Catégorie : NHẠC SĨ VIỆT NAM

Đức Anh: Xây dựng tượng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bên bờ biển Quy Nhơn

Xây dựng tượng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bên bờ biển Quy Nhơn

14-10-2019 – 04:33 PM | Văn nghệ Chia sẻ

(NLĐO) – Tỉnh Bình Định đang tiến hành thực hiện chủ trương xây dựng tượng nghệ thuật nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tại công viên bên bờ biển TP Quy Nhơn.

Ngày 14-10, Văn phòng UBND tỉnh Bình Định xác nhận Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Tuấn Thanh vừa có văn bản gửi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH-TT-DL) về việc xây dựng tượng nghệ thuật nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Xây dựng tượng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bên bờ biển Quy Nhơn - Ảnh 1.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thời đi học tại Trường Sư phạm Quy Nhơn. Ảnh tư liệu

Theo UBND tỉnh Bình Định, Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ nổi tiếng của nền âm nhạc Việt Nam. Ông đã từng sống, học tập tại Trường Sư phạm Quy Nhơn (nay là Trường ĐH Quy Nhơn) và sáng tác nhiều ca khúc nổi tiếng tại Quy Nhơn, như: Hoa buồn, Chiều Chủ nhật buồn, Vết lăn trầm, Nắng thủy tinh, Cát bụi… Trong đó, đặc biệt nhất là ca khúc Biển nhớ. Sau này, ông thỉnh thoảng quay về Quy Nhơn để gặp lại bạn bè, ôn kỷ niệm xưa. TP Quy Nhơn nói riêng và tỉnh Bình Định nói chung tự hào vì là nơi được nhạc sĩ quý mến.

Với ý nghĩa trên, tỉnh Bình Định đã có chủ trương xây dựng tượng nghệ thuật nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tại TP Quy Nhơn nhằm giới thiệu và tạo điểm nhấn đô thị, quảng bá hình ảnh của nhạc sĩ đến với người dân địa phương và du khách.

Xây dựng tượng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bên bờ biển Quy Nhơn - Ảnh 2.

Ước đoán, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã sáng tác khoảng hơn 600 ca khúc

Theo đó, tượng nghệ thuật nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có chủ đề: Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với tác phẩm « Biển nhớ » bên bờ biển Quy Nhơn. Cụ thể, tạc tượng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ở độ tuổi trung niên, ngồi đánh đàn guitar, bên cạnh là tổng phổ bài hát Biển nhớ, có khắc nhạc và lời. Tượng cao 2,4m, bệ tượng cao 0,75m, chất liệu đá Bình Định. Tượng dự kiến đặt tại công viên bên bờ biển Quy Nhơn, đoạn gần Trường ĐH Quy Nhơn – nơi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng học.

Đến nay, tác giả thực hiện tượng đã chỉnh sửa, hoàn thiện phác thảo tượng nghệ thuật nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tỉ lệ 1/1 bằng đất sét. Qua đó, UBND tỉnh Bình Định đề nghị Bộ VH-TT-DL xem xét, cho ý kiến về phác thảo và địa điểm xây dựng tượng để có cơ sở triển khai thực hiện các bước tiếp theo.

Trước đó, cuối năm 2018, HĐND tỉnh Bình Định cũng có nghị quyết thống nhất lấy tên nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đặt cho con đường số 1 mới mở trong năm có chiều dài khoảng 200m, nối đường An Dương Vương sát biển Quy Nhơn với đường Đặng Văn Chấn ở phường Nguyễn Văn Cừ, TP Quy Nhơn.

Xây dựng tượng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bên bờ biển Quy Nhơn - Ảnh 3.

Bờ biển Quy Nhơn, nơi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn một thời gắn bó

Được biết, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sinh năm 1939 tại tỉnh Thừa Thiên – Huế, qua đời vào ngày 1-4-2001. Ông được coi là một trong những nhạc sĩ lớn của âm nhạc đại chúng, tân nhạc Việt Nam với nhiều tác phẩm rất phổ biến. Hiện nay chưa có thống kê chính xác về số tác phẩm để lại của ông nhưng ước đoán không dưới 600 ca khúc. Tuy nhiên, số ca khúc của ông được biết đến rộng rãi là 236 ca khúc (cả lời và nhạc). Nhạc của Trịnh Công Sơn được nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng thành công hơn cả là Khánh Ly và Hồng Nhung. Ngoài ra, ông còn được xem là nhà thơ, họa sĩ, ca sĩ và diễn viên không chuyên. Tin, ảnh: Đức Anh

https://nld.com.vn/van-nghe/xay-dung-tuong-nhac-si-trinh-cong-son-ben-bo-bien-quy-nhon-20191014162330582.htm

VƯƠNG ĐẰNG biên soạn: Nhạc sĩ Minh Kỳ – Một đời tài hoa và vắn số

Nhạc sĩ Minh Kỳ – Một đời tài hoa và vắn số
         Nhạc sĩ Minh Kỳ sinh năm 1930, tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh Mỹ, là cháu đời thứ năm của vua Minh Mạng, có vai vế ngang với vua Bảo Đại, và là người con duy nhất của một gia đình khá giả thuộc hoàng tộc nhà Nguyễn ở Nha Trang.
         Ông trải qua thời thơ ấu và thời thanh niên tại Nha Trang nên có nhiều kỷ niệm với thành phố miền duyên hải này. Năm 1959, 7 năm sau khi lập gia đình, ông chuyển vào Sài Gòn hoạt động văn nghệ, sáng tác những nhạc phẩm phù hợp với thị hiếu của đại chúng và kết hợp với nhạc sĩ Lê Dinh và nhạc sĩ Anh Bằng, cho ra mắt những nhạc phẩm để giới thiệu trên làn sóng Đài phát thanh hay những chương trình ca nhạc của các hãng đĩa.

Bộ ba Lê Minh Bằng: Anh Bằng – Minh Kỳ – Lê Dinh

         Khi cuộc chiến leo thang, ông không vào quân đội mà gia nhập lực lượng cảnh sát, đến năm 1975 mang cấp bậc đại úy nên sau 1975 phải đi cải tạo ở Trại An Dưỡng, Biên Hòa. Khuya ngày 31 tháng 8 năm 1975, một vụ nổ không rõ lý do trong trại tù làm tử vong 3 người, trong đó có Minh Kỳ. Ông được chôn cất sơ sài với một tấm bia viết bằng sơn đỏ dòng chữ “Vĩnh My”, tức Vĩnh Mỹ, tên thật của ông.

        Minh Kỳ có nhiều kỷ niệm với thành phố Nha Trang nên những sáng tác đầu tay của ông là những nhạc phẩm về thành phố duyên hải này viết theo điệu slow, sử dụng những quãng âm rộng nghe giống như tiếng sóng rập rờn như Dòng Thời Gian, Nha Trang, Nhớ Nha Trang, Tiễn Bạn.

Nhạc sĩ Minh Kỳ (đứng) và nhạc sĩ Hoài Linh – 2 nhạc sĩ đồng sáng tác nên những ca khúc bất tử: Chuyến Tàu Hoàng Hôn, Sầu Tím Thiệp Hồng…

         Tên tuổi của nhạc sĩ Minh Kỳ gắn liền với những ca khúc nổi tiếng như Anh Tiền Tuyến Em Hậu Phương, Biệt Kinh Kỳ, Tình Hậu Phương, Tình Đời, Xuân Đã Về, Đường Về Khuya, Sầu Tím Thiệp Hồng, Chuyến Tàu Hoàng Hôn, 5 Cụm Núi Quê Hương…và những ca khúc đặc sắc nhất của ông có nội dung viết về những thành phố nổi tiếng của phía nam vỹ tuyến 17, đó là Nha Trang, nơi ông sinh ra và lớn lên; thành phố Huế, quê nội của ông (các ca khúc nổi tiếng như Mưa Trên Phố Huế, Người Em Vỹ Dạ, Thương Về Xứ Huế) và thành phố Đà Lạt. Những ca khúc bất hủ ca ngợi nhan sắc của Đà Lạt là Thương Về Miền Đất Lạnh, Đà Lạt Hoàng Hôn viết chung với Dạ Cầm, tức nhạc sĩ Anh Bằng, và Má Hồng Đà Lạt.

          Về cái chết bí ẩn và oan khuất của nhạc sĩ Minh Kỳ, đã được một người bạn tù của ông là PTAN kể lại như sau:

        “Khi ấy tổ của nhạc sĩ Minh Kỳ đang họp để phân công nấu bếp vào ngày hôm sau, thì một vụ nổ đã làm 3 người thiệt mạng và khoảng 8 người bị thương. Nhạc sĩ Minh Kỳ bị thương rất nặng, được anh em tù khiêng lên bệnh xá cùng với những người bị thương khác. Ông bị thương ở ngực, bụng và cổ rất nặng. Biết mình không qua khỏi nên trăn trối với những bạn tù:

– Tụi mày về nói với vợ tao ráng nuôi con tao, chắc tao không sống được.

        Sau đó máu ở ngực và cổ chảy ra lênh láng. Ông vừa la vừa rên:

– Sao chân lạnh quá!

– Lạnh quá! Sao bụng tao lạnh quá! Sao ngực tao lạnh quá!

Ông ra đi từ từ, chết từ chân đến bụng rồi đến ngực cho đến lúc tắt thở.

Một cái chết mà chính ông cảm nhận được, biết được nó đến với mình từng phút từng giây.

Trong cuộc đời và sự nghiệp ngắn ngủi của mình, nhạc sĩ Minh Kỳ đã để lại cho đời hàng trăm bài hát nổi tiếng. Ông luôn được xem là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu nhất của dòng nhạc vàng trước năm 1975.

Do nhạc sĩ Minh Kỳ qua đời từ sớm, vào đúng thời điểm giao thời của lịch sử, nên đã có một số nhầm lẫn liên quan đến sáng tác của ông. Hồi đầu thập niên 1990, khi dòng nhạc vàng bắt đầu được cấp phép trong nước một cách hạn chế, có 2 ca khúc của nhạc sĩ Duy Khánh là Thương Về Miền TrungAi Ra Xứ Huế bị gắn nhầm là của nhạc sĩ Minh Kỳ sáng tác. Có lẽ thời điểm đó nhạc sĩ Duy Khánh bị cấm về nhân thân, nên các hãng băng đĩa trong nước đã sử dụng tên nhạc sĩ Minh Kỳ cho 2 bài hát nói trên để dễ qua cửa kiểm duyệt.

Nhạc sĩ Minh Kỳ là người gốc Huế, ông cũng có những sáng tác về Huế rất hay và nổi tiếng là Mưa Trên Phố Huế, Người Em Vỹ DạThương Về Xứ Huế, có lẽ vì vậy mà người ta đã ghi tên sáng tác của 2 bài Thương Về Miền TrungAi Ra Xứ Huế là nhạc sĩ Minh Kỳ để dễ hợp thức hóa.

Cùng lắng nghe những sáng tác của nhạc sĩ Minh Kỳ trong video dưới đây:Nhạc sĩ MINH KỲ – Chuyến tàu hoàng hôn & 30 sáng tác để đời

    Nhạc sĩ MINH KỲ – Chuyến tàu hoàng hôn & 30 sáng tác để đời Nhạc sĩ MINH KỲ – Chuyến tàu hoàng hôn & 30 sáng tác để đời. Nhạc sĩ MINH KỲ – Chuyến tàu hoàng hôn & 30 sáng tá…

 Độc giả có thể đọc thêm phần tiểu sử của nhạc sĩ Minh Kỳ được viết từ thập niên 1960 trong tờ nhạc sau: https://nhacxua.vn/

nhacxua.vn tổng hợp và biên soạn

Thanh Hiệp: Người phổ nhạc Truyện Kiều qua đời

Người phổ nhạc Truyện Kiều qua đời

16-09-2019 – 10:59 AM | Văn nghệ Chia sẻ

(NLĐO) – GS-TS Trần Quang Hải vừa cho biết nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện, người phổ nhạc Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du, đã qua đời hôm 13-9, hưởng thọ 76 tuổi, tang lễ tổ chức ngày 20-9 tại Paris – Pháp.

Người phổ nhạc Truyện Kiều qua đời - Ảnh 1.

Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện (trái) và GS-TS Trần Quang Hải tại Pháp

Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện sinh ngày 18-5-1943 tại Sài Gòn. Ông được biết đến là nhạc sĩ có công cho ra đời những CD phổ nhạc Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du năm 2009 – 2010. Ông là kỹ sư – nhạc sĩ, viện sĩ Viện Hàn lâm Châu Âu, người đã bỏ ra 5 năm để phổ nhạc toàn bộ tác phẩm Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du.

Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện từng học tại Trường Petrus Ký– Sài Gòn (1956-1963). Sau đó, ông thi đậu ĐH Sư phạm Sài Gòn – Ban Toán. Đến năm 1964, ông sang Pháp du học. Năm 1965 – 1968, ông được tuyển chọn vào IBM để đào tạo kỹ sư tin học, rồi tốt nghiệp Trường Cao đẳng CNAM – Pháp. 

Quách Vĩnh Thiện say mê âm nhạc từ năm 6 tuổi. Lúc còn là học sinh, ông từng được bầu làm trưởng ban văn nghệ Trường Pétrus Ký. Đầu thập niên 1960, ông thành lập ban nhạc Les Fanatiques, từng biểu diễn tại nhiều rạp hát lớn thời đó. Không rời bỏ niềm đam mê, khi sang sống tại Bordeaux – Pháp, ông tiếp tục lập ban nhạc Les Cobras, Sao Đêm (Les Saodems)…

Người phổ nhạc Truyện Kiều qua đời - Ảnh 2.

Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện và GSTS Trần Quang Hải

GS Phương Oanh, Trung tâm Âm nhạc dân tộc Phượng Ca tại Paris – Pháp, cho biết nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện đã bỏ nhiều công sức để phổ nhạc Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du

« Công trình này gồm 7 CD với 77 bài, phổ nhạc toàn vẹn tác phẩm lừng danh của Nguyễn Du. Truyện Kiều được Unesco xem như di sản văn hóa nhân loại, do đó khi phổ nhạc, nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện rất chăm chút. Nhạc sĩ đã chia tác phẩm ra 77 đoạn và theo đó, anh đã viết ra 77 bài hát, theo những thể loại khác nhau. Muốn nghe hết 7 CD này phải mất 8 giờ. Văn nghệ sĩ, kiều bào ở các nước vốn yêu mến tác phẩm Truyện Kiều đã rất trân trọng sự sáng tạo của nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện. Sự ra đi đột ngột của anh đã để lại nhiều thương tiếc đối với chúng tôi » – GS Phương Oanh bày tỏ.Theo NSƯT – ca sĩ Hồng Vân, các chủ đề của 7 album nhạc phổ thơ Truyện Kiều rất độc đáo, gồm: CD 1 – Trăm năm trong cõi người ta, CD 2 – Bên tình bên hiếu, CD 3 – Quyến gió rủ mây, CD 4 – Tài tử giai nhân, CD 5 – Cá chậu chim lồng, CD 6 – Hại nhân nhân hại và CD 7 – Chữ tài chữ mệnh. Năm 2010, nhạc sĩ tiếp tục phổ nhạc tác phẩm Chinh phụ ngâm.

NSƯT – ca sĩ Hồng Vân nhận xét: « Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện không quá nổi tiếng nhưng ông được biết đến nhờ tài năng cũng như tâm huyết lưu giữ tác phẩm Truyện Kiều cho muôn đời sau bằng một hình thức rất đặc biệt là phổ nhạc. Ông đã giữ nguyên vẹn câu chữ của toàn bộ tác phẩm, không thay đổi dù chỉmột từ. Tôi rất say mê những bản nhạc đó, bởi nó được viết bằng giai điệu đầy màu sắc, vừa pha trộn nét huyền bí phương Đông vừa đậm chất dân giân Việt Nam nhưng không kém phần hiện đại của âm nhạc phương Tây, có cả những nhịp điệu hiện đại của rock ». CC (ảnh do GSTS Trần Quang Hải cung cấp)

https://nld.com.vn/van-nghe/nguoi-pho-nhac-truyen-kieu-qua-doi-20190916085816315.htm

https://nld.com.vn/van-nghe/nguoi-pho-nhac-truyen-kieu-qua-doi-20190916085816315.htm

NGHỆ Sĩ & HỒN QUÊ – NSND Viễn Châu, tức HuỳnhTrí Bá

Published on Feb 3, 2016 NGHỆ Sĩ & HỒN QUÊ – NSND Viễn Châu, tức HuỳnhTrí Bá https://www.youtube.com/c/vafacoofficial Viễn Châu tên thật là Huỳnh Trí Bá ( hay còn gọi là Bảy Bá ), sinh năm 1924 tại xã Đôn Châu, tỉnh Trà Vinh. Kể từ năm 1950, qua vở cải lương “ Nát cánh hoa rừng ” tên tuổi Viễn Châu bắt đầu được giới mộ điệu chú ý. Và trong thời gian này, tiếng đờn tranh của Bảy Bá cũng được các hãng đĩa thu thanh và phát hành liên tục. Cùng với ngón đờn sến Năm Cơ, ngón đờn tranh Bảy Bá là hai ngón đờn cổ nhạc đã được giới mộ điệu đánh giá cao và coi như bậc thầy. Viễn Châu vừa là danh cầm vừa là soạn giả. Trong thời gian ở Sài Gòn, ngoài đoàn Việt kịch Năm Châu, ông còn cộng tác với các đoàn hát: Kim Thanh Út Trà Ôn ( 1955 ), Thanh Tao ( 1958 ), Thanh Nga ( 1962 ), Dạ Lý Hương ( 1969 ), Tân Hoa Lan ( 1969 ). Đồng thời ông còn cộng tác với các hãng dĩa: Việt Nam ( 1950 ), Kim Long ( 1951 ), Việt Hải ( 1953 ), Thăng Long ( 1954 ), Sống Mới ( 1968 ), Nhạc ngày xanh ( 1969 ), Hồn nước ( 1973 ),… Sau năm 1975, ông cộng tác với Đoàn Văn công Thành phố ( 1975 ), hãng băng Sài Gòn Audio ( 1978 ) và nhiều đoàn hát ở các tỉnh. Năm 1984, ông cùng đoàn nghệ thuật 284 lưu diễn ở các nước Tây âu như: Đức, Bỉ, Pháp, Ý. Một sáng tạo của Viễn Châu có ý nghĩa đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật là việc ghép tân nhạc vào bản vọng cổ mà ông gọi là “ Tân cổ giao duyên ”. Bản “ Tân cổ giao duyên ” đầu tiên của ông có tựa “ Chàng là ai ” ( nhạc Nguyễn Hữu Thiết ) do Lệ Thủy ca vào năm 1964. Ngoài ra, về âm nhạc, ông cũng có sáng tác một bản nhạc tài tử ngắn tên là “ Dạ khúc ” đã được thu thanh trong băng cổ nhạc “ Hòa tấu I ” do Sài Gòn Audio thực hiện vào năm 1978. Do có nhiều thành tích và đóng góp trong lĩnh vực cổ nhạc, ông đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú ( năm 1988), Nghệ sĩ nhân dân (năm 2014). Ngoài danh hiệu này, ông còn được giới mộ điệu suy tôn là “ Vua viết lời ca vọng cổ ”. Sự suy tôn này kể cũng không quá đáng. Hơn 50 năm sáng tác, ông đã để lại một kho tàng tác phẩm đồ sộ. Trên 50 vở cải lương đã được trình diễn trên các sân khấu đại ban và trên 2000 bản vọng cổ đã được các hãng dĩa, băng thu thanh và phát hành. Những vở cải lương của ông được khán thính giả biết đến nhiều nhất là: Nát cánh hoa rừng, Tình mẫu tử, Đời cô Nga, Sau bức màn nhung, Bông ô môi, Chuyện tình Hàn Mặc Tử, Quân vương và thiếp, Qua cơn ác mộng, Nợ tình, Hoa Mộc Lan, Con gái Hoa Mộc Lan, Hai nụ cười xuân, Ai điên ai tỉnh ,… Về vọng cổ, nhiều bản vọng cổ của ông được thính giả ưa chuộng như: Tình anh bán chiếu, Sầu vương ý nhạc, Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà, Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, Tần Quỳnh khóc bạn, Lá trầu xanh, Lòng dạ đàn bà, Lan và Điệp, Hàn Mặc Tử, Tâm sự Mai Đình, Tâm sự Mộng Cầm, Xuân đất khách, Tu là cội phúc, Gánh nước đêm trăng, Mồ em Phượng, Gánh bưởi Biên Hòa, Cô hàng chè tươi, Đêm khuya trông chồng, Mẹ dạy con, Phạm Lãi biệt Tây Thi, Phàn Lê Huê, Tự Đức khóc Bằng Phi, Bông ô môi, Ai ra xứ Huế, Đêm tàn Bến Ngự, Gió biển Hà Tiên, Đêm lạnh trong tù, Hán Đế biệt Chiêu Quân, Dương Quý Phi, Kiếp cầm ca, Đời vũ nữ, Lá bàng rơi, Biệt cố hương, Anh đi xa cách quê nghèo,… Lời ca của Viễn Châu bình dị nhưng giàu cảm xúc, giàu chất thơ và giàu hình tượng nên dễ thuộc, dễ đi vào lòng người. Cái đọng lại trong sáng tác của Viễn Châu là tình cảm quê hương, con người, đất nước ,… được thể hiện một cách mộc mạc, chân thật. Dựa vào bề dày sáng tác và biểu diễn, có thể coi Viễn Châu là một trong những ngôi sao sáng của bầu trời sân khấu Nam bộ nửa sau thế kỷ 20. Những đóng góp của ông trong lĩnh vực nghệ thuật nước nhà rất đáng kể và đã góp phần không ít trong việc phát huy, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

TRẦN VIỆT HẢI : TÌNH KHÚC EM TÔI – LÊ TRẠCH LỰU

Tình Khúc Em tôi – Lê Trạch Lưu-Ngọc Bảo trình bày:
https://www.youtube.com/watch…

Tuần rồi tôi có đưa bài viết intro sách mới « Văn Nhân & Tình Sử » của nhà văn Vương Trùng Dương có bài « Lê Trạch Lựu và Tình Khúc Em tôi », người nhạc sĩ biết yêu năm 16 tuổi, khi chàng gặp Kim Phượng, tiếng sét ái tình bỗng đến ngay phút đầu gặp em. Mối duyên tình đẹp ấy là mối tình theo mãi một đời theo xuống tuyền đài.

LÊ TRẠCH LỰU

Phải nói là những mối tình ở thuở mới lớn chớm biết yêu, là những kỷ niệm đẹp vì e dè nhút nhát (FSFL: first sight of first love, première vue d’un premier amour), khi tiếng sét tình ái, thunderbolt khiến tim ta bồi hồi xao xuyến đập thất nhịp chỉ bởi vì yêu em ngay phút đầu.

Hôm nay tôi xin intro tiếp chuyện tình măng non, loại puppy love mà nhà văn Max Steele để lại thế gian này khi ông ra đi, y như nhạc sĩ Lê Trạch Lựu đã làm. Những puppy love măng non của tuổi 16, lứa tuổi sweet sixteen thật dễ thương. Xin intro bài viết vui tươi mang tên ngộ nghĩnh « Ah Love! Ah Me! », được ngòi bút Trương Mỹ Vân chuyển ngữ dưới tên « Mối Tình Đầu Xuân. Đôi nét về nhà văn này nhé:

Max Steele, 83 tuổi (1922-2005, là nhà văn, người cố vấn văn chương và kiêm giáo sư danh dự (Professor Emeritus), dạy môn văn chương Anh văn tại trường học cũ của mình, là Đại học North Carolina tại Chapel Hill, ông đã qua đời vào ngày 01 tháng 8, 2005 tại Chapel Hill….

Em tôi – Nhạc và Lời: Lê Trạch Lựu – Ca Sĩ: Duy Trác – Thực hiện PPS: Doanh Doanh:
https://www.youtube.com/watch…

Về thuật ngữ « Professor Emeritus » xin cho tôi dài dòng, nhiều chuyện tí ti, vì theo quy chế đại học Hoa Kỳ, khi chuyển ngữ danh từ « emeritus » là vinh hiệu « danh dự » có thể bị hiểu nhầm. Khi tuyên dương sự cống hiến của một vị giáo sư, hay một khoa học gia, hay một nhà bác học,… đã về nghỉ hưu cho họ chữ emeritus là cách để biểu hiện đặc ân tôn trọng và lòng tri ân đối với người được trao danh hiệu vinh dự này. Một vị emeritus dù không còn quyền hạn chính thức như theo chức vụ ngày xưa, nhưng vị này vẫn có thể tham gia vào các buổi lễ nghi hay hội họp chính thức nếu muốn hay được mời, bởi vì khả năng chuyên môn như trong thời gian ông hay bà còn tại vị trước đây. Ví dụ như giáo sư Nguyễn Xuân Vinh khi về hưu ông mang tước hiệu Professor Emeritus of Aerospace Engineering của Đại học Michigan, giáo sư danh dự ngành kỹ thuật không gian. Tuy vậy sự nhiêu khê khi ta dịch không rõ ràng là « giáo sư danh dự » có thể gây ra sự hiểu nhầm với danh hiệu « Honorary Professor ». Mà hihi… « Honorary Professor » không kèm điều kiện nghỉ hưu, có công đóng góp lâu dài cho tổ chức này. Chẳng hạn như một trường nọ đại học mời mọc một ông giáo thính giả từ xứ Mấy chú 3 PRC HD981 sang Mỹ dạy vài phùa, cho ông giáo tên hiệu trên giấy tờ « Honorary Professor », « Honorary Fellow ». Và rồi một ví dụ khác như « tiến sĩ danh dự » (honorary doctorate) của trường Graduate School Park Jung-ho tại Seoul cấp giấy cho me-sừ Nguyễn Tấn Dũng giảng về kinh nghiệm luật pháp và kinh tế VNCS. Với khả năng « siêu việt » của sừ ni ta không thể dịch hay hiểu y là một Professor Emeritus.

Tóm lại quy chế nhà trường ban cho “Giáo sư Emeritus” (Professor Emeritus) là một giáo sư dạy thực thụ, thông thường đã làm việc toàn thời gian, nhưng nay đã nghỉ hưu, ông hay bà vẫn có thể được mời định kỳ để thuyết trình, giảng dạy, tham khảo ý kiến hay được trao một giải thưởng nào đó.

Thôi đã ăn gian đi lố đề tài, xin trở lại chủ đề nhà văn Max Steele, các tác phẩm tiêu biểu của ông ni như « Debby », « The Cat và Coffee Drinkers », »Where She Brushed Her Hair » và « The Hat of My Mother ». Chính những tiểu thuyết của ông đã đưa tên ông lên trên đài danh dự đoạt những giải thưởng điển hình như the Harper Prize, the Saxton Memorial Trust Award, the Mayflower Cup Award và O. Henry Prizes. Ông đã nhận được khoản tài trợ đặc biệt cho công tác văn chương của mình từ Quỹ Quốc gia Nghệ thuật (the National Endowment for the Arts).

Điều cao quý là Max là một giáo sư chuyên tâm, tận tuy được nhiều người mến mộ và yêu quý bởi vì ông là một cố vấn có công đào tạo cho các thế hệ nhà văn đi sau, Steele sáng lập và hướng dẫn chương trình sáng tạo văn chương tại Đại học North Carolina (UNC), tọa lạc tại thành phố Chapel Hill kể từ năm 1967 cho đến năm 1986. Nhiều học trò của ông sau này đã trở thành những nhà văn tên tuổi, những tác giả nổi bật như Randall Kenan, Jill McCorkle và Lawrence Naumoff.

Nhà văn Max Steele sinh ra vào năm 1922 tại Greenville, tiểu bang South Carolina. Steele đã theo học tại các đại học như Furman (Greenville), Vanderbilt (Nashville, Tennessee), đại học Paris Sorbonne và Academie Julienne (École des Beaux-Arts) ở Paris. Ông đã phục vụ trong quân lực Không quân Hoa Kỳ trong thời Thế chiến II. Bài viết của ông đã được đăng lần đầu tiên trên tạp chí Harper trong năm 1944 và tốt nghiệp từ trường UNC vào năm 1946. Sau đó, ông sống ở Paris, nơi ông là một người bạn và đồng nghiệp của George Plimpton và một biên tập viên (BBT) sáng lập của tạp chí văn học The Paris Review. Ông vẫn kết nối với các văn hữu trong BBT cho đến khi ông qua đời, tên ông được liệt kê trên các quảng cáo tiêu đề là đồng biên tập. Ông cũng là một biên tập viên cho tạp chí Story.

Nếu năm 16 tuổi nhạc sĩ Lê Trạch Lựu bị coup de foudre hành hạ khi yêu nên len lén muốn gửi thơ cho nàng Kim Phượng, nhưng rồi chẳng dám. Truyện viết của nhà văn Max Steele cùng thế hệ cũng yêu thầm nàng Sara Nell Workman, phôn mời nàng đi xem ciné mà run như cầy sấy. Sara đồng ý đi xem ciné, xem ciné xong Max muốn mời Sara đi ăn dinner, giờ không đủ vì hết phép của ông bố Sara, nên đôi bạn ghé vào tiệm drugstore « Shaeffer’s » chỉ uống nước, cái khờ khạo măng non, nhút nhát của Dave (mà Max đặt tên trong truyện) khi uống hai viên Litho-bromide nên uống với nước lã, thuốc hòa tan trong nước lã sủi bọt như Alka Seltzer, thay vì như Max viết vì là khờ dại vì không biết nên đã diễn tuồng Coke và Litho-bromide (LiBr). Khi LiBr (lithium bromide) liên kết trong phản ứng cùng chất lỏng trong Coke, có chứa sodium carbonate (alkali) dạng thức hóa học CNa2O3, hệ quả cho những phản ứng nhiệt năng, sôi sục exothermic reaction, khó chịu cho cơ thể của Dave. Những khờ dại trong trắng….

Viết về sách mới, xin đơn cử một chuyện tình đẹp về kỷ niệm và thơ mộng như: « Lê Trạch Lựu và Tình Khúc Em tôi », ở trang 167, đây là một mối tình mang theo mãi một đời người. Nhạc phẩm Em Tôi ra đời đầu năm 1953 đến nay vẫn tiếp tục đem đến cho người nghe những xúc cảm như gần, như xa của một thời tưởng như đã thuộc về dĩ vãng nhưng vẫn tiếp tục làm rung động trái tim những thính giả trẻ tuổi ở thế hệ bây giờ. Đằng sau ca khúc lãng mạn này là một cuộc tình mang theo từ thuở vừa biết yêu cho đến tuổi xế chiều khi nhạc sĩ sáng tác liên lạc lại người xưa qua đường dây điện thoại viễn liên. Nay chuyện ấy đã chìm vào danh sách những thiên tình sử đẹp trong lãng mạn và lưu luyến kèm theo bạn tình ca Em Tôi bất hủ theo ý riêng cùa hàn bút ni.

Trong một buổi nói chuyện ở buổi họp mặt Thu Tao Ngộ tại Paris 2009, nhạc sĩ Lê Trạch Lựu kể về câu chuyện tình đã đưa đến bài tình ca Em Tôi. Vào tháng 5 năm 1946 ông tham dự trại hè Sầm Sơn, đi với đoàn Hướng Đạo cùng nhiều đoàn khác, tập trung tại sân ga Hà nội. Thoáng thấy một cô gái xinh xinh, dáng người phong nhã, có đôi mắt đẹp tuyệt vời, ông bị tiếng sét ái tình ngay phút đầu. Rồi mỗi ngày ông đều thấy cô gái ấy, đội nón, dưới nắng trang trang rũ áo, ông ngồi bên cửa sổ nhìn cô ta. Thỉnh thoảng cô nàng ngửng đầu lên, vành nón che đôi mắt, nhưng ông biết là cô ta đang nhìn chú ý đến ông. Khi về lại Hà Nội ông tìm nhà cô ta, vì có duyên nên tìm được ngay, nhà cô ta ở gần nhà ông. Dạo ấy có một chú bé đi theo ông bén gót, đó là chú Mỹ, em cô Phượng. Một hôm, ông viết một lá thư và chẳng dám trao đến cô, vì không đủ can đảm trao lá thư đến Phượng, nên ông nhờ chú Mỹ giúp cho công tác liên lạc.

Gia đình Phượng phải đi tản cư vì biến cố toàn quốc kháng chiến. Phần khác Lê Trạch Lựu sang Pháp du học. Tháng ngày qua khi ở Paris cũng là thời gian mà nỗi nhớ quay cuồng chàng thanh niên say trong cơn yêu, điều này đã là nguồn suối trào dâng để một ngày nọ bên những bạn bè văn nghệ như Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn, ông bấm lên phím đàn, đưa « Em Tôi » vào đời. Sau đó tác giả gửi bài nhạc tới nhà xuất bản Tinh Hoa. Những tháng năm trôi qua. Khi nhạc phẩm cất cánh bay cao tại Việt Nam, ông ở Paris nên không biết rõ tình trạng nó ra sao.

Rồi một hôm Lê nhạc sĩ tìm ra được địa chỉ của Phượng rồi viết về cho chú Mỹ, Mỹ cho biết cô Phượng đợi ông trong một năm dài, thấy ông không về Phượng tưởng ông đã mất. Rồi ba năm sau khi cô để tang ông, cô đi lấy chồng, gia đình đã êm thấm với chồng và con. Mãi về sau này, sáu chục năm sau, ông được biết tin qua một người bạn cùng trường năm xưa cho ông số phôn, thế là ông gọi thăm người yêu cũ. Nàng vừa ngạc nhiên vừa bối rối, phải chăng người chết trở về. Phượng òa ra tiếng khóc ngất ngây. Nhạc sĩ hỏi về lá thư tình năm xưa, thuở văn thời 16 viết trong thơ ngây, trong lúng túng. Phượng trả lời ông: « Em để vào trong một cái hộp, nó đi theo em tất cả mọi nơi, trong đó có cả tập ảnh chụp hồi đó, nhưng chồng em thấy lúc nào em cũng buồn, nói với em nên giấu nó đi một chỗ, khi nào vui thì hãy mở ra. Thế là ông ta bỏ vào đâu không rõ, mấy năm sau ông ta mất, tìm kiếm khắp nhà không ra. Em chỉ nhớ anh viết dài lắm… viết dài lắm… Hôm nọ em muốn tìm cái hình anh hồi đó, mà không thấy đâu. Tủi thân, em lại ngồi khóc, may rằng con và cháu em bữa đó tụi nó không có ở nhà… ».

Ông cho biết: « Mối tình đối với cô Phượng theo tôi suốt đời, vì rằng đó là mối tình đầu, mà mình không biết nhau ở đâu, không biết người ta sống hay chết, tôi nhớ đến cô và tôi đã làm bài « Em Tôi ». »….

Lê Trạch Lựu và Tình Khúc Em tôi, Việt Hải Los Angeles:
http://www.ninh-hoa.com/VietHai-ChuyenTinhCuaNhaVanMaxSteel…


https://www.quinhon11.com/2016/03/le-trach-luu-viet-ve-em-toi.html


Lê Trạch Lựu viết về « Em Tôi » ..

và mối tình theo mãi một đời 

Em tôi – Nhạc và Lời: Lê Trạch Lựu – Ca Sĩ: Duy Trác – Thực hiện PPS: Doanh Doanh:
https://www.youtube.com/watch…+88

Tài tử Văn Giỏi

 Tài tử Văn Giỏi

Dang Hoanh Loan Published on Jul 30, 2018 Văn Giỏi họ Trần, sinh 1947 tại Long Trung, huyện Cai Lạy, tỉnh Tiền Giang trong một gia đình trung lưu. Hai bên nội, ngoại của Văn Giỏi rất nhiều người biết đờn hát. Năm 14 tuổi Văn Giỏi chính thức học đờn. Tới năm 22 tuổi (năm 1969) Văn Giỏi lên Sài Gòn lập nghiệp. 50 năm hành nghề, Văn Giỏi không chỉ biểu diễn và dạy đàn, ông còn bỏ công sáng tác hai bản đàn: Đoản khúc Lam Giang và Phi Vân Điệp khúc. « Mục đích sáng tác là làm bài học và bài biểu diễn cho học trò. Và cũng để có cái phần mới mẻ cho các em sau này. Những bài này còn dùng để vô trong những tuồng Cải Lương » như ông đã từng nói.


Nhạc sư Huỳnh Hữu Trí ở Tây Ninh

Nhạc sư Huỳnh Hữu Trí ở Tây Ninh

Dang Hoanh Loan Published on Dec 4, 2018 Huỳnh Hữu Trí, sinh 1961 tại Tây Ninh. Ông là nhạc sư của Bộ nhạc Trung ương Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh. Tôi đã được chuyện trò với ông về nhiều vẫn đề về nghệ thuật âm nhạc của tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh. Ông am hiểu sâu về nhạc lễ của tòa Thánh và chơi đờn cũng rất hay nhiều bài bản đờn Tài tử Nam Bộ. Tôi trích giới thiệu tới quý vị đôi đoạn về cuộc chuyện trò này.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: tiểu sử nhạc sĩ Xuân Tiên

Xuân Tiên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
nhac si xuân tiên
Nhạc sĩ Xuân Tiên

Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Xuân Tiên
Tên khai sinh Phạm Xuân Tiên
Sinh 28 tháng 1, 1921 (97 tuổi)
Hà Nội, Đông Dương thuộc Pháp
Thể loại nhạc tiền chiến, tình khúc 1954-1975
Nghề nghiệp nhạc sĩ
Ca khúc tiêu biểu « Khúc hát ân tình », « Duyên tình », « Về dưới mái nhà »

Xuân Tiên (sinh năm 1921), tên là Phạm Xuân Tiên, là một nhạc sĩ có nhiều đóng góp cho nền tân nhạc Việt Nam giai đoạn 1954-1975. Ngoài sáng tác nhiều bản nhạc có giá trị được nhiều người yêu thích như « Khúc hát ân tình », « Về dưới mái nhà », « Chờ một kiếp mai »,… thì Xuân Tiên còn có khả năng chơi 25 loại nhạc cụ, đã cải tiến và sáng tạo một số nhạc cụ mới.

Tiểu sử

Xuân Tiên sinh ngày 28 tháng 1 năm 1921 tại Hà Nội. Năm 6 tuổi, ông bắt đầu học nhạc Trung Quốc với cha và sau này học nhạc phương Tây với người anh cả.[1] Năm lên 10, ông còn được cha thuê người dạy tuồng và nhạc cải lương.[2] Thời gian ban đầu khi còn ở miền Bắc, ông chơi chủ yếu là các loại kèn sáo phương Tây. Cuối năm 1942, ông cùng anh trai là nhạc sĩ Xuân Lôi theo gánh cải lương Tố Như vào miền Nam trình diễn ở Sài Gòn và lục tỉnh.[2] Trong quá trình đi trình diễn nhạc và sinh sống ở nhiều miền, ông đã thu thập được kiến thức về các loại hình nhạc của các miền khác, chủ yếu là miền Trung. Ông còn tìm hiểu về nhạc của LàoCampuchia.[2]

Năm 1952, cả gia đình ông vào Sài Gòn kiếm sống bằng nghề nhạc cho đến sự kiện 30 tháng 4 năm 1975.

Giai đoạn 1944-1975, ông được mời điều khiển nhiều dàn nhạc nổi tiếng từ Bắc vào Nam: Hà Nội (1944-1946), Nam Định (1951-1952) và Sài Gòn (các đài phát thanh gồm Pháp Á, Sài Gòn, Quê Hương, Mẹ Việt Nam; 1952-1975).

Năm 1986, ông được bảo lãnh sang Úc. Mười năm đầu ông sống tại Canberra, sau về ở Cabramatta, ngoại ô Sydney từ đó cho đến nay.[2][3]

Xuân Tiên có khả năng chơi 25 loại nhạc cụ,[3] cả phương Đông lẫn phương Tây. Ông có thể sử dụng hầu hết các nhạc cụ cổ truyền Việt Nam, Thái Lan, Lào và Campuchia.[2]

Xuân Tiên còn có tập thơ Trên kiếp hoa được nhà xuất bản Ba Vì, Canada in năm 1997.[2]

Cải tiến, sáng tạo nhạc cụ

Sáo tre vốn dĩ chỉ có sáu lỗ. Xuân Tiên đã cùng Xuân Lôi cải tiến loại nhạc cụ này thành hai loại là 10 lỗ và 13 lỗ có khả năng chơi được nhiều âm giai khác nhau. Người chơi sáo 10 lỗ cần dùng 10 ngón tay và có thể chơi tất cả những bán cung, vì thế sáo không bị giới hạn trong bất cứ âm giai nào. Sáo 13 lỗ dùng để tạo ra những âm thanh thấp hơn khi cần. Hiện hai loại sáo này đang được trưng bày tại Musée de l’Homme, Paris, Pháp.[2]

Ông có cây đàn bầu có thân là bằng trái bầu dài làm hộp khuếch âm. Đàn này đã nhiều lần được đem đi triển lãm ở Úc, thường được gọi là « đàn bầu Xuân Tiên ». Tuy nhiên, thực tế đàn bầu là nhạc cụ cổ truyền vốn có của Việt Nam, còn cây đàn mà ông tự chế được gọi là « đàn Xuân Tiên », được ông làm vào năm 1976 thời còn ở Việt Nam. Cần dùng cả hai tay để gảy cây đàn có 60 dây này, từ đó có thể chơi được tất cả mọi cung bậc. Tiếng đàn tương tự tiếng đàn tranh nhưng mạnh và chắc hơn.[2]

Sự nghiệp sáng tác

Xuân Tiên đã sáng tác các bản nhạc có giá trị được nhiều người yêu thích. Xuân Tiên sáng tác từ trước 1945, tức là thuộc lứa nhạc sĩ tiền chiến, với các ca khúc « Chờ một kiếp mai » [chung với Ngọc Bích] và « Trên kiếp hoa » (1939-1942)[4]. Ông chủ trương đào sâu vào nhạc Việt, dùng kỹ thuật và nhịp điệu phương Tây nhằm cải tiến và làm giàu nền nhạc của mình.[2] Ông chú trọng giai điệu và thể điệu của bài hát, yêu thích âm hưởng lạc quan yêu đời, ca ngợi quê hương dân tộc và nếu có buồn thì cũng chỉ là chớm buồn. Xuân Tiên cho rằng quan trọng nhất là sáng tác phải « hoàn toàn không giống ai ».[2]

Xuân Tiên nhận xét rằng đa số các ca khúc của mình mang âm hưởng miền Bắc và miền Trung, có một số ít là miền Nam (« Cùng một mái nhà », « Khúc nhạc đồng xanh », « Đất Việt »). Bài hát nổi tiếng nhất của ông là « Khúc hát ân tình », được sáng tác sau Hiệp định Genève 1954 trong bối cảnh nhiều người dân miền Bắc di cư vào Nam sinh sống. Bài hát kêu gọi mọi người dù là từ miền nào thì cũng hãy sống thân ái với nhau, đồng thời cũng ngợi ca tình yêu không phân biệt Bắc-Nam.[2] « Hận Đồ Bàn » (ký chung với Lữ Liên) là bài hát mà tác giả đặt mình vào địa vị một người dân Chăm-pa, có nội dung ai oán về sự kiện kinh đô Đồ Bàn của nước Chăm-pa bị binh lực Đại Việt dưới trướng vua Lê Thánh Tông phá hủy vào năm 1471. Đầu thập niên 1970, bài này từng bị Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cấm biểu diễn công khai do ông tin rằng bài hát có « tác động siêu nhiên thâm hiểm có thể dẫn đến sự sụp đổ của nền cộng hòa ». Ca sĩ Chế Linh (người Chăm) hát bài này cũng nhân đó mà bị cấm biểu diễn công khai.[5]

Năm 2006, những đóng góp có giá trị của nhạc sĩ Xuân Tiên – cùng với hai nhạc sĩ Thanh SơnNguyễn Ánh 9 – đối với nền tân nhạc Việt Nam được vinh danh trong chương trình Paris By Night 83: Những khúc hát ân tình của Thúy Nga.

Tranh cãi về bài hát « Duyên tình »

Trước đây từng rộ lên vụ việc tranh cãi rằng ai là tác giả của bài hát « Duyên tình ». Tuy bài này được ký tên chung là « Xuân Tiên & Y Vân » nhưng theo Xuân Tiên thì toàn bộ nhạc và lời đều của ông. Việc ký tên chung là do Xuân Tiên nhờ Y Vân bán hộ bài này nhưng nhà xuất bản yêu cầu phải ký tên chung để Y Vân lĩnh tiền về. Do là bạn bè với Y Vân nên Xuân Tiên đồng ý.[2] Riêng về phía gia đình Y Vân, nhạc sĩ Y Vũ (em Y Vân) khẳng định « ‘Duyên tình’ là tác phẩm do Xuân Tiên và Y Vân viết chung. Hai ông không chỉ là đồng tác giả của ‘Duyên tình’ mà còn viết chung ‘Về dưới mái nhà’. »[6] Bà Trần Thị Minh Lâm (vợ Y Vân) cho hay rằng trong nhà bà, « ai cũng biết đó là nhạc phẩm của Y Vân » và sau khi nhạc sĩ Y Vân qua đời, « nhiều hãng băng đĩa đã phát hành bản nhạc này và họ cũng chỉ ghi một tên tác giả là Y Vân. » Nhà bà không có bản gốc của bài « Duyên tình » nên không rõ liệu có tác giả thứ hai hay không, nhưng sau khi tham vấn nhạc sĩ Thanh Sơn và ca sĩ Ngọc Cẩm [vợ nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết] thì nhà bà được biết bài này là của Y Vân.[6] Vợ Y Vân cho phóng viên báo Thanh Niên của Việt Nam xem danh sách 92 ca khúc Y Vân do Cục Bản quyền Việt Nam cấp tại Hà Nội ngày 30 tháng 9 năm 1995, trong đó ghi « Duyên tình » là của Y Vân, còn « Về dưới mái nhà » và « Đường đi lối về » là sáng tác chung với Xuân Tiên.[6] Sau khi tờ Thanh Niên đăng tải bài báo này, có độc giả đã mang bản nhạc được cho là bản gốc tới tòa soạn, trong đó ghi bài « Duyên tình » là « nhạc Xuân Tiên, lời Y Vân ». [7]

Danh sách ca khúc phổ thông

  • Chờ anh bên đồi
  • Chờ anh em nhé (Xuân Tiên & Nhật Bằng)[Ghi chú 1]
  • Chờ một kiếp mai (Ngọc Bích & Xuân Tiên)
  • Cung sầu
  • Cùng một mái nhà
  • Dâng nắng
  • Duyên tình (Xuân Tiên & Y Vân)[Ghi chú 2]
  • Đất Việt
  • Đêm trăng mơ
  • Đón mùa xuân mới
  • Đường đi lối về (Xuân Tiên & Y Vân)[Ghi chú 2]
  • Đường lên non
  • Giọt lệ sông Hương
  • Hận Đồ Bàn (Xuân Tiên & Lữ Liên)[Ghi chú 3]
  • Hoài vọng
  • Hồn tha hương
  • Lòng người xa quê
  • Lửa ấm
  • Lửa rừng (nhạc Xuân Tiên, lời Thanh Nam)
  • Khói mây
  • Khúc hát ân tình (nhạc Xuân Tiên, lời Song Hương)
  • Khúc hoan ca
  • Khúc nhạc đồng xanh
  • Mây chiều
  • Mong chờ[8]
  • Mộng vàng
  • Mơ bóng người xưa
  • Mùa lá vàng
  • Ngát hương thanh bình
  • Ngày đầu năm
  • Ngõ xưa
  • Nguồn sống bao la
  • Nhắn mây
  • Nhịp sống vui
  • Những người tôi thương
  • Sầu thu
  • Tiếng bình minh
  • Tiếng hát đường xa
  • Tiếng hát trong sương
  • Tiếng trống trong rừng sâu
  • Tiếng vọng tâm hồn
  • Tìm trăng đô thị
  • Tình và gió
  • Tình viễn khơi
  • Trăm năm hạnh phúc
  • Trăng khuya (Xuân Tiên & Y Vân)[Ghi chú 2]
  • Trên kiếp hoa
  • Trung Thu
  • Vần thương
  • Về dưới mái nhà (Xuân Tiên & Y Vân)[Ghi chú 2]
  • Xa quê hương (Xuân Tiên & Đan Thọ)
  • Xuân muôn thuở
  • Xuân qua
  • Xuân tự do

Ghi chú

  1. ^ Viết trong chiến dịch « Tố Cộng diệt Cộng » năm 1955.
  2. ^ a ă â b Xem thêm mục « Tranh cãi về bài hát ‘Duyên tình' » trong bài.
  3. ^ Có tờ nhạc ghi một tác giả duy nhất là Xuân Tiên.

Tham khảo

  1. ^ Lời của nhạc sĩ trong chương trình Paris By Night 83, thu hình ngày 27 tháng 5 năm 2006 tại rạp Charles M. Schulz ở Knott’s Berry Farm, Buena Park, California, Hoa Kỳ.
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h i “Phỏng vấn nhạc Sĩ Xuân Tiên nhân dịp kỷ niệm 65 năm âm nhạc & ra mắt CD của nhạc sĩ”. Việt Báo (hải ngoại). Ngày 25 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2014.
  3. ^ a ă Video giới thiệu Xuân Tiên ở đầu chương trình Paris By Night 83.
  4. ^ “Tiểu sử Xuân Tiên”. phammusic.free.fr. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2014.
  5. ^ Eric Henry, University of North Carolina (2005). “Phạm Duy and Modern Vietnamese History”. Southeast Review of Asian Studies. XXVII. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2014. Thiệu believed that the song possessed a malign supernatural influence that might lead to the loss of the republic.
  6. ^ a ă â Hà Đình Nguyên (ngày 20 tháng 2 năm 2006). “Nhạc của ai ? Lời của ai ? – Bài 2: « Duyên tình » đến lúc ly hôn ?”. Thanh Niên. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2014.
  7. ^ “Phản hồi liên quan đến ca khúc Duyên tình”. Thanh Niên. Ngày 28 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2014.
  8. ^ Trong chương trình Paris By Night 83 Những khúc hát ân tình năm 2006, nhạc sĩ chia sẻ sáng tác trong hoàn cảnh sau khi nhạc sĩ cùng đi với ban nhạc Tao Đàn ra lưu diễn tại Huế

Liên kết ngoài

Nghệ sỹ Ba Tu và Nghệ sỹ Văn Giỏi hòa đờn bản Xuân Nữ

Nghệ sỹ Ba Tu và Nghệ sỹ Văn Giỏi hòa đờn bản Xuân Nữ

Ajoutée le 12 oct. 2018

Năm 2011, khi thu thanh bản đờn Xuân Nữ do NSƯT Ba Tu và NSƯT Văn Giỏi hòa đờn, tôi có hỏi NSƯT Ba Tu, bài này có nằm trong hệ thống bài bản chơi Đờn ca tài tử không ? NSƯT Ba Tu cho biết : Nó không nằm trong hệ thống 20 bản tổ, nhưng nó nằm trong nhạc mục của sân khấu Cải Lương – Tài tử. Những cuộc chơi đờn ca ngày nay các tài tử vẫn thường chơi bản này. Nó đã được xếp vào hệ thống các bản Oán, chơi cũng mùi lắm.

Minh Châu : Nhạc sĩ Thảo Nam Giang: Âm nhạc tuôn tràn trong huyết quản

07:08, 15/04/2018 (GMT+7)

(GLO)- Nhạc sĩ Thảo Nam Giang sinh trưởng trong một gia đình toàn những nghệ sĩ có tên tuổi của Tây Nguyên. Mẹ anh là Trương Thanh Bình-ca sĩ Đoàn Văn công Tây Nguyên (nay là Nhà hát Ca múa nhạc tổng hợp Đam San). Hai người cha của anh đều là những đại thụ của nghệ thuật đương đại Tây Nguyên.

Cha đẻ anh là Nghệ sĩ Ưu tú Thảo Giang-người đã giới thiệu cây đàn goong ra nhiều nước trên thế giới và là người nghệ sĩ đầu tiên, duy nhất cho đến nay cải tiến và soạn nhạc trên cây đàn truyền thống vô cùng độc đáo này. Cha nuôi của anh, Nghệ sĩ Nhân dân Y Brơm, được xem là cánh chim đầu đàn của nghệ thuật múa đương đại Tây Nguyên. Ông cũng là người nghệ sĩ đầu tiên của Tây Nguyên được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân (năm 1984).

Nhạc sĩ Thảo Nam Giang (giữa) cùng những người thân thiết.                     Ảnh: M.C
Nhạc sĩ Thảo Nam Giang (giữa) cùng những người thân thiết. Ảnh: M.C

Trưởng thành trong một môi trường như vậy nên việc anh theo con đường nghệ thuật là lẽ tự nhiên. Ảnh hưởng sâu sắc từ 2 người cha nghệ sĩ, không lạ khi Thảo Nam Giang sớm trở thành nhạc sĩ với những sáng tác ở mảng khúc và nhạc múa thấm đẫm chất dân tộc, dân gian Tây Nguyên. Anh nói, dưới cái bóng của những người nghệ sĩ lớn, anh không thấy áp lực mà hạnh phúc và tự hào. “Tôi được dạy dỗ rất nghiêm khắc từ người cha nuôi. Tuy vậy, bản thân còn phải học hỏi nhiều lắm”-anh nói.

Với tố chất nghệ sĩ sẵn có, lại được đào tạo bài bản trong ngôi trường chuyên nghiệp về nghệ thuật nên mọi thứ đến với anh như trái chín. “Hồi ấy, nhạc sĩ An Thuyên chơi khá thân với ba Y Brơm. Mỗi lần ông về Gia Lai thường ghé thăm gia đình tôi. Rồi cứ thế, ông “bốc” tôi vào trường đi học mà không phải thi cử gì cả. Tôi cùng với Nghệ sĩ Ưu tú Đinh Xuân Đề (công tác tại Đoàn Nghệ thuật Quân khu 5) là 2 người Tây Nguyên đầu tiên theo học tại Trường Đại học Văn hóa-Nghệ thuật (khóa 1). Tôi được đào tạo để chơi được tất cả các loại nhạc cụ truyền thống, sau đó chuyển sang chuyên ngành sáng tác”-nhạc sĩ Thảo Nam Giang kể.

Nếu mặc định những yếu tố hun đúc nên một nghệ sĩ là năng khiếu, niềm đam mê, trình độ và sự khổ luyện bản thân thì Thảo Nam Giang hội đủ tất cả để thỏa sức sáng tạo trên con đường nghệ thuật. Không chỉ là nhạc sĩ chuyên sáng tác ca khúc, anh còn là một trong những “hạt giống” hiếm quý sáng tác nhạc múa của Gia Lai và Tây Nguyên. “Từ nhỏ, tôi đã được Nghệ sĩ Nhân dânY Brơm dẫn đi khắp nơi, chỉ dẫn, truyền cảm hứng lĩnh vực âm nhạc, đặc biệt là nhạc múa. Ông ảnh hưởng đến tôi sâu sắc nhất. Ông không chỉ là người cha mà còn là một người thầy nghiêm khắc và đầy bao dung. Ông “bắt buộc” tôi phải học và nói được tiếng Bahnar mẹ đẻ. Bởi có như vậy, tôi mới có thể tìm tòi, khám phá chất liệu dân gian và phát triển chúng thành của mình. Ông luôn nhắc nhở tôi, âm nhạc dân gian Tây Nguyên là một kho báu, phải bảo tồn và phát triển theo xu hướng hội nhập trên nền tảng văn hóa truyền thống và đó cũng là trách nhiệm của người nghệ sĩ. Tôi luôn lấy điều này làm đích đến trong sáng tác của mình”-nhạc sĩ sinh năm 1979 chia sẻ.

Vậy nên, âm nhạc của Thảo Nam Giang luôn thấm đẫm chất dân gian nhưng cũng mang màu sắc và hơi thở đương đại. Thấm đẫm mạch nguồn văn hóa Tây Nguyên, anh luôn cố gắng tìm tòi giá trị cốt lõi trong âm nhạc truyền thống để phát triển, làm ra cái mới trong sáng tác. Chính vì vậy, Thảo Nam Giang có được thành tích khá rực rỡ với nhiều giải thưởng. Về mảng ca khúc, anh có trên 20 sáng tác, trong đó nổi tiếng có “Rừng ơi, Yàng ơi” (phổ thơ Kpă Y Lăng), “Gia Lai những chặng đường chiến công”, “Tiếng cồng chiêng Tây Nguyên”… Mới đây nhất, anh vừa viết xong ca khúc “Mặt trời Tây Nguyên”  tràn ngập cảm xúc biết ơn của nhân dân Tây Nguyên đối với Đảng và Bác Hồ muôn vàn kính yêu. Song song đó, anh cũng hoàn thành bài nhạc múa “Hồn cồng”, được một số đơn vị “mang chuông đi đánh xứ người”, đạt nhiều huy chương vàng, bạc. Riêng về nhạc múa, anh có nhiều sáng tác được những tên tuổi lớn như Nghệ sĩ Nhân dân Xuân La, Nghệ sĩ Nhân dânY Brơm, nghệ sĩ Công Hưng… biên đạo, dàn dựng và đạt nhiều giải thưởng. “Tôi sáng tác khá thường xuyên và không mấy khó khăn. Cũng có lúc phải đi tìm những cảm xúc tươi mới nhưng lúc nào âm nhạc cũng chảy tràn trong người, cứ ngồi với cây đàn là sẽ có tác phẩm “-người nghệ sĩ có phần khá trầm lặng trải lòng.

Minh Châu

http://baogialai.com.vn/channel/742/201804/nhac-si-thao-nam-giang-am-nhac-tuon-tran-trong-huyet-quan-5577657/index.htm