Catégorie : Non classé

HAPPY BIRTHDAY Giáo Sư Tiến Sĩ TRẦN QUANG HẢI 13.05.2021

Tran Quoc Bao is with Soni Vo and 98 others.

Favorites  · 22h  · HAPPY BIRTHDAY Giáo Sư Tiến Sĩ TRẦN QUANG HẢI Một sinh nhật 13 tháng 5 hạnh phúc nhất bên người yêu dấu và kính chúc mối tình của Anh và chị Bạch Yếnmãi như lời ca Tân Hôn Dạ Khúcmà Anh đã viết năm 1978 như món quà cưới tặng chị

“Nắm tay nhau, thề yêu suốt đờiƯớc mơ sao, tình không đổi dời

Giờ đây, giờ đây, yêu nhau suốt đời”

Chúc Anh một sinh nhật 13 tháng 5 thật vui.

TRẦN QUỐC BẢO (May/13/2021)

Tiến sĩ Mai Mỹ Duyên một đời trăn trở với văn hóa dân gian

Đăng lúc: Thứ ba – 12/11/2013 22:01 Lẽ ra chị có tên là Phạm Hữu Mỹ Duyên, nhưng vì là con thứ thất nên mang họ mẹ. Sinh ra ở thị trấn Cai Lậy, 4 tuổi đã lên sân khấu ca bài Lưu thuỷ hành vân, Tam pháp nhập môn; 5 tuổi ca được Ngựa Ô Nam, Ngựa Ô Bắc, Lý Tâm thất, Lý Giao duyên; 6 tuổi biết ca bản Vọng cổ nhịp 32, 12 câu Phụng hoàng; 8 tuổi ca được 3 bản Nam, Giang Nam, Bình sa lạc nhạn,… qua ngón đờn kìm của cha là nghệ nhân Ba Thế, còn gọi là soạn giả Thế Hữu hay Bầu Thế. Mai Mỹ Duyên nhận bằng tiến sĩ văn hóa.

Mai Mỹ Duyên nhận bằng tiến sĩ văn hóa.

ÔngThế đã bán hàng chục mẫu đất thừa kế để lập gánh cải lương Sống chung (ông tên thật là Phạm Hữu Thế, cháu nội ông Phạm Hữu Hằng tức Bộ Ninh – người nổi tiếng về tài ăn nói). Cuộc đời ông tuy có bao sự thăng trầm nhưng cây đờn kìm vẫn trên tay ông cho đến lúc nhắm mắt. Năm 2006, Mai Mỹ Duyên đã tặng cây đờn 150 tuổi ấy cho Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

Biết cha mẹ không muốn con nối nghiệp cầm ca, chị đã cố gắng học tập. Năm 1982, chị tốt nghiệp Đại học Văn hóa (ngành Văn hóa quần chúng ở Hà Nội; năm 1997 bảo vệ thành công luận văn Thạc sĩ văn hóa với đề tài « Đờn ca tài tử ở Tiền Giang ». Năm 2007, chị bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ văn hóa với đề tài « Đờn ca tài tử trong đời sống văn hoá của dân cư miền Tây Nam Bộ ». Hiện nay, chị là Phó khoa Sau đại học của Trường Đại học Văn hóa TP. Hồ Chí Minh.

Hành trình đi tìm tri thức

Mùa lũ năm 1978, Mai Mỹ Duyên giã biệt quê nghèo trong cơn mưa tầm tã, trên đầu đội mấy quyển tập và hai cuốn sách « Giương cao ngọn cờ CNXH » của chú Tư Thông – Phó Phòng Văn hóa thông tin Cai Lậy cho. Trên đầu mưa như trút nước, dưới chân nước lũ dâng cao quá ngực, bì bõm bên cạnh chị là người mẹ sớm già trước tuổi, bởi tần tảo sớm khuya. Má đội cái túi sờn, đựng chiếc mền cũ vá ba chỗ, hai bộ đồ bà ba và mười hai đồng bạc. Đó là tất cả  » tài sản » má có được để cho con gái lên đường vào đại học.

Hà Nội năm ấy rét như cắt da, áo quần đem theo không đủ ấm, Duyên quấn luôn chiếc mền cũ lên giảng đường. Má biết được, bán hai công đất ruộng trả nợ, dành lại ít tiền gửi cho con gái bộ đồ và một gói chuối ngào đường. Nghèo thế mà bọn trộm cũng chẳng buông tha! Đồ đạt, áo quần bị chúng dọn sạch. Bạn học sáng cho mượn áo mặc, tối cho đắp chung mền. Nhưng chẳng lẽ cứ mặc « đồ khính » bạn hoài, nghĩ vậy Duyên nhờ các anh xin bao đựng đồ tiếp tế nhu yếu phẩm cho bộ đội Tiền Giang chiến đấu ở biên giới phía Bắc (thứ vải dày như bao bồng bột, được ngành Thương nghiệp thời bao cấp duyệt mua 8m mỗi khi gia đình nào có đám tang, vậy là chị thức liền mấy đêm tháo ra, tự cắt quần áo rồi may tay để mặc. Thuốc nhuộm xanh lè, mỗi lần giặt dính đầy tay rửa không ra. Thấy chị không đủ áo ấm, anh Nguyễn Đắc Hỷ (nguyên Phó Giám đốc Nhà Văn hóa Tiền Giang, lúc đó đang học Đại học Văn hóa Hà Nội trên chị một khóa) cho biết: « Anh có cái áo ruột bông của anh bạn học chung, ảnh về Nam bị bệnh chết rồi. Duyên dám mặc anh đưa! ». Chị đem chiếc áo cáu bẩn về giặt sạch (đó là chiếc lỏi áo bông thô dùng mặc lót bên trong áo khoác cho ấm), nhờ chiếc áo ấy mà qua được 4 mùa đông giá lạnh.

Nhờ vào biên chế trước khi đi học, Duyên được lãnh học bổng mỗi tháng là 36 đồng. Mặc dù hết sức tiện tặn, nhưng vẫn không đủ trang trải, chị và người bạn cùng phòng cùng ăn chung một suất lương thực, còn một suất đem bán, chia nhau mua đồ dùng học tập. Lúc ấy, một tô phở cũng là món xa xỉ của đời sinh viên.

Những ngày chủ nhật, Duyên rủ bạn đi khiêng gạch mướn,…nhưng chỉ khi thiếu công nhân Duyên mới có việc làm. Những năm đó ở quê lũ, lụt mất mùa, nhà lại nghèo, má không có tiền gởi cho chị. Mỗi năm sinh viên miền Nam chỉ được thanh toán tiền về quê nghỉ hè, về ăn tết thì xe tỉnh rước. Có năm xe không rước, các bạn miền Bắc, bàn nhau đưa Duyên về nhà mình ăn tết. Duyên khăn gói theo bạn về bản Mường ở Sông Thao – Vĩnh Phú. Tủi thân trước cảnh sum họp gia đình của bạn, chị lặn lội về ký túc xá ở một mình. Sống trong cảnh da diết nhớ nhà và thiếu thốn mọi bề, nhưng năm học nào Duyên cũng vượt qua, là tấm gương vượt khó học tập của các bạn. Lớp học có 63 sinh viên, Duyên là một trong 13 người được chọn làm luận văn tốt nghiệp. Bài luận văn tốt nghiệp đại học với đề tài « Bàn về chức năng, nhiệm vụ nhà văn hoá thiếu nhi cấp thành phố », do thầy Đoàn Văn Chúc hướng dẫn, đã mở ra cho chị một cánh cửa để bước vào con đường nghiên cứu khoa học sau này.

Nặng tình với văn hóa dân gian

Khi hỏi, vì sao chị lại nặng tình với nghệ thuật văn hóa dân gian? Chị nói rằng vì tuổi thơ của chị may mắn được sống gần với người mẹ hết mực thương chồng con và người cha luôn xem nghệ thuật như là lẽ sống. Ông đã cho chị vốn hiểu biết và lòng đam mê nhạc tài tử, cải lương. Những lần theo cha đờn cho bà bóng múa, rồi những đám cúng đình, những đám giỗ, đám cưới,… ở quê, tất cả đã ăn sâu trong tiềm thức của chị. Nó lớn dần trong chị và chị yêu nó như yêu chính bản thân mình.

Sau này, khi có cơ hội tìm hiểu sâu về nghệ thuật dân gian, càng thấy giá trị của nó thì càng thôi thúc trong lòng chị phải tìm cách khôi phục và lưu giữ ». Nghĩ là làm! Chị tổ chức các cuộc liên hoan « Giai điệu quê hương » (hát dân ca, ru con Nam bộ), Hò cấy, Nhạc Lễ tang, lễ hội « cô Tấm »…, các trò chơi dân gian, liên hoan ẩm thực dân gian, liên hoan nghệ thuật múa bóng rỗi, liên hoan đờn ca tài tử ,…để văn hóa dân gian được tôn vinh và trân trọng.

Mai Mỹ Duyên và GSTS Trần Văn Khê trong hội thảo Quốc tế Nghệ thuật đờn ca tài tử.

Năm 1997, được sự chỉ đạo của Ban Giám đốc Sở Văn hoá – Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch), chị với tư cách quản lý nghiệp vụ và nhà nghiên cứu đã kết hợp với Viện Văn hóa – Nghệ thuật Việt Nam thực hiện và hoàn thành nhiều công trình nghiên cứu văn hóa dân gian như: Lễ giỗ các họ người Việt ở Tiền Giang, Hò cấy Gò Công, lễ hội Kỳ yên, Nghệ thuật đờn ca tài tử, Các món bánh dân gian Nam bộ, Kiểng cổ Tiền Giang, Mắm còng lột Phú Thạnh,… Say mê nghiên cứu, chị đã dành thời gian, kể cả ngày nghỉ, cùng với những đồng nghiệp của mình miệt mài đi xuống tận xã – ấp để thực hiện những chuyến điền dã, khảo sát, điều tra và sưu tầm. Có cụ Trương Văn Nghĩa 90 tuổi – nghệ nhân hò cấy nổi tiếng của Tân Tây – Gò Công nghe tin chị xuống thăm, cụ đã chống gậy đi từ nhà ra Ủy ban xã gần 5 cây số để hò cho chị nghe. Ông cảm động rơi nước mắt khi biết có người còn quan tâm đến câu hò, mà từ lâu, nó đã không còn hiện diện trên đồng ruộng quê hương!

Mỗi lần xuống cơ sở, chị thường tìm đến các nghệ nhân, thăm hỏi sức khoẻ, lắng nghe nghệ nhân tâm tình, kể lể, chia sẻ với họ những nỗi buồn lo trước xu thế xa rời nguồn cội văn hóa và những khát vọng về một tương lai phục hồi giá trị cổ truyền. Chị yêu tiếng đàn, lời ca chân quê của nghệ nhân đờn ca tài tử, mê tay nghề khéo léo của những nghệ nhân làm bánh, chưng nghi, múa bóng rỗi,… Chị sợ tất cả sẽ bị mai một, mất đi, cho nên chị đã làm những việc gì mình có thể làm, để bảo tồn và phát huy, chớ không chỉ vì trách nhiệm. Việc làm của chị đã được Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam phối hợp hỗ trợ và chính quyền địa phương cũng như tất cả nghệ nhân trong tỉnh đồng lòng ủng hộ.

Người Tiền Giang còn biết chị qua nhiều chương trình lễ hội đại chúng. Với giọng dẫn chương trình rành mạch, truyền cảm, với những kịch bản sân khấu hóa giàu hình tượng, như: Đường ta đi tới (kỷ niệm 30 năm ngày 30/4/2005); Hào khí Sông Tiền (220 năm Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút – 2005); Gò Công hồng trang sử (40 năm Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 2008); Con cháu Rồng Tiên (Lễ giỗ Quốc tổ Hùng Vương 2008);Mỹ Tho khát vọng vươn lên (330 năm Mỹ Tho Đại phố – 2009); Những trang sử vẻ vang (65 năm thành lập ngành Công an nhân dân – 2010)…

Khán giả truyền hình trong và ngoài nước còn biết chị qua các chương trình giới thiệu về văn hóa Nam bộ và quê hương Tiền Giang mà chị đã cùng với những cán bộ biên tập, quay phim tâm huyết của Đài VTV, HTV thực hiện. Lúc đó dù bận bịu cách mấy, chị cũng gác công việc lại để cùng nhà Đài lặn lội qua cù lao, ra cửa biển, lội ruộng sâu, … để tìm cho được một câu hò mái trường, mái đoản còn lẫn khuất trong những cánh đồng; những khuôn mặt đầy vết chân chim đã qua thời xuân sắc mà giọng hò, giọng ca tài tử vẫn còn da diết nỗi niềm chân quê; những mái đầu như mây trắng và đôi tay run run nắn nót trên phím đàn để nhả những sợi tơ cuối mùa nghệ thuật,… Khi hỏi vì sao chị lại làm như vậy? Chị cười bỏ lửng câu : « Mỗi người phải mê một thứ gì đó… »

Chị như anh nông dân cần mẫn không thể đếm được mồ hôi cho những đường cày trên mảnh đất quê hương. 31 năm với ngành Văn hóa Tiền Giang, bạn bè đồng nghiệp quen thấy chị làm việc không phân biệt thứ bảy hay chủ nhật. Suốt ngần ấy thời gian, từ một cán bộ bình thường đến khi trở thành Trưởng phòng Nghiệp vụ văn hóa, chị chưa hề đòi hỏi phải có một sự biệt đãi nào về vật chất hay cương vị xã hội.

Người yêu nhạc Trịnh không thể quên câu hát: « Sống trong đời sống cần có một tấm lòng… », nói theo kiểu Việt Nam là sống cho tử tế. Sống cho tử tế thật không dễ dàng! Nhưng chị đã làm được những điều tử tế cho cuộc đời, cho nghệ thuật, cho những người mà chị luôn yêu mến, kính trọng và cho quê hương Tiền Giang – nơi mà tuổi thơ của chị đã đắm mình trong nghệ thuật dân gian, nơi mà tình yêu văn hóa dân gian của chị đã truyền được cảm xúc cho nghệ nhân, cho các cộng tác viên, cho những học trò thân yêu của chị!

Ngọc Lệ

https://vannghetiengiang.vn/news/Tac-gia-Tac-pham/Tien-si-Mai-My-Duyen-mot-doi-tran-tro-voi-van-hoa-dan-gian-5179/

Hội thảo“Thực trạng công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO ghi danh”: Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Kontum 12/13 tháng 4, 2021

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH CỤC DI SẢN VĂN HÓA

Tham luận Hội nghị -Hội thảo“Thực trạng công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO ghi danh”: Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên

MỤC LỤC

Trang Cục Di sản văn hóa Báo cáo công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên giai đoạn 2016 -2020

3Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Kon TumThực trạng và giải pháp quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Kon Tum sau khi được Unesco ghi danh

10Trần Ngọc Nhung (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai)Mấy vấn đề về quản lý,bảo vệ, phát huy giá trị di sản Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại Gia Lai

16Lê Ngọc Quang (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Nông)Thực trạng và giải pháp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Nông

21Nguyễn Thị Bích Ngọc (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng)Giải pháp tiếp tục bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cồng chiêng để góp phần xây dựng và phát triển văn hóa và con người ở Lâm Đồng

31Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk“Thực trạng và giải pháp quản lý, bảo vệ, phát huy Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”

37Lê Hồng Lý Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, 15 năm nhìn lại…

42Bùi Hoài Sơn Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên-Bảo tồn và phát triển

49Bùi Trọng Hiền Những câu chuyện điền dã

57Linh Nga Niê kdam Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cần thực sự có đời sống trong cộng đồng

64Lê Xuân Hoan Một số giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

74 A Biu Bảo vệ và phát huy giá trị Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên -Tiếng nói từ đại diện nghệ nhân

81

Theo MẠNH KIÊN / NĂNG LƯỢNG MỚI : Độc đáo xẩm tàu điện của người Hà thành

Độc đáo xẩm tàu điện của người Hà thành

Xẩm và tàu điện đã đến với Hà Nội như một cơ duyên. Hai thứ ấy đã kết hợp với nhau để sản sinh ra một loại hình nghệ thuật độc đáo – xẩm tàu điện chỉ riêng có ở Hà Nội.

Độc đáo xẩm tàu điện của người Hà thành

Khác với các loại hình xẩm truyền thống như xẩm chợ, xẩm cô đầu (hay còn gọi xẩm ba bậc, xẩm nhà tơ, xẩm huê tình) thì xẩm tàu điện sở hữu những nét độc đáo không giống với bất kỳ loại xẩm nào. Cái khác không đơn thuần là nó thường được hát trên tàu điện mà còn ở ca từ, nhạc cụ cho đến trang phục của người biểu diễn.

Sau gần 1 thế kỷ gắn bó với người dân Hà thành, năm 1992, hình ảnh những tuyến tàu điện leng keng đã chính thức từ giã 36 phố phường và mang theo những làn điệu xẩm trở về dĩ vãng; song đến nay, mỗi khi nhắc đến loại hình âm nhạc này là không ít người lại nao lòng tiếc nuối.

Người Hà thành từng nghĩ rằng, xẩm sẽ bị lãng quên khi tàu điện biến mất khỏi mạng lưới giao thông Hà Nội. Thế rồi gần 2 thập niên sau, người ta đã chứng kiến những chiếu xẩm tại cổng chợ Đồng Xuân vào các tối thứ Bảy hàng tuần; Xẩm vào nhà hát và đến với các sân khấu rộng lớn hơn. Cái tên dân dã người ta hay nhắc đến nhất đó là “xẩm tàu điện”.

Nguồn gốc và quá trình xuất hiện của xẩm tàu điện

Thế kỷ XX, phương tiện đi lại ở Hà Nội chủ yếu là xe tay kéo và tàu điện. Nơi đây đã sản sinh ra một nhánh trong loại hình nghệ thuật diễn xướng độc đáo của dân tộc đó là xẩm tàu điện. Mặc dù xẩm có nhiều loại nhưng xẩm tàu điện thì chắc chắn chỉ Hà Nội mới có. Nó gắn liền với nhịp sống của tàu điện một thời. “Xẩm tàu điện” đặc sắc bởi đây chính là điệu xẩm của riêng Hà Nội. Nếu ca trù, hát cô đầu là “đặc trưng” của phố Khâm Thiên, thì hát xẩm là đặc trưng của chợ Đồng Xuân và phố cổ. Hồi ức của nhà văn Băng Sơn đã từng nhắc đến một bài ca dao khuyết danh nói về tàu điện thuở đó:

“Thằng Tây ngồi nghĩ cũng tài
Sinh ra đèn máy thắp hoài năm canh

Thằng Tây ngồi nghĩ cũng sành
Sinh ra tàu điện chạy quanh phố phường

La ga thì ở Thụy Chương
Dây đồng cột sắt tìm đường kéo lên

Bồi bếp cho chí bồi bàn
Chạy tiền ký cược đi làm sơ vơ

Xưa nay có thế bao giờ
Có cái tàu điện đứng chờ ngã ba”…

Lịch sử đã chứng minh các tuyến tàu điện ở Hà Nội đã tồn tại gần một thế kỷ. Sự hiện diện của phương tiện này được bắt đầu vào ngày 13-9-1900, khi nhà máy xe điện của Pháp tiến hành chạy thử tuyến đường Bờ Hồ – Thụy Khuê nhằm phục vụ nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa. Trong những thập niên sau đó, các tuyến tàu điện liên tục được mở rộng. Từ ga trung tâm ở bờ hồ Hoàn Kiếm, các tuyến đường tỏa ra 6 ngả: Yên Phụ, chợ Bưởi, Cầu Giấy, Hà Đông, chợ Mơ và Vọng, cũng là 6 cửa ngõ nối nông thôn với nội thành. Và luôn bắt gặp ở đây những nhóm người hát xẩm, dắt díu nhau lên tàu hành nghề.

Xẩm tàu điện ra đời vào đầu thế kỷ XX, được cho là một nhánh sau của xẩm cổ. Xẩm tàu điện khác với xẩm chợ, xẩm lễ hội là luôn phải chuyển tàu, chuyển toa tìm khách mới nên các đoạn hát thường ngắn gọn, luôn thay đổi nội dung nếu không khách sẽ chán vì phải nghe đi, nghe lại, nhất là các khách thường ngày đi tàu. Đã có một thời, xẩm tàu điện là những khúc tâm tình gắn với tâm trạng của những khách đi tàu là dân lao động nghèo khổ vất vả, tần tảo trên phố phường Hà Nội.

Dành 20 năm nghiên cứu về hát xẩm, nhận thấy hát xẩm đang dần bị lãng quên, nhạc sĩ Thao Giang đã bắt đầu công việc tìm tòi, sưu tập và biên soạn với mong muốn bảo vệ, khôi phục một nét văn hóa truyền thống của người Hà Nội xưa. Nhạc sĩ đã cùng với Giáo sư Phạm Minh Khang thành lập Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam. Trung tâm được thành lập từ năm 2005 với 3 mục tiêu chính là sưu tầm – nghiên cứu, truyền dạy – đào tạo và biểu diễn nghệ thuật.

Nhạc sĩ cho rằng, xẩm tàu điện là đặc sản của thủ đô. Sở dĩ, Hà Nội “độc chiếm” xẩm tàu điện là vì xẩm phát triển mạnh hồi thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Giống như tính cách của người Hà Nội, xẩm tàu điện khá tao nhã. Những nghệ nhân đã “chế” các bài thơ được ưa chuộng thời bấy giờ thành các bài hát xẩm. Ðặc biệt trong số đó là thơ của Á Nam Trần Tuấn Khải và Nguyễn Bính. Tiêu biểu là các bài như “Anh Khóa”, “Trăng sáng vườn chè”, “Lỡ bước sang ngang”…

Theo tài liệu do nhạc sĩ Thao Giang sưu tầm và cung cấp thì “cha đẻ” của xẩm tàu điện là nghệ nhân Tùng Nguyên và nghệ nhân Thân Đức Chinh. Đặc trưng của xẩm là ở đâu cũng có thể trở thành môi trường diễn xướng như bến sông, bãi chợ, sân đình và cả trong thính phòng. Vì thế, khi Pháp mở tuyến tàu điện đầu tiên, với lượng khách đông đúc, xẩm tàu điện ngay lập tức có được chỗ đứng.

Sau này có rất nhiều người cũng hành nghề xẩm tàu điện. Chính cụ Tùng Nguyên, một nghệ nhân nổi tiếng đã tìm cách đưa hát xẩm lên tàu điện với cách mượn thơ Nguyễn Bính để hát. Vì thơ lục bát rất hợp với làn điệu xẩm, mà xẩm tàu điện về cơ bản chỉ có một làn điệu, nhưng các nghệ nhân đã vận dụng thêm các câu hát xẩm khác xen kẽ, như điệu trống quân, xẩm chợ, điệu huê tình, nên xem ra xẩm tàu điện nghe cũng đỡ nhàm.

Độc đáo “xẩm tàu điện”

Đi sâu để hiểu rõ hơn về loại hình hát “xẩm tàu điện”, theo những tài liệu nghiên cứu, nghệ thuật hát xẩm xuất hiện ở nhiều tỉnh miền Bắc Việt Nam như: Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam, Hải Dương, Bắc Giang… với môi trường diễn xướng là các bến sông, bãi chợ, sân đình ở khắp các nẻo đường làng quê. Xẩm tàu điện xuất hiện muộn hơn nhưng có nét đặc trưng riêng và môi trường diễn xướng là… trên toa tàu và các bến tàu điện. Bởi tàu điện là nơi tập trung đông người, họ có một khoảng thời gian rảnh rỗi nhất định, đó là điều kiện tuyệt vời cho những người hát xẩm hành nghề.

Khác với xẩm chợ, trang phục của nghệ nhân là mặc áo tơi, đội nón lá thì xẩm tàu điện nghệ nhân lại khá diện. Nam thường mặc quần áo nâu, mùa rét khoác bên ngoài tấm áo veston, đầu đội mũ cát, đeo kính đen để thể hiện cái “phớt đời”, tránh cái nhìn không thiện cảm về cái nghiệp “xướng ca vô loài” hè phố. Nữ luôn mặc áo tối màu (nâu hoặc xám), có áo yếm sáng màu, váy lưng lửng đầu gối. Sự khác biệt về trang phục như vậy là bởi môi trường diễn xướng của xẩm tàu điện quá tân thời, khác hẳn không gian diễn tấu của xẩm truyền thống. Có người yêu quý còn liên tưởng vui đến hình ảnh những nhân vật được khắc họa trong tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng.

Nhưng quan trọng hơn là những giai điệu đã đi cùng thời gian cho đến hôm nay. Để phù hợp với đời sống thẩm mỹ của người thành thị, nội dung các bài xẩm thường “cao cấp” chứ không dân dã như xẩm ở làng quê, xẩm chợ. Những bài xẩm chợ có thể hát theo lối tự sự (như than thân trách phận), hoặc nêu gương các anh hùng liệt sĩ, hoặc châm biếm những thói hư tật xấu, hoặc trữ tình… Vì thế, những điệu xẩm cũng dài lê thê, có khi hát cả đêm không hết và giai điệu rất buồn.

Ngược lại, Hà Nội là phố buôn bán tấp nập, tàu điện lại chạy liên tục chuyến đi chuyến về trên các tuyến phố ngắn từ Bờ Hồ đi Cửa Nam, chợ Hôm, Cầu Giấy, chợ Bưởi, Hà Đông… người ta không có thời gian để nghe hàng tiếng đồng hồ, vì thế, các điệu xẩm cũng ngắn gọn hơn, tiết tấu nhanh và rộn ràng hơn.

Theo MẠNH KIÊN / NĂNG LƯỢNG MỚI

[VLOG RADIO SỐ 1] NGUỒN GỐC HÁT XẨM VIỆT NAM – TỔ NGHỀ HÁT XẨM

[VLOG RADIO SỐ 1] NGUỒN GỐC HÁT XẨM VIỆT NAM – TỔ NGHỀ HÁT XẨM

236 views•Feb 13, 202080ShareSaveTRUYỆN VIỆT 8.93K subscribers [VLOG RADIO SỐ 1] NGUỒN GỐC HÁT XẨM VIỆT NAM – TỔ NGHỀ HÁT XẨM AUDIO được nghiên cứu từ các nguồn tài liệu chính thống gửi đến các quý vị khán thình giả để biết về một loại hình âm nhạc đặc sắc của dân tộc. Hãy nhớ đăng ký kênh & like nếu thấy hay để theo dõi các video khác nữa nhé. ĐĂNG KÝ KÊNH VLOG RADIO: https://bom.to/ImiYCi​ ĐĂNG KÝ KÊNH MC THANH BÌNH: CÙNG GIAO LƯU, XEM LỊCH UP VIDEO TRUYỆN, RADIO TRÊN PANPAGE: https://www.facebook.com/truyentrinht…​ ỦNG HỘ SHOP CỦA KÊNH : https://bom.to/GjrLQK

Lễ Tang Cố GS.TS Trần Văn Khê (P1)

Lễ Tang Cố GS.TS Trần Văn Khê (P1)

801 views•Dec 17, 2020100ShareSaveDakao Be 3.13K subscribers Di sản của Ông để lại cho đời thật vô giá. Nhạc Sư Vĩnh Bảo, NSND Ngọc Giàu, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Danh ca Giao Linh, Danh hài Hoài Linh, MC Thanh Bạch v.v..đã thăm viếng và tiễn đưa Ông về nơi an nghỉ cuối cùng.

Trần Quang Hải: Musician,Ethnomusicoligist,master of overtones singing

the JIMMY SHOW IN CALIFORNIA USA 02.2019
DVD LE CHANT DES HARMONIQUES publíe par le CNRS en 2004
TRAN QUANG HAI did the research on overvotne singing at Musée de l’Homme Paris , 2007
book on his 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing , published in 2019
TRAN QUANG HAI showed his techniques of spoons during the interview of newspaper TUOI TRE in Saigon, 2010
TRAN QUANG HAI played the bamboo Jew’s harp at the Moscow festival in Moscoa 2013

WIKIPEDIA: Từ mượn trong tiếng Việt

Từ mượn trong tiếng Việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Bước tới điều hướngBước tới tìm kiếm

Bài viết hay đoạn này có thể chứa nghiên cứu chưa được công bố. Xin hãy cải thiện bài viết bằng cách thêm vào các chú thích tham khảo. Những khẳng định chứa các nghiên cứu chưa công bố cần được loại bỏ.

Căn cứ vào nguồn gốc của các từ, các nhà nghiên cứu chia từ vựng tiếng Việt thành hai lớp: từ thuần Việt và từ mượn hay còn gọi là từ ngoại lai. Nội dung của hai khái niệm từ thuần Việt và từ mượn không có ranh giới rõ ràng vì từ vựng có xu hướng biến đổi, phát triển qua nhiều giai đoạn, cho nên người ta chỉ có thể xác định ranh giới một cách tương đối chắc chắn nếu xét chúng trong những giai đoạn lịch sử cụ thể. Những từ mượn trong giai đoạn này có thể được coi là từ thuần Việt trong giai đoạn tiếp theo. Tiếng Việt trong giai đoạn hiện nay chứa đựng nhiều từ ngữ giống hoặc tương tự với các từ ngữ trong nhiều thứ tiếng khác như: tiếng Mường, tiếng Thái, tiếng Tày-Nùng, tiếng Bana, tiếng Gialai, tiếng Êđê, tiếng Khmer, tiếng Hán (bao gồm cả từ Hán-Việt gốc Nhật), tiếng Pháp, tiếng Nga,… và đặc biệt trong thời gian gần đây là tiếng Anh[1]. Tiếng Việt mượn khá nhiều từ tiếng Anh trong ẩm thực, thể thaogiải trí. Dù nhiều từ đã có từ thuần Việt nhưng mọi người vẫn quen sử dụng từ mượn tiếng Anh[2]. Tuy nhiên do trình độ tiếng Anh khác nhau, sự khác nhau về ngữ âm giữa các phương ngữ của tiếng Việt và do quan niệm về cách đọc của các biên tập viên mà chưa có sự thống nhất cách đọc, cách viết của nhiều từ mượn. Ví dụ, cùng bắt nguồn từ từ tiếng Anh Valentine /ˈvæləntaɪn/ có hai cách nói là « va-len-tin » và « va-len-thai ».

Theo thống kê của H. Maspéro, vào năm 1972 thì có hơn 60% từ Việt có gốc Hán. Về từ mượn tiếng Pháp, thống kê của Nguyễn Quảng TuânNguyễn Đức Dân, vào năm 1992 cho biết có khoảng hơn 2.000 từ gốc Pháp được sử dụng tại Việt Nam. Từ điển từ mới (Viện Ngôn ngữ học, 2002) đã thu thập khoảng 3.000 từ mới các loại trong vòng 15 năm (1985 – 2000) từ mượn chủ yếu từ tiếng Anh.[3]

Mục lục

Sự Việt hóa từ mượn

Cũng giống như những ngôn ngữ khác, hiện tượng tiếp nhận từ ngữ của một ngôn ngữ vào tiếng Việt không diễn ra một cách đơn giản mà các từ mượn phải chịu sự biến đổi theo quy luật của tiếng Việt. Quá trình đồng hoá các từ ngoại lai diễn ra trên cả bốn mặt là chữ viết, ngữ âm, ngữ nghĩangữ pháp[4].

Việt hóa ngữ âm

Cách phát âm của các từ mượn cần phải phù hợp với hệ thống ngữ âm tiếng Việt, những âm mà tiếng Việt không có hoặc có nhưng xuất hiện ở những vị trí bất thường, trái với ngữ âm tiếng Việt sẽ bị biến đổi thành các âm tiếng Việt có cách phát âm gần giống hoặc bị bỏ qua, không chuyển đổi thành âm tiếng Việt nào. Ví dụ như ba từ tiếng Pháp « poupée » /pupe/, « équipe » /ekip/ và « valise » /valiz/ được phiên âm là « búp bê », « ê kíp » và « va li ». Tiếng Việt gọi sự chuyển đổi ngữ âm này là « phiên âm ». Đây là một từ Hán Việt, viết bằng chữ Hán là « 翻音 », trong đó « phiên » có nghĩa là « dịch ».

Tiếng Việt không có các tổ hợp phụ âm nên khi được phiên âm sang tiếng Việt các tổ hợp phụ âm sẽ bị loại bỏ theo các cách sau:

  1. Âm tiết hóa các phụ âm cấu thành nên các tổ hợp phụ âm đó. Nguyên âm thêm vào để tạo thành âm tiết thường là « ơ ». Ví dụ: địa danh tiếng Pháp « Genève » /ʒə.nɛv/ được phiên âm là « Giơ-ne-vơ », phụ âm /v/ được âm tiết hóa thành « vơ ».
  2. Bỏ qua một bộ phận của tổ hợp phụ âm. Ví dụ: từ tiếng Pháp « gramme » /gram/ được phiên âm là « gam », phụ âm /r/ trong phụ âm kép /gr/ bị bỏ qua.
  3. Áp dụng đồng thời cả hai cách trên.

Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, hầu hết các âm tiết trong tiếng Việt đều mang một ý nghĩa nào đó, các từ trong tiếng Việt thường chỉ gồm một hoặc hai âm tiết, do đó người Việt có xu hướng lược bớt âm tiết của những từ ngoại lai thường dùng có từ hai âm tiết trở lên miễn là không gây hiều nhầm. Ví dụ: « ét-xăng » (bắt nguồn từ từ tiếng Pháp « essence ») được rút gọn thành « xăng ».

Khi đã được Việt hóa, từ mượn chịu sự biến đổi theo quy luật riêng của tiếng Việt. Từ mượn và từ gốc mà nó xuất thân có thể phát triển theo những hướng hoàn toàn khác nhau. Thí dụ: Vào thời kì của tiếng Hán cổ, cả tiếng Việt và tiếng Hán đều có phụ âm vô thanh. Từ « can » của tiếng Hán cổ khi chuyển sang tiếng Việt vẫn giữ nguyên diện mạo như vậy. Nhưng sau đó, các từ trong tiếng Hán biến đổi theo quy luật vô thanh hoá, còn các từ trong tiếng Việt lại biến đổi theo quy luật hữu thanh hoá. Do đó, từ « can » trong tiếng Hán hiện đại vẫn đọc như vậy, còn trong tiếng Việt, « can » đã đổi thành « gan »[4]. Một ví dụ khác, từ « tết » trong tiếng Việt bắt nguồn từ từ « tiết« . Tuy cùng có gốc là tiếng Hán song việc sử dụng chúng hiện nay khác nhau, « tiết » để chỉ các tiết khí như tiết Thanh minh, tiết Lập Xuân, tiết Đông Chí…, « tết » để chỉ ngày lễ lớn hằng năm, thường có cúng lễ, vui chơi, hội hè, theo truyền thống dân tộc Việt Nam như tết Nguyên Đán, tết Trung Thu, tết Đoan Ngọ

Việt hóa chữ viết

Về mặt chữ viết không phải bao giờ các từ mượn trong tiếng Việt cũng được ghi lại giống như cách chúng được phát âm, tức là nói một đằng viết một nẻo. Hiện nay các từ mượn trong tiếng Việt có hai cách viết:

Một là ghi lại bằng chữ cái La-tinh các từ mượn sao cho càng giống với cách chúng được viết trong ngôn ngữ gốc càng tốt. Ví dụ: « phét-ti-van » được viết là « festival ». Các chữ cái La-tinh được sử dụng thường chỉ giới hạn trong 26 chữ cái của bảng chữ cái La-tinh cơ bản do Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế đặt ra dựa trên bảng chữ cái tiếng Anh đương đại. Cách viết này thường áp dụng với các ngôn ngữ sử dụng ký tự Latinh, với các ngôn ngữ không sử dụng ký tự Latinh thì sẽ chuyển tự sang ký tự Latinh. Khi sử dụng cách viết nguyên dạng mà không hướng dẫn cách đọc thì cách phát âm được dùng trên các chương trình phát thanh, truyền hình đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành cách đọc chung của công chúng.

Hai là viết bằng chữ quốc ngữ theo đúng cách phát âm trong thực tế của từ mượn. Trong tiếng Việt chúng được nói như thế nào thì ghi lại bằng chữ quốc ngữ đúng như thế. Các âm tiết có thể được viết liền nhau hoặc viết tách rời, có khoảng trắng giữa các âm tiết hoặc nối với nhau bằng các dấu gạch ngang đặt giữa các âm tiết, ví dụ như: vali, va li, va-li. Các từ mượn được viết tách rời các âm tiết thường là từ có hai âm tiết. Trong một số trường hợp khi các âm tiết được viết liền nhau, không có khoảng trắng hoặc dấu gạch ngang xen vào giữa các âm tiết, nếu không được chỉ rõ cách đọc từ trước người đọc có thể đọc sai hoặc phân vân không biết nên đọc thế nào mới đúng vì không biết một chữ cái nào đó là chữ cái cuối cùng của một âm tiết hay là chữ cái đầu tiên của một âm tiết khác sau âm tiết đó.

Việt hóa ngữ nghĩa

Quá trình đồng hóa ngữ nghĩa cũng diễn ra tương tự như ngữ âm. Khi tiếp nhận, tiếng Việt có thể thể không tiếp nhận tất cả các ý nghĩa của từ trong ngôn ngữ khác hoặc mang một ý nghĩa hoàn toàn mới. Thí dụ: từ « balle » trong tiếng Pháp có các nghĩa là « quả bóng » và « đầu đạn », nhưng tiếng Việt chỉ tiếp nhận từ này với ý nghĩa « quả bóng ».[4]

Việt hóa ngữ pháp

Các từ ngoại lai cũng được đồng hoá theo tiếng Việt về ngữ pháp. Chẳng hạn, tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình, hiện tượng biến đổi từ loại xảy ra rất dễ dàng. Nhiều từ tiếng Việt tiếp nhận của tiếng Pháp cũng tuân theo quy luật đó: « double », « blue » là tính từ, vào tiếng Việt là « đúp », « lơ » có thể làm động từ.[4]

Phân loại từ mượn theo nguồn gốc

Từ mượn tiếng Hán

Bài chi tiết: Từ Hán-ViệtDanh sách từ Hán-Việt gốc Nhật

Từ mượn tiếng Pháp

Việt Nam từng là thuộc địa của Pháp nên tiếng Pháp có điều kiện du nhập vào Việt Nam. Trong quá trình giao lưu văn hóa và ngôn ngữ đó người Việt đã vay mượn nhiều từ gốc Pháp để chỉ những khái niệm mà thường thì trong tiếng Việt không có. Phần lớn các từ đó đã bị thay đổi cả về cách đọc lẫn chữ viết để phù hợp với đặc trưng của tiếng Việt, vốn là ngôn ngữ không biến hình[5].

Bảng dưới đây liệt kê một số từ tiếng Việt thông dụng hiện nay bắt nguồn từ tiếng Pháp. Các từ tiếng Pháp được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái, âm đọc của chúng được ghi trong cột IPA bằng ký hiệu ngữ âm quốc tế (IPA) của Hiệp hội Ngữ âm học Quốc tế.

Tiếng PhápIPATiếng ViệtGhi chú
acide/asid/a-xít
affiche/afiʃ/áp phích
allô/alo/a lôTừ được sử dụng để hỏi « bên kia có nghe rõ không? » được giùm thường xuyên khi liên lạc với ai đó.
antenne/ɑ̃tεn/ăng ten
auto/oto/ô tô
auvent/ovɑ̃/ô văng
balcon/balkɔ̃/ban công
ballot/balo/ba lô
béton/betɔ̃/bê tông
bière/bjεr/bia« Bia » trong « bia hơi »
biscuit/biskɥi/bánh quy, bánh bích quy
blockhaus/blɔkos/lô cốt
blouse/bluz/(áo) bờ luTừ « áo bờ lu » thường dùng để chỉ đồng phục áo choàng màu trắng của các bác sĩ
brosse/bʀɔs/bót (bàn chải) đánh răng
bus/bys/(xe) buýt
cacao/kakao/ca cao
café/kafe/cà phê
calot/kalo/(mũ) ca lô
canot/kano/(tàu) ca nô
carotte/karɔt/cà rốt
cerise/səriz/sơ riTên một loại cây. Từ này bắt nguồn từ từ « cerise » trong tiếng Pháp, nhưng tiếng Pháp không gọi theo tên này để chỉ « sơ ri » trong tiếng Việt mà gọi là « acérola »
champagne/ʃɑ̃paɲ/(rượu) sâm banh, sâm panh
chef/ʃεf/sếp« Chef » trong tiếng Pháp có nghĩa là người đứng đầu, thủ trưởng.
chemise/ʃ(ə)miz/(áo) sơ mi
chèque/ʃεk/sécCòn gọi là « chi phiếu »
chou-fleur/ʃuflɶr/súp lơ
chou-rave/ʃurav/su hào
ciment/simɑ̃/xi măng
cirque/sirk/xiếc, xiệc
clé/kle/cờ lê
coffrage/kɔfraʒ/cốt pha, cốp pha
compas/kɔ̃pa/com pacông cụ dùng để vẽ hình tròn
complet/kɔ̃plε/com lêtrang phục nam giới
coupe/kup/cúp« Cúp » trong « cúp vô địch »
cravate/kravat/cà vạt, ca-ra-vát
cresson/kresɔ̃/cải xoong
crème/krεm/kem, cà rem
essence/esɑ̃s/xăngTrước đây còn gọi là « ét-xăng »
équerre/ekεr/ê ke
équipe/ekip/ê kíp, kíp« Équipe » trong tiếng Pháp có nghĩa là tốp, tổ, nhóm, đội
film/film/phim
fosse septique/fos sεptik/(bể) phốt (phương ngữ miền Bắc)Phương ngữ miền Nam gọi là « hầm cầu ». « Fosse septique » dịch sát nghĩa từng chữ sang tiếng Việt là « hố vi khuẩn », trong đó « fosse » /fos/ có nghĩa là cái hố.
fromage/frɔmaʒ/pho mát (phương ngữ miền Bắc), phô mai (phương ngữ miền Nam)
galant/galɑ̃/ga lăng
garde/gard/gác« Gác » trong « canh gác ». « Garde » trong tiếng Pháp có nghĩa là canh giữ, trông coi
garde-manger/gaʁd mɑ̃ʒe/Gạc-măng-rêbố trí lắp đặt trong nhà bếp dùng để cất trữ thực phẩm
gare/gar/(nhà) ga« Gare » trong tiếng Pháp có nghĩa là bến tàu hỏa
gaz/gaz/ga« Ga » trong « bếp ga », « nước uống có ga », « xe tay ga »
gâteau/gato/(bánh) ga tô
gilet/ʒilε/(áo) gi lê« Gi » trong « gi lê » đọc là /zi/.
glaïeul/glajɶl/(hoa) lay ơn
gant/gɑ̃/găng (tay)Bao tay, tất tay
guitare/gitar/(đàn) ghi ta
jambon/ʒɑ̃bɔ̃/giăm bôngGiăm bông hay còn gọi là thịt nguội, đừng nhầm lẫn với chà bông.
kiosque/kjɔsk/ki ốt« Kiosque » trong tiếng Pháp có nghĩa là quán bán hàng
lavabo/lavabo/la-va-bô
lipide/lipid/li-pít
maillot/majo/áo may ô
manchette/mɑ̃ʃεt/măng sét
mandoline/mɑ̃dɔlin/(đàn) măng-đô-lin
maquette/mæ.ˈkɛt/ma kétBản thiết kế mẫu, bản mô hình chưa hoàn thiện.
meeting/mitiŋ/mít tinh
molette/mɔlεt/mỏ lết
mouchoir/muʃwar/khăn mùi soaKhăn tay
moutarde/mutard/mù tạt
Noël/nɔεl/Nô-enLễ Giáng sinh
olive/ɔliv/ô liu
pédé/pede/bê đê, pê đêNgười đồng tính luyến ái nam. Còn gọi là « gay ».
pile/pil/pin
poupée/pupe/búp bê
radio/radjo/ra-đi-ôMáy phát âm thanh hoặc gọi là máy phát đài truyền hình.
salade/salad/xa lát, xà láchrau cải
salon/salɔ̃/(ghế) xa lông
sauce/sos/(nước) xốt
saucisse/sosis/xúc xích
savon/savɔ̃/xà phòng, xà bông
scandale/skɑ̃dal/xì căng đan
seau/so/Cái xô đựng nước.
série/seri/xê ri
signal/siɲal/xi nhanđèn tín hiệu
slip/slip/quần xịt, quần sịp, xi líp
talus/taly/ta luy
tank/tɑ̃k/(xe) tăng
taxi/taksi/tắc xi
tournevis/turnəvis/tua vít, tuốc-nơ-vít, tuốt vít
tôle/tol/tôn« Tôn » trong « mái tôn »
tube/tyb/tuýp« Tuýp » trong « tuýp thuốc đánh răng ». « Tube » trong tiếng Pháp có nghĩa là cái ống.
turbine/tyrbin/tuốc bin, tua bin
type/tip/típ« Típ » trong « típ người », hay bị nhầm thành « tuýp ». « Type » trong tiếng Pháp có nghĩa là kiểu, loại.
un deux trois/œ̃ dø tʁwɑ/« uyn đô xì », gọi tắt là « (chơi) uyn »trò này từ hồi Pháp thuộc. (Xem « oẳn tù tì » bên dưới)
vaccin/vaksε̃/vắc xin
valise/valiz/va li
veine/vεn/ven« Ven » trong « tiêm ven ». « Veine » trong tiếng Pháp có nghĩa là tĩnh mạch.
veston/vεstɔ̃/(áo) vét-tôngcũng gọi tắt là vest
vin/vε̃/(rượu) vang
vidéo/video /vi-đê-ôMột số người phát âm sai là « vi deo » theo chữ Quốc ngữ.
violon/vjɔlɔ̃/vi-ô-lông
vitamine/vitamin/vi-ta-min
volant/vɔlɑ̃/vô lăngĐôi khi còn gọi là « tay lái » hay « bánh lái »
yaourt/jaurt/da-ua (phương ngữ miền Nam)Sữa chua

Từ mượn tiếng Nga

Danh sách các từ mượn tiếng Anh gốc Pháp trong tiếng Việt

Bài viết này không được chú giải bất kỳ nguồn tham khảo nào. Mời bạn giúp cải thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích cho từng nội dung cụ thể trong bài viết tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ.
Tiếng NgaPhiên âm BGN/PCGNTiếng ViệtGhi chú
БольшевикBolshevikBôn-sê-vích
ЛенинецLeninetsLê-nin-nítNgười theo chủ nghĩa Lênin
МарксистMarksistMác-xítNgười theo chủ nghĩa Mác
СоветSovietXô Viết
ЛитваLitvaLít-vatên tiếng bản địaLietuva, tên tiếng Anh là Lithuania

Từ mượn tiếng Anh

Tiếng Anh được coi là ngôn ngữ giao tiếp quốc tế. Ở Việt Nam tiếng Anh là ngôn ngữ bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông và cũng là ngoại ngữ được sử dụng rộng rãi. Trong tiếng Việt đã xuất hiện nhiều từ mượn tiếng Anh như:

Tiếng AnhIPATiếng ViệtGhi chú
camera/ˈkæmrə/Ca-mê-raTuỳ trường hợp nó sẽ là máy ảnh hoặc máy quay
clip/klɪp/cờ-líp
damage/ˈdamɪdʒ/đam (sát thương)Giới trẻ Việt hay viết sai chính tả thành « dame ». Dame mang nghĩa khác trong tiếng Anh
depot/ˈdepəʊ/ /ˈdiːpəʊ/đê-pô, đề-pâu, đì-pâuNơi điều hành tuyến đường sắt, tập kết tàu đường sắt để bảo trì. Một số người phát âm sai là « đề-pót » theo chữ Quốc ngữ.
developer/dɪˈveləpə/đépKỹ sư lập trình, phát triển ngành công nghê thông tin. Viết tắt là « dev ».
dollar/ˈdɒlə/đô-laĐơn vị tiền tệ của nhiều quốc gia
font/fɑnt/phông, phông chữLỗi phông: máy tính hiển thị sai nội dung văn bản, hiển thị rác.
gay/ɡeɪ/gayNgười đồng tính luyến ái nam. Còn gọi là « bê đê », « pê đê ».
internet/ˈɪntərnet/in-tơ-nétMạng máy tính, thế giới mang
jeans/dʒiːnz/quần jeansCòn gọi là quần bò
jeep/dʒiːp/xe gíp
laptop/ˈlæptɑːp/láp-tópMáy tính xách tay
lesbian/ˈlezbiən/létNgười đồng tính luyến ái nữ. Trên sách báo thường được viết là « les ».
one two three/wʌn tuː θriː/oẳn tù tì, oẳn tù xì.‘One two three’ có nghĩa là « một hai ba », đây là khẩu lệnh dùng khi chơi, không phải là tên gọi trong tiếng Anh của trò chơi này.
PC/ˌpiː ˈsiː/pi-ximáy tính cá nhân
PR/ˌpiː ˈɑːr/pi-aQuan hệ công chúng, chỉ sự quảng bá
rock/rɑːk/nhạc rốc
sandwich/ˈsæn(d)wɪtʃ/xăng-uýchHay « bánh mì kẹp »
scag/’skæg/xì ke (phương ngữ miền Nam)« Scag » là từ tiếng lóng tiếng Anh Mỹ chỉ hê-rô-in. Phương ngữ miền Nam dùng từ « xì ke » để chỉ ma tuý và người nghiện ma tuý.
sex/seks/xếchQuan hệ tình dục
selfie/ˈselfi/seo-phichụp ảnh tự sướng
shorts/ʃɔː(ɹ)ts/quần soóc, quần soọc
same/seim/xêmTrong « xêm xêm », có nghĩa là gần giống.
radar/’reidɑː/ra đa
(Maria) Schellsến
show/ˈʃoʊ/trong « bầu sô », « chạy sô »…
smartphone/ˈsmɑːtfəʊn/sờ-mát-phônđiện thoại di động thông minh
tablet/ˈtæblət/ta-bờ-létmáy tính bảng
tiny/ˈtaɪni/tí nịDùng đặt tên gọi trong nhà cho trẻ em
TV/ˌtiː ˈviː/ti viMáy thu hình, vô tuyến truyền hình

{fan}

Liên kết ngoài

xtsHệ thống tiếng Việt
Âm vị học Bộ gõ Telex VNI Chính tả Chữ viết Chữ Quốc ngữ (Chữ Latinh) Chữ Hán Chữ Nôm Hệ chữ nổi Ngữ pháp Phương ngữ Thư pháp Thư pháp chữ Quốc ngữ Tiếng lóng Từ đồng âm Từ Hán Việt Từ mượn Từ thuần Từ vựng Viết tắt
  1. ^ Từ bản ngữ và từ ngoại lai (phần 1). Theo Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên). Dẫn luận ngôn ngữ học. Nhà xuất bản Giáo dục, H., 1998, trang 129–134. http://ngonngu.net/ dẫn lại. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2015
  2. ^ Từ mượn tiếng Anh trong tiếng Việt. Theo Australia Plus, ngày 16 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2015
  3. ^ Tiếng Việt đang “lệch chuẩn”: Chẳng đáng lo!. VOV online phỏng vấn PGS-TS Phạm Văn Tình (Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam), 22/02/2014. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2014.
  4. ^ a ă â b Từ bản ngữ và từ ngoại lai (phần 2). Theo Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên). Dẫn luận ngôn ngữ học. Nhà xuất bản Giáo dục, H., 1998, trang 129–134. http://ngonngu.net/ dẫn lại. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2015
  5. ^ SỰ ĐỒNG HOÁ CÁC TỪ GỐC PHÁP TRONG TIẾNG VIỆT PGS.TS. Phan Thị Tình khoa Pháp- ĐHNN-ĐHQGHN

Thể loại:

VI THÙY LINH : Âm nhạc Việt Nam vang lên tại Genova, chu du đất Ý

Âm nhạc Việt Nam vang lên tại Genova, chu du đất Ý

Đăng ngày 01/03/2021 – 20:21Tác giả: GS.TS Âm nhạc Trần Quang Hải (Paris)

Cộng hòa Ý là quốc gia cộng hòa nghị viện đơn nhất tại châu Âu. Người dân của đất nước hình chiếc ủng rất thích hát. 

Cửa hàng trưng bày và bán dấm Balsamico có nghĩa lá “thơm”, “đun sôi nước ép” tỉnh Modena, nước Ý. Ảnh: NVCC.

Từ hát cổ điển Tây phương, opéra, tới nhạc đương đại. Tôi khám phá thêm các loại hát truyền thống Á châu (giọng trầm tụng kinh Tây Tạng, giọng hát đồng song thanh của Mông cổ và Tuva) cũng thu hút nhiều người Ý để áp dụng vào thiền, sáng tác tùy hứng tập thể.

Nhờ vậy, mà tôi được mời sang dạy hát đồng song thanh mỗi năm từ 4 tới 7 lần ở nhiều tỉnh khác nhau. Tính ra trong thời gian 40 năm qua, tôi đã dạy trên 2.000 người đến học ở các thành phố lớn nhỏ (Roma, Napoli, Firenze, Milano, Venezia, Bologna, Vicenza, Grosseto, Genova, Torrento, Bergamo,Catania, Verona, Ravenna, Cagliari, Como…). Nhờ thế, tôi có dịp thăm toàn nước Ý từ Bắc xuống tới miền Nam, luôn cả hai đảo Sicily và Sardinia.

Chuyến đi dạy hát đồng song thanh mùa Xuân 2020

Năm 2020, tôi may mắn được Nhạc viện tỉnh Modena mời dạy hát đồng song thanh cho một số nhạc sinh chuyên về giọng.

Tôi không ngờ thành phố này tuy nhỏ (chỉ 180.325 dân) mà được mệnh danh là “thành phố động cơ”, chuyên sản xuất xe hơi thể thao nổi tiếng thế giới như Lamborghini và Maserati.

Ngoài ra, tỉnh này chuyên sản xuất loại dấm Balsamico đặc biệt màu sậm đen chua ngọt rất hợp cho các loại rau xà lách. Balsamico tiếng Ý có nghĩa là “thơm”, “đun sôi nước ép”. Đây là loại dấm mắc hơn dấm thường. Có chai giá hơn 100 Euros sau khi ủ 12 năm hay tới 25 năm. Tôi đã mua vài chai từ rẻ tới đắt.

Thành phố còn nổi tiếng hơn bởi danh ca opéra Luciano Pavarotti sinh tại tỉnh này (12/10/1935) và từ trần cũng tại nơi đây (6/9/2007).

Năm 1990, giọng ca huyền thoại Pavarotti cùng với hai danh ca Placido Domingo và ông Jose Carreras thành lập nhóm tam ca Three Tenors ở Roma.

Năm 1998, ông nhận giải Grammy huyền thoại. Năm 2001, Pavarotti được Trung tâm Kennedy vinh danh. Năm 2005, Pavarotti được Anh quốc phong tặng Công dân danh dự thủ đô London.

Ông nhận hai kỷ lục thế giới của trung tâm kỷ lục Guinness xác nhận: Ca sĩ được khán giả vỗ tay mời ra hát 165 lần; ca sĩ có album bán chạy nhất thế giới trong lĩnh vực nhạc cổ điển phương Tây.

Tôi đã gặp L.Pavarotti năm 2000 trong khung cảnh đại hội liên hoan thế giới về giọng. Tôi biểu diễn cách hát đồng song thanh cho ông nghe và ông muốn nhờ tôi chỉ cách hát này. Tiếc thay, Pavarotti không có thì giờ để tập nên thời gian trôi qua cho tới ngày ông mãn phần, tôi vẫn chưa làm trọn lời hứa truyền bí quyết cho ông.

Trong hai ngày dạy hát, các nhạc sinh chịu khó tập luyện cách giữ hơi trong bụng, cách phát âm từ giọng hầu, cách hát với các nguyên âm A E I O U. Sau hai ngày học, họ bắt đầu hát được hai giọng: Một giọng trầm từ âm trì giữ nguyên cao độ và một giọng cao tạo bởi bồi âm (harmonics) lên cao xuống thấp tùy theo cách thay đổi thể tích trong miệng.

Tôi áp dụng vận nội công, khí công, thiền và cả thái cực quyền về cách thở thật chậm giúp cho nhạc sinh tiến bộ về hơi thở dài hơn. Kết quả khóa dạy được nhạc sinh vỗ tay khen sau khi bế giảng.

Ông Giám đốc Nhạc viện ngỏ lời muốn mời tôi sang dạy một năm để có đủ thì giờ tập cho một số nhạc sinh có khiếu với mục đích thành lập một nhóm hát đồng song thanh trình diễn với những bài bản sáng tác mới cho âm nhạc đương đại.

Tôi hoàn toàn tán thành. Tiếc thay, bệnh dịch Covid-19 tăng nhanh vào tháng 3/2020. Thành ra tôi tạm dời lại trong tương lai. Hy vọng vẫn là hy vọng. Thời gian và sức khỏe có cho phép tôi làm những gì tôi ước mơ?

Năm 2020, vì bệnh dịch Covid 19 đã làm giảm khá nhiều chuyến đi trình diễn ở Âu châu của chúng tôi và nhiều nghệ sĩ khắp thế giới. Sang Xuân 2021, giữa Thủ đô hoa lệ vắng lặng bất thường mà tôi đã gắn bó gần cả đời người, lại thèm du diễn khắp nơi.

Nhớ lại năm 2019, vợ chồng tôi đã diễn tại Mỹ: Giới thiệu sách tôi viết về 50 nghiên cứu nhạc dân tộc Việt tại Đại học Long Beach, California (tháng 2); Đức (tháng 4); Đại hội liên hoan đàn môi ở Catania, Ý (tháng 6); dự Hội nghị dân tộc nhạc học tại Bangkok, Thái Lan (tháng 7); Đại hội quốc tế về giọng (Umbria in Voce) tại Gubbio, Ý (tháng 11).

Năm 2020, chúng tôi chỉ hoạt động từ tháng 1 tới tháng 3 thôi. Vì vậy, chỉ có 2 buổi trình diễn và dạy hát đồng song thanh tại Ý vào tháng 1 và đầu tháng 3.

Chuyến lưu diễn tại tỉnh Genova, Ý tháng 1/2020

GS Trần Quang Hải bên đặc sản dấm Balsamico tại vùng Modena. Ảnh: NVCC

Thành phố Genova rất đẹp và khá đông dân (trên 550.000 người). Những nơi đáng thăm là bể nuôi cá đẹp nhất Âu châu (Aquarium of Genoa), thánh đường San Lorenzo và ngôi nhà của Christophe Colomb (Christopher Columbus, tiếng Ý là: Cristoforo Colombo).

Ông Colomb (1451 – 1506) là người Ý, không phải là người Tây Ban Nha. Nhà thám hiểm hàng hải này khám phá ra Mỹ châu năm 1492. Về ẩm thực, dầu olive và pesto không thể thiếu trong thực đơn của tỉnh Genova. Hải sản được ưa thích vì tỉnh này nằm cạnh bờ biển nên cá tôm có rất nhiều.

Chúng tôi được mời giới thiệu nhạc cổ truyền Việt Nam. Chương trình gồm có những tiết mục độc tấu nhạc cụ (đàn nhị, sinh tiền, muỗng, đàn môi) và dân ca Việt Nam ba miền Nam – Trung – Bắc. Phần đàn do tôi phụ trách và phần hát do Bạch Yến vợ tôi đảm nhận. Chúng tôi không phải là nghệ sĩ chuyên nghiệp diễn như thường thấy ở Việt Nam. Nhưng chúng tôi trình diễn đúng theo phong cách ngày xưa. Như vậy có nghĩa là sao?

Trước hết là y phục. Tôi mặc áo cặp the đen ngoài và áo trắng bên trong, đội mũ đen, đi dép đen. Bạch Yến mặc áo tứ thân 5 tà vấn khăn mỏ quạ, móng tay chân không sơn đỏ, bỏ hết nữ trang.

Sau đó là cách chào theo kiểu Việt Nam cung kính, bước nhẹ nhàng, đàn ông đi trước đàn bà theo sau rất chậm rãi.

Khi đàn, phải đàn thư thả, khi hát phải ngân nga theo đúng truyền thống của từng miền. Trước khi đàn hoặc hát chúng tôi đều giải thích ngắn gọn từng tiết mục để cho khán giả hiểu sơ nội dung bài hát hay bài đàn.

Tuy chỉ có hai người, không cần sân khấu với ánh sáng và hệ thống âm thanh đồ sộ, hiện đại vì chúng tôi hát mộc. Khán giả lắng tai nghe âm thanh thật từ giọng hát tiếng đàn trong không gian im phăng phắc của nơi diễn.

Người xem chăm chú theo dõi và vỗ tay khen từng tiết mục. Sau khi kết thúc chương trình lý thú, công chúng châu Âu luôn vây quanh chúng tôi, tỏ lời khen ngợi và xin chụp hình lưu niệm.

Mỗi chuyến đi diễn như thế, lưu lại trong lòng công chúng thế giới hình ảnh của nhạc dân tộc từ phong cách trình diễn đến âm thanh của từng nhạc cụ, giai điệu tiếng Việt.

Đối với họ là một khám phá giúp họ muốn tìm hiểu thêm trong tương lai khi họ thăm Việt Nam. Chúng tôi chỉ là viên gạch lót đường trong việc quảng bá nhạc dân tộc Việt từ hơn 40 năm nay ở hải ngoại.

GS Trần Quang Hải (1944) là con trai trưởng của GS.TS Trần Văn Khê. GS Hải tự nhận mình chỉ là viên gạch lót đường, nhưng gần nửa thế kỷ qua, cùng người bạn đời – Bạch Yến, họ đã lưu diễn khắp thế giới, có công lao lớn trong việc quảng bá âm nhạc Việt Nam. Hơn chồng một tuổi, danh ca Bạch Yến (quốc tịch Mỹ) nổi tiếng tại Sài Gòn từ lúc thiếu niên, nổi tiếng tại Mỹ, từng được hát cùng danh ca F.Sinatra.Khi sang Paris diễn, gặp Trần Quang Hải bà đã cảm mến người đàn ông tài hoa, chân tình nên đồng ý ở lại Pháp, làm vợ ông với một đám cưới giản dị và thành kế mẫu của Minh Tâm – con gái duy nhất của chồng. Tuy bà không có con chung với ông, họ vẫn sống hạnh phúc hơn 40 năm qua vì chung tình yêu âm nhạc.Danh ca Bạch Yến đã nghe lời của cha chồng, tập luyện, chuyên chú cho dân ca Việt Nam, tâm huyết với sự nghiệp quảng bá âm nhạc cho dân tộc và khiến GS Trần Văn Khê luôn tự hào về vợ chồng người con trưởng. – Vi Thùy Linh.

(Nguồn: https://giaoducthoidai.vn/)

https://giaoducthoidai.vn/van-hoa/am-nhac-viet-nam-vang-len-tai-genova-chu-du-dat-y-XhUX5XYMg.html

https://giaoducthoidai.vn/tag/bmjhuqFjIGPhu5UgdHJ1eeG7gW4gVmnhu4d0IE5hbQ==/nhac-co-truyen-viet-nam.html

Vi Thùy Linh: Âm nhạc Việt Nam vang lên tại Genova, chu du đất Ý

Âm nhạc Việt Nam vang lên tại Genova, chu du đất Ý

25/02/21 07:30 GMT+7 Gốc Cộng hòa Ý là quốc gia cộng hòa nghị viện đơn nhất tại châu Âu. Người dân của đất nước hình chiếc ủng rất thích hát.

Cửa hàng trưng bày và bán dấm Balsamico có nghĩa lá “thơm”, “đun sôi nước ép” tỉnh Modena, nước Ý. Ảnh: NVCC.

Từ hát cổ điển Tây phương, opéra, tới nhạc đương đại. Tôi khám phá thêm các loại hát truyền thống Á châu (giọng trầm tụng kinh Tây Tạng, giọng hát đồng song thanh của Mông cổ và Tuva) cũng thu hút nhiều người Ý để áp dụng vào thiền, sáng tác tùy hứng tập thể.

Nhờ vậy, mà tôi được mời sang dạy hát đồng song thanh mỗi năm từ 4 tới 7 lần ở nhiều tỉnh khác nhau. Tính ra trong thời gian 40 năm qua, tôi đã dạy trên 2.000 người đến học ở các thành phố lớn nhỏ (Roma, Napoli, Firenze, Milano, Venezia, Bologna, Vicenza, Grosseto, Genova, Torrento, Bergamo,Catania, Verona, Ravenna, Cagliari, Como…). Nhờ thế, tôi có dịp thăm toàn nước Ý từ Bắc xuống tới miền Nam, luôn cả hai đảo Sicily và Sardinia.

Chuyến đi dạy hát đồng song thanh mùa Xuân 2020

Năm 2020, tôi may mắn được Nhạc viện tỉnh Modena mời dạy hát đồng song thanh cho một số nhạc sinh chuyên về giọng.

Tôi không ngờ thành phố này tuy nhỏ (chỉ 180.325 dân) mà được mệnh danh là “thành phố động cơ”, chuyên sản xuất xe hơi thể thao nổi tiếng thế giới như Lamborghini và Maserati.

Ngoài ra, tỉnh này chuyên sản xuất loại dấm Balsamico đặc biệt màu sậm đen chua ngọt rất hợp cho các loại rau xà lách. Balsamico tiếng Ý có nghĩa là “thơm”, “đun sôi nước ép”. Đây là loại dấm mắc hơn dấm thường. Có chai giá hơn 100 Euros sau khi ủ 12 năm hay tới 25 năm. Tôi đã mua vài chai từ rẻ tới đắt.

Thành phố còn nổi tiếng hơn bởi danh ca opéra Luciano Pavarotti sinh tại tỉnh này (12/10/1935) và từ trần cũng tại nơi đây (6/9/2007).

Năm 1990, giọng ca huyền thoại Pavarotti cùng với hai danh ca Placido Domingo và ông Jose Carreras thành lập nhóm tam ca Three Tenors ở Roma.

Năm 1998, ông nhận giải Grammy huyền thoại. Năm 2001, Pavarotti được Trung tâm Kennedy vinh danh. Năm 2005, Pavarotti được Anh quốc phong tặng Công dân danh dự thủ đô London.

Ông nhận hai kỷ lục thế giới của trung tâm kỷ lục Guinness xác nhận: Ca sĩ được khán giả vỗ tay mời ra hát 165 lần; ca sĩ có album bán chạy nhất thế giới trong lĩnh vực nhạc cổ điển phương Tây.

TRAN QUANG HAI trước tượng ông L.Pavarotti

Tôi đã gặp L.Pavarotti năm 2000 trong khung cảnh đại hội liên hoan thế giới về giọng. Tôi biểu diễn cách hát đồng song thanh cho ông nghe và ông muốn nhờ tôi chỉ cách hát này. Tiếc thay, Pavarotti không có thì giờ để tập nên thời gian trôi qua cho tới ngày ông mãn phần, tôi vẫn chưa làm trọn lời hứa truyền bí quyết cho ông.

Trong hai ngày dạy hát, các nhạc sinh chịu khó tập luyện cách giữ hơi trong bụng, cách phát âm từ giọng hầu, cách hát với các nguyên âm A E I O U. Sau hai ngày học, họ bắt đầu hát được hai giọng: Một giọng trầm từ âm trì giữ nguyên cao độ và một giọng cao tạo bởi bồi âm (harmonics) lên cao xuống thấp tùy theo cách thay đổi thể tích trong miệng.

Tôi áp dụng vận nội công, khí công, thiền và cả thái cực quyền về cách thở thật chậm giúp cho nhạc sinh tiến bộ về hơi thở dài hơn. Kết quả khóa dạy được nhạc sinh vỗ tay khen sau khi bế giảng.

TRẦN QUANG HẢI và các nhạc sinh

Ông Giám đốc Nhạc viện ngỏ lời muốn mời tôi sang dạy một năm để có đủ thì giờ tập cho một số nhạc sinh có khiếu với mục đích thành lập một nhóm hát đồng song thanh trình diễn với những bài bản sáng tác mới cho âm nhạc đương đại.

Tôi hoàn toàn tán thành. Tiếc thay, bệnh dịch Covid-19 tăng nhanh vào tháng 3/2020. Thành ra tôi tạm dời lại trong tương lai. Hy vọng vẫn là hy vọng. Thời gian và sức khỏe có cho phép tôi làm những gì tôi ước mơ?

Năm 2020, vì bệnh dịch Covid 19 đã làm giảm khá nhiều chuyến đi trình diễn ở Âu châu của chúng tôi và nhiều nghệ sĩ khắp thế giới. Sang Xuân 2021, giữa Thủ đô hoa lệ vắng lặng bất thường mà tôi đã gắn bó gần cả đời người, lại thèm du diễn khắp nơi.

Nhớ lại năm 2019, vợ chồng tôi đã diễn tại Mỹ: Giới thiệu sách tôi viết về 50 nghiên cứu nhạc dân tộc Việt tại Đại học Long Beach, California (tháng 2); Đức (tháng 4); Đại hội liên hoan đàn môi ở Catania, Ý (tháng 6); dự Hội nghị dân tộc nhạc học tại Bangkok, Thái Lan (tháng 7); Đại hội quốc tế về giọng (Umbria in Voce) tại Gubbio, Ý (tháng 11).

Năm 2020, chúng tôi chỉ hoạt động từ tháng 1 tới tháng 3 thôi. Vì vậy, chỉ có 2 buổi trình diễn và dạy hát đồng song thanh tại Ý vào tháng 1 và đầu tháng 3.

Chuyến lưu diễn tại tỉnh Genova, Ý tháng 1/2020

Thành phố Genova rất đẹp và khá đông dân (trên 550.000 người). Những nơi đáng thăm là bể nuôi cá đẹp nhất Âu châu (Aquarium of Genoa), thánh đường San Lorenzo và ngôi nhà của Christophe Colomb (Christopher Columbus, tiếng Ý là: Cristoforo Colombo).

Ông Colomb (1451 – 1506) là người Ý, không phải là người Tây Ban Nha. Nhà thám hiểm hàng hải này khám phá ra Mỹ châu năm 1492. Về ẩm thực, dầu olive và pesto không thể thiếu trong thực đơn của tỉnh Genova. Hải sản được ưa thích vì tỉnh này nằm cạnh bờ biển nên cá tôm có rất nhiều.

Chúng tôi được mời giới thiệu nhạc cổ truyền Việt Nam. Chương trình gồm có những tiết mục độc tấu nhạc cụ (đàn nhị, sinh tiền, muỗng, đàn môi) và dân ca Việt Nam ba miền Nam – Trung – Bắc. Phần đàn do tôi phụ trách và phần hát do Bạch Yến vợ tôi đảm nhận. Chúng tôi không phải là nghệ sĩ chuyên nghiệp diễn như thường thấy ở Việt Nam. Nhưng chúng tôi trình diễn đúng theo phong cách ngày xưa. Như vậy có nghĩa là sao?

Trước hết là y phục. Tôi mặc áo cặp the đen ngoài và áo trắng bên trong, đội mũ đen, đi dép đen. Bạch Yến mặc áo tứ thân 5 tà vấn khăn mỏ quạ, móng tay chân không sơn đỏ, bỏ hết nữ trang.

Sau đó là cách chào theo kiểu Việt Nam cung kính, bước nhẹ nhàng, đàn ông đi trước đàn bà theo sau rất chậm rãi.

Khi đàn, phải đàn thư thả, khi hát phải ngân nga theo đúng truyền thống của từng miền. Trước khi đàn hoặc hát chúng tôi đều giải thích ngắn gọn từng tiết mục để cho khán giả hiểu sơ nội dung bài hát hay bài đàn.

Tuy chỉ có hai người, không cần sân khấu với ánh sáng và hệ thống âm thanh đồ sộ, hiện đại vì chúng tôi hát mộc. Khán giả lắng tai nghe âm thanh thật từ giọng hát tiếng đàn trong không gian im phăng phắc của nơi diễn.

Người xem chăm chú theo dõi và vỗ tay khen từng tiết mục. Sau khi kết thúc chương trình lý thú, công chúng châu Âu luôn vây quanh chúng tôi, tỏ lời khen ngợi và xin chụp hình lưu niệm.

Mỗi chuyến đi diễn như thế, lưu lại trong lòng công chúng thế giới hình ảnh của nhạc dân tộc từ phong cách trình diễn đến âm thanh của từng nhạc cụ, giai điệu tiếng Việt.

Đối với họ là một khám phá giúp họ muốn tìm hiểu thêm trong tương lai khi họ thăm Việt Nam. Chúng tôi chỉ là viên gạch lót đường trong việc quảng bá nhạc dân tộc Việt từ hơn 40 năm nay ở hải ngoại.

GS Trần Quang Hải (1944) là con trai trưởng của GS.TS Trần Văn Khê. GS Hải tự nhận mình chỉ là viên gạch lót đường, nhưng gần nửa thế kỷ qua, cùng người bạn đời – Bạch Yến, họ đã lưu diễn khắp thế giới, có công lao lớn trong việc quảng bá âm nhạc Việt Nam. Hơn chồng một tuổi, danh ca Bạch Yến (quốc tịch Mỹ) nổi tiếng tại Sài Gòn từ lúc thiếu niên, nổi tiếng tại Mỹ, từng được hát cùng danh ca F.Sinatra.

Khi sang Paris diễn, gặp Trần Quang Hải bà đã cảm mến người đàn ông tài hoa, chân tình nên đồng ý ở lại Pháp, làm vợ ông với một đám cưới giản dị và thành kế mẫu của Minh Tâm – con gái duy nhất của chồng. Tuy bà không có con chung với ông, họ vẫn sống hạnh phúc hơn 40 năm qua vì chung tình yêu âm nhạc.

Danh ca Bạch Yến đã nghe lời của cha chồng, tập luyện, chuyên chú cho dân ca Việt Nam, tâm huyết với sự nghiệp quảng bá âm nhạc cho dân tộc và khiến GS Trần Văn Khê luôn tự hào về vợ chồng người con trưởng. –

Sau đó là cách chào theo kiểu Việt Nam cung kính, bước nhẹ nhàng, đàn ông đi trước đàn bà theo sau rất chậm rãi.

Khi đàn, phải đàn thư thả, khi hát phải ngân nga theo đúng truyền thống của từng miền. Trước khi đàn hoặc hát chúng tôi đều giải thích ngắn gọn từng tiết mục để cho khán giả hiểu sơ nội dung bài hát hay bài đàn.

Tuy chỉ có hai người, không cần sân khấu với ánh sáng và hệ thống âm thanh đồ sộ, hiện đại vì chúng tôi hát mộc. Khán giả lắng tai nghe âm thanh thật từ giọng hát tiếng đàn trong không gian im phăng phắc của nơi diễn.

Người xem chăm chú theo dõi và vỗ tay khen từng tiết mục. Sau khi kết thúc chương trình lý thú, công chúng châu Âu luôn vây quanh chúng tôi, tỏ lời khen ngợi và xin chụp hình lưu niệm.

Mỗi chuyến đi diễn như thế, lưu lại trong lòng công chúng thế giới hình ảnh của nhạc dân tộc từ phong cách trình diễn đến âm thanh của từng nhạc cụ, giai điệu tiếng Việt.

Đối với họ là một khám phá giúp họ muốn tìm hiểu thêm trong tương lai khi họ thăm Việt Nam. Chúng tôi chỉ là viên gạch lót đường trong việc quảng bá nhạc dân tộc Việt từ hơn 40 năm nay ở hải ngoại.

GS Trần Quang Hải (1944) là con trai trưởng của GS.TS Trần Văn Khê. GS Hải tự nhận mình chỉ là viên gạch lót đường, nhưng gần nửa thế kỷ qua, cùng người bạn đời – Bạch Yến, họ đã lưu diễn khắp thế giới, có công lao lớn trong việc quảng bá âm nhạc Việt Nam. Hơn chồng một tuổi, danh ca Bạch Yến (quốc tịch Mỹ) nổi tiếng tại Sài Gòn từ lúc thiếu niên, nổi tiếng tại Mỹ, từng được hát cùng danh ca F.Sinatra.

Khi sang Paris diễn, gặp Trần Quang Hải bà đã cảm mến người đàn ông tài hoa, chân tình nên đồng ý ở lại Pháp, làm vợ ông với một đám cưới giản dị và thành kế mẫu của Minh Tâm – con gái duy nhất của chồng. Tuy bà không có con chung với ông, họ vẫn sống hạnh phúc hơn 40 năm qua vì chung tình yêu âm nhạc.

Danh ca Bạch Yến đã nghe lời của cha chồng, tập luyện, chuyên chú cho dân ca Việt Nam, tâm huyết với sự nghiệp quảng bá âm nhạc cho dân tộc và khiến GS Trần Văn Khê luôn tự hào về vợ chồng người con trưởng. – Vi Thùy Linh.

TRẦN QUANG HẢI & BẠCH YẾN

https://baomoi.com/am-nhac-viet-nam-vang-len-tai-genova-chu-du-dat-y/c/38037264.epi