Catégorie : Non classé

TRẦN QUANG HẢI : My humble words dedicated to Master VĨNH BẢO

Master VĨNH BẢO & TRẦN QUANG HẢI

My humble words dedicated to Master VĨNH BẢO
Master Vĩnh Bảo
A national living treasure
of Traditional Music in Việt Nam
A unique musician
Who is just now 100 years old
But still in good health
With fresh memory
And lucidity
He continues to transmit his precious knowledge
To young musicians and music lovers
of the next generation
Master VÍNH Bảo
a TRUE MASTER in Music
Merits our Respect and Love
From Now and Ever.
Respectfully yours,
Trần quang Hải
Limeil Brévannes, January 3rd, 2017

Cần chính xác trong cách hiểu về di sản văn hóa phi vật thể

Cần chính xác trong cách hiểu về di sản văn hóa phi vật thể

Thứ Bảy, 04/01/2020, 19:28:24

NDĐT – Ngày 3-1, tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, TS Frank Proschan có buổi thuyết trình “Hiểu về các khái niệm và cách tiếp cận chính đối với di sản văn hóa phi vật thể trong Công ước 2003 Về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể”. Ông đã nêu những điểm mấu chốt nhất khi ứng xử với di sản văn hóa phi vật thể và việc cần hiểu chính xác những khái niệm được UNESCO đưa ra có liên quan chủ đề này.

Cần chính xác trong cách hiểu về di sản văn hóa phi vật thể

Nhã nhạc Cung đình Huế đã được UNESCO ghi vào Danh mục Kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, năm 2003.

Hiểu đúng về chủ sở hữu và “cấp” của di sản văn hóa phi vật thể

Công ước 2003 khẳng định, các cộng đồng, nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân – những người thực hành một biểu đạt văn hóa nào đó – và chỉ họ mà thôi – mới có thể là những người công nhận nó là một bộ phận cấu thành di sản văn hóa phi vật thể của họ, và chỉ họ mới có thể xác định được giá trị của nó. UNESCO đã không sử dụng lại cụm từ “di sản thế giới của nhân loại” trong Công ước 1972 (Về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới), thay vào đó, nhấn mạnh rằng di sản văn hóa phi vật thể thuộc về cộng đồng và nhóm người cụ thể.

Di sản văn hóa phi vật thể thuộc về cộng đồng, và chỉ thuộc về cộng đồng, không thuộc về quốc gia, nhà nước, dân tộc, hay nhân loại cũng như toàn thế giới. Dù có được UNESCO ghi vào “Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp” hoặc “Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại” thì nó vẫn thuộc về cộng đồng của nó và không trở thành “di sản thế giới”, hay tài sản của nhân loại nói chung. Công ước 2003 cũng rất thận trọng khi luôn dùng cụm từ “di sản văn hóa phi vật thể hiện có trên lãnh thổ của một quốc gia thành viên” mà không dùng cụm từ “di sản của quốc gia thành viên”. Cụm từ “of humanity” (của nhân loại) chỉ là yếu tố phụ/nhỏ khi nói về di sản văn hóa phi vật thể và chỉ hàm ý rằng: Tất cả di sản văn hóa phi vật thể đều là do con người sáng tạo và tái tạo chứ không phải được thực hành bởi một cái (hoặc con) gì khác. Chữ “của” (khi viết di sản văn hóa phi vật thể “của” địa phương, “của” Việt Nam, “của” nhân loại…) không nên (được) hiểu để chỉ sự sở hữu mà nên hiểu rằng “di sản đó hiện diện ở nơi đó”.

Một quan niệm sai khác có thể thấy rõ trong việc thường xuyên sử dụng sai từ “xếp hạng” (ranking) khi nói về các di sản văn hóa phi vật thể. Với các di tích (vật thể), chúng ta thường thấy cách diễn đạt như “di tích quốc gia” và “di tích quốc gia đặc biệt” nhưng Công ước 2003 của UNESCO bác bỏ việc xếp hạng các di sản văn hóa phi vật thể thành một hệ thống thứ bậc, phân chia cao – thấp. Tất cả di sản văn hóa phi vật thể đều bình đẳng vì di sản văn hóa phi vật thể nào cũng đều có giá trị đối với cộng đồng, nhóm người, cá nhân sáng tạo ra chúng. Không thể coi di sản của người này có giá trị hơn di sản của người khác và sẽ phạm sai lầm khi xếp hạng di sản văn hóa phi vật thể theo “tầm quan trọng” của nó. Người mẹ nào cũng nghĩ con mình là đứa trẻ đẹp nhất, thông minh nhất, ngoan ngoãn nhất, và không người nào bên ngoài lại dám liều lĩnh phủ nhận đánh giá đó của người mẹ. Di sản văn hóa phi vật thể là những đứa con tinh thần của cộng đồng, trong con mắt cộng đồng của nó cũng giống như đứa con trong mắt của người mẹ vậy.

UNESCO chỉ “ghi danh”, không “công nhận”

Một khái niệm khác được dùng sai phổ biến rằng UNESCO “công nhận” Di sản văn hóa phi vật thể nào đó. Công ước 2003 khẳng định rằng, chỉ có cộng đồng, nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân liên quan di sản mới có thể “công nhận” (recognize) di sản của chính họ. Di sản văn hóa phi vật thể không phải là một thứ gì đó bên ngoài, có thể được định nghĩa và xác định giá trị bởi các chuyên gia, quan chức nhà nước, hoặc bởi một quy trình kiểm tra khoa học nào đó. Thay vào đó, chính các cộng đồng, nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân – những người thực hành một biểu đạt văn hóa nào đó – và chỉ họ mà thôi – mới có thể là những người “công nhận” nó là một bộ phận cấu thành di sản văn hoá phi vật thể của họ, chỉ họ mới có thể xác định được giá trị của nó. Mỗi cộng đồng định nghĩa di sản của chính mình và đến lượt nó, chính di sản đó lại định nghĩa cộng đồng của nó. Nội dung Công ước 2003 cũng nhắc lại nhiều lần rằng, quá trình công nhận một cái gì đó là di sản văn hóa phi vật thể là quá trình chỉ có thể diễn ra trong các cộng đồng, chứ không thể do người bên ngoài, cho dù là quan chức nhà nước, thực hiện mà không có cộng đồng. Các chuyên gia cũng không có thẩm quyền quyết định thay cho một cộng đồng cái gì “là” hay “nên là” di sản của họ. Cũng chỉ các cộng đồng liên quan mới có thể bảo vệ di sản của chính họ, và muốn công tác bảo vệ được thực hiện hiệu quả thì sự tham gia rộng rãi nhất có thể của họ là thiết yếu.

Trong định nghĩa về Di sản văn hóa phi vật thể (Điều 2.1 của Công ước), việc công nhận một cái gì đó có phải là một phần di sản văn hóa phi vật thể của mình hay không là quyền của mỗi cộng đồng hay nhóm người. Đúng hơn, đây là trách nhiệm của các cộng đồng, nhóm người hoặc cá nhân liên quan biểu đạt hoặc tập quán đó. Tất cả những gì mà UNESCO hay Ủy ban Liên chính phủ của Công ước có thể làm là “ghi danh” hay nói cách khác là đưa di sản văn hóa phi vật thể đó vào một trong số các danh sách của Công ước.

Sự nhầm lẫn này (có vẻ như) có căn nguyên từ lỗi dịch sai trong bản tiếng Việt chính thức của Công ước 1972. Bản tiếng Anh giải thích rằng, Ủy ban Di sản thế giới sẽ xác định các tiêu chí mà theo đó những di sản “có giá trị nổi bật toàn cầu” có thể được “đưa vào” (includes) Danh sách Di sản thế giới. Bản tiếng Pháp dùng từ “ghi danh” – inscribed. Trong khi đó, bản tiếng Việt lại dịch rằng đây là các tiêu chí để “công nhận” (recognizing) di sản trong Danh sách Di sản thế giới. Tương tự, có sự dịch sai trong Điều 31 của Công ước 2003 (bản tiếng Việt). Trong khi bản tiếng Pháp và tiếng Anh đều dùng từ “ghi danh” (inscriptions) vào Danh sách đại diện hoặc “đưa vào” (includes) một trong số các danh sách thì bản tiếng Việt dịch thành “công nhận” (recognition) trong Danh sách đại diện. Với bản dịch như vậy, quan niệm rằng UNESCO “công nhận” di sản văn hóa nói chung hay di sản văn hóa phi vật thể nói riêng đã trở nên quá phổ biến ở Việt Nam. Với di sản (vật thể) thế giới, cách dùng này có thể vẫn chấp nhận được, nhưng Công ước 2003 về Di sản văn hóa phi vật thể đã nói rất rõ ràng rằng, mỗi di sản văn hóa phi vật thể chỉ có thể được công nhận bởi cộng đồng hoặc nhóm người của nó.

Một cụm từ khác mà UNESCO không bao giờ dùng nhưng lại được sử dụng thường xuyên ở Việt Nam, đó là UNESCO “vinh danh” hay “tôn vinh” (honors). Cách dùng này có vẻ như không vi phạm tinh thần của Công ước, mặc dù có thể gây nhầm lẫn. Mục đích của việc ghi danh không phải là vinh danh/tôn vinh nhưng vinh danh/tôn vinh có thể là một kết quả tự nhiên của việc ghi danh. Đó có thể là việc sau “ghi danh” và là việc của cộng đồng sở hữu di sản.

Ở Việt Nam, còn có tình trạng “danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể” bị hiểu sai lệch thành “danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia”. Những lỗi diễn đạt như vậy không chỉ xuất hiện trên truyền thông đại chúng mà còn trong các nghiên cứu học thuật, thậm chí cả trong các văn kiện và trang web của chính phủ. Vì vậy, không chỉ báo chí mà các học giả, các nhà quản lý đều cần nỗ lực nhiều hơn nữa để có sự hiểu và diễn đạt đúng, để không còn nhầm lẫn việc “ghi danh vào danh sách” với việc “công nhận ở cấp độ quốc tế” và hiểu đúng việc UNESCO “ghi danh” không nhằm thay thế sự công nhận của cộng đồng liên quan, cũng không liên quan việc “vinh danh” hay “tôn vinh”.

Việc hiểu và sử dụng đúng thuật ngữ rất quan trọng vì một trong bốn mục đích của Công ước 2003 là “nâng cao nhận thức ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế về tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể và việc bảo đảm sự tôn trọng lẫn nhau”.

TS Frank Proschan
TS Frank Proschan (ảnh) là nhà nhân học, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian nổi tiếng. Từ năm 2006 đến năm 2015, ông làm việc cho UNESCO, hỗ trợ việc triển khai Công ước năm 2003 Về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể trên phạm vi toàn cầu. Ông là học giả Fulbright 2019 – 2020, cộng tác nghiên cứu tại Trung tâm Smithsonian về Đời sống dân gian và di sản văn hóa, giảng viên thỉnh giảng của Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội).

https://nhandan.com.vn/vanhoa/dien-dan/item/42814002-can-chinh-xac-trong-cach-hieu-ve-di-san-van-hoa-phi-vat-the.html

NGUYỄN VĨNH BẢO : ĐỜN CA TÀI TỬ / Music of the amateurs

ĐỜN CA TÀI TỬ

Music of the amateurs

Maestro NGUYỄN VĨNH BẢO

Today, we are confronting the hybridization of the Đờn Ca Tài Tử.  A number of experts musicians have passed away. Many people want to study traditional music, but teaching manuals are scarce. If a manual is found, it really does not help for the student cannot learn without a teacher. A few parents, encourage their children to study the Western music. The fact can be explained by many reasons: Teachers of Western music have pedagogical methods that are easy to implement. With knowledge of the West, it is easy to make living. Have the prospect to travel across the world, to attend International Music Meetings, etc …. There are many unconscious reasons why some young generation have turned their backs on traditional music. The first reason is that the subtle diversity of traditional music are rarely displayed for young people to appreciate. No one explains to them  the complementary nature of today’s international society and traditional artistic culture, and especially the very shortest space needed for nations to link together, understand one another, and love one another.

The teacher’s home is usually his studio and available for music lessons.. The repertoire is maintained entirely by memory and passed down through practice. Neither notation system have a definite majority. Students do not read the notation learn the entire piece by imitating the teacher. Usually, the teacher also plays, or sings as he plays. The resultant melody vary from teacher to teacher as well in different pieces. The teaching, necessary requires both theory and practice. The teacher has to expect loyalty from his student, and the student, instinctively feels veneration towards him, and calls him “Sư-Phụ”. The word “Sư-Phụ” in Vietnamese has far greater implication than the term “teacher” does in English. 

August 19, 2019

Vĩnh-Bảo 102 years old

TRƯỜNG KỲ :Ca Sĩ Bạch Yến – với 50 năm tận tụy trong nghệ thuật

TRƯỜNG KỲ :Ca Sĩ Bạch Yến – với 50 năm tận tụy trong nghệ thuật


Với 50 năm góp mặt trong lãnh vực nghệ thuật, Bạch Yến rất xứng đáng được coi là một nữ nghệ sĩ có quá trình hoạt động lâu dài nhất cho đến ngày hôm nay. Với những thăng trầm trong cuộc sống cũng như trong nghề nghiệp, tên tuổi của chị vẫn là một tên tuổi lớn trong việc giới thiệu nền văn hoá Việt Nam với khán giả năm châu qua nhạc dân ca cổ truyền hiện nay cũng như từng góp mặt trong giới « show business » tại Hoa Kỳ trong một thời gian dài.

TRƯỜNG KỲ

Giọng hát trầm đặc biệt đó cũng đã trở nên quen thuộc với khán giả Việt Nam từ rất nhiều nãm qua, mặc dù âm sắc (timbre) rất trầm nhưng giọng hát chị thuộc loại « mezzo soprano », đã góp phần không ít trong việc tạo cho nhạc phẩm « Ðêm Ðông » trở thành bất hủ.

Lần xuất hiện gần đây nhất của Bạch Yến trước khán giả người Việt đã diễn ra tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, trong một buổi trình diễn do Câu Lạc Bộ Văn Hoá vùng Washington, D.C. tổ chức. Số khán giả tham dự đông đảo trong buổi trình diễn đó đã không ngờ một nữ nghệ sĩ năm nay đã ngoài 60 mà thể cách trình diễn cũng như giọng ca vẫn còn dồi dào phong độ khi đã trình bày 20 nhạc phẩm trong suốt chương trình, với sự phụ hoạ dương cầm của nhạc sĩ Jean Louis Beydon, giám đốc viện âm nhạc Vanves (ngoại ô Paris).

BẠCH YẾN

Trước đó, Bạch Yến cũng đã có dịp đến với khán giả Việt Nam tại tiểu bang Washington trong dịp Tết Quý Mùi vừa qua với những chương trình nhạc thính phòng và dân ca. Trong năm 2002, Bạch Yến cũng đã có dịp phô diễn tài nghệ của mình trước cộng đồng người Việt ở nhiều thành phố lớn tại Hoa Kỳ như Houston, Phoenix, San Jose, vv… và đã mang lại cho khán thính giả nhiều thích thú. Cô bé nhi đồng từng nổi tiếng với phần trình diễn mô tô bay ngày nào hẳn cũng đã không ngờ định mệnh đã đưa đẩy đến sự thành công trong lãnh vực nghệ thuật âm nhạc trong suốt mấy chục năm sau đó.

Bạch Yến tên thật là Quách Thị Bạch Yến, sinh năm 1942 ở Sóc Trăng. Thân mẫu chị thường về Việt Nam mỗi khi gần sanh nở vì luôn muốn sinh con tại quê ngoại. Bạch Yến là con áp út trong một gia đình gồm 8 người con, 3 gái, 5 trai; nhưng 4 trong 5 người con trai trong gia đình đều mất sớm. Thân phụ chị là người Tiều Châu và là bạn của người cậu ruột, tỏ ra rất khó khăn trong việc để con cái theo con đường văn nghệ do quan niệm « xướng ca vô loài », trong khi thân mẫu chị lại là một người say mê âm nhạc và luôn tỏ ra gắn bó với nền văn hoá Việt Nam.

Năm 9 tuổi, Bạch Yến được gia đình đưa về Cần Thơ để theo học tiểu học ở đây, cùng một lúc hoạt động trong ca đoàn của nhà thờ Cần Thơ nên nhờ đó đã sớm có được một căn bản nhạc lý, dù chỉ trong một thời gian ngắn ngủi. Năm 1952 sau đó, Bạch Yến lại theo bố mẹ và các anh chị vào Sài Gòn để rồi ghi tên dự thi cuộc tuyển lựa ca sĩ dành cho những giọng ca nhi đồng do đài phát thanh Pháp Á tổ chức. Sau những vòng sơ khảo và bán kết, qua năm 1953 Bạch Yến đã oanh liệt đoạt được Huy Chương Vàng trong vòng chung kết và liền sau đó được mời cộng tác với chương trình ca nhạc nhi đồng của đài phát thanh dưới sự điều khiển của Pháp. Nhưng không lâu sau, đài này đã ngưng hoạt động khi người Pháp phải rời khỏi Việt Nam (1955). Sau đó Bạch Yến tìm đến với những đài phát thanh Quân Ðội và Sài Gòn để xin hát cho những chương trình dành cho thiếu nhi nhưng đều bị từ chối.

Mẹ chị đã quyết định chia tay với bố chị khi được ông cho biết sẽ đem cả gia ðình về sống vĩnh viễn ở Nam Vang vì bà muốn ở lại Việt Nam để các con không bị mất gốc và có thể lập gia đình với người đồng hương. Mặc dù bố chị là một doanh thương giàu có, nhưng mẹ chị do tự ái đã cương quyết không nhận sự giúp đỡ tiền bạc của ông sau khi ly dị để nhẫn nhục chịu đựng sự vất vả ở lại Việt Nam nuôi nấng con cái, lúc đó đã lên tới 5 chị em. Sự tận tụy và hy sinh đó nơi người mẹ thân yêu vẫn luôn ở trong tâm hồn Bạch Yến, dù mẹ chị đã qua đời cách đây gần 10 năm.

Gia đình Bạch Yến lâm vào sự túng quẫn sau khi bố mẹ đường ai nấy đi, đã sống chen chúc với nhau trong một căn nhà nhỏ trong một ngõ hẻm trên đường Cao Thắng. Không những thế, một trận hoả hoạn đã xẩy ra thiêu rụi cả nơi nương náu của một gia đình vốn đã gặp rất nhiều khó khăn này. Người cậu ruột của Bạch Yến từ Cần Thơ sau khi nghe tin, đã lên Sài Gòn thăm hỏi gia đình chị. Trước tình trạng bi đát này, ông đã nẩy ra ý định thành lập một đoàn mô tô bay thiếu nhi để đi lưu diễn khắp nơi.

Không còn sự chọn lựa nào khác, mẹ chị đành lòng chấp nhận để các con gia nhập đoàn mô tô bay dù biết trước có rất nhiều nguy hiểm. Từ đó, cô bé Bạch Yến theo chị ruột, em trai và em bà con để theo đoàn đi vào tận các làng xã, từ Quảng Trị xuống tới Cà Mau trình diễn những pha mô tô bay nguy hiểm, trong khi vào thời điểm đó vấn đề an toàn không được mấy lưu tâm. Tuy nhiên đối với Bạch Yến, đó là những kỷ niệm khó quên về quê hương khi có dịp gia nhập vào những sinh hoạt thuần tuý đồng quê một cách rất hồn nhiên.

Nhưng chẳng may, một tai nạn rất nặng đã xẩy ra với Bạch Yến trong một buổi biểu diễn tại giải trí trường Thị Nghè. Khi đang bay mô tô, chân chị đã đạp phải thắng nên cả người và xe bị tụt xuống đâm ngay xuống nền gỗ bị mô tô đè lên người. Với tai nạn này, Bạch Yến đã bị dập một số xương sườn và màng tang trái khiến phải điều trị trong một thời gian khá dài. Cũng từ tai nạn này, đoàn mô tô bay của người cậu cũng bị cấm hoạt động khi bị giới hữu trách khám phá là đã thu nhận những thành viên không đủ số tuổi ấn ðịnh là 17 khi hành nghề xiệc (cirque).

Một lần nữa, gia đình Bạch Yến lại lâm vào một tình trạng thê thảm và nheo nhóc. Do lòng thương mẹ và anh chị em và với một sự quyết tâm mạnh mẽ, Bạch Yến, khi đó mới là một cô gái 14 tuổi, đã phải cải trang cho giống một thiếu nữ vào tuổi đôi mươi với một chiếc áo dài cùng với lớp son phấn trang điểm cho ra vẻ người lớn. Dưới lớp cải trang đó, Bạch Yến lần mò đến những vũ trường và phòng trà để xin hát hầu có tiền phụ giúp gia đình. Phòng trà mang tên Trúc Lâm trên đường Phạm Ngũ Lão do hai nhạc sĩ Mạnh Phát và Ngọc Bích khai thác. Ðây là nơi thu nhận chị đầu tiên trong vai trò ca sĩ với một số tiền thù lao khiêm nhượng.

Nhờ khi còn nhỏ được học một thời gian nơi trường La Providence của các dì phước nên Bạch Yến đã có khả năng hát được những nhạc phẩm lời Pháp như Tango Blue, Étoile Des Neiges, vv… nên được khán giả dành cho nhiều cảm tình. Ngoài ra chị cũng đã cố gắng trình bày được một số nhạc phẩm Việt Nam như Bến Cũ hoặc Gái Xuân, vv… Sau khi rời khỏi phòng trà Trúc Lâm, Bạch Yến tìm đến với phòng trà Hoà Bình, rồi lần mò vào tận Chợ Lớn để xin hát tại vũ trường Mélodie với đa số khán giả là người Hoa. Dần dần chị đã xin hát được ở nhiều vũ trường khác như Ðồng Khánh, Ðại Kim Ðô, vv…

Trong suốt thời gian này chị không đuợc một ai hướng dẫn về nhạc, ngoài việc bắt chước hát theo đĩa cho thật giống với lời ca được tự phiên âm theo từng chữ rất vất vả. Sau khi phiên âm xong, chị mới đọc cho một giáo sư Anh Văn nghe và viết lại cho đúng nghĩa và giảng giải về nội dung nhạc phẩm để dễ dàng diễn tả. Từ năm 1957 trở đi, tên tuổi Bạch Yến mới bắt đầu được nhắc nhở tới nhiều sau khi về cộng tác với vũ trường Kim Sơn, với sự phụ hoạ của dàn nhạc Ely Javier. Thời gian này nhạc phẩm Ðêm Ðông đã được trình bày một cách đặc biệt bởi Bạch Yến để sau đó trở thành một nhạc phẩm gắn liền với tên tuổi chị.

BẠCH YẾN và dàn nhạc ELY JAVIER

Vào thời kỳ này một vũ trường khác cũng đang rục rịch khai trương, trong khi ông giám đốc của vũ trường này đi tìm những giọng ca đặc biệt. Ðó là vũ trường Tự Do, là nơi đã xuất phát nhiều tiếng hát nổi danh của làng tân nhạc Việt Nam. Và chủ nhân vũ trường này là ông Ngô Vãn Cường, một người từng sống nhiều nãm bên Pháp và có một tâm hồn yêu văn nghệ và quý trọng nghệ sĩ. Trong một lần đến Kim Sơn nghe Bạch Yến trình diễn, ông Cường đã mời chị cùng với cả giàn nhạc Ely Javier về hợp tác với một số thù lao cao hơn nhiều so với những nơi chị từng cộng tác trước đó. Dĩ nhiên nhạc phẩm « Ðêm Ðông » cũng theo Bạch Yến về đây để cùng với những nhạc phẩm của Patty Page, Connie Francis, DaliDa, Edith Piaf, Ella Fitzerald, Peggy Lee, Rosemary Clooney, Pat Boone, Elvis Presley, Paul Anka, và the Platters, vv… khiến khán giả say mê theo dõi. Bạch Yến lúc bấy giờ được nổi tiếng nhiều qua những nhạc phẩm Rock ‘n’ Roll và Mambo tuy cũng được thích qua những ca khúc điệu Slow.

Sau khi dành dụm được một số tiền trong thời kỳ tên tuổi lên cao nhất khi cộng tác với vũ trường Tự Do, Bạch Yến cùng với mẹ lên đường sang Pháp vào năm 1961 với ý định học phương pháp hát của Tây phương. Chị may mắn được thu nhận vào hát tại một nhà hàng sang trọng do ông Phạm Vãn Mười làm chủ trên đường rue de l’Echelle ở quận 1 Paris. Nhà hàng La Table Du Mandarin tuy nhỏ, chỉ chứa tối đa được khoảng sáu bẩy chục chỗ, nhưng là nơi lui tới của những khách hàng lịch lãm.
Trong thời gian ở Pháp, Bạch Yến đã được hãng Polydor mời thâu, cùng một lúc đi trình diễn tại một số quốc gia Âu Châu như Ðức, Áo, Bỉ, Hoà Lan và nhiều thành phố trong nước Pháp. Tuy nhiên Bạch Yến cho biết sự việc đã diễn ra không nhý ý vì chị đã nổi tiếng ở Việt Nam mà sang Pháp chị chỉ là một nghệ sĩ ngoại quốc xa lạ. Trước kết quả không được như ý này, Bạch Yến đã quyết định quay trở lại VN vào cuối năm 63 để tiếp tục hợp tác với vũ trường Tự Do và thỉnh thoảng trình diễn tại vũ trường Kim Ðô với một số kinh nghiệm về nghệ thuật trình diễn cũng như kỹ thuật hát học hỏi ở ngoại quốc.

BẠCH YẾN và dĩa hát do Polydor sản xuất tại Pháp

Khi vừa trở lại quê hương vào cuối 63, nhiều sĩ quan cố vấn Mỹ – là những khán giả thường đến với Tự Do – đã tỏ ra yêu thích tài nghệ của chị nên đã tìm cách giới thiệu một tài năng trẻ của Việt Nam với chương trình ca nhạc truyền hình nổi tiếng « Ed Sullivan Show ». Sau nhiều lần thuyết phục chị nhưng chị nhứt quyết từ chối nên có ý nghĩ buộc họ mời mẹ thì chị mới nhận lời đi. Chị nghĩ rằng với điều kiện này sẽ không được chấp thuận vì trong thâm tâm không thích qua Mỹ vì cho đó là một quốc gia « kỳ thị chủng tộc ».

Nhưng vào đầu năm 1965, cả hai mẹ con Bạch Yến nhận được vé máy bay để cùng lên đường sang Mỹ. Với chuyến đi này, Bạch Yến trở thành người Việt Nam đầu tiên và duy nhất xuất hiện trên chương trình Ed Sullivan Show với 35 triệu khán giả cũng như được tham dự trực tiếp vào giới « show business » Hoa Kỳ. Với nhạc phẩm « Ðêm Ðông » bất hủ và một nhạc phẩm Mỹ nổi tiếng « If I Have A Hammer », Bạch Yến đã tạo được khá nhiều tiếng vang nõi khán giả truyền hình qua chương trình « Ed Sullivan Show » cũng là chương trình có sự xuất hiện của ban nhạc quốc tế đang trong thời kỳ nổi bật nhất là the Rolling Stones.

Ðáng lẽ Bạch Yến chỉ lưu lại Hoa Kỳ 12 ngày theo đúng giao kèo, nhưng định mệnh đã đưa đẩy chị ðến với những hoạt động ca nhạc tại đây trong suốt 12 năm! Sự quyết định ở lại Hoa Kỳ của Bạch Yến được thân mẫu chị chấp thuận sau khi đã bắt chị phải tuân theo 3 điều kiện: không được mặc bikini, phải để tóc dài không được cắt và nhất là không được lấy chồng ngoại quốc! Thân mẫu chị yên tâm trở về thăm Việt Nam, trong khi Bạch Yến chọn miền Nam California để cư ngụ tại vùng Beverly Hills, một khu vực gồm toàn những nghệ sĩ lừng danh trong lãnh vực điện ảnh và ca nhạc. Cũng do đó Bạch Yến được coi là người ca sĩ Việt Nam đầu tiên đến với California – lúc đó chỉ mới có khoảng một ngàn người Việt trên khắp nước Mỹ! – trýớc khi một phần của vùng đất này trở thành Little Saigon, trung tâm của những sinh hoạt ca nhạc Việt Nam hải ngoại sau năm 75.

JOHN WAYNE và BẠCH YẾN
BING CROSBY , BACH YẾN, BOB HOPE

Trong suốt thời gian từ 1965 đến 1978, ngoài việc trau dồi tài nghệ bằng cách trau dồi kỹ thuật hát, nghệ thuật trình diễn và Anh Vãn, Bạch Yến cũng là nghệ sĩ Việt Nam đầu tiên và duy nhất có cơ hội trình diễn trên cùng một chương trình với những tên tuổi nổi tiếng Hoa Kỳ như Bob Hope, Bing Crosby, Pat Boone, Frankie Avalon, Jimmy Durante, Joey Bishop, Mike Douglas, Liberace, vv.. Cũng trong thời gian này, chị cũng đã học thêm tiếng Tây Ban Nha để có thể trình bày một cách suông sẻ những ca khúc viết bằng ngôn ngữ này khi diễn ở Trung Mỹ và Nam Mỹ… Chỉ tiếc một điều sau khi đi lưu diễn tại khắp 46 tiểu bang Hoa Kỳ bằng những giao kèo ký kết với các cơ quan truyền thông ABC, CBS, vv…, Bạch Yến đã không có dịp phô diễn tài nghệ của mình trước khán giả người Việt. Có chăng là ngoài một vài người hiếm hoi mà chị tìm thấy tên trên một cuốn sổ điện thoại nhỏ do một vị linh mục soạn, để chị gọi tới mời tham dự.

Cũng như nhiều năm trước đó, Bạch Yến thường từ Mỹ quay về Pháp vào mỗi dịp hè. Nhưng năm 1978 là một dịp nghỉ hè định mệnh, đã đưa đến sự chung sống giữa Bạch Yến và Trần Quang Hải. 17 năm trời đã qua kể từ ngày gặp biết nhau lần đầu tiên năm 1961, hai người không ngờ lần gặp lại nhau ở Paris để đi tới một sự kết hợp đẹp đẽ đã kéo dài được 25 nãm, tính đến ngày 17 tháng 6 năm 2003.

Sau khi chính thức thành hôn với Trần Quang Hải, Bạch Yến ở luôn tại Pháp. Và cũng từ đó, chị « quay về nguồn » với sự chú tâm lớn vào âm nhạc cổ truyền Việt Nam để « cùng với anh Hải đem nhạc Việt Nam đến với khán giả trên khắp thế giới ». Với sự chuyển hướng này của chị, trung bình mỗi năm cặp nghệ sĩ Trần Quang Hải -Bạch Yến đã trình diễn trước khán giả Âu Mỹ từ 120 đến 150 buổi! Bạch Yến cho biết thực sự rất sung sướng trong việc giới thiệu âm nhạc Việt Nam với khán giả ngoại quốc, tuy rằng « làm văn hoá mà đâu có tiền bạc gì lắm! », nhưng bù lại « khi khán giả đến với mình là người ta đến để chỉ muốn nghe nhạc Việt Nam thôi ».

TRẦN QUANG HẢI & BẠCH YẾN

Với những bài hát ru con, Bạch Yến rất được khán giả tán thưởng, tuy chị tự nhận giọng chị không được mềm dịu như những nghệ sĩ khác, xuất thân từ nhạc cổ truyền, nhưng do sự dầy công nghiên cứu chị đã trình bày một cách không hề có sự sai sót. Ngoài vai trò làm chồng, Trần Quang Hải còn đóng vai người thầy chỉ dẫn cho Bạch Yến từng ly, từng tí « nên mỗi lần cần biết điều gì – từ cách luyến láy cho đến các câu hò hoặc những thể loại ru con – đều được anh Hải chỉ dẫn và cho ý kiến ».

Vào năm 1983, một vinh dự lại đến với chị khi cùng với Trần Quang Hải đoạt giải thưởng lớn nhất dành cho một đĩa nhạc dân ca cổ (Grand Prix Du Disque de l’Académie Charles Cros), do quyết định của một ban giám khảo gồm toàn những nhà nghiên cứu âm nhạc.

Dĩa hát được giải Grand Prix Charles Cros năm 1983

Ðến nay Bạch Yến đã cùng với Trần Quang Hải thực hiện được trên 10 CD về âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Riêng chị Bạch Yến đã thu thanh tiếng hát của chị trên một CD do trung tâm Tú Quỳnh ở nam California thực hiện, 2 băng cassettes cho trung tâm Playasound và một CD do chị tự thực hiện với tựa đề « Souvenir ». Bạch Yến tự nhận là rất ngại vào studio để thu thanh nên số tựa CD của chị không nhiều. Nhưng khi trình diễn trên sân khấu thì « như cá gặp nước » như câu nói nhiệt tình của chị, vì « với khán giả có được sự « contact direct » nên hứng thú hơn. Nhất là khi người nghe mang CD về nhà để nghe từng chữ, từng câu nên sợ lắm! ».

BACH YẾN

Những năm gần đây với quan niệm « khi mất sức khỏe là mất tất cả », nhất là hiện chị đã bước vào lớp tuổi 60 nên đã hạn chế nhiều trong việc đi lưu diễn. Tuy vậy hàng năm chị vẫn xuất hiện trong 60 buổi trình diễn trước khán giả ngoại quốc, trong khi với khán giả người Việt trung bình hàng năm cũng còn từ 5 đến 10 buổi. Với một quá trình tận tụy với âm nhạc, trải qua những thăng trầm trong nghề nghiệp cùng với những thành quả đã gặt hái được, Bạch Yến xứng đáng được coi như một nghệ sĩ đã mang lại nhiều vinh dự cho nền âm nhạc Việt Nam sau 50 năm theo đuổi con đường nghệ thuật.
Nguồn: TVTS Úc châu

Từ Nguyên : GS Trần Quang Hải: Việt Nam có ba nhạc khí đặc biệt không nước nào có

GS Trần Quang Hải: Việt Nam có ba nhạc khí đặc biệt không nước nào có

GS Trần Quang Hải: Việt Nam có ba nhạc khí đặc biệt không nước nào có

Từ Nguyên (Paris)December 18, 2019

Sở trường của Giáo Sư Trần Quang Hải là hát đồng song thanh và đàn môi. Trong địa hạt này, Trần Quang Hải là người tài ba nhất thế giới. (Hình: tranquanghai1944)

Bị nước Tàu đô hộ ngàn năm, Việt Nam không bị đồng hóa mà vẫn giữ được truyền thống dân tộc. Tiếng nói, chữ viết, cách ăn mặc, tập tục, phong thái… và nói chung, mọi thứ đều là Việt Nam. Chuyện đó ai cũng biết.

Trong âm nhạc, người Việt có ba nhạc khí mà không nước nào có kể cả nước Tàu. “Việt Nam đã tạo cho mình một chỗ đứng biệt lập với ba nhạc khí đặc thù dân tộc, chỉ thấy ở Việt Nam,” Giáo Sư Trần Quang Hải viết trong cuốn sách mới đây của ông.

Sách mang tựa đề là “50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt” dày 450 trang do Nhân Văn Nghệ Thuật xuất bản năm 2018 nay được phát hành trên thế giới.

Chuyện ít người biết

Trong bài “Nguồn gốc Âm nhạc Việt Nam” in trong cuốn sách, ông đã trình bày về ba nhạc khí đó là đàn đáy, đàn bầu và sinh tiền.

Đàn đáy có thùng hình thang, không có đáy chỉ có ba dây kết hợp đặc trưng của nhiều đàn khác nhau như đàn tam, tỳ bà, nguyệt. Đàn đáy dùng để đệm cho hát ả đào hay ca trù.

Đàn bầu hay độc huyền chỉ có một dây nhưng có thể đàn được ba bát độ và chỉ sử dụng bồi âm mà thôi.

Sinh tiền gồm ba miếng ván dài 27 phân, ngang 3 phân dày nửa phân. Hai miếng ván có mang những đồng tiền lúc lắc trong khi miếng thứ ba gõ hay cứa vào hai miếng ván kia tạo thành ba âm thanh khác biệt để đệm nhạc triều đình.

Lịch sử nhạc Việt

Trong cuốn sách, tác giả đã trình bày các loại đàn, hát của dân tộc ta từ thời nhà Đinh, thế kỷ thứ 10, cho tới ngày nay. Phần trình bày rành rẽ là một tài liệu quý báu cho những người biên khảo về âm nhạc Việt Nam, cổ nhạc lẫn tân nhạc.

Phần cổ nhạc, tác giả đã cho ta biết về các loại nhạc như nhạc cung đình, nhạc lễ, nhạc tôn giáo, nhạc thính phòng, nhạc tuồng, dân ca, nhạc dân tộc thiểu số. Các thứ đàn đặc biệt là đàn tranh, đàn đá thêm vào những nhạc cụ đặc hữu của Việt Nam, các loại hát như hát xoan, hát Then, Tày, Nùng, Thái…

Phần tân nhạc được tác giả ghi chép lại trong năm giai đoạn theo các biến cố chính trị trong nước. Giai đoạn tượng hình, 1928-1937; giai đoạn thành lập, 1938-1945, giai đoạn kháng Pháp 1946-1954, giai đoạn đất nước chia đôi 1954-1975 và giai đoạn di tản, từ 1975 trở đi.

Công trình sáng tác, khảo cứu

Giáo Sư Hải đậu bằng tiến sĩ nhạc dân tộc tại trường Cao Đẳng Khoa Học Xã Hội Pháp tại Paris năm 1973, lúc 29 tuổi, về những khám phá mới mẻ trong kỹ thuật hát đồng song thanh.

Tới năm 1989, ông được cấp bằng quốc gia giáo sư nhạc truyền thống nhưng ông đã làm việc khảo cứu từ năm 1968 tại Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học CNRS ở Paris. Đồng thời, ông còn làm việc trong Viện Dân Tộc Nhạc Học của Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật và Truyền Thống Dân Gian tại Paris.

Sở trường của Giáo Sư Hải là hát đồng song thanh và đàn môi. Trong địa hạt này, Trần Quang Hải là người tài ba nhất thế giới. Ông đã sáng tác hơn 50 bài kể chung cho đàn tranh, cho muỗng, hát đồng song thanh hay là nhạc cho phim.

Năm đời ca nhạc

Giáo Sư Hải là nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đã trình diễn trên 3,500 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 70 nước từ năm 1966, 1,500 buổi cho học sinh các trường học ở Âu Châu, giảng dạy trên 100 trường đại học trên thế giới, tham dự trên 130 đại hội liên hoan âm nhạc quốc tế và có trên 8,000 người theo học hát đồng song thanh. Điều này ghi rõ trên sách của ông.

Trong câu chuyện, thỉnh thoảng ông nhắc đến dòng dõi họ Trần Quang bốn đời tài danh trong ngành nhạc dân tộc. Tới Trần Quang Hải là đời thứ năm, con người tài hoa đã làm rạng danh nhạc dân tộc Việt khắp năm châu.

Sách nhan đề là “50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt” do Nhân Văn Nghệ Thuật xuất bản năm 2018, dày 450 trang, có thể mua trên mạng do nhà xuất bản LULU phát hành, giá 16.76 euro.

https://www.lulu.com/shop/search.ep?keyWords=tran+quang+hai

Sách được phổ biến cùng với cuốn bằng Anh Ngữ “Tran Quang Hai 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing, Tu Sach Khai Tri, 2018, 402 page.”

Sách tiếng Anh có thể mua trên mạng Amazon.fr với giá 13.86 euro.

(Từ Nguyên)

https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/gs-tran-quang-hai-viet-nam-co-ba-nhac-khi-dac-biet-khong-nuoc-nao-co/

Lương Nguyên Hiền: CHỮ QUỐC NGỮ CHỮ NUỚC TA Từ Alexandre de Rhodes đếnTrương Vĩnh Ký

CHỮ QUỐC NGỮ CHỮ NUỚC TA
Từ Alexandre de Rhodes đếnTrương Vĩnh Ký
Lương Nguyên Hiền

Năm 1625, Alexandre de Rhodes, tên Việt là A-Lịch-Sơn Đắc-Lộ, đi thuyền tới Việt Nam, không ai ngờ rằng thời điểm này đã đánh dấu một bước ngoặt lớn lao của ngôn ngữ Việt. Đó là sự bắt đầu hình thành của chữ Quốc ngữ. Trong 300 năm, chữ Quốc ngữ đã phải trải qua bao nhiêu sóng gió rồi cuối cùng thay thế hoàn toàn được chữ Nôm, chữ Hán để trở thành chữ viết của người Việt. Chữ Quốc ngữ được xây dựng theo nguyên tắc ký âm bằng chữ cái Latin (a,b,c,…), nên tương đối đơn giản, tiện lợi, dễ học, dễ nhớ, đã giúp cho người Việt dễ dàng hội nhập với các nước dùng chữ Latin hơn so với các nước theo chữ Hán như Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn hay những nước theo chữ Ả Rập. Sự hội nhập nhanh chóng này cũng tác động một phần không nhỏ vào việc nâng cao dân trí của một quốc gia. Như hiện nay trong vấn đề giao dịch qua Internet, chữ Quốc ngữ đã có rất nhiều lợi thế hơn hẳn so với các bộ chữ tượng hình như chữ Hán vừa khó đọc, khó viết và lại thêm khó sử dụng. Cũng từ đấy, người Việt đã thật sự hoàn toàn thoát được ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, mặc dù nước ta đã bị phương Bắc đô hộ 1.000 năm. Đây có thể nói là một cuộc chuyển hóa vô cùng lớn lao.

Bắt đầu với 8.000 từ ngữ đã được các giáo sĩ Bồ Đào Nha phiên âm vào thế kỷ thứ 17 với công dụng là truyền giáo, chữ Quốc ngữ đã không ngừng phát triển để đáp ứng được nhu cầu của người Việt trước những biến chuyển liên tục của văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội và nhất là khoa học kỹ thuật. Giờ đây chữ Quốc ngữ đã có chỗ đứng vững vàng trong ngôn ngữ Việt Nam và đã có hơn 200.000 từ để có thể phiên dịch cuốn tự điển Anh quốc Oxford Advanced Learner‘s English Dictionary mà không bị lúng túng vì thiếu chữ, thiếu từ [1]. Một số quốc gia khác cũng có những cố gắng để dùng phương pháp ký âm bằng chữ Latin, trong đó có nước Nhật với chữ Rōmaji. Nhưng chữ Rōmaji vẫn còn ở trong tình trạng sơ khai, người Nhật vẫn chưa bỏ được chữ tượng hình của họ.

Trước chữ Quốc ngữ, người Việt viết chữ gì?

Bài Hịch khởi nghĩa của Hai Bà Trưng Đỗ Văn Xuyền viết bằng chữ Khoa đẩu

Bài Hịch khởi nghĩa của Hai Bà Trưng
Đỗ Văn Xuyền viết bằng chữ Khoa đẩu

Trước khi có chữ Quốc ngữ, người Việt đã có chữ Khoa đẩu, chữ Hán và chữ Nôm. Chữ Khoa đẩu hay còn gọi chữ nòng nọc là chữ Việt cổ xuất hiện trong nền văn hóa tiền Việt-Mường, được tìm thấy trên các trống đồng, trên đá hay các di vật cổ xưa để lại. Khoa đẩu có nghĩa là đầu lớn, để chỉ hình tượng của chữ này: đầu lớn và những nét giống hình con nòng nọc. Đây là loại chữ tượng thanh, ghép nhiều chữ lại thành từ. Trong một bản Ngọc phả từ thời vua Trần Thái tông nhắc đến tích là thời vua Nghiêu (2000 năm trước Công Nguyên) nước Việt Thường (vùng Nghệ An – Hà Tĩnh) tặng con rùa ngàn năm trên lưng có khắc chữ Khoa đẩu: « Nghiêu thế, Việt Thường thị kiến thiên tuế thần qui, bối hữu Khoa đẩu” (nghĩa là thời vua Nghiêu, nước Việt Thường tặng rùa thần nghìn tuổi, lưng có chữ Khoa đẩu).

Sau khi chiếm được nước Nam Việt của Triệu Đà, nhà Hán thi hành chính sách Hán hóa dân tộc Việt. Các thái thú như Nhâm Diên và Sĩ Nhiếp bắt đốt hết sách vở còn như tướng Mã Viện (năm 43) thì tìm cách tận thu trống đồng. Người Việt bị bắt buộc phải dùng chữ Hán thay cho chữ Khoa đẩu và tưởng chừng như chữ Việt cổ đã bị thất truyền. Nhưng gần đây có ông Đỗ Văn Xuyềnđã tuyên bố giải mã được chữ Khoa đẩu sau 50 năm mày mò tìm kiếm. Ông viết được bằng chữ Khoa đẩu bài Hịch của Hai Bà Trưng kêu gọi khởi nghĩa (năm 40) [2].

Chữ Hán còn gọi chữ Nho hay chữ Trung Hoa là chữ tượng hình biểu ý. Người Việt ngày xưa sử dụng hai thứ tiếng: một là tiếng Hán Việt (đọc chữ Hán theo âm Việt) dành cho giới quan lại và khoa bảng và hai là tiếng Việt được sử dụng trong dân gian. Về chữ cũng vậy chúng ta có chữ Hán và chữ Nôm. Để ghi được tiếng nói của mình, người Việt đã sáng chế ra chữ Nôm. Chữ Nôm được cấu tạo trên cơ sở chữ Hán nhưng lấy âm Hán Việt để ghi âm tiếng Việt. Chữ Nôm đã được hình thành bằng nhiều cách khác nhau, như ghép hai chữ Hán với nhau, thí dụ chữ „mắt“ ghép từ chữ „mục“ (biểu ý) và „mạt“ (biểu âm) hay mượn âm chữ Hán như chữ „tốt“ có nghĩa là „binh lính“ (chữ Hán) để ghi từ „tốt“ trong „tốt xấu“ của chữ Nôm [3]. Có nhiều giả thuyết cho rằng chữ Nôm đã có từ thế kỷ thứ 3. Cũng có một số giả thuyết khác cho là chữ Nôm xuất hiện vào thế kỷ thứ 8, thời Phùng Hưng dấy quân khởi nghĩa dành lại độc lập cho Việt Nam (năm 791). Sau khi mất, Phùng Hưng được tôn vinh là Bố Cái Đại Vương. Bố Cái viết bằng chữ Nôm là Cha Mẹ. Nhưng đến thế kỷ 13, chữ Nôm mới được chính thức ghi nhận là xuất hiện qua bài văn “Tế cá sấu” bằng chữ Nôm do Nguyễn Thuyên được vua Trần Nhân Tông (1279 – 1293) sai làm để đuổi cá sấu.

Những tác phẩm bằng chữ Nôm còn được lưu truyền đến ngày hôm nay như Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc, Bích Câu Kỳ Ngộ, Lục vân Tiên, Lục Súc Tranh Công,… cùng những bài thơ của Lê Thánh Tôn, Nguyễn Thuyên, Bà Huyện Thanh Quan, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trần Tế Xương, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến,… Trong đó, Truyện Kiều là một trong những tác phẩm chữ Nôm đặc sắc nhất mà gần như người Việt nào cũng biết.

Đây là một thí dụ để thấy sự khác biệt giữa chữ Hán và chữ Nôm:

Hai câu trong Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn, viết bằng chữ Hán:

陌 上 桑 陌 上 桑  妾 意 君 心 誰 短 長

(Mạch thượng tang, mạch thượng tang
Thiếp ý quân tâm thùy đoản trường)
viết bằng chữ Nôm do bà Đoàn Thị Điểm diễn dịch qua thể thơ song thất lục bát:

岸橷撑屹𠬠牟                
𢚸払意妾埃愁欣埃        

(Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?)

Sau khi chữ Khoa đẩu bị thất truyền, tưởng như thế người Việt sẽ bị hoàn toàn Hán hóa.

Nhưng không, người Việt lại một lần nữa mày mò sáng tạo ra chữ Nôm để ghi tiếng nói của mình. Cha ông chúng ta ý thức rất rõ ràng một dân tộc muốn tồn tại phải có chữ viết riêng.

Alexandre Rhodes và thời kỳ sáng tạo chữ Quốc ngữ

Vào thế kỷ 17, các giáo sĩ phương Tây đến Việt Nam để truyền đạo. Trong đó có giáo sĩ Alexandre de Rhodes, có tên tiếng Việt là A-Lịch-Sơn Đắc-Lộ, thuộc dòng Tên (Jésuite) sinh năm 1591 ở Avignon miền nam nước Pháp. Năm 1625, ông cập bến Hội An ở Đà Nẵng và bắt đầu học tiếng Việt của một cậu bé khoảng 10, 12 tuổi. Trong vòng 20 năm, ông đã bị trục xuất 6 lần. Tuy thế ông vẫn tìm cách trở lại Việt Nam, lúc đến Đàng Trong của chúa Nguyễn Phúc Nguyên để truyền giáo, lúc đến Đàng Ngoài của chúa Trịnh Tráng. Cuối cùng vào năm 1645, ông bị chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất ra khỏi Việt Nam. Năm 1660, tức là 15 năm sau ông mất tại Ispahan ở Ba Tư (Iran). Tác phẩm của ông để lại là cuốn Tự Điển Việt-Bồ-La 

Dictionarium annamiticum seu tunquinense lusitanum et latinum. Đây là cuốn tự điển đầu tiên bằng ba thứ tiếng Việt, Bồ Đào Nha và Latin. Ông dùng chữ Latin nhưng lấy âm Bồ Đào Nha để ghi âm tiếng Việt. Ông còn mượn thêm dấu lấy từ tiếng Cổ Hy Lạp (sắchuyềnngã,

…) để dùng cho 6 thanh điệu của tiếng Việt: ngang (không dấu), huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng.

Trang đầu cuốn Phép Giảng Tám Ngày

Trang đầu cuốn Phép Giảng Tám Ngày của Alexande de Rhode,
bên trái là chữ Latin, bên phải là chữ Quốc ngữ

Ngoài ra còn một tác phẩm nữa của ông cũng không kém phần quan trọng, cuốn Phép giảng tám ngày (tựa Latin:Catechismus). Đây là tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên, sử dụng ngôn ngữ bình dân của người Việt vào thế kỷ 17. Qua cuốn sách, chúng ta có thêm rất nhiều dữ kiện đề nghiên cứu tiếng nói của người Việt vào thế kỷ đó.

Thật sự Alexandre de Rhodes không phải là người đầu tiên khai sinh ra chữ Quốc ngữ. Nói đúng hơn, ông chỉ là người có công lớn trong việc hệ thống hóa ký âm tiếng Việt bằng chữ Latin và đã phổ biến chữ Quốc ngữ qua việc in cuốn tự điển Việt-Bồ-La vào năm 1651 tại Roma. Trước đó, vào thế kỷ 16 đã có các giáo sĩ phương Tây đến Việt Nam truyền giáo. Họ đã tìm cách phiên âm tiếng Việt bằng chữ Latin để cho tiện việc giảng đạo mà không cần phải biết đọc hay biết viết chữ Hán, chữ Nôm. Nguyên nhân chính là chữ Hán đối với họ đã  khó đọc khó viết, lại thêm vào đó chữ Nôm còn rắc rối hơn một bậc. Chữ Nôm dựa vào chữ Hán nên muốn biết chữ Nôm thì phải học chữ Hán trước và ngoài ra chữ Nôm không được thống nhất nên mỗi người có thể viết theo một cách khác nhau.Các giáo sĩ dòng Tên  gốc Bồ Đào Nha như Francisco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa…. là những người đi tiên phong trong công việc khai sáng ra chữ Quốc ngữ. Francisco de Pina đã từng mở trường dạy tiếng Việt cho nhiều giáo sĩ ngoại quốc, trong đó có Alexandre de Rhodes. Trong lời tựa cuốn tự điển Việt-Bồ-La, Alexandre de Rhodes viết là ông đã dựa trên hai cuốn tự điển đã bị thất truyền để soạn cuốn sách của ông: từ điển Việt–Bồ của Gaspar do Amaral và từ điển Bồ-Việt của Antonio Barbosa.

Rồi hơn 100 năm sau, giám mục Adran cho ra bộ tự điển Việt-Latin Dictionarium Anamitico-Latinum (năm 1773) do chính ông biên soạn, được viết bằng chữ Latin, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ. Ông còn có tên Việt là Bá Đa Lộc hay còn gọi là Cha Cả, tên Pháp Pierre Joseph Georges Pigneau de Behaine, sinh năm 1741 tại Pháp và mất năm 1799 tại Sài Gòn. Ông cũng là người đã từng giúp Nguyễn Ánh chống lại nhà Tây Sơn. Nên sau khi mất, ông được nhà Nguyễn sắc phong cho danh hiệu Bi Nhu Quận công

Tiếp theo đó, năm 1838 giáo sĩ Tabert đã cùng với linh mục Philipphê Phan Văn Minh cho in tại Ấn Độ cuốn Từ điển Anamitico-Latinum Nam Việt-Dương Hiệp Tự vị hay còn được gọi là Tự điển Tabert.

Đáng kể nhất là gần đây trước 1975, đã tìm thấy được một số tác phẩm viết bằng chữ Quốc ngữ của Philipphê Bỉnh ở Lisabon, thủ đô của Bồ Đào Nha. Người ta chỉ biết Philipphê Bỉnh sinh tại Hải Dương năm 1759, ngoài ra về tiểu sử của ông thì hình như không ai rõ [4]. Ông thụ phong Linh Mục dòng Tên năm 34 tuổi và ba năm sau qua Bồ Đào Nha với sứ mệnh là xin vua Bồ Đào Nha can thiệp với Tòa Thánh La Mã bãi bỏ lệnh đóng cửa dòng Tên ở Việt Nam. Ông đã ở lại đây đến cuối đời (năm 1832). Thời gian hơn 30 năm ở Bồ Đào Nha, ông đã viết hơn 21 cuốn sách bằng chữ Quốc ngữ, có cuốn đã in có cuốn viết tay. Sách ông bao gồm những đề tài có tính cách biên soạn tự điển, ký sự, nhật ký,… Đặc biệt là tác phẩm du ký Sách sổ sang chép các việc. Trong cuốn này tác giả viết rất tỉ mỉ trung thực những cái nhìn của ông về thời đại ông đang sống và nơi ông đi qua. Đây là một cuốn sách chữ Quốc ngữ do người Việt viết chứ không do một nguời ngoại quốc, nên nó tương đối rất gần với tiếng Việt bây giờ.

Ở thế kỷ 17, là thời điểm chữ Việt được khai sáng. Đọc những tác phẩm vào thời kỳ này vẫn còn thấy nhiều chỗ khó hiểu và tối nghĩa. Tuy mang tiếng ký âm từ tiếng Việt nhưng nhiều phát âm khác xa với tiếng Việt hôm nay. Trái lại sang thế kỷ thứ 18, chữ Quốc ngữ đã vào thời kỳ hoàn chỉnh. Với những tác phẩm của Philipphê Bỉnh đã chứng tỏ chữ nghĩa thời đó đã tiến gần với tiếng Việt ngày nay,  cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của chữ Việt trong một thế kỷ qua. Nhưng tựu trung chữ Quốc ngữ vào thế kỷ 17 hay 18 vẫn chỉ dùng trong nhà thờ mục đích để giảng đạo và chưa được truyền bá nhiều ra ngoài. Người Việt với tinh thần bài ngoại để sinh tồn, nên lúc đó  họ đã không chịu tiếp nhận chữ Quốc ngữ là chữ viết của mình. Phải đến cuối thế kỷ 19, chữ Quốc ngữ mới thật sự phát triển vượt bực để trở thành đúng như tên của nó đã được đặt „chữ của một quốc gia“.

Trương Vĩnh Ký và thời kỳ phát triển chữ Quốc ngữ

Năm 1862, nguời Pháp sau khi chiếm 3 tỉnh miền Đông của miền Nam Việt Nam và năm 1867 lấy nốt 3 tỉnh miền Tây còn lại, họ bắt đầu  xây dựng nền hành chánh ở Việt Nam rập khuôn mẫu từ Pháp mang qua. Lúc đầu, chữ Pháp được sử dụng trong mọi văn tự hành chánh thay cho chữ Hán. Sau này, dần dần chữ Pháp được thay thế bởi chữ Quốc ngữ. Ngày 1.1.1879 chính quyền thực dân Pháp chính thức ra nghị định bắt buộc Việt Nam phải dùng „tiếng An Nam bằng mẫu tự Latin“ trong hệ thống hành chính, với ý định tách người Việt hoàn toàn ra khỏi ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa. Thời gian đầu, người Pháp một mặt thì cưỡng bách một mặt thì vuốt ve để cho người Việt đi học trường dạy chữ Quốc ngữ. Trường Trung Học Adran (1861 – 1887) lả trường dạy Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam được các linh mục mở ở Sài gòn [5]. Sau này vào năm 1954, trường Adran Sài Gòn được chia thành 2 Trường: Trung học Võ Trường Toản và Trung học Trưng Vương.

Song song với việc mở trường dạy học, người Pháp còn cho ra tờ Gia Định Báo (1865 – 1897) là tờ báo in chữ Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam được ra mắt vào năm 1865 tại Sài Gòn. Lúc ban đầu tờ báo này chỉ là một công cụ thông tin của Pháp, từ năm 1869 được giao cho Trương Vĩnh Ký làm Giám đốc và Huỳnh Tịnh Của làm Chủ bút. Từ đó tờ Gia Định Báo mới thật sự khởi sắc, vì đã được phát triển thêm các mục biên khảo, lịch sử, thơ văn, nghệ thuật…. Tờ  báo này đã góp phần không nhỏ vào việc cổ động học chữ Quốc ngữ, khuyến khích theo tân học, mở đường cho sự sáng tác các thể loại thơ văn bằng chữ Quốc ngữ và tạo nền móng cho sự nở rộ của báo chí Việt Nam sau này.

Nói đến Gia Định Báo, thì không thể không nhắc đến Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898) còn có tên là Petrus Ký làm giám đốc tờ báo. Ông là một con người có kiến thức uyên bác về nhiều mặt, trong lĩnh vực văn hóa lẫn trong lĩnh vực xã hội, khoa học. Ông dịch sách chữ Hán, phiên âm ra chữ Quốc ngữ những bản cổ văn Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Phan Trần, Lục súc tranh công, Gia huấn ca,… và biên soạn Chuyện khôi hài, Chuyện đời xưa,… Ông để lại cho hậu thế một gia tài khổng lồ với 118 tác phẩm, gồm những sách  nghiên cứu, sưu tầm, phiên âm, dịch thuật trong đó có cả chục tác phẩm bằng Pháp văn. Ông thông thạo 27 ngoại ngữ, được tấn phong Giáo sư Viện sĩ Pháp, được ghi tên trong Bách khoa Tự điển Larousse. Sự nghiệp của ông thật là phi thường và hiếm có nhất là trong giai đoạn giao thời giữa văn hóa Đông Tây ở cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Ông luôn tìm cách cổ võ cho s sử dụng chữ Quốc ngữ. Ông viết trên Gia Định Báo ngày 15.4.1867: „Chữ ấy chẳng khó đâu, ra công học một đôi tháng thì thuộc hết“.

Đông dương Tạp chí

Đông dương Tạp chí (1913-1919)

Đến cuối thế kỷ 19 thì chữ Quốc ngữ đã không còn loanh quanh trong khu vực các nhà thờ của các giáo sĩ người Pháp nữa mà đã đi vào trường học và báo chí. Nhờ sự nở rộ của báo chí, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của Gia Định Báo, đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện nhiều nhà văn tài năng, nhiều tác phẩm giá trị. Đặc biệt là sự ra đời của cuốntừ điển Đại Nam quốc âm tự vị do Huỳnh Tịnh Của soạn năm 1895. Đây là cuốn tự điển đầu tiên do người Việt soạn cho người Việt, đến nay vẫn còn hữu dụng.

Nhận ra được sự lợi ích của chữ Quốc ngữ, một thứ chữ dễ đọc dễ viết, nên vào đầu thế kỷ 20, một số trí thức Việt Nam trong đó có Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Dương Bá Trạc,.. đã  đứng ra mở ở Hà Nội trường Đông Kinh nghĩa thục (3.1907 – 11.1907) để đẩy mạnh phong trào canh tân đất nước. Trường dạy học miễn phí với mục đích chính là khai trí cho dân. Trường nhanh chóng trở nên nổi tiếng, sau này trở thành một phong trào. Chủ trương của trường là bỏ lối học từ chương khoa cử, theo tân học thực tiễn, sử dụng chữ Quốc ngữ trong các hoạt động văn hóa và gíáo dục như in sách giáo khoa, dịch thuật, báo chí. Truờng cử nguời đi khắp nơi để diễn thuyết, cổ động cho cải cách, bài trừ hủ tục, và còn ra hai tờ báo Đăng cổ Tùng báoĐại Việt Tân báolàm cơ quan ngôn luận cho trường. Mặc dù chỉ sống được một giai đoạn ngắn, từ tháng 3 năm 1907 đến tháng 11 năm 1907, truờng Đông Kinh nghĩa thục đã tạo một tiếng vang lớn vào thời đó. Những câu thơ, câu vè đã được trường đặt ra để kêu gọi mọi người bỏ cũ, theo mới, học chữ Quốc ngữ vẫn còn có giá trị cho đến ngày hôm nay:

Gia Định Báo

Gia Định Báo (1865 – 1897)

… Chữ quốc ngữ là hồn trong nước
Phải đem ra tính trước dân ta
Sách các nước, sách Chi Na
Chữ nào nghĩa ấy dịch ra tỏ tường…
(Trần Quý Cáp)

Trong lịch sử phát triển chữ Quốc ngữ không thể vắng bóng khuôn mặt của Nguyễn Văn Vĩnh  (1882 – 1936). Ông mở nhà in đầu tiên ở Hà Nội, làm chủ bút tờ Đăng cổ tùng báo (3.1907 – 11.1907), là tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên ở Hà Nội và cũng là một tờ báo đầu tiên do tư nhân lập ra. Tờ  Đăng cổ tùng báo đã đánh dấu một khúc quanh mới của báo chí Việt Nam không chỉ đơn thuần hoạt động trong phạm vi văn hóa nghệ thuật mà còn đi vào trong lãnh vực chính trị, kinh tế, xã hội và đã phản ảnh được cuộc sống thực tại ở Viêt Nam thời đó. Đứng trước các phong trào Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục đang bùng nổ, người Pháp đã phải đóng cửa Đăng cổ tùng báo, vì tờ báo dám cổ vũ cho tự do, dân chủ. Năm 1913 ông cho ra tờ Đông dương Tạp chí  (1913 – 1919) để truyền bá chữ Quốc ngữ và tư tưởng Âu Tây bằng những tác phẩm của nước ngoài do ông dịch như: Thơ ngụ ngôn của La Fontaine, Những người khốn khổ tiểu thuyết của Victor Hugo,…. Ông còn dịch Truyện Kiều ra tiếng Pháp. Ông thành lập ra hội Trí Tri (Hà Nội), Hội Dịch sách và là người Việt Nam đầu tiên gia nhập Hội nhân quyền Pháp. Ngoài ra ông còn hoạt động cho trường Đông Kinh nghĩa thục. Khi Phan Chu Trinh, người phát động ra phong trào Duy Tân, bị bắt năm 1908, ông đã cùng với bốn người Pháp ký tên đòi Pháp phải trả tự do cho Phan Chu Trinh. Cuộc đời ông là một chuỗi dài của ngày tháng cống hiến cho đất nước, cho văn học, cho báo chí Việt Nam. Ông đã nhắn nhủ lại cho hậu thế: „Nước Nam ta mai sau này hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ“. Nguyễn Văn Vĩnh và Trương Vĩnh Ký được nhiều người sau này vinh danh là: „Ông tổ của nghề báo Việt Nam“ [6][7].

Trong công cuộc xây dựng và phát triển chữ Quốc ngữ, không thể quên được sự đóng góp của Phạm Quỳnh (1892 – 1945). Ông bút hiệu là Thượng Chi, là một nhà văn hóa, nhà văn và nhà báo. Ông đã viết rất nhiều bài về văn học, triết học, tùy bút và dịch từ những tác phẩm của Pháp ra tiếng Việt. Tất cả tác phẩm của ông được đăng trên tờ Nam Phong tạp chí (1917 – 1934) do ông làm chủ nhiệm và chủ bút. Tạp chí dã được đánh giá cao về mặt trí thức và tư tưởng. Có người còn ví rằng Nam Phong Tạp Chí như một bộ bách khoa toàn thư của Việt Nam đầu thế kỷ 20, chỉ cần đọc đều đặn tạp chí này là đã có một số vốn kiến thức căn bản mà không cần phải biết chữ Pháp hay chữ Hán. Ông viết nếu chúng ta biết giữ gìn văn hóa của dân tộc, biết giữ gìn tiếng nói, chữ viết của dân tộc thì chúng ta không sợ bị mất nước: „Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn”.

Năm 1933, văn học Việt Nam có những chuyển biến rất mạnh mẽ đó là sự ra đời của Tự Lực Văn Đoàn do Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) cùng với Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam,… khởi xướng. Đây là  một tổ chức văn học đầu tiên ở Việt Nam có tuyên ngôn và tôn chỉ (10 điều). Hoạt động chủ yếu của Tự Lực Văn Đoàn là viết văn, làm báo và in sách. Họ ra được 2 tờ tuần báoPhong hóa (1932 – 1936) và Ngày nay (1936 – 1946). Tự lực Văn Đoàn đã đi tiên phong trong lãnh vực tiểu thuyết mới và thơ mới (thơ tự do). Tiểu thuyết Tự LựcVăn Đoàn mặc dù mang tính chất lãng mạn nhưng luôn luôn chất chứa tinh thần đấu tranh chống lại lễ giáo phong kiến, đòi tự do, bình đẳng cho con người. Đây là một loại tiểu thuyết luận đề, lấy một câu chuyện hư cấu để thể hiện nhân sinh quan của tác giả.

Kết luận

Năm 1625 là năm Alexandre de Rhodes đặt chân lần đầu tiên lên Hội An ở Đà Nẵng. Hơn 300 năm sau, không ai ngờ rằng người Việt lại có một chữ viết hoàn chỉnh, đó là chữ Quốc ngữ. Một thứ chữ vừa dễ học, dễ đọc, dễ viết và nhờ tính chất này chữ Quốc ngữ đã đóng góp rất lớn lao vào việc mở mang dân trí, giảm thiểu nạn mù chữ. Chỉ cần một thời gian ngắn vài tháng là có thể đọc và viết được chữ Quốc ngữ, trong khi đó chữ Hán phải cần một thời gian lâu hơn, trung bình khoảng 2 hay 3 năm để nhớ được mặt chữ của ba bốn ngàn từ thường dùng [5].

Trí thức Việt Nam ở cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 đã nhìn thấy cái nhu cầu cấp bách của một dân tộc đang cần có một chữ viết xứng đáng. Sau 1.000 năm Bắc thuộc, dưới chính sách Hán hóa, người Việt bị mất chữ Khoa đẩu của mình, họ phải viết một thứ chữ là chữ của người Hán. Không muốn bị đồng hóa như các dân tộc khác, ngưòi Việt đi tìm một thứ chữ để ghi lại tiếng nói của mình. Mấy thế kỷ liền, họ mày mò tìm ra chữ Nôm. Tuy thế chữ Nôm chắc chắn không phải là giải pháp hoàn hảo nhất vì chữ Nôm vẫn dựa trên cơ sở chữ Hán, nên muốn biết chữ Nôm phải biết chữ Hán. Trải qua bao nhiêu triều đại vua chúa, chữ Nôm cũng không được sử  dụng trong chốn triều đình. Duy chỉ có hai đời vua duy nhất là Hồ Quý Ly và

Nguyễn Huệ định lấy chữ Nôm thay cho chữ Hán trong các văn kiện hành chính, nhưng tiếc thay việc ấy không thành. Chữ Nôm khó học, nên chỉ dành cho giới khoa bảng và phần đông người dân bình thường thì không biết đọc và không biết viết. Trong buổi giao thời gìữa văn hóa Đông Tây vào cuối thế kỷ 19, chữ Quốc ngữ đã đến kịp thời. Các trí thức Việt Nam như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh,… đã nhanh tay nắm lấy cơ hội đó, mặc dầu lúc ban đầu phải dựa vào người Pháp để được viết văn, ra báo. Những tác phẩm biên khảo, bình luận, phóng sự, du ký, tiểu thuyết, thơ phú của Gia Định Báo, Đông Dương Tạp Chí, Nam Phong Tạp Chí, Tự Lực Văn Đoàn,… đã chứng minh được chức năng toàn diện của chữ Quốc ngữ làm văn tự cho người Việt.

Nhưng chữ Quốc ngữ không dừng ở chỗ văn tự cho một dân tộc, nó còn là cái gốc của dân tộc, như Trần Quý Cáp đã viết „Chữ quốc ngữ là hồn trong nước“. Nguời Việt thuộc về tộc Bách Việt. Tộc Bách Việt gồm có các dân tộc như U Việt (ở Chiết Giang), Mân Việt (ở Phúc Kiến), Đông Việt (ở Giang Tây), Nam Việt (ở Quảng Đông), Lạc Việt (ở Việt Nam), Âu Việt (ở Quảng Đông, Quảng Tây), Chiêm Việt (đảo Hải Nam), đã sinh sống từ vùng nam sông Dương Tử cho đến Bắc Việt Nam. Sau 1.000 năm bị đô hộ, người Việt vẫn giữ được bản sắc của mình không để bị đồng hóa, trong khi đó  các dân tộc khác thuộc nhóm Bách Việt đều bị Hán hóa hay bị  tiêu diệt. Tại sao? Nhà văn Ngô Nhân Dụngtrong cuốn „Đứng vững ngàn năm“, đã trả lời là nhờ có tiếng nói. Ông đưa một thí dụ, dân tộc Mãn Thanh một thời rất hùng mạnh vào thế kỷ thứ 17 đã chiếm được Trung Quốc. Họ có tiếng nói và chữ viết riêng. Sau khi nhà Mãn Thanh sụp đổ, năm 1911 ở Mãn Châu có chục triệu người nói được tiếng Mãn, năm 2011 thì thế hệ những người biết nói tiếng Mãn chết dần, không còn được bao nhiêu. Nhà văn Ngô Nhân Dụng khẳng định „không giữ được tiếng nói thì mất nước“ [8].

Như vậy tiếng nói của một dân tộc quan trọng biết bao nhiêu. Muốn gìn giữ tiếng nói thì phải có chữ viết để lưu giữ lại tiếng nói. Nên địa vị của chữ viết cũng không kém phần quan trọng. Vào cuối thế kỷ 19, khi chữ Quốc ngữ xuất hiện và đẩy chữ Hán đi vào bóng tối, văn học Việt Nam bừng dậy và nở rộ vì thoát khỏi được cái nôi của văn hóa chữ Hán, trong đầu người Việt không còn bị gò bó vì Tứ Thư Ngũ Kinh, không còn bị chế ngự bởi các điển tích bên Trung Quốc xa lắc xa lơ. Người Việt đã trở về tình tự với cội nguồn thật sự của mình:Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôiThoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi (Tình ca tiếng nước tôi – Phạm Duy)

Mùa Xuân 2014
Lương Nguyên Hiền
Thư Viện Hoa Sen

Tài liệu tham khảo:

[1] Chữ Quốc Ngữ, tiếng Việt Nam, và Tu sĩ Alexandre de Rhodes, Mai Kim Định
[2] 50 năm hành trình đi tìm chữ Việt cổ đã có kết quả, Đỗ Văn Xuyền
[3] Chữ Nôm, Wikipedia
[4] Philipphê Bỉnh – Nhà văn hóa quốc ngữ đầu tiên, bị lãng quên, Hoàng Huơng Trang
[5] Chữ Hán, Wikipedia
[6] Nguyễn Văn Vĩnh: Ông tổ của nghề báo Việt Nam, Viên Linh
[7] Trương Vĩnh Ký, Wikipedia
[8] Sách Đứng vững ngàn năm, Ngô Nhân Dụng (Đỗ Quý Toàn), Nxb. Người Việt, 2013

FESTIVAL UMBRIA IN VOCE 5 : Laboratorio con TRAN QUANG HAI “OVERTONE SINGING e CANTO DIFONICO”, 9 NOVEMBRE 2019, GUBBIO,UMBRIA, ITALIA

FESTIVAL UMBRIA IN VOCE 5 : Laboratorio con TRAN QUANG HAI “OVERTONE SINGING e CANTO DIFONICO”, 9 NOVEMBRE 2019, GUBBIO,UMBRIA, 

ITALIA

Laboratorio con TRAN QUANG HAI, 9 novembre 2019

“Overtone singing e canto difonico” un’esperienza formativa eccezionale con un grande maestro del canto armonico mondiale

posti limitai iscrizione obbligatria

info e prenotazioni : 3349843087 / 3394076156

Workshop with TRAN QUANG HAI, 9 November 2019  
"Overtone singing and harmonic singing " an exceptional educational experience with a great master of world harmonic singing  
limited places mandatory registration 
info and prenotations: 3349843087/3394076156 

 Lớp dạy hát đồng song thanh với TRẦN QUANG HAI, ngày 9 tháng 11 năm 2019 
"Overtone singing và harmonic singing" một trải nghiệm giáo dục đặc biệt 
với một bậc thầy vĩ đại của hát đồng song thanh thế giới. 
Hạn chế đăng ký bắt buộc và thông tin : 3349843087/3394076156 

The Vietnamese Tran Quang Hai, the greatest expert and master in the world of difonic singing: a vocal technique of shamanic origin widespread in Mongolia, Siberia and South Africa which he introduced into contemporary music receiving many international awards. Refined interpreter of the musical traditions of the Far East, he was a master of artists such as Demetrio Stratos, and since 1968 he is part of the research group of the CNRS, department of musicology at the Musée de l’Homme in Paris. Saturday 9 November at 13.30 will be the protagonist of the seminar “Overtone singing and singing difonico”, lasting 5 hours (info: umbriainvoce@gmail.com).

Trần Quang Hải, chuyên gia Việt Nam và bậc thầy vĩ đại nhất trong thế giới ca hát đặc biệt: một kỹ thuật về giọng có nguồn gốc pháp sư lan rộng ở Mông Cổ, Tây Bá lợi Á và Nam Phi mà ông đã đưa vào âm nhạc đương đại . Ông đã nhận được nhiều giải thưởng quốc tế. Chuyên gia nổi tiếng về truyền thống âm nhạc của Viễn Đông, ông là bậc thầy của các nghệ sĩ như Demetrio Stratos, và từ năm 1968, ông là thành viên của nhóm nghiên cứu của CNRS, khoa âm nhạc tại Musée de l’Homme ở Paris. Thứ Bảy, ngày 9 tháng 11 lúc 13:30 sẽ là nhân vật chính của hội thảo Giọng hát Overtone hát và hát Difonico, kéo dài 5 giờ (thông tin: umbriainvoce @ gmail.com).

Nghệ thuật đờn ca tài tử | THKG

Nghệ thuật đờn ca tài tử | THKG

RUYỀN HÌNH KIÊN GIANG 97,6 k abonnés Đờn ca tài tử đã là một loại hình nghệ thuật truyền thống của vùng sông nước Nam Bộ. Sau những giờ học tập và làm việc căng thẳng, những người yêu thích bộ môn nghệ thuật này lại quây quần bên nhau để thưởng thức những lời ca, tiếng đờn dân dã, mộc mạc nhưng đậm đà tình yêu quê hương, đất nước và con người…Chương trình “Tạp chí Văn hóa – Thể thao” ngày hôm nay của Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Kiên Giang mời quý vị cùng tìm hiểu về loại hình âm nhạc truyền thống này cũng như hoạt động của Câu lạc bộ Đờn ca tài tử huyện Gò Quao tại tỉnh Kiên Giang. Mở đầu chương trình, chương trình sẽ gửi đến quý vị những thông tin về sự ra đời của nghệ thuật đờn ca tài tử.