Catégorie : Non classé

TRINH NGUYỄNNghiên cứu thi pháp chèo cổ nhận giải A của Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam

Trinh Nguyễn

5

trinhthanhnien@gmail.com 06:24 – 26/09/2020 0 Thanh Niên

Ngày 25.8, Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam tổ chức giỗ tổ nghề tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Các giải thưởng sân khấu cũng đã được trao dịp này.

Vở rối Thân phận nàng Kiều nhận được nhiều giải thưởng của Hội Nghệ sĩ sân khấu VN 	 /// Ảnh: Nhà hát múa rối VN

Vở rối Thân phận nàng Kiều nhận được nhiều giải thưởng của Hội Nghệ sĩ sân khấu VN Ảnh: Nhà hát múa rối VN

Trong đó, cuốn sách Thi pháp Chèo cổ của PGS-TS Trần Trí Trắc được trao giải A kèm 20 triệu đồng ở mục Giải thưởng xuất sắc cho sách lý luận phê bình. Giải B hạng mục này trao cho cuốn Dân ca xứ Nghệ và Sân khấu hóa dân ca của tác giả Đặng Thanh Lưu. Ở mục Giải thưởng kịch bản sân khấu xuất sắc, không có giải A; có 6 giải B kèm 15 triệu đồng được trao cho các kịch bản: Vương quyền (tác giả Bích Ngân), Gian hùng hay thiên mệnh (Hoàng Thanh Du), Người là anh Văn (Vũ Xuân Cái), Kẻ trộm (Lê Quý Hiền), Quyền lực nhóm (Thiều Hạnh Nguyên) và Ngày ấy cổng trời (Nguyễn Kháng Chiến).

Vở sân khấu xuất sắc ghi danh vở Thân phận nàng Kiều (tác giả NSƯT Lê Chức và nhà văn Nguyễn Hiếu, đạo diễn Nguyễn Tiến Dũng) kèm theo tiền thưởng 50 triệu đồng. Có 4 giải A kèm 30 triệu đồng được trao cho các vở: Điều còn lại (Đăng Chương và Nguyễn Sỹ Sang, đạo diễn NSƯT Lê Tuấn Cường), Trọn nghĩa non sông (Nguyễn Văn Thịnh và Hồng Mạc Cát, đạo diễn NSND Hoàng Quỳnh Mai), Nhân Huệ Vương (Sỹ Chức, đạo diễn NSND Lê Tiến Thọ), Còn mãi với thời gian (Nguyễn Đăng Chương, đạo diễn Kiều Minh Hiếu).

Ngoài ra, giải cá nhân xuất sắc kèm 7 triệu đồng được trao cho các cá nhân như: giải đạo diễn trao cho NSND Nguyễn Tiến Dũng với vở Thân phận nàng Kiều; giải diễn viên kịch nói xuất sắc trao cho nghệ sĩ Phạm Tiến Lộc trong vở Hà Thành chính khí và NSƯT Phương Nga trong vở Điều còn lại; giải diễn viên cải lương xuất sắc trao cho nghệ sĩ Nguyễn Văn Đáng với vở Vì sao lạc xứ và nghệ sĩ Thiên Hương trong vở Truyền thuyết Triệu Trinh Nương…

NSND Thúy Mùi, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ sân khấu VN, cũng trao tặng khoản tiền hỗ trợ 400 triệu đồng cho 200 nghệ sĩ hội viên cao tuổi ốm đau bệnh tật gặp khó khăn trong cuộc sống. Đây là khoản tiền do một nghệ sĩ giấu tên trao tặng.

https://thanhnien.vn/van-hoa/nghien-cuu-thi-phap-cheo-co-nhan-giai-a-cua-hoi-nghe-si-san-khau-viet-nam-1283776.html

Tin liên quan

Vinh danh thầy đờn cổ nhạc

27-09-2020 – 07:27 AM |

Tối 26-9, Nhà Văn hóa Thanh Niên TP HCM đã tổ chức chương trình vinh danh thầy đờn cổ nhạc nhân ngày truyền thống sân khấu Việt Nam.

Sáu thầy đờn đã có nhiều công lao đóng góp cho phong trào đờn ca tài tử Nam Bộ và sân khấu cải lương được vinh danh gồm: NSND Văn Giỏi, NSND Thanh Hải, NSƯT Hoàng Thành, NSƯT Khải Hoàn, nghệ sĩ Bảy Dư, nghệ nhân Văn Hải. Các nghệ sĩ cải lương nổi tiếng như: NSND Bạch Tuyết, NSND Minh Vương, NSND Lệ Thủy, NSƯT Thanh Điền, NSƯT Thanh Kim Huệ… đã đến chúc mừng các thầy đờn.

Vinh danh thầy đờn cổ nhạc - Ảnh 1.

Ông Nguyễn Hữu Hiệp, Trưởng Ban Dân vận Thành ủy TP HCM và bà Phan Thị Thanh Phương, Bí thư Thành Đoàn TP HCM, tặng bằng khen vinh danh NSND Văn Giỏi

Ông Nguyễn Hữu Hiệp, Trưởng Ban Dân vận Thành ủy TP HCM và bà Phan Thị Thanh Phương, Bí thư Thành Đoàn TP HCM, đã cùng các lãnh đạo Sở Văn hóa và Thể thao TP HCM, Hội Sân khấu TP HCM… trao tặng bằng khen, hoa vinh danh những thầy đờn có công sáng tác, truyền nghề và ươm mầm thế hệ nhạc sĩ cổ nhạc trẻ trong sự nghiệp gìn giữ và phát triển đờn ca tài tử Nam Bộ, nghệ thuật cải lương.

Cùng sự kiện này, Nhà Văn hóa Thanh Niên TP HCM khai mạc triển lãm 106 bức ảnh nghệ thuật và cuộc đời của NSND Minh Vương; trao tặng quà cho nghệ sĩ lão thành, bệnh tật, nghèo khó và học bổng cho con em nghệ sĩ, công nhân sân khấu hiếu học; lễ vinh danh « Nghệ sĩ vì cộng đồng ». 

Tin-ảnh: Th.Hiệp

https://nld.com.vn/van-nghe/vinh-danh-thay-don-co-nhac-20200926222142587.htm

ĐẶNG HOÀNH LOAN : nhận thư chia sẻ của Lê Phổ thầy giáo nhạc dân tộc Học viện âm nhạc Hà nội

Tôi vừa nhận được thư chia sẻ của thầy giáo nhạc dân tộc Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam Pho Le (từ Lê Phổ) trên trang nhà của tôi. Tôi xin chia sẻ thư này cùng các bạn. Mong các bạn đọc nhé: »Xin thưa NS Hoành Loan, những tưởng sự ra đời của Dàn nhạc dân tộc Việt Nam dưới thời Bộ Trưởng Hoàng Tuấn Anh, Thứ trưởng Trần Chiến Thắng sẽ mở ra một chương mới cho nghệ thuật hoà tấu âm nhạc dân tộc đương đại, kế thừa truyền thống từ nửa cuối thế kỷ 20 … Đến năm 2013 bắt đầu  » đắp chiếu »… Và gần đây thì người ta đã khai tử nó rồi (tinh giản bộ máy mà). Buồn và hận NS ạ… Đắp chiếu (?!). Khai tử nó rồi (?!). Khai tử một sáng sáng tạo nghệ thuật mới của lớp lớp các nhạc sĩ trong thời đại Hồ Chí Minh chỉ với một điều giản đơn: tinh giản bộ máy. Ai cho phép, ai hành động, ai ủng hộ việc làm chà đạp một quá trình sáng tạo của các nhạc sĩ thời hiện đại. Thật hổ thẹn cho những kẻ quản lí thiếu văn hóa; những kẻ quỳ mọp trước văn hóa nước ngoài, coi văn hóa nước ngoài là chuẩn mực để chà đạp sáng tạo văn hóa nghệ thuật dân tộc.Xin giới thiệu với các bạn bản hòa tấu nhạc dân tộc đương đại Thánh Gióng, sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát. Nguyên bản hòa tấu này có 6 chương: I- Làng Phù Đổng. 2- Mẹ và con. 3-Giặc Ân. 4. Lò rèn. 5-Đánh giặc. 6-Chiến thắng. Trong DVD này chỉ chơi 4 chương.

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH : “CHUYỆN MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ… NĂM CON” CỦA LÊ KHẮC THANH HOÀI

“CHUYỆN MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ… NĂM CON” CỦA LÊ KHẮC THANH HOÀITS Phạm Trọng Chánh Nhà thơ-triết gia Phạm Công Thiện [1941-2011] qua đời năm 2011 tại Houston, nhưng chuyện kể, các bài viết về anh đã nhiều lầm lạc. Người viết: Anh bỏ áo tu hành lấy cô vợ người Pháp, theo Thiên Chúa giáo, kẻ khác viết: Anh không hề có một mảnh bằng kể cả bằng tú tài mà dạy triết học Viện Đại học Sorbonne, mười lăm tuổi anh đọc và viết hàng chục ngôn ngữ, mười lăm tuổi anh dạy trung học, hai mươi tuổi anh là khoa trưởng khoa Khoa học Nhân văn, Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn, anh là triết gia không cần học một ai? Dạy triết học tại một đại học Pháp mà không cần một văn bằng nào?Đâu là sự thật, đâu là huyền thoại?Được chị Lê Khắc Thanh Hoài tặng cho quyển tiểu thuyết đầu tiên của chị: “Chuyện Một Người Đàn Bà Năm Con”, tôi đọc say mê, với lối văn giản dị trong sáng tôi đọc một mạch, tôi không ngờ chị viết hay và hấp dẫn như thế về cuộc đời khổ đau gian truân của chị với một thi nhân, triết gia mà thời niên thiếu tôi đã từng say mê tác giả: “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học, Phạm Công Thiện”.Sách trang bìa hình tháp Eiffel Paris, nơi xảy ra câu chuyện và bức chân dung chị Lê Khắc Thanh Hoài ký tên Phạm Công Thiện vẽ, ngày anh tỏ tình cùng chị, chị không giấu tên người bạn đời. Người đàn bà có năm con cùng triết gia, nhà thơ Phạm Công Thiện kể lại cuộc đời mình dẫn nhập bằng cuộc đối thoại với cháu ngoại, mừng sinh nhật bà, trao phong bì: một bài thơ bằng tiếng Pháp và lì xì 10 euro cho bà, vì thấy bà ngoại nghèo quá thật là dễ thương, ngộ nghĩnh và cảm động. Từ đó chị kể lại cuộc đời mình qua 13 năm sống chung. Thời gian mà anh sang Pháp năm 1970, từ bỏ áo nhà tu Thích Nguyên Tánh và sau năm 1985 anh sang Mỹ, cư ngụ tại Los Angeles và qua đời tại Houston.Tuổi học sinh trung học, tôi say mê khi đọc Phạm Công Thiện, tôi biết về thơ Apollinaire, Rimbaud, Pierre Emmanuel… về các triết gia mới Tây phương qua anh.Bây giờ thì tôi viết về anh qua truyện kể của chị Thanh Hoài, nhìn anh qua những vidéo các buổi nói chuyện của anh. Tôi muốn tìm hiểu cuộc đời hiện tượng Phạm Công Thiện, một thời làm mưa làm gió tại miền Nam những năm 1966 -1970. Và dư âm những mưa gió ấy tại hải ngoại từ 1970 đến năm 2011. Tôi muốn hiểu Phạm Công Thiện là ai? Anh là một thiên tài thần đồng, hay một một Trạng Quỳnh của một thời? Những kiến thức anh lấy từ đâu?Nguyên do gì anh đã mê hoặc cả một thế hệ tuổi trẻ miền Nam trong thời điểm đó. Đâu là sự thật của đời anh, đâu là huyền thoại do anh và mọi người thêu dệt. Những người Phạm Công Thiện quen biết tôi đều có dịp gặp gỡ: từ chùa Hải Đức Nha Trang, đến Paris, đến Viện Đại học Vạn Hạnh: họa sĩ Vĩnh Ấn, nhà thơ Thi Vũ Võ Văn Ái, nhà thơ Nhị Tay Ngàn đến Hòa thượng Minh Châu – viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh, Thiền sư Nhất Hạnh, chị Thanh Hoài – người bạn đời từng chung sống với anh 13 năm và có 5 con với anh.Chị Thanh Hoài sinh năm 1950 tại Huế, con một vị bác sĩ nổi tiếng tại Huế trong Phong trào Tranh đấu Phật giáo miền Trung, năm 1963 từng bị tù dưới chế độ Ngô Đình. Năm 1969 chị học Triết học Đông phương tại Viện Đại học Vạn Hạnh. Năm 1970 chị lên đường sang Bruxelles du học. Gặp và kết hôn với Phạm Công Thiện tại Paris. Chị Thanh Hoài còn là một nhạc sĩ đàn dương cầm, từng học Trường Quốc gia Âm mhạc Huế, tác giả nhiều CD và hàng trăm nhạc phẩm.Trước nhất Phạm Công Thiện là một nhà thơ: tập “Ngày Sinh Của Rắn” in năm 1988, có những bài thơ đẹp, và lạ lùng:VI:tôi chấp chớiđắng giọnggiữa tháng ngày mơ mộngnốt ruồi của hươnghay nốt ruồi của rigvédatôi mửa máu đentrên nửa đêm paristôi giao cấu mặt trời sinh ra mặt trăngtôi thủ dâm thượng đế sinh ra loài ngườicho quế hương nằm ở nhà thương điên của trí nhớmặt trời có thai!mặt trời có thai!sinh cho tôi một đứa con trai mù mắt.VIII:mười năm qua gió thổi đồi tâytôi long đong theo bóng chim gầymột sớm em về ru giấc ngủbông trời bay trắng cả rừng câygió thổi đồi tây hay đồi đônghiu hắt quê hương bến cỏ hồngtrong mơ em vẫn còn bên cửatôi đứng trên đồi mây trổ bônggió thổi đồi thu qua đồi thôngmưa hạ ly hương nước ngược dòngtôi đau trong tiếng gà xơ xácmột sớm bông hồng nở cửa đông.Anh nổi tiếng thần đồng, 15 tuổi đã công tác viết bài cho tạp chí Bách Khoa – một tạp chí nổi tiếng giới trí thức miền Nam thời bấy giờ, anh thông thạo 5, 6 ngoại ngữ, một quyển sách anh được Nguyễn Hiến Lê giới thiệu. Nguyễn Hiến Lê là một học giả tự học viết khoảng 60 quyển sách từ sách: Tự học làm người, Rèn luyện nhân cách, đến Triết học Trung Hoa. Một kiến thức đáng kính phục.Có lẽ Phạm Công Thiện đã học phương pháp tự học và làm việc của học giả Nguyễn Hiến Lê. Muốn học một ngôn ngữ, học bằng cách dịch quyển sách mình ưa thích, mỗi ngày đều đặn, chỉnh tề, ngồi vào bàn viết… lúc đầu khó khăn, sau thành thói quen viết dễ dàng nhanh chóng. Tôi hiểu anh không nói ngoa, anh đã viết 20 quyển sách thời niên thiếu và đốt đi. Đó là cách tập luyện viết sách, đọc một quyển sách mình mô phỏng theo, viết một quyển tương tự, ban đầu mình chịu ảnh hưởng nhiều từ từ mình tạo ra một phong cách riêng, tiến đến một sáng tạo hoàn toàn.Anh giỏi tiếng Pháp. Anh có tài dịch thơ lưu loát và quyến rũ. Anh đọc các triết gia Tây phương và các thiền sư Phật giáo và diễn tả lại gọn gàng dễ hiểu. Anh đáp ứng được nhu cầu giới trẻ đương thời đang muốn mở ra tiếp xúc với Tây phương nhưng không đủ vốn liếng ngôn ngữ để đọc trực tiếp bằng tiếng Pháp, tiếng Anh. Kiến thức văn chương Tây phương từ sau cuộc tiếp xúc với văn chương lãng mạn thời Thơ mới với Baudelaire, Edgar Poe… Các triết gia hiện sinh, hiện đại như thế nào? Anh đáp ứng được một nhu cầu muốn tìm hiểu của đương thời.Thuở còn học sinh trung học tại Phan Thiết, tôi và anh Nguyễn Bắc Sơn, nhà thơ, thường gặp nhau bàn về những điều Phạm Công Thiện viết. Trong không khí ngột ngạt của chiến tranh Việt Nam, thân phận thanh niên rồi sẽ đi lính, rồi sẽ chết trên chiến trường như bao bạn bè. Trong không khí thành thị miền Nam thời đó, thanh niên cần một lối thoát ra khỏi không gian tù túng, mơ ước một chân trời khác, đọc được Phạm Công Thiện hay Bùi Giáng, tên tuổi các triết gia Hy Lạp, triết gia bên Tây, tên tuổi nghe mù mờ, có người tóm lược giảng giải nên lấy làm thích thú. Lâu lâu lại khen chữ nghĩa, tâng bốc văn hóa Việt Nam, làm hừng chí tự tin dân tộc. Phạm Công Thiện nổi danh trên mảnh đất trống tư tưởng đó.Phạm Công Thiện là một người quyến rũ, có sức thôi miên người đối thoại. Chị Thanh Hoài viết tr. 167:«Gặp chàng là gặp người bằng xương bằng thịt, không phải là người trong văn chương tiểu thuyết. Chàng rất chân thật, không giả dối kệch cỡm. Chàng phản ảnh đúng những gì Chàng viết. Thẳng thắn. Táo bạo. Nẩy lửa. Sức hút dữ dội. Quyến rũ lạ lùng. Người đối diện chỉ còn biết buông xuôi và… trôi theo bấp bênh cùng Chàng!Phải rồi! Bấp bênh và vô định! Tự dưng nàng linh cảm mãnh liệt điều đó. Đến với chàng là chấp nhận bấp bênh và vô định. Không chờ đợi, không đòi hỏi. Vô điều kiện. Là quăng bỏ quá khứ và tương lai. Là phiêu lưu không cần địa bàn định hướng. Chỉ có một chiếc kim chỉ nam là tấm lòng, là con tim, là sự thành thật. Đó mới là kho tàng vô giá».Thời tôi và chị Thanh Hoài đi du học, số nam sinh viên luôn luôn đông hơn nữ, tỷ lệ có thể đến 1/20. Được một cô sinh viên du học xinh đẹp mới qua là có ít nhất hàng tá chàng trai Việt chạy theo. Các gia đình thượng lưu trong xã hội Việt Nam thời bấy giờ, gửi con gái đi du học với niềm hy vọng: nếu nó học không xong cũng hy vọng có được tấm chồng trí thức, bác sĩ, kỹ sư, tương lai bảo đảm. Con gái nếu không thành công thì có con rể vinh hiển cũng được nơi nương tựa yên ổn. Chị Thanh Hoài đã từ chối bao kỹ sư, bác sĩ đến với chị để nghe tiếng gọi của trái tim yêu một thi sĩ, một triết gia, âu cũng là một sự lựa chọn cho cuộc đời gian truân của chị.Phạm Công Thiện là ai? Anh được đào tạo từ đâu? Hay anh là một thiên tài, đã học từ bao nhiêu kiếp trước, nay sinh ra đã trở thành một triết gia không cần học ai?Theo tiểu sử, anh sinh ra từ một gia đình theo đạo Công giáo, anh theo học một trường tư thục Công giáo dạy bằng tiếng Pháp, anh được cha mẹ mướn người dạy kèm học tại tư gia, nhưng năm 1963, anh ra Nha Trang quen biết với nhà thơ Quách Tấn. Quách Tấn đưa anh đi thăm viếng chùa Hải Đức, nơi đây anh tập thiền và quy y thọ giới Sa di, pháp danh Nguyên Tánh với Thầy Trí Thủ, một vị cao tăng Phật giáo.Phạm Công Thiện không viết hồi ký nên không rõ anh có bằng Tú tài II hay không, nhưng giỏi sinh ngữ như anh việc thi thí sinh tự do, lấy bằng Tú tài toàn phần không phải là chuyện khó, rất nhiều học sinh học trường Pháp, thi thí sinh tự do lấy bằng Tú tài II Ban Sinh ngữ Văn chương trường Việt thật dễ, các môn triết học, sử địa chỉ cần học một lượt cũng được trung bình là kỳ thi qua trót lọt. Triết học lại là môn anh Thiện ưa thích, lại quen viết bằng tiếng Việt. Để có học bổng tại Viện Đại học Yale, để đi du học Hoa Kỳ khoảng đầu năm 1964, Phạm Công Thiện phải có bằng Tú tài toàn phần hạng Ưu hay Bình. Phạm Công Thiện xong B.A (cử nhân) tại Yale, và chuyển sang Columbia, nơi thầy Nhất Hạnh từng học thì anh bỏ học ra đời.Trong quyển “Hố Thẳm Tư Tưởng” (Lá Bối, Sài Gòn xuất bản 1968), trong bức thư cho Nhị Tay Ngàn, chương đầu Phạm Công Thiện viết:«Thời gian tao ở Hoa Kỳ, tao đã bỏ học, vì tao thấy những trường đại học tao học, như trường Đại học Yale và Columbia, chỉ toàn là những nơi sản xuất những thằng ngu xuẩn, ngay đến những giáo sư của tao chỉ là những thằng ngu xuẩn nhất đời, tao có thể dạy họ nhiều hơn là họ dạy tao. Qua Pháp ta đã sống nghèo đói thế nào thì mày đã biết rõ rồi, những lúc tao nằm ngủ tại những vỉa hè Paris, vào những đêm đông đói lạnh, những lúc đói khổ như vậy, tao vẫn còn cảm thấy sung sướng hơn là ngồi nghe mấy thằng giáo sư trường Đại học Yale hay Columbia giảng cho tao nghe về Aristote hay Hégel, và Heidegger hay Héraclite».«Bây giờ nếu có Phật Thích Ca hay Chúa Giê su hiện ra đứng giảng trước mặt tao cũng không thèm nghe nữa. Tao là học trò của tao và chỉ có tao là thầy của tao. Tao không muốn làm thầy ai hết và cũng không muốn ai làm thầy của tao. Còn các văn sĩ ở Sài Gòn, đọc các bài thơ của các anh, tôi thấy ngay sự nghèo nàn của tâm hồn anh, sự quờ quạng lúng túng, sự lập đi lập lại vô ý thức hay có ý thức, trí thức 15 xu, ái quốc nhân đạo 35 xu, triết lý tôn giáo 45 xu…Không cần phải đọc Platon, Aristote, Kant, Hégel hay Karl Marx. Không cần phải đọc Khổng Tử, Lão Tử. Không cần phải đọc Upanisads và Bhagavad Gita. Chúng ta chỉ cần đọc lại ngôn ngữ Việt Nam và nội tại tiếng Việt Nam là bỗng nhiên nhìn thấy tất cả đạo lý, triết lý cao siêu nhất của nhân loại đã nằm sâu trong ba tiếng Việt đơn sơ như: Con, Cái, Chay, Cháy, Chày, Chảy, Chạy và còn bao nhiêu điều đáng suy nghĩ khác mà chúng ta bỏ quên một cách ngu xuẩn».Phạm Công Thiện, sang Pháp, anh ghi danh ở Rennes, Bretagne, ở với người anh đã sang Pháp trước nhưng rồi không thuận với anh, ông lên Paris khoảng năm 1966. Lúc này tại Paris, Thầy Nhất Hạnh lập Hội Phật tử Việt kiều Hải ngoại, chi bộ Pháp do anh Võ Văn Ái làm tổng thư ký, trụ sở tại Maison Alfort, ngoại ô Paris. Phạm Công Thiện thân thiết với anh Ái và cùng ở nơi này.Năm 1966, Hòa thượng Minh Châu đến Paris tìm người trợ giúp Viện Đại học Vạn Hạnh. Gặp Phạm Công Thiện, thầy thuyết phục anh làm lễ xuất gia, thọ giới Tỳ kheo cho anh, Đại đức Thích Nguyên Tánh và đưa anh về Viện Đại học Vạn Hạnh.Phạm Công Thiện phụ trách Khoa Khoa học Nhân văn; sáng lập tạp chí Tư Tưởng, và soạn chương trình cho Viện Đại học Vạn Hạnh.Niên khóa 1968-1969; Thanh Hoài học môn Triết Đông với Thầy Nguyên Tánh.Năm 1970, Thanh Hoài lên đường đi du học tại Bruxelles. Cũng năm này Phạm Công Thiện đi dự một Hội nghị Phật giáo cùng Hòa thượng Minh Châu, anh xin ở lại ghi tên làm luận án tiến sĩ. Tại Paris, Thanh Hoài gặp lại Phạm Công Thiện tại nhà họa sĩ Vĩnh Ấn. Thanh Hoài quyết định bỏ Bruxelles, sang Pháp chung sống cùng Phạm Công Thiện. Cuộc sống phiêu lưu đầy gian nan, sống với học bổng của anh trong 4 năm. Sau đó anh xin được một việc làm văn phòng Đại học Toulouse. Nhân có một chân phụ giảng trống, anh làm đơn xin việc. Phạm Công Thiện được giáo sư hướng dẫn giới thiệu ‘Sinh viên ưu tú xuất sắc hạng nhất, bốn năm cao học đã hoàn tất’ (tr 252).Điều này chứng tỏ Phạm Công Thiện đã xong văn bằng tốt nghiệp Ecole Pratique des Hautes Etudes (tương đương với Master) tại Sorbonne, và học xong một năm D. E. A. Diplôme Etudes Approfondies (theo tổ chức đại học Pháp lúc đó, ngày nay đã đổi thành Master I, Master II và bỏ văn bằng tiến sĩ đệ tam cấp và tiến sĩ quốc gia, chỉ còn một văn bằng tiến sĩ duy nhất). Anh làm việc này giao kèo gia hạn mỗi năm, chức vụ cuối cùng là giảng sư (Maître de Conférence) tại Đại học Toulouse II. Công việc tạm ổn định, chị Thanh Hoài sinh năm con, bốn cháu trai và một cô gái út, quần quật với bầy con: đưa rước đi học, ăn uống tắm rửa, bếp núc, chị còn làm việc ráp linh kiện cho hãng máy bay Airbus, nhưng Phạm Công Thiện lại rơi vào vòng nghiện rượu, sống cuộc sống đầy bè bạn, quên mất chuyện gia đình.«Và nơi ngôi biệt thự xinh xắn đó, nơi mà đáng lý ra chỉ có hương hoa và sắc màu của một vị ngọt là hạnh phúc, thì trớ trêu thay, nơi đây suốt bảy năm trời chỉ mang một vị đắng. Vị đắng của khổ đau. Vị chua chát của rượu… Chàng đã thỏa hiệp với con ma rượu.«Anh không thấy gì hứng thú vì cứ phải lải nhải triết lý để kiếm tiền nuôi vợ con». «Anh chỉ là chiếc bóng đằng sau bầy con. Điều này cũng làm anh đau khổ. Lải nhải triết lý xong thì anh chỉ còn biết lè nhè».«Thì giờ của em dành cho con quá nhiều và em đã bỏ rơi anh. Hay là em tránh né anh..?»Tránh né anh vì em ghê sợ mùi rượu. Vậy anh hãy ngừng uống rượu..Đúng là lẩn quẩn không lối thoát!Bảy năm trời trôi qua trong cái vòng lẩn quẩn không lối thoát đó, nơi cái biệt thự màu hồng đó. Nàng thì vẫn cứ xoay mòng với bầy con năm đứa. Chàng thì cố gắng làm tròn công việc dạy học, cho dù nỗi chán chường mỗi ngày một chồng chất, nhưng bọn sinh viên vẫn ào ào tới càng ngày càng đông hơn, giới trí thức trong tỉnh lần lần nghe tiếng và bạn bè lũ lượt kéo đến càng nhiều hơn. Những buổi trà dư tửu hậu lại tiếp nối nhau. Khói thuốc vẫn mịt mù lan tỏa. Mùi rượu vẫn nồng nặc xông lên.Cho đến cái ngày mà giọt nước đã tràn đầy ly thì cái vòng lẩn quẩn đó tự động ngừng quay».Một ngày Thanh Hoài bị suyễn nặng, ho vì dị ứng phấn hoa, nhờ anh đi mua thuốc. Anh ra đường gặp bạn bè rủ đi ăn nhậu, quên mất chuyện thuốc cứu cấp cho vợ, sáng hôm sau mới về mang một hộp trứng, hỏi thuốc, anh quên mất.«Sáng hôm ấy, vì quá mệt, nàng đưa toa của bác sĩ nhờ Chàng ghé tiệm thuốc mua giùm Nàng. Mười lăm phút, hai mươi phút, ba mươi phút trôi qua, Nàng ngong ngóng Chàng về đưa thuốc cho đỡ nghẹt thở. Rồi một giờ, hai giờ, ba giờ trôi qua vẫn không thấy bóng Chàng. Nửa ngày trôi qua. Một đêm trôi qua. Nàng vẫn ngong ngóng. Nhưng vẫn không thấy bóng chàng đâu. Một đêm đã trôi thật quá dài, quá dài tưởng như bất tận. Không ngủ được vì ho, vì nghẹt thở. Nàng đã trải nghiệm cảm giác thế nào là kề cận cái chết. Nàng không đủ sức để tức giận, vì nàng nghĩ nếu chết trong sự tức tối, chỉ tự mình hại mình, sẽ không được đầu thai tốt, lại còn rơi vào đọa xứ nữa không chừng! Chi bằng cứ thản nhiên, chấp nhận số phận và thanh thản niệm Phật. Đây là điều cần làm trong lúc này, chẳng phải là sự tức giận!Nàng nhắm mắt chờ thần chết rước đi. Nhưng không, không được! Nàng sực tỉnh! Mà kia mình đã quên mất bầy con, mình chết thì chúng sẽ ra sao đây? Mình có thể bỏ chúng để ‘tiêu diêu’ nơi phương trời nào đó được chăng? Từ bỏ cái thân thể bệnh hoạn khổ sở thì mình cũng hết nợ với thế gian này, nhẹ nhàng thanh thản cho mình, nhưng không thể chỉ nghĩ đến mình mà quên bầy con. Không được rồi, không đúng rồi. Không, mình phải sống, phải ngồi dậy, đứng thẳng và không còn nghẹt thở. Mình phải tự bảo vệ mình, không thể buông xuôi! Mình nhớ đã từng được dạy dỗ ‘thân người khó được’, phải bảo vệ nó cơ mà! Không sát sanh, không hại vật, nhưng khi nguy cơ đến thì cũng phải biết tự bảo vệ để không mất mạng chứ! Có thể nào chết dễ dàng như vậy được? Không, ta phải sống!Khi trời vừa tờ mờ sáng thì Nàng nghe tiếng cửa mở. Chỉ cần thấy dáng bộ xiêu vẹo, ngả nghiêng của Chàng là nàng thừa hiểu tất cả. Trông Chàng còn thê thảm hơn cả Nàng nữa! Thôi thì chẳng còn gì để hỏi, để nói, để trách nữa. Chắc chắn là không có thuốc cho Nàng rồi.Dù gì thì Nàng cũng đã quyết định rằng Nàng phải sống, Nàng phải thở, Nàng phải đứng thẳng dậy và đi tiếp.Nhưng đoạn đường đi tiếp của Nàng chắc chắn là sẽ không đi cùng Chàng. Không vì tức giận hay oán trách, mà chỉ vì không còn giải pháp nào khác hơn.Thế là Nàng lặng lẽ sắp đặt cuộc ra đi của Nàng. Rồi đến ngày hôm đó, không báo trước, không nói năng. Nàng âm thầm dắt bầy con ra khỏi ngôi biệt thự màu hồng».Thanh Hoài quyết định chia tay cùng anh, chị thu xếp cùng năm con ra đi. Phạm Công Thiện cũng mất việc đại học vì khế ước không được gia hạn và ghế giảng sư cũng không còn, anh được Hòa thượng Mãn Giác mời sang dạy tại Viện Quốc tế Phật Giáo tai Los Angeles. Anh lại trở về cư ngụ tại chùa, tại nhà bạn bè.Tại xã hội Pháp nuôi nấng năm con không phải là điều dễ dàng, thường mỗi gia đình chỉ dám có 2, 3 con. Thanh Hoài vừa làm mẹ, vừa làm cha, khi dạy đàn dương cầm, khi làm quản gia và các công việc khác, nuôi năm con cho đến khi trưởng thành, thành người: cậu trai đầu tốt nghiệp École Normal Supérieur, rue d’Ulm, tiến sĩ vật Lý, giảng dạy vật lý Viện Đại học Paris Orsay. Cậu thứ hai tốt nghiệp Cao đẳng Thương mại tại Bordeaux, giám đốc thương mại; cậu thứ ba tốt nghiệp trường Mỹ thuật tại San José, Hoa Kỳ, họa sĩ; cậu thứ tư giống bố ở chỗ thích triết học và cô gái út bác sĩ nhi khoa. Chị có đầy đàn cháu nội, cháu ngoại.Phạm Công Thiện qua đời năm 2011 tại Houston, các con đều sang dự đám tang cha.«Nhờ âm nhạc, qua âm nhạc, bà luôn luôn đi sát cạnh cuộc đời, ở trong cuộc đời, thăng hoa cuộc đời, biến những nỗi buồn thành niềm vui, những chán chường thành lạc quan yêu đời, cô đơn thành cảm thông chia sẻ».Đứa cháu ngoại đã hỏi chị:– «Bà ơi! Bà có giận ông ngoại không?– Bà chẳng hề giận!– Thực ra, con cũng thấy thương ông ngoại làm sao ấy.Cháu bà giỏi lắm, các cậu và mẹ con cũng thế, luôn yêu thương ông ngoại, không hề ghét bỏ hay trách móc.– Mỗi lần gặp lại ông, con chỉ muốn ôm ông hôn và không cần phải nói nhiều. Con biết ông không hề có ý làm khổ bà, vì chính ông là người khổ trước tiên nếu phải làm khổ ai… Ông ngoại vẫn luôn bảo tụi con phải yêu thương bà hết mực, vì nhờ bà mà mẹ con, các cậu con nên người. Có điều ông vẫn nghĩ là bà còn giận ông!– Con có nghĩ như vậy khi bà kể chuyện cho con?– Không, con nghĩ bà vẫn còn yêu ông ngoại!– Thực ư? Chính bà cũng không biết!»Khép lại trang sách tôi ngẫm nghĩ. Tiếc là sách bằng tiếng Việt, nếu viết bằng tiếng Pháp, các cháu nội, cháu ngoại chị Thanh Hoài đọc được sẽ nghĩ rằng: ông bà mình thiếu thông tin cho nhau. Nếu ông đi đâu, điện thoại cho bà một tiếng, hay nếu có điện thoại di động, bà gọi ông nhắn ông đem thuốc về gấp thì sẽ không có chuyện gì xảy ra. Tiếc thay oan Quan Âm Thị Kính nằm ở chỗ, thời ấy chưa có dao cạo râu: Thị Kính phải vác con dao phay to tướng cắt râu cho chồng. Bà giận ông vì thời ấy chưa có điện thoại di động. Nếu không bà sẽ điều khiển từ xa ông chồng triết gia lãng trí hay quên của mình.Các cháu Việt Nam sinh ra tại Pháp xem xong vở tuồng Quan Âm Thị Kính thường tức tối và hỏi: Où est sa bouche? Cái miệng bà Thị Kính ở đâu? Sao bà không nói? Sao ông không nói? Tiếc thay khi ông bà giận nhau các cháu chưa ra đời!Khép lại đọc trang cuối bìa tập sách là lời Phạm Công Thiện viết khi gặp nhau lần cuối: «Ở nơi chốn hỗn loạn, ở nơi tận cùng của khổ đau và tuyệt vọng mà tiếng nhạc của em vẫn có thể vang lên những âm thanh của dịu dàng đằm thắm, bay bổng cao vút tận chân trời, từ cái điều Không Thể mà vẫn Có Thể. Hãy gọi đó là Giai Điệu Của Cái Điều Không Thể».Khép lại trang sách chuyện kể một cuộc tình, hai cuộc đời không trọn vẹn cùng nhau đến cuối đời. Nhưng lời kể chuyện trong trẻo, thanh thoát khiến cho chúng ta vẫn còn nghe vang lên một dư âm tiếng đàn dương cầm chị Thanh Hoài.Xin giới thiệu tiểu thuyết “Chuyện Một Người Đàn Bà Năm Con” của Lê Khắc Thanh Hoài do NXB Thời Đại xuất bản tại Hà Nội và Sài Gòn cùng độc giả trong và ngoài nước. Qua câu chuyện một kinh nghiệm sống cuộc đời, chị đã vẽ ra một khung cảnh người Việt trên đất Pháp, nó cần thiết cho các bạn trẻ, cho phụ huynh khi con em lên đường du học. Truyện còn giúp ta hiểu hơn về Phạm Công Thiện một nhà thơ, một triết gia một thời danh tiếng tại miền Nam Việt Nam.Phạm Trọng Chánh(Tiến sĩ Khoa học Giáo dục, Viện Đại học Paris V Sorbonne)

ĐẶNG KIM HIỀN ,composer and virtuoso performer in both traditional and contemporary music of VIETNAM

Dang Kim Hien
Dang Kim Hien is a composer and virtuoso performer in both traditional and contemporary music of Vietnam, she also taught at the Department of Traditional Music of the Conservatory of Music in Saigon for 14 years.
Dang Kim Hien is a composer and virtuoso performer in both traditional and contemporary music of Vietnam. She holds a National Gold Medal for Excellence in Vietnamese Zither Performance and a National Award for Excellence in Traditional Chants. In addition to her career as an active composer-performer, she taught at the Department of Traditional Music of the Conservatory of Music in Saigon for 14 years.Dang Kim Hien is featured on the following titlesEchoes of Ancestral Voices
Performer: dan nguyet [moon lute], song lang [foot clapper], dan bau [monochord], dan tranh [Vietnamese zither], Voice, phach [wooden clappers], trong de [small drum],

Composer
Le Tuan Hung and Dang Kim Hien present ‘Echoes of Ancestral Voices,’ a collection of Vietnamese traditional music. This album follows their beautiful and evocative disc ‘Landscapes of Time’ (described by ABC Radio National as « an enchanted journey across the soundscapes of Vietnam. »)Landscapes of Time


Performer: dan tranh [Vietnamese zither], electronic crickets, voice, dan bau [Vietnamese monochord], Amplified throat voice, phach tre [bamboo block], dua tre [bamboo chopsticks], Composer
Contemporary Sound Art of Vietnam. Evocative images and haunting effects, creating a totally unforgettable listening experience. Explore new directions in contemporary sound art with a touch of Vietnamese colour – inspired by Vietnamese poems, ideas and spirituality.
Compositions by Dang Kim Hien also appear onScent Of Time


Performer, Composer
This new CD features the diverse works of six Australian composers that have taken Asian instruments and voices beyond the boundaries of their own traditions. From dan tranh to sheng, from shakuhachi to erhu, this fascinating recording is cross-cultural music at its best.

http://www.move.com.au/artist/dang-kim-hien

TRƯỜNG KỲ : Nguyễn Thuyết Phong: Nhạc dân tộc trong tâm hồn

Nguyễn Thuyết Phong: Nhạc dân tộc trong tâm hồn

08 Tháng Một, 2013 | Nghệ sĩ Việt Nam

 

Nguyễn Thuyết Phong

Nơi ông là cả một tâm hồn tràn trề tình dân tộc với niềm đam mê nghiên cứu âm nhạc cổ truyền thuộc đủ mọi thể loại, đặc biệt là nhạc Phật Giáo. Với thễ loại này, giáo sư và là nhà âm nhạc học Nguyễn Thuyết Phong đã dùng để soạn luận án tiến sĩ của ông vào năm 1982 với đề tài “Âm Nhạc Phật Giáo Việt Nam Với Nhạc Phật Giáo Đại Thừa Của Các Quốc Gia Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc”. Luận án này đã được chấm hạng tối danh dự của đại học Sorbonne, Paris.

15 năm sau, cùng một con người đó, với những công trình nghiên cứu âm nhạc cổ truyền của mình, đã nhận thêm một vinh dự lớn lao khác khi được chính phủ Mỹ trao tặng giải National Heritage Fellowship, dành cho những nghệ sĩ  có công gìn giữ  những di sản văn hoá cho nước Mỹ, trong đó âm nhạc cổ truyền Việt Nam được đánh giá như  di sản của nền văn hoá Hoa Kỳ. Tại Tòa Bạch Ốc vào năm 1997, chính tay bà Hillary Clinton đã trao giải thưởng cao quý này cho giáo sư Nguyễn Thuyết Phong. Cựu tổng thống Bill Clinton trong thời gian này bận tham dự một buổi  họp tại Liên Hiệp Quốc, nhưng cũng gửi đến ông một lá thư riêng với những lời khen ngợi nhiệt liệt.

Giáo sư Nguyễn Thuyết Phong sinh trưởng tại vùng đồng bằng sông Cửu Long và “là người của hai con sông Tiền và sông Hậu”, như ông nói với một niềm hãnh diện. Đó là nơi ngày xưa thuộc tỉnh Cần Thơ, có lúc trở thành tỉnh Trà Vinh tức Vĩnh Bình, nhưng bây giờ lại thuộc tỉnh Vĩnh Long. Ông sinh ra trong một gia đình yêu âm nhạc, có truyền thống về đàn ca tài tử.

Thân phụ ông – đã qua đời – hợp cùng các chú, bác ông thành lập một  ban nhạc lễ riêng, chuyên thực hiện phần lễ nhạc cho các hội hè đình đám và tang tế . Người em út của ông trong số 8 người con trong gia đình, không kể 2 người đã mất sớm,  sau đó đã thay thế thân phụ ông trong vai trò  trưởng ban nhạc lễ.

Do ảnh hưởng của gia đình cộng thêm khả năng bẩm sinh, từ khi lên 5 tuổi Nguyễn Thuyết Phong đã tỏ ra rất say mê âm nhạc. Ngay lúc đó, ông đã biết ca nên được đi theo ban đàn ca tài tử của gia đình phục vụ cho các đám giỗ, đám cưới. Cũng nhờ khả năng của mình, khi được 7 tuổi, ông đã được giao phó việc phụ giúp các sư  trong chùa về việc tụng niệm nên rất được các thầy quý mến.

Và cũng do đó ông đã có một sự gắn bó mật thiết với nhạc Phật Giáo là thể nhạc ông đã bỏ ra nhiều thời giờ để nghiên cưu sau này. Được như vậy, Nguyễn Thuyết Phong cho biết ông đã học bằng cách vận động thính giác trong việc tiếp nhận âm thanh từ khi lên 7. Ba năm sau ông đã đi theo những đoàn nhạc lễ để đi diễn rất nhiều nơi tại những đám cúng chùa, cúng đình, những trai đàn chẩn tế cùng những đám tang.

Trong số những đoàn đó có đoàn của nhạc sư Trầm Văn Kiên, tức Mười Kiên là bạn của nhạc sư Cao Văn Lầu, tác giả của bài vọng cổ đầu tiên “Dạ Cổ Hoài Lang”. Với đoàn nhạc lễ cự phách về đàn ca tài tử, cải lương, hát bội và nhạc lễ của nhạc sư Mười Kiên ông đã có dịp đi trình diễn chung khắp nơi. Từ Vĩnh Long,Mỹ Tho và  xuống tới tận Cà Mâu. Ngoài khả năng ca, giáo sư Nguyễn Thuyết Phong còn là người sử dụng được rất nhiều nhạc khí cổ truyền ngoài bộ gõ là đàn tranh, đàn bầu, đàn kìm, đàn cò cùng những loại nhạc khí thông dụng ở miền đồng bằng sông Cửu Long…

Phong Nguyen Ensemble

Sau đó ông còn tiếp tục học đàn nguyệt ở Huế với thầy Nguyễn Gia Cẩm, một tay đàn nguyệt lừng danh tại đài phát thanh Sài Gòn. Ông còn ra tận Hà Nội để học đàn đáy với thầy Đinh Khắc Bang, qua đời cách đây khoảng 8, 9 năm. Không những ông  nghiên cứu về các loại nhạc khí ở miền đồng bằng, giáo sư Nguyễn Thuyết Phong còn lên miền núi ở Tây Nguyên và Việt Bắc  để học gần như hầu hết các nhạc cụ của dân tộc thiểu số như T’rưng, Klongpút, Hi Ho, Đinh Tút, Brố, Goong, vv…  và những loại kèn từ năm 1996.. Ông chủ trương đi tới đâu phải học đến đó, vì càng học càng thấy thiếu nên đã đi dọc dãy Trường Sơn, từ Quảng Trị tới Sông Bé cũng như đặt chân lên suốt quốc lộ 14, dọc theo Kontum, Gia Lai bằng đủ mọi phương tiện để “học được nhạc cụ nào thì học nhạc cụ đó”, như lời ông nói với tất cả say mê. Cùng một lúc ông mua về Mỹ đủ loại nhạc cụ để biểu diễn trước khán giả bản xứ.

 Ông đã thực hiện được những việc trên sau nhiều lần trở về Việt Nam để chuẩn lại những điều đã học hỏi qua băng từ thu thập được. Giáo sư Nguyễn Thuyết Phong trở về quê hương lần đầu tiên năm 1991 kể từ khi ra đi vào cuối năm 1973.  Cũng nằm trong một số những chuyến đi trên, ông đã hướng dẫn một phái đoàn người Mỹ trong phái đoàn Earth Watch, một tổ chức quốc tế hỗ trợ những nhà nghiên cứu về  khảo cổ học, đặc biệt hỗ trợ ông trong việc thu thập các tài liệu về âm thanh. Theo ông, đó có thể là những âm thanh cuối cùng của những nghệ nhân  đã lớn tuổi. Qua đó nguồn tài liệu của giáo sư Nguyễn Thuyết Phong đã lên tới hàng trăm cuốn video hay băng ghi âm…

Năm 1973, giáo sư Nguyễn Thuyết Phong, cựu sinh viên các trường đại học Văn Khoa và Vạn Hạnh ở Sài Gòn, lên đường sang Nhật nghiên cứu âm nhạc. Đến năm 1975, ông sang Pháp để ghi danh theo học ngành âm nhạc học tại trường đại học Sorbonne ở Paris và ra trường năm 1982 với bằng tiến sĩ danh dự tối ưu về âm nhạc. Sau đó ông làm việc tại Trung Tâm Nghiên Cứu Khoa Học ở Pháp cho đến khi sang Mỹ theo lời mời của nhiều trường đại học ở đây.

Ông sang Mỹ lần đầu tiên năm 1983  theo yêu cầu của Viện Bảo Tàng Metroplitan Museum Of Art ở New York  để nói chuyện và trình diễn. Sau nhiều lần đi đi, lại lại; ông chính thức cư ngụ tại Hoa Kỳ từ năm 1985, khởi đầu với việc dạy học tại trường đại học U.C.L.A ở nam California. Hiện ông là giáo sư tại đại học Kent State University thuộc tiểu bang Ohio, gần nơi ông cư ngụ là thành phố Cleveland cùng tiểu bang.

Giáo sư Nguyễn Thuyết Phong đã đứng ra thành lập một đoàn biểu diễn nhạc cổ truyền Việt Nam dưới tên Phong Nguyen Ensemble, được thai nghén từ  năm 1983, khi ông sang New York. Thời kỳ đầu tiên vì không quen biết nhiều trong cộng đồng người Việt nên mới chỉ có sự tham dự của cô Kim Oanh. Cho đến năm 87 mới có thêm sự gia nhập của 2 nhạc sĩ Hoa Kỳ Miranda Arana (sử dụng sáo) và David Badagnani (kèn bầu Huế), Nguyễn Ngọc Tố Trinh  (từng đoạt giải nhì đàn tranh toàn quốc ở VN), Dock Rmah (nhạc sĩ gốc dân tộc thiểu số Gia Rai), và Nguyễn Thuyết Phong (sử dụng nhiều loại đàn). Những lần trình diễn mới đây nhất với thành phần này diễn ra tại Kennedy Center và Thư Viện Quốc Hội Mỹ.

Ngoài ra Phong Nguyen Ensemble từng tham dự rất nhiều chương trình nhạc hội toàn quốc tại Hoa Kỳ, lần mới nhất tổ chức vào mùa hè năm 2004 với sự tham dự của hàng trăm nhạc sĩ cùng sự có mặt của trên 10 ngàn khán giả tại thành phố Bangor, tiểu bang Maine. Với Phong Nguyen Ensemble cung như với riêng cá nhân mình, giáo sư Nguyễn Thuyết Phong đã thu thanh trên nhiều CD dưới những nhãn hiệu nổi tiếng chuyên về nền âm nhạc quốc tế, trong số có những CD mang tựa đề Musical Theater From Vietnam, Eternal Voices, Song Of The Banyan, Music From The Lost Kingdom Hue,Vietnam Music Of The Truong Son Mountains, vv…

Ngoài ra với công trình nghiên cứu của mình, giáo sư Nguyễn Thuyết Phong đã được trao tặng nhiều giải thưởng quốc tế về âm nhạc, trong đó giải National Heritage Fellow của chính phủ Mỹ đối với ông là một phần thưởng cáo quý nhất. Từ đó, ông đưa ra một nhận xét có phần tế nhị là ttrong khi người Mỹ rất quan tâm đến nền văn hoá truyền thống của các nước khác, trong đó có Việt Nam thì người Việt Nam lại tỏ ra thờ ơ với nền văn hoá cổ truyền của mình. Do đó những chương trình biểu diễn âm nhạc dân tộc được tổ chức một cách rất hiếm hoi và cần đến sự nhiệt tình và hăng say của ban tổ chức. Và thực tế cho thấy số khán giả đến với những buổi tổ chức này có phần hạn hẹp…

Khi được hỏi thích sử dụng nhạc cụ nào  cũng như đam mê thể loại nhạc nào nhất trong số những thể loại như ca trù, cải lương, ca Huế, dân ca, Quan Họ Bắc Ninh hay nhạc lễ, v.v… giáo sư Nguyễn Thuyết Phong chỉ trả lời một câu vỏn vẹn là “tôi say mê tất cả”. Ông nhấn mạnh thêm…

Còn về hát bội, đối với ông còn là cả một vấn đề thích thú vì thể loại này gắn liền với âm nhạc nghi lễ  trong chùa, trong đền. Chính vì thế ông đã theo học từ khi còn nhỏ.

Riêng về nhạc Phật Giáo, giáo sư Nguyễn Thuyết Phong đã bỏ ra trên 10 năm để tự mò mẫm nghiên cứu mà không có được một sự hướng dẫn nào. Ông bắt đầu thu thập những tài liệu ghi âm về âm nhạc Phật Giáo  của miền Nam và miền Trung, đặc biệt là nhạc Phật Giáo Huế  từ sau năm 1968. Và ông đã là sở hữu chủ một bộ sưu tập nhạc Phật Giáo đồ sộ trong lúc đó. Cũng từ sự nghiên cứu này, giáo sư Nguyễn Thuyết Phong đã viết một quyển sách về sự tương quan giữa nhạc Phật Giáo và nhạc lễ Nam Bộ vào đầu thập niên 70 do nhà Sen Vàng ở Sài Gòn xuất bản.

Ông cũng thực hiện việc ghi âm các tụng niệm tại các chùa ở Nhật trong thời gian ở đây vào những năm 73, 74.  Do đó khi sang Pháp vào năm 75, ông đã được một nữ giáo sư, chuyên khảo cứu về nhạc tôn giáo và đặc biệt là nhạc Tin Lành, khuyên nếu có khả năng về nhạc Phật Giáo  thì tại sao không làm luận án tiến sĩ về đề tài này. Giáo sư Trần Văn Khê, trong thời gian đó làm việc ở Trung Tâm Nghiên Cứu Khoa Hoc Pháp cũng rất khích lệ ông trong việc này. Do đó ông đã tiến hành luận án tiến sĩ về đề tài “Âm Nhạc Phật Giáo Việt Nam Với Nhạc Phật Giáo Đại Thừa Của Các Quốc Gia Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc” để được chấm hạng tối danh dự của đại học Sorbonne năm 1982.

Trước thắc mắc về nguồn gốc của nhạc Phật Giáo, giáo sư Nguyễn Thuyết Phong cho biết đã bắt nguồn từ tất cả những dân tộc chịu ảnh hưởng rất lớn của đạo Phật. Nên “Chính vì thế, âm nhạc Phật Giáo bắt nguồn từ dân tộc đó rồi phối ngẫu với  tinh thần, với tinh túy  về giáo lý của đạo Phật, đưa vào trong những lời tụng, lời tán để trở thành một hình thức  âm nhạc dân tộc và Phật Giáo”

Ông đưa ra thí dụ bằng cách so sánh giữa nhạc Phật Giáo Nhật Bản và Việt Nam để thấy không có sự tương đồng nào về làn điệu cũng như hệ thống hay thang âm. Điều này cho thấy đạo Phật có một sự hoà nhập với từng dân tộc, với từng nền văn hoá để trở thành một bản thể của dân tộc và nền văn hoá đó. Cũng từ đó ông kết luậnlà Nhạc Phật Giáo của mỗi dân tộc mang một sắc thái riêng biệt…

Về hình thức tạm gọi là đưa nhạc đời vào đạo bằng âm nhạc trong những nghi thức hành lễ  như một số tôn giáo khác, giáo sư Nguyễn Thuyết Phong đưa ra ý kiến là vấn đề này tùy thuộc vào ý thức và trí tuệ của những vị sư lãnh đạo các chùa,  để làm sao áp dụng được tinh thần âm nhạc  một cách đứng đắn trong  đạo Phật thì rất hay, như ông nói”Chẳng hạn như  một bài vọng cổ không phải là nhạc của  các sư viết ra, nhưng nếu  chúng ta ca một bài vọng cổ trong chùa  thì cũng được. Miễn lời ca, lời văn thể hiện được  tinh thần của đạo Phật thì  cũng tốt thôi. Bây giờ chúng ta ca một bài tân nhạc mà có tinh thần đạo Phật  trong chùa thì cũng chấp nhận được thôi”

Tuy nhiên dưới nhãn quan của một nhà nghiên cứu âm nhạc, giáo sư Nguyễn Thuyết Phong cho là  từng “note” nhạc  đều có một giá trị  cần phải cân nhắc để đặt giá trị âm nhạc đúng chỗ. Thí dụ không thể đem nhạc Rock And Roll  là loại nhạc ồn ào  vào nghi lễ trong chùa chiền thì không thể thích hợp. Rõ rệt hơn nữa là “nếu chúng ta càng quan tâm hơn nữa  về giá trị đích thực của  âm nhạc đạo Phật là âm nhạc dân tộc thì  những yếu tố không dân tộc thì chúng ta phải đặt nó  ở vào một chỗ đúng  vị trí của nó chứ đừng có nhầm lẫn”, như ông nhận định.

Khi so sánh nhạc Phật Giáo với  những thể loại nhạc dân tộc cổ truyền khác, giáo sư Nguyễn Thuyết  Phong đưa ra những nét đặc biệt về kệ tụng cùng rất nhiều điệu Tán với những giai điệu trầm bổng khác nhau trong nghi lễ Phật Giáo. Những thể điệu này có những âm sắc và âm hưởng khác biệt hẳn với những thể loại nhạc khác. Theo ông, đó chính là điểm sáng tạo trong âm nhạc Phật Giáo của các vị sư  ngày xưa mà ông coi như những nhà làm âm nhạc lớn, khi viết ra không cần đến  bút hoặc ký âm pháp 5 dòng  nên đừng nghĩ rằng nếu viết nhạc giống Âu Châu mới gọi là sáng tác. 

Cũng nhân dịp trao đổi về nhạc dân tộc với TiVi Tuần San, giáo sư Nguyễn Thuyết Phong đã đưa ra lời kêu gọi không nên tỏ ra cực đoan để cho rằng âm nhạc Việt Nam là cổ hủ hoặc là xưa,  cũ… Ông kết luận: “Hãy nghĩ rằng nếu chúng ta nắm được sự  hiểu biết, kiến thức  của nhạc dân tộc, chúng ta  mới thích, mới yêu và  mới quí. Để rồi thấy đó là cả một gia tài  lớn thì chúng ta không  nên cực đoan. Chúng ta tiến đến thế giới bằng bản sắc của chúng ta, chứ  không phải là học trò của những nước khác.Nếu không muốn nói chúng ta phải là người thầy của những nước khác. Hồn thiêng sông núi không cho phép chúng ta  tự ti mặc cảm là không có  nền âm nhạc của chính dân tộc Việt Nam.”

Cùng một lúc, ông khẳng định âm nhạc Phật Giáo Việt Nam là âm nhạc của dân tộc Việt Nam vì không thể nhầm lẫn với âm nhạc của các đạo Phật của các quốc giakhác. Ông cho âm nhạc Phật Giáó là “một đóng góp rất  vĩ đại  cho âm nhạc dân tộc Việt Nam”, do đó “phải hiểu nó với một trạng thái rất đặc biệt và chúng ta phải trân trọng nó. Nếu không,  tức là chúng ta đánh mất bản sắc của mình”

Đối với nhạc cổ truyền dân tộc nói chung, giáo sư Nguyễn Thuyết Phong cho rằng muốn duy trì và bảo tồn một cách hữu hiệu nơi thế hệ trẻ, một trong những điều cần làm là tổ chức  thường xuyên những cuộc thi về nhạc dân tộc như  Giải Thưởng Vàng Nhạc Dân Tộc doTrung Tâm Giáo Dục Hồng Đức ở Montreal, Canada sắp thực hiện trong vài ngày tới với phần chung kết được diễn ra vào ngày 26 tháng 6 trong khuôn khổ chương trình Nhạc Phật Giáo “Nhánh Mai Sương”, có sự góp mặt đặc biệt của ông.

Với một người có tâm hồn  gắn bó với nhạc dân tộc suốt cả cuộc đời, giáo sư Nguyễn Thuyết Phong mong thấy những buổi diễn thể loại nhạc này được tổ chức thường xuyên hơn, cùng với những cuộc thi với “những giám khảo  có khả năng nắm vững được vấn đề,  yếu tố của âm nhạc như thế nào để  chấm điểm thì chừng ấy chúng ta sẽ có một nền âm nhạc  dân tộc Việt Nam ở hải ngoại  phát huy tốt đẹp hơn. Đó là một điều tôi rất mong mỏi!”.

Trường Kỳ –  (TVTS – 1004)

THANH HIỆP : NSƯT Nam Hùng: Nghề hát là một đặc ân

NSƯT Nam Hùng: Nghề hát là một đặc ân

23-08-2020 – 07:45 AM | Văn nghệ Chia sẻ https://www.facebook.com/plugins/like.php?action=like&app_id=889975511027097&channel=https%3A%2F%2Fs-static.ak.facebook.com%2Fconnect%2Fxd_arbiter%2F7r8gQb8MIqE.js%3Fversion%3D41%23cb%3Df273fa51ac8ef6%26domain%3Dnld.com.vn%26origin%3Dhttps%253A%252F%252Fnld.com.vn%252Ff1a256db2e9257e%26relation%3Dparent.parent&href=https%3A%2F%2Fnld.com.vn%2Fnews-20200822201607477.htm&layout=button_count&locale=en_US&sdk=joey&share=false&show_faces=false

NSƯT Nam Hùng nhìn nhận cuộc đời ông không phải lúc nào cũng suôn sẻ nhưng xét cho cùng được sống, được làm nghệ sĩ là hạnh phúc lớn

Là nghệ sĩ nổi tiếng thuộc thế hệ vàng của sân khấu cải lương, cùng thế hệ với các nghệ sĩ: Út Bạch Lan, Thành Được, Hữu Phước, Thanh Hải, Diệp Lang, Thanh Nga, Hùng Minh… ông vào nghề và từng bước chinh phục khán giả để tên tuổi của mình được nhắc đến tận hôm nay. Một kép độc có ngoại hình đẹp, chất giọng trầm ấm.

Chọn hướng đi riêng

Tuổi trẻ của ông may mắn được làm con nuôi của NSND Phùng Há, cơ hội đến với ông rất nhiều, vì các bầu gánh nể nang mẹ nuôi của ông nên khả năng ông trở thành kép chính của các đại ban không khó nhưng ông vẫn chọn hướng đi riêng cho mình là làm kép độc.

Giải nghĩa điều này, ông phân tích: « Khó nhất trong đời là biết rõ mình có khả năng gì, hóa thân thuận lợi sẽ là chìa khóa vạn năng của nghệ sĩ. Tôi hiểu sớm điều này cho nên không vất vả, khổ tâm vươn tới thành công. Qua đó, diễn kép độc mà không để khán giả đánh giá thấp trình độ diễn xuất của mình thì chính là để cho vai độc có vị « ngọt hậu ».

NSƯT Nam Hùng: Nghề hát là một đặc ân - Ảnh 1.

NSƯT Nam Hùng

NSƯT Nam Hùng: Nghề hát là một đặc ân - Ảnh 2.

Vợ chồng NSƯT Nam Hùng – Tô Kim Hồng

Con đường đến với sự nghiệp nghệ thuật của ông thật bất ngờ. Từ làng quê Hà Nam cậu bé Nguyễn Xúy theo cha phiêu bạt khắp nơi cùng các đoàn hát để buôn bán và phụ việc. Khi đất nước bị chia cắt, ông ở lại miền Nam cùng cha tiếp tục sống trong các gánh hát. Sau ngày đất nước thống nhất, ông mới về quê tìm lại mẹ và hai em của mình. Sân khấu đã mang lại cho ông nghề diễn viên. Chính vì thương tuổi đời còn quá nhỏ nhưng phải sống xa mẹ, NSND Phùng Há đã nhận ông làm con nuôi, cho ăn học tử tế và cho cái nghề mưu sinh, đó là làm nghệ thuật.

« Tôi làm đủ thứ công việc nên có sự trải nghiệm, từ chân chạy cờ, đóng vai quân lính rồi kép con trên sân khấu đoàn Phụng Hảo của NSND Phùng Há, mục đích của tôi là nỗ lực không ngừng để mạnh dạn thâm nhập các vai kép độc » – ông cho biết và giải thích thêm đào – kép độc lẳng, độc mùi hay độc hiểm… đều là do cách thể hiện. Nếu không có các nhân vật thủ vai độc lẳng làm áp lực mạnh mẽ, khiến các vai đóng kép mùi lâm vào tình trạng bi thương, bật lên những câu ca vọng cổ ai oán, thì đào – kép mùi khó mà được tán thưởng rầm rộ. « Nhìn rõ điều này, tôi phải thường xuyên thay đổi lối diễn, để lôi cuốn sự chú ý của khán giả về phía mình. Tôi nghiên cứu kỹ vai tuồng, tính cách của nhân vật, những câu nói lối, những bài ca để diễn. Hạn chế la hét ồ ạt, tập nói rít trong kẽ răng, ánh mắt lườm lườm đe dọa, mưu hiểm, để ác được biểu hiện từ trong tâm. Tôi nghĩ là diễn vai kép độc không phải lúc nào cũng la hét hoặc có những động tác thô bạo mà phải tùy từng nhân vật, từng hoàn cảnh mới đạt hiệu quả » – ông nêu quan điểm.

Không ham « Đệ nhất »

Năm 1956, nhật báo Tiếng Dội của ký giả lão thành Trần Tấn Quốc mở mục trưng cầu ý kiến độc giả và khán giả thông qua việc bầu phiếu chọn các nghệ sĩ « Đệ nhất » trong các lĩnh vực ca cổ và diễn xuất trên sân khấu cải lương. Ông nói mình không thích cách gọi có vẻ kiêu kỳ, tự mãn. Nhưng đó cũng là hình thức để khán giả chú ý đến cách diễn của nghệ sĩ, giúp người nghệ sĩ tập trung nghiên cứu, thăng hoa cảm xúc cho một loại vai diễn. Từ đó mới có những danh xưng: « Đệ nhất danh ca Út Trà Ôn », « Đệ nhất đào thương Thanh Hương », « Đệ nhất kép lẳng độc Hoàng Giang », « Đệ nhất kép độc Nam Hùng »… Được bầu chọn nhưng ông không muốn chỉ chôn chặt đời mình vào danh xưng « Đệ nhất ». Ông nói: « Tôi đóng các vai làm vua, làm chúa, làm vương, làm tướng, làm dũng sĩ hoặc cầm đầu băng cướp… tất cả cũng để cảnh báo đến người xem, cái ác, cái xấu không bao giờ dừng lại trong mỗi con người. Khi mà dục vọng, lòng tham tăng lên, không biết chế ngự thì bản thân mỗi con người đã là « kép độc ».

Vốn có hơi ca, vào vọng cổ mùi mẫn, nên dù ông diễn ào ạt, sôi động tạo sức ép nặng nề đến mấy thì lúc diễn cảnh hối hận, ăn năn, vẫn để lại « vị ngọt hậu » như ông nói, được khán giả tán thưởng và đồng tình.

Nói về quan điểm sống, ông chia sẻ: « Trong suốt cuộc đời, đặc biệt khi đứng trước những thách thức, tôi có những quan điểm và thái độ khác nhau. Trước hết là không bao giờ đánh giá thấp năng lực của mình, tôi không cho mình là kẻ thất bại để niềm tin không bị tiêu cực chôn vùi mà phải thấy chính những thất bại là uy lực đầy quyền năng để đạt được điều mình muốn ».javascript:if(typeof(admSspPageRg)!=’undefined’){admSspPageRg.draw(2011351);}else{parent.admSspPageRg.draw(2011351);} https://api.dable.io/widgets/id/6XggQDXN/users/32767037.1598719656765?from=https%3A%2F%2Fnld.com.vn%2Fvan-nghe%2Fnsut-nam-hung-nghe-hat-la-mot-dac-an-20200822201607477.htm&url=https%3A%2F%2Fnld.com.vn%2Fvan-nghe%2Fnsut-nam-hung-nghe-hat-la-mot-dac-an-20200822201607477.htm&ref=https%3A%2F%2Fnld.com.vn%2Fvan-nghe.htm&cid=32767037.1598719656765&uid=32767037.1598719656765&site=nld.com.vn&id=dablewidget_6XggQDXN&category1=V%C4%83n%20ngh%E1%BB%87&ad_params=%7B%7D&item_id=20200822201607477&pixel_ratio=1&client_width=520&lang=fr&pre_expose=1&is_top_win=1&top_win_accessible=1

Suy nghĩ như thế, ông tin vào năng lực của mình và im lặng hành động. Ông chưa bao giờ vỗ ngực rằng ông vô cùng tài giỏi, sẽ trở thành đệ nhất, ngôi sao của năm. « Diễn viên dễ bị biến thành kẻ khoác lác, tự cao. Mẹ nuôi của tôi – NSND Phùng Há thường dạy nếu « nhiễm bệnh tự cao » thì chứng đó sẽ kéo nghệ sĩ quỵ ngã. Nghề hát là một đặc ân, không phải lúc nào cuộc đời cũng suôn sẻ nhưng xét cho cùng được sống, được làm nghệ sĩ là một hạnh phúc lớn. Cho dù thế nào, tôi cũng có những điều để hạnh phúc và biết ơn. Những lời dạy từ người mẹ nuôi cao quý đã là những trợ thủ đắc lực trong những thời điểm khó khăn thử thách cuộc đời tôi » – NSƯT Nam Hùng bày tỏ.

Đời chẳng có gì ngang trái

Đã 6 lần dọn nhà, đời sống về chiều của vợ chồng NSƯT Nam Hùng – Tô Kim Hồng rất đơn sơ. Dẫu hiện nay, ông vẫn ở nhà thuê. « Có một khán giả yêu quý vợ chồng tôi, cho thuê với giá vừa với khoảng tiền hưu trí để chúng tôi sinh sống. Người cháu ruột của tôi ở Nam Hà cũng vào sống với vợ chồng tôi, chăm sóc, an ủi chúng tôi lúc về chiều nên phần nào cũng ấm áp » – NSƯT Nam Hùng tâm sự.

Ông bà cho biết họ dành dụm mua được miếng đất tận Bình Chánh, dự định sẽ cất nhà ở để có được một ngôi nhà đứng tên chủ quyền, chấm dứt đời ở thuê nhưng không may đất nằm trong khu quy hoạch.

Trước đây, cả nhà ông sống nhờ quán phở do chính ông nấu, hễ dời nhà đi đâu thì quán dời theo đó. Thấy bà thức khuya dậy sớm nấu phở, rồi lại vất vả chăm ông trong bệnh viện nên ông nghỉ bán.

Chẳng ai biết ông khó khăn khi thấy ông ăn mặc bảnh bao đi vận động giúp nghệ sĩ nghèo và chưa bao giờ ông kêu gọi giúp đỡ mình, càng không một lời than vãn cảnh ở nhà thuê, hay bệnh tật ốm đau phải ra vào bệnh viện thường xuyên.

Khi nói về sự nổi tiếng có ảnh hưởng đến đời sống nghệ sĩ, nhất là một « kép độc » vì người xem cải lương cứ mặc định, hễ diễn đào – kép độc thì cuộc đời ngang trái, ông cười: « Tôi thường bỏ sự nổi tiếng bên ngoài cánh cửa khi về đến nhà. Ở gia đình, tôi vẫn là người chồng, người cha bình thường như bao người đàn ông khác. Hai chữ hiếu thảo đặt lên hàng đầu. Đời tôi cũng chẳng có gì ngang trái. Nghịch cảnh đến thì xử sự hợp tình, hợp lý. Độc ác trong vai diễn trên sân khấu không tác động đến đời thường, trái lại nó bình quân tính cách của mình để sống tốt hơn ».

Năm nay đã 83 tuổi, NSƯT Nam Hùng giờ chỉ nặng 40 kg, mang trong mình nhiều căn bệnh. Ông vừa xuất viện do bị hen suyễn, khó thở và đã được các bác sĩ chuyên khoa phổi của Bệnh viện Chợ Rẫy điều trị. Dù vậy, khi nói về nghề, ông rất minh mẫn và khẳng khái.

NSƯT Nam Hùng tâm sự: « Tôi là kiếp tằm trả nợ dâu xanh, cứ nhả tơ cống hiến cho đời. Chính sự yêu thương của khán giả đã cho tôi có được thành tựu trong nghệ thuật, nếu có kiếp sau vẫn xin được làm nghệ sĩ ». 

60 năm cống hiến cho nghệ thuật

Năm 16 tuổi, ông theo đoàn Hương Hoa. Gắn với sở trường diễn kép độc và nghệ danh Nam Hùng cũng từ đoàn cải lương này. Hơn 60 năm cống hiến cho nghệ thuật, ông được xem là bậc tiền bối cao niên nắm giữ nhiều bí quyết diễn vai kép độc, mà theo ông đang bị mai một do cách nghĩ, cách diễn của các bạn trẻ chưa chạm đến trái tim người xem.

Các vai diễn của ông đi vào lịch sử sân khấu cải lương mà nhắc đến, khán giả say mê, như: Lữ Bố và Đổng Trác trong « Phụng Nghi Đình », luật sư Dũng trong « Sân khấu về khuya », thầy Đề trong « Ngao sò ốc hến », Chu Phác Viên trong « Lôi Vũ »… Bài và ảnh: Thanh Hiệp