Catégorie : Non classé

Thanh Hiệp: Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý qua đời ở tuổi 94

26-12-2019 – 10:26 PM | Văn nghệChia sẻ

(NLĐO)- Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý nổi tiếng với những sáng tác như « Dư âm », « Mẹ yêu con », « Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa », « Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh », « Người đi xây hồ Kẻ Gỗ », « Dáng đứng Bến Tre »…

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý (sinh ngày 5 tháng 3 năm 1925, tại Nghệ An) đã qua đời vào tối 26-12 tại nhà riêng trên đường Trần Khắc Chân (quận 1, TP HCM) sau thời gian chống chọi với rất nhiều căn bệnh của tuổi già, hưởng thọ 94 tuổi.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý qua đời ở tuổi 94 - Ảnh 1.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý trong chương trình “Nghệ sĩ tri âm” lần thứ 3 do NSND Kim Cương tổ chức

Là một trong năm nhạc sĩ đầu tiên, cùng Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Văn Cao, thành lập nên Hội nhạc sĩ Việt Nam, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý nổi tiếng với những sáng tác như « Dư âm », « Mẹ yêu con », « Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa », « Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh », « Người đi xây hồ Kẻ Gỗ », « Dáng đứng Bến Tre »… 

Có sự nghiệp thành công, nhưng ở tuổi xế chiều, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý rơi vào cảnh ốm đau, bệnh tật. 

Lễ nhập quan vào lúc 8 giờ ngày 27-12 và di quan ngày 29-12. Hội Âm nhạc TP HCM đang chuẩn bị tang lễ, có thể quàn tại Nhà Tang lễ TP HCM.
Tin – ảnh: Thanh Hiệp

Đ.D.: ‘Tiếng Hát Vượt Thời Gian’ Thái Thanh qua đời ở tuổi 86

‘Tiếng Hát Vượt Thời Gian’ Thái Thanh qua đời ở tuổi 86

Mar 18, 2020

Nữ danh ca Thái Thanh. (Hình: rfa.org)

AddThis Sharing ButtonsShare to FacebookShare to TwitterShare to EmailShare to Print

WESTMINSTER, California (NV) – Nữ danh ca Thái Thanh, người được mệnh danh “tiếng hát vượt thời gian,” vừa qua đời lúc 11 giờ 50 phút sáng Thứ Ba, 17 Tháng Ba, tại Little Saigon, theo MC Trần Quốc Bảo, một người quen biết rất nhiều văn nghệ sĩ người Việt ở hải ngoại, nói với nhật báo Người Việt.

Nhật báo có gọi điện thoại cho ca sĩ Ý Lan, ái nữ của danh ca, và để lại lời nhắn nhiều lần, nhưng chưa được hồi âm.

Nữ danh ca Thái Thanh tên thật là Phạm Thị Băng Thanh, sinh ngày 5 Tháng Tám, 1934 tại Hà Nội, trong một gia đình mà hầu hết người thân đều là những tên tuổi gạo cội của làng âm nhạc Việt Nam.

Theo “music.quehuong.org,” “thân phụ của bà là ông Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của ông sinh được hai người con trai là Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm là ca sĩ Hoài Trung của ban hợp ca Thăng Long.”

“Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có ba người con, trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy; con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương, tức ca sĩ Hoài Bắc, và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh.”

Theo Đài Á Châu Tự Do (RFA), qua một bài viết hồi năm 2014, nhân dịp nữ danh ca 80 tuổi, “nhờ ảnh hưởng từ nhạc cụ dân tộc của cha, Thái Thanh đã tự luyện âm theo lối chầu văn, hát chèo, vì thế tiếng hát của bà nồng đượm các làn điệu dân ca quê hương… về sau do tự học sách nhạc của Pháp mà tiếng hát đặc biệt của bà lại hòa trộn được giữa chất opera của phương Tây và chất dân ca dung dị của Việt Nam.”

“Giới phê bình đánh giá âm vực trong lời ca của Thái Thanh độc nhất vô nhị, từ cách luyến láy da diết tình quê cho đến giọng ngân du dương sang trọng. Thái Thanh được xem như một trong những giọng ca tiêu biểu nhất của dòng tân nhạc Việt Nam, tiếng hát của bà được đánh giá là ‘đệ nhất danh ca’ của dòng nhạc tiền chiến cũng như nhạc tình miền Nam giai đoạn 1954 – 1975,” RFA viết tiếp.
Tên tuổi Thái Thanh trở nên lẫy lừng kể từ thập niên 1950 cho đến những ngày cuối của miền Nam Việt Nam. Tiếng hát đó đã ngự trị trên khắp các chương trình ca nhạc truyền thanh cũng như truyền hình.

Ngoài ra, bà còn được đặc biệt chú ý khi cùng các anh thành lập ban hợp ca Thăng Long.

Riêng trong địa hạt vũ trường, tên tuổi Thái Thanh được nhắc nhở đến nhiều khi cất tiếng hát tại vũ trường Ðêm Mầu Hồng vào đầu thập niên 1970.

Nữ danh ca lập gia đình với tài tử Lê Quỳnh vào khoảng giữa thập niên 1950, nhưng sau này chính thức ly dị khi người con gái đầu lòng là nữ ca sĩ Ý Lan mới được 8 tuổi.

Ngoài Ý Lan là một trong những nữ ca sĩ thành danh tại hải ngoại, một người con gái khác của Thái thanh là Quỳnh Hương, cũng là một giọng ca nổi tiếng và là một MC duyên dáng.

Nhờ thừa hưởng dòng máu nghệ sĩ của bà ngoại, con gái của Ý Lan hiện cũng đang là một tiếng hát trẻ nhiều triển vọng.

Sau khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt, bà ở lại quê nhà cho đến năm 1985 chuyển sang định cư ở Hoa Kỳ.

Sau khi ra đến hải ngoại, những năm đầu tiên, Thái Thanh được coi là một trong những ca sĩ được mời đi lưu diễn nhiều nhất, cùng một lúc tiếng hát này được mời thu thanh trên nhiều CD của trung tâm Diễm Xưa. Sau đó Thái Thanh mở lớp dạy hát tại cùng địa điểm dạy nhạc của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi ở Orange County.

Năm 1999, bà quyết định giải nghệ khi được 65 tuổi. Sự kiện này được đánh dấu bằng một đêm trình diễn đặc biệt của bà cùng với các con và cháu.

Những ca khúc làm nên tên tuổi của nữ danh ca Thái Thanh phần nhiều là do nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác hoặc phổ nhạc như “Tình Hoài Hương,” “Ngày Xưa Hoàng Thị,” “Trả Lại Em Yêu,” “Nửa Hồn Thương Đau,” “Nghìn Trùng Xa Cách,” “Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng,” và “Kỷ Vật Cho Em”… và của một số nhạc sĩ khác. (Đ.D.)

https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/tieng-hat-vuot-thoi-gian-danh-ca-thai-thanh-qua-doi-huong-tho-86-tuoi/?fbclid=IwAR0XCH_hFlYNGrz-OrVdPrNgLgNE3jztk3x-emebczjxk1qiNEPrvPItFK4

Thanh Hiệp : Nữ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi

Thanh Hiệp : Nữ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi

18-03-2020 – 07:14 AM | Văn nghệ Chia sẻ

(NLĐO) – Gia đình của nhạc sĩ Phạm Duy đã thông báo danh ca Thái Thanh, người được mệnh danh là « Tiếng hát vượt thời gian », đã qua đời tại Mỹ vào lúc 11 giờ 20 ngày 17-3 (giờ địa phương). Hưởng thọ 86 tuổi.

Nữ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi - Ảnh 1.

Nữ danh ca Thái Thanh

Bà tên thật Phạm Thị Băng Thanh, sinh ngày 5-8-1934 tại Hà Nội. Bà được xem là một trong những giọng ca tiêu biểu nhất của tân nhạc Việt Nam. Bà đi hát và thành công từ năm 14 tuổi trong vùng kháng chiến chống Pháp, nổi tiếng cùng ban hợp ca Thăng Long của gia đình, trước khi chính thức lấy nghệ danh Thái Thanh từ thập niên 1950.

Bà được giới chuyên môn đánh giá là « Đệ Nhất danh ca » của dòng nhạc tiền chiến và dòng nhạc tình ca lãng mạn qua việc gắn liền với nhiều nhạc phẩm của nhạc sĩ Phạm Duy.

Bà không theo học một lớp nhạc chuyên nghiệp nào, chỉ tự luyện giọng từ nhỏ theo các lối hát dân ca và các sách nhạc tiếng Pháp, về sau đã tạo ra một trường phái riêng hòa trộn giữa tính chất opera tây phương và dân nhạc Việt Nam.

Nữ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi - Ảnh 2.

Danh ca Thái Thanh và ca sĩ Ý Lan

Bà sang Mỹ định cư cùng gia đình năm 1985, tham gia biểu diễn phục vụ khán giả kiều bào tại Mỹ cho đến năm 2002 thì giải nghệ.

Cha của bà là ông Phạm Đình Phụng, có 2 vợ, vợ trước sinh ra Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm, vợ sau sinh ra Phạm Thị Quang Thái (ca sĩ Thái Hằng), nhạc sĩ Phạm Đình Chương và bà – nữ danh ca Thái Thanh.

Nữ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi - Ảnh 3.

Nữ danh ca Thái Thanh trong đêm nhạc vinh danh bà tổ chức tại Canada

Năm 2000, bà bị tai biến mạch máu não phải nhập viện cấp cứu. Năm 2005, gia đình đã tổ chức một đêm nhạc thính phòng mang tên « Vinh danh Thái Thanh, tiếng hát vượt thời gian » tại Montreal – Canada với sự tham gia của Thái Thanh cùng nhiều ca sĩ nổi tiếng của thế hệ sau như: Tuấn Ngọc, Ý Lan, Trần Thu Hà…

Sự ra đi của bà đã để lại nhiều thương tiếc cho các ca sĩ, nghệ sĩ đồng nghiệp thuộc nhiều thế hệ bởi bà là tấm gương sáng trong lao động nghệ thuật. Khán thính giả yêu mến tiếng hát của bà cũng bày tỏ sự thương tiếc, vì nhắc đến bà không thể quên các ca khúc: « Ngày xưa Hoàng Thị », « Nghìn trùng xa cách », « Áo anh sứt chỉ đường tà », « Làng tôi »… Thanh Hiệp (ảnh do NSCC)

Nữ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi

18-03-2020 – 07:14 AM | Văn nghệ Chia sẻ

(NLĐO) – Gia đình của nhạc sĩ Phạm Duy đã thông báo danh ca Thái Thanh, người được mệnh danh là « Tiếng hát vượt thời gian », đã qua đời tại Mỹ vào lúc 11 giờ 20 ngày 17-3 (giờ địa phương). Hưởng thọ 86 tuổi.

Nữ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi - Ảnh 1.

Nữ danh ca Thái Thanh

Bà tên thật Phạm Thị Băng Thanh, sinh ngày 5-8-1934 tại Hà Nội. Bà được xem là một trong những giọng ca tiêu biểu nhất của tân nhạc Việt Nam. Bà đi hát và thành công từ năm 14 tuổi trong vùng kháng chiến chống Pháp, nổi tiếng cùng ban hợp ca Thăng Long của gia đình, trước khi chính thức lấy nghệ danh Thái Thanh từ thập niên 1950.

Bà được giới chuyên môn đánh giá là « Đệ Nhất danh ca » của dòng nhạc tiền chiến và dòng nhạc tình ca lãng mạn qua việc gắn liền với nhiều nhạc phẩm của nhạc sĩ Phạm Duy.

Bà không theo học một lớp nhạc chuyên nghiệp nào, chỉ tự luyện giọng từ nhỏ theo các lối hát dân ca và các sách nhạc tiếng Pháp, về sau đã tạo ra một trường phái riêng hòa trộn giữa tính chất opera tây phương và dân nhạc Việt Nam.

Nữ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi - Ảnh 2.

Danh ca Thái Thanh và ca sĩ Ý Lan

Bà sang Mỹ định cư cùng gia đình năm 1985, tham gia biểu diễn phục vụ khán giả kiều bào tại Mỹ cho đến năm 2002 thì giải nghệ.

Cha của bà là ông Phạm Đình Phụng, có 2 vợ, vợ trước sinh ra Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm, vợ sau sinh ra Phạm Thị Quang Thái (ca sĩ Thái Hằng), nhạc sĩ Phạm Đình Chương và bà – nữ danh ca Thái Thanh.

Nữ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi - Ảnh 3.

Nữ danh ca Thái Thanh trong đêm nhạc vinh danh bà tổ chức tại Canada

Năm 2000, bà bị tai biến mạch máu não phải nhập viện cấp cứu. Năm 2005, gia đình đã tổ chức một đêm nhạc thính phòng mang tên « Vinh danh Thái Thanh, tiếng hát vượt thời gian » tại Montreal – Canada với sự tham gia của Thái Thanh cùng nhiều ca sĩ nổi tiếng của thế hệ sau như: Tuấn Ngọc, Ý Lan, Trần Thu Hà…

Sự ra đi của bà đã để lại nhiều thương tiếc cho các ca sĩ, nghệ sĩ đồng nghiệp thuộc nhiều thế hệ bởi bà là tấm gương sáng trong lao động nghệ thuật. Khán thính giả yêu mến tiếng hát của bà cũng bày tỏ sự thương tiếc, vì nhắc đến bà không thể quên các ca khúc: « Ngày xưa Hoàng Thị », « Nghìn trùng xa cách », « Áo anh sứt chỉ đường tà », « Làng tôi »… Thanh Hiệp (ảnh do NSCC

Nữ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi

18-03-2020 – 07:14 AM | Văn nghệ Chia sẻ

(NLĐO) – Gia đình của nhạc sĩ Phạm Duy đã thông báo danh ca Thái Thanh, người được mệnh danh là « Tiếng hát vượt thời gian », đã qua đời tại Mỹ vào lúc 11 giờ 20 ngày 17-3 (giờ địa phương). Hưởng thọ 86 tuổi.

Nữ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi - Ảnh 1.

Nữ danh ca Thái Thanh

Bà tên thật Phạm Thị Băng Thanh, sinh ngày 5-8-1934 tại Hà Nội. Bà được xem là một trong những giọng ca tiêu biểu nhất của tân nhạc Việt Nam. Bà đi hát và thành công từ năm 14 tuổi trong vùng kháng chiến chống Pháp, nổi tiếng cùng ban hợp ca Thăng Long của gia đình, trước khi chính thức lấy nghệ danh Thái Thanh từ thập niên 1950.

Bà được giới chuyên môn đánh giá là « Đệ Nhất danh ca » của dòng nhạc tiền chiến và dòng nhạc tình ca lãng mạn qua việc gắn liền với nhiều nhạc phẩm của nhạc sĩ Phạm Duy.

Bà không theo học một lớp nhạc chuyên nghiệp nào, chỉ tự luyện giọng từ nhỏ theo các lối hát dân ca và các sách nhạc tiếng Pháp, về sau đã tạo ra một trường phái riêng hòa trộn giữa tính chất opera tây phương và dân nhạc Việt Nam.

Nữ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi - Ảnh 2.

Danh ca Thái Thanh và ca sĩ Ý Lan

Bà sang Mỹ định cư cùng gia đình năm 1985, tham gia biểu diễn phục vụ khán giả kiều bào tại Mỹ cho đến năm 2002 thì giải nghệ.

Cha của bà là ông Phạm Đình Phụng, có 2 vợ, vợ trước sinh ra Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm, vợ sau sinh ra Phạm Thị Quang Thái (ca sĩ Thái Hằng), nhạc sĩ Phạm Đình Chương và bà – nữ danh ca Thái Thanh.

Nữ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi - Ảnh 3.

Nữ danh ca Thái Thanh trong đêm nhạc vinh danh bà tổ chức tại Canada

Năm 2000, bà bị tai biến mạch máu não phải nhập viện cấp cứu. Năm 2005, gia đình đã tổ chức một đêm nhạc thính phòng mang tên « Vinh danh Thái Thanh, tiếng hát vượt thời gian » tại Montreal – Canada với sự tham gia của Thái Thanh cùng nhiều ca sĩ nổi tiếng của thế hệ sau như: Tuấn Ngọc, Ý Lan, Trần Thu Hà…

Sự ra đi của bà đã để lại nhiều thương tiếc cho các ca sĩ, nghệ sĩ đồng nghiệp thuộc nhiều thế hệ bởi bà là tấm gương sáng trong lao động nghệ thuật. Khán thính giả yêu mến tiếng hát của bà cũng bày tỏ sự thương tiếc, vì nhắc đến bà không thể quên các ca khúc: « Ngày xưa Hoàng Thị », « Nghìn trùng xa cách », « Áo anh sứt chỉ đường tà », « Làng tôi »… Thanh Hiệp (ảnh do NSCC)

https://nld.com.vn/van-nghe/nu-danh-ca-thai-thanh-qua-doi-huong-tho-86-tuoi-20200318070913773.htm?fbclid=IwAR3eNmSHXWdVEWtbhaK-2RCfBjqwZnEHxiF3WQgiOXq4g-Z4IqFsE90n4_k

TRẦN QUỐC BẢO : NỮ CA SĨ KIM ANH « BA CON MÈO » ĐỘT NGỘT TỪ TRẦN TUỔI 72

NỮ CA SĨ KIM ANH « BA CON MÈO » ĐỘT NGỘT TỪ TRẦN TUỔI 72

Thứ hai ngày mai (2 tháng 3) Trần Quốc Bảo sẽ in số báo chủ đề Tưởng Niệm ca sĩ Kim Anh « Ba Con Mèo », rất mong quý anh chị em nghệ sĩ ghi vài giòng phân ưu hoặc kỷ niệm để TQB để vào trong số báo này dành gửi đến gia đình Ba Con Mèo. Trân trọng cám ơn
(trích bài Trần Quốc Bảo đăng trong Bán Nguyệt San Trẻ số 543 phát hành đầu tháng 3 năm 2020)

Inline image

    3g chiều thứ sáu 28 tháng 2/2020, ca sĩ Minh Xuân và Uyên Ly gọi người viết báo tin « B. ơi, Kim Anh vừa mất nửa tiếng, chị báo em biết ». Cô hưởng thọ 72 tuổi.
      Tên thật của cô là Trần Thị Kim Anh, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1947. Trong gia đình có người chị lớn đi hát, nghệ danh Minh Tuyết. Khoảng năm 1967, chị Minh Tuyết bị bịnh không đi hát được nên nhờ Kim Anh chạy lên vũ trường Majestic báo cho nhạc sĩ Đỗ Thiều biết. Chương trình đang bị trống, Đỗ Thiều « gạ » Kim Anh hát thế. Bài bản của chị hai Minh Tuyết, Kim Anh đã nghe nhiều lần nên rất thuộc, rất nhớ. Bài hát đầu tiên, Kim Anh cất tiêng trên bục gỗ là ca khúc Moon River đã làm khán giả phía dưới ngạc nhiên, sau đó cô được Đỗ Thiều mời thu băng bài hát Tìm Một Ánh Sao cho chương trình Dạ Hương trên đài phát thanh.
      Khởi đi từ sân khấu Majestic, Kim Anh lần lượt cộng tác với Ritz, Queen Bee, La Sirene, Tự Do, Quốc Tế, Văn Cảnh.. sau đó biến cố Mậu Thân trờ tới, mọi sinh hoạt phòng trà vũ trường lắng đọng, cô phải đi hát Show cho các Club Mỹ ở Vũng Tầu, Biên Hòa…
     Tháng 10 năm 1969, nhạc sĩ Lê Chấn kết hợp Mỹ Hòa, Uyên Ly, Kim Anh thành lập ban tam ca Ba Con Mèo còn gọi là The Cat’s Trio. Gần một năm sau, Mỹ Hòa đi ra, Minh Xuân thế chỗ vào, Ba Con Mèo tiếp tục thành công với những nhạc phẩm Reach Out, Aquarios, Let The Sunshine In, Impossible Dream… cùng với những nhạc phẩm Việt Nam như Xóm Đêm, Mưa, Giờ Này Anh Ở Đâu, Đêm Đô Thị…
     Cũng nên nhắc thêm, cách đây 9 tuần, chồng ca sĩ Kim Anh là anh John Trương Duyên (em chồng ca sĩ Mai Hương) đã từ trần vào ngày 20 tháng 12 năm 2019.
       Bán Nguyệt San Trẻ số 543 phát hành đầu tháng 3 sẽ làm số Tưởng Niệm Kim Anh của ban Ba Con Mèo, ước mong ghi nhận được những kỷ niệm vui buồn của anh chị em nghệ sĩ. Xin gửi mail về: mctranquocbao@yahoo.com

Inline image
Inline image

CLIP VIDEO SHOW NHẠC CUỐI CÙNG CỦA CA SĨ KIM ANH « BA CON MÈO »    Sau đây là một clip Video được trích ra từ live show Saigon Màu Kỷ Niệm do TQB tổ chức ngày 1 tháng 9 năm 2019 tại miền Nam Cali. Có thể nói đây là clip Video cuối cùng của ban Ba Con Mèo hát chung với nhau lần cuối, vì sau show nhạc 1 tháng 9, khoảng hơn một tuần sau, chị Kim Anh phải vào nhà thương vì bị mini stroke trên đầu, từ đó sức khỏe chị kém dần, và thứ tư 25 tháng 2 tuần này, cơn stroke tái phát và chị đã ra đi rất đột ngột không phải đau đớn trên giường bịnh. Cầu nguyện linh hồn chị Kim Anh từ nay sớm hưởng nhan thánh Chúa đời đời.https://www.youtube.com/watch?v=Y9FibFsM6Yw&feature=share&fbclid=IwAR2lUUvEqeoDKjsQNDdvdLKF7D_hg-cTnfcC0saaC3tmoceGXeJKC-GqbiY

Nhớ về ca sĩ Kim Anh Ba Con Mèo và buổi diễn cuối cùng của chị, show Saigon Màu Kỷ Niệm ngày 1 tháng 9 năm 2019

Inline image

Ngày 22 tháng 6 năm 2019, có một buổi tiệc nhỏ tại nhà hàng Mon Ami do chị Thái Xuân tổ chức, hôm đó có mặt Kim Anh, Uyên Ly, TQB chợt nhớ ra ngày 22/6 cũng đúng là ngày sinh nhật của Uyên Ly nên yêu cầu 2 chị hát cùng với mọi người bài Đêm Đô Thị, tuy hát « chay » không đàn không trống và TQB chỉ quay có 30 giây, nhưng clip nhạc này vô tình lại là 1 kỷ niệm quý giá của ngày hôm nay. Xin mời thưởng thức.
Log In or Sign Up to View

NGUYỄN VĨNH BẢO : Music of the amateurs / ĐỜN CA TÀI TỬ

ĐỜN CA TÀI TỬ

Music of the amateurs

Today, we are confronting the hybridation of the Đờn Ca Tài Tử.  A number of experts musicians have passed away. Many people want to study traditional music, but teaching manuals are scarce. If a manual is found, it really does not help for the student cannot learn without a teacher. A few parents encourage their children to study the Western music. The fact can be explained by many reasons: Teachers of Western music have pedagogical methods that are easy to implement. With knowledge of the West, it is easy to make living. Have the prospect to travel across the world, to attend International Music Meetings, etc …. There are many unconscious reasons why some young generation have turned their backs on traditional music. The first reason is that the subtle diversity of traditional music are rarely displayed for young people to appreciate. No one explains to them  the complementary nature of today’s international society and traditional artistic culture, and especially the very shortest space needed for nations to link together, understand one another, and love one another.

The teacher’s home is usually his studio and available for music lessons.. The repertoire is mainteuires both theory and practice. The teacher has to expect loyalty from his student, and the student, instinctively feels veneration towards him, and calls him “Sư-Phụ”. The word “Sư-Phụ” in Vietnamese has far greater implication than the term “teacher” does in English. 

August 19, 2019

Vĩnh-Bảo 102 years old

JIMMY NHUT Hà: Tiếc nhớ một tài năng lớn của sân khấu miền nam Việt Nam – Nghệ sĩ Ngọc Phu

Tiếc nhớ một tài năng lớn của sân khấu miền nam Việt Nam – Nghệ sĩ Ngọc Phu

Ông qua đời vào hôm mùng 6 Tết

Với những khán giả trước năm 1975 vẫn chưa Quên những phim ông đã đóng như Mưa Rừng, Chân Trời Tím, Lệ Đá , Xóm Tôi, Nắng Chiều…The JIMMY ᴤʜᴏᴡ2 hrs

Jimmy vừa nhận được tin buồn, nghệ sĩ Ngọc Phu đã mãn phần vào lúc 12 giờ trưa ngày 30 tháng 1 năm 2020 (tức mùng 6 Tết ) tại nhà riêng. Hưởng thọ 85 tuổi

Jimmy vừa nhận được tin buồn, nghệ sĩ Ngọc Phu đã mãn phần vào lúc 12 giờ trưa ngày 30 tháng 1 năm 2020 (tức mùng 6 Tết ) tại nhà riêng. Hưởng thọ 85 tuổi

Trước 1975, Nghệ sĩ Ngọc Phu là người đứng ở nhiều sân khấu lớn miền Nam. Người yêu nghệ thuật nhớ đến Ông qua nhiều tài năng: đóng phim, ảo thuật, đạo diễn.. và nhất là vai trò người dẫn chương trình có giọng nói miền Nam sang trọng nhưng gần gũi.

Riêng với Jimmy nhớ mãi kỷ niệm lần đầu gặp ông tại gian hàng tuần báo Việt Tide và Thế Giới Nghệ Sĩ tại Hội Chợ Tết Sinh Viên với vai trò một ông thầy bốc quẻ dịch vào năm 2015. Đó là kỷ niệm lần đầu cũng là lần cuối Jimmy gặp ông. Tiếc mãi là không thể liên lạc được với gia đình để mời ông lên chương trình The JIMMY ᴤʜᴏᴡ để ông tâm tình cùng khán giả
Cầu chúc ông yên nghĩ nơi cõi Vĩnh hằng

Nhà văn Hồ Trường An Từ Trần

Nhà văn Hồ Trường An Từ Trần

28/01/2020

blank

Nhà văn Hồ Trường An (1938-2020)
Nhà văn Hồ Trường An Từ Trần

PARIS, Pháp (VB) — Nhà văn Hồ Trường An đã từ trần hôm mùng 3 Tết (tức ngày 27/1/2020) tại Troyes, Pháp quốc, theo tin từ nhà văn Nguyễn Vy Khanh được tin từ gia đình người ra đi. Được biết, Hồ Trường An là em của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ.
 

Khi tường trình buổi ra mắt sách ‘Quê Nam Một Cõi’ của nhà văn Hồ Trường An tại San Jose hôm chủ nhật ngày 4-11-07, nhà báo Trần Củng Sơn trong bản tin trên Việt Báo đã ghi nhận về Hồ Trường An, tác phẩm và ảnh hưởng của ông, trích:
 

« Tên thật là Nguyễn Viết Quang, sinh năm 1938 tại Vĩnh Long, Hồ Trường An đã từng cộng tác các báo ở Sài Gòn trước năm 1975 và khi ra hải ngọai tiếp tục sáng tác hăng say với mấy chục tác phẩm gồm truyện dài Phấn Bướm (1986), Lớp Sóng Phế Hưng (1988), Đàn Trăng Quạt Bướm (2005), tập truyện như Chuyện Ma Đất Tân Bồi (1998), Quà Ngon Đất Nam (2003), bút khảo như Theo Chân Những Tiếng Hát (1998), Chân Dung 10 Nhà Văn Nữ ( 2002), thơ như Thiên Đường Tìm Lại (2002), Vườn Cau Quê Ngọai (2003).

Cuốn bút khảo Quê Nam Một Cõi viết về những nhà văn gốc Nam Bộ từ Hồ Biểu Chánh, Phi Vân, Sơn Nam, Xuân Vũ, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Phương Triều, Lê Xuyên, Anh Vân, Song Thi, Tiểu Thu, Dư Thị Diễm Buồn, Hòang Xuyên Anh, Ngọc An, Vũ Nam.

Trước buổi ra mắt sách, một số chương trình phát thanh tại San Jose đã phỏng vấn Hồ Trường An về sinh họat viết văn của ông, tạo không khí văn chương hào hứng dành cho một tác giả gốc miền Nam được coi là một trong những người có sách xuất bản nhiều nhất hải ngọai.

Nhà văn nữ Ngọc An và Hòang Xuyên Anh đã đứng ra tổ chức buổi ra mắt sách qui tụ đông đảo người tham dự. Có thêm Vũ Nam đến từ Đức Quốc, Anh Vân từ Nam Cali.

Nhà văn Diệu Tần đã đọc bài nhận xét về tác giả và tác phẩm dài 4 trang giấy. Khách đến mong chờ nghe nhà văn Hồ Trường An kể chuyện duyên dáng như cách ông đã diễn tả trong những tác phẩm, nhưng ông chỉ tâm tình vài phút ngắn, cám ơn mọi người.

Đây cũng là nét đặc biệt của một buổi ra mắt sách, một tác giả nổi danh, viết nhiều nhưng lại nói ít… » (ngưng trích)
  

Đài Á Châu Tự Do RFA trong một bài viết của Mặc Lâm ngày 16-10-2016 ghi nhận về Hồ Trường An:

« Sự nghiệp sáng tác của Hồ Trường An khó thể nói là khiêm nhường, với 22 truyện dài, 10 tập truyện, 16 bút khảo, ký sự, bút ký và 3 tập thơ được xuất bản, đó là chưa kể những bài viết rời ông cộng tác với các tạp chí trong nước và hải ngoại suốt gần 50 năm cầm bút.

Lãng mạn miệt vườn
Văn phong Hồ Trường An gần gũi với những cây bút miền nam nổi tiếng từ Hồ Biểu Chánh tới Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc và cả Lê Xuyên. Người đọc ông có thể tìm thấy cái hương vị miền Nam đậm đặc trong từng hơi thở của nhân vật nhưng người đọc cũng dễ dàng phát hiện ra cái sâu thẳm hơn trong Hồ Trường An bởi tính chất lãng mạn của một ngòi bút bật ra quá nhiều tỉ mẩn của một cô con gái dính liền với thôn dã.

Là một người đồng tính, Hồ Trường An không hề có ý định che giấu giới tính của mình; văn chương của ông như sợi lụa mỏng manh nhưng dai dẳng cột chặt người đọc từ trang này sang trang khác qua những lời kể dông dài nhưng quyến rũ về các câu chuyện của một thời xa xưa, lúc đồng bằng sông Cửu trong giai đoạn hình thành.

Hồ Trường An làm cho nhiều người đọc say sưa bởi tính chi li tỉ mẩn của ông qua từng trang sách. Tả về người đàn bà hay bất cứ điều gì có liên quan đến công dung ngôn hạnh là chừng như rồng gặp nước, ông không biết dừng và chính tính chất đặc biệt này đã giúp ông đứng riêng một cõi. » (ngưng trích)
 

Tiểu sử và danh sách tác phẩm Hồ Trường An có thể đọc trên trang Cỏ Thơm Magazine:

« HỒ TRƯỜNG AN

Tên thật Nguyễn Viết Quang. Sinh ngày 11/11/1938 tại Long Đức Đông, tỉnh Vĩnh Long. Tốt nghiệp Khóa 26 (1968) Trường Bộ Binh Sĩ Quan Thủ Đức. Trưởng ban Chiến Tranh Chính Trị tại hai Chi Khu Trị Tâm và Lái Thiêu (tỉnh Bình Dương) từ năm 1969 tới năm 1971. Sau đó phục vụ tại Ban Thông Tin Báo Chí Quân Đoàn III và Quân Khu 3 (tỉnh Biên Hòa) cho tới tháng 4/75. Cư ngụ tại Troyes, Pháp.
Trong nước, đã cộng tác với các báo: Bách Khoa, Tin Văn, Tin Sách, Tranh Thủ, Tiền Phong, Tiền Tuyến, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Bút Hoa…
Ra hải ngoại, cộng tác với các báo: Quê Mẹ, Hồn Nước, Đất Mới, Văn, Văn Học Nghệ Thuật, Văn Học, Bút Lửa, Lạc Hồng, Viên Giác, Đẹp, Tự Do (Texas), Tự Do (Canada), Chiêu Dương, Xây Dựng, Lửa Việt, Làng Văn, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Hải Ngoại Nhân Văn, Cỏ Thơm…

Trong Ban Biên Tập của Cơ Sở Cỏ Thơm

TÁC PHẨM CỦA HỒ TRƯỜNG AN

Truyện dài:

Phấn Bướm (1986), Hợp Lưu ( 1986), Lớp Sóng Phế Hưng (1988), Lúa Tiêu Ruộng Biền (1989), Ngát Hương Mật Ong (1989), Còn Tuôn Mạch Đời (1990), Lối Bướm Đường Hương (1991), Tình Trong Nhung Lụạ (1991), Ngát Thơm Hoa Bưởi Bông Trà (1992), Tình Đẹp Đất Long Hồ (1993), Trang Trại Thần Tiên (1993), Vùng Thôn Trang Diễm Ảo (1994), Thuở Sen Hồng Phượng Thắm (1995), Chân Trời Mộng Đẹp (1995), Bãi Gió Cồn Trăng (1995), Bóng Đèn Tà Nguyệt (1995), Tình Sen Ý Huệ (1999), Hiền Như Nắng Mới (2001), Chiếc Quạt Tôn Nữ (2002), Màn Nhung Đã Khép (2003), Đàn Trăng Quạt Bướm (2005), Trở Lại Bến Thùy Dương (2009).
 

Tập Truyện:

Chuyện Quê Nam (1991), Tạp Chủng (1991), Hội RẫyVườn Sông Rạch (1992), Chuyện Miệt Vườn (1992), Đồng Không Mông Quạnh (1994), Gả Thiếp Về Vườn (1994), Đêm Xanh Huyền Hoặc (1994), Chuyện Ma Đất Tân Bồi (1998), Tập Truyện Ma (2001), Quà Ngon Đất Quê Nam (2003), Trăng Xanh Bên Trời Huế (2009), Truyền Kỳ Trên Quê Nam (2009).
 

Ký Sự, Bút Khảo, Bút Ký:

Giai Thoại Hồng (1988), Thông Điệp Hồng (1990), Cõi Ký Ức Trăng Xanh (1991), (Chân Trời Lam Ngọc I (1993), Chân Trời Lam Ngọc II (199(1995), Sàn Gỗ Màn Nhung (1996), Cảo Thơm ( 1998), Theo Chân Những Tiếng Hát (1998), Tác Phẩm Đẹp Của Bạn (2000), Chân Dung Những Tiếng Hát I (2000), Chân Dung Những Tiếng Hát II (2001), Lai Láng Dòng Phù Sa (2001), Thập Thúy Tầm Phương (2001), Chân Dung 10 Nhà Văn Nữ (2002), Tập Diễm Ngưng Huy (2003), Chân Dung Những Tiếng Hát III (2003), Bảy Sắc Cầu Vồng (2004), Giai Thoại Văn Chương (2006), Náo Nức Hội Trăng Rằm (2007), Thắp Nắng Bên Trời (2007), Quê Nam Một Cõi ( 2007), Giữa Đất Trời Giao Hưởng ( 2008 ), Non Cao Vực Thẳm ( 2011), Ảnh Trường Kịch Giới ( 2012 ), Trên Nẻo Đường Nắng Tới.
 

Tập Thơ:

Thiên Đường Tìm Lại ( 2002), Vườn Cau Quê Ngoại (2003). »

https://vietbao.com/a301959/nha-van-ho-truong-an-tu-tran

TRẦN QUANG HẢI : My humble words dedicated to Master VĨNH BẢO

Master VĨNH BẢO & TRẦN QUANG HẢI

My humble words dedicated to Master VĨNH BẢO
Master Vĩnh Bảo
A national living treasure
of Traditional Music in Việt Nam
A unique musician
Who is just now 100 years old
But still in good health
With fresh memory
And lucidity
He continues to transmit his precious knowledge
To young musicians and music lovers
of the next generation
Master VÍNH Bảo
a TRUE MASTER in Music
Merits our Respect and Love
From Now and Ever.
Respectfully yours,
Trần quang Hải
Limeil Brévannes, January 3rd, 2017

Cần chính xác trong cách hiểu về di sản văn hóa phi vật thể

Cần chính xác trong cách hiểu về di sản văn hóa phi vật thể

Thứ Bảy, 04/01/2020, 19:28:24

NDĐT – Ngày 3-1, tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, TS Frank Proschan có buổi thuyết trình “Hiểu về các khái niệm và cách tiếp cận chính đối với di sản văn hóa phi vật thể trong Công ước 2003 Về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể”. Ông đã nêu những điểm mấu chốt nhất khi ứng xử với di sản văn hóa phi vật thể và việc cần hiểu chính xác những khái niệm được UNESCO đưa ra có liên quan chủ đề này.

Cần chính xác trong cách hiểu về di sản văn hóa phi vật thể

Nhã nhạc Cung đình Huế đã được UNESCO ghi vào Danh mục Kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, năm 2003.

Hiểu đúng về chủ sở hữu và “cấp” của di sản văn hóa phi vật thể

Công ước 2003 khẳng định, các cộng đồng, nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân – những người thực hành một biểu đạt văn hóa nào đó – và chỉ họ mà thôi – mới có thể là những người công nhận nó là một bộ phận cấu thành di sản văn hóa phi vật thể của họ, và chỉ họ mới có thể xác định được giá trị của nó. UNESCO đã không sử dụng lại cụm từ “di sản thế giới của nhân loại” trong Công ước 1972 (Về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới), thay vào đó, nhấn mạnh rằng di sản văn hóa phi vật thể thuộc về cộng đồng và nhóm người cụ thể.

Di sản văn hóa phi vật thể thuộc về cộng đồng, và chỉ thuộc về cộng đồng, không thuộc về quốc gia, nhà nước, dân tộc, hay nhân loại cũng như toàn thế giới. Dù có được UNESCO ghi vào “Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp” hoặc “Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại” thì nó vẫn thuộc về cộng đồng của nó và không trở thành “di sản thế giới”, hay tài sản của nhân loại nói chung. Công ước 2003 cũng rất thận trọng khi luôn dùng cụm từ “di sản văn hóa phi vật thể hiện có trên lãnh thổ của một quốc gia thành viên” mà không dùng cụm từ “di sản của quốc gia thành viên”. Cụm từ “of humanity” (của nhân loại) chỉ là yếu tố phụ/nhỏ khi nói về di sản văn hóa phi vật thể và chỉ hàm ý rằng: Tất cả di sản văn hóa phi vật thể đều là do con người sáng tạo và tái tạo chứ không phải được thực hành bởi một cái (hoặc con) gì khác. Chữ “của” (khi viết di sản văn hóa phi vật thể “của” địa phương, “của” Việt Nam, “của” nhân loại…) không nên (được) hiểu để chỉ sự sở hữu mà nên hiểu rằng “di sản đó hiện diện ở nơi đó”.

Một quan niệm sai khác có thể thấy rõ trong việc thường xuyên sử dụng sai từ “xếp hạng” (ranking) khi nói về các di sản văn hóa phi vật thể. Với các di tích (vật thể), chúng ta thường thấy cách diễn đạt như “di tích quốc gia” và “di tích quốc gia đặc biệt” nhưng Công ước 2003 của UNESCO bác bỏ việc xếp hạng các di sản văn hóa phi vật thể thành một hệ thống thứ bậc, phân chia cao – thấp. Tất cả di sản văn hóa phi vật thể đều bình đẳng vì di sản văn hóa phi vật thể nào cũng đều có giá trị đối với cộng đồng, nhóm người, cá nhân sáng tạo ra chúng. Không thể coi di sản của người này có giá trị hơn di sản của người khác và sẽ phạm sai lầm khi xếp hạng di sản văn hóa phi vật thể theo “tầm quan trọng” của nó. Người mẹ nào cũng nghĩ con mình là đứa trẻ đẹp nhất, thông minh nhất, ngoan ngoãn nhất, và không người nào bên ngoài lại dám liều lĩnh phủ nhận đánh giá đó của người mẹ. Di sản văn hóa phi vật thể là những đứa con tinh thần của cộng đồng, trong con mắt cộng đồng của nó cũng giống như đứa con trong mắt của người mẹ vậy.

UNESCO chỉ “ghi danh”, không “công nhận”

Một khái niệm khác được dùng sai phổ biến rằng UNESCO “công nhận” Di sản văn hóa phi vật thể nào đó. Công ước 2003 khẳng định rằng, chỉ có cộng đồng, nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân liên quan di sản mới có thể “công nhận” (recognize) di sản của chính họ. Di sản văn hóa phi vật thể không phải là một thứ gì đó bên ngoài, có thể được định nghĩa và xác định giá trị bởi các chuyên gia, quan chức nhà nước, hoặc bởi một quy trình kiểm tra khoa học nào đó. Thay vào đó, chính các cộng đồng, nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân – những người thực hành một biểu đạt văn hóa nào đó – và chỉ họ mà thôi – mới có thể là những người “công nhận” nó là một bộ phận cấu thành di sản văn hoá phi vật thể của họ, chỉ họ mới có thể xác định được giá trị của nó. Mỗi cộng đồng định nghĩa di sản của chính mình và đến lượt nó, chính di sản đó lại định nghĩa cộng đồng của nó. Nội dung Công ước 2003 cũng nhắc lại nhiều lần rằng, quá trình công nhận một cái gì đó là di sản văn hóa phi vật thể là quá trình chỉ có thể diễn ra trong các cộng đồng, chứ không thể do người bên ngoài, cho dù là quan chức nhà nước, thực hiện mà không có cộng đồng. Các chuyên gia cũng không có thẩm quyền quyết định thay cho một cộng đồng cái gì “là” hay “nên là” di sản của họ. Cũng chỉ các cộng đồng liên quan mới có thể bảo vệ di sản của chính họ, và muốn công tác bảo vệ được thực hiện hiệu quả thì sự tham gia rộng rãi nhất có thể của họ là thiết yếu.

Trong định nghĩa về Di sản văn hóa phi vật thể (Điều 2.1 của Công ước), việc công nhận một cái gì đó có phải là một phần di sản văn hóa phi vật thể của mình hay không là quyền của mỗi cộng đồng hay nhóm người. Đúng hơn, đây là trách nhiệm của các cộng đồng, nhóm người hoặc cá nhân liên quan biểu đạt hoặc tập quán đó. Tất cả những gì mà UNESCO hay Ủy ban Liên chính phủ của Công ước có thể làm là “ghi danh” hay nói cách khác là đưa di sản văn hóa phi vật thể đó vào một trong số các danh sách của Công ước.

Sự nhầm lẫn này (có vẻ như) có căn nguyên từ lỗi dịch sai trong bản tiếng Việt chính thức của Công ước 1972. Bản tiếng Anh giải thích rằng, Ủy ban Di sản thế giới sẽ xác định các tiêu chí mà theo đó những di sản “có giá trị nổi bật toàn cầu” có thể được “đưa vào” (includes) Danh sách Di sản thế giới. Bản tiếng Pháp dùng từ “ghi danh” – inscribed. Trong khi đó, bản tiếng Việt lại dịch rằng đây là các tiêu chí để “công nhận” (recognizing) di sản trong Danh sách Di sản thế giới. Tương tự, có sự dịch sai trong Điều 31 của Công ước 2003 (bản tiếng Việt). Trong khi bản tiếng Pháp và tiếng Anh đều dùng từ “ghi danh” (inscriptions) vào Danh sách đại diện hoặc “đưa vào” (includes) một trong số các danh sách thì bản tiếng Việt dịch thành “công nhận” (recognition) trong Danh sách đại diện. Với bản dịch như vậy, quan niệm rằng UNESCO “công nhận” di sản văn hóa nói chung hay di sản văn hóa phi vật thể nói riêng đã trở nên quá phổ biến ở Việt Nam. Với di sản (vật thể) thế giới, cách dùng này có thể vẫn chấp nhận được, nhưng Công ước 2003 về Di sản văn hóa phi vật thể đã nói rất rõ ràng rằng, mỗi di sản văn hóa phi vật thể chỉ có thể được công nhận bởi cộng đồng hoặc nhóm người của nó.

Một cụm từ khác mà UNESCO không bao giờ dùng nhưng lại được sử dụng thường xuyên ở Việt Nam, đó là UNESCO “vinh danh” hay “tôn vinh” (honors). Cách dùng này có vẻ như không vi phạm tinh thần của Công ước, mặc dù có thể gây nhầm lẫn. Mục đích của việc ghi danh không phải là vinh danh/tôn vinh nhưng vinh danh/tôn vinh có thể là một kết quả tự nhiên của việc ghi danh. Đó có thể là việc sau “ghi danh” và là việc của cộng đồng sở hữu di sản.

Ở Việt Nam, còn có tình trạng “danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể” bị hiểu sai lệch thành “danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia”. Những lỗi diễn đạt như vậy không chỉ xuất hiện trên truyền thông đại chúng mà còn trong các nghiên cứu học thuật, thậm chí cả trong các văn kiện và trang web của chính phủ. Vì vậy, không chỉ báo chí mà các học giả, các nhà quản lý đều cần nỗ lực nhiều hơn nữa để có sự hiểu và diễn đạt đúng, để không còn nhầm lẫn việc “ghi danh vào danh sách” với việc “công nhận ở cấp độ quốc tế” và hiểu đúng việc UNESCO “ghi danh” không nhằm thay thế sự công nhận của cộng đồng liên quan, cũng không liên quan việc “vinh danh” hay “tôn vinh”.

Việc hiểu và sử dụng đúng thuật ngữ rất quan trọng vì một trong bốn mục đích của Công ước 2003 là “nâng cao nhận thức ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế về tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể và việc bảo đảm sự tôn trọng lẫn nhau”.

TS Frank Proschan
TS Frank Proschan (ảnh) là nhà nhân học, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian nổi tiếng. Từ năm 2006 đến năm 2015, ông làm việc cho UNESCO, hỗ trợ việc triển khai Công ước năm 2003 Về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể trên phạm vi toàn cầu. Ông là học giả Fulbright 2019 – 2020, cộng tác nghiên cứu tại Trung tâm Smithsonian về Đời sống dân gian và di sản văn hóa, giảng viên thỉnh giảng của Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội).

https://nhandan.com.vn/vanhoa/dien-dan/item/42814002-can-chinh-xac-trong-cach-hieu-ve-di-san-van-hoa-phi-vat-the.html

NGUYỄN VĨNH BẢO : ĐỜN CA TÀI TỬ / Music of the amateurs

ĐỜN CA TÀI TỬ

Music of the amateurs

Maestro NGUYỄN VĨNH BẢO

Today, we are confronting the hybridization of the Đờn Ca Tài Tử.  A number of experts musicians have passed away. Many people want to study traditional music, but teaching manuals are scarce. If a manual is found, it really does not help for the student cannot learn without a teacher. A few parents, encourage their children to study the Western music. The fact can be explained by many reasons: Teachers of Western music have pedagogical methods that are easy to implement. With knowledge of the West, it is easy to make living. Have the prospect to travel across the world, to attend International Music Meetings, etc …. There are many unconscious reasons why some young generation have turned their backs on traditional music. The first reason is that the subtle diversity of traditional music are rarely displayed for young people to appreciate. No one explains to them  the complementary nature of today’s international society and traditional artistic culture, and especially the very shortest space needed for nations to link together, understand one another, and love one another.

The teacher’s home is usually his studio and available for music lessons.. The repertoire is maintained entirely by memory and passed down through practice. Neither notation system have a definite majority. Students do not read the notation learn the entire piece by imitating the teacher. Usually, the teacher also plays, or sings as he plays. The resultant melody vary from teacher to teacher as well in different pieces. The teaching, necessary requires both theory and practice. The teacher has to expect loyalty from his student, and the student, instinctively feels veneration towards him, and calls him “Sư-Phụ”. The word “Sư-Phụ” in Vietnamese has far greater implication than the term “teacher” does in English. 

August 19, 2019

Vĩnh-Bảo 102 years old