM QUEN TUOI NGOC – C’EST TOI., pho …tranquanghai.info › bach-yen-hat-ch…
Translate this pageMar 10, 2018 — Bach Yen hat CHO EM QUEN TUOI NGOC – C’EST TOI., pho`ng trà WE, … Bạch Yến hát bản CHO EM QUÊN TUỔI NGỌC ( nhạc và lời : LAM PHƯƠNG), lần đầu bằng tiếng Việt, tiếp theo bằng tiếng Pháp . Nhạc phẩm này được nhạc LAM PHƯƠNG sáng tác đặc … 70 năm tình ca việt nam (1930-2000).


Phạm Quỳnh Anh bị ‘ném đá’ liên tiếp khi dám hát nhạc tình …saostar.vn › am-nhac › pham-quynh-…
Translate this pageAug 26, 2018 — Tuy vẫn có những ý kiến trái chiều nhưng cách hát của Phạm Quỳnh … Nữ ca sĩ cho rằng với bài hát Cho em quên tuổi ngọc, cô muốn khán giả …


Lê Ánh Tuyết, Ploong Thiết hát nhạc tình Lam Phương » Báo …phunuvietnam.vn › le-anh-tuyet-plo…
Translate this pageAug 10, 2017 — nhac-si-lam-phuong-ngay-tre.jpg … Phần lớn các ca sĩ nổi danh hát nhạc Lam Phương đều có sở trường … đêm nhạc Cho em quên tuổi ngọc (diễn ra tại Nhà hát Tuổi trẻ vào tối … Là thành viên của nhóm nhạc nổi danh một thời Con Gái, ca sĩ Lê Ánh Tuyết được biết đến với những ca khúc nhạc nhẹ như …


Nhạc Vàng Trữ Tình – YouTube trong 2020 | Youtube, Ngọc …www.pinterest.com › pin
· Translate this page30-08-2020 – Cho Em Quên Tuổi Ngọc | Hồ Hoàng Yến | Sáng tác: Lam … Trữ Tình là kênh tuyển tập những bài hát hay về những thể loại: nhạc trữ tình,nhạc b.


Hợp âm Cho em quên tuổi ngọc – Lam Phương – VIỆT …hopamhay.com › hop-am › cho-em-…
Translate this pageHướng dẫn đệm hát bài Cho em quên tuổi ngọc : Sáng tác: Lam Phương | Nhạc Trữ tình | Điệu: Boston. + yêu thích 0. Hover me! Created with Raphaël 2.1.0 A …


Nguyên Nhung – Cho Em Quên Tuổi Ngọc – THU LỘCwww.thuloc.com › … › Trữ Tình
Translate this pageMay 20, 2017 — … Cho Em Quên Tuổi Ngọc Album: Tuyển chọn các ca khúc do ca sĩ … gồm 10 bài, với các nhạc phẩm như: Tâm Sự Người Hát Bài Quê Hương, Chiều. … Album: Tuyển chọn những tình khúc do ca sĩ Ánh Tuyết thể hiện gồm …


Cho Em Quên Tuổi Ngọc – La Sương Sương (MP3 + lyric …tinmp3.com › music
Translate this pageNghe bài hát Cho Em Quên Tuổi Ngọc – La Sương Sương có lyric, Tải … Quên Một Người Mất Bao Lâu – Những Bản Hit Cover Nhẹ Nhàng Hay Nhất 2019 …

TRẦN VIỆT HẢI : GS Trần Quang Hải – Một nhân tài âm nhạc quốc tế – Môt nghệ sĩ du mục âm nhạc bôn ba khắp địa cầu

VietHai Tran is with Son Nguyen and 72 others.

9h  · GS Trần Quang Hải – Một nhân tài âm nhạc quốc tế – Môt nghệ sĩ du mục âm nhạc bôn ba khắp địa cầu

.GS Trần Quang Hải có lúc bị vướng một căn bệnh hiểm nghèo, nhưng ông đã thoát tử thần trong đường tơ kẽ tóc.

Phóng viên Nguyên Hồng từ California điện đàm viễn liên xin GS Trần Quang Hải cho biết bí kiếp nào để thoát chứng căng xe để sung lực mạnh mẽ khoẻ re như con bò kéo xe. GS Trần Quang Hải cười vui hớp một ngụm rượu gài cơm rượu nếp than. Ông ông toubib tây bắt mạch 18 tháng thôi. Xong ông vẫn tiếp tục ngao du sơn thuỷ trình diễn âm nhạc. Khi ông đến Quân Cam Nam Cali, ông lang Hồng Thái từ San José mời ông thử bùa linh khi GS Trần Quang Hải xơi sushi cá sống, ông nhạc sĩ ăn nhiều ginger pickles và wasabi, 2 linh dược brassicaceae (từ 2 dược chất wasabi horseradish/ Armoracia rusticana, và green mustard/collard greens chứa bùa thần dược glucosinolate) và linh dược zingerone (hỗn hợp trong chất gừng cay là zingiberene và bisabolene), mấy con tế bào ung thư đuối sức ngay, nhưng chúng chưa ngủm củ tỏi hoàn toàn. Nhị lang Nguyễn Quang và Mạnh Chi Tequila-Corona ra toa balut (hột vịt lộn, thai nhau bổ tinh vịt, chứa enriched proteins, powerful antioxidants) và dika (Irvingia gabonensis tức soài). Nhà văn Nguyễn Quang thết 2 món siêu linh dược soài Kent mắm dường dùng nhiều ớt chỉ thiên (chất cay capsaicin) cùng bùa balut với nhiều rau răm (Persicaria odorata chứa chất kháng khuẩn mạnh kinh khủng (Polygonum odoratum contained strong antibacterial substances. Ông lang 6 Mạnh Chi bê đến siêu đại bổ linh dược Corona magarata ngâm citrus cam, chanh, tắc quít,… khảo cứu y khoa study ngợi khen như Corona margarita citrus sips instantly cleansing your stomach, khi ruột ta sạch bót, đường tiêu hóa cơ thể sạch trơn vii2 đã xua đuổi hết chất bẩn tạo ra tế bào viêm bướu…ta dược cancerfree dễ ợt như trở bàn tay thôi nhé.

GS Trần Quang Hải cho biết ngoài những siêu linh dược kể trên 3 yếu tố âm nhạc, nụ cười và bạn bè giúp ông sớm phục hồi cơn bệnh, nay ông bay đường xa chu du Nam Phi, Nam Dương, Ba Tây, Kuwait, Vienna,… ca hát 7, 8 tiếng ông cảm nhận không mệt mỏi; Ngược lại, phương diện tinh thần yêu đời hơn, tinh thần phấn chấn hơn như ông Hollywood Arnold Schwarzenegger.

Chúng tôi xin chia vui cùng GS Trần Quang Hải. Lời cuối xin bà con lưu ý cơ thể mỗi người mỗi khác. Chớ dùng siêu linh dược trên không có sự giám định của y sĩ gia đình. GS Trần Quang Hải có bùa linh dược Ethnomusicologie yểm trợ cùng 3 ông giáo y nhân bạn bè phò trợ: Hoàng Sa Houston, Vi Sơn Houston và Mặc Vũ Hapkido aka Golden Crane Master. Ông giáo Quyên Di bốc quẻ GS Trần Quang Hải sẽ bay đi bay về băng biển Thái Bình dễ thôi. Ngày hội ngộ Long Beach ngày nào NS Trần Quốc Bảo đi lạc campus cả tiếng khi cơm cháo show gần nấu nhừ, GPS mất sóng roaming …

Lần sau em khi yêu cầu NS Quốc Sĩ chơi bài Torna a Sorrento để ông bạn Trần Quốc Bảo « Come Back to Sorrento CSULB » mà không dù hoa lạc lối nhé….

https://www.youtube.com/watch?v=xaMvwxPUBck…Việt Hải Los Angeles, 12/15/2020.———————————————————————Links:https://tranquanghai1944.com/…/tran-viet-hai-tran…/http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content…https://thanhthuy.me/…/buoi-ra-mat-sach-cua-giao-su…/https://tranquanghai1944.com/…/tran-viet-hai-doi-dong…

/—————————————————————————-

Trần Quang Hải : Dân Tộc Nhạc Học Là Gì ?Dân tộc nhạc học là gì ?

Đối với người Tây phương , bộ môn học này cũng chưa thu hút đông người như môn nhạc học (musicology). Dân tộc nhạc học (Ethnomusicologie / Pháp, Ethnomusicology / Anh – Mỹ, Musikethnologie / Đức) có thể nói là một bộ môn nghiên cứu âm nhạc còn có đôi phần mới lạ đối với Việt Nam . Bộ môn này khởi thủy từ thế kỷ thứ 19, tượng hình từ đầu thế kỷ thứ 20 và phát triển mạnh ở các quốc gia Tây phương từ sau thế chiến thứ hai (1939-1945).

Vì lý do nào đã thúc đẩy phong trào nghiên cứu âm nhạc truyền thống bác học và dân gian càng ngày càng mạnh như thế ? Tại sao các nhà dân tộc nhạc học (ethnomusicologist), dân tộc học (anthropologist), ngôn ngữ học (linguist), xã hội học (sociologist) « tranh dành » từng mãnh đất nghiên cứu, từng sắc tộc, từng loại nhạc, từng tiếng nói để ghi lại trên băng nhựa, trên phim ảnh, trên giấy trắng, trên khuôn nhạc, những bài hát cổ xưa do các cụ gần đất xa trời hát lại, những huyền thoại cổ tích bằng thổ ngữ sắp bị mất đi vì sắc tộc đó chỉ còn vài người sống só t trên thế gian. Sự hấp tất vội vàng này có lý do của nó, nhứt là từ lúc các cường quốc Âu Mỹ bắt đầu thôn tính các quốc gia nhược tiểu của mấy châu khác làm thuộc địa . Sự hiện diện của người da trắng với phong tục vàtôn giáo của họ đãlàm đảo lộn tất cả đời sống tinh thần, bóp méo một số phong tục nghìn xưa của các xứ bị trị . Sự phát sinh kỹ nghệ đã làm biến mất một số lớn bài hát và nhạc dính liền với việc cày cấy, gặt lúa, đạp nước, dệt vải, trong khi máy móc hóa đời sống nông quê, và biến nơi này thành những tỉnh lỵ nhỏ . Sự thay đổi này có ảnh hưỏng lớn đối với sự sống còn của âm nhạc và phong tụcd cổ truyền của những quốc gia bị thống trị .

Vấn đề nghiên cứu dân tộc nhạc học đòi hỏi rất nhiều hiểu biết về dân tộc học (Ethnologie/Pháp, Cultural Anthropology /Anh Mỹ), ngôn ngữ học (linguistique/Pháp, linguistics/ Anh), nhạc học (musicologie/Pháp, musicology/Anh), sinh ngữ (langues vivantes/ Pháp, foreign languages/Anh), xã hội học (sociologie/Pháp, sociology/Anh), tâm lý học (psychologie/Pháp, psychology/Anh), khảo cổ học (archeologie/Pháp, archeology/Anh), âm thanh học (acoustique/Pháp, acoustics/Anh) và luôn cả tinh học (informatique/Pháp, information science/Anh) và dĩ nhiên phải biết nhạc pháp hay nhạc lý (solfège/ Pháp, solfeggio/Anh).

Đây chỉ là một bài sơ khảo về dân tộc nhạc học với mục đích giới thiệu bộ môn nghiên cứu mới mẻ này đến với các bạn, chứ không đi sâu vào chi tiết . Bài này gồm có ba phần: lịch trình quá khứ của dân tộc nhạc học sẽ đưa các bạn trở về quá khứ để tìm nguồn cội của ngành chuyên khoa âm nhạc cổ truyền này ; định nghĩa dân tộc nhạc học theo nhiều quan điểm khác nhau để cho thấy sự thay đổi đường lối nghiên cứu theo từng giai đoạn diễn tiến, cững như những trường phái Âu châu và Mỹ châu, và sau cùng lả sự phát triển của dân tộc nhạc học hiện nay .

LỊCH TRÌNH QUÁ KHỨ CỦA DÂN TỘC NHẠC HỌC

1. Giai đoạn 1 (1779-1850)

Những tài liệu đầu tiên được dùng sau này cho việc nghiên cứu dân tộc nhạc học bao gồm các bài du ký, hồi ký, hay ức ký của nhà văn du lịch, nhàthám hiểm, hay các ông cố đạo thiên chúa giáo . Những tác phẩm đầu tiên về « nhạc ngoài Âu châu » (musique extra-européenne – extra-european music) phải kể đến quyển « Le Mémoire sur la musique chinoise » (Tiểu luận về nhạc Trung quốc) do ông cố đạo Joseph Marie Amiot viết vào năm 1779 và tiếp đó là quyển « La description historique, technique et littéraire des instruments de musique des Orientaux » (Miêu tả lịch sử, kỹ thuật và văn chương những nhạc khí Đông Phương) được viết vào năm 1813. Ông Guillaume Villoteau, dưới thời Nã phá luân đệ nhất, đã đi khảo sát nền văn minh Ai cập để sau đó vào năm 1816, cho phát hành cuốn « Mémoire sur la musique de l’Antique Egypte » (Tiểu luận về âm nhạc Cổ Ai cập). Phải chờđến năm 1832, ông Francois Joseph Fétis, nhà nhạc học đầu tiên đã đưa những điểm mới mẻ vào trong hệ thống ý tưởng đại cương về âm nhạc trong một quyển sách « Résumé philosophique de l’histoire de la musique » (Khái niệm triết lý về lịch sử âm nhạc). Quyển « Histoire gérérale de la musique » (Lịch sử âm nhạc toàn thư) chưa viê’t xong thì ông Fétis từ trần . Quyển này trình bày quan điểm cho rằng nhạc Tây phương bác học không phải là nhạc duy nhất trên quả địa cầu này mà còn có nhiều nền văn minh âm nhạc khác trên thế giới cũng đáng kể lắm .

2. Giai đoạn 2 (1859-1914)

Trong giai đoạn này , một số lớn sách vở ghi chép nhạc dân gian ở Âu châu đã được xuất bản khá nhiều . Phong trào lãng mạn bên Âu châu đã chứng tỏ sự lưu ý đến nhạc dân gian Âu châu qua một số bài vở của vài văn sĩ Pháp như Th. Hersart de la Villemarque ở Bretagne (miền Tây xứ Pháp), bà George Sand ở vùng Berry (miền Trung Tây xứ Pháp). Trong khi đó, Frédéric Chopin (Ba Lan) và Franz Liszt (Hung Gia Lợi) , hai nhạc sĩ nổi tiếng thời đó, đã dùng nhạc cổ truyền của xứ họ làm nguồn hứng cho sáng tác của hai ông .

Động cơ quan trọng nhứt trong việc bảo vệ nhạc cổ truyền là máy hát (phonographe – phonograph) lại được phát minh vào thời kỳ này . Năm 1869, ông Charles Cros, người Pháp, đã sáng chế máy « paléophone » cùng nguyên tắc với máy « phonographe à cylindre » (máy hát ghi âm bằng ống dĩa) do ông Thomas Edison, người Mỹ, thực hiện năm 1878. Từ năm 1877 tới 1892, ông Emile Berliner đã tưởng tượng và thực hiện hệ thống dĩa hát thay vì ống dĩa nhưng phải đợi tới sau thế chiến thứ nhứt (1914-18) , dĩa hát 78 vòng mới được tung ra trên thị trường. Sự phát minh máy hát ống dĩa đã góp phần rất lớn trong việc tàng trữ nhạc dân tộc .

Năm 1890 nhànghiên cứu nhạc dân tộc Mỹ, Walter Fewkes, đã sử dụng máy hát ống dĩa để ghi một số bài hát của dân da đỏ Zuni . Nhờ vậy phần ghi nốt nhạc các bài hát này có phần chính xác hơn nhiều nhờnghe nhạc thu trên ống dĩa (cylindre – cylinder) nhiều lần để có đủ thời giở kiểm chứng và sửa đổi phần ký âm. Ở Âu châu, ông Bela Vikar, thuộc xứ Hung Gia Lợi, dùng máy hát để ghi lại các ca khúc vào năm 1894 .Những ống dĩa được đem trưng bày ở Paris nhân dịp hội chợ triển lãm hoàn vũ năm 1900 (Exposition Universelle – World Fair). Ở Đức, nhà bác học Carl Stumpf (1848-1936) đề xướng trong quyển « Tonpsychologie » (Âm thanh tâm lý học), xuất bản năm 1883, một phương pháp mới để nghiên cứu âm giai : khảo sát âm giai bằng đơn vị âm trình « savart ». Một « savart » bằng 1/25 của đơn vị bán cung. Hai năm sau đó, bên Anh quốc, nhàbác học Alexander John Ellis (1814-1890) đã làm chấn động thế giới nhạc học trong một bài nghiên cứu « On the Musical Scales of Various Nations » (Về các thang âm của các quốc gia khác nhau) in vào năm 1885. Ông Ellis đã đặt ra một đơn vị đo âm trình mới lấy tên là CENT (một CENT bằng 1/100 của một bán cung). Với cách đo này, ông Alexander Ellis đã chia âm giai bát độ 12 bán cung làm 1200 cents. Với phương pháp này, có thể ghi chính xác khoảng cách giữa các quãng của bất cứ âm giai nào thuộc bất cứ truyền thống âm nhạc nào trên thế gian này . Giới nghiên cứu nhạc dân tộc xem ông Ellis như là nhà tiền phong trong ngành dân tộc nhạc học .

Những đóng góp đáng kể khác như hai cuộc triển lãm hoàn vũ 1889 và 1900 ở Paris (Pháp), và việc thành lập âm thanh viện sơ khai (archives de musique primitive – archives of primitive music) trước hết ở Mỹ, rồi ở Wien (Áo quốc) và ở Berlin (Đức). Âm thanh viện Berlin (Phonogrammarchiv) được hai ông Carl Stumpf và Erich Von Hornbostel sáng lập vào đầu thế kỷ 20 tàng trữ tài liệu âm thanh vô giá . Người ta tưởng tài liệu chứa trong âm thanh viện Berlin bị thiêu hủy trong kỳ đại chiến thứ hai vừa quạ Nhưng sau khi xứ Đức được thống nhứt, các nhà nghiên cứu nhạc học Đông Đức cũ đã tuyên bố rằng những tài liệu âm thanh của Phonogrammarchiv được rải rác khắp nơi ở cựu Đông Đức. Hiện nay kho tàng âm thanh này đang được chính quyền Đức giao cho một nhà nghiên cứu Đức, TS Susan Ziegler phân loại và làm thành phiếu điện tử để có thể phổ biến sau khi mang về Berlin để tái lập viện âm thanh như xưa vì Berlin được chọn làm thủ đô của xứ Đức thống nhứt (tháng 10, 1991). Năm 2000, vào tháng 9, Berlin đã tổ chức hội nghị quốc tế về âm thanh viện và một tài liệu gồm 4 CD và hơn 200 trang được xuất bản để đánh dấu một trăm năm lịch sử âm thanh và nhạc cổ truyền tàng trữ tại Berlin . Điều vui mừng là trong số tài liệu trong bộ dĩa lịch sử lại có một tài liệu về nhạc Việt Nam . Đó là tài liệu thu vào năm 1985 tại Viện bảo tàng Berlin với tiếng đàn tranh độc tấu của nhạc sĩ Trần Quang Hải qua bài Lưu thủy , Bình bán , Kim Tiền .

Ở Pháp, bác sĩ Azoulay đã thu thanh một số dĩa ống nhạc của các quốc gia như Pháp (vùng Bretagne), Nhựt Bổn, Trung Quốc, Việt Nam, Sénégal (Phi Châu) và Caucase (Nga). Dĩa ống này được tàng trữ trước kia tại một nơi gọi là Musée Phonographique de la Société d’Anthropologie (viện bảo tàng âm thanh của hội nhân chủng học) và hiện nay được bảo lưu tại Département d’ethnomusicologie, Musée de l’Homme, Paris (viện dân tộc nhạc học, viện bảo tàng Con Người) . Trong số tài liệu âm thanh này có một số dĩa ống về tiếng nói và nhạc điệu Việt Nam được thu thanh vào năm 1900. Chỉ hơi tiếc là tài liệu nghe rè quá, người hát lại không phải là nghệ sĩ chuyên nghiệp mà là những người nông dân được gởi sang Pháp nhân kỳ triển lãm hoàn vũ nên nghệ thuật hát không diễn tả được những luyến láy tinh vi của các điệu ngâm cũng như cách hát dân ca Quan Họ .

Năm 1911, Musée de la Parole et du Geste (Viện bảo tàng tiếng nói và động tác) được thành lập ở Paris .

3. Giai đoạn 3 (1914-1945)

Đại chiến thứ nhứt làm gián đoạn sự thu thập nhạc dân gian. Ở Anh quốc, Henry Balfour thu nhặt một số nhạc khí cổ truyền hiện được tàng trữ tại viện bảo tàng Pitt Rivers ở tỉnh Oxford . Tại Gia nã đại, Marius Barbeau thu vào dĩa ống hàng nghìn bài dân ca cu ?a người da đỏ, dân ca Pháp và Anh. Với tài liệu này, ông Marius Barbeau đã cùng nhà ngôn ngữ học Edward Sapir đồ ng viết quyển « Folksongs of French Canada » (Dân ca Gia nã đại vùng nói tiếng Pháp).

Cùng lúc đó, tại Pháp, M. và R. d’Harcourt xuất bản quyển « La musique des Incas et ses survivants » (Nhạc dân ca Anh-ca và sự tàn dư của âm nhạc sắc tộc này). Hai ông Lavignac và Lionel de La Laurencie đã tổng hợp những bài nghiên cứu nhạc ngoài Âu châu (musiques extra-européennes – extra european musics) trong quyển bách khoa tự điển âm nhạc (Encyclopédie de la musique et Dictionnaire du Conservatoire – 1912-1924).

Ở Hòa Lan, nhà dân tộc nhạc học trứ danh, cha đẻ của danh tử ETHNOMUSICOLOGY, Jaap Kunst, sưu tầm nhạc xứ Nam Dương từ nhiều năm qua . Trong khi đó, tại Anh quốc, ông Henry G. Farmer khởi sự công trình nghiên cứu nhạc Ả rạp . Tại Hung Gia Lợi, nhà soạn nhạc trứ danh Bela Bartok đã ký âm rất nhiều bản dân ca không những của Hung Gia Lợi mà còn luôn cả các xứ Lỗ Ma Ni, Thỗ Nhĩ Kỳ, và Algeria .

Giữa 1920 và1930, các ông George Herzog, Charles Seeger, và Marius Schneider đã ký âm trong một số dân ca phối hợp phương pháp nhân chủng học vànhạc học được Milton Metfessel phát hành năm 1928. Curt Sachs đã viết một số sách quan trọng có ảnh hưởng sâu đậm đối với lịch sử nhạc học . Năm 1928 ở Mỹ nhiều viện nhạc học mọc lên như nấm .

Ở xứ Lỗ Ma Ni (Roumanie – Rumania), nhà bác học trứ danh Constantin Brailoiu (1893-1958) bắt đầu nghiên cứu thu thập nhạc dân gian và thành lập Archives du Folklore (Sở lưu trữ văn học dân gian) vào năm 1928 tại Bucarest . Cùng một năm, ở Paris, tiếp đón sự chào đời của Département d’organologie musicale (viện nghiên cứu nhạc khí dân tộc) ở Musée d’ethnographie du Trocadéro (Musée de l’Homme bây giờ) được đổi tên lại là Département d’ Ethnologie musicale vào năm 1937 khi ông André Schaeffner (1895-1980), tác giả quyển « Les Origines des Instruments de Musique » (Nguồn gốc các nhạc khí) xuất bản năm 1936 và là người đã khai sáng phương pháp xếp loại nhạc khí rất đặc biệt và lôgíc, đến nhậm chức . Tên sau cùng được đổi lại và được giữ luôn cho tới bây giờ là Département d’ Ethomusicologie (viện dân tộc nhạc học) từ năm 1965 trở đi .

Năm 1931, hội chợ triển lãm thuộc địa (Exposition Coloniale / Colonial Fair) ở Paris đã được Musée de la Parole et du Geste ghi âm trên một số dĩa 78 vòng về nhạc cổ truyền của các quốc gia thuộc địa của Pháp thời đó . Trong số dĩa hát tôi códịp nghe những điệu cải lương, dân ca ba miền của Việt Nam tại Musée de l’Homme (nơi tôi làm việc từ năm 1968) . Ngoài ra Musée Guimet ở Paris cũng có một số dĩa hát quan trọng về nhạc Á châu và trong số đó có nhạc Việt Nam .

Từ năm 1931 tới 1933, dưới sự điều khiển của nhà dân tộc nhạc học tài ba của Pháp, André Schaeffner, trong một chuyến đi nghiên cứu ngữ học và nhạc học bên Phi châu đã mang về Pháp một tài liệu âm thanh rất phong phú và quí giá về nhạc Phi Châu .Năm 1933, nhà bác học Đức Erich Von Hornbostel đã xuất bản bộ dĩa « Musik des Orients » (Nhạc Đông Phương) gồm hơn 10 dĩa hát 78 vòng về nhạc Á châu nói chung (sau này có tái bản bằng dĩa 33 vòng). Năm 1933, hội nghị về nhạc ả rạp ở Le Caire (thủ đô xứ Ai cập – Egypte/Egypt) đã được ghi trên dĩa hát 78 vòng với gần 200 dĩa . Tài liệu này hiện được tàng trữ tại Musée Guimet và tại Phonothèque Nationale (National Sound Library – Âm thanh viện quốc gia) ở Paris . Musée de l’ Homme có một bản sao tài liệu nhạc ả rạp này trên băng nhựa . Một phần tài liệu này đã được Phonothèque Nationale xuất bản bằng dĩa laser (compact disc) vào năm 1988 tại Pháp .

Trong thời gian này , bên Nhựt Bổn, giáo sư Tanabe Hisiao đã nghiên cứu nhạc cổ truyền Nhựt Bổn . Bên Ấn độ cũng có một số nhạc học gia như Arnold Bake bắt đầu thâu trên dĩa các bài dân ca và nhạc cổ điển xứ Ấn độ . Năm 1939, chuyến đi nghiên cứu nhạc dân tộc vùng Basse Bretagne (Pháp) mang về một số tài liệu quan trọng đầu tiên về dân ca Pháp cho âm thanh viện ở Musée de l’ Homme . Tài liệu này được chuyển giao lại cho Musée National des Arts et Traditions Populaires ở Paris (Viện bảo tàng quốc gia nghệ thuật và truyền thống dân gian ) .

Ở Việt Nam, khoảng từ 1925 tới 1938, có hãng dĩa Pathé và Beka của Pháp đã thâu nhiều dĩa hát 78 vòng các điệu hát tài tử miền Nam do các nghệ sĩ của gánh hát của Thầy Năm Tú ở Mỹ tho và một số dĩa thâu Ca Huế miền Trung .

Giai đoạn này biểu tượng sự hình thành của môn dân tộc nhạc học trên thế giới . Những âm thanh viện, những chuyến đi nghiên cứu dân tộc học, dân tộc nhạc học đã đặt nền tảng vững chắc cho giai đoạn sau thế chiến thứ hai

4. Giai đoạn 4 (1945 trở đi)

Vừa khi chấm dứt chiến tranh, sự tái thiết tình hữu nghị quốc tế, sự tiếp tục nghiên cứu khoa học , sự trao đổi nghiên cứu qua các hội nghị, các buổi tham luận quốc tế đã thúc đẩy một cách mãnh liệt sự phát triển nhanh chóng trong việc thu thập tài liệu âm nhạc của các quốc gia chậm tiến .

Giai đoạn quan trọng bắt đầu từ năm 1950 bằng sự phát triển việc khảo cứu tại chỗ qua sự tìm tòi nhạc cổ truyền thế giới của các nghiên cứu gia Tây phương, sự có mặt của những nhà nghiên cứu thuộc đệ tam thế giới , sự hình thành của nhiều viện nghiên cứu dân tộc nhạc học tại Âu Mỹ, và sự chào đời của hai tập san nghiên cứu nhạc dân tộc : « Journal of the International Folk Music Council (IFMC) năm 1949 tại Gia nã đại (từ năm 1981 đời về New York đổi thành « Yearbook of the International Council for Traditional Music – ICTM, và từ năm 2001, lại dời về trường đại học UCLA ở Los Angeles, California, Mỹ), và « Ethnomusicology » năm 1955 tại Mỹ . Nhiều sách về lý thuyết, phương pháp dân tộc nhạc học bắt đầu được xuất bản .

Từ năm 1970 trở đi, ảnh hưởng lớn mạnh của phương pháp các khoa nhân chủng học (anthropologie – anthropology), ngôn ngữ học (linguistique – linguistics), và tín hiệu học (sémiologie – semiotics), càng ngày càng thấy rõ đối với ngành dân tộc nhạc học . Phương pháp nghiên cứu được chia ra làm hai nhóm :

Nghiên cứu từ bên trong truyền thống (étude interne – internal study hay cultural insider) có nghĩ a là người đi nghiên cứu âm nhạc phải sống ở nơi phát sinh ra loại nhạc đó ít nhứt là một năm để có một cái nhìn toàn diện về sinh hoạt âm nhạc , biết hát hay biết đàn và nói được tiếng nói của dân tộc mình nghiên cứu .

Nghiên cứu từ bên ngoài truyền thống (étude externe – external study hay cultural outsider) nghĩa là nghiên cứu không cần phải biết nói tiếng của dân tộc mình nghiên cứu, không cần phải biết đàn hay hát và không cần phải lưu trú dài hạn . Những người này chỉ cần biết phương pháp nghiên cứu tận tường, biết ký âm , phân tích và làm việc nghiên cứu lý thuyết nhiều hơn và có tính cách đối chiếu .

Khoảng năm 1950 mở màn một kỷ nguyên mới trong lĩnh vực nghiên cứu: sự phát triển máy thu thanh (magnétophone / tape recorder) . Với máy thu thanh ngày càng nhẹ vềtrọng lượng, kỹ xảo về máy móc, hoàn hảo về âm thanh , với dĩa hát 33 vòng có thể nghe nửa giờ một mặt dĩa, rồi tới dĩa laser (disque compact / compact disc) có thể nghe trên một giờ đồng hồ, dĩa laser videodisque (laser videodisc) vừa xem hình, vừa nghe tiếng, và gần đây nhứt là CD Rom vừa có thể xem hình, nghe nhạc và đọc chữ . Một dĩa CDRom thay thế cho cả một cuốn sách, nhiễ CD và nhiều phim videọ Những máy thu thanh như DAT, hay Minidisc thâu âm thanh bằng số (enregistrement numérique hay digital / numeric hay digital recording), thay đổi hoàn toàn phương pháp đi nghiên cứu điền dã (recherche sur le terrain / field research). Máy quay phim từ phim 8mm câm , tới super 8, rồi phim 16 ly với số phút quay phim giới hạn vài phút cho tới các máy quay video (caméscope / camcorder) là loại máy thu hình video đủ loại (Umatic, Betamax, VHS, Super VHS, 8mm, Hi-8 Pro, DVC,vv…) với hình thật rõ theo hệ thống haute définition 400 đường và lên tới 700 đường (700 lignes – 700 lines), nhẹ cân, và âm thanh số (son numérique – numeric sound / enregistrement digital – digital recording), dân tộc nhạc học đã đi một bước rất dài .

Chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi 50 năm (1951-2001), kết quả vàsố lượng sản xuất về sách vở , báo chí, dĩa hát băng nhựa, phim ảnh đã vượt xa cả trăm lần tổng số lượng sản xuất của gần 200 năm trước (1779-1950) . Bao nhiêu đó đủ cho thấy sự tiến bộ khoa học và kỹ thuật đã giúp đỡ rất nhiều trong công cuộc bảo vệ vốn cổ .

Giai đoạn thứ tư này có thể tóm tắt bằng bốn điểm quan trọng:

Dĩa hát nhạc cổ truyền được phổ biến rộng rãi, và từ năm 1983 trở đi đã có trên 15.000 dĩa laser về nhạc cổ truyền đã được phát hành trên thế giới . Đó là nhờ sự nổ lực của một số nhà sản xuất dĩa như Folkways Records (đã nhập vào Smithsonian Institute, Washington DC từ khi ông Moses Asch, sáng lập viên của Folkways từ trần vào giữa thập niên 80, Library of Congress, Lyrichord, Nonesuch bên Mỹ , Musée de l’Homme, Ocora, Le Chant du Monde, Playasound, Arion, Auvidis, Maison des Cultures du Monde, Buda bên Pháp, Philips bên Hòa Lan, Barenreiter Musicaphon, Museum Collection Berlin bên Đức, Topic, Argo, Leader , Tangent Records bên Anh, Victor, Columbia, Toshiba, JVC bên Nhựt, Albatros bên Ý, Melodia bên Nga, vv….

Thiết lập phương pháp mới trong cách làm việc khi đi nghiên cứu tại chỗ .

Những nguyên tắc làm việc trong phòng thí nghiệm, vì tài liệu thu vào băng nhựa sẽ được các nhà nghiên cứu ở các trung tâm nghiên cứu nghe và phân tách trong các căn phòng được trang bị đầy đủ máy móc tối tân hiện đại

Kỹ xảo hóa các bộ máy đo âm thanh, chẳng hạn như các máy hiện giờ được dùng tại Pháp như Sonagraph (máy cho ta hình ảnh của bất cứ âm thanh nào, vừa có màu sắc cho thấy rõ chỗ nào hát mạnh nhẹ ra sao ), Oscilloscope (máy ghi tất cả cao độ các nốt nhạc một cách tinh vi vã sẽ giúp ta biết thêm các quãng bất thường), melograph (máy ghi bằng các lằn về cao độ các làn điệu), stroboconn (máy đo chính xác cao độ các âm thanh mà lỗ tai con người đôi khi không nghe nỗi) spectograph (máy cho ta thấy bồi âm mà giọng hát có thể tạo ra được), và luôn cả máy vi tinh (micro-ordinateur PC computer), loại Macintosh và IBM mới nhứt hiện nay có thể giải quyết nhiều vấn đề về chép nhạc, chuyển thể, chuyển hệ, chuyển cung với các bộ ghi chép nhạc như ENCORE, NOTEWRITER, PROFESSIONAL COMPOSER, vv… Gần đây nhứt, có một vài chương trình đo âm thanh như Frequency analyzer, GRAM cho IBM, hay Soundsculpt cho Macintosh giúp cho các nhà nghiên cứu có thể tự phân tách các làn điệu , kỹ thuật giọng, tiết tấu một cách dễ dàng và ít lệ thuộc vào các máy đo khổng lồ tại các phòng thí nghiệm .

Sự tiến bộ vượt bực này đã đóng góp một phần rất lớn trong việc phân tách làn điệu và tiết tấu, giúp cho những nhà nghiên cứu nhạc học giải quyết nhanh chóng những khúc chiết trong nhạc ngữ cổ truyền dân tộc mà cách đây gần một thế kỷ phải mất nhiều thì giờ để ký âm, vận dụng trí nhớ và nhiều khi còn viết sai làn điệu khi ký âm .

ĐỊNH NGHĨA DÂN TỘC NHẠC HỌC

Những ai học về dân tộc nhạc học đều biết từ vựng này được dùng hiện nay ETHNOMUSICOLOGY (dân tộc nhạc học) là do nhà nhạc học Hòa Lan Jaap Kunst (từ trần năm 1958) đề nghị

Năm 1950, Jaap Kunst , trong một bài vềnhạc học, có đề nghị danh từ « ethno-musicology » (với dấu gạch nối ngang) để thay thế danh từ « comparative musicology » (đối chiếu nhạc học). Ông định nghĩa dân tộc nhạc học như sau : « nghiên cứu nhạc của các giống dân loài người ngoại trừnhạc cổ điển Tây phương và dân nhạc Âu châu » (study of the music of the races of man, except Western classical music and European folk music). Đến năm 1958, Jaap Kunst mới thêm vào định nghĩa trên phần nghiên cứu về khía cạnh xã hội trong âm nhạc .

Khoảng đầu thế kỷ thứ 20, các nhà nhạc học dùng chữ « musicologie comparée / Comparative Musicology » (đối chiếu nhạc học) do chữ Đức là « Vergleichende Musikwissenschaft » mà ra . Sau đó, một số từ vựng khác được thấy xuất hiện đầu tiên trên các bài nghiên cứu nhạc học . Tôi chỉ lựa hai sinh ngữ tiêu biểu nhứt cho môn nghiên cứu này là Pháp và Anh ngữ để giản tiện hóa trong phần trình bày . Chẳng hạn như :

– « musique populaire » (Pháp) / dân nhạc

– « musique folklorique » (Pháp)/ « folk music » (Anh) / dân nhạc

– « musique exotique » (Pháp) / exotic music » (Anh )/ nhạc nước ngoài

– « folklore musical » (Pháp )/ dân nhạc

– « ethnographie musicale » (Pháp) / dân tộc nhạc ký âm học

– « musique ethnique (Pháp/ ethnic music » (Anh) / nhạc sắc tộc

– » musique non-européenne (Pháp) / non european music » (Anh)/ nhạc không Âu châu

– » musique extra-européenne (Pháp) / extra european music » (Anh) / nhạc ngoại Âu châu

– « ethnologie musicale »(Pháp )/ dân tộc nhạc học

– « musique primitive (Pháp)/ primitive music » (Anh)/ nhạc sơ khai

Danh từ đối chiếu nhạc học sống tới năm 1950 rồi được thay thế bằng một danh từ khác « ethno-musicology » (với gạch ngang). Sau đó chữ « ethnomusicology » được ghép chung lại thành một chữ từ năm 1957 . Trong tương lai, trên đà phát triển có thể đi tới chỗ tách rời chữ này ra làm hai và có thể sẽ trở thành « ethnomusic-ology » không chừng ?

Dân tộc nhạc học, theo nghĩa rộng tối đa, gồm tất cả biểu lộ âm thanh có tổ chức (manifestation sonore organisée / organized sound manifestation) . Trong thực tế, vì sự cắt xén cần thiết của khoa học làm thành nhiều bộ môn khác nhau, nhạc cổ điển Tây phương được đưa sang lĩnh vực nhạc cổ điển (musicologie classique / classical musicology) . Tại sao chỉ « biểu lộ âm thanh » (manifestion sonore / sound manifestation) mà không là « âm nhạc » (musique / music) ? Khi nói tới « nhạc bác học » (musique savante / learned music) tức là có sự hiện hữu của « nhạc không bác học » (musique non savante / non learned music) .

Thế nào là nhạc bác học và thế nào là nhạc không bác học ?

Dựa trên quan điểm và cơ sở nào để chỉ định như thế ?Nhạc bác học, theo định nghĩa chung, là loại nhạc có một truyền thống, một lý thuyết, một cách viết nhạc với tên nốt nhạc, một lịch sử . Tất cả loại nhạc nào không hội đủ những điều kiện trên sẽ thuộc vào loại nhạc không bác học và được gọi bằng nhiều từ vựng khác nhau : « musique populaire / folk music » (nhạc bình dân), « musique ethnique/ethnic music » (nhạc sắc tộc), « musique folklorique / folk music » (nhạc dân gian), « musique traditionnelle / traditional music » (nhạc truyền thống) .

Theo định nghĩa nhạc bình dân (musique populaire / folk music) rõ ràng là loại nhạc phát xuất từ dân chúng . Nhưng nhạc bình dân cũng có thể chỉ định một loại nhạc nổi tiếng trong quần chúng . Thí dụ những ca khúc của Ngô Thụy Miên hay của Phạm Duy là nhạc bình dân có nghĩa là nhạc được dân chúng ưa chuộng (les chansons de Ngô Thụy Miên ou celles de Phạm Duy sont « populaires » trong nghĩa popsongs / pop music) . Nghiên cứu các ca khúc tân nhạc có tác giả không thuộc phạm vi của dân tộc nhạc học . Nhạc sắc tộc (musique ethnique / ethnic music) là cách gọi có tính cách giới hạn . Chữ sắc tộc bị một số nhà nghiên cứu tranh cãi và không được nhất trí chấ p nhận . Nhạc dân gian (musique folklorique / folk music) chỉ định những loại nhạc được nghe trong dân gian . Danh từ « folklore » (khoa học dân gian ) và tĩnh từ « folklorique » đã được giới nghiên cứu nhạc dân gian ở Đông Âu (Hung gia lợi, Lỗ Ma Ni) dùng luôn cho tới ngày nay . Danh từ có thay đổi ý nghĩa sau thế chiến thứ hai . Nghĩa thứ nhứt là để chỉ định phong trào « musique folk / folk music » tức là loại nhạc dân gian do thế hệ trẻ ở thành thị học nhạc dân gian và hát lại với nhạc khí và hòa âm mới để phù hợp với tính cách trẻ trung của thế hệ mình đang sống . Nghĩa thứ hai là nhạc do những nhóm địa phương (groupes locaux / local groups) hay quốc gia (ensembles nationaux / national ensembles) muốn bảo lưu truyền thống ca vũ nhạc bằng cách tham gia những đại nhạc hội quốc tế qua những màn múa dân tộc hay ca nhạc dân gian . Vì lý do thiếu tính cách thuần túy và hay thích làm màu mè có vẻ « tài tử » hơn là chuyên nghiệp , cho nên trong tiếng Pháp, khi nói « c’est du folklore » để ám chỉ một chuyện không quan trọng, không thuần túy, hơi có ý khinh miệt .

Hiện nay danh từ « musique traditionnelle / traditional music » (nhạc truyền thống) được quãng bá rộng rãi hơn . Ở Pháp, năm 1987, bộ văn hóa Pháp có tạo một bằng cấp trình độ cao học để tuyển chọn giáo sư dạy nhạc truyền thống trong các trường quốc gia âm nhạc (professeur de musiques traditionnelles aux Conservatoires nationaux de musique / Professor of traditional music at National Conservatories of Music) . Ngay cả một cơ quan nghiên cứu nhạc dân gian quốc tế (IFMC – International Folk Music Council – Hội Đồng quốc tế nhạc dân gian) đã quyết định kể từ năm 1981 được đổi thành tên mới là ICTM – International Council for Traditional Music – Hội đồng quốc tế nhạc truyền thống . Năm 1988, ở Geneva bên Thụy Sĩ, Laurent Aubert chủ trương một tập san nghiên cứu nhạc dân tộc bằng tiếng Pháp mang tên là « Cahiers de Musiques Traditionnelles » (Tập san nhạc truyền thống) .

Gần đây hơn, có một số người sử dụng các từ vựng khác như « sociomusicologie / sociomusicology » (xã hội nhạc học) để chỉ định môn nghiên cứu âm nhạc đi liền với sự biến chuyển của xã hội, nói một cách khác là có thể xuyên qua nhạc ngữ của một thời đại nào đó, có thể đoán được một phần nào xã hội lúc đó ra sao : hòa bình, chiến tranh, hung bạo, thiền tịnh vv…. Có người dùng từ vựng « anthropomusicologie / anthropoloy of music » (nhân chủng nhạc học) để nghiên cứu nhạc thời cổ xưa của mỗi dân tộc, mỗi sắc tộc . Một danh từ khác là « archéomusicologie/ archeomusicology » (khảo cổ nhạc học) để nghiên cứu nhạc thời cổ xưa qua các nhạc khí tìm thấy trong các cuộc thám hiểm, khai quật những di tích lịch sử như trường hợp tìm thấy đàn đá, trống đồng ở Việt Nam thuộc lĩnh vực của môn nghiên cứu này . Đến môn « psychomusicologie / psychomusicology » (tâm lý nhạc học), « musicothérapie / music therapy » (âm nhạc điều trị học), « sémiologie de la musique / semioloy of music » (tín hiệu nhạc học – nghiên cứu dấ u và ký hiệu trong âm nhạc) , các nhà nghiên cứu càng ngày càng đi sâu vào chi tiết và tách rời nhiều lĩnh vực nghiên cứu ra khỏi dân tộc nhạc học để đi đến chỗ chuyên môn hóa .

Chỉ có danh từ »ethnomusicologie / ethnomusicology (dân tộc nhạc học) là được đa số các nhà dân tộc nhạc học thích dùng nhứt và đã được chánh thức hóa qua các quyển tự điển có tiếng trên thế giới như New Grove Dictionary of Music and Musicians (Anh), New Harvard Dictionary of Music (Mỹ), Garland Dictionary of Music (Mỹ), Dictionnaire de la musique/Larousse (Pháp), vv..

Tóm lại, dù dưới hình thức nào đi nữa, từ vựng « ethnomusicologie » (dân tộc nhạc học) có một định nghĩa ra sao ?

Bà Claudie Marcel-Dubois (từ trần vào tháng 2, 1989 tại Pháp ), người tiền phong của bộ môn dân tộc nhạc học ở Pháp, cho rằng » dân tộc nhạc học là bộ môn nghiên cứu theo truyền thống truyền khẩu tất cả những hiện tượng âm thanh liên quan đến đời sống xã hội và văn hóa và kỹ thuật của các nhóm sắc tộc khác nhau (étude selon la tradition orale des phénomènes sonores en relation avec la vie sociale, culturelle et technique de diverses ethnies).

Theo GS Mantle Hood, cựu giám đốc viện dân tộc nhạc học ở UCLA, University of Maryland (Mỹ), định nghĩa môn dân tộc nhạc học là « bộ môn nghiên cứu bất cứ loại nhạc nào có liên hệ tới môi trường văn hóa » (the study of any music in relation to its cultural context).

Theo GS Trần Văn Khê, giáo sư dân tộc nhạc học tại trường đại học Sorbonne (Paris, Pháp) từ 1960 tới 1987 và hiện về hưu nhưng vẫn tích cực hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu qua nhiều chuyến viễn du khắp năm châu, « một bộ môn nghiên cứu vô tư và khoa học những âm thanh thuộc truyền thống truyền khẩu của các sắc tộc trên thế giới qua nhiều điểm khác nhau về lịch sử, dân tộc học, xã hội học và nhạc học » .

GS Gilbert Rouget, chuyên gia vềnhạc Phi châu và tác giả cuốn sách giá trị « Musique et Transe » (Âm nhạc và Lên đồng), cho rằng « dân tộc nhạc học là nhạc học của những nền văn minh được cấu tạo bằng lình vực truyền thống của dân tộc học » (ethnomusicologie est musicologie des civilisations dont l’étude constitue le domaine traditionnel de l’ethnologie)

Nhà nhạc học Hòa Lan Jaap Kunst, cha đẻ của từ vựng « ethnomusicology » đề nghị rằng dân tộc nhạc học là « bộ môn nghiên cứu nhạc cổ truyền và nhạc khí của tất cả mọi tầng lớp văn hóa của nhân loại » (the traditional music and musical instruments of all cultural strata of mankind, from the so-called primitive peoples to the civilized nations) .

GS Bruno Nettl, một nhà nghiên cứu nhạc học đã viết rất nhiều sách vềlý thuyết dân tộc nhạc học, đã đưa ra một định nghĩa như sau : » nghiên cứu nhạc của các xã hội mù chữ, nhạc bác học Á châu và Bắc Phi, nhạc truyền khẩu của các vùng bị văn hóa bác học chế ngự và nhạc bình dân các xứ Âu Mỹ) (la musique des sociétés illettrées, les musiques de Haute Culture de l’Asie et de l’Afrique du Nord, la musique folklorique de tradition orale des régions qui sont dominées par les hautes cultures et la musique de tradition populaire des pays occidentaux).

Bà Monique Brandily (Pháp) chuyên môn về nhạc Phi Châu, đặc biệt xứ Tchad (Phi Châu), nhận định rằng dân tộc nhạc học là « nhạc học các xã hội thuộc thẩm quyền dân tộc học » (la musicologie des sociétés qui relèvent de l’ethnologie) .

Trong khi đó, nhà dân tộc nhạc học Pháp, Bernard Lortat-Jacob, nêu ra hai nhận định về vai trò của « nhạc học gia của sắc tộc » (musicologues de l’ethnique) và phân tách nhạc ngữ qua ký âm và vai trò của « dân tộc học gia của âm nhạc » (ethnologues du musical) là nghiên cứu truyền thống âm nhạc tại chỗ, đời sống âm nhạc dính liền với phong tục tập quán của sắc tộc được nghiên cứu .

Ngoài ra còn có Alan P. Merriam (từ trần trong một tai nạn phi cơ), Miewyslaw Kolinski, Willard Rhodes (từ trần 1992), David P. McAllester, George List, Ludwik Bielawski, Charles Seeger (từ trần năm 1979), Elisabeth Helser bên Mỹ, Jean Jacques Nattiez bên Gia nã đại, Kishibe Shigeo bên Nhựt bổn, Kwabena J.H. Nketia bên Ghana (Phi châu) cũng có đề cập tới định nghĩa danh từ « dân tộc nhạc học » .

Năm1989, trong quyển « Âm nhạc Việt Nam » do tôi biên soạn, nơi trang 298, tôi có định nghĩa dân tộc nhạc học như sau : » dân tộc nhạc học là một bộ môn nghiên cứu tất cả những loại nhạc được nghe trong một quốc gia trong hiện tại (nhạc địa phương cũng như nhạc ngoại quốc, cổ nhạc cũng như tân nhạc) đồng thời nghiên cứu gia tài âm nhạc của lịch sử văn hóa âm nhạc từthời lập quốc đến trước giai đoạn hiện tại, và lịch trình tiến triển của lịch sử văn hóa âm nhạc trên thế giới từ thời thượng cổ tới ngày nay » .

Nhưng bốn năm sau (1993) tôi có thay đổi chút ít về định nghĩa môn dân tộc nhạc học . Trước hết tôi thấy cần phải định nghĩa hai chữ « nhạc học » và « dân tộc học » .Đối với người Việt Nam, và đối với ngành giảng dạy âm nhạc ở Việt Nam, theo thiển ý của tôi, môn nhạc học (musicologie/musicology) là bộ môn nghiên cứu có tính cách đối chiếu lịch sử âm nhạc Việt Nam qua các thể loại (nhạc triều đình, tôn giáo, nhạc thính phòng, nhạc tuồng, dân nhạc, tân nhạc , vv..), nhạc khí, nhạc ngữ, điệu thức, tiết tấu, cũng như lịch sử nhạc bác học Á châu ngang hàng với lịch sử nhạc cổ điển Tây phương .

Còn dân tộc nhạc học là « bộ môn nghiên cứu các thanh nhạc (son/sound), hay tiếng động (bruit/noise) có cấu trúc âm điệu hay tiết tấu của các xã hội không có chữ viết (sociétés sans écriture / societies without writing) hay theo truyền thống truyền miệng (tradition orale / oral tradition), và cũng là bộ môn nghiên cứu đối chiếu tất cả truyền thống âm nhạc thế giới (étude comparée des traditions de musiques du monde / comparative study of world musics’ traditions) từ thời lập quốc đến giai đoạn hiện tại » .

Mặc dù có sự bất đồng về định nghĩa chính xác, việc hiển nhiên là hầu hết các nhà dân tộc nhạc học đều nghiên cứu nhạc ngoài thế giới nhạc cổ điển Tây Phương, chú trọng nhiều về dân nhạc thế giới, vai trò âm nhạc trong một văn hóa nào đó , tiếp xúc trực tiếp với âm nhạc xứ mình nghiên cứu bằng cách sống tại chỗ trong một thời gian ngắn hay dài tùy theo chủ đích nghiên cứu, và áp dụng những khái niệm từ nhân chủng học và ngôn ngữ học phát triển ra . Tài liệu nhạc được thu tại chỗ được đem ra phân tích, đối chiếu vì đa số nhà nghiên cứu đều không phát xuất từ văn hóa âm nhạc đó ra . Nói tóm lại, lĩnh vực nghiên cứu dân tộc nhạc học cho chúng ta thấy một viễn tượng khá đồng nhứt .

Dân tộc nhạc học có hai chiều hướng khác biệt : một là đi về mặt nghiên cứu để đưa đến lý thuyết qua những bài viết và công cụ ho’a lý thuyết trong ngành dạy học; hai là trình diễn cho thật đúng truyền thống, bổ túc bằng những kỹ thuật mới và phát triển thêm với óc sáng tạo . Trong khung cảnh lý thuyết, người nghiên cứu nhạc dân tộc phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu có liên hệ đến những khuôn mẫu (modèles – models), hệ biến hóa (paradigmes – paradigms), khoa học sắc tộc (ethnosciences – ethnosciences), quá trình nhận thức (processus cognitif – cognitive process), tín hiệu học (sémiotiques – semiotics), tín hiệu nhạc học (sémiomusicologie – semiomusicology).

Sự phát triển của dân tộc nhạc học

Đà tiến triển của dân tộc nhạc học không cho phép nhà học giả chỉ nghiên cứu nhạc qua sách vở như xưa nữa, mà giờ đây nhà nhạc học gia phải đi nghiên cứu tại chỗ, làm quen với các loại máy thu thanh (từ máy lớn chuyên nghiệp như NAGRA , STELLAVOX đến các loại máy thu thanh (từ loại máy cassette như SONY, UHER đến các máy Walkman Professional, hay cận đại nhứt như loại máy thu thanh cassette DAT chỉ thu bằng số . DAT có nghĩa là »digital audio tape » một loại máy thu thanh tốt và tối tân trong thập niên 90 do hãng SONY , và CASIO của Nhựt chế rạ Gần đây có máy thu thanh Minidisc của hãng SONY loại thu bằng số như DAT. Người đi nghiên cứu còn phải biết chụp hình, quay phim loại 16ly, hay sử dụng các loại máy quay phim video 8mm hay Hi 8 hay Super VHS, hay loại máy video Digital Handycam của Sony với thu hình bằng số . Ngoài ra phải biết rõ tường tận loại nhạc mình nghiên cứu để tránh tách cách quá chủ quan khi phân tách, đồng thời phải hiểu sơ qua các loại nhạc của mấy xứ láng giềng để có thể đối chiếu, phải biết dân tộc học, ngữ học, xã hội học , âm nhạc học, sử địa , tâm lý học . Rồi lại còn phải thông thạo Anh ngữ, Pháp ngữ, và Đức ngữ để có thể đọc sách báo chuyên môn hầu theo dõi những công trình nghiên cứu trên thế giới . Và cần hơn nữa là phải hiểu thổ ngữ của vùng mình nghiên cứu .

Với bộ môn đa diện như vậy, việc nghiên cứu bây giờ không phải đơn thương độc mã mà phải nghiên cứu tập thể . Ở Pháp đã có nhiều ban nghiên cứu tập thể như « Recherches coopératives sur programme » (tác hợp nghiên cứu theo chương trình), hoặc như « équipe de recherche » (đội nghiên cứu) hay « unité propre de recherche » (đơn vị nghiên cứu), hay như « laboratoire associé , propre » (ban nghiên cứu có tầm vóc rộng lớn) . Tất cả nhóm, ban, đội, đơn vị nghiên cứu này đều do trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (Centre National de la Recherche Scientifique / National Center for Scientific Research) của Pháp cho ngân quỹ nhứt định mỗi năm để được hoàn toàn thoải mái mà nghiên cứu . Ở Mỹ, các giáo sư nghiên cứu trong khung cảnh của viện đại học . Mỗi giáo sư phải dạy hai năm thì được 6 tháng rảnh rang để nghiên cứu chuyện mình thích . Đó là tình trạng chung của các quốc gia khác như Gia nã đại, Đức, Anh, Hòa Lan, Ý đại lợi, Úc châu, Nhật Bổn, Nam Phi, Ba Tây , vv….

Tính đến năm 2001, đã có tới 5000 tiểu luận án và luận án tiến sĩ về dân tộc nhạc học do gần 200 trường đại học trên thế giới cấp phát (xem quyển « Ethnomusicology and folk music. An International Bibliography of Dissertations and Theses » (Dân tộc nhạc học và dân nhạc : sách tổng hợp quốc tế về tiểu luận án và tiến sĩ ) do Frank J. Gillis và Alan P. Merriam thâu thập do Society for Ethnomusicology (Mỹ) xuất bản, 160 trang, năm 1966 và tất cả các số báo « ETHNOMUSICOLOGY » phát hành ba số một năm từ năm 1957 trở đi, xuất bản tại Mỹ . Jaap Kunst đã có kê khai một số lý lịch một số lớn trường đại học có dạy môn dân tộc ở Âu Mỹ nhưng chỉ tới năm 1959 mà thôi .

Ở Pháp bà Claudie Marcel Dubois (mất hồi tháng 2, 1989) bắt đầu dạy môn dân tộc nhạc học ở Paris từ năm 1959 . Hầu hết các nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học ở Pháp hiện nay đa số đều có theo học lớp dân tộc nhạc học của Bạ Sau đó , trường đại học Sorbonne, Paris IV có mở lớp dạy dân tộc nhạc học Đông Phương do giáo sư Trần Văn Khê phụ trách (về hưu từ tháng 10, 1987) . Sau đó giáo sư Manfred Kelkel thay thế. Và từ năm 1998 giáo sư Francois Picard điều khiển môn dạy dân tộc nhạc tại trường đại học Sorbonne . Trường đại học Paris VIII-Saint Denis, trường đại học Paris X – Nanterre, trường Cao đẳng khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales/ School of High Studies for Social Sciences) cũng có dạy môn dân tộc nhạc học . Một số tỉnh ở Pháp như Strasbourg, Poitiers, Montpellier, Toulouse, Rennes, Lille, Lyon, ngành dân tộc nhạc học cũng được bành trướng mạnh mẽ .

Ở Mỹ, phải nói là có nhiều trường đại học dạy về môn dân tộc nhạc học . Có thể kể như UCLA (University of California, Los Angeles) do giáo sư Nazir Ali Jairazbhoy điều khiển cho tới giữa thập niên 90. Hiện nay giáo sư Anthony Seeger phụ trách môn này . Ngoài ra có một số trường đại học nổi tiếng về môn dân tộc nhạc học như University of Hawaii ở Honolulu, University of Maryland, Berkerly University, UCSD (University of California, San Diego), University of Washington, (tiểu bang Washington), Columbia University, New York, University of Bloomington, University of Michigan, Indiana University, Southern Illinois University, vv…Xin xem tiếp: https://tranquanghai.info/tran-quang-hai-dan-toc-nhac…/————————————————————————————–

Giáo sư Trần Quang Hải thoát chết trong gang tấc

GS Trần Quang Hải, con trai trưởng của GS-TS Trần Văn Khê, đã được vợ là nữ danh ca Bạch Yến đưa đi cấp cứu trong tình trạng bị liệt.Giáo sư Trần Quang Hải thoát chết trong gang tấc – GS Trần Quang Hải trong ngày xuất viện 15-5 tại Pháp

Sự việc xảy ra lúc 3 giờ ngày 2-5 (theo giờ địa phương). Hôm 15-5, khi sức khỏe đã hồi phục, GS Trần Quang Hải kể lại quá trình thoát chết trong gang tấc của mình.

« Bạch Yến phải gọi xe cứu thương chở gấp tôi vào bệnh viện Villeneuve St. Georges để cấp cứu vì độ đường trong máu của tôi xuống quá thấp. Khi đó, các bác sĩ đã khám và cho biết tôi bị sưng phổi và suy thận, bên cạnh căn bệnh ung thư máu, tiểu đường mãn tính » – GS Trần Quang Hải nói.

Sau 12 ngày chữa trị, sức khỏe của ông đã trở lại bình thường nhưng 2 bàn chân vẫn bị sưng phù, không thể đi đứng được. Ngày 15-5, các bác sĩ cho ông xuất viện. Ông cho biết bản thân còn sống là điều hạnh phúc để tiếp tục dành thêm thời gian cho hoạt động phổ biến âm nhạc truyền thống Việt Nam trên thế giới.

GS Trần Quang Hải vừa xuất bản 2 quyển sách gồm « 50 năm nghiên cứu nhạc truyền thống Việt Nam » và « Hát đồng song thanh » tại Mỹ. —————————————————————————————-

Con trai GS Trần Văn Khê dùng âm nhạc… chữa bệnh, –

-GS-TS Trần Quang Hải, con trai của GS-TS Trần Văn Khê đã ứng dụng âm nhạc vào việc chữa những căn bệnh như mất giọng nói, khủng hoảng tinh thần…

Ông đã có một số công trình như: phát triển kỹ thuật hát đồng song thanh của dân tộc Mông Cổ và Cộng hòa Tuva vào nhiều địa hạt khác nhau, lập ra trường phái này với khoảng 8.000 người ở 70 quốc gia trên thế giới theo học; áp dụng kỹ thuật đàn môi vào việc chữa trị bệnh mất tiếng của con người.

Suốt 40 năm qua, GS-TS Trần Quang Hải còn miệt mài giới thiệu âm nhạc Việt Nam qua khoảng 3.000 buổi nói chuyện tại hơn 65 quốc gia. Ông còn được tôn vinh là « vua muỗng” vì ứng dụng những kỹ thuật đa dạng của loại vật dụng này vào dân ca và âm nhạc đương đại. Chữa bệnh bằng kỹ thuật thanh nhạc và cái hồn âm nhạc

Giáo sư đã ứng dụng kỹ thuật hát đồng song thanh vào việc chữa bệnh gì cho con người?Ref. link: https://tranvankhe-tranquanghai.com/…/hat-dong-song…/

GS-TS Trần Quang Hải: – Tên đồng song thanh là do tôi đặt ra. Nó bắt nguồn từ kỹ thuật hát độc đáo của một số bộ tộc ở Mông Cổ và Cộng hòa Tuva. Bằng kỹ thuật này, người hát sẽ phát ra hai giọng cùng lúc ở hai cao độ khác nhau. Qua thời gian nghiên cứu, tôi đã phát triển và ứng dụng hát đồng song thanh vào nhiều địa hạt như: âm nhạc điều trị học, tâm lý điều trị học,…

Đặc biệt, có thể ứng dụng Luyện tập hơi thở cũng giúp bà mẹ giữ được hơi thở lúc lâm bồn, nó ngược lại so với bình thường. Ngoài ra nếu tập hát đồng song thanh, cũng có thể giúp những người thiếu tự tin tập trung phát biểu trước đám đông tốt hơn, vì mọi hỷ, nộ, ái, ố của con người đều lồng trong giọng nói. Nói cũng cần phải luyện tập là vậy.

– Đã có nhiều ứng dụng âm nhạc để chữa bệnh tâm thần, cho thai nhi nghe nhạc,… Có sự khác biệt nào trong việc ứng dụng chữa bệnh cho người ở những quốc gia khác nhau không, thưa giáo sư?

– Dùng âm nhạc chữa trị tổn thương tinh thần (khủng hoảng tinh thần) là hoàn toàn có thể. Tuy nhiên còn phụ thuộc việc họ bị tổn thương tâm thần dạng thụ động hay ưa hoạt động mà ứng dụng cho phù hợp. Tất nhiên, cần phải biết xuất xứ của người mình hướng dẫn để hỗ trợ việc chữa trị. Không thể cho bà bầu Việt Nam nghe nhạc giao hưởng nếu bà mẹ này không hiểu về nhạc giao hưởng.

– Người ta vẫn thường khuyên phụ nữ mang thai nghe nhạc cổ điển phương Tây, vì sao giáo sư lại khẳng định điều này không phù hợp?

– Sự tương tác giữa người mẹ và bào thai rất quan trọng. Nếu nghe nhạc mà người mẹ hiểu và cảm nhận trọn vẹn sẽ giúp đứa trẻ phát triển tốt. Vì vậy, áp dụng âm nhạc cho mỗi người tùy theo quốc gia. Nếu phụ nữ Việt Nam nghe nhạc giao hưởng phương Tây không cảm nhận được hoặc ngược lại thì việc ứng dụng này thực tế không đạt được hiệu quả. Nên áp dụng âm nhạc cổ truyền cho họ là tốt nhất vì họ hiểu được cái hồn của âm nhạc mà họ nghe.

Ref. link: https://tranvankhe-tranquanghai.com/…/gs-ts-tran-quang…/

Trình diễn với muỗng.

– Được biết giáo sư cũng sử dụng cả đàn môi để chữa bệnh thiếu thanh quản?

– Việt Nam mình là nơi có nhiều đàn môi nhất thế giới. Nó vừa là loại nhạc cụ dễ làm, rẻ tiền lại vừa phụ trợ cho những người thiếu thanh quản có thể phát ra âm thanh để người đối diện nghe được. Chỉ từ một chiếc thẻ tín dụng không xài nữa hay chiếc thẻ điện thoại đã bóc sim ra cũng có thể làm thành cây đàn môi. Việc chữa trị như không nói được do ung thư thanh quản, các bạn cũng có thể tìm đến tôi, nửa giờ sau là có thể nói cho người đối diện nghe được. Đó là nhờ ứng dụng những kỹ thuật thanh nhạc, có thể nói mà không dùng tới thanh quản. Bằng cách này, chúng ta sẽ giúp người bệnh không bị mặc cảm với mọi người xung quanh khi giao tiếp.

Không tự tôn hay tự ti về âm nhạc dân tộc-

Cũng giống như cha mình, giáo sư đã có khoảng 3.000 buổi giới thiệu về âm nhạc Việt Nam trên khắp thế giới. Giáo sư thường nói gì về âm nhạc Việt Nam?

– Tôi và vợ tôi (nghệ sĩ Bạch Yến – PV) thường chơi đàn tranh, đàn môi, đàn bầu, đàn cò… Chúng tôi đều sử dụng tiếng Việt để biểu diễn, chỉ có giải thích cho thính giả nghe mới dùng tiếng xứ họ, chứ không dịch ra trong khi biểu diễn. Vì chúng tôi quan niệm, đã làm thì phải làm cho đúng với những gì hiện hữu trong âm nhạc và văn hóa Việt Nam. Kể cả trang phục cũng được chúng tôi tuân thủ nghiêm ngặt. Vì âm nhạc phải gắn liền với trang phục.

Ref. link: https://tranquanghai1944.com/tag/hat-dong-song-thanh/

– Xin giáo sư cho biết cụ thể hơn?

– Tùy theo nội dung giới thiệu về âm nhạc cổ truyền Việt Nam theo miền Bắc hay Nam mà chúng tôi lựa chọn trang phục. Tôi luôn mặc áo dài gấm màu xanh hoặc áo trắng bên trong, áo dài the đen bên ngoài và mang guốc. Vợ tôi mặc áo dài hay áo tứ thân tùy thuộc vào buổi biểu diễn nhạc cổ truyền của mỗi miền. Tôi thấy nhiều nghệ sĩ trẻ Việt Nam mặc chưa đúng, ví dụ áo dài dành cho nam chỉ có áo gấm xanh hoặc áo lót bên trong áo the bên ngoài, khăn đóng luôn là màu đen thì các bạn lại biến tấu ra rất nhiều màu sắc không đúng truyền thống.

Đã mặc áo dài thì không nhún nhảy mà phải đi đứng chừng mực nghiêm trang, phong thái vững vàng. Cả cách chào cũng vậy, cần phải học. Ví dụ, khi kết thúc bài biểu diễn, chúng tôi phải chắp tay trước ngực chào khán giả theo cách của Việt Nam mình vì cách chào cũng là nét đặc trưng của mỗi dân tộc. Trong các buổi biểu diễn nhạc cổ truyền cần phải thể hiện đúng, vì chúng ta đang giới thiệu bản sắc văn hóa của Việt Nam ra thế giới để họ hiểu đúng về chúng ta. Không cần mặc đẹp mà phải mặc đúng. Chúng ta phải giữ truyền thống từ đầu tới chân, từ lời ăn tiếng nói đến cách đi đứng khi giới thiệu văn hóa cổ truyền với bạn bè thế giới.

– GS-TS Trần Văn Khê từng chia sẻ rằng muốn tìm người nối nghiệp con đường nghiên cứu, phát triển âm nhạc dân tộc Việt Nam của mình, và có đề cập tới giáo sư…

– Theo tôi, người nối nghiệp Ba tôi phải tiếp nối ngay từ trong xứ. Phải đặt mình trong địa hạt đó mới hiểu hết được. Riêng tôi đã có con đường đi khác. Nhưng cái cốt yếu là tôi vẫn kế thừa phương pháp nghiên cứu ấy, nắm được để sự học trở nên dễ dàng hơn. Tôi cũng cho rằng không nên tự tôn hay tự ti về âm nhạc của một dân tộc. Quan trọng phải là lòng tự hào cái mình có để đóng góp lại cho toàn thể. (Lê Tám thực hiện)—————————————–3 Comments

Việt NgữTrước và Sau 1975

1Việt NgữTrước và Sau 1975

Theo yêu cầu của một số thân hữu, Diễn Đàn xin đăng lại một bài viết rất hay về Việt Ngữ kiểu XHCN của tác giả Tâm Thanh. (TTR)CHIÊU HỒI NGÔN TỪTâm Thanh(Na-Uy)

Dưới một bề mặt bình yên giả tạo, Việt Nam ngày nay thực chất là một xã hội đại loạn –loạn chính, loạn pháp, thương luân bại lý và loạn ngữ.Người tỵ nạn ra đi không mang theo hành lý nào ngoài chút di sản tinh thần, trong đó có ngôn ngữ. Trong gia đình, ta vẫn nói tiếng Việt, suy nghĩ như người Việt, và vì lý do nọ lý do kia, vẫn tiếp xúc với tiếng Việt nơi quê cũ. Người yêu tiếng Việt và để ý mộtchút các hiện tượng ngôn ngữ, sẽ đau lòng thấy tiếng Việt nơi đất Việt xuống dốc thê thảm.

Hình bên cho thấy 10 người làm văn hóa tại Việt Nam tươi cười giữa màu đỏ chói cách mạng dưới khẩu hiệu“bánh trưng”(?). Một lỗi chính tả như thế trước hằng trăm (hay ngàn?) con mắt mà không ai thấy, tố cáo sự ngu dốt, nhưng ngu dốt không phải là một tội lỗi. Coi thường di sản tinh thần dân tộc mới là tội lỗi.

Ráng vận động cho Vịnh Hạ Long được liệt vào hàng kỳ quan thế giới, trong khi bỏ bê tiếng mẹ đẻ, là phô trương cái cành mà hủy lấp cái gốc của văn minh –tiếng nói. Họ cử cán bộ ra ngoại quốc mở lớp Việt ngữ cho con em “Việt kiều”, trong khi cán bộ nói tiếng Việt sai, ngọng, chứng tỏ họ không định bảo tồn tiếng Việt, mà chỉ để đầu độc con nít.

Mục đích của bài này là trình bày sự bê bối của tiếng Việt tại Việt Nam bây giờ; sau đó, đặt vấn đề nên ứng xử như thế nào, trong đó tôi chủ trương 2“chiêu hồi” –không vất bỏ những chữ ta quen đóng dấu là “từ Việt cộng”, mà trảchúng về vị trí ngôn ngữ nguyên thủy của chúng, và sử dụng chúng một cách đúng đắn.Nhưng trước hết những chữ nào đã bị đóng dấu lầm?

1. NHỮNG TỪ NGỮ BỊ ĐÓNG DẤU LẦM

Tôi chọn bảng “Đối chiếu từ ngữ VC và từ ngữ VNCH” (trong bài Nỗi buồn tiếng Việt sau1975, Diễn đàn Điện tử Việt Nam) của tác giả Trần Văn Giang, làm khởi điểm bàn luận, vì nó phong phú nhất, tác giả là người nghiên cứu và viết nhiều về văn hóa, chính ông đã kêu gọi góp ý cho bảng đối chiếu công phu của ông.Đôi khi tôi bắt chước ông, dùng chữ “VC” và “VNCH”. Nhưng tôi thích ý niệm “miền ngôn ngữ” hơn –để chỉ một bên là tiếng Việt, bên kia là đặc ngữ XHCN.

Tôi cũng xin cáo lỗi trong phần chú thích ngoại ngữ tôi dùng tiếng Na-uy là tiếng quê hương mới của tôi, nhưng để độc giả ở xứ khác cũng thông cảm, tôi thêm tiếng Anh là tiếng tôi biết lõm bõm.

Trong hơn 200 cặp từ ngữ của ông TVG, tôi trích 25 cặp gồm 10 cặp đầu tiên, sau đó nhặt tình cờ

Từ ngữ VC -Từ ngữ VNCH

ấn tượng -đáng ghi nhớ, đáng nhớ

bác sỹ, ca sỹ -bác sĩ, ca sĩ

bang -tiểu bang

bảo quản -che chở, giữ gìnbài nói -diễn văn

bèo -rẻ tiềnbóng đá -túc cầu

bổ sung -thêm, bổ túc

bồi dưỡng (hối lộ?) -nghỉ ngơi, săn sóc, chăm nom, ăn uống đầy đủ

bức xúc -dồn nén, bực tức

bất ngờ -ngạc nhiên

cách ly -cô lập

cảnhbáo -báo động, lưu ý

chất xám -trí tuệ, thông minh

chế độ -quy chế

động thái -động lực

động não -vận dụng trí óc, suy luận, suy nghĩ

hoành tráng -nguy nga, tráng lệ, đồ sộ

huyện -quận

lý giải -giải thích (explain)

nâng cấp -nâng hoặc đưa giá trị lên

nhà khách -khách sạn

3nhất quán -luôn luôn, trước sau như một

thị phần -thị trườngxác tín -chính xác

Nhận xét:

“Ấn tượng”: tiếng của hai miền. Từ hồi còn nhỏ, tại Sài Gòn, tôi đã đọc, nghe “trường phái ấn tượng, ấn tượng còn đậm trong trí cô Tư, bản nhạc gây ấn tượng quê hương”. Cái khác là ngày nay trong nước dùng “ấn tượng” vừa như danh từ vừa như động từ. Ngày xưa ta nói “Bản nhạc gây ấn tượng”, ngày nay người trong nước nói “Bản nhạc ấn tượng”, chỉ bớt đi chữ “gây”! “Đáng ghi nhớ, đáng nhớ” không phải là tiếng Việt tương đương cho “ấn tượng”

“Bác sỹ”: viết y-dài là sai, nhưng –cũng như trường hợp “bánh trưng” –không phải nhà cầm quyền chủ trương như vậy. Cứ giở sách báo hai miền ra đọc, ta sẽ thấy cả hai miền đều nhiều người viết đúng, ít người viết sai.

“Bang”: Ta quen nghe “tiểu bang” khi nói về state của Mỹ, nên thấy không thuận tai khi nghe người Hà Nội gọi tắt là “bang”. Nhưng “bang” (đứng một mình) đã được dùng ngay từ thời Trạng Trình –“Sấm động nam bang / Vũ quá bắc hải”.“Bảo quản”: Việt Nam Tự điển Lê Văn Đức

,“bảo-quản đt (Pháp): Bảo thủ và quản xuất, giữ sổ bộ, đăng ký, điền thổ, cải chính và cấp phát bản sao”

“Bài nói”: Tôi gặp “bài nói chuyện, bài tham luận, bài phát biểu” ở cả hai miền, mà chưa gặp “bài nói” đứng một mình bao giờ (nhưng tôi tin rằng tác giả TVG có gặp nên mới chép vào bảng đối chiếu). Ngược lại, chữ “diễn văn” tôi thấy nhan nhản trên báo chí Việt cộng, VNCH và hải ngoại. Như vậy “diễn văn” là chữ Việt thông dụng ở mọi miền.

“Bèo” là nói tắt thành ngữ dân gian “rẻ như bèo”, tiếng lóng, chưa thấy trong văn bản chính thức của CS. Và tất nhiên “rẻ” được dùng rộng rãi ở cả hai miền ngôn ngữ.

“Bóng đá”: Đào Đăng Vỹ, trong Pháp Việt Từ điển, dịch football là: môn bóng tròn, túc cầu, đá bóng, đá banh. Vậy nói “bóng đá” không sai, nhưng ngày nay trong nước dùng thay cho “túc cầu”.

“Bổ sung” ta cũng dùng rất thường trong Nam –“bổ sung quân số”, “lần tái bản này đã được bổ sung”. Vậy “bổ sung” và “bổ túc” được dùng ở cả hai miền ngôn ngữ.

“Bồi dưỡng” được dùng ở cả hai miền (Miền Nam, xin coi Việt Nam Tự điển Lê Văn Đức, chẳng hạn). Cán bộ cs nói “kỳ hè giáo viên đi bồi dưỡng” nghe kỳ cục, nhưng nếu nói “bồi dưỡng chính trị” thì về phương diện ngữ pháp, 4không có gì sai cả. Tác giả TVG có lý khi cho rằng “tẩm bổ” là từ tương đương; những chữ còn lại (nghỉ ngơi, săn sóc, chăm nom, ăn uống đầy đủ) là mô tả chi tiết chứ không phải danh từ tương đương với “bồi dưỡng”.

“Bất ngờ” và “ngạc nhiên” đều được dùng ở cả hai miền. Nhưng hai chữ có ý nghĩa khác nhau hoàn toàn.

“Bức xúc” là tiếng đặc thù trong xã hội VN bây giờ. Nhưng ông TVG đưa hai chữ “dồn nén” và “bực tức” làm chữ tương ứng của VNCH, thì không đúng.

“Cách ly” và “Cô lập” đều được dùng ở cả hai miền ngôn ngữ. Việt Pháp Từ điển Đào Đăng Vỹ: “cách ly, cách biệt: séparé l’un de l’autre”. “Cách ly” và “cô lập” không đồng nghĩa hoàn toàn với nhau, thí dụ trong câu sau, còn nghịch nhau là đàng khác: “Cần cách ly bệnh nhân này, nhưng đừng cô lập họ”.

“Cảnh báo” và “báo động” được dùng ở cả hai miền. Thí dụ Miền Nam: Việt-Pháp Từ điển Đào Đang Vỹ viết“Cảnh báo”: signaler, avertir. Tân Đại Tự điển Việt Anh Nguyễn Văn Tạo: “Cảnh báo: alarm”. Chính xác hơn, cảnh báo là báo trước nguy cơ có thể tới để đề phòng; báo động là báo khi nguy cơ bắt đầu xảy ra để tránh thoát.

“Chất xám” vẫn được dùng tại Miền Nam (môn vạn vật lớp đệ tứ và đệ nhị) với cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng (trí thông minh) Cả hai đều được dùng tại VNCH. Bảo “chất xám” chỉ được VC dùng, là sai.

“Chế độ” và “quy chế”: cả hai được dùng tại Miền Nam, với ý nghĩa khác nhau. “Chế độ”: thể chế chính trị,ăn theo chế độ, chế độ cũ/mới, chế độ thuế khóa. “Quy chế”: quy chế công chức, quy chế nghiệp đoàn. Không hiểu căn cứ vào đâu mà bảo rằng chữ “chế độ” của VC có nghĩa tương đương với “quy chế” của VNCH.

“Động thái” và “động lực” hoàn toàn khác nhau, nhất là trong lãnh vực tâm lý, một đàng biểu lộ ra, một đàng tiềm tàng bên trong. “Động thái” hay “tác phong”: (Anh: behavior, Na-uy: atferd): hành vi biểu lộ ra bên ngoài quan sát được; ta có chữ “trường pháitâm lý học động thái/ tác phong” (behaviorism). Động lực: (Anh: motive; Na-uy: motiv) là sức ngầm thúc đẩy hành vi. Td: “Cảnh sát chưa tìm ra động lực của vụ giết người”. Cả hai chữ đều được dùng tại Miền Nam; nếu chúng không được phổ biến, là vì chúng thuộc lãnh vực chuyên môn chăng.

“Động não” cũng là danh từ quen thuộc tại Miền Nam (ít nhất trong môn tâm lý sư phạm). “Vận dụng trí óc” gần đúng với “động não”, nhưng không phải là chữ của Miền Nam thay cho “động não”. Còn “suy luận, suy nghĩ” đều được dùng ở cả hai miền, với nghĩa hơi khác với “động não”.

5“Hoành tráng” theo Tự điển Lê Văn Đức đồng nghĩa với “hoành lệ” nghĩa là “rộng lớn, đẹp đẽ” (đúng như ông TVG hiểu). Như vậy “hoành tráng” thuộc kho tàng ngữ vựng Việt Nam, không nên hiến cho VC độc quyền. (Tại sao ta có khuynh hướng dị ứng với chữ này và nhiều chữ khác, tôi sẽ có vài dòng giải thích ở phần hai).

“Huyện” và “quận” là danh từ chỉ đơn vị hành chánh qua bốn thời đại, Pháp, Quốc gia (Bảo Đại), VNCH và VN XHCN. Thời Pháp huyện nhỏ gọi là “huyện” (đứng đầu là tri huyện), huyện lớn gọi là “phủ” (đứng đầu là tri phủ hay đốc phủ sứ). Thời Bảo Đại, tương tự. Thời VNCH tất cả đều gọi là “quận”, không phân biệt lớn hay nhỏ, thành thị hay nông thôn, đứng đầu là “quận trưởng”. Ngày nay dưới chế độ CS, ở thành thị đơn vị hành chánh này gọi là “quận”, ở nông thôn gọi là “huyện”

“Lý giải” và “giải thích”: Cả hai đều được dùng từ lâu ở cả hai miền. Hai chữ có nghĩa khác nhau. Giải thích là cắt nghĩa. Lý giải là giải nghĩa tường tận cho ra lẽ.

“Nâng cấp” đúng là từ ngữ riêng của VC và phần nào có nghĩa là “nâng/ đưa giá trị lên” như tác giả TVG nói. Nhưng chữ tương đương phía Việt Nam thì tùy trường hợp –nếu VC nói “nâng cấp cái ô tô” ta nói “trùng tu cái xe hơi”; VC nói “nâng cấp đường xá”, ta nói “tu bổ đường xá”; VC nói “nâng cấp khuôn mặt” ta nói “sửa mặt”. Tóm lại linh động là một đặc tính của tiếng Việt; máy móc là một đặc tính của tiếng VC.

“Nhà khách” đối với “khách sạn”: điều này tôi miễn bàn, độc giả tự nhận thấy ngày nay còn bao nhiêu hotel tại VN được gọi là “nhà khách”. Hơn nữa, theo qui ước ngành du lịch, “nhà khách” hay “nhà trọ” có tiêu chuẩn thấp hơn “khách sạn”.

“Nhất quán” không phải là từ ngữ riêng của VC, và “luôn luôn, trước sau như một” không phải chữ tương ứng của VNCH. Ông Lê Văn Đức định nghĩa rất chính xác, gọn mà thâm thúy: “Nhất quán: một lẽ mà suốt cả mọi lẽ. Thí dụ: lý thuyết nhất quán”. Chữ “nhất quán” quý lắm, không thể bán rẻ cho VC được!

“Thị phần” theo các nhà kinh tế trong nước ngày nay là bách phân mà VN chiếm được trên thị trường thế giới, thí dụ họ nói “Cà phê Việt Nam có thị phần rất nhỏ trên thị trường thế giới”. Theo sự hiểu biết nông cạn của tôi, VNCH không có chữ “thị phần”. Còn chữ “thị trường” được phổ biến ở cả hai miền. (*)

“Xác tín” là tin chắc , “chính xác” là đúng y, hai chữ không liên quan gì tới nhau, và được dùng đề huề ở cả hai miền (thậm chí có thể Miền Nam dùng “xác tín” nhiều hơn Miền Bắc). Miền Nam còn dùng “thâm tín” nữa.6Kết luận:Rất nhiều từ ngữ mà chúng ta cho là của VC, thực ra là của Việt Nam. Vậy tiếng nào là tiếng VC?

2. ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ XHCN

Nhiều vị coi đảo ngữ là một đặc tính của ngôn ngữ XHCN. Tôi không đồng ý, bởi vì Cụ Nguyễn Du đã đảo ngữ (“Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng”); Tự lực Văn đoàn đảo ngữ nhiều hơn; Sáng Tạo đảo ngữ nhiều và độc đáo. Tác dụng của đảo ngữ là thay đổi nhịp điệu và cả ý tứ nữa. Không hoàn toàn giống nhau giữa “đơn giản” và “giản đơn”, giữa “bảo đảm” và“đảm bảo”, giữa “thành hình” và“hình thành”, giữa “mến yêu” và “yêu mến”. Trong khi đó “Úc châu” hay “Châu Úc” không khác nhau lắm về tác dụng ngữ học (tôi đoán họ viết Châu Úc vì cho rằng trong tiếng Việt, chủ ngữ đứng trước thuộc ngữ. Còn ta viết ngược lại là theo trật tự Hán Việt). Tôi cũng không thấy người cộng sản nói tắt nhiều hơn chúng ta. Họ nói “căng” thay vì “căng thẳng”, ta cũng nói “gay” thay cho “gay go”, “ganh” thay cho “ganh tị”.

Cũng không phải vì thấy một số người trong nước viết “Mỹ” thành “Mĩ” mà ta khẳng định viết i-ngắn là VC! Y-dài i-ngắn còn trong vòng tranh cãi chưa ngã ngũ ở cả hai miền, ta tạm gác qua.Tóm lại, i-ngắn y-dài, đảo ngữ và nói tắt, không còn là tiêu chuẩn thực sự phân biệt ngôn ngữ hai miền. Vậy cái gì có thể giúp ta nhận ra những dấu hiệu của ngôn ngữ xã hội chủ nghĩa?Phát xuất từ chủ nghĩa xã hội

Những danh từ sau đây là chính cống cộng sản, nhưng nhiều chữ không bị đóng dấu vì người ta coi là một đương nhiên –khi nói về chủ nghĩa xã hội thì phải dùng từ ngữ kinh điển XHCN:Đấu tranh giai cấp, bóc lột, giá trị thặng dư, tư bản, tư sản, phong kiến, tích cực, tiêu cực, tồn tại, đề cương, phương án, phương tiện sản xuất, làm chủ tập thể, cải tạo công thương nghiệp, tập trung cải tạo v.v.Cộng sản chủ nghĩa cũng mượn nhiều ngữ vựng từ Hegel như biện chứng, đề, phản đề, hợp đề, tư duy… và thay đổi đi, thí dụ duy vật biện chứng

Chữ “quá độ” là đặc biệt nhất của cộng sản. Nó bao hàm cái gì hơn chữ “giao thời” hay “chuyển tiếp” mà ta quen dùng.Chữ “vong thân” là một đặc ngữ cộng sản. Rất may nó xuất hiện trong danh từ triết học từ trước, nên nó là Việt.Chữ “giải phóng” là một trong những chữ bị lạm dụng nhiều nhất. Tôi không nói sự lạm dụng chính trị, vì “giải phóng” kiểu Quốc tế Cộng sản, tự nó là 7một sách lược (trong đó chiêu bài và phỉnh lừa coi như vũ khí tất yếu), như “giải phóng Miền Nam”. Tôi muốn nói họ máy móc dùng “giải phóng” cho cả những thứ lặt vặt. Đĩa cứng trong máy vi tính đầy quá, ta “xóa bớt”, họ gọi là “giải phóng”; ta nói “giải tỏa một khu gia cư để làm đường”, họ nói “giải phóng…”; bớt việc cho một công nhân để họ đi tăng cường cho chỗ khác, họ gọi là “giải phóng lao động cơ hữu…”

* Trên đây là chữ XHCH chính cống, không nhầm lẫn vào đâu được. Có bao nhiêu ngànchữ loại này, tôi không rõ.Lai TầuHồ Chí Minh ôm tập Luận cương của Lenin về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa, mà khóc tại Paris, được huấn luyện tại Nga, nhưng thực tập áp dụng tại Tầu. Trọn bộ chữ nghĩa như đấu tố, quy thành phần, xét lại, trăm hoa đua nở, cách mạng văn hóa, hộ khẩu, hộ chiếu, biên chế, điểm và diện, tam cùng, cục, phân cục, chủ nhiệm, sự cố, khắc phục v.v. đều là sao chép chữ tiếng Tầu.

Đến một lúc họ nhớ mình là người Việt, bớt chữ Hán. Nhưng họ chỉ Việt hóa những chữ liên quan tới “địch”, như “máy bay lên thẳng”, “lầu năm góc”, “Nhà Trắng”. Ngược lại, trong nội bộ Đảng thì ngôn ngữ càng ngày càng lệ thuộc Trung quốc vỹ đại nhiều hơn.Sự ấp úng giữa tiếng Tầu và tiếng Việt đưa tới hiện tượng ngôn ngữ lai căng –“cơ cấu lại vốn”, trong đó “cơ cấu” là Hán, “lại” và “vốn” là Nôm.

Cùng ý niệm kinh tế này, Miền Nam đã dùng năm âm tiết toàn Hán, nhưng quen thuộc, “tái tổ chức tư bản”. Miền Nam lại theo nguyên tắc tự do, cả trong ngôn ngữ, do đó một ý niệm có thể có nhiều cách phátbiểu, như có thể nói “xếp đặt lại vốn liếng”, ai cũng hiểu cả.* Vậy một đoạn văn tràn ngập chữ Tàu, là dấu hiệu đáng nghi văn Việt cộngLai TâyCác học sinh Marie Curie hay Jean-Jacques Rousseau, khi gặp nhau, xổ tiếng Tây, là chuyện thường. Các ký giả, trí thức gặp nhau bên tách cà phê, nói “toa toa moa moa” cũng là thường. Nhưng tại Miền Nam ít khi ta viết tiếng Tây trên sách báo.

Trái lại báo chí và cả sách giáo khoa cộng sản VN đầy dẫy đầu Ngô mình Sở:-Lô-gích (tiếng Pháp logique = luận lý): “Cơ cấu lại nền kinh tế: Lô-gích hành động và cách tiếp cận” (trích báo trong nước). Viết như vậy để lòe thiên hạ chứ không phải để cho người ta hiểu.8-Gu (tiếng Pháp goût = khiếu): “Thử thách gu thẩm mỹ style mix trùng họa tiết” (trích báo trong nước). Bađế quốc Tầu, Tây, Mỹ hiện diện trong một câu… thần chú, người thường không hiểu gì cả.-Mô típ (tiếng Pháp motif = đối tượng): “Mô típ trong nghệ thuật kiến trúc Chăm” (trích báo trong nước)-Boa (tiếng Pháp pourboire = tiền tặng, tiền thưởng): “Xù tiền boa, khách nhậu bị đâm đứt cổ” (trích báo trong nước)-Sô vanh nước lớn (Chauvin: tên người lính “yêu nước” của Napoléon)-Đixcua (Pháp: discours, có hai nghĩa 1: lời, 2: bài diễn văn): các nhà ngữ học VN XHCN lấy nghĩa thứ nhất để nói về ý niệm “câu đơn”Có vẻ như ở VN, ai không nhét vào bài viết của mình được một vài tiếng Tây bồi, không phải trí thức xã hội chủ nghĩa. Nhưng tôi ngạc nhiên tại sao họ không viết thẳng discours? Kỳ cục hơn nữa, tên riêng họ cũng phiên âm mà không kèm theo chữ gốc, Thấy một bản văn có “Humphây, Xitavit, Xtôntenbe, Cặctơ” ta chẳng biết ai vào ai, nhưng ta biết ngay ai là tác giả.Biến chứng của căn bệnh lai Tây là… dịch!Điển hình nhất là chữ “kịch tính” dịch từ “dramatic”. Nhân mùa bầu cử tổng thống Mỹ, một tờ báo Việt Nam viết, “Cuộc tranh cử đầy kịch tính giữa Clinton và Obama”. Hai chữ “kịch tính” khiến ta hình dung ra hai tay hề lố bịch trên sân khấu chính trị. Tiếng Việt trong sáng sẽ nói ‘cuộc tranh cử gay cấn…’, đâu có cần dịch một cách nô lệ chữ dramatic của TâyMỹ. Nhân Ngày Giới trẻ Thế giới 2008, Giám mục Bùi Văn Đọc, trả lời phỏng vấn của Vietcatholic, mô tả ĐGH Benedicto XVI là “Ngài không xuất hiện trước giới trẻ một cách đẹp đẽ và kịch tính như vị Giáo hoàng trước, nhưng…” Tội nghiệp, ĐGH Gioan Phaolô, tuy hồi còn trẻ thích kịch nghệ, viết kịch và đóng kịch, nhưng không bao giờ Ngài mang bộ mặt kịch tính với bất cứ ai. Cái nguy hiểm là một người nói sai, cả nước nói sai theo, cả Đài BBC cũng nói sai theo. Một trận đấu bóng đá sôi động quý ông bà Ban Việt ngữ BBC cũng nói “đầy kịch tính”!* Viết như me tây đầu thế kỷ 20 là một dấu hiệu ngôn ngữ XHCN.Nói phétNói phét –hay hoa ngôn –là bệnh của từng cá nhân cán bộ, chung của Đảng, lan sang dân, làm hỏng ngôn ngữ:-“Siêu sao chân dài”, “bánh đa siêu mỏng”, “máy siêu cao kỹ”, “tầu siêu tốc”9-Tiếng Việt có nhiều chữ để diễn tả sinh hoạt lý trí: trí khôn, thông minh, tinh thần, trí tuệ. Trí tuệ là trình độ cao nhất. Phật giáo coi trí tuệ là bước tới tuệ giác. Người cộng sản đại ngôn, cái gì cũng choảng trí tuệ vào“Chủ nghĩa Mác Lê-nin đỉnh cao trí tuệ loài người”.“Trò chơi trí tuệ tại Hội chợ Đà Lạt”“Con chó trí tuệ”“Game trí tuệ”-Muốn diễn tả cái gì siêu việt hơn nữa, bắt buộc họ phải leo lên Trời (nơi họ không tin là có)“Đảng thần thánh”“Cuộc chiến đấu thần thánh của nhân dân ta”-Tôi muốn nói hơi dài về chữ “hoành tráng”. Nó đã bị đóng dấu oan. Thực ra nó là Việt Nam rặt. Như phần một đã nói, “hoành tráng (như hoành lệ) là rộng lớn đẹp đẽ”. Bình thường hoành tráng thích hợp cho một dãy núi hùng vĩ, một cảnh hoàng hôn rực rỡ, lâu đài Taj Mahal diễm lệ. Nhưng tại sao quý vị và tôi cảm thấy khó chịu khi nghe hai chữ đó? Đơn giản lắm –vì nó được dùng bừa bãi trong nhu cầu khoa trương, thí dụ một câu quảng cáo thương mại “Hoành tráng trong chiếc váy đầm”! Người nói tiếng Việt, cao hứng lắm, cũng chỉ dám nói “lộng lẫy” là cùng.-Trước khi Đảng Cộng sản ra đời, nhiều nhà cách mạng đã viết “Toàn dân tranh thủ độc lập”. Chữ “tranh thủ” không phải do các ông Minh Đồng Giáp chế ra. Nhưng người nói tiếng Việt cảm thấy tức cười khi nhận được một thư xin tiền từ Việt Nam mở đầu, “Cháu tranh thủ viết thư thăm chú thím”.-“Digital signal processing” mà dịch là “xử lý tín hiệu số”, không phải là dở. Nhưng chữ “xử lý” trở thành lố bịch khi người ta bỏ nó vào tô phở. Người chạy bàn trong một tiệm phở tại Hà Nội đã hô cho nhà bếp như sau: “Xử lý hai bát phở tái nước trong! Khẩn trương lên!”-Chữ “bức xúc” không lai Tàu, không lai Tây, tượng thanh, tượng hình, có thể là một chữ hay. Nhưng nó đã “hư” ngay từ khi người ta nói “Ai bức xúc thì khẩn trương đi ỉa”. Đây là một chữ thượng thời đại, loại như “nổi cộm”, “trăn trở”.Nhiều chữ khác mà người Việt hải ngoại chúng ta nghe thấy khó chịu, thật 10ra đã xuất hiện trước khi mấy anh du kích cộng sản biết nói. Nhưng ta khó chịu vì họ dùng sai chỗ và dùng dao mổ trâu giết ruồi.* Tóm lại, khắc phục, bồi dưỡng, tranh thủ, động viên, đột xuất, khẩn trương, tự giác v.v. nguyên thủy là tiếng Việt Nam thuần túy và hay ho, bỗng biến thành lố bịch, bỗng nhiên làm người Việt bình thường chừng mực ngại dùng. Đây là loại từ ngữ thượng hạng VC.Nói sảng-Trong học thuyết cộng sản có hai ý niệm đối nghịch “chất” (quality) và “lượng” (quantity). Ai đi tù cải tạo đều phải học câu mác-xít “Lượng biến thành chất”. Nay người cộng sản ghép “chất” và “lượng” để nói về “phẩm chất” (quality). Một củ khoai lang ngonta nói “củ khoai ngon”, người trong nước nói “củ khoai chất lượng”.-“Lợi nhuận” đúng ra là “lợi tức trừ chi phí”, còn gọi là “lợi tức thuần” hay “lợi tức ròng” (Quỳnh Lâm, Từ điển chính trị, hành chánh, kinh tế, pháp luật). Nhưng từ ngày cộng sản chiếmtrọn nước, người ta dùng “lợi nhuận” để chỉ lợi tức. Họ thường nói, “Chế độ tư bản chỉ biết chạy theo lợi nhuận”. Nhưng tư bản xanh hay đỏ đều chạy theo lợi lộc, chứ có bao giờ vừa chạy vừa làm tính trừ chi phí đâu!-“Biện lý” có nghĩa là bảo vệ công lý; “Biện lý cuộc” hay “công tố viện” là cơ quan thay mặt xã hội truy tố người vi phạm luật pháp. Hai danh từ luật pháp đầy đủ ý nghĩa như vậy của Chính quyền Quốc Gia (Bảo Đại) và VNCH, đã bị thay thế bằng chữ “viện kiểm sát nhân dân”. Hai chữ “kiểm sát”, trong ngữ cảnh luật pháp, không nói được gì cả.-“Heo dân tộc”: tránh nói “heo mọi” là một cố gắng đáng khen, nhưng nhắm mắt lấy công thức “người dân tộc” để áp dụng cho con heo núi, là xúc phạm đồng bào thiểu số thượng du.* Trong khi tật đại ngôn làmmất giá những chữ hay sẵn có, thì sự dốt nát sanh ra những chữ mới vô nghĩa.Nói vẹtHọc thuộc lòng và lập lại như con vẹt là chiến lược sống yên trong xã hội cộng sản. Lá bùa “Nhờ ơn Bác và Đảng” ngày nay không còn được dán nhiều trên cửa miệng người dân, nhưng vẫn gián tiếp lấp lóe trên các cơ quan tuyên truyền. Nhưng còn nhiều công thức khác rất vô nghĩa:-Kinh tế tương đối (có tiền)-Có trình độ (trình độ học thức cao)

7một sách lược (trong đó chiêu bài và phỉnh lừa coi như vũ khí tất yếu), như “giải phóng Miền Nam”. Tôi muốn nói họ máy móc dùng “giải phóng” cho cả những thứ lặt vặt. Đĩa cứng trong máy vi tính đầy quá, ta “xóa bớt”, họ gọi là “giải phóng”; ta nói “giải tỏa một khu gia cư để làm đường”, họ nói “giải phóng…”; bớt việc cho một công nhân để họ đi tăng cường cho chỗ khác, họ gọi là “giải phóng lao động cơ hữu…”* Trên đây là chữ XHCH chính cống, không nhầm lẫn vào đâu được. Có bao nhiêu ngànchữ loại này, tôi không rõ.Lai TầuHồ Chí Minh ôm tập Luận cương của Lenin về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa, mà khóc tại Paris, được huấn luyện tại Nga, nhưng thực tập áp dụng tại Tầu. Trọn bộ chữ nghĩa như đấu tố, quy thành phần, xét lại, trăm hoa đua nở, cách mạng văn hóa, hộ khẩu, hộ chiếu, biên chế, điểm và diện, tam cùng, cục, phân cục, chủ nhiệm, sự cố, khắc phục v.v. đều là sao chép chữ tiếng Tầu.Đến một lúc họ nhớ mình là người Việt, bớt chữ Hán. Nhưng họ chỉ Việt hóa những chữ liên quan tới “địch”, như “máy bay lên thẳng”, “lầu năm góc”, “Nhà Trắng”. Ngược lại, trong nội bộ Đảng thì ngôn ngữ càng ngày càng lệ thuộc Trung quốc vỹ đại nhiều hơn.Sự ấp úng giữa tiếng Tầu và tiếng Việt đưa tới hiện tượng ngôn ngữ lai căng –“cơ cấu lại vốn”, trong đó “cơ cấu” là Hán, “lại” và “vốn” là Nôm.Cùng ý niệm kinh tế này, Miền Nam đã dùng năm âm tiết toàn Hán, nhưng quen thuộc, “tái tổ chức tư bản”. Miền Nam lại theo nguyên tắc tự do, cả trong ngôn ngữ, do đó một ý niệm có thể có nhiều cách phátbiểu, như có thể nói “xếp đặt lại vốn liếng”, ai cũng hiểu cả.* Vậy một đoạn văn tràn ngập chữ Tàu, là dấu hiệu đáng nghi văn Việt cộngLai TâyCác học sinh Marie Curie hay Jean-Jacques Rousseau, khi gặp nhau, xổ tiếng Tây, là chuyện thường. Các ký giả, trí thức gặp nhau bên tách cà phê, nói “toa toa moa moa” cũng là thường. Nhưng tại Miền Nam ít khi ta viết tiếng Tây trên sách báo. Trái lại báo chí và cả sách giáo khoa cộng sản VN đầy dẫy đầu Ngô mình Sở:-Lô-gích (tiếng Pháp logique = luận lý): “Cơ cấu lại nền kinh tế: Lô-gích hành động và cách tiếp cận” (trích báo trong nước). Viết như vậy để lòe thiên hạ chứ không phải để cho người ta hiểu.8-Gu (tiếng Pháp goût = khiếu): “Thử thách gu thẩm mỹ style mix trùng họa tiết” (trích báo trong nước). Bađế quốc Tầu, Tây, Mỹ hiện diện trong một câu… thần chú, người thường không hiểu gì cả.-Mô típ (tiếng Pháp motif = đối tượng): “Mô típ trong nghệ thuật kiến trúc Chăm” (trích báo trong nước)-Boa (tiếng Pháp pourboire = tiền tặng, tiền thưởng): “Xù tiền boa, khách nhậu bị đâm đứt cổ” (trích báo trong nước)-Sô vanh nước lớn (Chauvin: tên người lính “yêu nước” của Napoléon)-Đixcua (Pháp: discours, có hai nghĩa 1: lời, 2: bài diễn văn): các nhà ngữ học VN XHCN lấy nghĩa thứ nhất để nói về ý niệm “câu đơn”Có vẻ như ở VN, ai không nhét vào bài viết của mình được một vài tiếng Tây bồi, không phải trí thức xã hội chủ nghĩa. Nhưng tôi ngạc nhiên tại sao họ không viết thẳng discours? Kỳ cục hơn nữa, tên riêng họ cũng phiên âm mà không kèm theo chữ gốc, Thấy một bản văn có “Humphây, Xitavit, Xtôntenbe, Cặctơ” ta chẳng biết ai vào ai, nhưng ta biết ngay ai là tác giả.Biến chứng của căn bệnh lai Tây là… dịch!Điển hình nhất là chữ “kịch tính” dịch từ “dramatic”. Nhân mùa bầu cử tổng thống Mỹ, một tờ báo Việt Nam viết, “Cuộc tranh cử đầy kịch tính giữa Clinton và Obama”. Hai chữ “kịch tính” khiến ta hình dung ra hai tay hề lố bịch trên sân khấu chính trị. Tiếng Việt trong sáng sẽ nói ‘cuộc tranh cử gay cấn…’, đâu có cần dịch một cách nô lệ chữ dramatic của TâyMỹ. Nhân Ngày Giới trẻ Thế giới 2008, Giám mục Bùi Văn Đọc, trả lời phỏng vấn của Vietcatholic, mô tả ĐGH Benedicto XVI là “Ngài không xuất hiện trước giới trẻ một cách đẹp đẽ và kịch tính như vị Giáo hoàng trước, nhưng…” Tội nghiệp, ĐGH Gioan Phaolô, tuy hồi còn trẻ thích kịch nghệ, viết kịch và đóng kịch, nhưng không bao giờ Ngài mang bộ mặt kịch tính với bất cứ ai. Cái nguy hiểm là một người nói sai, cả nước nói sai theo, cả Đài BBC cũng nói sai theo. Một trận đấu bóng đá sôi động quý ông bà Ban Việt ngữ BBC cũng nói “đầy kịch tính”!* Viết như me tây đầu thế kỷ 20 là một dấu hiệu ngôn ngữ XHCN.Nói phétNói phét –hay hoa ngôn –là bệnh của từng cá nhân cán bộ, chung của Đảng, lan sang dân, làm hỏng ngôn ngữ:-“Siêu sao chân dài”, “bánh đa siêu mỏng”, “máy siêu cao kỹ”, “tầu siêu tốc”9-Tiếng Việt có nhiều chữ để diễn tả sinh hoạt lý trí: trí khôn, thông minh, tinh thần, trí tuệ. Trí tuệ là trình độ cao nhất. Phật giáo coi trí tuệ là bước tới tuệ giác. Người cộng sản đại ngôn, cái gì cũng choảng trí tuệ vào“Chủ nghĩa Mác Lê-nin đỉnh cao trí tuệ loài người”.“Trò chơi trí tuệ tại Hội chợ Đà Lạt”“Con chó trí tuệ”“Game trí tuệ”-Muốn diễn tả cái gì siêu việt hơn nữa, bắt buộc họ phải leo lên Trời (nơi họ không tin là có)“Đảng thần thánh”“Cuộc chiến đấu thần thánh của nhân dân ta”-Tôi muốn nói hơi dài về chữ “hoành tráng”. Nó đã bị đóng dấu oan. Thực ra nó là Việt Nam rặt. Như phần một đã nói, “hoành tráng (như hoành lệ) là rộng lớn đẹp đẽ”. Bình thường hoành tráng thích hợp cho một dãy núi hùng vĩ, một cảnh hoàng hôn rực rỡ, lâu đài Taj Mahal diễm lệ. Nhưng tại sao quý vị và tôi cảm thấy khó chịu khi nghe hai chữ đó? Đơn giản lắm –vì nó được dùng bừa bãi trong nhu cầu khoa trương, thí dụ một câu quảng cáo thương mại “Hoành tráng trong chiếc váy đầm”! Người nói tiếng Việt, cao hứng lắm, cũng chỉ dám nói “lộng lẫy” là cùng.-Trước khi Đảng Cộng sản ra đời, nhiều nhà cách mạng đã viết “Toàn dân tranh thủ độc lập”. Chữ “tranh thủ” không phải do các ông Minh Đồng Giáp chế ra. Nhưng người nói tiếng Việt cảm thấy tức cười khi nhận được một thư xin tiền từ Việt Nam mở đầu, “Cháu tranh thủ viết thư thăm chú thím”.-“Digital signal processing” mà dịch là “xử lý tín hiệu số”, không phải là dở. Nhưng chữ “xử lý” trở thành lố bịch khi người ta bỏ nó vào tô phở. Người chạy bàn trong một tiệm phở tại Hà Nội đã hô cho nhà bếp như sau: “Xử lý hai bát phở tái nước trong! Khẩn trương lên!”-Chữ “bức xúc” không lai Tàu, không lai Tây, tượng thanh, tượng hình, có thể là một chữ hay. Nhưng nó đã “hư” ngay từ khi người ta nói “Ai bức xúc thì khẩn trương đi ỉa”. Đây là một chữ thượng thời đại, loại như “nổi cộm”, “trăn trở”.Nhiều chữ khác mà người Việt hải ngoại chúng ta nghe thấy khó chịu, thật 10ra đã xuất hiện trước khi mấy anh du kích cộng sản biết nói. Nhưng ta khó chịu vì họ dùng sai chỗ và dùng dao mổ trâu giết ruồi.* Tóm lại, khắc phục, bồi dưỡng, tranh thủ, động viên, đột xuất, khẩn trương, tự giác v.v. nguyên thủy là tiếng Việt Nam thuần túy và hay ho, bỗng biến thành lố bịch, bỗng nhiên làm người Việt bình thường chừng mực ngại dùng. Đây là loại từ ngữ thượng hạng VC.Nói sảng-Trong học thuyết cộng sản có hai ý niệm đối nghịch “chất” (quality) và “lượng” (quantity). Ai đi tù cải tạo đều phải học câu mác-xít “Lượng biến thành chất”. Nay người cộng sản ghép “chất” và “lượng” để nói về “phẩm chất” (quality). Một củ khoai lang ngonta nói “củ khoai ngon”, người trong nước nói “củ khoai chất lượng”.-“Lợi nhuận” đúng ra là “lợi tức trừ chi phí”, còn gọi là “lợi tức thuần” hay “lợi tức ròng” (Quỳnh Lâm, Từ điển chính trị, hành chánh, kinh tế, pháp luật). Nhưng từ ngày cộng sản chiếmtrọn nước, người ta dùng “lợi nhuận” để chỉ lợi tức. Họ thường nói, “Chế độ tư bản chỉ biết chạy theo lợi nhuận”. Nhưng tư bản xanh hay đỏ đều chạy theo lợi lộc, chứ có bao giờ vừa chạy vừa làm tính trừ chi phí đâu!-“Biện lý” có nghĩa là bảo vệ công lý; “Biện lý cuộc” hay “công tố viện” là cơ quan thay mặt xã hội truy tố người vi phạm luật pháp. Hai danh từ luật pháp đầy đủ ý nghĩa như vậy của Chính quyền Quốc Gia (Bảo Đại) và VNCH, đã bị thay thế bằng chữ “viện kiểm sát nhân dân”. Hai chữ “kiểm sát”, trong ngữ cảnh luật pháp, không nói được gì cả.-“Heo dân tộc”: tránh nói “heo mọi” là một cố gắng đáng khen, nhưng nhắm mắt lấy công thức “người dân tộc” để áp dụng cho con heo núi, là xúc phạm đồng bào thiểu số thượng du.* Trong khi tật đại ngôn làmmất giá những chữ hay sẵn có, thì sự dốt nát sanh ra những chữ mới vô nghĩa.Nói vẹtHọc thuộc lòng và lập lại như con vẹt là chiến lược sống yên trong xã hội cộng sản. Lá bùa “Nhờ ơn Bác và Đảng” ngày nay không còn được dán nhiều trên cửa miệng người dân, nhưng vẫn gián tiếp lấp lóe trên các cơ quan tuyên truyền. Nhưng còn nhiều công thức khác rất vô nghĩa:-Kinh tế tương đối (có tiền)-Có trình độ (trình độ học thức cao)11-Nói chung: câu mở mồm của 90% người Việt trung bình trong nước. Câu buồn cười nhất mà tôi được nghe và đã cho vào một truyện ngắn là “Nói chung tôi không có cha mẹ”-Nhất định (nào đó): “khả năng nhất định”-Hạn chế (thiếu sót): “năm ấy bộ đội Bác Hồ còn hạn chế”-Chủ yếu (chính) “Bữa ăn cải thiện chủ yếu là khoai mì”; “Chủ tịch Nước tham quan Châu Âu chủ yếu là Pháp”; “Bà ta lấy chồng ngoại, chủ yếu để đi nước ngoài”Nói đểuDưới một bề mặt bình yên giả tạo, Việt Nam ngày nay thực chất là một xã hội đại loạn –loạn chính, loạn pháp, thương luân bại lý và loạn ngữ. Nói nhẹ nhàng là nói đểu.Hình bên ghi nhận một phong thái ĂN và NÓI dưới chế độ cộng sản. Nói đểu, nói xách mé, chửi thề, nói tục tĩu và nói dối… tuy không phải do chỉ đạo công khai từ Trung ương Đảng, nhưng Đảng –“người lãnh đạo độc nhất và thần thánh” –có trách nhiệm hoàn toàn về sự sa đọa ngôn ngữ của đảng viên và toàn dân. Trên thế giới không một dân tộc nàosuốt ngày đem mẹ ra mà đụ, địt liên miên, trong công sở, ngoài đường, ngoài chợ, trong trường học, như xã hội Việt Nam ngày nay. Không một nước nào mà con người –từ đứa bé bán vé số tới Tổng Bí thư Đảng và cơ quan truyền thông, báo chí –có thể nói trắngthành đen, nói đen thành trắng, như tại VN.Chữ đểu cáng nhất trong ngôn từ cộng sản là chữ “ngụy”. Trong chiến tranh hai bên có thể chửi mắng nhau thậm tệ –Tổng thống Ngô Đình Diệm gọi Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam là “Mặt trận côn đồ”, ngược lại Hà Nội gọi Việt Nam Cộng Hòa là “ngụy”. Nhưng khi chiến tranh chấm dứt, người cộng sản đã báo thù “nợ máu” bằng tước bỏ quyền công dân, hành quyết, giam cầm, đày ải, tịch thu tài sản, cướp vợ, hiếp con người chiến bại, 12nhân danh bản án “ngụy”; thế là đểu, cái đểu của những tên ăn cướp. Nay họ rêu rao chính sách hòa hợp hòa giải, nhưng vẫn coi người của chế độ VNCH là “ngụy”; mỗi ngày 30.4 họ lại khơi dậy tình thần thù ghét “ngụy”. Mà “ngụy” là gì? Là theo Mỹ. Bây giờ họ cầu cạnh Mỹ hơn VNCH –thế có phải chữ “ngụy” là đểu ngay từ đầu không?* Dùng ngôn ngữ như khí cụ che đậy chân lý hoặc lừa đảo, là đặc tính tệ hại nhất cùa văn hóa và ngôn ngữ cộng sản.3. THÁI ĐỘ CỦA NHỮNG NGƯỜI YÊU TIẾNG MẸPhục hồi vốn ngữ vựng bị dùng saiGia tài của tiền nhân đểlại, không lẽ ta để cho CS phá hoại? Vậy trước hết đừng né tránh những chữ người cộng sản dùng sai, mà phải sửa lại và dùng đúng hơn họ.Người cộng sản (rồi bây giờ cả nước) dùng các chữ khẩn trương, động viên, khắc phục, tranh thủ, yêu cầu… một cách lệch lạc:-Họ viết sai: “Các yêu cầu của một nền kinh tế bền vững”Ta sửa lại: “Các điều kiện của một nền kinh tế bền vững”.Và ta viết lại chữ “yêu cầu” trúng cách: “Yêu cầu Nhà Nước ngưng bán nước!”-Họ viết đại ngôn, “Khẩn trương đi cầu xí”Ta sửalại “Mau mau đi cầu!”Và ta viết lại chữ “khẩn trương” trúng cách: “Tình hình Trường Sa Hoàng Sa rất khẩn trương!”Hãnh diện vì kho ngữ vựng phong phú của dân Việt và VNCHChúng ta biết chắc điều này: về phương diện ngôn ngữ và văn hóa, Miền Nam Việt Nam là dòng chính.VNCH giữ sự liên tục từ Chữ Nôm đến chữ Quốc Ngữ, từ Alexandre de Rhodes tới Trương Vĩnh Ký, tới Tự lực Văn đoàn, tới Sáng Tạo, Bách Khoa, những viện đại học, những viện nghiên cứu độc lập, những tổ chức văn hóa, ngôn ngữ, hằng chục tờ báo ngày độc lập, hằng trăm tập san… Và trên hết, nền tự do tư tưởng và ngôn luận. Trong khi đó Bắc Việt độc tôn Stalin-Mao, trù dập trí thức, bách hại Nhân văn Giai 13phẩm, phủ nhận công lao Alexandre de Rhodes, cấm đoán Tự lực Văn đoàn, vào Nam đốt sách giam học trò. Ngày nay họ đã cho in lại TLVĐ để kiếm tiền và nhận vơ, mở lại Trường Luật, nhưng lỗ hổng văn học lớn còn đó, văn hóa và ngôn ngữ trước sau vẫn chỉ là khí cụ tuyên truyền. Trí thức Miền Bắc nhiều người lần đầu tiên đọc Nhân văn Giai phẩm là khivào Nam sau năm 75!Trên 5000 danh từ chuyên môn luật pháp, chính trị, kinh tế, tài chánh của Miền Nam đã được một nhóm cựu luật sư và thẩm phán chế độ cũ thu thập thành cuốn Từ điển Pháp luật (Nhà XB KHXH Hà Nội, 1992).Sau 25 năm không có hoạt động tưdoanh, không có đại học tự trị, không có phân khoa luật, không có nghề luật sư và thẩm phán chuyên nghiệp… Muốn xây dựng một quốc gia (ít nhất bề ngoài) có quy củ, họ phải dùng lại toàn bộ ngữ vựng của VNCH.Một vài thí dụ trong số trên 5000 danh từ nói trên:-“Cảnh sát” thay thế “công an”-“Trương mục” đã được xếp trước “tài khoản” trong tự điển và sử dụng nhiều hơn trong thường nhật. Nhưng dường như họ không phân biệt, “trương mục” là một cái túi vô hình trong ngân hàng để ta bỏ tiền, trong khi “tài khoản” là số tiền nằm trong đó; tài khoản còn là số tiền dành cho một khoản chi/thu trong ngân sách.-State (Mỹ) được dịch là “tiểu bang” trong tự điển tuy báo chí vẫn dùng “bang”-Trong cơ cấu tổ chức chính quyền, họ vẫn dùng “Viện kiểm sát nhân dân”, nhưng ý niệm “công tố” đã được khôi phục trong từ điển nói trên.-Dần dần trong nước đã dùng “bảo hiểm” thay cho “bảo hành”Ngoài các danh từ chuyên môn về luật pháp, kinh tế, hành chánh, ngôn ngữ thường nhật cũng đổi giọng:-“Máy bay trực thăng” đã thay thế “máy bay lên thẳng”-“Hàng không mẫu hạm” được dùng song song với “tàu sân bay”-“Hoa Kỳ” thay “Mỹ”. Người cộng sản lạ lắm –thời Thế chiến II, khi cần nịnh Mỹ thì họ gọi “Hoa Kỳ” (“đèn Hoa Kỳ” là dấu tích một mở màn bang giao không thành giữa Mỹ và Việt Minh); khi thù ghét thì họ gọi “Mĩ”; bây giờ một điều “Hoa Kỳ” hai điều “Hoa Kỳ”. Trong chế độ cộng sản, chữ nghĩa thay đổi 14theo bạn thù, mà bạn thù thay đổi theo quyền lợi Đảng, chứ không phải quyền lợi Tổ Quốc hay nhân dân.Không phải mọi chữ mới đều là chữ VCVào năm 1975 cả Miền Nam chỉ có dăm ba máy vi tính (một tại Phủ Thủ tướng, một tại Bộ Tổng Tham mưu, một của USAID, của hãng IBM. Có thể nhiều nơi khác có, tôi không biết). Giới hữu trách chuyên môn có soạn ramột cuốn ngữ vựng Anh-Việt, nhưng chỉ giải thích ý niệm, không tạo từ nhiều. Các chuyên viên và nhân viên làm việc trao đổi với nhau bằng tiếng Anh, tiện hơn.Ngày nay, vì nhu cầu giáo dục, người ta cố gắng tạo từ. “Người ta” đây có thể là các chuyên giatrong nước, có thể là các chuyên gia người Việt ở hải ngoại, đã và đang chế ra các danh từ chuyên môn. Dù lúc đầu bỡ ngỡ, ta nên công minh xét, chữ nào hay và đúng, ta dùng, chữ nào sai ta điều chỉnh. Tôi thấy không có gì sai hay lố bịch, thí dụ, trong các chữ giao diện, hiển thị, kích hoạt, phần cứng, phần mềm… Liên quan tới danh từ kỹ thuật, tôi lấy thí dụ “thông số” hay “biến số” (variables) là hai chữ có từ trước, nhưng “biến số” được dùng nhiều trong sách giáo khoa Miền Nam nên trở thành quen thuộc hơn. Ngày nay trong nước dùng “thông số”; nếu bảo là “từ VC” thì oan cho nó.Trong trào lưu toàn cầu hóa, danh từ chuyên môn hay là chữ nào có nội dung chính xác (lột ý), nhưng hình thức của nó giúp ta đoán ngay được tiếng tương đương trong Anh, tiếng Pháp, tiếng Na-uy.“Cứng/mềm” hay “cương/nhu”, chữ nào giúp ta liên tưởng tới “hard/soft” nhanh hơn? Tùy người. Nhưng chữ Việt và chữ Hán cũng là một yếu tố cần cân nhắc. Danh từ chuyên môn dài lòng thòng cũng không tiện.Có người cho “nguyên tử” là chữ Việt, “hạch tâm” là chữ VC. Tôi cho rắng cả hai là chữ Việt, “nguyên tử” để dịch “atomic”, “hạch tâm”: “nuclear”. Có đủ danh từ Việt tương đương với từng danh từ quốc tế, là một điều cần thiết cho việc giao dịch, trao đổi, giảng dạy và dịch thuật.Chữ “căn hộ” Trường Sinh ngữ Sài Gòn trước 75 đã dùng rồi, nhưng không phổ biến rộng, vì ta không có nhu cầu (hình thức gia cư này chỉ hạn chế ở vài nơi như Cư xá Thanh Đa, Chung cư Nguyễn Văn Thoại, Chung cư Nguyễn Thiện Thuật). Nay chúng ta nghe “căn hộ” thì cho là “từ VC”, nhưng có lẽ chúng ta chưa có chữ nào hay hơn để dịch “apartment”. “Căn chung cư” không ổn vì có nhiều apartment không nằm trong chung cư. “Căn nhà” càng không ổn, vì đã được dùng để chỉ “house” tiếng Anh, “hus” tiếng Na-uy.Chữ “thông tin” không mới mẻ gì và được dùng ở cả hai miền. Nhưng ở hải 15ngoại nhiều người dị ứng với chữ thông tin trong câu sau: “Muốn biết thêm thông tin xin liên lạc với Sở Di trú”. Bề ngoài ta lý luận rằng “thông tin” là động từ, không được dùng như danh từ. Nhưng nguyêndo thực là ta không thích dùng cái gì Việt cộng mó tay vào. Thông dịch viên đành sửa lại “Muốn biết thêm chi tiết…” hoặc “Muốn biết thêm tin tức…”. Nhưng trong bụng anh thông dịch viên nghĩ rằng chữ nào phải ra chữ đó –details: chi tiết, news: tin tức vàinformation: thông tin . Anh ta cũng dư biết rằng chữ thông tin có thể vừa dùng làm danh từ vừa làm động từ.Trước khi bác bỏ một chữ dở, nên đề nghị một chữ hay hơnCloning là một lãnh vực khoa học mới mẻ. Trong nước dịch cloning: nhân bản vô tính. Thật khó hiểu, phải ngồi phân tích một hồi mới vỡ lẽ ra là: làm ra nhiều bản sao, không qua đường truyền giống. Nhưng có lẽ các nhà chuyên môn trong nước sao chép chữ Tầu, nên bốn chữ thành tối om, chưa kể nhiều người giật mình khi nghe nhóm chữ “nhân bản vô tính người”. Vì chữ “nhân” trong tiếng Việt có ít nhất hai nghĩa: người và làm ra nhiều, người hán không rộng phải bỡ ngỡ mấy phút tự hỏi –lấy con người làm gốc mà lại không có tính người, là thế nào? Một chữ gây bối rối không cần thiết là một chữ không đạt.Khi cảm thấy một chữ dịch không hay, tôi thường thử tự dịch lại trước khi phê bình. Trường hợp cloning, tôi dịch thử là “sao sinh vật”. Từ đó ra “human cloning: sao người”, Dolly là một con “cừu sao -cloned sheep”. Hiện trên thế giới chưa có “người sao” vì chưa được phép “sao người”.“Processing” (Na-uy: behandling) là một chữ tôi chịu thua không dịch được nếu không dùng chữ “xử lý”. Text processing: trong nước dịch “xử lý văn bản”, chưa có chữ nào hợp hơn. Có người đề nghị “soạn thảo văn bản”, nhưng soạn thảo là viết ý ra lời, còn đưa lời lên chữ và trình bày trên máy vi tính, là việc khác. Vấn đề phức tạp hơn nữa khi ta cần diễn tả bằng một danh từ chung cho cả một tiến trình –lấy thí dụ nghề mộc –bào, đánh bóng, quang dầu một tấm ván mà tiếng Na-uy gọi là behandle và tiếng Anh treat, thì có lẽ không tránh được chữ “xử lý”. Một số tự điển dịch là “chế biến”, tôi thấy có lúc hợp, có lúc không. Không hợp trong trường hợp “Inmate Processing Center” không thể dịch là “Trung tâm chế biến tù nhân” được.Cá nhân tôi đã dùng chữ “xử liệu” thay cho các trường hợp phải dùng “xử lý” (như khoa học, cơ khí, hành chánh). Còn thường ngày, chữ “liệu” là tuyệt nhất, thí dụ vợ nói với chồng “Anh cứ lo đưa con đi học đi, cơm để em liệu”.Một chữ khác, “kế toán sự nghiệp” trong nước dùng để chỉ kế toán của các tổ chức bất vụ lợi. Tôi thấy khó hiểu nhưng không hiểu ý chữ “sự nghiệp” muốn nói gì, nên không dám phê bình.16Thái độ với tiếng lóngCũng cần vài hàng cho tiếng lóng. Mỗi thời, mỗi môi trường xã hội có cách ra dấu riêng với nhau, vì thế có tiếng lóng. Vài tiếng lóng điển hình của thời đại kinh tế tư bản theo định hướng xã hội chủ nghĩa là: đại gia, đồ khủng, hàng độc, đồ đểu, chân dài (lấy cái cẳng để đo toàn diện nhan sắc –một điều vô lý, nhưng tiếng lóng không có lý luận, nó được quăng vào một môi trường, thích hợp thì tồn tại), máu (mê), phết (ra phết), bèo (rẻ như bèo). Với tiếng lóng, ta không cần khen chê, bởi vì không có tiêu chuẩn khách quan.“Bảo tồn tiếng Việt –không dùng chữ VC”Tôi hoàn toàn tánđồng vế thứ nhất –bảo tồn tiếng Việt là một sứ mạng cao cả của những người may mắn được hưởng tự do tư tưởng và phát biểu. Chính ta phải tránh những cái sai của người cộng sản, viết và nói một thứ tiếng Việt chuẩn và đẹp. Quảng bá sách vở và tư tưởng truyền thống Việt Nam và thế giới nhân bản. Cho con em học tiếng Việt nơi trường lớp Việt Nam. Tránh xa những sinh hoạt do cơ quan lãnh sự Việt cộng chủ trương (ta không lường được tác hại của một lớp tiếng Việt, một khóa học làm đèn trung thu hay một trại hèdo đại sứ quán Việt cộng tổ chức).Nhưng tôi muốn cẩn thận với vế thứ hai: hầu hết những chữ ta tưởng là chữ XHCH đều là tiếng Việt thuần túy. Ta không nên tránh né những tiếng họ đã dùng sai, mà cần “chiêu hồi” những ngôn từ ấy.Đó là một hành vi yêu nước trong tầm tay của chúng ta.Oslo, mùa đông 2011Tâm Thanh______(*) « Thị trường » = Market, “Thị phần” = Market share(TTR)Posted byTiếng Thông Reoat9:21 AMNguồn:http://tiengthongreo.blogspot.com.au/search/label/05-Ti%E1%BA%BFngVi%E1%BB20.Gửi Lên: Lê-Thụy-ChiNgày 07/11/4895 –Bính Thân (04/01/2017)www.vietnamvanhien.net

JIMMY NHỰT HÀ:Vĩnh biệt Tiếng hát Mai Hương (1941-2020)

Vĩnh biệt Tiếng hát Mai Hương 😥

Xiết bao đau buồn báo tin đến quý khán thính giả và thân hữu khắp nơi:
Nữ danh ca Mai Hương đã được Chúa gọi về lúc 2 giờ 52 phút chiều hôm nay, ngày 29 tháng 11 năm 2020. Hưởng thọ 79 tuổi.

Từ đây « Tiếng Hát Quay Tơ » sẽ không còn dệt nên những sợi Tơ Vàng lấp lánh cho nền âm nhạc Việt Nam ,những sợi thương sợi nhớ về hình ảnh đất nước những ngày khói lửa chiến tranh, cũng như một quê hương xa ngàn dặm đã thuộc về quá khứ.

Jimmy xin thành tâm chia buồn cùng gia đình chú Duc Truong và các anh Tùng – TD Truong, anh Đức chị Mai Huynh, Mai Park
Nguyện cầu cô Mai Hương an nghỉ trong tình yêu Thiên Chúa

Lê Quang Thanh Tâm: Tác phẩm Lục Vân Tiên trong nghệ thuật Việt Nam

Tác phẩm Lục Vân Tiên trong nghệ thuật Việt Nam

06:17:37 09/07/2019

Tác phẩm Lục Vân Tiên của Cụ Đồ Chiểu là một trong những tác phẩm lớn của nền Văn học nước nhà. Vậy chúng ta hãy xem qua có bao nhiêu vở diễn sân khấu và điện ảnh đã từng được thực hiện theo tác phẩm này nhé!

Cải lương ngay từ những năm thập niên 1920 – 1930 đã từng dựa theo danh phẩm “Lục Vân Tiên” của đại thi hào Nguyễn Ðình Chiểu, soạn thành vở diễn hát trên sân khấu và rất được khán giả hoan nghênh.

Ðến thập niên 1940, soạn giả Mộng Vân có sáng kiến lồng thêm vài câu “Thơ Vân Tiên” vào tuồng hát cho thi vị.

Giai đoạn những năm 1960 – 1970,  sân khấu và băng đĩa tại Sài Gòn cũng có diễn tích truyện Lục Vân Tiên, nhưng không mấy thành công, nếu so với những tuồng tích tạo tiếng vang khác của nền nghệ thuật cải lương miền nam.

Ở miền bắc, Đoàn cải lương Nam bộ cũng từng dựng vở diễn này của soạn giả Ngọc Cung và cũng rất thành công với tài danh Ái Liên, Công Thành, Ngọc Thanh, Văn Kiểng, Tấn Nghĩa, Thanh Xuân,… Trình chơi Video00:0001:16

Sau ngày nước nhà thống nhất, đầu thập niên 1980 nhà hát Trần Hữu Trang cũng đã rất thành công với hàng trăm xuất diễn kéo dài liên tục của nàng Kiều Nguyệt Nga – Bạch Tuyết và chàng Lục Vân Tiên – Thanh Sang. Hai vai diễn của họ vẫn sáng ngời và được yêu thích cho đến tận hôm nay. Ngoài Bạch Tuyết và Thanh Sang, các vai diễn Kiều Nguyệt Nga và Lục Văn Tiên còn ghi đậm tài năng của các nghệ sĩ khác như Phượng Liên, Mộng Tuyền, Bạch Lê, Thanh Thanh Tâm, Minh Thiện, Huỳnh Thái Dũng, Ngọc Giàu,…

Mộng Tuyền trong vai Kiều Nguyệt Nga

Có thể nói cải lương đã có những kết quả thành công nhất định khi “đụng” vào danh tác này. Thế còn trong lĩnh vực điện ảnh thì sao?

Khoảng năm 1957 có một cái tên lạ hoắc với lĩnh vực điện ảnh lại nhảy ra thực hiện cuốn phim mầu và tự đóng vai chính luôn. Đó là nhà tư sản kiêm tài tử Tống Ngọc Hạp, ông đã lấy truyện Lục Vân Tiên để dựng phim, và nữ tài tử đóng vai Kiều Nguyệt Nga chính là hoa hậu kiêm nhà báo Thu Trang.

Lúc bấy giờ cả ngàn tiệm cà phê, tiệm ăn trong các ngõ hẻm đâu đâu cũng thấy hình ảnh quảng cáo Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga.

Tuy là phim mầu đầu tiên của Việt Nam, đi dự nhiều liên hoan phim tại Hồng Kông, Nhật Bản,Tây Đức,… nhưng thật sự mà nói ngay tại quê nhà, phim không thành công.

Nhưng dù gì đi nữa thì cuốn phim Lục Vân Tiên cũng đi vào lịch sử là bộ phim mầu đầu tiên của nền điện ảnh nước nhà, đồng thời Tống Ngọc Hạp và Thu Trang cũng là nam nữ tài tử Việt Nam đầu tiên đóng phim mầu.

Sau ngày miền Nam giải phóng, nguyên vở cải lương “Kiều Nguyệt Nga” do Bạch Tuyết diễn xuất cho sân khấu Trần Hữu Trang được Hãng phim Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh quay hình bằng phim nhựa mầu 35 ly và trình chiếu liên tục ở màn ảnh rộng, doanh thu thật đáng kể, gọi là phim cũng được nhưng đó thật sự là điện ảnh hóa sân khấu thì đúng hơn.

Sang đến thập niên 1990, Xí nghiệp phim Thành Phố hợp tác với tư nhân sản xuất bộ phim truyện nhựa mầu Kiều Nguyệt Nga và Lục Vân Tiên, phim do Khương Mễ đạo diễn, hai vai diễn chính do Lý Hùng và Diễm Hương diễn xuất. Ngoài ra còn có sự tham gia của Lê Tuấn Anh, Nguyễn Huỳnh, Mộng Vân, Công Hậu,…Phim dài 2 tập và nếu chỉ nhìn vào doanh thu ta thấy rất khả quan. Bộ phim này cũng giới thiệu một Mộng Vân ấn tượng trong làng diễn xuất khi cô chỉ vụt thoáng qua trong vai diễn Phật Bà Quan Âm.

58419160_10215314162515048_39451310428258304_n
58419633_10215314117713928_1446461478243663872_n
58441471_10215314115753879_7601187988944453632_n
58383571_10215314127274167_5868702781371580416_n

Vào đầu thế kỷ 21 thì hãng phim truyền hình TFS sản xuất bộ phim truyền hình nhiều tập “Lục Vân Tiên”.

Vai diễn này do anh chàng diễn viên Chi Bảo đảm nhận, riêng vai Kiều Nguyệt Nga thì quả là “quá” lận đận khi phải “sang tay” từ Hà Kiều Anh sang Hồng Ánh sau vụ án điện thoại Đông Nam.

Không những thế những chuyện rắc rối “hậu” bộ phim cũng rất nhiều như vụ Mỹ Uyên thưa kiện vì bị tung ảnh khỏa thân tắm suối trên mạng….

Bộ phim này được đầu tư rất “mạnh” tay với ê kíp làm phim gồm rất nhiều đạo diễn trong đó có Đỗ Phú Hải, phần trang phục do nhà tạo mẫu Kiều Việt Liên thực hiện. Nhìn chung, các nhà làm phim cũng có nhiều cố gắng và tâm huyết khi đưa tác phẩm nổi tiếng của cụ đồ Chiểu lên phim như do năng lực, do hoàn cảnh và do trình độ làm phim của nước nhà nên các bộ phim dựa theo tác phẩm này vẫn chưa tạo nên sự thu hút, sự thuyết phục nếu không muốn nói là không thành công.

Mới nhất là có vở nhạc kịch Tiên – Nga sáng đèn và ăn khách của sân khấu kịch Idecaf. Vở nhạc kịch Tiên Nga được Nghệ Sỹ Ưu Tú Thành Lộc ấp ủ trong bốn năm, anh vừa là đạo diễn, vừa là biên kịch. Tiên – Nga có câu chuyện lạ, âm nhạc hay, dàn diễn viên tốt, phục trang, cảnh trí đẹp, nên sáng đèn nhiều thời điểm và luôn cháy vé.

Lê Quang Thanh Tâm

(ảnh tư liệu)