Catégorie : NHẠC SĨ VIỆT NAM

nhacxua.vn tổng hợp: Đôi nét về nghệ sĩ đàn bầu Đức Thành – Hình ảnh quen thuộc với khán giả hải ngoại trên Paris By Night

2019/12/04 in Bàn Tròn Âm Nhạc

Từ khoảng năm 1997 trở đi, những khán giả yêu mến chương trình Thúy Nga Paris đều rất thích thú khi thấy xuất hiện trên sân khấu một người nghệ sĩ tóc dài, mặc áo dài khăn đóng, chơi đàn bầu rất điêu luyện…

Click để nghe đàn bầu Đức Thành trong 1 tiết mục trên Paris By Night

Cây đàn đó chỉ có một dây, nhưng với ngón tay tài hoa của người nghệ sĩ đã rung lên những giai điệu du dương lạ thường. Người nghệ sĩ đó chính là Phạm Đức Thành, khi còn ở trong nước từng đoạt giải thưởng về đàn bầu toàn quốc trong kỳ thi các loại đàn cổ truyền Việt Nam năm 1985.

Tiếng đàn bầu của Phạm Đức Thành rất khác biệt, vừa nghệ thuật lại vừa mang tính giải trí, kết hợp nhạc cụ dân tộc với dàn nhạc âm nhạc hiện đại, làm cho khán giả như đắm chìm trong những âm thanh mộc mạc, da diết trên một sân khấu đại nhạc hội.

Click để nghe nghệ sĩ Đức Thành biểu diễn ca khúc 999 Đóa Hồng tại Trung Quốc

Nghệ sĩ Phạm Đức Thành sinh năm 1956 tại thôn Đoan Bình, xã Gia Phú, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Đây là một vùng quanh năm nước lụt đồng chua, nhưng rất thịnh về chèo cổ, chầu văn và lên đồng, vì vậy ông rất say mê âm nhạc dân tộc của vùng Bắc Bộ. Tuy không xuất thân từ gia đình nghệ sĩ, nhưng Đức Thành nói rằng ông đã chịu nhiều ảnh hưởng về nhạc dân tộc khi còn nằm trong bụng mẹ. Trong thời gian này, mẹ ông thường xuyên nghe những đĩa nhạc cổ, đó là loại đĩa đá điược phát từ máy hát đĩa lên dây cót. Ban đầu từ việc chỉ nghe thụ động theo mẹ, dần dần cậu bé Đức Thành thuở nhỏ đã đam mê đến nỗi thuộc nằm lòng nhiều nhạc phẩm dân ca.

Ông đã tập làm quen với trống chèo ngay từ khi mới lên 4. Được gia đình khuyến khích, mới lên 5 ông tiếp tục làm quen với đàn Mandolin, sau đó là đàn Bầu, rồi đàn Nhị…

Cuối cùng chọn cho mình chiếc đàn Bầu để gắn liền với sự nghiệp, ông chia sẻ lý do với nhà báo Trường Kỳ như sau:

“Tôi sinh ra ở một vùng quê, ở miền Bắc Việt nam nên xung quanh là những cánh đồng lúa và những cái điệu hát chèo cổ. Chính những cái yếu tố đó đã làm cho tôi giống như mình sống trong một cái dòng nước về dân tộc.

Vì vậy khi mà trưởng thành thì tôi thấy là nhạc dân tộc rất là gần gũi, không thể thiếu được với người dân quê ở Việt Nam. Thế là tôi đã theo nhạc dân tộc ngay từ lúc nhỏ….”

Click vào hình để thưởng thức tiếng đàn bầu Đức Thành

Sau khi học xong phổ thông, khi mới 18 tuổi, nghệ sĩ Đức Thành xin phép gia đình để lên thành phố lập nghiệp. Từ đó cuộc đời hoạt động về nghệ thuật của nghệ sĩ Đức Thành bắt đầu từ khi đến với Nhà Hát Chèo Hà Nội vào năm 1974. Sau 4 năm vừa học vừa trình diễn đàn bầu và một số nhạc cụ cổ truyền khác, ông tốt nghiệp hạng ưu của chương trình trung cấp âm nhạc. Từ đó Đức Thành bắt đầu nghiên cứu nhiều về nhạc tây phương, ngoài ra ông còn tìm cách khai thác khả năng của cây đàn bầu đã gắn bó với mình đã một thời gian dài.

Khi sử dụng đàn bầu vào các loại nhạc của từng miền, nghệ sĩ Đức Thành đã dày công nghiên cứu để tạo cho mình được một nghệ thuật thẩm âm chính xác, đồng thời ông cũng tìm hiểu sâu xa về từng loại nhạc, nắm vững luật về cao độ và trường độ.

Ngoài khả năng chính là diễn tả âm thanh bằng nhạc, Đức Thành cho biết đàn bầu còn có nhiều khả năng diễn đạt âm thanh độc đáo khác khi được sử dụng trong cải lương. Để diễn tả tâm trạng buồn sầu, ai oán, có lẽ là không một nhạc cụ cổ truyền nào có khả năng diễn tả hoàn hảo như cây đàn bầu. Đây vốn là một cây đàn có gốc từ miền Bắc, trước kia chưa được khai thác trong cải lương, nhưng hiện nay âm thanh của đàn bầu đã trở thành quen thuộc với những người yếu thích vọng cổ… Một điểm thú vị khác là cây đàn một dây này còn có khả năng bắt chước giống như tiếng người.

Dù những âm thanh phát ra từ cây đàn bầu có phầm não nùng và ai oán, nhưng với nghệ thuật sử dụng khéo léo của đôi bàn tay cùng với cái hồn âm nhạc của một người chuyên về nghiên cứu nhạc cổ truyền, Đức Thành đã biến những âm thanh sầu thảm đó thành những tiết điệu rộn rã và tươi vui như trong nhạc phẩm mang âm điệu viễn tây Hoa Kỳ “Riders In The Sky”, đã từng được ông thu thanh trong một CD cũng như trình tấu trên sân khấu làm cho khán giả rất thích thú.

Ngoài đàn bầu, Đức Thành còn sử dụng được nhiều loại nhạc cụ dân tộc kác như đàn nguyệt , đàn nhị, đàn tranh, và loại đàn rất ít người biết là đàn đáy.

Với thời gian nghiên cứu khá lâu và sâu sắc về âm nhạc, nghệ sĩ Đức Thành biết rằng việc trình diễn nhạc cổ truyền làm sao để có thể đi sâu vào lòng khán giả của từng miền không phải là việc dễ dàng. Vấn đề là làm sao có thể phát ra tiếng đàn đặc người miền Trung, làm sao cho ra đặc người miền Nam. Đó mới là chuyện khó. Không phải từ note nhạc Tây Phương mà từ cái thần thái của mình phát ra ngón đàn.

Theo người nghệ sĩ lão luyện về âm nhạc dân tộc này, tiếng đàn cũng như ngôn ngữ. Người sử dụng nó phải biết một số đặc điểm. Thí dụ sau khi nghiên cứu về dân ca Huế, ông đã có nhận xét là ”Dân ca Huế rất quan trọng về những cái dấu vỗ, về dấu rung hay sự đảo phách”. Từ đó Đức Thành đưa ra sự so sánh khi trình tấu một nhạc phẩm Tây Phương và một tác phẩm dân nhạc cổ truyền:

“Khi đàn nhạc Tây Phương thì phải biết thật chính xác note nhạc, đấy là điều quan trọng nhất. Không được đàn sai. Bởi vì những phím đàn piano được chia rất nhỏ thành 12 bán cung đều. Nếu đàn chệch ra note đó là sai hết tất cả hoà âm. Nhưng khi đàn cổ nhạc dân ca thì mình phải biết cái độ cao của note nhạc đó so với Tây Phương ra làm sao mà người ta không gọi là note nhạc mà mình phải biết ”chữ nhạc”. “Chữ nhạc” là gì? Là phải biết phải rung cái gì, không được rung cái gì, được vỗ cái gì… Nếu chúng ta học nhạc dân tộc mà không biết “chữ nhạc” có nghĩa là không biết cái rung thì không khác nào ông Tây hát vọng cổ, rất là khó nghe, mà đàn rất là khô cứng”.

Ông đưa ra thêm một thí dụ khác: ”Cũng như những người nghệ sĩ cổ nhạc mà đi đàn nhạc Tây mà không thoát ra được. Nghĩa là cứ dính cái hơi cổ nhạc hoài. Mình không có biết cái luật của phương Tây là phải đúng note, đúng cái note nhạc đó thì mới đúng với hoà âm. Nhiều khi trong những màn tân cổ giao duyên, có những nghệ sĩ không nghiên cứu thì hát rất là buồn cười. Cứ bị lai, bị dính hoài cái chất cổ nhạc”.

Click để nghe CD Đàn Bầu của Đức Thành

Trong thời gian còn ở Việt Nam, vào năm 1978, nghệ sĩ Đức Thành cũng đã được trao bằng danh dự của giải Đại Nhạc Hội Đàn Bầu Toàn Quốc lần đầu tiên tổ chức tại Hà Nội. Đây là giải thi đua về đàn bầu quy tụ tất cả những người biết sử dụng cây đàn độc huyền, không phân biệt tuổi tác, thành phần, địa phương.

Cũng trong năm 1978, ông được đề cử làm đại diện cho sân khấu Chèo, được giải nhất về đàn bầu. Sau đó được nhận vào Nhạc Viện ở Sài Gòn để chuyên nghiên cứu âm nhạc, đặc biệt về dân nhạc Việt Nam dưới sự hướng dẫn của giáo sư Trần Văn Khê. Năm 1983 ông tốt nghiệp Thủ Khoa toàn quốc về nghiên cứu và sử dụng đàn bầu.

Đến năm 1985, một lần nữa Đức Thành được nhận thêm một vinh dự khi đoạt giải nhất đàn bầu toàn quốc ở phía Nam trong cuộc thi các loại nhạc khí cổ truyền gồm đàn Kìm, đàn Cò và đàn Bầu.

Từ năm 1980, Đức Thành quy tụ một số nhạc sĩ để thành lập một ban nhạc cổ truyền cộng tác với khách sạn Rex trong cho đến cuối năm 1990 trước khi sang Tây Đức. Trong thời gian này ông sử dụng đàn bầu để biểu diễn những bài dân ca Việt Nam, nhạc cổ Việt Nam và dân ca của thế giới cho đối tượng chính là khán thính giả ngoại quốc. Ngoài ra ông còn cộng tác với nhà hàng trên khách sạn nổi của Úc tại bến Bạch Đằng. Với mục đích đi tìm một giọng hát thích hợp với dân ca để cùng trình diễn với ban nhạc, Đức Thành đã để ý đến tiếng hát Nguyệt Lan qua những chương trình truyền hình và đài phát thanh để sau đó mời cô vào hợp tác. Và sau khi diễn chung ở Đà Lạt, họ nảy sinh tình cảm và làm đám cưới vào năm 1987.

Đức Thành và Nguyệt Lan trở một đôi nghệ sĩ nổi tiếng, họ cùng nhau sang Đức năm 1990, rồi sau đó là Canada năm 1996. Tuy nhiên sau đó cuộc hôn nhân của họ tan vỡ, nghệ sĩ Đức Thành tái hôn với người vợ mới là ca sĩ Nguyễn Phương Linh.

Vợ chồng nghệ sĩ Đức Thành

Nghệ sĩ Đức Thành từng được đài truyền hình ART của Canada bình chọn là nghệ sĩ có đóng góp lớn trong việc truyền bá, gìn giữ và phát triển âm nhạc truyền thống của Việt Nam. Để đạt được danh hiệu này, theo Đức Thành thì có 3 yếu tố cần phải có, đó là người nghệ sĩ không được làm nghề nào khác, đồng thời phải đào tạo được những học trò chuyên nghiệp, và phải có sự ảnh hưởng để lan tỏa được niềm đam mê âm nhạc cổ truyền đến với quần chúng.

Ngoài ra Đức Thành cũng từng biểu diễn cùng nghệ sĩ đàn tỳ bà nổi tiếng Trung Quốc – Liu Fang, tham gia biểu diễn cùng cố giáo sư Trần Văn Khê ở nhiều festival âm nhạc dân tộc quốc tế.

Hiện nay, hình ảnh nghệ sĩ Đức Thành ngồi trước cây đàn bầu trong mỗi tiết mục của chương trình Paris By Night vẫn là hình ảnh rất quen thuộc với khán giả khắp nơi trên thế giới.

Vào năm 2018, nghệ sĩ Đức Thành có về Việt Nam thực hiện liveshow lần đầu tiên sau gần 30 năm xa quê hương.

nhacxua.vn tổng hợp

Tuyển tập những sáng tác mới nhất của Nhạc sĩ LÊ DINH [1]

Tuyển tập những sáng tác mới nhất của Nhạc sĩ LÊ DINH [1]

12,167 views•Nov 15, 2016

NS Lê Dinh Tuyển tập gồm những tác phẩm mới nhất của Nhạc sĩ Lê Dinh được thể hiện bởi tiếng hát: Trang Mỹ Dung, Mạnh Quỳnh (pre 75), Vi Thảo, Khắc Dũng, Minh Thảo, Lê Duy, Hương Giang.

ĐÔNG KHA: Cuộc đời và sự nghiệp của nhạc sĩ Hùng Lân – Tác giả của Khỏe Vì Nước, Việt Nam Minh Châu Trời Đông, Đêm Thánh Vô Cùng…

Cuộc đời và sự nghiệp của nhạc sĩ Hùng Lân – Tác giả của Khỏe Vì Nước, Việt Nam Minh Châu Trời Đông, Đêm Thánh Vô Cùng… Hùng Lân là nhạc sĩ và nhạc sư nổi tiếng của âm nhạc Việt Nam. Ông tác giả những ca khúc hùng ca nổi tiếng như Khỏe Vì Nước, Việt Nam Minh Châu Trời Đông, Tiếng Gọi Lên Đường, Rạng Đông…, Nhạc sĩ Hùng Lân cũng là người khởi xướng dùng tiếng Việt để hát thánh ca và đặt lời Việt cho bài Silent Night nổi tiếng có tựa đề là Đêm Thánh Vô Cùng, với các lời hát quen thuộc với công chúng suốt hưn 70 năm qua:“Đêm Thánh vô cùng, 
giây phút tưng bừng…”.Ngoài ra, nhạc sĩ Hùng Lân còn là giáo sư âm nhạc nổi tiếng, là một trong những nhà sư phạm âm nhạc đầu tiên của tân nhạc Việt Nam. Ông cũng soạn ra nhiều sách dạy nhạc bằng tiếng Việt đầu tiên, với các bộ sách giáo khoa âm nhạc dạy ở trường phổ thông từ trước năm 1954.

Nói về sự nghiệp sáng tác của nhạc sĩ Hùng Lân, có thể chia thành 3 chủ đề chính: Thánh ca, nhạc kêu gọi thanh niên và nhạc thiếu nhi.Thể loại nhạc kêu gọi thanh niên (tạm gọi là hùng ca) của nhạc sĩ Hùng Lân không nhiều, nhưng đều trở thành bất tử, đặc biệt là bài Khỏe Vì Nước không thể thiếu trong các sự kiện về thể thao trong giới học sinh và thanh niên cả trước và sau năm 1975.

Bài hát này kêu gọi thanh niên Việt Nam phải khỏe mạnh, tráng kiện, để có thể góp phần xây dựng đất nước:Khỏe vì nước kiến thiết Quốc Gia.
Đoàn thanh niên ta góp tài ba.
Tạo nguồn dân sinh mới hùng mạnh trong năm giới.
Hợp lực xây hưng thịnh chung nước Nam.
Khỏe vì nước chí khí cương kiên.
Giống Lạc Hồng uy hùng vô biên.
Trong khốn nguy can trường sống thác ta coi thường.
Việt Nam thanh niên anh dũng muôn năm…
https://www.youtube.com/watch?time_continue=1&v=JsUwPu80bck&feature=emb_title
Click để nghe ca khúc Khoẻ Vì Nước Tương tự như Khỏe Vì Nước, ca khúc Cô Gái Việt của Hùng Lân là một bản hùng ca rất phổ biến ở miền Nam trước 1975, thường được vang lên trong các dịp kỷ niệm Hai Bà Trưng, trong các dịp diễn hành của nữ quân nhân: Lời sông núi bừng vang bốn phương trời
Giục chúng ta đường phụng sự quyết tiến
Triệu Trưng xưa đẹp gương sáng muôn đời
Giòng máu thiêng còn đượm nồng vạn trái timhttps://www.youtube.com/watch?v=hsCKxVa1O5w&feature=emb_title
Click để nghe ca khúc Cô Gái Việt Bản hùng ca nổi tiếng nhất của nhạc sĩ Hùng Lân là Việt Nam Minh Châu Trời Đông, từng được Việt Nam Quốc Dân Đảng sử dụng làm bài hát chính thức. Bài hát được sáng tác vào năm 1944, đạt giải nhất kỳ thi Âm Nhạc Toàn Quốc năm đó.Có thể nói Việt Nam Minh Châu Trời Đông là một tuyệt tác ca ngợi đất nước Việt Nam tươi đẹp, lịch sử Việt Nam hào hùng, dân tộc Việt Nam sẵn sàng xả thân để bảo vệ sơn hà: Việt Nam minh châu trời đông.
Việt Nam nước thiêng Tiên Rồng
Non sông như gấm hoa uy linh một phương.
Xây vinh quang ngất cao bên Thái Bình Dương.https://www.youtube.com/watch?time_continue=2&v=RefLbJdDmts&feature=emb_title
Click để nghe ca khúc Việt Nam Minh Châu Trời Đông Về mảng ca khúc thiếu nhi của Hùng Lân, đến nay có lẽ vẫn còn nhiều người từng là học sinh Tiểu Học ở Miền Nam trước năm 1975 nhớ đến bài hát đã thuộc lòng như một lời nhắc vui cho việc phải nhớ đánh răng mỗi ngày 2 lần – bài Thằng Tí Sún:Ê cái thằng Tí Sún Tí Sún,
Nhe cái răng nham nhở vô cùng
Vì nó lười đánh răng sớm tối
Lại ăn kẹo suốt ngày không thôi…https://www.youtube.com/watch?v=tkaijH0jx3g&feature=emb_title
Click để nghe ca khúc Thằng Tí Sún Ngoài ra còn phải kể đến ca khúc vui tươi và hồn nhiên dành cho các em bé đang còn chập chững tập nói, đó là Em Yêu Ai:Nếu hỏi rằng, em yêu ai
Rằng em thì em yêu mẹ này
Rằng em thì em yêu cha này
Yêu chị yêu anh, yêu hết cả nhà
Nhưng, nhưng nhất là yêu mẹ cơ… Một ca khúc khác nổi tiếng khác của nhạc sĩ Hùng Lân mà học sinh ngày xưa ai cũng biết và cũng thuộc, đó là Hè Về – bài hát mùa hè phổ biến nhất trong những năm thập niên 1950: Trời hồng hồng, sáng trong trong
Ngàn phượng rung nắng ngoài song…

Tiểu sử Nhạc sĩ Hùng Lân:Ông sinh ngày 23/6/1922 tại Hoàn Kiếm – Hà Nội, là người con thứ 4 trong một gia đình Công Giáo với 11 anh chị em. Ông tên thật là Hoàng Văn Cường, nhưng do nhầm lẫn, giấy khai sinh ghi là Hoàng Văn Hường, sau lại đổi là Hoàng Văn Hương.

Xuất thân trong gia đình Công giáo, từ năm 6 tuổi nhạc sĩ Hùng Lân được theo học tại trường tiểu học Gendreau (hiện nay là trường Hoàn Kiếm, phố Nhà Chung – Hà Nội), sau đó là trường các Sư Huynh Dòng Lasan Puginier.

Ngay từ bậc tiểu học, ông đã bắt đầu được học nhạc với Linh mục P. Dépaulis và được tuyển vào ban hợp xướng của nhà thờ lớn Hà Nội. Đó cũng là hình thức được tiếp xúc với âm nhạc thuở ban đầu thường thấy ở các nhà soạn nhạc nổi tiếng trên thế giới.Từ năm 1934 đến 1945, ông được học nhạc với linh mục J. Bouis tại Tiểu chủng viện Thánh Phêrô Hoàng Nguyên ở Phú Xuyên, Hà Đông (nay thuộc Hà Nội), rồi sau đó là Đại chủng viện Xuân Bích (Saint Sulpice) ở Hà Nội.Năm 1938, ông sáng tác nhạc phẩm đầu tay là Tiếng Gọi Lên Đường.

Thời điểm thập niên 1930-1940, các ca đoàn trong nhà thờ ở Việt Nam chỉ hát những bài hát Latin hoặc tiếng Pháp, có rất ít bài được dịch sang tiếng Việt. Vì vậy nhạc sĩ Hùng Lân cùng nhóm sinh viên đại chủng viện Xuân Bích Hà Nội tiên phong trong việc sáng tác những bài thánh ca Việt Nam theo thể loại mới. Tháng 7 năm 1945, nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh được thành lập, do ông làm Đoàn trưởng, có nhiều đóng góp tỏng việc sáng tác nhạc thánh ca. Riêng Hùng Lân đã xuất bản được 3 tập nhạc là “Ca vang lời Chúa 1,2,3” và khoảng 80 bài Thánh Vịnh Ứng Tác.

Năm 1944, ông giành cả 2 giải cao nhất của cuộc thi sáng tác tân nhạc do Hội Khuyến Nhạc Hà Nội tổ chức với 2 ca khúc Việt Mam Minh Châu Trời Đông và Rạng Đông.

Trong 2 năm 1945-1946, những điều không may liên tiếp kéo đến khi mẹ rồi sau đó đến cha của nhạc sĩ Hùng Lân lần lượt qua đời. Đây là lý do chính làm cho ông quyết định nghỉ học ở đại chủng viện để có điều kiện lo lắng cho các em hãy còn nhỏ. Bút hiệu “Hùng Lân” được ông ghép từ hai tên của người em thứ 5 và thứ 8, cho thấy nhạc sĩ Hùng Lân rất thương yêu các em mình.Ngoài ra, khi sáng tác thánh ca ông còn dùng các bút hiệu khác là Nam Hoa (nghĩa là hoa miền Nam) và Lâm Thanh (nghĩa là âm thanh trong rừng).Từ năm 1946, nhạc sĩ Hùng Lân bắt đầu đi dạy nhạc, ban đầu là ở trường Kẻ Giảng, gần quê mẹ của ông ở Phủ Lý – Hà Nam. Trong cùng năm này, ông viết Khỏe Vì Nước. Bài hát nhanh chóng được phổ biến và trở thành bài hát chính cho phong trào thể dục thể thao. Ngày 26 tháng 5 năm 1946, nhân ngày hội khỏe đầu tiên của nước VNDCCH, thanh niên và Tự vệ Thủ đô Hà Nội đã trình diễn bài thể dục đồng diễn trên nền bài Khỏe Vì Nước. Từ đó, cái tên Hùng Lân trở nên nổi tiếng.Thời gian này ông cũng tham gia Việt Minh, nhưng vì hoàn cảnh gia đình nên quay lại Hà Nội dạy âm nhạc ở trường Chu Văn An từ năm 1948. Trước năm 1945 trường này mang tên là Trường Trung học Bảo hộ, thường được gọi là Trường Bưởi.

Tại ngôi trường này, có 2 người là học trò của nhạc sĩ Hùng Lân sau này trở thành NSND, nổi tiếng với dòng nhạc đỏ là Quý Dương và Trần Hiếu. Ông Quý Dương nhớ lại: “Tất cả học sinh chúng tôi được học âm nhạc của thầy Hùng Lân, thầy Hùng Lân dạy rất hay, rất nhiệt tình, tận tụy. Một lớp của tôi những 50 học sinh, trong giờ giảng của mình, thầy giáo tuy không thể có thời gian dành riêng cho một học sinh, nhưng âm nhạc và những lời dạy của thầy cứ thấm dần vào tôi khiến tình yêu âm nhạc trong tôi ngày một lớn”.Năm 1949, ông soạn sách dạy âm nhạc khai tâm và sơ đẳng gồm hai tập mang tên Cây Đàn Sống được NXB Thế Giới ở Hà Nội ấn hành. “Bộ sách giáo khoa âm nhạc cho lớp đệ Thất, đệ Lục, đệ Ngũ, đệ Tứ” (tức các lớp phổ thông cấp 2 ngày nay) cũng được nhà xuất bản này cho ra đời trong năm 1952, 1953. Có thể nói ông là người đầu tiên soạn sách giáo khoa dạy âm nhạc trong nhà trường phổ thông.

Năm 1951, Hùng Lân lập gia đình với bà Nguyễn Thị Dung – một thiếu nữ hát rất hay, đã từng hát đơn ca trong ca kịch Tục Lụy của Lưu Hữu Phước và Thế Lữ. Họ và có sáu con gái, một trai.

4 ái nữ của nhạc sĩ Hùng Lân

Đến năm 1954, gia đình nhạc sĩ Hùng Lân di cư vào Nam. Ông trở thành giáo sư âm nhạc của trường Ca vũ nhạc Phổ thông Sài Gòn (tiền thân của trường Quốc Gia Âm Nhạc) và cũng là trưởng ban Phát thanh Nha Tổng Giám đốc Thanh niên và Thể thao Sài Gòn. Ông nội của Hùng Lân vốn là người vùng Sa Đéc, nên cuộc di cư của ông năm 1954 có thể xem là trở về quê hương gốc gác.

Năm 1956, Hùng Lân là một trong những nhạc sĩ đầu tiên tham gia sáng lập Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn danh tiếng. Từ năm 1957 ông là giáo sư dạy ký-xướng âm tại đây.

Năm 1957, Hùng Lân tham dự Hội Nghị Âm nhạc Đông Nam Á ở Manila. Cùng thời gian này, ông thành lập và làm trưởng ban Ca đoàn Thiên Thanh, hợp tác với đài phát thanh Sài Gòn và đài phát thanh Quân Đội.

Năm 1963, ông tốt nghiệp Cử Nhân Giáo khoa Văn Chương Pháp ở Đại học Văn Khoa Sài Gòn rồi về làm việc ở Trung Tâm Học Liệu.Năm 1965, ông được đề cử phụ trách khâu Phát thanh Học đường.

Phía sau nhạc sĩ Hùng Lân có ca sĩ Trần Ngọc (tức nhạc sĩ Tuấn Khanh – áo đen)Năm 1967, ông được cử đi tu nghiệp về Giáo dục và Truyền thanh tại đại học Syracuse, tiểu bang New York (Hoa kỳ).

Năm 1968 trở về nước, ông là tác giả của chương trình “Đố Vui Để Học” đầu tiên do Trung tâm Học liệu phát hình trên đài truyền hình Sài Gòn từ năm 1969 đến tháng 4 năm 1975.

Trong thời gian này ông còn đóng góp cho âm nhạc Việt Nam nhiều công trình nghiên cứu âm nhạc giá trị, chủ yếu là lĩnh vực nhạc dân tộc. Ông cũng soạn cuốn Sư phạm Âm nhạc Thực hành dùng cho chương trình đào tạo các giáo viên tiểu học.

Từ năm 1971 cho đến năm 1975, ông về Trường Sư phạm thuộc Đại học Đà Lạt dạy môn Sư phạm Âm nhạc.

Sau tháng 4 năm 1975, nhạc sĩ Hùng Lân dạy nhạc tại tư gia trên đường Nguyễn Văn Thủ, Q1.

Ngày 17/9/1986, ông qua đời vì trọng bệnh và tuổi già sức yếu, để lại trên 900 tác phẩm âm nhạc bao gồm các sáng tác và biên soạn.Đông Kha – n

Paris By Night 70 – Tình Khúc Lê Dinh

Paris By Night 70 – Tình Khúc Lê Dinh

207,392 views•Sep 10, 20201.2K119ShareSaveThuy Nga 4.02M subscribers Paris By Night 70 – Tình Khúc Lê Dinh 1. Đường Về Khuya (Minh Kỳ, Lê Dinh) Bảo Hân, Trúc Lam, Trúc Linh 2:21 2. Tình Yêu Trả Lại Trăng Sao – Hoàng Oanh 19:02 3. Phỏng Vấn Hoàng Oanh 24:38 4. Nếu Mai Này – Thế Sơn 31:35 5. Huế Buồn – Như Quỳnh 41:07 6. Tấm Ảnh Ngày Xưa – Trường Vũ 51:27 7. Chiều Lên Bản Thượng – Phi Nhung 1:01:07 8. Chữ Tình – Mạnh Quỳnh 1:11:08 9. LK Cánh Thiệp Hồng & Ngang Trái – Hạ Vy 1:22:23#thuynga#parisbynight#ledinh ©2003 published by Thuy Nga under license **Các video trên Thuy Nga Youtube Channel (http://www.youtube.com/thuynga) đã được đăng ký bản quyền với YouTube. Vui lòng không sao chép, re-upload dưới mọi hình thức. **Mọi hành vi sao chép, re-upload có thể dẫn đến việc tài khoản của bạn bị khóa vĩnh viễn. == Video hấp dẫn nhất nằm trong link này http://channel.thuynga.online/haynhat/ FOLLOW THUY NGA PARIS BY NIGHT: ☞ Facebook: https://www.facebook.com/ThuyNgaPBN/ ☞ Instagram: https://www.instagram.com/thuynga_off… ☞ Thuy Nga Youtube: http://channel.thuynga.online/ThuyNga… ☞ Hài Official: http://channel.thuynga.online/haioffi… ☞ Thuy Nga Karaoke: http://channel.thuynga.online/ThuyNga… ☞ Thuy Nga Radio: http://channel.thuynga.online/ThuyNga… ☞ MC Nguyễn Ngọc Ngạn Youtube: http://channel.thuynga.online/NguyenN… ☞ Website: http://www.thuyngashop.com ☞ Website mua hàng tại Việt Nam: http://www.thuynga.online

Music in this video

Learn more

Listen ad-free with YouTube Premium

Song

Paris By Night 70 – Tình Khúc Lê Dinh

Artist

Hoàng Oanh

The Jimmy Show | Nhạc sĩ Lê Dinh | SET TV www.setchannel.tv

The Jimmy Show | Nhạc sĩ Lê Dinh | SET TV http://www.setchannel.tv

31,880 views•Jan 15, 202044411ShareSaveSaigon Entertainment Television 158K subscribers SAIGON ENTERTAINMENT TELEVISION (SET CHANNEL) 10531 Garden Grove Blvd. Garden Grove, California Tel: 714-266-3666 Email: info@setchannel.tv Youtube: https://www.youtube.com/saigonenterta… Facebook: https://www.facebook.com/setchannel/ Download SET GROUP TV trên IOS hoặc Android để xem được nhiều đài Việt Ngữ miễn phí http://www.setchannel.tv Thân chủ quảng cáo cần quảng bá thương hiệu của mình đi khắp Hoa Kỳ, Canada, Úc, và Châu Âu. Xin liên lạc với đài truyền hình SET (Saigon Entertainment Television) INTERNATIONAL HOME SHOPPING 9822 Bolsa Avenue, Suite D Westminster, CA 92683 1-877-620-7467 Email: internationalhomeshopping@gmail.com

ĐẶNG HOÀNH LOAN : Nhạc sư – Nghệ sỹ Ưu tú Ba Tu

Nhạc sư – Nghệ sỹ Ưu tú Ba Tu

21,542 views•Jul 2, 2018738ShareSaveDang Hoanh Loan 6.44K subscribers Bậc thầy Đờn ca tài tử: Nhạc sư – Nghệ sĩ Ưu tú Ba Tu đã nhập môn cho tôi về lối học nhạc đờn tài tử Nam bộ. Hôm nay, sau hơn 5 năm Đờn ca Tài tử Nam Bộ được thế giới vinh danh là « Di sản Văn hóa phi vật thể Đại diện của nhân loại » tôi trích đôi lời giải thích của nhạc sư Ba Tu về nhạc đờn tài tử thành một video. Đây là lời cám ơn chân thành của tôi tới Tài tử bậc thầy Ba Tu, người đã nhập môn cho tôi về nhạc đàn Tài tử. Video cũng là nguồn tư liệu chân thật, gửi tới các bạn, những người muốn tìm hiểu, hoặc có í định nhập môn hình thức âm nhạc truyền thống tuyệt vời này.

THANH HIỆP : Vinh danh thầy đờn cổ nhạc

Vinh danh thầy đờn cổ nhạc

27-09-2020 – 07:27 AM |

Tối 26-9, Nhà Văn hóa Thanh Niên TP HCM đã tổ chức chương trình vinh danh thầy đờn cổ nhạc nhân ngày truyền thống sân khấu Việt Nam.

Sáu thầy đờn đã có nhiều công lao đóng góp cho phong trào đờn ca tài tử Nam Bộ và sân khấu cải lương được vinh danh gồm: NSND Văn Giỏi, NSND Thanh Hải, NSƯT Hoàng Thành, NSƯT Khải Hoàn, nghệ sĩ Bảy Dư, nghệ nhân Văn Hải. Các nghệ sĩ cải lương nổi tiếng như: NSND Bạch Tuyết, NSND Minh Vương, NSND Lệ Thủy, NSƯT Thanh Điền, NSƯT Thanh Kim Huệ… đã đến chúc mừng các thầy đờn.

Vinh danh thầy đờn cổ nhạc - Ảnh 1.

Ông Nguyễn Hữu Hiệp, Trưởng Ban Dân vận Thành ủy TP HCM và bà Phan Thị Thanh Phương, Bí thư Thành Đoàn TP HCM, tặng bằng khen vinh danh NSND Văn Giỏi

Ông Nguyễn Hữu Hiệp, Trưởng Ban Dân vận Thành ủy TP HCM và bà Phan Thị Thanh Phương, Bí thư Thành Đoàn TP HCM, đã cùng các lãnh đạo Sở Văn hóa và Thể thao TP HCM, Hội Sân khấu TP HCM… trao tặng bằng khen, hoa vinh danh những thầy đờn có công sáng tác, truyền nghề và ươm mầm thế hệ nhạc sĩ cổ nhạc trẻ trong sự nghiệp gìn giữ và phát triển đờn ca tài tử Nam Bộ, nghệ thuật cải lương.

Cùng sự kiện này, Nhà Văn hóa Thanh Niên TP HCM khai mạc triển lãm 106 bức ảnh nghệ thuật và cuộc đời của NSND Minh Vương; trao tặng quà cho nghệ sĩ lão thành, bệnh tật, nghèo khó và học bổng cho con em nghệ sĩ, công nhân sân khấu hiếu học; lễ vinh danh « Nghệ sĩ vì cộng đồng ». 

Tin-ảnh: Th.Hiệp

https://nld.com.vn/van-nghe/vinh-danh-thay-don-co-nhac-20200926222142587.htm

Thái Kế Toại: Tử Phác (1923-1982)MỘT SỐ PHẬN BI THẢM

Tử PhácMỘT SỐ PHẬN BI THẢM

nhạc sĩ TỬ PHÁC

Thái Kế Toại

10h  ·Nhạc sĩ Tử Phác là một trong những số phận bi thảm nhất trong các nhân vật chủ chốt của Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Cần phải giải thích thêm là tại sao tôi dùng chữ Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bởi vì ngay gần đây vẫn có người muốn phân biệt rạch ròi là ông này, ông kia chỉ viết ở báo này, báo nọ không dính dáng gì đến báo Nhân Văn hoặc tạp chí Giai Phẩm cả. Đúng là như thế, có những người như thế, như ông Phan Ngọc vừa mới mất chẳng hạn. Tất nhiên ở thời kỳ đó cách dùng thuật ngữ chưa được chuẩn lắm nhưng căn cứ vào tầm vóc của sự kiện, ảnh hưởng sâu rộng toàn xã hội của nó, biện pháp đối phó xử lý các đối tượng của chính quyền, Nhân Văn Giai Phẩm không phải chỉ là một nhóm mà là cả một trào lưu dân chủ rộng lớn ở miền Bắc được sự hưởng ứng trong khắp các tầng lớp nhân dân, trí thức, văn nghệ sĩ, học sinh, giáo viên, sinh viên. Chưa có sự hình thành tổ chức cụ thể nhưng Nhân Văn và Giai Phẩm là trung tâm, là nơi phát đi những làn sóng xung động mạnh mẽ. Thế mới biết rằng trong buổi đầu của xã hội toàn trị chính quyền luôn luôn lo ngại ảnh hưởng của văn học nghệ thuật là vì thế.Còn với nhạc sỹ Tử Phác, tại sao gọi ông là một trong những số phận bi thảm nhất của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Trong số các nhân vật chủ chốt của phong trào này có nhiều người rơi vào bi thảm, nhưng chỉ có một số ít là bi thảm nhất. Ngoài mức án, mức độ cắt bỏ chế độ chính sách, Tử Phác còn là người chết vì ung thư năm 1982, cho đến nay chưa được một chút gì của chính sách đổi mới, phục hồi như cho các chiến hữu bạn ông.Tử Phác tức Nguyễn Anh Chấn tên thật là Nguyễn Văn Kim trong một gia đình quan lại, giàu có, là nhạc sĩ, sinh năm 1923, nhà ở phố Hàng Giấy, khu chợ Đồng Xuân, Hà Nội. Thời niên thiếu, ông thường viết nhạc cùng nhạc sĩ Lương Ngọc Châu (cháu của Lương Văn Can trong Đông Kinh Nghĩa Thục). Mẹ ông là Trương Tần Phác, hậu duệ của anh hùng Trương Định. Bút danh Tử Phác có nghĩa là con của bà Phác.Vợ Tử Phác là bà Lương Thị Nghĩa. Bà Nghĩa cũng là dân phố cổ như ông là em của nhạc sĩ Lương Ngọc Châu. Ông ở Hàng Bạc, còn bà ở Hàng Ngang. Bà học piano từ nhỏ. Kháng chiến, bà tản cư về Thái Bình giảng dạy âm nhạc và tham gia công tác phụ nữ. Bà lên Việt Bắc năm 1950, công tác tại ngành điện ảnh. Ở Việt Bắc, họ đã gặp nhau và thành hôn với nhau.Năm 1945, đang học dở cử nhân luật ông tham gia kháng chiến chống Pháp. Tử Phác được kết nạp vào Đảng Cộng sản và phụ trách tờ báo Thủ đô của khu II.Năm 1949, được vào Ban Chấp hành Chi hội Văn nghệ Liên khu IIINăm 1950, Tử Phác giữ chức Trưởng phòng Văn Nghệ thuộc Tổng cục Chính trịNăm 1952, ông làm Tổng Phụ trách Văn Công Quân độiTrong thời gian này Tử Phác viết ca khúc nổi tiếng Tiếng hát quay tơ 1948. Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha viết: Riêng với “Tiếng hát quay tơ” của ông, nghệ sĩ Kim Ngọc đã thể hiện hết sức tuyệt vời. Những ngày đầu đổi mới, bà Kim Ngọc hát lại “Tiếng hát quay tơ” vẫn hay và nhuyễn như xưa. Bài hát cần rất nhiều sắc thái khác nhau và bà đã thấm nhuần điều đó khi thể hiện. Đoạn thể hiện chiến sĩ ngoài mặt trận cần mạnh mẽ, bà đã hát rất cuốn hút và bốc lửa: “Người chiến sĩ ầm gió rít sương rơi/ Đẫm mình trong khói súng/ Chiến trường áo mong manh/ Căm thù nuôi ấm thân/ Quyết lấy máu pha tô sắc cờ…”.Đoạn nối tiếp là tâm sự của người vợ ở hậu phương thì lại được thể hiện rất dịu dàng, mượt mà trong bâng khuâng thương nhớ: “Chàng ra đi giữ miếng vườn này giữ mái tranh này/ Em về xa vắng thầm lo cho cánh chim bay/ Chiều nghe rơi tiếng lá xạc xào em ngỡ/ Ngỡ bóng dáng ai về…”.Và thương nhớ đã quyến vào nhịp xa quay điệp khúc: “Quay quay thương nhớ luyến vào tơ/ Quay quay may áo rét dâng chàng/ Rộn ràng tơ lướt tới người chiến sĩ yêu/ Quay quay thương nhớ luyến vào tơ/ Quay quay may áo rét dâng chàng/ Mỗi một đường tơ là mỗi dây tình trong lòng/ Em dâng người hiên ngang…”.Tử Phác còn là người quyết định hiện đại hóa nhạc múa sạp cho điệu múa dân gian của các dân tộc Tây Bắc. Nhạc sĩ Mai Sao kể: …Ngày ấy, sau chiến dịch Hòa Bình, văn công quân đội “lượm” được một món đặc biệt Tây Bắc. Đó là điệu nhảy “sạp”. Điệu nhảy thật đơn giản. Hai cây tre thon, dài chừng bốn mét gọi là “sạp”. Một chị ở một đầu, một anh ở đầu bên kia, ngồi gõ “sạp” theo nhịp trống. Một đôi nam nữ nhảy ra. Hai cây tre mở ra khép lại. Diễn viên trong sạp hoặc ngoài sạp cứ vỗ tay đều đều theo nhịp gõ. Cũng có nhạc đệm. Có lúc na ná cò lả. Có lúc na ná trống quân. Tại bãi lửa trại cùng thưởng thức nhảy “sạp” đêm đó, có nhạc sĩ Tử Phác và nhà thơ Hoàng Cầm – Trưởng đoàn văn công Quân khu Việt Bắc cùng nhạc sĩ Mai Sao – người chủ trương dùng mấy điệu nhạc trên cho “sạp”. Sau đêm diễn, khi ngồi trao đổi. Hoàng Cầm nói với Tử Phác rằng múa thì độc đáo, nhưng phần nhạc không ổn. Nhạc như thế thì khác nào bắt các cô gái Thái đội nón thúng quai thao. Phải có đúng âm nhạc của “sạp”.Tử Phác cũng cho rằng phải có một nhạc múa “sạp” đúng là nhạc của miền Tây Bắc. Và thế là Tử Phác yêu cầu Mai Sao phải tìm hiểu để viết ra một nhạc múa phù hợp. Tiếp thu chỉ thị của “thủ trưởng” Tử Phác, Mai Sao trở lại Tây Bắc. Ở đó, anh cùng Bàng Thúc Hiệp đã đi nghe nhiều điệu “khắp” (hát) dân ca Thái và sau nhiều tháng, Mai Sao đã viết ra điệu nhạc múa “sòn sòn sòn đô sòn – sòn sòn sòn đô rê…” theo ngũ cung “rề – mi – son – la – đố” về trình làng tại Tổng cục Chính trị vào mùa hè 1952.Ngay lập tức, điệu nhạc múa “sạp” này được O.T.K nhiệt liệt. Nó đã được phối khí một cách nhuần nhụy, tinh vi với các nhạc cụ dân tộc: Trống cái, trống cơm, khèn, sáo mèo, nhị, đàn tranh, đàn bầu cùng với các nhạc cụ Tây phương như accordeon, guitare, violon, clarinet… Điệu nhạc được dùng cho điệu múa đã được nhạc trưởng Lê Đóa phối hợp cùng đạo diễn múa Ngọc Minh đưa lên thành một tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo.Tử Phác là một trong những người đi tiên phong trong phong trào NVGP. Tháng 4 năm 1955 ông cùng sáu bạn chiến đấu khác trong quân đội là Đỗ Nhuận, Trần Dần, Hoàng Cầm, Trần Công, Trúc Lâm, Hoàng Tích Linh đệ trình Dự thảo đề nghị cho một chính sách văn hóa lên Tổng cục chính trị yêu cầu tự do sáng tác, trả quyền lãnh đạo văn nghệ về tay văn nghệ sĩ, bãi bỏ hệ thống chính trị viên trong các đoàn văn công quân đội, sửa đổi chính sách văn nghệ trong quân đội.Sau phát pháo mở màn đầu tiên các ông bị kỷ luật và chuyển ra khỏi quân đội.Từ năm 1957–1958, Tử Phác là Thư ký tòa Soạn của tạp chí Âm nhạc thuộc Hội Nhạc sĩ Việt Nam.Năm năm 1959–1960, sau khi vụ Nhân văn Giai phẩm xảy ra, cùng với nhà thơ Lê Đạt ông bị đưa đi cải tạo tại Nông trường Chí Linh Hải Dương.Tử Phác cùng Đặng Đình Hưng bị khai trừ khỏi Hội Nhạc sĩ Việt Nam thời hạn 3 năm. Kèm theo cái án này cũng là quyết định cấm lưu hành tác phẩm ( treo bút ) trong thời hạn đó. Cũng như những nhà văn bên Hội Nhà Văn, cái án của Tử Phác kéo dài cho tới khi ông chết, không ai trong giới lãnh đạo văn nghệ nghĩ đến việc cởi trói cho họ.Sau khi cải tạo về Tử Phác không tìm được một việc làm nào. Không được bất cứ cơ quan văn hóa nào nhận ông. Không có sinh kế, vợ con nheo nhóc, sống vất vưởng nhờ tiền trợ giúp của gia đình nội ngoại ở Pháp, đồ đạc trong nhà bán dần dần đến cả chiếc dương cầm, cái hương án… Túng quẫn Tử Phác đã phải cho vợ và các con vượt biên, chỉ giữ lại người con trai cả đã lập gia đình.Bế cháu trong lòng đã có lúc ông viết những câu thơ buồn bã thế này :Chiếc mặt nạ treo cao rạp hátNửa cười nửa khóc tấn trò đờiCũng giống mặt tôi nửa người nửa ngợmTôi quay đi khỏi tủi mắt cháu tôiThẹn thùng ý tứ với nhà thơTầm Dương canh khuya người kỹ nữ“Tay ôm đàn che nửa mặt hoa”Tôi giữ cháu tôi trên đùi tôi nhún nhẩyQuay đầu đi dấu nửa mặt moỞ một bài khác ông viết:Tôi biết đi đâu biết về đâuÐất lửa khi nao là đất thánhCát bụi bơ vơ giữa địa cầuNay bạn mai thù không hiểu nổiChuyện đời nhân nghĩa lộn đầu đuôiTôi muốn hỏi trên đường vạn nẻoÐâu đất lành dung lũ chúng tôiNỗi lo sợ khi “ném vợ con vào chỗ chết để đi tìm đường sống” Tử Phác đã ghi lại trong một bài:Xưa tiễn Kinh Kha có sá gìSá gì tiếng sáo Cao Tiệm LySầu thế kỷ muôn lần hơn chuyện cổTìm em nơi nao trên biển đôngThuyền con như lá rớt giữa dòngLòng biển tối đen lòng đời hiểm độcEm lênh đênh theo định mệnh hãi hùng…..Ðất đuổi tôi ra biểnBiển quẳng tôi về đâuChỉ nghe trong sóng gióThảm thiết thiết hải âu…..Không biết trên thế giới có bao nhiêu dân tộc người ta đã phải làm cái việc cố gắng lìa nhau để sống, vui mừng vì có người đi thoát khỏi đất nước, dù chẳng còn mong có ngày gặp lại.Năm 1982, Tử Phác mất trong cảnh cô đơn, nghèo đói, đau đớn vì bệnh ung thư vòm họng. Đám ma ông buồn bã, lặng lẽ. Theo sau quan tài có mấy người bạn NVGP.Nhà thơ thơ Trần Dần tế ông:Ngày xửa, ngày xưa… có một chàng trai…trong ầm ầm… gió rét… mưa bay…động tâm vì những người chiến trường áo mong manh…liều lấy cả tuổi xanh mình… tim thật mình…quay tơ… may áo…ai ai đều nhớ…mỗi một đường tơ là mỗi dây tình…dâng người hiên ngangThế là khúc tâm ca thành áo ấm trữ tìnhCho hơn môt thế hệ những người áo mongmanh chiến trường Nghe âm vang lên tiếng chiến chinhMơ làm diều mang sáo thanh bìnhNghe vườn cây xao xác gió mayMơ làm chiếc lá úa rơi đầyRất tiếc nhạc sĩ Tử Phác từ giã cõi đời quá sớm khi ông vừa đầy 60 tuổi vào lúc cuộc sống miền Bắc cực kỳ khó khăn và cũng chưa thấy một chút hy vọng nào về sự cởi mở đối với văn nghệ nói chung và với Nhân Văn Giai Phẩm nói riêng.Ngày hôm nay thế hệ con cháu chúng ta, các bạn trẻ có lẽ rất ít ai biết đến cái tên Tử Phác. Nhưng trong tâm trí của cha anh họ cái giai điệu tài hoa đậm chất Hà Nội của Tiếng hát quay tơ vẫ còn lưu luyến trong ký ức. Trong tiến trình dân chủ hóa của đất nước tên tuổi của nhạc sĩ tử Phác không phai mờ cùng Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm.Tháng 9- 2020

https://lyric.tkaraoke.com/17010/tieng_hat_quay_to.html#playMp3

tiếng hát quay tơ (Tử Phác) do Khánh Ly trình bày

Việt Hải: Tiếng Đàn Vượt Thời Gian, VÔ THƯỜNG

VietHai Tran

7h ·

HÒA TẤU GUITAR VÔ THƯỜNG LÃNG MẠN – Tuyển Chọn Những Bản Nhạc Tình Khúc Guitar Không Lời Hay Nhất:
https://www.youtube.com/watch…
———————————————————————–

Tiếng Đàn Vượt Thời Gian, VÔ THƯỜNG
Việt Hải Los Angeles

Vô thường, nếu giải thích theo Phật giáo, mang ý nghĩa là « không chắc chắn », « thường thay đổi », « không trường tồn ». Vô thường là một trong ba tính chất (Tam pháp ấn) của tất cả sự vật của đời sống. Vô thường là đặc tính chung của mọi sự sinh ra có điều kiện, tức là thành, trụ, hoại không (sinh, trụ, dị, diệt) . Từ tính vô thường ta có thể suy luận ra hai đặc tính kia là Khổ và Vô ngã. Trong Đạo học phương Đông của người Trung Hoa thì chữ « Dịch biến » đồng nghĩa với chữ « Vô thường » trong Đạo Phật. Do đó nghĩa đối nghịch với « Thường » là » Vô thường ». Hay nói một cách khác: Vô thường nghĩa là không ở yên một trạng thái mà luôn luôn biến đổi. Trong Đạo Phật chữ Thường là chỉ cho Phật Tánh, Bản thể Chân như, tự tại, tự chủ không bị chi phối, biến đổi. Vì thế mà chữ Vô thường là không thường còn, bị biến thiên, bị mất đi. Trong kinh Đại Niết Bàn khi Phật nhập diệt Trời Phạm Thiên nói câu:

« Chư hành vô thường
Thị sanh diệt pháp… »

Nghĩa là: các sở hành đều vô thường biến đổi, nó là pháp sanh diệt. Tôi phải nhập đề dài dòng văn tự như vậy vì khi nghe tên của một nhạc sĩ tài hoa, mang một phương danh đầy tính chất triết lý là « Vô Thường », tôi muốn viết đôi dòng về anh, vì tôi ngưỡng mộ tài năng về sở trường đàn ghi-ta cho loại nhạc hòa tấu của anh. Tôi nghe tiếng đàn của nhạc sĩ Vô Thường rất thường. Thật vậy, phải nói là rất thường.

Cố nhạc sĩ Vô Thường tên thật là Võ Văn Thường, sinh năm 1940 tại Ninh Thuận, rất quen thuộc với giới trẻ trước năm 1975. Có lẽ hầu hết những ai ở Phan Rang cũng biết đến anh Bảy Rìu chủ quán cà phê Diễm, với phong thái rất nghệ sĩ, vui vẽ, rất điệu nghệ và ai cũng thương mến anh. Bảy Rìu là cái tên gọi mà chỉ có những người Phan Rang và bằng hữu thân thiết mới biết, còn ngoài đời thì người ta chỉ biết anh qua cái tên nghe rất tôn giáo là « Vô Thường », anh theo đạo Phật, mang pháp danh là Thiện Quả, anh nổi tiếng với ngón đàn tay trái rất đặc biệt mà nhiều nhạc sĩ sử dụng tây ban cầm hay đàn ghi-ta thường đánh giá cao về khả năng dùng tây ban cầm điêu luyện của anh.

Cố nhạc sĩ Vô Thường

Bây giờ xin giới thiệu một số bản nhạc tượng trưng của cố nhạc sĩ Vô Thường để quý ACE cùng thưởng thức. Link sau đây là danh sách khá nhiều tác phẩm mà anh trình bày qua ngón đàn sở trường mà anh để lại cho đời.

Có lẽ trong chúng ta, những ai yêu nhạc cũng có một lần nghe qua những bản nhạc ghi-ta thánh thót như thú nghe nhạc trong đêm khuya về, không gian tĩnh lặng, tâm tư lắng đọng theo từng tiếng đàn của nhạc sĩ Vô Thường,và khi đó ta và chính ta ung dung thư thái thả hồn theo cung bậc, mà nghệ sĩ Vô Thường đắm chìm với cây ghi-ta khẩy nhẹ tạo nên sự truyền cảm thật tuyệt vời, để thấy cuộc đời này quá đáng yêu phải không bạn nhỉ ? Và người nghệ sĩ tài hoa này có điểm đặc biệt là chơi đàn ghi-ta bằng tay trái rất nhuần nhuyễn đến độ được sự chú ý của Giáo sư tiến sĩ Trần Quang Hải đã viết một bài dài thòng khen tặng. Tôi xin ghi ví dụ đơn cử trích đoạn bài của nhạc sĩ Trần Quang Hải cho lời nhận định về nhạc sĩ Vô Thường như sau:

Trích một,

« Ngồi lắng nghe cuốn «Ru khúc Mộng Thường» 1, những âm điệu của các nhạc phẩm quen biết của Trịnh Công Sơn, Cung Tiến, Trần Định, Đoàn Chuẩn, Phạm Đình Chương qua ngón đàn tây ban cầm của anh Vô Thường gây cho tôi từ ngạc nhiên nây đến ngạc nhiên nọ. Người này là ai mà có ngón đàn có hồn như vậy mà mình chẳng bao giờ quen hay biết tới ? Nghe một lần, chưa đủ để nhận định. Nghe lần thứ hai, rồi lần thứ ba. Càng nghe càng thấm. Tiếng đàn chạy khắp cơ thể, vào tận trong tim não. Càng về khuya, tiếng đàn càng ảo não, như gợi cho tôi một hình ảnh đau buồn, một tâm hồn tuyệt vọng, một ảo thanh của thế giới huyền mộng chứ không phải là «mộng thường» của một anh chàng mang tên là Vô Thường. Tôi không muốn để đầu óc chuyên phân tách nhạc ngữ của tôi làm chi phối tôi mà tôi muốn để tâm hồn tôi bay theo tiếng đàn. Quên đi kỹ thuật mà chỉ nhắm vào tình cảm, để tìm hiểu con người yêu nhạc, muốn mượn tiếng đàn của mình để nói lên một cái gì đó. Và chính « cái gì đó » làm cho tôi tò mò muốn tìm hiểu thêm về con người, về hứng nhạc của anh nhạc sĩ có tên khá đặc biệt là VÔ THƯỜNG. »

Trích hai,

« Tuy không có hợp mặt cùng anh em nghệ sĩ trên sân khấu, anh vẫn tiếp tục mượn tiếng đàn tây ban cầm để dạo những khúc nhạc của thời vàng son của miền Nam. Không những nhạc Việt mà còn cả nhạc ngoại quốc. Trong một lá thơ anh viết cho tôi, anh đã kể như sau: «tôi đàn tay trái, thành ra phải học mò và đàn lấy một mình khi còn nhỏ. Không học ký âm pháp nhiều, chỉ quọt quẹt chút ít, nên đôi khi nhìn bản nhạc mà đàn thì chẳng ra hồn. Tôi chỉ ân hận những ngày còn nhỏ vứt đi những thời giờ quý báu. Thành ra cho tới bây giờ, nghĩ cũng muốn để đi vào khuôn khổ. Tôi kỳ vọng gởi hồn vào những bản nhạc những khi hứng đàn, hát và viết nhac… Đền bù vào đó, tôi rất nhớ dai và dễ học. Những bản nhạc nghe qua một lần hai lần là tôi mò ra và đánh được, dầu không đúng hẳn 100%». »

Trích cuối,

« Những sáng tác mới của anh Vô Thường là những điểm son trong làng nhạc Việt. Sự đóng góp của anh Vô Thường, tuy không to tác nhưng rất có ý nghĩa vì anh viết nhạc đặt lời rất thành thật tự đáy lòng phát ra. Anh Vô Thường là một ngôi sao sáng, một hiện tượng trong làng tân nhạc Việt ở hải ngoại. »

Để tham khảo, sau đây là toàn bộ bài viết của nhạc sĩ Trần Quang Hải ghi nhận về nhạc sĩ Vô Thường trong web-link: « Vô Thường (1940-2003): Một hiện tượng trong làng tân nhạc Việt Nam Hải Ngoại. »:

http://www.tranquanghai.info/p927-tran-quang-hai-%3A-vo-thu…

Tôi có 17 CD nhạc hòa tấu Vô Thường, nhưng trên internet thì web-link của « nhaccuatui » set automatically continuous mode mình có thể nghe liên tục một bài nhạc nào đó mình thích, tôi nhớ tôi mê tiếng đàn của nhạc sĩ Vô Thường khi nghe bài « Kể chuyện trong đêm », tôi set counter đếm số lần nghe hơn 200 lần. Tôi đã nghe bài nhạc này của nhạc sĩ Hoàng Trang qua vài giọng hát, nhưng thú thật tim tôi không rung cảm, không « phê » xao xuyến như khi nghe tiếng đàn « từng tưng từng… », nghe sao mà « đã » quá trời như hồn bay bổng lên mây cao của thinh không vắng lặng lúc khuya lắc khuya lơ, của âm nhạc Hoàng Trang và Vô Thường. Tôi nghĩ cuộc sống này cần âm nhạc ru hồn ta, những tâm hồn cằn cỗi, lạc lỏng cho kiếp sống nhân sinh có ý nghĩa hơn, thăng hoa cao hơn. Đúng chứ lị?

Kể chuyện trong đêm, Hoàng Trang, Vô Thường:
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=XulFb6ROtl

Có lần tôi van cậu con trai út của tôi hãy tập đàn ghi-ta bài « Kể chuyện trong đêm », lúc 12 giờ khuya thôi, con tôi là một guitarist, nhưng mang goût nhạc của mấy ông “ngoại kiều” AJ Rafael, Taeyang hay Michael Jackson. Mỗi ngày tôi đưa 2 con đi học trên xe chỉ cho các cháu nghe nhạc Việt, không có air nhạc ngoại kiều AJ Rafael, Taeyang hay Michael Jackson,… Tôi nghe mà hiểu mấy ông ngoại kiều này ca những gì xin cho chết liền đi thôi. Tôi van Cao Xanh cho tiếng ghi-ta nhà tôi chuyển hướng theo tiếng nhạc ghi-ta « từng tưng từng… » như của nhạc sĩ Vô Thường đi nhe hai con trai, làm ơn đi mà…

Thi sĩ Lê Hân trên Bắc Cali biết tôi say mê nhạc hòa tấu Vô Thường, nên anh hứa sẽ làm một link nhạc Vô Thường’s collection chạy liên tục trong trang website của anh, cũng để giới thiệu một số bài tiêu biểu về tiếng đàn bất tử này và cũng để tặng cho tôi.

Theo lời một người bạn của nhạc sĩ Vô Thường kể lại là Ngón đàn guitar của anh tạo nên câu chuyện phi thường, bởi vì anh không nghĩ tiếng đàn amateur của anh tại tiệm Kim’s Furniture dạo nào, ở những lúc nhàn rỗi ôm ghi-ta thùng dạo đàn vời thú đam mê âm nhạc, đã đưa tên tuổi anh lên tột đỉnh danh vọng. Tiếng đàn cùa anh đi từ Kim’s Furniture đến Ritz Nightclub, rồi giã từ nightclub trở lại nghề furniture, những bước văn nghệ thăng trầm của cuộc đời. Cuộc đời thăng trầm ấy đã tạo ra những CD của anh được vô số thính giả từ khắp nơi chú ý, không cứ thính giả người Việt, mà người ngoại quốc cũng biết đến anh. Tôi có anh bạn nha sĩ bên Illinois, phòng mạch được đệm cho không gian tĩnh lặng bằng nhạc hòa tấu Vô Thường, luôn luôn với nhạc Vô Thường, khách địa phương rất thích thú với tiếng đàn của người nhạc sĩ đến từ vùng đất xa xôi với đất nước Hoa Kỳ này.

Rồi tôi có người bạn làm ngành neo, tiệm của cô trang trí khá đẹp ở vùng Palm Springs, California, cô ru hồn khách neo trong giờ neo thư thái bằng nhạc Vô Thường. Cô kể bí quyết cô chiều các bà khách quen, thông thường các khách tan sở sau 5 giờ bụng đói meo, cô cho mấy bà khách quen nhâm nhi cheese và rye crakers hay melba toast, thêm một ly (cup) Cabernet Sauvignon hay Chardonnay Blanc, madame nào không thích wine thì serve Martinelli’s Sparkling Cider. Đó là lót dạ dầy, song song lót thính nhĩ bằng nhạc hòa tấu Vô Thường, mấy madame Cờ Huê chịu quá sá, mồm khen ríu rít: « Hey, Pam, so fabulous! so wonderful! ». Cô chủ Pam cười tít mắt vì tiệm càng đông với Mỹ chồng, Mỹ vợ, Mỹ con, Mỹ mẹ, Mỹ cha, Mỹ bạn, Mỹ bồ,… Cô chủ Pam kể tôi nghe: « Có hôm các madame hỏi bài này tên gì nghe hay quá vậy ? Bà dịch sơ ý nghĩa được không? », cô cười hăng hắc nói tiếp: « Em làm neo chứ đâu phải nhà văn như mấy anh mà văn chương bóng bẩy với: Yêu em dài lâu, Bảy ngày đợi mong, Mùa thu yêu đương, Bây giờ tháng mấy hay Áo lụa Hà Đông thì chữ nghĩa lấy đâu mà dịch nổi. Em mà dịch được xin cho chết liền đi! ». Tôi nghe lời nói thành thật của Pamela mà mồm cười sặc sụa, tôi thầm bảo Pam hãy hỏi mấy ông tác giả nhạc sĩ đi thôi, tôi mà « dịch được xin cho chết liền đi! ». Pamela à, nhạc Đức Huy hãy để nhạc sĩ Đức Huy dịch,…, nhạc Ngô Thụy Miên hãy để nhạc sĩ Ngô Thụy Miên dịch cho chắc ăn, như vậy chúng ta không bị chết oan ức, chết oan uổng nhé.


Pam kể tiếp có hôm có bà khách neo là luật sư, gốc người Montreal nói tiếng Anh, Pháp sành sỏi như gió, bà nghe nhạc hòa tấu Vô Thường hay quá, bà thích thú ngỏ ý muốn mua lại hết series 15 CD, Pam nói cô mua mỗi CD bảy tì tươi Mỹ quốc tại khu Bolsa, vùng Little Saigon, cô bán lại cho bà khách luật sư 10 tì tươi, vị chi bán nhạc không lời đã kiếm lời được 3 tì tươi mỗi CD cho chi phí chạy xa, cho tiền xăng nhớt per round trip Palm Springs- Little Saigon, dù là CD pre-used. Nói lên điều này cho thấy là âm nhạc là ngôn ngữ chung, khi người ta thích tiếng khẩy đàn điêu luyện của CD nhạc hòa tấu Vô Thường, cũng có nghĩa là người ta thích âm nhạc của Đức Huy, Trần Thiện Thanh, Lam Phương, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên,… Tiếng đàn của Vô Thường minh chứng cho người ngoại quốc thấy rằng nhạc Việt Nam ta và « nhạc ngoại » đều bình đẳng, xêm xêm hay ngang nhau qua air ghi-ta độc đáo của Vô Thường. Và phải chăng đó là cái công to lớn của người nhạc sĩ tay trái Vô Thường ? Pamela còn kể có bà khách khác là một bác sĩ đã nhờ Pam mua CD Vô Thường vì bà thích nghe nhạc hòa tấu của anh khi lái freeway mỗi ngày đi làm xa nhà, trước đó bà chỉ nghe nhạc hòa tấu của Richard Clayderman thôi. Bravo nhạc sĩ Vô Thường!!!

Nếu nhạc hòa tấu của Richard Clayderman đàn piano tuyệt vời qua các bài: Mariage D’Amour, Right here waiting for you, Viens M’ Embrasser, Careless Whisper, Love Me With All Of Your Heart, Yesterday, Aline, Romeo & Juliet, hay Love Story,…thì tiềng đàn guitar của nhạc sĩ Vô Thường vang âm thanh thánh thót, ru hồn người nghe, tuyệt vời chẳng kém, phải không bà khách neo emdee của Pamela ?

Như người bạn của nhạc sĩ Vô Thường đã ôn lại từ quá khứ, thuở ban đầu anh tự học đàn một mình, những lúc ngồi chờ khách rảnh rang ở tiệm bán « bàn ghế giường tủ », anh mang đàn ra đàn giải sầu, rồi sau đó bạn bè khuyến khích anh thu vào cassette, tặng những khách hàng thân hữu để nghe lúc lái xe. Bỗng dưng nhạc độc tấu của anh lại trở nên thông dụng và lan rộng mau lẹ vào những quán café, nhà hàng ca nhạc. Thính giả nồng nhiệt khen ngợi mở cho anh một con đường mới là tiến vào kỷ nghệ thu thanh qui mô hơn, thu âm vào băng và dĩa CD. Nhạc anh tiến xa hơn, bán ra thị trường âm nhạc Hoa Kỳ. Một sự hãnh diện đấy chứ ! Anh đã tự sản xuất gần 150 CD, ghi lại trên dĩa gần 2000 bản nhạc hòa tấu hay nhạc không lời, bán riết thì sẽ có lời mà thôi .

Tác phẩm của anh được bà con mọi giới đón nhận nồng nhiệt khắp nơi. Tại hải ngoại, nhất là Hoa Kỳ, nhạc Vô Thường được phổ biến khá rộng rãi. Đa số thính giả ái mộ nhạc Vô Thường vì những bài nhạc quen thuộc anh cho thu âm nhiều bản nhạc top hits trước năm 75, cũng như một số nhạc top híts sau năm 75. Nghe nhạc Vô Thường người ta được gợi nhớ những kỷ niệm hay những ngày tháng cũ đã qua, dù trước hay sau năm định mệnh 1975. Hãy thử nghe một bài nhạc tiêu biểu do anh sáng tác, viết nhạc, đặt lời. »

“Mưa Tình Dĩ Vãng”, Nhạc và lời: Vô Thường, ca sĩ: Jazzy Dạ Lam
http://www-personal.umich.edu/~n…/Stories/MuaTinhDiVang.html

Ngoài tài nghệ sử dụng đàn ghi-ta thuần thục, nhạc sĩ Vô Thường cũng sáng tác một số ca khúc tình cảm lãng mạn, nhưng chẳng may phần số không cho anh đi xa hơn nữa, ânh khám phá ra mình mang cơn bệnh ngặt nghèo, bao ước mơ, bao dự án trở thành không hiện thực được. Ðiều ước nguyện mà anh được toại nguyện là đoàn tụ với hai cô con gái đã xa cách bố từ năm 1975. Các cháu, Thương Diễm và Diễm Khanh, mới sang được vài năm thì cha lại lâm trọng bệnh; Trước khi ra đi, anh trăn trối, gia tài duy nhất của cha để lại cho hai con gái là nghề thu âm và cả ngàn bài nhạc hòa tấu mà anh đã sản xuất.

Nhạc sĩ Vô Thường giã biệt dương thế vì chứng ung thư phổi vào mùa xuân 2003, hàng trăm anh chị em văn nghệ sĩ, bạn bè trong ngành thu âm đến tiễn biệt anh đông đủ, tang lễ rất cảm động. Ngày còn sống, anh sống rất hòa nhã, dễ chịu, thân thiện với mọi người. Do đó bạn bè và khách mộ điệu say mê tài năng âm nhạc của anh không bao giờ quên người nhạc sĩ Vô Thường, dù như cái tên phù vân, mây bay đến rồi bay đi, nhưng tiếng đàn tây ban cầm của anh vẫn sống mãi với dương thế, nơi anh đã bỏ tất cả ra đi. Nhạc sĩ Vô Thường đã mệnh chung vào ngày thứ bảy 26 tháng 4, 2003, vào lúc 14giờ30.

Đôi dòng này để nhớ về nhạc sĩ Vô Thường (*), với tiếng đàn bất tử, phi thường vượt thời gian, vẫn sống mãi trong tâm hồn người thưởng ngoạn và vì sở thích quen nghe nhạc anh đàn. Chúng tôi xin cảm ơn anh, người nghệ sĩ tài hoa Vô Thường.

Việt Hải, Los Angeles.
July, 2010
—————————————————————-
Link: http://www.ninh-hoa.com/VietHai-TiengDanVuotThoiGian-VoThuo…7