Catégorie : NHẠC SĨ VIỆT NAM

NGHỆ Sĩ & HỒN QUÊ – NSND Viễn Châu, tức HuỳnhTrí Bá

Published on Feb 3, 2016 NGHỆ Sĩ & HỒN QUÊ – NSND Viễn Châu, tức HuỳnhTrí Bá https://www.youtube.com/c/vafacoofficial Viễn Châu tên thật là Huỳnh Trí Bá ( hay còn gọi là Bảy Bá ), sinh năm 1924 tại xã Đôn Châu, tỉnh Trà Vinh. Kể từ năm 1950, qua vở cải lương “ Nát cánh hoa rừng ” tên tuổi Viễn Châu bắt đầu được giới mộ điệu chú ý. Và trong thời gian này, tiếng đờn tranh của Bảy Bá cũng được các hãng đĩa thu thanh và phát hành liên tục. Cùng với ngón đờn sến Năm Cơ, ngón đờn tranh Bảy Bá là hai ngón đờn cổ nhạc đã được giới mộ điệu đánh giá cao và coi như bậc thầy. Viễn Châu vừa là danh cầm vừa là soạn giả. Trong thời gian ở Sài Gòn, ngoài đoàn Việt kịch Năm Châu, ông còn cộng tác với các đoàn hát: Kim Thanh Út Trà Ôn ( 1955 ), Thanh Tao ( 1958 ), Thanh Nga ( 1962 ), Dạ Lý Hương ( 1969 ), Tân Hoa Lan ( 1969 ). Đồng thời ông còn cộng tác với các hãng dĩa: Việt Nam ( 1950 ), Kim Long ( 1951 ), Việt Hải ( 1953 ), Thăng Long ( 1954 ), Sống Mới ( 1968 ), Nhạc ngày xanh ( 1969 ), Hồn nước ( 1973 ),… Sau năm 1975, ông cộng tác với Đoàn Văn công Thành phố ( 1975 ), hãng băng Sài Gòn Audio ( 1978 ) và nhiều đoàn hát ở các tỉnh. Năm 1984, ông cùng đoàn nghệ thuật 284 lưu diễn ở các nước Tây âu như: Đức, Bỉ, Pháp, Ý. Một sáng tạo của Viễn Châu có ý nghĩa đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật là việc ghép tân nhạc vào bản vọng cổ mà ông gọi là “ Tân cổ giao duyên ”. Bản “ Tân cổ giao duyên ” đầu tiên của ông có tựa “ Chàng là ai ” ( nhạc Nguyễn Hữu Thiết ) do Lệ Thủy ca vào năm 1964. Ngoài ra, về âm nhạc, ông cũng có sáng tác một bản nhạc tài tử ngắn tên là “ Dạ khúc ” đã được thu thanh trong băng cổ nhạc “ Hòa tấu I ” do Sài Gòn Audio thực hiện vào năm 1978. Do có nhiều thành tích và đóng góp trong lĩnh vực cổ nhạc, ông đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú ( năm 1988), Nghệ sĩ nhân dân (năm 2014). Ngoài danh hiệu này, ông còn được giới mộ điệu suy tôn là “ Vua viết lời ca vọng cổ ”. Sự suy tôn này kể cũng không quá đáng. Hơn 50 năm sáng tác, ông đã để lại một kho tàng tác phẩm đồ sộ. Trên 50 vở cải lương đã được trình diễn trên các sân khấu đại ban và trên 2000 bản vọng cổ đã được các hãng dĩa, băng thu thanh và phát hành. Những vở cải lương của ông được khán thính giả biết đến nhiều nhất là: Nát cánh hoa rừng, Tình mẫu tử, Đời cô Nga, Sau bức màn nhung, Bông ô môi, Chuyện tình Hàn Mặc Tử, Quân vương và thiếp, Qua cơn ác mộng, Nợ tình, Hoa Mộc Lan, Con gái Hoa Mộc Lan, Hai nụ cười xuân, Ai điên ai tỉnh ,… Về vọng cổ, nhiều bản vọng cổ của ông được thính giả ưa chuộng như: Tình anh bán chiếu, Sầu vương ý nhạc, Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà, Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, Tần Quỳnh khóc bạn, Lá trầu xanh, Lòng dạ đàn bà, Lan và Điệp, Hàn Mặc Tử, Tâm sự Mai Đình, Tâm sự Mộng Cầm, Xuân đất khách, Tu là cội phúc, Gánh nước đêm trăng, Mồ em Phượng, Gánh bưởi Biên Hòa, Cô hàng chè tươi, Đêm khuya trông chồng, Mẹ dạy con, Phạm Lãi biệt Tây Thi, Phàn Lê Huê, Tự Đức khóc Bằng Phi, Bông ô môi, Ai ra xứ Huế, Đêm tàn Bến Ngự, Gió biển Hà Tiên, Đêm lạnh trong tù, Hán Đế biệt Chiêu Quân, Dương Quý Phi, Kiếp cầm ca, Đời vũ nữ, Lá bàng rơi, Biệt cố hương, Anh đi xa cách quê nghèo,… Lời ca của Viễn Châu bình dị nhưng giàu cảm xúc, giàu chất thơ và giàu hình tượng nên dễ thuộc, dễ đi vào lòng người. Cái đọng lại trong sáng tác của Viễn Châu là tình cảm quê hương, con người, đất nước ,… được thể hiện một cách mộc mạc, chân thật. Dựa vào bề dày sáng tác và biểu diễn, có thể coi Viễn Châu là một trong những ngôi sao sáng của bầu trời sân khấu Nam bộ nửa sau thế kỷ 20. Những đóng góp của ông trong lĩnh vực nghệ thuật nước nhà rất đáng kể và đã góp phần không ít trong việc phát huy, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

TRẦN VIỆT HẢI : TÌNH KHÚC EM TÔI – LÊ TRẠCH LỰU

Tình Khúc Em tôi – Lê Trạch Lưu-Ngọc Bảo trình bày:
https://www.youtube.com/watch…

Tuần rồi tôi có đưa bài viết intro sách mới « Văn Nhân & Tình Sử » của nhà văn Vương Trùng Dương có bài « Lê Trạch Lựu và Tình Khúc Em tôi », người nhạc sĩ biết yêu năm 16 tuổi, khi chàng gặp Kim Phượng, tiếng sét ái tình bỗng đến ngay phút đầu gặp em. Mối duyên tình đẹp ấy là mối tình theo mãi một đời theo xuống tuyền đài.

LÊ TRẠCH LỰU

Phải nói là những mối tình ở thuở mới lớn chớm biết yêu, là những kỷ niệm đẹp vì e dè nhút nhát (FSFL: first sight of first love, première vue d’un premier amour), khi tiếng sét tình ái, thunderbolt khiến tim ta bồi hồi xao xuyến đập thất nhịp chỉ bởi vì yêu em ngay phút đầu.

Hôm nay tôi xin intro tiếp chuyện tình măng non, loại puppy love mà nhà văn Max Steele để lại thế gian này khi ông ra đi, y như nhạc sĩ Lê Trạch Lựu đã làm. Những puppy love măng non của tuổi 16, lứa tuổi sweet sixteen thật dễ thương. Xin intro bài viết vui tươi mang tên ngộ nghĩnh « Ah Love! Ah Me! », được ngòi bút Trương Mỹ Vân chuyển ngữ dưới tên « Mối Tình Đầu Xuân. Đôi nét về nhà văn này nhé:

Max Steele, 83 tuổi (1922-2005, là nhà văn, người cố vấn văn chương và kiêm giáo sư danh dự (Professor Emeritus), dạy môn văn chương Anh văn tại trường học cũ của mình, là Đại học North Carolina tại Chapel Hill, ông đã qua đời vào ngày 01 tháng 8, 2005 tại Chapel Hill….

Em tôi – Nhạc và Lời: Lê Trạch Lựu – Ca Sĩ: Duy Trác – Thực hiện PPS: Doanh Doanh:
https://www.youtube.com/watch…

Về thuật ngữ « Professor Emeritus » xin cho tôi dài dòng, nhiều chuyện tí ti, vì theo quy chế đại học Hoa Kỳ, khi chuyển ngữ danh từ « emeritus » là vinh hiệu « danh dự » có thể bị hiểu nhầm. Khi tuyên dương sự cống hiến của một vị giáo sư, hay một khoa học gia, hay một nhà bác học,… đã về nghỉ hưu cho họ chữ emeritus là cách để biểu hiện đặc ân tôn trọng và lòng tri ân đối với người được trao danh hiệu vinh dự này. Một vị emeritus dù không còn quyền hạn chính thức như theo chức vụ ngày xưa, nhưng vị này vẫn có thể tham gia vào các buổi lễ nghi hay hội họp chính thức nếu muốn hay được mời, bởi vì khả năng chuyên môn như trong thời gian ông hay bà còn tại vị trước đây. Ví dụ như giáo sư Nguyễn Xuân Vinh khi về hưu ông mang tước hiệu Professor Emeritus of Aerospace Engineering của Đại học Michigan, giáo sư danh dự ngành kỹ thuật không gian. Tuy vậy sự nhiêu khê khi ta dịch không rõ ràng là « giáo sư danh dự » có thể gây ra sự hiểu nhầm với danh hiệu « Honorary Professor ». Mà hihi… « Honorary Professor » không kèm điều kiện nghỉ hưu, có công đóng góp lâu dài cho tổ chức này. Chẳng hạn như một trường nọ đại học mời mọc một ông giáo thính giả từ xứ Mấy chú 3 PRC HD981 sang Mỹ dạy vài phùa, cho ông giáo tên hiệu trên giấy tờ « Honorary Professor », « Honorary Fellow ». Và rồi một ví dụ khác như « tiến sĩ danh dự » (honorary doctorate) của trường Graduate School Park Jung-ho tại Seoul cấp giấy cho me-sừ Nguyễn Tấn Dũng giảng về kinh nghiệm luật pháp và kinh tế VNCS. Với khả năng « siêu việt » của sừ ni ta không thể dịch hay hiểu y là một Professor Emeritus.

Tóm lại quy chế nhà trường ban cho “Giáo sư Emeritus” (Professor Emeritus) là một giáo sư dạy thực thụ, thông thường đã làm việc toàn thời gian, nhưng nay đã nghỉ hưu, ông hay bà vẫn có thể được mời định kỳ để thuyết trình, giảng dạy, tham khảo ý kiến hay được trao một giải thưởng nào đó.

Thôi đã ăn gian đi lố đề tài, xin trở lại chủ đề nhà văn Max Steele, các tác phẩm tiêu biểu của ông ni như « Debby », « The Cat và Coffee Drinkers », »Where She Brushed Her Hair » và « The Hat of My Mother ». Chính những tiểu thuyết của ông đã đưa tên ông lên trên đài danh dự đoạt những giải thưởng điển hình như the Harper Prize, the Saxton Memorial Trust Award, the Mayflower Cup Award và O. Henry Prizes. Ông đã nhận được khoản tài trợ đặc biệt cho công tác văn chương của mình từ Quỹ Quốc gia Nghệ thuật (the National Endowment for the Arts).

Điều cao quý là Max là một giáo sư chuyên tâm, tận tuy được nhiều người mến mộ và yêu quý bởi vì ông là một cố vấn có công đào tạo cho các thế hệ nhà văn đi sau, Steele sáng lập và hướng dẫn chương trình sáng tạo văn chương tại Đại học North Carolina (UNC), tọa lạc tại thành phố Chapel Hill kể từ năm 1967 cho đến năm 1986. Nhiều học trò của ông sau này đã trở thành những nhà văn tên tuổi, những tác giả nổi bật như Randall Kenan, Jill McCorkle và Lawrence Naumoff.

Nhà văn Max Steele sinh ra vào năm 1922 tại Greenville, tiểu bang South Carolina. Steele đã theo học tại các đại học như Furman (Greenville), Vanderbilt (Nashville, Tennessee), đại học Paris Sorbonne và Academie Julienne (École des Beaux-Arts) ở Paris. Ông đã phục vụ trong quân lực Không quân Hoa Kỳ trong thời Thế chiến II. Bài viết của ông đã được đăng lần đầu tiên trên tạp chí Harper trong năm 1944 và tốt nghiệp từ trường UNC vào năm 1946. Sau đó, ông sống ở Paris, nơi ông là một người bạn và đồng nghiệp của George Plimpton và một biên tập viên (BBT) sáng lập của tạp chí văn học The Paris Review. Ông vẫn kết nối với các văn hữu trong BBT cho đến khi ông qua đời, tên ông được liệt kê trên các quảng cáo tiêu đề là đồng biên tập. Ông cũng là một biên tập viên cho tạp chí Story.

Nếu năm 16 tuổi nhạc sĩ Lê Trạch Lựu bị coup de foudre hành hạ khi yêu nên len lén muốn gửi thơ cho nàng Kim Phượng, nhưng rồi chẳng dám. Truyện viết của nhà văn Max Steele cùng thế hệ cũng yêu thầm nàng Sara Nell Workman, phôn mời nàng đi xem ciné mà run như cầy sấy. Sara đồng ý đi xem ciné, xem ciné xong Max muốn mời Sara đi ăn dinner, giờ không đủ vì hết phép của ông bố Sara, nên đôi bạn ghé vào tiệm drugstore « Shaeffer’s » chỉ uống nước, cái khờ khạo măng non, nhút nhát của Dave (mà Max đặt tên trong truyện) khi uống hai viên Litho-bromide nên uống với nước lã, thuốc hòa tan trong nước lã sủi bọt như Alka Seltzer, thay vì như Max viết vì là khờ dại vì không biết nên đã diễn tuồng Coke và Litho-bromide (LiBr). Khi LiBr (lithium bromide) liên kết trong phản ứng cùng chất lỏng trong Coke, có chứa sodium carbonate (alkali) dạng thức hóa học CNa2O3, hệ quả cho những phản ứng nhiệt năng, sôi sục exothermic reaction, khó chịu cho cơ thể của Dave. Những khờ dại trong trắng….

Viết về sách mới, xin đơn cử một chuyện tình đẹp về kỷ niệm và thơ mộng như: « Lê Trạch Lựu và Tình Khúc Em tôi », ở trang 167, đây là một mối tình mang theo mãi một đời người. Nhạc phẩm Em Tôi ra đời đầu năm 1953 đến nay vẫn tiếp tục đem đến cho người nghe những xúc cảm như gần, như xa của một thời tưởng như đã thuộc về dĩ vãng nhưng vẫn tiếp tục làm rung động trái tim những thính giả trẻ tuổi ở thế hệ bây giờ. Đằng sau ca khúc lãng mạn này là một cuộc tình mang theo từ thuở vừa biết yêu cho đến tuổi xế chiều khi nhạc sĩ sáng tác liên lạc lại người xưa qua đường dây điện thoại viễn liên. Nay chuyện ấy đã chìm vào danh sách những thiên tình sử đẹp trong lãng mạn và lưu luyến kèm theo bạn tình ca Em Tôi bất hủ theo ý riêng cùa hàn bút ni.

Trong một buổi nói chuyện ở buổi họp mặt Thu Tao Ngộ tại Paris 2009, nhạc sĩ Lê Trạch Lựu kể về câu chuyện tình đã đưa đến bài tình ca Em Tôi. Vào tháng 5 năm 1946 ông tham dự trại hè Sầm Sơn, đi với đoàn Hướng Đạo cùng nhiều đoàn khác, tập trung tại sân ga Hà nội. Thoáng thấy một cô gái xinh xinh, dáng người phong nhã, có đôi mắt đẹp tuyệt vời, ông bị tiếng sét ái tình ngay phút đầu. Rồi mỗi ngày ông đều thấy cô gái ấy, đội nón, dưới nắng trang trang rũ áo, ông ngồi bên cửa sổ nhìn cô ta. Thỉnh thoảng cô nàng ngửng đầu lên, vành nón che đôi mắt, nhưng ông biết là cô ta đang nhìn chú ý đến ông. Khi về lại Hà Nội ông tìm nhà cô ta, vì có duyên nên tìm được ngay, nhà cô ta ở gần nhà ông. Dạo ấy có một chú bé đi theo ông bén gót, đó là chú Mỹ, em cô Phượng. Một hôm, ông viết một lá thư và chẳng dám trao đến cô, vì không đủ can đảm trao lá thư đến Phượng, nên ông nhờ chú Mỹ giúp cho công tác liên lạc.

Gia đình Phượng phải đi tản cư vì biến cố toàn quốc kháng chiến. Phần khác Lê Trạch Lựu sang Pháp du học. Tháng ngày qua khi ở Paris cũng là thời gian mà nỗi nhớ quay cuồng chàng thanh niên say trong cơn yêu, điều này đã là nguồn suối trào dâng để một ngày nọ bên những bạn bè văn nghệ như Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn, ông bấm lên phím đàn, đưa « Em Tôi » vào đời. Sau đó tác giả gửi bài nhạc tới nhà xuất bản Tinh Hoa. Những tháng năm trôi qua. Khi nhạc phẩm cất cánh bay cao tại Việt Nam, ông ở Paris nên không biết rõ tình trạng nó ra sao.

Rồi một hôm Lê nhạc sĩ tìm ra được địa chỉ của Phượng rồi viết về cho chú Mỹ, Mỹ cho biết cô Phượng đợi ông trong một năm dài, thấy ông không về Phượng tưởng ông đã mất. Rồi ba năm sau khi cô để tang ông, cô đi lấy chồng, gia đình đã êm thấm với chồng và con. Mãi về sau này, sáu chục năm sau, ông được biết tin qua một người bạn cùng trường năm xưa cho ông số phôn, thế là ông gọi thăm người yêu cũ. Nàng vừa ngạc nhiên vừa bối rối, phải chăng người chết trở về. Phượng òa ra tiếng khóc ngất ngây. Nhạc sĩ hỏi về lá thư tình năm xưa, thuở văn thời 16 viết trong thơ ngây, trong lúng túng. Phượng trả lời ông: « Em để vào trong một cái hộp, nó đi theo em tất cả mọi nơi, trong đó có cả tập ảnh chụp hồi đó, nhưng chồng em thấy lúc nào em cũng buồn, nói với em nên giấu nó đi một chỗ, khi nào vui thì hãy mở ra. Thế là ông ta bỏ vào đâu không rõ, mấy năm sau ông ta mất, tìm kiếm khắp nhà không ra. Em chỉ nhớ anh viết dài lắm… viết dài lắm… Hôm nọ em muốn tìm cái hình anh hồi đó, mà không thấy đâu. Tủi thân, em lại ngồi khóc, may rằng con và cháu em bữa đó tụi nó không có ở nhà… ».

Ông cho biết: « Mối tình đối với cô Phượng theo tôi suốt đời, vì rằng đó là mối tình đầu, mà mình không biết nhau ở đâu, không biết người ta sống hay chết, tôi nhớ đến cô và tôi đã làm bài « Em Tôi ». »….

Lê Trạch Lựu và Tình Khúc Em tôi, Việt Hải Los Angeles:
http://www.ninh-hoa.com/VietHai-ChuyenTinhCuaNhaVanMaxSteel…


https://www.quinhon11.com/2016/03/le-trach-luu-viet-ve-em-toi.html


Lê Trạch Lựu viết về « Em Tôi » ..

và mối tình theo mãi một đời 

Em tôi – Nhạc và Lời: Lê Trạch Lựu – Ca Sĩ: Duy Trác – Thực hiện PPS: Doanh Doanh:
https://www.youtube.com/watch…+88

Tài tử Văn Giỏi

 Tài tử Văn Giỏi

Dang Hoanh Loan Published on Jul 30, 2018 Văn Giỏi họ Trần, sinh 1947 tại Long Trung, huyện Cai Lạy, tỉnh Tiền Giang trong một gia đình trung lưu. Hai bên nội, ngoại của Văn Giỏi rất nhiều người biết đờn hát. Năm 14 tuổi Văn Giỏi chính thức học đờn. Tới năm 22 tuổi (năm 1969) Văn Giỏi lên Sài Gòn lập nghiệp. 50 năm hành nghề, Văn Giỏi không chỉ biểu diễn và dạy đàn, ông còn bỏ công sáng tác hai bản đàn: Đoản khúc Lam Giang và Phi Vân Điệp khúc. « Mục đích sáng tác là làm bài học và bài biểu diễn cho học trò. Và cũng để có cái phần mới mẻ cho các em sau này. Những bài này còn dùng để vô trong những tuồng Cải Lương » như ông đã từng nói.


Nhạc sư Huỳnh Hữu Trí ở Tây Ninh

Nhạc sư Huỳnh Hữu Trí ở Tây Ninh

Dang Hoanh Loan Published on Dec 4, 2018 Huỳnh Hữu Trí, sinh 1961 tại Tây Ninh. Ông là nhạc sư của Bộ nhạc Trung ương Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh. Tôi đã được chuyện trò với ông về nhiều vẫn đề về nghệ thuật âm nhạc của tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh. Ông am hiểu sâu về nhạc lễ của tòa Thánh và chơi đờn cũng rất hay nhiều bài bản đờn Tài tử Nam Bộ. Tôi trích giới thiệu tới quý vị đôi đoạn về cuộc chuyện trò này.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: tiểu sử nhạc sĩ Xuân Tiên

Xuân Tiên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
nhac si xuân tiên
Nhạc sĩ Xuân Tiên

Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Xuân Tiên
Tên khai sinh Phạm Xuân Tiên
Sinh 28 tháng 1, 1921 (97 tuổi)
Hà Nội, Đông Dương thuộc Pháp
Thể loại nhạc tiền chiến, tình khúc 1954-1975
Nghề nghiệp nhạc sĩ
Ca khúc tiêu biểu « Khúc hát ân tình », « Duyên tình », « Về dưới mái nhà »

Xuân Tiên (sinh năm 1921), tên là Phạm Xuân Tiên, là một nhạc sĩ có nhiều đóng góp cho nền tân nhạc Việt Nam giai đoạn 1954-1975. Ngoài sáng tác nhiều bản nhạc có giá trị được nhiều người yêu thích như « Khúc hát ân tình », « Về dưới mái nhà », « Chờ một kiếp mai »,… thì Xuân Tiên còn có khả năng chơi 25 loại nhạc cụ, đã cải tiến và sáng tạo một số nhạc cụ mới.

Tiểu sử

Xuân Tiên sinh ngày 28 tháng 1 năm 1921 tại Hà Nội. Năm 6 tuổi, ông bắt đầu học nhạc Trung Quốc với cha và sau này học nhạc phương Tây với người anh cả.[1] Năm lên 10, ông còn được cha thuê người dạy tuồng và nhạc cải lương.[2] Thời gian ban đầu khi còn ở miền Bắc, ông chơi chủ yếu là các loại kèn sáo phương Tây. Cuối năm 1942, ông cùng anh trai là nhạc sĩ Xuân Lôi theo gánh cải lương Tố Như vào miền Nam trình diễn ở Sài Gòn và lục tỉnh.[2] Trong quá trình đi trình diễn nhạc và sinh sống ở nhiều miền, ông đã thu thập được kiến thức về các loại hình nhạc của các miền khác, chủ yếu là miền Trung. Ông còn tìm hiểu về nhạc của LàoCampuchia.[2]

Năm 1952, cả gia đình ông vào Sài Gòn kiếm sống bằng nghề nhạc cho đến sự kiện 30 tháng 4 năm 1975.

Giai đoạn 1944-1975, ông được mời điều khiển nhiều dàn nhạc nổi tiếng từ Bắc vào Nam: Hà Nội (1944-1946), Nam Định (1951-1952) và Sài Gòn (các đài phát thanh gồm Pháp Á, Sài Gòn, Quê Hương, Mẹ Việt Nam; 1952-1975).

Năm 1986, ông được bảo lãnh sang Úc. Mười năm đầu ông sống tại Canberra, sau về ở Cabramatta, ngoại ô Sydney từ đó cho đến nay.[2][3]

Xuân Tiên có khả năng chơi 25 loại nhạc cụ,[3] cả phương Đông lẫn phương Tây. Ông có thể sử dụng hầu hết các nhạc cụ cổ truyền Việt Nam, Thái Lan, Lào và Campuchia.[2]

Xuân Tiên còn có tập thơ Trên kiếp hoa được nhà xuất bản Ba Vì, Canada in năm 1997.[2]

Cải tiến, sáng tạo nhạc cụ

Sáo tre vốn dĩ chỉ có sáu lỗ. Xuân Tiên đã cùng Xuân Lôi cải tiến loại nhạc cụ này thành hai loại là 10 lỗ và 13 lỗ có khả năng chơi được nhiều âm giai khác nhau. Người chơi sáo 10 lỗ cần dùng 10 ngón tay và có thể chơi tất cả những bán cung, vì thế sáo không bị giới hạn trong bất cứ âm giai nào. Sáo 13 lỗ dùng để tạo ra những âm thanh thấp hơn khi cần. Hiện hai loại sáo này đang được trưng bày tại Musée de l’Homme, Paris, Pháp.[2]

Ông có cây đàn bầu có thân là bằng trái bầu dài làm hộp khuếch âm. Đàn này đã nhiều lần được đem đi triển lãm ở Úc, thường được gọi là « đàn bầu Xuân Tiên ». Tuy nhiên, thực tế đàn bầu là nhạc cụ cổ truyền vốn có của Việt Nam, còn cây đàn mà ông tự chế được gọi là « đàn Xuân Tiên », được ông làm vào năm 1976 thời còn ở Việt Nam. Cần dùng cả hai tay để gảy cây đàn có 60 dây này, từ đó có thể chơi được tất cả mọi cung bậc. Tiếng đàn tương tự tiếng đàn tranh nhưng mạnh và chắc hơn.[2]

Sự nghiệp sáng tác

Xuân Tiên đã sáng tác các bản nhạc có giá trị được nhiều người yêu thích. Xuân Tiên sáng tác từ trước 1945, tức là thuộc lứa nhạc sĩ tiền chiến, với các ca khúc « Chờ một kiếp mai » [chung với Ngọc Bích] và « Trên kiếp hoa » (1939-1942)[4]. Ông chủ trương đào sâu vào nhạc Việt, dùng kỹ thuật và nhịp điệu phương Tây nhằm cải tiến và làm giàu nền nhạc của mình.[2] Ông chú trọng giai điệu và thể điệu của bài hát, yêu thích âm hưởng lạc quan yêu đời, ca ngợi quê hương dân tộc và nếu có buồn thì cũng chỉ là chớm buồn. Xuân Tiên cho rằng quan trọng nhất là sáng tác phải « hoàn toàn không giống ai ».[2]

Xuân Tiên nhận xét rằng đa số các ca khúc của mình mang âm hưởng miền Bắc và miền Trung, có một số ít là miền Nam (« Cùng một mái nhà », « Khúc nhạc đồng xanh », « Đất Việt »). Bài hát nổi tiếng nhất của ông là « Khúc hát ân tình », được sáng tác sau Hiệp định Genève 1954 trong bối cảnh nhiều người dân miền Bắc di cư vào Nam sinh sống. Bài hát kêu gọi mọi người dù là từ miền nào thì cũng hãy sống thân ái với nhau, đồng thời cũng ngợi ca tình yêu không phân biệt Bắc-Nam.[2] « Hận Đồ Bàn » (ký chung với Lữ Liên) là bài hát mà tác giả đặt mình vào địa vị một người dân Chăm-pa, có nội dung ai oán về sự kiện kinh đô Đồ Bàn của nước Chăm-pa bị binh lực Đại Việt dưới trướng vua Lê Thánh Tông phá hủy vào năm 1471. Đầu thập niên 1970, bài này từng bị Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cấm biểu diễn công khai do ông tin rằng bài hát có « tác động siêu nhiên thâm hiểm có thể dẫn đến sự sụp đổ của nền cộng hòa ». Ca sĩ Chế Linh (người Chăm) hát bài này cũng nhân đó mà bị cấm biểu diễn công khai.[5]

Năm 2006, những đóng góp có giá trị của nhạc sĩ Xuân Tiên – cùng với hai nhạc sĩ Thanh SơnNguyễn Ánh 9 – đối với nền tân nhạc Việt Nam được vinh danh trong chương trình Paris By Night 83: Những khúc hát ân tình của Thúy Nga.

Tranh cãi về bài hát « Duyên tình »

Trước đây từng rộ lên vụ việc tranh cãi rằng ai là tác giả của bài hát « Duyên tình ». Tuy bài này được ký tên chung là « Xuân Tiên & Y Vân » nhưng theo Xuân Tiên thì toàn bộ nhạc và lời đều của ông. Việc ký tên chung là do Xuân Tiên nhờ Y Vân bán hộ bài này nhưng nhà xuất bản yêu cầu phải ký tên chung để Y Vân lĩnh tiền về. Do là bạn bè với Y Vân nên Xuân Tiên đồng ý.[2] Riêng về phía gia đình Y Vân, nhạc sĩ Y Vũ (em Y Vân) khẳng định « ‘Duyên tình’ là tác phẩm do Xuân Tiên và Y Vân viết chung. Hai ông không chỉ là đồng tác giả của ‘Duyên tình’ mà còn viết chung ‘Về dưới mái nhà’. »[6] Bà Trần Thị Minh Lâm (vợ Y Vân) cho hay rằng trong nhà bà, « ai cũng biết đó là nhạc phẩm của Y Vân » và sau khi nhạc sĩ Y Vân qua đời, « nhiều hãng băng đĩa đã phát hành bản nhạc này và họ cũng chỉ ghi một tên tác giả là Y Vân. » Nhà bà không có bản gốc của bài « Duyên tình » nên không rõ liệu có tác giả thứ hai hay không, nhưng sau khi tham vấn nhạc sĩ Thanh Sơn và ca sĩ Ngọc Cẩm [vợ nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết] thì nhà bà được biết bài này là của Y Vân.[6] Vợ Y Vân cho phóng viên báo Thanh Niên của Việt Nam xem danh sách 92 ca khúc Y Vân do Cục Bản quyền Việt Nam cấp tại Hà Nội ngày 30 tháng 9 năm 1995, trong đó ghi « Duyên tình » là của Y Vân, còn « Về dưới mái nhà » và « Đường đi lối về » là sáng tác chung với Xuân Tiên.[6] Sau khi tờ Thanh Niên đăng tải bài báo này, có độc giả đã mang bản nhạc được cho là bản gốc tới tòa soạn, trong đó ghi bài « Duyên tình » là « nhạc Xuân Tiên, lời Y Vân ». [7]

Danh sách ca khúc phổ thông

  • Chờ anh bên đồi
  • Chờ anh em nhé (Xuân Tiên & Nhật Bằng)[Ghi chú 1]
  • Chờ một kiếp mai (Ngọc Bích & Xuân Tiên)
  • Cung sầu
  • Cùng một mái nhà
  • Dâng nắng
  • Duyên tình (Xuân Tiên & Y Vân)[Ghi chú 2]
  • Đất Việt
  • Đêm trăng mơ
  • Đón mùa xuân mới
  • Đường đi lối về (Xuân Tiên & Y Vân)[Ghi chú 2]
  • Đường lên non
  • Giọt lệ sông Hương
  • Hận Đồ Bàn (Xuân Tiên & Lữ Liên)[Ghi chú 3]
  • Hoài vọng
  • Hồn tha hương
  • Lòng người xa quê
  • Lửa ấm
  • Lửa rừng (nhạc Xuân Tiên, lời Thanh Nam)
  • Khói mây
  • Khúc hát ân tình (nhạc Xuân Tiên, lời Song Hương)
  • Khúc hoan ca
  • Khúc nhạc đồng xanh
  • Mây chiều
  • Mong chờ[8]
  • Mộng vàng
  • Mơ bóng người xưa
  • Mùa lá vàng
  • Ngát hương thanh bình
  • Ngày đầu năm
  • Ngõ xưa
  • Nguồn sống bao la
  • Nhắn mây
  • Nhịp sống vui
  • Những người tôi thương
  • Sầu thu
  • Tiếng bình minh
  • Tiếng hát đường xa
  • Tiếng hát trong sương
  • Tiếng trống trong rừng sâu
  • Tiếng vọng tâm hồn
  • Tìm trăng đô thị
  • Tình và gió
  • Tình viễn khơi
  • Trăm năm hạnh phúc
  • Trăng khuya (Xuân Tiên & Y Vân)[Ghi chú 2]
  • Trên kiếp hoa
  • Trung Thu
  • Vần thương
  • Về dưới mái nhà (Xuân Tiên & Y Vân)[Ghi chú 2]
  • Xa quê hương (Xuân Tiên & Đan Thọ)
  • Xuân muôn thuở
  • Xuân qua
  • Xuân tự do

Ghi chú

  1. ^ Viết trong chiến dịch « Tố Cộng diệt Cộng » năm 1955.
  2. ^ a ă â b Xem thêm mục « Tranh cãi về bài hát ‘Duyên tình' » trong bài.
  3. ^ Có tờ nhạc ghi một tác giả duy nhất là Xuân Tiên.

Tham khảo

  1. ^ Lời của nhạc sĩ trong chương trình Paris By Night 83, thu hình ngày 27 tháng 5 năm 2006 tại rạp Charles M. Schulz ở Knott’s Berry Farm, Buena Park, California, Hoa Kỳ.
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h i “Phỏng vấn nhạc Sĩ Xuân Tiên nhân dịp kỷ niệm 65 năm âm nhạc & ra mắt CD của nhạc sĩ”. Việt Báo (hải ngoại). Ngày 25 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2014.
  3. ^ a ă Video giới thiệu Xuân Tiên ở đầu chương trình Paris By Night 83.
  4. ^ “Tiểu sử Xuân Tiên”. phammusic.free.fr. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2014.
  5. ^ Eric Henry, University of North Carolina (2005). “Phạm Duy and Modern Vietnamese History”. Southeast Review of Asian Studies. XXVII. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2014. Thiệu believed that the song possessed a malign supernatural influence that might lead to the loss of the republic.
  6. ^ a ă â Hà Đình Nguyên (ngày 20 tháng 2 năm 2006). “Nhạc của ai ? Lời của ai ? – Bài 2: « Duyên tình » đến lúc ly hôn ?”. Thanh Niên. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2014.
  7. ^ “Phản hồi liên quan đến ca khúc Duyên tình”. Thanh Niên. Ngày 28 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2014.
  8. ^ Trong chương trình Paris By Night 83 Những khúc hát ân tình năm 2006, nhạc sĩ chia sẻ sáng tác trong hoàn cảnh sau khi nhạc sĩ cùng đi với ban nhạc Tao Đàn ra lưu diễn tại Huế

Liên kết ngoài

Nghệ sỹ Ba Tu và Nghệ sỹ Văn Giỏi hòa đờn bản Xuân Nữ

Nghệ sỹ Ba Tu và Nghệ sỹ Văn Giỏi hòa đờn bản Xuân Nữ

Ajoutée le 12 oct. 2018

Năm 2011, khi thu thanh bản đờn Xuân Nữ do NSƯT Ba Tu và NSƯT Văn Giỏi hòa đờn, tôi có hỏi NSƯT Ba Tu, bài này có nằm trong hệ thống bài bản chơi Đờn ca tài tử không ? NSƯT Ba Tu cho biết : Nó không nằm trong hệ thống 20 bản tổ, nhưng nó nằm trong nhạc mục của sân khấu Cải Lương – Tài tử. Những cuộc chơi đờn ca ngày nay các tài tử vẫn thường chơi bản này. Nó đã được xếp vào hệ thống các bản Oán, chơi cũng mùi lắm.

Minh Châu : Nhạc sĩ Thảo Nam Giang: Âm nhạc tuôn tràn trong huyết quản

07:08, 15/04/2018 (GMT+7)

(GLO)- Nhạc sĩ Thảo Nam Giang sinh trưởng trong một gia đình toàn những nghệ sĩ có tên tuổi của Tây Nguyên. Mẹ anh là Trương Thanh Bình-ca sĩ Đoàn Văn công Tây Nguyên (nay là Nhà hát Ca múa nhạc tổng hợp Đam San). Hai người cha của anh đều là những đại thụ của nghệ thuật đương đại Tây Nguyên.

Cha đẻ anh là Nghệ sĩ Ưu tú Thảo Giang-người đã giới thiệu cây đàn goong ra nhiều nước trên thế giới và là người nghệ sĩ đầu tiên, duy nhất cho đến nay cải tiến và soạn nhạc trên cây đàn truyền thống vô cùng độc đáo này. Cha nuôi của anh, Nghệ sĩ Nhân dân Y Brơm, được xem là cánh chim đầu đàn của nghệ thuật múa đương đại Tây Nguyên. Ông cũng là người nghệ sĩ đầu tiên của Tây Nguyên được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân (năm 1984).

Nhạc sĩ Thảo Nam Giang (giữa) cùng những người thân thiết.                     Ảnh: M.C
Nhạc sĩ Thảo Nam Giang (giữa) cùng những người thân thiết. Ảnh: M.C

Trưởng thành trong một môi trường như vậy nên việc anh theo con đường nghệ thuật là lẽ tự nhiên. Ảnh hưởng sâu sắc từ 2 người cha nghệ sĩ, không lạ khi Thảo Nam Giang sớm trở thành nhạc sĩ với những sáng tác ở mảng khúc và nhạc múa thấm đẫm chất dân tộc, dân gian Tây Nguyên. Anh nói, dưới cái bóng của những người nghệ sĩ lớn, anh không thấy áp lực mà hạnh phúc và tự hào. “Tôi được dạy dỗ rất nghiêm khắc từ người cha nuôi. Tuy vậy, bản thân còn phải học hỏi nhiều lắm”-anh nói.

Với tố chất nghệ sĩ sẵn có, lại được đào tạo bài bản trong ngôi trường chuyên nghiệp về nghệ thuật nên mọi thứ đến với anh như trái chín. “Hồi ấy, nhạc sĩ An Thuyên chơi khá thân với ba Y Brơm. Mỗi lần ông về Gia Lai thường ghé thăm gia đình tôi. Rồi cứ thế, ông “bốc” tôi vào trường đi học mà không phải thi cử gì cả. Tôi cùng với Nghệ sĩ Ưu tú Đinh Xuân Đề (công tác tại Đoàn Nghệ thuật Quân khu 5) là 2 người Tây Nguyên đầu tiên theo học tại Trường Đại học Văn hóa-Nghệ thuật (khóa 1). Tôi được đào tạo để chơi được tất cả các loại nhạc cụ truyền thống, sau đó chuyển sang chuyên ngành sáng tác”-nhạc sĩ Thảo Nam Giang kể.

Nếu mặc định những yếu tố hun đúc nên một nghệ sĩ là năng khiếu, niềm đam mê, trình độ và sự khổ luyện bản thân thì Thảo Nam Giang hội đủ tất cả để thỏa sức sáng tạo trên con đường nghệ thuật. Không chỉ là nhạc sĩ chuyên sáng tác ca khúc, anh còn là một trong những “hạt giống” hiếm quý sáng tác nhạc múa của Gia Lai và Tây Nguyên. “Từ nhỏ, tôi đã được Nghệ sĩ Nhân dânY Brơm dẫn đi khắp nơi, chỉ dẫn, truyền cảm hứng lĩnh vực âm nhạc, đặc biệt là nhạc múa. Ông ảnh hưởng đến tôi sâu sắc nhất. Ông không chỉ là người cha mà còn là một người thầy nghiêm khắc và đầy bao dung. Ông “bắt buộc” tôi phải học và nói được tiếng Bahnar mẹ đẻ. Bởi có như vậy, tôi mới có thể tìm tòi, khám phá chất liệu dân gian và phát triển chúng thành của mình. Ông luôn nhắc nhở tôi, âm nhạc dân gian Tây Nguyên là một kho báu, phải bảo tồn và phát triển theo xu hướng hội nhập trên nền tảng văn hóa truyền thống và đó cũng là trách nhiệm của người nghệ sĩ. Tôi luôn lấy điều này làm đích đến trong sáng tác của mình”-nhạc sĩ sinh năm 1979 chia sẻ.

Vậy nên, âm nhạc của Thảo Nam Giang luôn thấm đẫm chất dân gian nhưng cũng mang màu sắc và hơi thở đương đại. Thấm đẫm mạch nguồn văn hóa Tây Nguyên, anh luôn cố gắng tìm tòi giá trị cốt lõi trong âm nhạc truyền thống để phát triển, làm ra cái mới trong sáng tác. Chính vì vậy, Thảo Nam Giang có được thành tích khá rực rỡ với nhiều giải thưởng. Về mảng ca khúc, anh có trên 20 sáng tác, trong đó nổi tiếng có “Rừng ơi, Yàng ơi” (phổ thơ Kpă Y Lăng), “Gia Lai những chặng đường chiến công”, “Tiếng cồng chiêng Tây Nguyên”… Mới đây nhất, anh vừa viết xong ca khúc “Mặt trời Tây Nguyên”  tràn ngập cảm xúc biết ơn của nhân dân Tây Nguyên đối với Đảng và Bác Hồ muôn vàn kính yêu. Song song đó, anh cũng hoàn thành bài nhạc múa “Hồn cồng”, được một số đơn vị “mang chuông đi đánh xứ người”, đạt nhiều huy chương vàng, bạc. Riêng về nhạc múa, anh có nhiều sáng tác được những tên tuổi lớn như Nghệ sĩ Nhân dân Xuân La, Nghệ sĩ Nhân dânY Brơm, nghệ sĩ Công Hưng… biên đạo, dàn dựng và đạt nhiều giải thưởng. “Tôi sáng tác khá thường xuyên và không mấy khó khăn. Cũng có lúc phải đi tìm những cảm xúc tươi mới nhưng lúc nào âm nhạc cũng chảy tràn trong người, cứ ngồi với cây đàn là sẽ có tác phẩm “-người nghệ sĩ có phần khá trầm lặng trải lòng.

Minh Châu

http://baogialai.com.vn/channel/742/201804/nhac-si-thao-nam-giang-am-nhac-tuon-tran-trong-huyet-quan-5577657/index.htm

Viet Music Now & Then (25) Một Kiếp Hoa

00:0017:33
Ns Nguyễn Văn Tuyên (lúc về già) và Ns Trần Văn Khê (lúc trẻ tại Pháp 1951) (Creative Commons)

Một Kiếp Hoa của Nguyễn Văn Tuyên được xem như là bản nhạc đầu tiên của tân nhạc Việt Nam mở đầu cho nhạc Việt chuyển từ các làn điệu ngũ cung sang các sáng tác cách tân theo các điệu thức Tây phương

By

Mai Hoa

Published on

Saturday, August 6, 2016 – 19:20

File size

8 MB

Duration

17 min 33 sec

Giáo sư Nhạc sĩ Trần Văn Khê được nhiều người biết đến như một nhà nghiên cứu âm nhạc.

It ai biết rằng ông có một sáng tác hiếm hoi Đi chơi Chùa Hương phổ thơ Nguyễn Nhược Pháp sáng tác vào năm 1942 lúc đang học trường Y Hà Nội.

Bài hát này dài đến hơn 13 phút có lẽ vì vậy mà ít có có bản ghi âm của nó.

Bài Một Kiếp Hoa của nhạc sĩ Nguyên Văn Tuyên cũng hiếm có bản ghi âm.

Trong Chương trình Nhạc Việt Xưa & Nay lần này, Mai Hoa và Tuấn Tôn xin giới thiệu hai bài hát rất xưa và khá khó tìm này với mong muốn giúp quý vị có thêm tư liệu để hiểu hơn về những ngày đầu của tân nhạc Việt Nam.

Bản nhạc Một Kiếp Hoa

Bản nhạc Một Kiếp Hoa của Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên.

https://www.sbs.com.au/yourlanguage/vietnamese/en/audiotrack/viet-music-now-then-25-mot-kiep-hoa

 

Nguyễn Thụy Kha: Nhạc Việt từng có « Vua tango » Hoàng Trọng

15/07/2018 06:49

Hoàng Trọng hiện ra giữa lịch sử tân nhạc Việt Nam như một « ông vua » của tiết điệu tango với nhiều tác phẩm để đời

Nhân kỷ niệm 20 năm ngày mất của nhạc sĩ Hoàng Trọng (17-7), tôi bỗng có hứng thú viết về ông, một trong các « đại ca nhạc tiền chiến », nhạc sĩ được mệnh danh « Vua tango » của âm nhạc Việt Nam.

Ẩn số ấn tượng

Vào khoảng năm 1962, ở miền Bắc bỗng rộ lên một bài tình ca ngắn mang tên « Giã từ ». Bài hát được truyền miệng rộng rãi và nếu có ai đó ký âm thành văn bản thì đều ghi là bài hát Liên Xô (CCCP).

Nhạc Việt từng có Vua tango Hoàng Trọng - Ảnh 1.

Nhạc sĩ Hoàng Trọng Ảnh: TƯ LIỆU

Tôi còn nhớ ca từ của mấy đoạn như sau (dễ nhớ vì bài hát chỉ có một đoạn đơn): « Biết đến bao giờ, gặp lại người em thời ấu thơ. Để báo tin rằng cuộc đời từ nay đã khác xưa. Một phút gần nhau rồi tình mãi mãi lìa xa. Quà nghèo chỉ có lời ca. Tặng nàng trước khi từ giã… ».

Một thời dài chiến chinh, tình ca « Giã từ » đã theo nhiều trai tráng vào quân đội. Họ thường hát bài này trong giây phút tiễn đưa và sau đó là những phút nhớ người yêu ở chiến trường khốc liệt. Đến thời thanh bình, khi những chuyên gia quân sự Liên Xô còn ở Việt Nam, có những người đã tập hát « Giã từ » bằng tiếng Việt một cách thích thú và nghĩ rằng bài hát nước mình được dịch ra tiếng bạn hay quá.

Mãi đến thời mở cửa, khi tôi mở « chiến dịch » nghiên cứu các « đại ca nhạc tiền chiến » thì mới té ngửa ra rằng bài hát mà mình từng đinh ninh trên chính là một đoạn đầu của một bản tango mang tên « Tiễn bước sang ngang » của tác giả Hoàng Trọng viết tại Sài Gòn năm 1959. Chỉ có điều, ca từ đã được thay cho có vẻ thời đại hơn so với ca từ của chính tác giả, tuy các câu mở đầu đều được giữ nguyên. Bài này phần lời của Hồ Đình Chương.

Bởi thế, Hoàng Trọng trở thành một ẩn số ấn tượng trong dự định tìm hiểu của tôi. Đến bây giờ, khi tôi gặp được chính con trai tác giả – nhạc sĩ Hoàng Nhạc Đô – tại TP Cần Thơ thì ẩn số ấy đã được giải. Hoàng Trọng hiện ra giữa lịch sử tân nhạc Việt Nam như một « ông vua » của tiết điệu tango – một điệu nhảy của người Mỹ Latin, đã du nhập Việt Nam từ đầu thế kỷ XX.

Hạt giống của nền tân nhạc Việt

Hoàng Trọng sinh năm 1922, đồng niên và đồng hương Hải Dương với Đỗ Nhuận. Nếu Đỗ Nhuận xuống Hải Phòng học nhạc thì ngược lại, Hoàng Trọng lại lên học nhạc ở Hà Nội từ năm 11 tuổi. Đến năm 15 tuổi, Hoàng Trọng đã lập ban nhạc riêng anh em trong gia đình với sự tham gia của các thân hữu: Đan Thọ, Đặng Thế Phong, Tạ Phước, Bùi Công Kỳ. Họ vừa chơi nhạc vừa sáng tác bài hát.

Ngay từ năm 1938, Hoàng Trọng đã viết bài hát « Vầng trăng sáng » theo nhịp valse chậm như một bài tập xinh xắn đầy âm hưởng phương Tây: « Vầng trăng sáng lắng soi bên thềm. Chiều mây nước tiếng dương êm đềm. Lòng sầu vương buồn lan theo gió. Nhớ thương ai khắc khoải chờ mong… ».

Hoàng Trọng cứ thế đắm chìm vào âm nhạc giữa kinh kỳ phồn hoa những năm Thế chiến thứ hai đầy biến động. Vào năm 1945, Hoàng Trọng mở phòng trà « Thiên thai » đầu phố Hàng Gai – Hà Nội và lập ra ban nhạc « Thiên thai ». Toàn quốc kháng chiến, nhiều nhạc sĩ Hà Nội rời khỏi kinh kỳ nhưng do nhiều hoàn cảnh khác nhau, họ lại tìm về Hà Nội để nối tiếp dòng âm nhạc lãng mạn thời tiền chiến.

Những năm đầu thập kỷ 1950 ở Hà Nội, giới yêu nhạc gọi Đoàn Chuẩn là « Vua lục huyền cầm Hạ-Uy-Di), Ngọc Bích là « Vua nhạc swing » còn Hoàng Trọng là « Vua tango ». Từ « Bóng trăng xưa » viết 1940, Hoàng Trọng đi tới « Phút chia ly » viết 1948 và hằn lên một ấn tượng bởi « Đường về » viết 1950 – một bản tango mẫu mực có thể đưa vào sách giáo khoa dạy khiêu vũ. Chỉ một câu nhạc mở đầu đã thấy cái chất tango luồn lách, uyển chuyển, gợi cảm: « Đường về xa vời gieo thương nhớ trong lòng. Hồn quê lai láng khi ánh chiều rơi. Đã mấy thu xưa qua rồi. Khi gió sầu đông mang về. Lòng buồn man mác niềm nhớ… ».

Sau đó là những « Bên sông đưa người » (1951), « Mộng lành » (1956), « Ngỡ ngàng » và « Tiễn người sang ngang » (1958), « Em còn nhớ không » (1961), « Hai phương trời cách biệt » (1963), « Sao cho trọn niềm vui » (1966)… Chính cái tham vọng tiếp tục dòng nhạc tango này mà Hoàng Trọng phải di cư vào Nam. Ngay năm 1955, ông đã lập ra ban nhạc Tây Hồ ở Sài Gòn với nhiều tên tuổi.

Tình ca mang âm hưởng dân gian

Nếu những sáng tác mang tiết điệu tango cho Hoàng Trọng có nét riêng khác người thì nhiều sáng tác khác của ông lại gây nên một ấn tượng tình ca mang âm hưởng dân gian cũng rất đặc sắc. « Nhạc sầu tương tư » ông viết năm 1953 là một ví dụ. Trong CD « Về bến mơ » khá công phu của mình, ca sĩ Quỳnh Hoa – có khả năng hát và nhảy nhạc tango rất quyến rũ – đã không ngần ngại chọn cả « Đường về » và « Nhạc sầu tương tư » của Hoàng Trọng.

Hoàng Trọng cứ nghiêng ngả giữa hai miền cảm hứng như thế cho đến « Khói chiều », viết 1960. Dường như đó là nhạc phẩm hội tụ tất cả các ngả tư duy của ông để hòa hợp nên một tác phẩm có tầm cỡ của một Aria thuần Việt. Đoạn đầu của nhạc phẩm được viết ở giọng đô trưởng với âm hưởng dân gian: « Buồn lên mấy ngọn (là ngọn) tre chiều. Nắng phai duyên lá sáo diều im hơi. Khói chiều lên ngút (lên ngút) chân trời. Đầu sông chạnh nhớ đến người cuối sông ». Không biết bài thơ « Anh ở đầu sông em cuối sông » của Hoài Vũ sau này mà Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc rất hay có tham khảo ca từ trên không?

Đến đoạn tiếp theo, Hoàng Trọng chuyển điệu rất xa sang fa thứ, tức là giọng thứ đồng âm với giọng fa trưởng, hạ át âm của giọng đô trưởng. Một chuyển điệu lạ trên những câu lục bát quen: « Hôm qua mình đứng bên cầu. Lơ mơ nhớ lại hôm đầu xa quê. Bao năm đi chẳng trở về. Thiết tha lại nhớ câu thề nước non. Khói hoàng hôn, khói hoàng hôn. Ngừng bay ta gửi chút buồn nhớ quê ».

Tôi bỗng nhớ một câu thơ Huy Cận: « Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà ». Âm hưởng « khói hoàng hôn » vừa thoáng thành fa trưởng cuối đoạn fa thứ thì lại chuyển rời sang rê thứ, giọng thứ đồng hóa biểu với fa trưởng. « Một ngọn khói cứ u uẩn trong tâm trí »: « Ngắm hoàng hôn lại nhớ nhà. Khói hoàng hôn tản thế mà quạnh hiu ». Và « khói hoàng hôn » đã bay thành giọng sol trưởng ở cuối bài một cách rất tự nhiên như chính câu lục bát kết: « Bâng khuâng chiều ngẩn ngơ chiều. Lòng lâng lâng gợi ít nhiều nhớ thương ».

Sau ngày đất nước thống nhất, Hoàng Trọng lui về ẩn dật, dạy nhạc tại gia ở chợ Cầu Muối, quận 1, TP HCM. Với hoàn cảnh khó khăn thời bấy giờ cộng thêm nỗi buồn nhớ hai con Fa, La bên nước ngoài, ông đã phải chịu cho các con bảo lãnh đi Mỹ năm 1990. Ông từ trần vào chính ngọ ngày 17-7-1998 sau khi chỉ huy giàn nhạc giao hưởng Tiếng Tơ Đồng kỷ niệm 60 năm âm nhạc Hoàng Trọng tại San Jose California vì bệnh tim, thọ 77 tuổi.

Nhớ mãi một tên tuổi

Nhạc sĩ Hoàng Trọng đã để lại cho đời trên 200 ca khúc đã xuất bản, thịnh hành trong và ngoài nước cùng những bài hợp xướng từng trình diễn trong ban nhạc Tây Hồ và Tiếng Tơ Đồng của ông. Tập nhạc tuyển « Một đời còn lại » do con trai ông là nhạc sĩ Hoàng Nhạc Đô tuyển chọn xuất bản trên 100 ca khúc như tổng kết lại một vận hội say mê sáng tạo âm nhạc của Hoàng Trọng (1938-1998) với rất nhiều đóng góp trong ngôn ngữ và cấu trúc, đặc biệt là với tiết điệu tango. Có thể nhận ra ở đó những cung bậc tình cảm mà ông đã gửi gắm suốt cuộc đời không ít sóng gió. Cuộc đời đã đưa ông trở thành một tên tuổi trong lịch sử tân nhạc Việt – một tên tuổi đáng được ghi nhận và đáng được nhớ mãi.

Nguyễn Thụy Kha

Thế Giới Nghệ Sĩ số 173: Đã Phát Hành Thế Giới Nghệ Sĩ 173 chủ đề: Hè về, nhớ Trường Làng Tôi và nhạc sĩ Phạm Trọng (phát hành ngày 1/6/2018)

Đã tải thêm tin.