Catégorie : Non classé

Thí sinh Huỳnh Thị Tố Quyên – 036:

Nguyễn Quốc Thệ

· 💧♥️Thí sinh Huỳnh Thị Tố Quyên – 036

💧♥️CẢM XÚC VỀ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ VÀ ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM.

Thí sinh: Huỳnh Thị Tố Quyên – sinh viên ngành Việt Nam học – Trường Đại học Công Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh ( HUTECH)

Em được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất miền Tây sông nước – An Giang. Con người miền Tây chất phác thật thà, chịu thương chịu khó. Lớn lên bằng câu hò mẹ ru: “ Ầu ơ, dí dầu”, được nghe ông bà ta chơi đàn, hát hò mỗi khi gia đình quây quần bên nhau, được tiếp xúc với nền âm nhạc truyền thống từ nhỏ nên bản thân em cũng có một niềm tin yêu mãnh liệt về nền âm nhạc Việt Nam. Em rất tự hào khi là đứa con của miền Tây càng tự hào hơn khi miền Tây cũng chính là nơi mà Giáo sư Trần Văn Khê được sinh ra và lớn lên. Khi tìm hiểu về Giáo sư Trần Văn Khê một nhà văn hóa nổi tiếng không chỉ đối với người dân Việt Nam mà còn vươn tầm ra ngoài thế giới.

Giáo sư Trần Văn Khê sinh năm 1921 mất năm 2015 tại Châu Thành tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang ) sinh ra trong gia đình có gốc âm nhạc nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm ông lên sáu tuổi ông được cô là Trần Ngọc Viện (tức là Ba Viện người đã sáng lập ra gánh cải lương Đồng Nữ ban) và cậu là ông Năm Khương dạy cho đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, đàn bầu, ngoài ra thì ông còn biết đàn những bản nhạc dễ như “Lưu Thuỷ”, “Bỉnh Bán Vắn.”, “ Kim Tiền.”, “Long Hổ Hội.”. Cô Ba Viện rất thương và cho hai anh em ông đi học võ học, học đàn kìm. Đến năm mười tuổi thì ông thi đậu tiểu học và sang Vĩnh Long học ở đây được sự chăm nuôi của người cô thứ năm cho ông đi học chữ Hán với nhà thơ Thượng Tân Thị. Gia đình của ông có truyền thống, thông minh, học giỏi. Năm 1942 ông ra Hà Nội học y khoa tại đây cùng với Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấng (nay đổi thành Phạm Hữu Tùng), hoạt động trong khuôn khổ của tổng hội sinh viên. Do cảm nhạc quá xuất sắc, ông được cử làm nhạc trưởng của giảng nhạc trường, nhân đó ông giới thiệu những bài hát của Lưu Hữu Phước. Ngoài ra thì ông còn được tham gia nhiều phong trào như “truyền bá chữ Quốc Ngữ” của giáo sư Hoàn Xuân Hãn; “truyền bá vệ sinh” của cả sinh viên trường thuốc. Đến năm 1943 ông cưới bà Nguyễn Thị Sương, về sau có nhiều sự kiện nên ông phải xin thôi học trở về Nam. Con trai ông là Trần Quang Hải sinh năm 1944 sau cũng là nhà nghiêm cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam nổi tiếng.

Năm 1949 ông sang pháp du học, đến năm 1958 ông theo học khoa nhạc học và năm đó, ông thi đậu tiến sĩ văn, môn nhạc học của đại học Sorbonne luận văn của ông có tên là « LaMusique vietnamienne traditionnelle » (Âm nhạc truyền thống Việt Nam). Năm 1963 ông dạy trong trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương dưới sự bảo trợ của viện nhạc học Pari (Institut de Musicologie de Paris). Ông là thành viên của viện khoa học Pháp. Viện sĩ thông tấn viện hàn lâm Châu Âu về khoa học và còn là chủ tịch hội đồng khoa học của viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies). Không những thế mà ông đã đặt chân đến 67 nước trên thế giới để nói và giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam, đưa âm nhạc dân tộc Việt Nam vươn ra một tầm xa thế giới. Sau 50 nghiên cứu buôn ba và giảng dạy tại Pháp thì ông quyết định trở về Việt Nam. Ông cũng là người hiến tặng nhiều loại nhạc cụ và tài liệu âm nhạc mà ông dày công sưu tầm, nghiên cứu. Một số giải thưởng và thành tựu mà giáo sư đạt được trong suốt quãng thời gian cống hiến, năm 1949 ông đạt giải thưởng nhạc cụ dân tộc tại liên hoan thanh niên Budapest, huy chương bội tinh hạng nhất của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà, văn hoá bội tinh hạng nhất của Việt Nam Cộng Hoà, năm 1981 Giải thưởng âm nhạc của UNESCO ở Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (Prix UNESCO – CIM de la Musique)…

Giáo sư Trần Văn Khê là người từ đầu đã tích cực vận động UNESCO nhìn nhận Nhã nhạc cung đình Huế và các thể loại âm nhạc dân tộc khác như: Ca Trù, Hát Quan Họ, Hát Xoan, Đờn Ca Tài Tử.., tất cả đều được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại. Dành cả cuộc đời mình để nghiên cứu và tìm tòi về âm nhạc Giáo Sư Trần Văn Khê để lại một kho tàng tri thức lớn về âm nhạc ra thế giới và nhất là âm nhạc dân tộc Việt Nam, người đã ra sức sưu tầm nghiên cứu qua bề dày lịch sử và chiều sâu của nghệ thuật này với một đều mong muốn được làm và cống hiến những gì cho đất nước con người Việt Nam và thoả mãn với một trái tim yêu âm nhạc nồng cháy.

2. ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ – ÂM NHẠC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM“Đờn ca tài tử nam bộ” là một nền âm nhạc mang tính truyền thống, là món ăn tinh thần không thể thiếu của vùng Nam bộ, vì vậy cần có sự quan tâm duy trì và phát triển. Đờn ca tài tử Nam bộ là dòng nhạc dân tộc Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể. Đây là loại hình nghệ thuật của đàn và ca, do những người bình dân, giản dị, thanh niên nam nữ, nông thôn Nam bộ hát sau những giờ lao động. Tạo tinh thần thoải mái để làm việc tốt hơn, đối với những người nông dân đây còn là một thú vui tao nhã bình dị mang đậm chất Nam bộ. Đờn ca tài tử xuất hiện hơn một trăm năm trước, là loại hình diễn tấu có ban nhạc gồm bốn loại là đàn kim, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu. Đờn ca tài tử được du nhập vào miền Nam từ cuối thế kỷ XIX do ban nhạc sư gốc Trung Bộ là Nguyễn Quang Đại (hay còn gọi là Ba Đợi là nhạc quan triều đình nhà Nguyễn), và Trần Quang Quờn còn được gọi là (thầy ký Quờn) và Lê Tài Khị (nghệ danh là nhạc Khị) sáng tạo nên với mục đích chỉ để phục vụ nghe chơi với nhau giữa một số người trong hoàn cảnh nhất định. Không những thế đờn ca tài tử Nam bộ còn thu hút thêm nhiều đối tượng khác cùng tham gia và càng được phát triển rộng rãi hơn, không gian được mở rộng. Đối với đờn ca tài tử có ý nghĩa “tài tử” ở đây là “”người có tài” như trong thơ truyện Kiều “dập dìu tài tử giai nhân”. Ông nhạc Khị người chơi nhạc tài tử nổi tiếng vang danh ở xứ Bạc Liêu vào những năm đầu thế kỷ XX đã nói. “chơi đờn tài tử là coi như ra trận, hễ ca sai lời, sai nhịp, sai giọng, đờn sai nhạc, sai nhịp là coi như không phải đường ca tài tử”. Đờn ca tài tử là một loại nhạc thính phòng thường được trình diễn trong phạm vi không gian tương đối nhỏ như trong gia đình, tại đám cưới, đám giỗ, trong các lễ hội, sau những mùa thu hoạch của những người nông dân, thường được biểu diễn vào những đêm trăng sáng ở xóm làng do những người nông dân tổ chức quây quầng bên nhau hát vang cho một mùa bội thu. Các nhạc sĩ, nhạc quan của triều Nguyễn theo phong trào cần Vương tiến về phương Nam và mang theo nền âm nhạc này vào Nam bộ và được phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay.

Tài tử có nguồn gốc suất phát từ ca Huế, pha lẫn âm nhạc từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi. Loại nhạc này mang đậm tính giải trí vui chơi, để gửi gắm tâm sự riêng, đi cùng với bạn đồng điệu đờn ca cho mọi người cùng thưởng thức, chứ không thuộc loại nhạc dành cho các ngày lễ quan trọng. Khi được đưa vào Nam bộ và được những người nông dân ở đây biến tấu rèn luyện rất công phu, tập từng chữ nhấn, chữ chuyền, để trở thành một nét riêng biệt tạo thành một phong cách riêng, để có được đờn ca tài tử Nam bộ như ngày hôm nay. Lúc đầu thì chỉ có đờn, sao xuất hiện thêm nhiều hình thức như ca kết hợp với đờn nên người ta gọi nôm na đó là đờn ca. Giới chơi nhạc lựa chọn ra được 20 bài bản tiêu biểu cho bốn hơi điệu, bao gồm sáu bài Bắc diễn tả cho sự vui tươi, phóng khoáng, bẩy bài Hạ dùng trong tế lễ có tính trang nghiêm, 3 bài Nam diễn tả sự an nhàn, thanh thoát và 4 bài Oán diễn tả những cảnh sầu não, đau buồn, chia ly. Tất cả được gọi chung là “20 bài bản tổ”. Các loại nhạc cụ được dùng trong đờn ca tài tử bao gồm (đờn kim, đờn tranh, đờn cò, đờn tỳ bà, đờn tam). Theo truyền thống thì ít khi nhạc công độc tấu, mà thường song tấu, tam tấu, hòa tấu. Đôi khi thì còn có kết hợp với ống sáu ngang hay ống tiêu thổi dọc kèm song với nhau.

Trong quá trình chơi đờn ca tài tử ở Nam bộ, ông cha ta luôn có sự sáng tạo mới cho nền âm nhạc này. Ngoài 20 bản tổ ra thì theo thống kê của ông Nguyễn Văn Thinh tức là (giáo Thinh) năm 1945, nhạc tài tử Nam bộ gồm có tổng cộng 72 bài bao gồm 36 bài bắc bẩy bài lễ, ba bài nam, sáu bài oán và tám bài ngự, hai bài nhỉ và mười bài đọc thủ liên hườn. Đến giữa tháng 8 năm 1919 nhạc sĩ Cao Văn lầu đã công bố bản nhạc lòng bất hủ của mình chính là bản dạ cổ hoài lang, từ đó góp phần làm thêm phong phú các biểu thức của nhạc tài tử Nam bộ. Cách thức đèn thường được biểu diễn rất mộc mạc bao gồm tất cả mọi người cùng ngồi trên một bộ ván hoặc chiếu để biểu diễn với một phong cách đờn ca thảnh thơi, lãng đãng, dựa trên cái khung bài bản cố định gọi là “lòng bản” với một cách chơi đó đích thực là những tài tử những người tài năng và họ tạo cho mình một sự riêng biệt chỉ có ở Nam bộ. Loại hình đờn ca tài tử được phát triển mạnh mẽ từ thời xưa cho đến nay mặc dù hiện nay vẫn còn xen lẫn với nhiều nền âm nhạc khác nhau nhưng mỗi khi đến ngày lễ đình làng, họ vẫn tổ chức để thể hiện một truyền thống của nền dân tộc Việt Nam. Về trang phục, những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè là những người nông dân hay là những chòm xóm với nhau, ban đầu họ trình diễn rất mộc mạc bên chiếc áo bà ba hoặc bộ đồ nông dân, ngày sau xã hội càng phát triển con người càng biết làm đẹp cho bản thân mình nên họ tăng tiến thêm nhiều trang phục khác khi tham gia trình diễn ở đình, miếu hoặc trên sân khấu chẳng hạn như nữ mặc áo dài, nam áo dài khăn đóng.

Mỗi vùng miền đều có những nét văn hóa đặc sắc riêng tạo nên một giá trị đẹp riêng biệt. Đó còn là tài sản quý giá là cả một quá trình vun đắp, chăm bồi, phát triển, giữ gìn và truyền lại cho thế hệ mai sau. Xã hội càng phát triển con người càng chạy theo những cái mới, nền âm nhạc cũng vậy được du nhập thêm nhiều nền âm nhạc khác vào Việt Nam nên việc giới trẻ hiện nay càng quên lãng đi những nền âm nhạc truyền thống của ông cha ta gầy dựng nên. Là một sinh viên đựơc sinh ra và lớn lên trên mảnh đất có nhiều truyền thống tốt đẹp, em luôn ý thức được việc giữ gìn và phát triển nền văn hóa dân tộc không chỉ là việc phải làm mà đây chính là nghĩa vụ mà con người Việt Nam cần phát huy để đem nền văn hóa tốt đẹp của nước ta vươn ra một tầm xa của thế giới sánh vai với các cường quốc năm châu.

Xin trân trọng cảm ơn!

NGUYỄN QUỐC THỆ : Theo ông bà ta thì theo lịch âm cho đúng nên tròn 100 NĂM NGÀY SINH GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ LÀ NGÀY 20 THÁNG 6 ÂM LỊCH – ngày 29 tháng 7, 2021

Nguyễn Quốc Thệ

1tSp1daonsoreddhn  · 📣CUỘC THI TÌM HIỂU VỀ GS. TRẦN VĂN KHÊ VÀ ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM📣GS. Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 nhằm ngày 20 tháng 6 năm Tân Dậu. Theo ông bà ta thì theo lịch âm cho đúng nên tròn 100 NĂM NGÀY SINH GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ LÀ NGÀY 20 THÁNG 6 ÂM LỊCH – ngày 29 tháng 7 năm 2021.Mấy ngày qua, dịch covid quá phức tạp, tâm lý chúng ta dĩ nhiên bị áp lực rất lớn.

Nhiều bạn đăng ký rồi hẹn qua ngày … nên để cho trọn vẹn và có được sự tham gia đông đảo hơn, BTC xin thông báo:📅Hạn cuối nhận bài dự thi là hết ngày 26 tháng 7 năm 2021⏰

Điểm tương tác tính đến hết ngày 27 tháng 7 năm 2021🥇

Tổng kết, công bố vào ngày 29 tháng 7 năm 2021

Cảm ơn Quý anh chị em đã nhiệt tình tham gia.

Trân trọng!

NGUYỄN QUỐC THỆ

Thí sinh Phan Thị Huyền Trân – 011: VĂN KHÊ VÀ ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG1.CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP GS.TS TRẦN VĂN KHÊ – CÒN ĐÓ TRĂM NĂM VÀ MÃI MÃI

Nguyễn Quốc Thệ

YcleteShstercptodtfelliaoyando satu 7l:50oarei lAdMi  · 💧♥️Thí sinh Phan Thị Huyền Trân – 011

💧♥️ CỐ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ VÀ ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG1.CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP GS.TS TRẦN VĂN KHÊ – CÒN ĐÓ TRĂM NĂM VÀ MÃI MÃI

Tôi tên là Phan Thị Huyền Trân, tôi sinh ra và lớn lên trên mãnh đất Vĩnh Kim, Châu Thành, Tiền Giang. Là một trong những người trẻ có niềm đam mê và yêu thích âm nhạc truyền thống của dân tộc. Bản thân tôi là một người con của vùng đất Vĩnh Kim, quê hương của GS.TS Trần Văn Khê và là nơi gắn liền với nghệ thuật cải lương, đờn ca tài tài. Tôi cảm thấy thật vinh dự và tự hào khi quê hương mình sinh ra một tên tuổi lớn, một người con ưu tú, tài năng, tâm huyết và uyên bát như GS.TS Trần Văn Khê.

GS.TS Trần Văn Khê là một trong những cây đại thụ của làng âm nhạc dân tộc Việt Nam. Ông là một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền của dân tộc và là người có nhiều đóng góp trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, quảng bá văn hóa và âm nhạc truyền thống Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. Với sự kính trọng và lòng ngưỡng mộ của mình, tôi đã tìm hiểu về gia đình, cuộc đời và sự nghiệp của GS.TS Trần Văn Khê, càng thấy trân trọng, tự hào với những đóng góp của ông cho nền nghệ thuật nước nhà và mang hình ảnh, văn hóa đất nước Việt Nam với bạn bè quốc tế. Cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư Trần Văn Khê đã viết nên những trang sử vàng đáng nhớ, là một kho tàng quý báu cho nền âm nhạc Việt Nam.

GS.TS Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang). Vĩnh Kim là vùng đất có bề dày lịch sử văn hóa và cũng là cái nôi của nhạc tài tử, sân khấu cải lương Nam bộ. Nơi đây đã sinh ra cho nghệ thuật sân khấu Nam bộ nhiều danh cầm nổi tiếng cả nước. Trong đó có gia đình của của cố GS.TS Trần Văn Khê, khi cả bên ngoại và bên nội ông đều là những người trong giới nhạc truyền thống.

Cụ cố nội là Ông Trần Quang Thọ trước kia là nhạc công của triều đình Huế. Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm) là nghệ nhân đàn kìm, đàn tranh và chuyên về đàn tỳ bà. Cha ông là Trần Quang Chiêu mà giới tài tử trong Nam gọi là Bảy Triều, ông biết nhiều loại đàn nhưng đặc biệt nhất là đàn độc huyền (đàn bầu) và đàn kìm (đàn nguyệt). Cô là Trần Ngọc Viện tức Ba Viện, người sáng lập gánh hát Đồng Nữ Ban, bà chơi đàn rất hay .Cụ cố ngoại là Khâm sai Đại thần Nguyễn Tri Phương của triều Nguyễn. Ông ngoại là Nguyễn Tri Túc , là người truyền ngón đàn cho GS.TS Trần Văn Khê. Ông ngoại là người rất say mê âm nhạc và nuôi rất nhiều nhạc sĩ danh tiếng vùng Cần Đước – Vĩnh Kim và có ba người con cũng theo nghiệp đờn ca. Nguyễn Tri Lạc – Cậu Tư của GS.TS Trần Văn Khê, ông nghệ nhân đàn cò, đàn tranh và đánh trống nhạc lễ. Nguyễn Tri Khương là cậu thứ năm, ông là thầy dạy của GS.TS Trần Văn Khê đánh trống nhạc lễ và trống hát bội và là người sáng tác nhiều bản nhạc truyền thống, nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Mẹ của GS.TS Trần Văn Khê là bà Nguyễn Thị Dành (Tám Dành).

GS.TS Trần Văn Khê có hai người em là Trần Văn Trạch, một trong những nhạc sĩ nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975 và Trần Ngọc Sương, từng là ca sĩ với nghệ danh là Ngọc Sương, sau đổi lại là Thủy Ngọc trong những năm 1948 – 1950.

GS.TS Trần Văn Khê lập gia đình năm 1942 với bà Nguyễn Thị Sương và có bốn người con: Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh – Kiến trúc sư và Trần Thị Thủy Tiên, Trần Thị Thủy Ngọc – nữ nhạc sĩ đàn tranh, làm việc cho Ban nghiên cứu Đông Nam Á của Trung tâm Nghiên cứu khoa học ở Paris.

Qua phần giới thiệu, chia sẽ về gia đình của GS.TS Trần Văn Khê cho chúng thất được rằng GS.TS Trần Văn Khê được thừa hưởng, được sinh ra và lớn lên trong một gia đình khi cả bên ngoại và bên nội có 4 đời theo dòng âm nhạc truyền thống. Họ là những là những người danh cầm nổi tiếng, là người có tên tuổi trong giới nhạc truyền thống lúc bấy giờ và có công rất lớn trong việc truyền bá, phát triển dòng nhạc tài tử Nam bộ qua bao thế hệ.

Từ nhỏ, GS.TS Trần Văn Khê đã học rất giỏi, năm 10 tuổi ông đậu tiểu học, 13 tuổi đậu sơ học và tiếp tục học trung học tại Trường Pétrus Ký (còn gọi là Trường Trương Vĩnh Ký).

Năm 1941, Trần Văn Khê ra Hà Nội học y khoa, ông cùng Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Nguyễn Thành Nguyên hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội Sinh viên và được cử làm nhạc trưởng của dàn nhạc trường. Ông còn tham gia phong trào « Truyền bá quốc ngữ », « Truyền bá vệ sinh », rồi tham gia kháng chiến trong phong trào « Thanh niên Tiền phong » tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Đến năm 1946, khi Pháp tấn công đánh chiếm lục tỉnh, các cơ quan bộ đội rút vào hoạt động bí mật. Trần Văn Khê trở về Sài Gòn và đi dạy học tại các trường tư, đồng thời làm thêm nghề mới là viết báo. Ông tham gia nhóm kháng chiến do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, sau là Mai Văn Bộ chỉ huy. Năm 1948, nhóm kháng chiến tại thành bị lộ, Trần Văn Khê bị bắt và giam tại khám Catinat, ông bị giam hai tuần sau đó được thả ra vì không có chứng cớ, nhưng từ đó bị mật thám theo dõi.

Năm 1949, Trần Văn Khê sang Pháp du học và học tại viện Khoa học Chánh trị Paris và từ đó ông bắt đầu hành trình hơn 50 năm bôn ba năm châu bốn biển của mình.

Năm 1951 ông tốt nghiệp Khoa học Chánh trị và Khoa Giao dịch Quốc tế và học Anh văn tại Đại học Văn khoa Paris.

Cuối năm 1954, ông theo học và chuẩn bị làm luận án tiến sĩ tại Khoa Âm nhạc trường Đại học Sorbonne, Paris với đề tài « Âm nhạc truyền thống Việt Nam ».

Đến tháng 6 năm 1958, ông bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ cùng với đề tài phụ « Khổng tử và âm nhạc ». Từ đây ông bắt đầu những bước đầu tiên trên chặng đường dài nghiên cứu, giảng dạy và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam

.Với tài năng và tâm huyết của mình, GS.TS Trần Văn Khê đã tạo dựng được uy tín rất cao trong giới nghiên cứu âm nhạc thế giới và trở thành thành viên của nhiều tổ chức âm nhạc quốc tế: Thành viên của Viện hàn lâm khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm Châu âu về Khoa học văn chương và nghệ thuật, là thành viên rồi giữ vai trò Phó chủ tịch Hội đồng Quốc tế Âm nhạc của UNESCO, 10 năm liền được tín nhiệm ở vai trò Chủ tịch Ban tuyển chọn quốc tế của Diễn đàn âm nhạc châu Á, Tiến sĩ âm nhạc danh dự của Đại học Ottawa, Đại học Monoton (Canada) và là thành viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế và các nước

Trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy, trình diễn và quảng bá âm nhạc dân tộc của GS. TS Trần Văn Khê, ông đã tham dự hơn 200 hội nghị quốc tế về âm nhạc và âm nhạc học trên 67 quốc gia, gần 20 liên hoan quốc tế về âm nhạc khắp năm châu, đăng gần 200 vài viết bằng tiếng Pháp, tiếng Anh và được dịch ra nhiều thứ tiếng như Đức, Trung Quốc, Ả Rập; Ghi âm trên 600 giờ âm nhạc và trao đổi với nghệ nhân, nghệ sĩ Việt Nam, 300 giờ âm nhạc châu Á, châu Phi, chụp 8.000 ngàn ảnh về sinh hoạt âm nhạc của nhiều nước; Thu thập 500 đĩa hát của các nước, thực hiện 15 đĩa hát về âm nhạc truyền thống Việt Nam và thực hiện nhiều phim ngắn về dân tộc nhạc học. GS. TS Trần Văn Khê là người đã có những đóng góp quan trọng trong việc đưa Ca trù, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Đờn ca tài tử Nam Bộ trở thành di sản phi vật thể của thế giới.

Năm 2006, GS.TS Trần Văn Khê trở về Việt Nam sau hơn nửa thế kỷ sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Với rất nhiều tư liệu nghiên cứu quí giá bằng sách, sổ ghi chép và băng đĩa, ông cùng các cán bộ ngành văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh và những người cộng sự xây dựng Thư viện Trần Văn Khê phục vụ nhu cầu nghiên cứu âm nhạc dân tộc, đồng thời tổ chức hàng trăm buổi biểu diễn, nói chuyện, giao lưu với công chúng. Nơi ở của ông đã thực sự trở thành một địa chỉ văn hóa quen thuộc, thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu, nghệ sĩ và khán giả trong và ngoài nước.

Với nhiều đóng góp cho sự nghiệp âm nhạc thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, GS.TS Trần Văn Khê là người Việt Nam đầu tiên được ghi danh và tiểu sử vào cuốn « Đại từ điển Âm nhạc thế giới ». Bên cạnh đó, ông còn nhận được nhiều huy chương, bằng danh dự và nhiều giải thưởng cao quý: Giải Nhì phần thi biểu diễn nhạc dân tộc tại Đại hội Liên hoan Thanh niên tổ chức tại thành phố Budapest, Cộng hòa Hunggary; Giải thưởng « Deutscher Schallplatten Preis » của Cộng hòa Liên bang Đức cho dĩa hát « Việt Nam I » phát hành năm 1967; « Giải thưởng lớn” Về dân tộc nhạc học của Hàn lâm viện Dĩa hát Pháp; Bằng khen và Hội viên Danh dự của Hội nghệ sĩ Ái Hữu; Tiến sĩ Âm nhạc danh dự của Đại học Ottawa, Canada; Giải thưởng của UNESCO về Âm nhạc; Huân chương Văn hóa Nghệ thuật của Chính phủ Pháp; Giải thưởng « Dĩa hát hay nhất trong năm 1994 » của Cộng hòa Liên bang Đức và Giải thưởng « Choc » của Tạp chí Thế giới âm nhạc ở Pháp cho dĩa hát « Việt Nam và đàn tranh »; Giải thưởng Koizumi Fumio về dân tộc nhạc học của Nhật Bản; Huy chương Vì sự nghiệp Văn hóa quần chúng của Bộ Văn hóa – Thông tin; Tiến sĩ Âm nhạc danh dự đại học Monoton, Cannada; Huân chương Lao động hạng Nhất do Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Trần Đức Lương ký; Giải thưởng Đào Tấn do Trung tâm Nghiên cứu, Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc trao tặng; Giải thưởng Phan Châu Trinh về những đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu và quảng bá âm nhạc dân tộc do Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh trao tặng…Ngoài ra ông còn rất nhiều những bằng khen, huân chương, huy hiệu, những quà tặng lưu niệm của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước trao tặng.

Nhắc đến Giáo sư Trần Văn Khê, đó không chỉ là những công trình nghiên cứu giá trị, là khối lượng kiến thức uyên thâm, mà còn ở nhân cách sống cao quý, đầy tình thương. Gia đình, đồng nghiệp, học trò, giới mộ điệu âm nhạc, bạn bè trong và ngoài nước luôn dành cho cho ông những sự kính trọng, ngưỡng mộ và những tình cảm chân thành nhất.

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của GS.TS Trần Văn Khê (24/7/1921 – 24/7/2021), thông qua bài viết này tôi muốn giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của GS.TS Trần Văn Khê nhằm tuyên truyền, giới thiệu nhất là thế hệ trẻ tìm hiểu, học hỏi và giữ gìn phát huy giá trị nền âm nhạc dân tộc và hiểu thêm về GS.TS Trần Văn Khê, một con người tài ba, uyên bát và đầy tâm huyết. Người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho âm nhạc dân tộc. Qua đó thể hiện lòng trân trọng, ngưỡng mộ, tôn vinh những đóng góp của ông cho nền nghệ thuật nước nhà và mang hình ảnh, văn hóa Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. « Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê – Người cả cuộc đời đã cống hiến cho âm nhạc Việt Nam, góp phần to lớn trong việc truyền bá văn hóa Việt Nam bằng tri thức âm nhạc. Trí tuệ, uy tín, tài năng, tâm huyết và sáng tạo của ông mãi mãi là tài sản quý báu của Văn hóa Việt Nam. » Đó là lời của Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ghi sổ tang trong Lễ viếng GS.TS Trần Văn Khê, năm 2015.

GS.TS Trần Văn Khê đã ra đi nhưng trí tuệ, uy tín, tài năng, tâm huyết và sự cống hiến của ông mãi là tài sản quý báu của văn hóa Việt Nam. “Cuộc đời và sự nghiệp GS.TS Trần Văn Khê – Còn đó trăm năm và mãi mãi ”, còn mãi những tài sản mà ông để lại. Tài sản đó không chỉ là những công trình nghiên cứu giá trị, là khối lượng kiến thức uyên thâm, mà còn ở nhân cách sống cao quý, đầy tình thương của cả kiếp người. Tài sản đó cần được bảo vệ và phát huy không chỉ cho hôm nay mà cả các thế hệ mai sau. Sẽ mãi nhớ về ông, người đã sống và cống hiến hết mình cho âm nhạc dân tộc Việt Nam ./

.2.CHIA SẺ VÀ CẢM NHẬN VỀ NGHỆ THUẬT ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ

Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống đặc trưng của vùng Nam Bộ, được hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ XIX, được sáng tạo dựa trên dòng nhạc Lễ, nhã nhạc cung đình Huế, văn học dân gian và những giai điệu ngọt ngào, sâu lắng của dân ca miền Trung, dân ca miền Nam.

“Tài tử” tức là người chơi nhạc có biệt tài, giỏi về ca nhạc. Lúc đầu chỉ có đờn, sau xuất hiện thêm hình thức ca nên gọi là “Đờn ca”.

Nghệ thuật Đờn ca tài tử là loại hình diễn tấu gồm các loại nhạc cụ chính: đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, đàn bầu. Ngoài ra, trong quá trình biểu diễn nhạc tài tử còn kết hợp với các nhạc cụ khác như: Đàn sến, đàn bầu, sáo, tiêu, đàn Ghi-ta phím lõm, Song lang,…..

Nghệ thuật Đờn ca tài tử gồm 20 bản tổ chia ra 4 loại theo 4 mùa (Xuân, Hạ, Thu, Ðông) và 4 hướng (Ðông, Tây, Nam, Bắc) gồm: Ba Nam, Sáu Bắc, Bảy Lễ, Tứ Oán. • 3 bài Nam gồm: Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đảo.• 6 bài Bắc gồm: Lưu Thủy, Xuân Tình, Phú Lục , Bình Bán, Tây Thi, Cổ Bản.• 7 bài Lễ gồm: Xàng Xê, Ngũ Đối Thượng, Ngũ Ðối Hạ, Long Ðăng, Long Ngâm, Vạn Giá, Tiểu Khúc• 4 bài Oán gồm: Tứ Ðại Oán, Giang Nam, Phụng Cầu Hoàng, Phụng Hoàng Cầu. 4 bài Oán phụ gồm: Văn Thiên Tường, Bình Sa Lạc Nhạn, Thanh Dạ Đề Quyên, Xuân Nữ

Nghệ thuật trình diễn của đờn ca tài tử đậm chất Nam Bộ. Đó là sự kết hợp tinh tế, hòa quyện giữa tiếng đờn, lời ca và điệu diễn. Những người tham gia đờn ca tài tử thường là bạn bè, chòm xóm tập trung lại để cùng chia sẻ thú vui tao nhã, nên thường không câu nệ về trang phục, thời gian, địa điểm. Dàn nhạc thường ngồi trên một bộ ván hoặc chiếu để biểu diễn dựa trên khung bài bản gọi là “lòng bản”. Họ có thể ngồi với nhau ca hát ở ngoài đồng ruộng, sân vườn, trong nhà hay bất cứ nơi đâu, cùng nhau nhâm nhi từng ly trà, chén rượu, thỏa lòng đam mê, giao lưu ca hát sau những ngày làm việc, lao động vất vả….Chính vì vậy, có thể nói đờn ca tài tử là một môn nghệ thuật dân gian truyền thống mang đậm nét dân dã, mộc mạc, chân phương và gần gũi với người dân.

Tôi sinh ra và lớn lên tại Vĩnh Kim, Châu Thành, Tiền Giang. Gia đình tôi sinh sống tại mảnh đất này qua bao thế hệ, ông bà, cha mẹ, anh chị em của tôi đều rất yêu thích bộ môn cải lương, đờn ca tài tử. Từ nhỏ tôi đã được nghe những điệu hò, câu hát, những vở cải lương, những bài vọng cổ, có lẽ chính vì thế nó đã ăn sâu vào trong tiềm thức và làm tôi đam mê, yêu thích dòng nhạc này. Tôi rất thích hát và thích nghe dòng nhạc tài tử, những giai điệu của 20 bài tổ, những tuồng cải lương, những câu vọng cổ, từng tiếng đàn, lời ca mang những nét gần gũi, chân chất, bình dị, mộc mạc, đậm chất vùng đất Nam Bộ. Đi đến đâu tôi cũng muốn giới thiệu, quảng bá bộ môn nghệ thuật này vì nó là “đặc sản”, là niềm tự hào của miền Tây quê hương mình. Nói về nghệ thuật đờn ca tài tử thì không thể nào không nhắc đến GS.TS Trần Văn Khê. Ông cũng đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, giới thiệu, quảng bá về nghệ thuật đờn ca tài tử đến khắp nơi trong và ngoài nước và là người góp phần đưa đờn ca tài tử vinh dự được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Qua đó thể hiện sự trân trọng và ngưỡng mộ của cộng đồng quốc tế đối với loại hình nghệ thuật truyền thống độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.

Nghệ thuật Đờn ca tài tử đã tồn tại hơn một thế kỷ qua và có sức lan tỏa vô cùng mạnh mẽ. Đây là loại hình di sản văn hóa phi vật thể mang tính dân gian, truyền miệng rất độc đáo, là món ăn tinh thần và đặc trưng của người dân Nam Bộ. Đờn ca tài tử thể hiện trí tuệ, tâm huyết, tình cảm và sáng tạo của nhiều thế hệ nghệ sĩ, tạo nên một nền âm nhạc truyền thống dân tộc mang nội dung, tư tưởng tiến bộ, phản ánh “cái đẹp” trong cuộc sống xã hội, ngợi ca tình yêu quê hương, đất nước, tưởng nhớ tri ân các anh hùng dân tộc, góp phần giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống con người theo các giá trị chân – thiện – mỹ, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển phong phú và đa dạng cho kho tàng văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Chúng ta hãy cùng chung tay bảo tồn và phát huy giá trị của nghệ thuật Đờn ca tài tử, góp phần giữ gìn những bộ môn nghệ thuật truyền thống, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam./.

Vĩnh Kim – Châu Thành – Tiền Giang,

07/2021 Phan Thị Huyền Trân

TÌM HIỂU VỀ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ & ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM NHÂN DỊP 100 NĂM NGÀY SINH GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

TÌM HIỂU VỀ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ & ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM NHÂN DỊP 100 NĂM NGÀY SINH GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

Nguyễn Quốc Thệ

t7Sgponshroored  · 📣CUỘC THI 📣TÌM HIỂU VỀ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ & ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM NHÂN DỊP 100 NĂM NGÀY SINH GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ.

Mục đích – Ý nghĩa – Người dự thi:-

Thiết thực kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cố Giáo sư Trần Văn Khê – Người có đóng góp lớn cho nền âm nhạc truyền thống Việt Nam, nhất là nghiên cứu và quảng bá âm nhạc Việt Nam ra thế giới ;

– Tôn vinh giá trị của nền âm nhạc truyền thống Việt Nam ;

– Khuyến khích giới trẻ tìm hiểu, học hỏi và giữ gìn nền âm nhạc dân tộc;

– Âm nhạc truyền thống có ý nghĩa rất lớn đối với ngành Du lịch nên đặc biệt hướng đối tượng tham gia cuộc thi vào Hướng dẫn viên du lịch và người làm Du lịch;

– Người dự thi: tuổi từ 16 đến 70, không giới hạn địa phương hay lĩnh vực hoạt động, khuyến khích các bạn học sinh, sinh viên và người làm văn hóa – du lịch.

2. Hình thức:

Bài dự thi gồm hai phần là bài viết và video clip + Lan tỏa bài viết, video clip trên Facebook & Youtube (Phần dự thi video clip không bắt buộc)

– Bài viết dự thi:o Nội dung gồm 2 phần:

 Giới thiệu, chia sẻ, cảm nhận về cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư Trần Văn Khê cũng như những đóng góp lớn lao của Thầy trong việc nghiên cứu và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới

Giới thiệu, chia sẻ, cảm nhận về một hình thức âm nhạc truyền thống Việt Nam hoặc một nhạc cụ dân tộc (Trong giới hạn sau: Ca trù, Quan họ, Hát xoan, Ví dặm, Nhã nhạc cung đình Huế, Bài chòi, Đờn ca tài tử Nam bộ, Hát ru, Hò, Lý; đàn Bầu, đàn Tranh, đàn Kìm, đàn Cò, Sáo, Song lang)o Dung lượng: không quá 2000 chữ với quy định:

 Bài tự viết bằng tình cảm và hiểu biết của cá nhân, không sao chép nguyên văn – dán

 Chữ Times New Roman, kích 13, giãn dòng 1.15o Điểm tối đa: 150 điểm- Video clip dự thi (không bắt buộc):o Nội dung:

 Thể hiện một làn điệu, các bài hát thuộc các hình thức âm nhạc truyền thống dân tộc sau: Ca trù, Quan họ, Đờn ca tài tử Nam bộ, Vọng cổ, Hát ru, Hò, Lý, Ngâm thơ

 Hát mộc, không có hỗ trợ âm thanh, âm nhạco Quy định:

 Clip có độ dài từ 4 – 5 phút gồm phần giới thiệu không dài quá 1 phút

 Trang phục đẹp, khuyến khích trang phục phù hợp thể loại lựa chọn

 Chỉ cần chú trọng cách hát đúng thể điệu, thể hiện cảm xúc tốt, không yêu cầu dàn dựng clip quá công phu. Ví dụ: Hát vọng cổ; Hát các bài lý; Thể hiện các câu hò; Ngâm Kiều, . . .o Điểm tối đa: 150 điểm- Lan tỏa trên Facebook & Youtube:o Facebook:

 BTC đăng bài viết (phần thi viết) được chọn lên trang Facebook của BTC, người dự thi Chia sẻ về trang nhà và kêu gọi chia sẻ từ bài trên trang nhà. Mỗi lượt Chia sẻ (mỗi FB cá nhận chỉ tính 1 lần) được 2 điểm, mỗi bình luận (không tính icon) được tính 1 điểm. Số điểm: không giới hạno Youtube:

 BTC đăng video clip được chọn lên trang Youtube của BTC, người dự thi Chia sẻ đường link về trang FB nhà và kêu gọi chia sẻ từ bài đăng trên trang nhà. Mỗi lượt Chia sẻ (mỗi FB cá nhận chỉ tính 1 lần) được 2 điểm, mỗi bình luận (không tính icon) được tính 1 điểm, mỗi bình luận có nhắc họ tên người dự thi trên bình luận Youtube được tính 2 điểm. Số điểm: không giới hạn.

3. Thời gian:- Nhận bài từ ngày 08/07/2021 đến hết ngày 22/07/2021

– Nhận bài, BTC xét duyệt, thông báo cho người dự thi và đăng Facebook, Youtube

– Tính điểm Lan tỏa đến 23h59 phút ngày 23/07/2021

– Công bố kết quả: 18h ngày 24/07/2021

– Ngày sinh nhật lần thứ 100 của cố GS.TS. Trần Văn Khê.

4. Giải thưởng: – Một giải “Vinh danh truyền thống âm nhạc”:o Hiện kim: 5 triệu đồngo Hiện vật: trị giá 3 triệu đồng

– Một giải “Lưu giữ truyền thống âm nhạc”:o Hiện kim: 3 triệu đồngo Hiện vật: trị giá 2 triệu đồng

– Hai giải “Phát triển truyền thống âm nhạc”:o Hiện kim: 2 triệu đồngo Hiện vật: trị giá 1 triệu đồng

– Ba giải “Ái mộ truyền thống âm nhạc”:o Hiện kim: 1 triệu đồngo Hiện vật: trị giá 1 triệu đồngGhi chú:

o Tổng giá trị giải thưởng (hiện vật, hiện kim, quà tặng) trên 60 triệu đồngo Hiện vật: là tặng phẩm riêng, có giá trị của nhà tài trợ VietHealth Groupo

Mỗi giải được nhà thư pháp Nguyễn Hiếu Tín tặng bức thư pháp có nội dung là những câu nói để đời của Giáo sư Trần Văn Khêo

Mỗi giải được Trường Trung cấp Y Dược Vạn Hạnh tặng voucher trị giá 2 triệu đồng cho những khóa học ngắn hạn tại trường.

5. Ban giám khảo:

– GS.TS. Trần Quang Hải (con trai trưởng của Giáo sư Trần Văn Khê) – Trưởng BGK

– Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện (Viện Hán Nôm)

– Nhà báo Lương Hoàng Hưng (Tạp chí Sở hữu Trí tuệ & Sáng tạo)

– Tiến sĩ Thái Huy Phong (VietHealth Group)

– Thạc sĩ Nguyễn Hiếu Tín (Trường Tôn Đức Thắng)

– Thạc sĩ Nguyễn Quốc Thệ (Trường Vạn Hạnh)

6. Ban tổ chức:- ThS. Nguyễn Quốc Thệ – Hiệu trưởng Trường Trung cấp Y Dược Vạn Hạnh

– Nhà báo Lương Hoàng Hưng – Tổng biên tập Tạp chí Sở hữu Trí tuệ & Sáng tạo

– TS. Thái Huy Phong – Chủ tịch Tập đoàn sức khỏe Việt (VietHealth Group)

– ThS. Nguyễn Hiếu Tín – Trưởng bộ môn Du lịch – ĐH Tôn Đức Thắng

– Bảo trợ truyền thông: Tạp chí Sở hữu Trí tuệ & Sáng tạo, Trung tâm Anh ngữ TSES7.

Quy định khác:- Bản quyền bài dự thi thuộc về BTC- BTC được quyền đăng đúng mục đích trên Facebook, Youtube- Buổi trao giải sẽ tổ chức qua Zoom và công bố trên facebook, báo chí- Giải thưởng sẽ được gửi đến người đoạt giải chậm nhất một tuần lễ sau ngày công bố8.

Bài dự thi:- Bài dự thi viết gửi file word và file PDF về email: tranvankhe100nam@gmail.com- Bài dự thi video clip gửi về email: tranvankhe100nam@gmail.com- Khi gửi email ghi: Họ tên, năm sinh, địa chỉ, số điện thoại, số CMT/CCCD và đơn vị tham gia (nếu muốn). Bài dự thi được BTC chọn sẽ được đăng trên:

o Facebook: Nguyễn Quốc Thệ (https://www.facebook.com/tn1606)

o Youtube: Nguyễn Quốc Thệ

BTC kính mời Quý vị nhiệt tình tham gia vì mục đích chính là tưởng nhớ Giáo sư Trần Văn Khê và tôn vinh nền âm nhạc truyền thống dân tộc Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Giáo sư Trần Văn Khê.Mọi thắc mắc, vui lòng liên hệ:

Anh Nguyễn Quốc Thệ – 0907 078 079 (Zalo)

Anh Nguyễn Hiếu Tín – 0913 749 791 (Zalo)

Trân trọng!

BAN TỔ CHỨC

https://l.facebook.com/l.php…http://www.hoinhacsi.vn/ban-chuc-cuoc-thi-tim-hieu-ve…https://tranvankhe-tranquanghai.com/…/ban-to…/…

cuốn BƯỚC ĐƯỜNG CỦA CẢI LƯƠNG của tác giả Nguyễn Tuấn Khanh.

GS TRẦN VĂN KHÊ: Ngoài cụ Cao Văn Lầu, cũng nên nhắc lại tên vài người đã hợp sức với cụ Sáu Lầu đổi tên DẠ CỔ HOÀI LANG và đặt lời ca.Sáng nay sau khi đọc những dòng tin tưởng niệm 6 năm ngày mất Thầy Khê thì người giao hàng đến gửi bưu phẩm là những cuốn sách mình đã đặt mua, trong đó có cuốn BƯỚC ĐƯỜNG CỦA CẢI LƯƠNG của tác giả Nguyễn Tuấn Khanh.Bởi vì đang đọc tài liệu về bộ môn đờn ca tài tử- cải lương thành ra thấy tựa sách mình đặt mua để tham khảo.

Mở sách ra đọc thật bất ngờ, gần nửa cuốn sách, 111 trang phân tích về bản “Dạ cổ hoài lang”, đây cũng là điều mình trăn trở nhiều năm qua, bởi lúc sinh thời, Thầy Khê có nhắc chuyện này về ông Sáu Lầu, mình tiếc hoài vì bỏ qua dịp hỏi Thầy cặn kẽ. Nay giở cuốn sách, có bài phân tích trọn vẹn của Thầy cũng như sự khảo cứu công phu của tác giả Nguyễn Tuấn Khanh.

Kết luận của Thầy trong bài tham luận “Khi bài Dạ cổ hoài lang trở thành Vọng cổ nhịp tám đến sau, thì đã trở nên một sáng tác “tập thể”, chứ không còn là sáng tác riêng của cụ Cao Văn Lầu. Dầu sao, uống nước vẫn nhớ nguồn, chúng ta vẫn nhớ ơn người sanh ra bài Dạ cổ hoài lang lần đầu. Ngoài cụ Cao Văn Lầu, có lẽ cũng nên nhắc lại tên vài người đã hợp sức với cụ Sáu Lầu đổi tên Dạ cổ hoài lang và đặt lời ca. (Bình Thạnh, 22/7/2009)

Con cảm ơn Thầy nơi cửu tuyền vẫn theo dõi và hỗ trợ con trong sứ mệnh “thiết tha với văn hóa truyền thống Việt Nam”

NHẠC PHẨM « CHO EM QUÊN TUỔI NGỌC » lời Pháp được dịch ra tiếng Việt.

Pháp Music (Âm Nhạc Pháp)

CHO EM QUÊN TUỔI NGỌC

Ðây, có lẽ, là ca khúc duy nhất nhạc sĩ Lam Phương viết bằng tiếng Pháp. Chính xác hơn, ông đã viết lời bằng hai thứ tiếng Pháp và Việt. Năm 1984, xa quê hương ngộ cố tri là danh ca Bạch Yến tại Pháp, ông đã viết tặng bà bản nhạc này. Lúc ấy, ông quen biết Bạch Yến đã hơn 30 năm nên từng lời ca nốt nhạc đều được soạn riêng cho tiếng hát của bà. Kể từ ấy, bài hát đã trở nên nổi tiếng qua giọng ca Bạch Yến và… nhiều nữ ca sĩ khác.

https://www.youtube.com/watch?v=kq3dwlztvpAASIA 77» Cho Em Quên Tuổi Ngọc – Hoàng Kim

https://www.youtube.com/watch?v=x4jBS1cWEt4C’est Toi (Cho em quên tuổi ngọc) – Z (Lam Phương – Trà My)

https://www.youtube.com/watch?v=PdPxBasOkzk

C’est toi qui emportes mon coeur au firmament

et qui me fais envie a` chaque instant, a` chaque moment.

Il n’y a que la mort qui change mon sort.

C’est toi qui veux oublier tous nos souvenirs

et qui fais vite pa^lir mon doux sourire.

A` cause de toi, j’entends murmurer les feuilles jaunies

Dans le reve tout est fleuri

Dans la vie tout est fini.

Chagrin, chagrin, c’est toi qui me tourmentes et me poursuis a` l’infini.

Amour, tu me delaisses, tu t’enfuis, tu t’enfuis

Amour, je ne peux plus te voir Tu sais pourquoi!

Mais le bonheur ne dure qu’un seul soir

Il ne reste que ton image gravee dans ma me’moire

CHO EM QUÊN TUỔI NGỌCC’est Toi!

Một bài hát hiếm có, với sự chau chuốt và đẹp tuyệt vời ở cả lời Việt lẫn lời Pháp, trong giai điệu thật Tây và thật lãng mạn, được sáng tác bởi một nhạc sỹ Việt 100%!

Xin phép được dịch “thô thiển” lời tiếng Pháp của cố nhạc sỹ Lam Phương dưới đây, lời Pháp gốc của nhạc sỹ ở trong post share phía dưới. Xin hãy nghe version của Bạch Yến để cảm nhận được hết nỗi niềm trao gửi trong lời ca giọng hát!*

Nếu có sai sót nhờ các Anh Chị góp ý giúp! 🙏~~~~~~~~~~~~

Chính em (C’est Toi)

Chính em, là người cuốn trôi mãi mãi trái tim anh

và là người khiến anh ghen tị mỗi phút giây

Chỉ có cái chết mới thay đổi được nỗi niềm ấy của anh.

Chính em là người muốn quên hết những kỉ niệm của chúng ta

và người nhanh chóng làm phai nhạt nụ cười ngọt ngào của anh.

Bởi vì em, anh nghe thấy tiếng lá vàng thì thầm

Trong giấc mơ, vạn vật đơm hoa trong cuộc đời, mọi chuyện đã qua.

Nỗi buồn, nỗi buồn, chính em là người dày vò anh,và theo đuổi anh vào cõi vô tận

Tình yêu, em bỏ rơi anh, em đã ra đi, em chạy trốn

Tình yêu, anh không thể gặp em lần nữa, em hiểu tại sao rồi đấy!

Nhưng hạnh phúc chỉ kéo dài trong một đêm ngắn ngủi,chỉ còn hình bóng em khắc sâu trong ký ức anh~~~~~~~~~Pháp Music (Âm Nhạc Pháp)

Lời dịch của QUAN DANG