Catégorie : NHẠC SĨ VIỆT NAM

THANH HIỆP : Vinh danh thầy đờn cổ nhạc

Vinh danh thầy đờn cổ nhạc

27-09-2020 – 07:27 AM |

Tối 26-9, Nhà Văn hóa Thanh Niên TP HCM đã tổ chức chương trình vinh danh thầy đờn cổ nhạc nhân ngày truyền thống sân khấu Việt Nam.

Sáu thầy đờn đã có nhiều công lao đóng góp cho phong trào đờn ca tài tử Nam Bộ và sân khấu cải lương được vinh danh gồm: NSND Văn Giỏi, NSND Thanh Hải, NSƯT Hoàng Thành, NSƯT Khải Hoàn, nghệ sĩ Bảy Dư, nghệ nhân Văn Hải. Các nghệ sĩ cải lương nổi tiếng như: NSND Bạch Tuyết, NSND Minh Vương, NSND Lệ Thủy, NSƯT Thanh Điền, NSƯT Thanh Kim Huệ… đã đến chúc mừng các thầy đờn.

Vinh danh thầy đờn cổ nhạc - Ảnh 1.

Ông Nguyễn Hữu Hiệp, Trưởng Ban Dân vận Thành ủy TP HCM và bà Phan Thị Thanh Phương, Bí thư Thành Đoàn TP HCM, tặng bằng khen vinh danh NSND Văn Giỏi

Ông Nguyễn Hữu Hiệp, Trưởng Ban Dân vận Thành ủy TP HCM và bà Phan Thị Thanh Phương, Bí thư Thành Đoàn TP HCM, đã cùng các lãnh đạo Sở Văn hóa và Thể thao TP HCM, Hội Sân khấu TP HCM… trao tặng bằng khen, hoa vinh danh những thầy đờn có công sáng tác, truyền nghề và ươm mầm thế hệ nhạc sĩ cổ nhạc trẻ trong sự nghiệp gìn giữ và phát triển đờn ca tài tử Nam Bộ, nghệ thuật cải lương.

Cùng sự kiện này, Nhà Văn hóa Thanh Niên TP HCM khai mạc triển lãm 106 bức ảnh nghệ thuật và cuộc đời của NSND Minh Vương; trao tặng quà cho nghệ sĩ lão thành, bệnh tật, nghèo khó và học bổng cho con em nghệ sĩ, công nhân sân khấu hiếu học; lễ vinh danh « Nghệ sĩ vì cộng đồng ». 

Tin-ảnh: Th.Hiệp

https://nld.com.vn/van-nghe/vinh-danh-thay-don-co-nhac-20200926222142587.htm

Thái Kế Toại: Tử Phác (1923-1982)MỘT SỐ PHẬN BI THẢM

Tử PhácMỘT SỐ PHẬN BI THẢM

nhạc sĩ TỬ PHÁC

Thái Kế Toại

10h  ·Nhạc sĩ Tử Phác là một trong những số phận bi thảm nhất trong các nhân vật chủ chốt của Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Cần phải giải thích thêm là tại sao tôi dùng chữ Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bởi vì ngay gần đây vẫn có người muốn phân biệt rạch ròi là ông này, ông kia chỉ viết ở báo này, báo nọ không dính dáng gì đến báo Nhân Văn hoặc tạp chí Giai Phẩm cả. Đúng là như thế, có những người như thế, như ông Phan Ngọc vừa mới mất chẳng hạn. Tất nhiên ở thời kỳ đó cách dùng thuật ngữ chưa được chuẩn lắm nhưng căn cứ vào tầm vóc của sự kiện, ảnh hưởng sâu rộng toàn xã hội của nó, biện pháp đối phó xử lý các đối tượng của chính quyền, Nhân Văn Giai Phẩm không phải chỉ là một nhóm mà là cả một trào lưu dân chủ rộng lớn ở miền Bắc được sự hưởng ứng trong khắp các tầng lớp nhân dân, trí thức, văn nghệ sĩ, học sinh, giáo viên, sinh viên. Chưa có sự hình thành tổ chức cụ thể nhưng Nhân Văn và Giai Phẩm là trung tâm, là nơi phát đi những làn sóng xung động mạnh mẽ. Thế mới biết rằng trong buổi đầu của xã hội toàn trị chính quyền luôn luôn lo ngại ảnh hưởng của văn học nghệ thuật là vì thế.Còn với nhạc sỹ Tử Phác, tại sao gọi ông là một trong những số phận bi thảm nhất của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Trong số các nhân vật chủ chốt của phong trào này có nhiều người rơi vào bi thảm, nhưng chỉ có một số ít là bi thảm nhất. Ngoài mức án, mức độ cắt bỏ chế độ chính sách, Tử Phác còn là người chết vì ung thư năm 1982, cho đến nay chưa được một chút gì của chính sách đổi mới, phục hồi như cho các chiến hữu bạn ông.Tử Phác tức Nguyễn Anh Chấn tên thật là Nguyễn Văn Kim trong một gia đình quan lại, giàu có, là nhạc sĩ, sinh năm 1923, nhà ở phố Hàng Giấy, khu chợ Đồng Xuân, Hà Nội. Thời niên thiếu, ông thường viết nhạc cùng nhạc sĩ Lương Ngọc Châu (cháu của Lương Văn Can trong Đông Kinh Nghĩa Thục). Mẹ ông là Trương Tần Phác, hậu duệ của anh hùng Trương Định. Bút danh Tử Phác có nghĩa là con của bà Phác.Vợ Tử Phác là bà Lương Thị Nghĩa. Bà Nghĩa cũng là dân phố cổ như ông là em của nhạc sĩ Lương Ngọc Châu. Ông ở Hàng Bạc, còn bà ở Hàng Ngang. Bà học piano từ nhỏ. Kháng chiến, bà tản cư về Thái Bình giảng dạy âm nhạc và tham gia công tác phụ nữ. Bà lên Việt Bắc năm 1950, công tác tại ngành điện ảnh. Ở Việt Bắc, họ đã gặp nhau và thành hôn với nhau.Năm 1945, đang học dở cử nhân luật ông tham gia kháng chiến chống Pháp. Tử Phác được kết nạp vào Đảng Cộng sản và phụ trách tờ báo Thủ đô của khu II.Năm 1949, được vào Ban Chấp hành Chi hội Văn nghệ Liên khu IIINăm 1950, Tử Phác giữ chức Trưởng phòng Văn Nghệ thuộc Tổng cục Chính trịNăm 1952, ông làm Tổng Phụ trách Văn Công Quân độiTrong thời gian này Tử Phác viết ca khúc nổi tiếng Tiếng hát quay tơ 1948. Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha viết: Riêng với “Tiếng hát quay tơ” của ông, nghệ sĩ Kim Ngọc đã thể hiện hết sức tuyệt vời. Những ngày đầu đổi mới, bà Kim Ngọc hát lại “Tiếng hát quay tơ” vẫn hay và nhuyễn như xưa. Bài hát cần rất nhiều sắc thái khác nhau và bà đã thấm nhuần điều đó khi thể hiện. Đoạn thể hiện chiến sĩ ngoài mặt trận cần mạnh mẽ, bà đã hát rất cuốn hút và bốc lửa: “Người chiến sĩ ầm gió rít sương rơi/ Đẫm mình trong khói súng/ Chiến trường áo mong manh/ Căm thù nuôi ấm thân/ Quyết lấy máu pha tô sắc cờ…”.Đoạn nối tiếp là tâm sự của người vợ ở hậu phương thì lại được thể hiện rất dịu dàng, mượt mà trong bâng khuâng thương nhớ: “Chàng ra đi giữ miếng vườn này giữ mái tranh này/ Em về xa vắng thầm lo cho cánh chim bay/ Chiều nghe rơi tiếng lá xạc xào em ngỡ/ Ngỡ bóng dáng ai về…”.Và thương nhớ đã quyến vào nhịp xa quay điệp khúc: “Quay quay thương nhớ luyến vào tơ/ Quay quay may áo rét dâng chàng/ Rộn ràng tơ lướt tới người chiến sĩ yêu/ Quay quay thương nhớ luyến vào tơ/ Quay quay may áo rét dâng chàng/ Mỗi một đường tơ là mỗi dây tình trong lòng/ Em dâng người hiên ngang…”.Tử Phác còn là người quyết định hiện đại hóa nhạc múa sạp cho điệu múa dân gian của các dân tộc Tây Bắc. Nhạc sĩ Mai Sao kể: …Ngày ấy, sau chiến dịch Hòa Bình, văn công quân đội “lượm” được một món đặc biệt Tây Bắc. Đó là điệu nhảy “sạp”. Điệu nhảy thật đơn giản. Hai cây tre thon, dài chừng bốn mét gọi là “sạp”. Một chị ở một đầu, một anh ở đầu bên kia, ngồi gõ “sạp” theo nhịp trống. Một đôi nam nữ nhảy ra. Hai cây tre mở ra khép lại. Diễn viên trong sạp hoặc ngoài sạp cứ vỗ tay đều đều theo nhịp gõ. Cũng có nhạc đệm. Có lúc na ná cò lả. Có lúc na ná trống quân. Tại bãi lửa trại cùng thưởng thức nhảy “sạp” đêm đó, có nhạc sĩ Tử Phác và nhà thơ Hoàng Cầm – Trưởng đoàn văn công Quân khu Việt Bắc cùng nhạc sĩ Mai Sao – người chủ trương dùng mấy điệu nhạc trên cho “sạp”. Sau đêm diễn, khi ngồi trao đổi. Hoàng Cầm nói với Tử Phác rằng múa thì độc đáo, nhưng phần nhạc không ổn. Nhạc như thế thì khác nào bắt các cô gái Thái đội nón thúng quai thao. Phải có đúng âm nhạc của “sạp”.Tử Phác cũng cho rằng phải có một nhạc múa “sạp” đúng là nhạc của miền Tây Bắc. Và thế là Tử Phác yêu cầu Mai Sao phải tìm hiểu để viết ra một nhạc múa phù hợp. Tiếp thu chỉ thị của “thủ trưởng” Tử Phác, Mai Sao trở lại Tây Bắc. Ở đó, anh cùng Bàng Thúc Hiệp đã đi nghe nhiều điệu “khắp” (hát) dân ca Thái và sau nhiều tháng, Mai Sao đã viết ra điệu nhạc múa “sòn sòn sòn đô sòn – sòn sòn sòn đô rê…” theo ngũ cung “rề – mi – son – la – đố” về trình làng tại Tổng cục Chính trị vào mùa hè 1952.Ngay lập tức, điệu nhạc múa “sạp” này được O.T.K nhiệt liệt. Nó đã được phối khí một cách nhuần nhụy, tinh vi với các nhạc cụ dân tộc: Trống cái, trống cơm, khèn, sáo mèo, nhị, đàn tranh, đàn bầu cùng với các nhạc cụ Tây phương như accordeon, guitare, violon, clarinet… Điệu nhạc được dùng cho điệu múa đã được nhạc trưởng Lê Đóa phối hợp cùng đạo diễn múa Ngọc Minh đưa lên thành một tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo.Tử Phác là một trong những người đi tiên phong trong phong trào NVGP. Tháng 4 năm 1955 ông cùng sáu bạn chiến đấu khác trong quân đội là Đỗ Nhuận, Trần Dần, Hoàng Cầm, Trần Công, Trúc Lâm, Hoàng Tích Linh đệ trình Dự thảo đề nghị cho một chính sách văn hóa lên Tổng cục chính trị yêu cầu tự do sáng tác, trả quyền lãnh đạo văn nghệ về tay văn nghệ sĩ, bãi bỏ hệ thống chính trị viên trong các đoàn văn công quân đội, sửa đổi chính sách văn nghệ trong quân đội.Sau phát pháo mở màn đầu tiên các ông bị kỷ luật và chuyển ra khỏi quân đội.Từ năm 1957–1958, Tử Phác là Thư ký tòa Soạn của tạp chí Âm nhạc thuộc Hội Nhạc sĩ Việt Nam.Năm năm 1959–1960, sau khi vụ Nhân văn Giai phẩm xảy ra, cùng với nhà thơ Lê Đạt ông bị đưa đi cải tạo tại Nông trường Chí Linh Hải Dương.Tử Phác cùng Đặng Đình Hưng bị khai trừ khỏi Hội Nhạc sĩ Việt Nam thời hạn 3 năm. Kèm theo cái án này cũng là quyết định cấm lưu hành tác phẩm ( treo bút ) trong thời hạn đó. Cũng như những nhà văn bên Hội Nhà Văn, cái án của Tử Phác kéo dài cho tới khi ông chết, không ai trong giới lãnh đạo văn nghệ nghĩ đến việc cởi trói cho họ.Sau khi cải tạo về Tử Phác không tìm được một việc làm nào. Không được bất cứ cơ quan văn hóa nào nhận ông. Không có sinh kế, vợ con nheo nhóc, sống vất vưởng nhờ tiền trợ giúp của gia đình nội ngoại ở Pháp, đồ đạc trong nhà bán dần dần đến cả chiếc dương cầm, cái hương án… Túng quẫn Tử Phác đã phải cho vợ và các con vượt biên, chỉ giữ lại người con trai cả đã lập gia đình.Bế cháu trong lòng đã có lúc ông viết những câu thơ buồn bã thế này :Chiếc mặt nạ treo cao rạp hátNửa cười nửa khóc tấn trò đờiCũng giống mặt tôi nửa người nửa ngợmTôi quay đi khỏi tủi mắt cháu tôiThẹn thùng ý tứ với nhà thơTầm Dương canh khuya người kỹ nữ“Tay ôm đàn che nửa mặt hoa”Tôi giữ cháu tôi trên đùi tôi nhún nhẩyQuay đầu đi dấu nửa mặt moỞ một bài khác ông viết:Tôi biết đi đâu biết về đâuÐất lửa khi nao là đất thánhCát bụi bơ vơ giữa địa cầuNay bạn mai thù không hiểu nổiChuyện đời nhân nghĩa lộn đầu đuôiTôi muốn hỏi trên đường vạn nẻoÐâu đất lành dung lũ chúng tôiNỗi lo sợ khi “ném vợ con vào chỗ chết để đi tìm đường sống” Tử Phác đã ghi lại trong một bài:Xưa tiễn Kinh Kha có sá gìSá gì tiếng sáo Cao Tiệm LySầu thế kỷ muôn lần hơn chuyện cổTìm em nơi nao trên biển đôngThuyền con như lá rớt giữa dòngLòng biển tối đen lòng đời hiểm độcEm lênh đênh theo định mệnh hãi hùng…..Ðất đuổi tôi ra biểnBiển quẳng tôi về đâuChỉ nghe trong sóng gióThảm thiết thiết hải âu…..Không biết trên thế giới có bao nhiêu dân tộc người ta đã phải làm cái việc cố gắng lìa nhau để sống, vui mừng vì có người đi thoát khỏi đất nước, dù chẳng còn mong có ngày gặp lại.Năm 1982, Tử Phác mất trong cảnh cô đơn, nghèo đói, đau đớn vì bệnh ung thư vòm họng. Đám ma ông buồn bã, lặng lẽ. Theo sau quan tài có mấy người bạn NVGP.Nhà thơ thơ Trần Dần tế ông:Ngày xửa, ngày xưa… có một chàng trai…trong ầm ầm… gió rét… mưa bay…động tâm vì những người chiến trường áo mong manh…liều lấy cả tuổi xanh mình… tim thật mình…quay tơ… may áo…ai ai đều nhớ…mỗi một đường tơ là mỗi dây tình…dâng người hiên ngangThế là khúc tâm ca thành áo ấm trữ tìnhCho hơn môt thế hệ những người áo mongmanh chiến trường Nghe âm vang lên tiếng chiến chinhMơ làm diều mang sáo thanh bìnhNghe vườn cây xao xác gió mayMơ làm chiếc lá úa rơi đầyRất tiếc nhạc sĩ Tử Phác từ giã cõi đời quá sớm khi ông vừa đầy 60 tuổi vào lúc cuộc sống miền Bắc cực kỳ khó khăn và cũng chưa thấy một chút hy vọng nào về sự cởi mở đối với văn nghệ nói chung và với Nhân Văn Giai Phẩm nói riêng.Ngày hôm nay thế hệ con cháu chúng ta, các bạn trẻ có lẽ rất ít ai biết đến cái tên Tử Phác. Nhưng trong tâm trí của cha anh họ cái giai điệu tài hoa đậm chất Hà Nội của Tiếng hát quay tơ vẫ còn lưu luyến trong ký ức. Trong tiến trình dân chủ hóa của đất nước tên tuổi của nhạc sĩ tử Phác không phai mờ cùng Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm.Tháng 9- 2020

https://lyric.tkaraoke.com/17010/tieng_hat_quay_to.html#playMp3

tiếng hát quay tơ (Tử Phác) do Khánh Ly trình bày

Việt Hải: Tiếng Đàn Vượt Thời Gian, VÔ THƯỜNG

VietHai Tran

7h ·

HÒA TẤU GUITAR VÔ THƯỜNG LÃNG MẠN – Tuyển Chọn Những Bản Nhạc Tình Khúc Guitar Không Lời Hay Nhất:
https://www.youtube.com/watch…
———————————————————————–

Tiếng Đàn Vượt Thời Gian, VÔ THƯỜNG
Việt Hải Los Angeles

Vô thường, nếu giải thích theo Phật giáo, mang ý nghĩa là « không chắc chắn », « thường thay đổi », « không trường tồn ». Vô thường là một trong ba tính chất (Tam pháp ấn) của tất cả sự vật của đời sống. Vô thường là đặc tính chung của mọi sự sinh ra có điều kiện, tức là thành, trụ, hoại không (sinh, trụ, dị, diệt) . Từ tính vô thường ta có thể suy luận ra hai đặc tính kia là Khổ và Vô ngã. Trong Đạo học phương Đông của người Trung Hoa thì chữ « Dịch biến » đồng nghĩa với chữ « Vô thường » trong Đạo Phật. Do đó nghĩa đối nghịch với « Thường » là » Vô thường ». Hay nói một cách khác: Vô thường nghĩa là không ở yên một trạng thái mà luôn luôn biến đổi. Trong Đạo Phật chữ Thường là chỉ cho Phật Tánh, Bản thể Chân như, tự tại, tự chủ không bị chi phối, biến đổi. Vì thế mà chữ Vô thường là không thường còn, bị biến thiên, bị mất đi. Trong kinh Đại Niết Bàn khi Phật nhập diệt Trời Phạm Thiên nói câu:

« Chư hành vô thường
Thị sanh diệt pháp… »

Nghĩa là: các sở hành đều vô thường biến đổi, nó là pháp sanh diệt. Tôi phải nhập đề dài dòng văn tự như vậy vì khi nghe tên của một nhạc sĩ tài hoa, mang một phương danh đầy tính chất triết lý là « Vô Thường », tôi muốn viết đôi dòng về anh, vì tôi ngưỡng mộ tài năng về sở trường đàn ghi-ta cho loại nhạc hòa tấu của anh. Tôi nghe tiếng đàn của nhạc sĩ Vô Thường rất thường. Thật vậy, phải nói là rất thường.

Cố nhạc sĩ Vô Thường tên thật là Võ Văn Thường, sinh năm 1940 tại Ninh Thuận, rất quen thuộc với giới trẻ trước năm 1975. Có lẽ hầu hết những ai ở Phan Rang cũng biết đến anh Bảy Rìu chủ quán cà phê Diễm, với phong thái rất nghệ sĩ, vui vẽ, rất điệu nghệ và ai cũng thương mến anh. Bảy Rìu là cái tên gọi mà chỉ có những người Phan Rang và bằng hữu thân thiết mới biết, còn ngoài đời thì người ta chỉ biết anh qua cái tên nghe rất tôn giáo là « Vô Thường », anh theo đạo Phật, mang pháp danh là Thiện Quả, anh nổi tiếng với ngón đàn tay trái rất đặc biệt mà nhiều nhạc sĩ sử dụng tây ban cầm hay đàn ghi-ta thường đánh giá cao về khả năng dùng tây ban cầm điêu luyện của anh.

Cố nhạc sĩ Vô Thường

Bây giờ xin giới thiệu một số bản nhạc tượng trưng của cố nhạc sĩ Vô Thường để quý ACE cùng thưởng thức. Link sau đây là danh sách khá nhiều tác phẩm mà anh trình bày qua ngón đàn sở trường mà anh để lại cho đời.

Có lẽ trong chúng ta, những ai yêu nhạc cũng có một lần nghe qua những bản nhạc ghi-ta thánh thót như thú nghe nhạc trong đêm khuya về, không gian tĩnh lặng, tâm tư lắng đọng theo từng tiếng đàn của nhạc sĩ Vô Thường,và khi đó ta và chính ta ung dung thư thái thả hồn theo cung bậc, mà nghệ sĩ Vô Thường đắm chìm với cây ghi-ta khẩy nhẹ tạo nên sự truyền cảm thật tuyệt vời, để thấy cuộc đời này quá đáng yêu phải không bạn nhỉ ? Và người nghệ sĩ tài hoa này có điểm đặc biệt là chơi đàn ghi-ta bằng tay trái rất nhuần nhuyễn đến độ được sự chú ý của Giáo sư tiến sĩ Trần Quang Hải đã viết một bài dài thòng khen tặng. Tôi xin ghi ví dụ đơn cử trích đoạn bài của nhạc sĩ Trần Quang Hải cho lời nhận định về nhạc sĩ Vô Thường như sau:

Trích một,

« Ngồi lắng nghe cuốn «Ru khúc Mộng Thường» 1, những âm điệu của các nhạc phẩm quen biết của Trịnh Công Sơn, Cung Tiến, Trần Định, Đoàn Chuẩn, Phạm Đình Chương qua ngón đàn tây ban cầm của anh Vô Thường gây cho tôi từ ngạc nhiên nây đến ngạc nhiên nọ. Người này là ai mà có ngón đàn có hồn như vậy mà mình chẳng bao giờ quen hay biết tới ? Nghe một lần, chưa đủ để nhận định. Nghe lần thứ hai, rồi lần thứ ba. Càng nghe càng thấm. Tiếng đàn chạy khắp cơ thể, vào tận trong tim não. Càng về khuya, tiếng đàn càng ảo não, như gợi cho tôi một hình ảnh đau buồn, một tâm hồn tuyệt vọng, một ảo thanh của thế giới huyền mộng chứ không phải là «mộng thường» của một anh chàng mang tên là Vô Thường. Tôi không muốn để đầu óc chuyên phân tách nhạc ngữ của tôi làm chi phối tôi mà tôi muốn để tâm hồn tôi bay theo tiếng đàn. Quên đi kỹ thuật mà chỉ nhắm vào tình cảm, để tìm hiểu con người yêu nhạc, muốn mượn tiếng đàn của mình để nói lên một cái gì đó. Và chính « cái gì đó » làm cho tôi tò mò muốn tìm hiểu thêm về con người, về hứng nhạc của anh nhạc sĩ có tên khá đặc biệt là VÔ THƯỜNG. »

Trích hai,

« Tuy không có hợp mặt cùng anh em nghệ sĩ trên sân khấu, anh vẫn tiếp tục mượn tiếng đàn tây ban cầm để dạo những khúc nhạc của thời vàng son của miền Nam. Không những nhạc Việt mà còn cả nhạc ngoại quốc. Trong một lá thơ anh viết cho tôi, anh đã kể như sau: «tôi đàn tay trái, thành ra phải học mò và đàn lấy một mình khi còn nhỏ. Không học ký âm pháp nhiều, chỉ quọt quẹt chút ít, nên đôi khi nhìn bản nhạc mà đàn thì chẳng ra hồn. Tôi chỉ ân hận những ngày còn nhỏ vứt đi những thời giờ quý báu. Thành ra cho tới bây giờ, nghĩ cũng muốn để đi vào khuôn khổ. Tôi kỳ vọng gởi hồn vào những bản nhạc những khi hứng đàn, hát và viết nhac… Đền bù vào đó, tôi rất nhớ dai và dễ học. Những bản nhạc nghe qua một lần hai lần là tôi mò ra và đánh được, dầu không đúng hẳn 100%». »

Trích cuối,

« Những sáng tác mới của anh Vô Thường là những điểm son trong làng nhạc Việt. Sự đóng góp của anh Vô Thường, tuy không to tác nhưng rất có ý nghĩa vì anh viết nhạc đặt lời rất thành thật tự đáy lòng phát ra. Anh Vô Thường là một ngôi sao sáng, một hiện tượng trong làng tân nhạc Việt ở hải ngoại. »

Để tham khảo, sau đây là toàn bộ bài viết của nhạc sĩ Trần Quang Hải ghi nhận về nhạc sĩ Vô Thường trong web-link: « Vô Thường (1940-2003): Một hiện tượng trong làng tân nhạc Việt Nam Hải Ngoại. »:

http://www.tranquanghai.info/p927-tran-quang-hai-%3A-vo-thu…

Tôi có 17 CD nhạc hòa tấu Vô Thường, nhưng trên internet thì web-link của « nhaccuatui » set automatically continuous mode mình có thể nghe liên tục một bài nhạc nào đó mình thích, tôi nhớ tôi mê tiếng đàn của nhạc sĩ Vô Thường khi nghe bài « Kể chuyện trong đêm », tôi set counter đếm số lần nghe hơn 200 lần. Tôi đã nghe bài nhạc này của nhạc sĩ Hoàng Trang qua vài giọng hát, nhưng thú thật tim tôi không rung cảm, không « phê » xao xuyến như khi nghe tiếng đàn « từng tưng từng… », nghe sao mà « đã » quá trời như hồn bay bổng lên mây cao của thinh không vắng lặng lúc khuya lắc khuya lơ, của âm nhạc Hoàng Trang và Vô Thường. Tôi nghĩ cuộc sống này cần âm nhạc ru hồn ta, những tâm hồn cằn cỗi, lạc lỏng cho kiếp sống nhân sinh có ý nghĩa hơn, thăng hoa cao hơn. Đúng chứ lị?

Kể chuyện trong đêm, Hoàng Trang, Vô Thường:
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=XulFb6ROtl

Có lần tôi van cậu con trai út của tôi hãy tập đàn ghi-ta bài « Kể chuyện trong đêm », lúc 12 giờ khuya thôi, con tôi là một guitarist, nhưng mang goût nhạc của mấy ông “ngoại kiều” AJ Rafael, Taeyang hay Michael Jackson. Mỗi ngày tôi đưa 2 con đi học trên xe chỉ cho các cháu nghe nhạc Việt, không có air nhạc ngoại kiều AJ Rafael, Taeyang hay Michael Jackson,… Tôi nghe mà hiểu mấy ông ngoại kiều này ca những gì xin cho chết liền đi thôi. Tôi van Cao Xanh cho tiếng ghi-ta nhà tôi chuyển hướng theo tiếng nhạc ghi-ta « từng tưng từng… » như của nhạc sĩ Vô Thường đi nhe hai con trai, làm ơn đi mà…

Thi sĩ Lê Hân trên Bắc Cali biết tôi say mê nhạc hòa tấu Vô Thường, nên anh hứa sẽ làm một link nhạc Vô Thường’s collection chạy liên tục trong trang website của anh, cũng để giới thiệu một số bài tiêu biểu về tiếng đàn bất tử này và cũng để tặng cho tôi.

Theo lời một người bạn của nhạc sĩ Vô Thường kể lại là Ngón đàn guitar của anh tạo nên câu chuyện phi thường, bởi vì anh không nghĩ tiếng đàn amateur của anh tại tiệm Kim’s Furniture dạo nào, ở những lúc nhàn rỗi ôm ghi-ta thùng dạo đàn vời thú đam mê âm nhạc, đã đưa tên tuổi anh lên tột đỉnh danh vọng. Tiếng đàn cùa anh đi từ Kim’s Furniture đến Ritz Nightclub, rồi giã từ nightclub trở lại nghề furniture, những bước văn nghệ thăng trầm của cuộc đời. Cuộc đời thăng trầm ấy đã tạo ra những CD của anh được vô số thính giả từ khắp nơi chú ý, không cứ thính giả người Việt, mà người ngoại quốc cũng biết đến anh. Tôi có anh bạn nha sĩ bên Illinois, phòng mạch được đệm cho không gian tĩnh lặng bằng nhạc hòa tấu Vô Thường, luôn luôn với nhạc Vô Thường, khách địa phương rất thích thú với tiếng đàn của người nhạc sĩ đến từ vùng đất xa xôi với đất nước Hoa Kỳ này.

Rồi tôi có người bạn làm ngành neo, tiệm của cô trang trí khá đẹp ở vùng Palm Springs, California, cô ru hồn khách neo trong giờ neo thư thái bằng nhạc Vô Thường. Cô kể bí quyết cô chiều các bà khách quen, thông thường các khách tan sở sau 5 giờ bụng đói meo, cô cho mấy bà khách quen nhâm nhi cheese và rye crakers hay melba toast, thêm một ly (cup) Cabernet Sauvignon hay Chardonnay Blanc, madame nào không thích wine thì serve Martinelli’s Sparkling Cider. Đó là lót dạ dầy, song song lót thính nhĩ bằng nhạc hòa tấu Vô Thường, mấy madame Cờ Huê chịu quá sá, mồm khen ríu rít: « Hey, Pam, so fabulous! so wonderful! ». Cô chủ Pam cười tít mắt vì tiệm càng đông với Mỹ chồng, Mỹ vợ, Mỹ con, Mỹ mẹ, Mỹ cha, Mỹ bạn, Mỹ bồ,… Cô chủ Pam kể tôi nghe: « Có hôm các madame hỏi bài này tên gì nghe hay quá vậy ? Bà dịch sơ ý nghĩa được không? », cô cười hăng hắc nói tiếp: « Em làm neo chứ đâu phải nhà văn như mấy anh mà văn chương bóng bẩy với: Yêu em dài lâu, Bảy ngày đợi mong, Mùa thu yêu đương, Bây giờ tháng mấy hay Áo lụa Hà Đông thì chữ nghĩa lấy đâu mà dịch nổi. Em mà dịch được xin cho chết liền đi! ». Tôi nghe lời nói thành thật của Pamela mà mồm cười sặc sụa, tôi thầm bảo Pam hãy hỏi mấy ông tác giả nhạc sĩ đi thôi, tôi mà « dịch được xin cho chết liền đi! ». Pamela à, nhạc Đức Huy hãy để nhạc sĩ Đức Huy dịch,…, nhạc Ngô Thụy Miên hãy để nhạc sĩ Ngô Thụy Miên dịch cho chắc ăn, như vậy chúng ta không bị chết oan ức, chết oan uổng nhé.


Pam kể tiếp có hôm có bà khách neo là luật sư, gốc người Montreal nói tiếng Anh, Pháp sành sỏi như gió, bà nghe nhạc hòa tấu Vô Thường hay quá, bà thích thú ngỏ ý muốn mua lại hết series 15 CD, Pam nói cô mua mỗi CD bảy tì tươi Mỹ quốc tại khu Bolsa, vùng Little Saigon, cô bán lại cho bà khách luật sư 10 tì tươi, vị chi bán nhạc không lời đã kiếm lời được 3 tì tươi mỗi CD cho chi phí chạy xa, cho tiền xăng nhớt per round trip Palm Springs- Little Saigon, dù là CD pre-used. Nói lên điều này cho thấy là âm nhạc là ngôn ngữ chung, khi người ta thích tiếng khẩy đàn điêu luyện của CD nhạc hòa tấu Vô Thường, cũng có nghĩa là người ta thích âm nhạc của Đức Huy, Trần Thiện Thanh, Lam Phương, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên,… Tiếng đàn của Vô Thường minh chứng cho người ngoại quốc thấy rằng nhạc Việt Nam ta và « nhạc ngoại » đều bình đẳng, xêm xêm hay ngang nhau qua air ghi-ta độc đáo của Vô Thường. Và phải chăng đó là cái công to lớn của người nhạc sĩ tay trái Vô Thường ? Pamela còn kể có bà khách khác là một bác sĩ đã nhờ Pam mua CD Vô Thường vì bà thích nghe nhạc hòa tấu của anh khi lái freeway mỗi ngày đi làm xa nhà, trước đó bà chỉ nghe nhạc hòa tấu của Richard Clayderman thôi. Bravo nhạc sĩ Vô Thường!!!

Nếu nhạc hòa tấu của Richard Clayderman đàn piano tuyệt vời qua các bài: Mariage D’Amour, Right here waiting for you, Viens M’ Embrasser, Careless Whisper, Love Me With All Of Your Heart, Yesterday, Aline, Romeo & Juliet, hay Love Story,…thì tiềng đàn guitar của nhạc sĩ Vô Thường vang âm thanh thánh thót, ru hồn người nghe, tuyệt vời chẳng kém, phải không bà khách neo emdee của Pamela ?

Như người bạn của nhạc sĩ Vô Thường đã ôn lại từ quá khứ, thuở ban đầu anh tự học đàn một mình, những lúc ngồi chờ khách rảnh rang ở tiệm bán « bàn ghế giường tủ », anh mang đàn ra đàn giải sầu, rồi sau đó bạn bè khuyến khích anh thu vào cassette, tặng những khách hàng thân hữu để nghe lúc lái xe. Bỗng dưng nhạc độc tấu của anh lại trở nên thông dụng và lan rộng mau lẹ vào những quán café, nhà hàng ca nhạc. Thính giả nồng nhiệt khen ngợi mở cho anh một con đường mới là tiến vào kỷ nghệ thu thanh qui mô hơn, thu âm vào băng và dĩa CD. Nhạc anh tiến xa hơn, bán ra thị trường âm nhạc Hoa Kỳ. Một sự hãnh diện đấy chứ ! Anh đã tự sản xuất gần 150 CD, ghi lại trên dĩa gần 2000 bản nhạc hòa tấu hay nhạc không lời, bán riết thì sẽ có lời mà thôi .

Tác phẩm của anh được bà con mọi giới đón nhận nồng nhiệt khắp nơi. Tại hải ngoại, nhất là Hoa Kỳ, nhạc Vô Thường được phổ biến khá rộng rãi. Đa số thính giả ái mộ nhạc Vô Thường vì những bài nhạc quen thuộc anh cho thu âm nhiều bản nhạc top hits trước năm 75, cũng như một số nhạc top híts sau năm 75. Nghe nhạc Vô Thường người ta được gợi nhớ những kỷ niệm hay những ngày tháng cũ đã qua, dù trước hay sau năm định mệnh 1975. Hãy thử nghe một bài nhạc tiêu biểu do anh sáng tác, viết nhạc, đặt lời. »

“Mưa Tình Dĩ Vãng”, Nhạc và lời: Vô Thường, ca sĩ: Jazzy Dạ Lam
http://www-personal.umich.edu/~n…/Stories/MuaTinhDiVang.html

Ngoài tài nghệ sử dụng đàn ghi-ta thuần thục, nhạc sĩ Vô Thường cũng sáng tác một số ca khúc tình cảm lãng mạn, nhưng chẳng may phần số không cho anh đi xa hơn nữa, ânh khám phá ra mình mang cơn bệnh ngặt nghèo, bao ước mơ, bao dự án trở thành không hiện thực được. Ðiều ước nguyện mà anh được toại nguyện là đoàn tụ với hai cô con gái đã xa cách bố từ năm 1975. Các cháu, Thương Diễm và Diễm Khanh, mới sang được vài năm thì cha lại lâm trọng bệnh; Trước khi ra đi, anh trăn trối, gia tài duy nhất của cha để lại cho hai con gái là nghề thu âm và cả ngàn bài nhạc hòa tấu mà anh đã sản xuất.

Nhạc sĩ Vô Thường giã biệt dương thế vì chứng ung thư phổi vào mùa xuân 2003, hàng trăm anh chị em văn nghệ sĩ, bạn bè trong ngành thu âm đến tiễn biệt anh đông đủ, tang lễ rất cảm động. Ngày còn sống, anh sống rất hòa nhã, dễ chịu, thân thiện với mọi người. Do đó bạn bè và khách mộ điệu say mê tài năng âm nhạc của anh không bao giờ quên người nhạc sĩ Vô Thường, dù như cái tên phù vân, mây bay đến rồi bay đi, nhưng tiếng đàn tây ban cầm của anh vẫn sống mãi với dương thế, nơi anh đã bỏ tất cả ra đi. Nhạc sĩ Vô Thường đã mệnh chung vào ngày thứ bảy 26 tháng 4, 2003, vào lúc 14giờ30.

Đôi dòng này để nhớ về nhạc sĩ Vô Thường (*), với tiếng đàn bất tử, phi thường vượt thời gian, vẫn sống mãi trong tâm hồn người thưởng ngoạn và vì sở thích quen nghe nhạc anh đàn. Chúng tôi xin cảm ơn anh, người nghệ sĩ tài hoa Vô Thường.

Việt Hải, Los Angeles.
July, 2010
—————————————————————-
Link: http://www.ninh-hoa.com/VietHai-TiengDanVuotThoiGian-VoThuo…7

Nhạc sĩ Điền Nguyễn: Món quà của người Mỹ trẻ gốc Việt viết, hát tặng cho quê hương thứ hai, nhân ngày Độc Lập thứ 239 của Hoa Kỳ

Wednesday, July 8, 2020

Nation of America

Một cảnh trong clip của bài hát Nation of America.
Điền Nguyễn: Tác Giả Nhạc Phẩm NATION OF AMERICAĐức Tuấn

Nhạc sĩ Điền Nguyễn
Món quà của người Mỹ trẻ gốc Việt viết, hát tặng cho quê hương thứ hai, nhân ngày Độc Lập thứ 239 của Hoa Kỳ.
Những lá cờ Hoa Kỳ tung bay phất phới, 100 ca sĩ Mỹ đủ mọi lứa tuổi, đủ mọi sắc tộc, đứng cạnh bên nhau để cùng hợp ca, trong đó có những người là quân nhân, là cô giáo, em bé học trò, hay công nhân, những chiếc xe quân đội, máy bay lượn trên vòm trời cao, và cảnh cứu người trong sự kiện 9-11, Katrina, và Boston Marathon.
Tất cả là những khúc phim tài liệu chạm đến trái tim mọi người, được gom góp, tạo thành linh hồn của ca khúc “Nation of America” hay “Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.”
Bài hát này do một người gốc Việt, nhạc sĩ Denny Nguyễn, sáng tác! Nhạc sĩ Denny Nguyễn, anh tên thật Ðiền Nguyễn, sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, theo gia đình định cư Hoa Kỳ năm 1986, diện H.O.

Ðiền Nguyễn đã từng tham gia Thủy Quân Lục Chiến dự bị được khoảng trên hai năm.
“Âm nhạc là tài năng và động lực thúc đẩy tôi trong cuộc sống.” Nhạc sĩ Nguyễn Ðiền nói. Anh kể, đã từng viết rất nhiều ca khúc cho các ca sĩ tên tuổi tại hải ngoại, cũng như trong nước như Trina Bảo Trân, La Sương Sương, Ánh Minh, Dương Triệu Vũ, Ngọc Sơn, Bảo Yến, Thanh Lam…
Nguyễn Ðiền cho biết anh đã từng là ca sĩ, hát cho một vài trung tâm ca nhạc tại hải ngoại.

“Tôi viết bài ‘Nation of America’ cách đây hai năm.” nhạc sĩ Ðiền Nguyễn tâm sự thêm: “Thật sự tôi muốn sáng tác bài ‘Nation of America’ theo dạng của bài ‘We Are The World.’”
“Tôi viết bài ‘Nation of America’ cách đây hai năm.” nhạc sĩ Ðiền Nguyễn tâm sự thêm: “Thật sự tôi muốn sáng tác bài ‘Nation of America’ theo dạng của bài ‘We Are The World.’”
Thêm vào đó thần tượng của Ðiền là nhạc sĩ Trúc Hồ, anh giải thích, bởi vì anh nghe nhiều bài hát hợp ca của trung tâm Asia quá hay, nên anh tự nhủ lòng: “Ước gì mình có thể sáng tác được 1 hay 2 bài, được trình bày hợp ca theo kiểu như thế của anh Trúc Hồ.” 
“Sau khi bài hát ‘Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ’ được hoàn tất, mới đầu tôi chỉ dự định nhóm hợp ca bài này là một nhóm nhỏ, khoảng 10 đến 20 ca sĩ là nhiều lắm rồi… Sau khi nghĩ như vậy, tôi gửi đăng những lời cần người, quảng cáo trên các trang mạng, cũng như các tờ báo địa phương.” 

Nhạc sĩ trẻ Ðiền Nguyễn tâm sự tiếp: “Vậy đó mà tới chừng vừa gửi thông báo lên các trang mạng, là người ta ùn ùn gọi tới tấp, hẹn cho vào phòng thu thử giọng, kết quả là có cả mấy trăm người muốn tham gia.”
“Cuối cùng tôi quyết định chọn khoảng 100 người để hợp ca bài hát này, mà 100 người đó bao gồm già trẻ lớn bé, và không phân biệt màu da, chủng tộc,” Ðiền nói. 

Nhạc sĩ Ðiền Nguyễn (trái) và một người bạn.
Hành trình để đi tìm đủ 100 người theo như chàng nhạc sĩ nói, quả thật không hề đơn giản, cặp mắt của anh bỗng sáng rực, khi nhắc đến những kỷ niệm, mà anh nói rằng, “Chẳng phải ngọt ngào gì lắm đâu.”
Bốn chữ “không hề đơn giản” mà anh đề cập đến là một quãng đường dài, một năm, tám ngày, trong đó có 6 tháng ròng rã, người nhạc sĩ, ca sĩ này làm việc miệt mài trong các phòng thu.

“Cái khó khăn cho mình vì tên tuổi và uy tín chưa bao giờ có trong cộng đồng người bản xứ, bởi vậy như khi đi tìm, chọn những em bé để hát chung với dàn hợp xướng, mình phải vào từng trường tiểu học, xin phép những thầy cô hiệu trưởng, trình cho họ bài hát của mình, sau khi họ nghe thấy tốt, họ mới mời phụ huynh đến họp để hỏi ý kiến, và cuối cùng là quyết định cho các con em của họ tham gia vào dàn hợp xướng hay không?”
Ðiền Nguyễn tiếp tục mô tả lại những khó khăn khi tạo dựng bài hát này, anh kể có những đêm lang thang một mình vào các sòng bài, vũ trường lớn có ca hát, “Ngồi nghe từng người ca sĩ của họ hát, từ đầu đến cuối, sau đó mới quyết định chọn ai? và mạnh dạn đến mời họ tham gia, dĩ nhiên là trả thù lao đàng hoàng.”
Anh tâm tình: “Vui lắm, có nhiều ca sĩ mình mời họ hát cho mình, sau khi vào phòng thu, hoàn tất phần việc của họ, xong ra về, lúc gửi bao thư cho họ, họ không lấy, mà còn nói ‘Tôi cảm xúc và vinh dự được tham gia với bạn trong dự án âm nhạc lớn như thế này’, rồi sau đó họ lại là người giúp mình quảng bá bài hát rất tích cực.”

“Bài hát này có thể dịch ra tiếng Việt của mình được không?” Nhạc sĩ Ðiền Nguyễn lắc đầu, anh cho biết dịch sang tiếng Việt sẽ mất ý nghĩa đúng của nó.“Ý tưởng nào để bạn viết ca khúc này vậy?,” ngừng một chút, nhạc sĩÐiền Nguyễn trả lời: “Bởi vì tôi thật sự yêu nước Mỹ.”
Anh nói khi sáng tác bài hát “Nation of America,” anh chỉ nghĩ được thay mặt cho cộng đồng Việt Nam, tỏ bày sự mang ơn đối với đất nước đã và đang cưu mang chúng ta.”
Cũng vẫn theo lời chàng nhạc sĩ, bài hát “Nation of America” đã từng được hát trong một số dịp lễ lớn của cộng đồng Mỹ như lễ khánh thành của nhiều LA fitness, lễ nhậm chức của bà thống đốc tiểu bang Rhode Island, lễ diễn hành của Rhode Island…
Cũng nhờ sự giới thiệu của những chính trị gia, những người bạn Mỹ mến mộ bài hát này, họ đưa đẩy anh đến với những đài radio Mỹ như ở LKVS (San Louis), Illinois, Chicago mời phỏng vấn.

“I love the USA until the day I die”… Câu cuối cùng của bài hát, tất cả chừng ấy nghệ sĩ tham gia trong dàn hợp xướng cùng để bàn tay phải lên ngực trái.
Ðó cũng là hình ảnh gây xúc động mạnh đến người xem. Ngày 4 tháng 7, tôi yêu nước Mỹ, và cảm ơn đất nước Hoa Kỳ.
Đức Tuấn – Văn Việt
Xin mời quý vị thưởng thức
https://www.youtube.com/embed/I_XL5fYIC5o

https://nguyenhuehaingoai.blogspot.com/2020/07/nation-of-america.html

HẸN MỘT NGÀY VỀ VÀ NHẠC SĨ / GIÁO SƯ LÊ HỮU MỤC – Biên soạn: Phan Anh Dũng

HẸN MỘT NGÀY VỀ VÀ NHẠC SĨ / GIÁO SƯ LÊ HỮU MỤC – Biên soạn: Phan Anh Dũng

  TIỂU SỬ

                                 

Lê Hữu Mục sinh ngày 24 tháng 11 năm 1925 tại làng Lưu Phương, thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Thân sinh là nhà nho, ông là người thứ bẩy trong tất cả 11 anh em với tám trai và ba gái.

Học Vấn

Tiến Sĩ, Văn Chương Việt Nam, Đại Học Sài Gòn, 1970.
Cao Học, Văn Chương Việt Nam, Đại Học Đà Lạt, 1960.
Cử Nhân, Văn Chương Pháp, Đại Học Hà Nội, 1950.

Âm Nhạc

Chèo Đi, Bơi Đi (nhạc và lời, 1938)
Hẹn Một Ngày Về (nhạc và lời, 1953)

Dạy Học

Giáo Sư, Quốc Học, Huế, 1952-1957
Giảng Viên, Đại Học Huế, Văn Chương Việt Nam, phân khoa Sư Phạm, 1957-1963
Giảng Viên, Đại Học Huế, Viện Nghiên Cứu Nôm Học, 1958-1963
Giảng Viên, Đại Học Huế, Văn Khoa

Giáo Sư, Đại Học Sàigòn (Sài Gòn), Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Hán-Nôm, chủ bút tập san Hán-Nôm.
Giảng Viên, Đại Học Đà Lạt (Đà Lạt),
Giảng Viên, Đại Học Hòa Hảo (Long Xuyên),
Giảng Viên, Đại Học Cao Đài (Tây Ninh),
Giảng Viên, Đại Học Phương Nam (Sàigòn),
Giảng Viên, Đại Học Vạn Hạnh (Sàigòn),
Giảng Viên, Đại Học Cộng Đồng Nha Trang (Nha Trang),
Giảng Viên, Đại Học Cộng Đồng Mỹ Tho (Mỹ Tho), Văn Chương Việt Nam, phân khoa Sư Phạm, 1964-1975

Nghiên cứu Nôm, 1981-1984

Pascale Baylon (Montréal) và nhiều trưòng trung học khác. Liên lạc viên giữa phụ huynh học sinh và PELO (Programme de l’Enseignement des Langues d’Origine), 1985-1990

Dạy Hè tại các trường Đại Học Âu Châu như Fribourg (Thụy Sĩ), Strasbourg, Nancy (Pháp), Frankfurt (Đức), Oslo (Na Uy), và Mỹ Châu như St Thomas (Houston), 1990-2005.

Nghiên Cứu Tiêu Biểu

« SONG VIẾT LÀ SÀNG VẠT », Lê Hữu Mục, Vietnamologica, số 2, 1996, Trung Tâm Việt Nam Học Canada.

Khóa Hè Tiêu Biểu

« VĂN HOÁ VIỆT NAM VÀ NHỮNG THÁCH ĐỐ CỦA NÓ ĐỐI VỚI GIỚI TRẺ VIỆT NAM SỐNG TRÊN ĐẤT NƯỚC MỸ », Lê Hữu Mục, University of St Thomas, Houston, 1999.

Tác Phẩm

Thân Thế và Sự Nghiệp Nhất Linh (giáo khoa, 1955)
Nhận Định về Đoạn Tuyệt (biên khảo, 1955)
Luận Đề về Khái Hưng (giáo khoa,1956)
Luận Đề về Hoàng Đạo (giáo khoa,1956)
Chủ Nghĩa Duy Linh (biên khảo, 1957)
Văn Hóa và Nhân Vị (biên khảo, 1958, cùng Bùi Xuân Bào, Võ Long Tê)
Thảm Trạng của Một Nền Dân Chủ Vô Thần (1958)
Lĩnh Nam Chích Quái (1959)
Việt Điện U Linh Tập (1960)
Quân Trung Từ Mệnh Tập (1960)
Ức Trai Thi Tập (1961)
Nhị Khê Thi Tập (1962)
Băng Hồ Ngọc Báo Tập (1963)
Chúa Thao Cổ Truyện ( 1965)
Lịch Sử Văn Học Việt Nam, Tập 1 (biên khảo, 1968)
Khóa Hư Lục (1973)
Hồ Chí Minh Không Phải Là Tác Giả “Ngục Trung Nhật Ký” (1988)
Truyện Kiều và Tuổi Trẻ (1998, nxb Làng Văn, 1990)

Dịch Thuật

Huấn-Dịch Thập-Điều, Thánh Dụ của vua Dục Tông, Minh Mệnh, vua Việt Nam, 1791-1840, (Sàigòn : Ủy-ban dịch-thuật, Phủ Quốc-vụ-khanh đặc-trách Văn-hóa, 1971)

Bài Viết Tiêu Biểu

1/ Văn Hóa Việt Nam – Nước, đặc trưng hình thái của tư tưởng Việt Nam
2/ Văn Hóa Việt Nam – Thuyết Bất Vô
3/ Văn Hóa Việt Nam – Đối diện với Văn Hóa Mỹ
4/ Cụ Sáu đối diện với phong-trào Văn-thân
5/ Cụ Sáu đối phó với phong-trào Văn-thân
6/ Cụ Sáu đối lập với phong-trào Văn-thân

Tập San
1990-2005 : Vietnamlogica, sáng lập viên, chủ bút, cộng tác viên

(Biography do Lê Hữu Mạnh cung cấp)    

                               Lê Hữu Mục, nhạc sĩ
                                                    – Lê Văn Khoa

Một người thành công trong nhiều mặt rất khó khi người ta muốn đề cập đến cho đầy đủ. Vì vậy tôi chỉ dám nói đến một khía cạnh rất nhỏ của một lãnh vực riêng biệt, trong nhiều lãnh vực hoạt động của học giả, giáo sư, nhạc sĩ Lê Hữu Mục, là âm nhạc.

Người ta nói giáo sư Lê Hữu Mục và Lê Văn Khoa có họ hàng nhau. Họ thì có, cả hai cùng họ Lê, nhưng hàng thì không. Nhưng chúng tôi trở thành họ hàng nhờ một người khác họ. Giáo sư Lê Hữu Mục là chú họ của Phan Ngọc Hà, nhà tôi, vì vậy trở thành chú họ của tôi luôn.

Lần đầu tôi gặp giáo sư Lê Hữu Mục là tại Montreal, Canada. Hôm đó sau buổi thuyết trình của tôi về âm nhạc có chiếu video tại trường đại học Montréal, do Cộng Đồng Người Việt với bà chủ tịch Bác sĩ Lâm Thu Vân tổ chức, khi ra ngoài tôi gặp giáo sư Mục. Ông cười và nói: “Này nhé, hai chú cháu đều có bài nhạc trùng tên nhau.” Vì không biết nhiều về giáo sư từ trước, tôi hỏi lại: “Thưa chú bài trùng tên nhau là bài nào vậy?” Giáo sư Mục cười, giọng nhẹ nhàng nói: “Bài Hẹn Một Ngày Về chứ bài nào. Tuy nhiên nội dung khác nhau.” Tôi nhớ lại hồi còn trẻ, khi chơi với ban nhạc trên đài phát thanh Sài-gòn, chúng tôi có hát bài “Hẹn Một Ngày Về” của nhạc sĩ Lê Hữu Mục. Không ngờ bây giờ tôi gặp chính tác giả và là người tôi gọi bằng chú.
Sự khác nhau giữa hai bài nhạc này là “Hẹn Một Ngày Về” của giáo sư Lê Hữu Mục, khi về Bắc nghỉ hè, hẹn sẽ trở lại Huế để dạy học tiếp. Còn “Hẹn Một Ngày Về” ** của Lê Văn Khoa là tâm tình của người vì biến cố Tháng Tư 1975 phải xa xứ, hẹn trở về quang phục quê hương. Thật ra giáo sư Mục có một bài Hẹn Một Ngày Về thứ hai, tên là Hẹn Một Ngày Về Vinh Quang với câu:
“Quê Hương ơi, em hãy chờ ta trở về . . .
Hẹn một ngày về Việt Nam, cùng sông núi, chúng ta về vinh quang.
Hẹn một ngày về Việt Nam cùng tổ quốc,chúng ta về hiên ngang . . .
Đất là đất của ta, Nước là nước của ta . . .”

Mạn đàm cùng anh Lê Hữu Mục
               Bài phỏng vấn của Trần Quang Hải (Nguồn: http://tranquanghai1944.com)

Tôi nghĩ có nhiều người viết về anh Lê Hữu Mục trong lĩnh vực văn học, nghiên cứu việt học hay tiểu sử của anh Lê Hữu Mục. Nhân dịp Việt Hải có ý định mời một số bạn bè để cùng chung sức viết một quyển tổng hợp một số bài về anh Lê Hữu Mục, tôi có ý nghĩ phỏng vấn anh Mục để tìm hiểu một số chi tiết về sáng tác âm nhạc của anh.

Được quen biết anh Mục từ lâu, có dịp gặp anh tại một số hội thảo ở Hoa Kỳ, Pháp và Na Uy, và làm việc chung cho dự án một quyển sách về văn hóa Việt Nam được thai nghén gần 10 năm nay, tôi gọi điện thoại sang Montréal (Canada) trước là thăm anh sau khi nghe anh vào nhà thương trị bịnh hồi tháng 3, 2007, đồng thời lợi dụng cơ hội này để phỏng vấn anh một số vấn đề về âm nhạc.

                           NS Lê Hữu Mục                                      NS Trần Quang Hải


Cuộc phỏng vấn được diễn ra như sau :

Trần Quang Hải (TQH) : A-lô, có phải anh Mục không ?
Lê Hữu Mục (LHM) : Đúng tôi đây. Ai ở đầu dây đó ?
TQH : Em Trần Quang Hải ở Pháp đây . Anh mạnh giỏi chứ ?
LHM : Úi giời ! Hải đó à ? Không biết ngọn gió nào thổi em sang đây ?
TQH : Em rất vui được nghe giọng nói của anh . Nghe nói anh đau, phải vô nhà thương nằm trị bịnh. Và được biết anh về nhà nên em gọi thăm anh để hỏi anh bịnh tình ra sao ?
LHM : Cám ơn Hải . Tôi về nhà mới được một tuần . Khỏe thì không khỏe lắm, nhưng bịnh đã giảm nhiều nhưng phải nằm nghỉ nhiều .
TQH : Nghe giọng nói của anh khỏe, em bớt lo . Em còn nhớ lúc hai anh em mình sinh hoạt với nhau với nhóm Về Nguồn ở South Carolina với các em sinh viên ở trại hè vào năm 1998. Anh, Nguyễn Hữu Nghĩa (báo Làng Văn) và em đồng sáng tác một bản nhạc để hát cho sinh viên nghe, rất là vui .
LHM : Thấm thoát cũng 9 năm qua rồi nhỉ ! Lúc đó tôi còn khỏe, hăng say làm việc, chú trọng nhiều về Việt học (Vietnamotologie), nghiên cứu nhiều về văn học, ngôn ngữ học chứ âm nhạc thì ít khi có dịp nghĩ tới . Cũng vui là gặp Hải và có dịp khơi lại nguồn hứng nhạc trong tôi đấy chứ !
TQH : Ngoài ra , anh còn nhớ mình sinh hoạt chung với nhau ở Nancy khi anh Trúc tổ chức khóa hè cho các em sinh viên Việt Nam ở Âu châu và sau đó trên đường trở về Pháp, anh đi cùng Bạch Yến và em trên xe, ghé một quán cơm ăn cơm Pháp, uống rượu vang và thăm viếng một nơi chuyên làm các vật liệu bằng thủy tinh ở tỉnh Baccara . Chúng mình tha hồ nói chuyện về âm nhạc, hát cho nhau nghe rất nhiều ca khúc do anh sáng tác . Tiếc là lúc đó em không có máy để thu lại cuộc nói chuyện đó .
LHM : Hải nhắc làm tôi nhớ lại giai đoạn đó . Đúng là duyên số . Có bao giờ chúng mình có dịp gặp nhau, gần nhau để tâm tình với nhau đâu . Tôi ở Bắc Mỹ, vợ chồng Hải ở Âu châu, làm sao có dịp để hàn huyên lâu như vậy .
TQH : Rồi khi anh Trúc tổ chức khóa hè ở Oslo (Na Uy), anh cũng có dịp sang bên đó. Lúc đó có cả anh Lê Mộng Nguyên. Nhưng mình lại không có thì giờ nói chuyện với nhau vì dường như là em chỉ tới có hai ngày thôi vì phải trở về Pháp làm việc .
LHM : Tuy không nói chuyện với nhau nhiều , nhưng tôi được xem Hải trình diễn nhạc dân tộc cho sinh viên và quan khách người Na Uy rất hào hứng và thu hút người tham dự. Việc làm của Hải đi về chiều sâu văn hóa dân tộc, và âm nhạc truyền thống , tạo được sự ngưỡng mộ của người Tây phương, mang lại niềm tự hào cho giới trẻ là một việc làm rất xứng đáng được tôn vinh , vì ở hải ngoại ngày hôm nay không còn mấy ai để tâm sức đến và nhất là có khả năng để làm việc đó .

TQH : Cám ơn anh Mục vì quý em nên nói như vậy. Thật ra em chỉ làm bổn phận của một người con dân xứ Việt trong phạm vi nhỏ hẹp thôi . Em muốn hỏi anh sáng tác bản « Chèo đi, bơi đi » vào năm nào ?
LHM : Bài « Chèo đi bơi đi » được sáng tác vào năm 1938 lúc mình chỉ mới có 13 tuổi với lời đầu tiên không phải là lời của bài « Chèo đi bơi đi » . Lúc đó mấy ông thày dòng bắt mình đóng kịch, đầu đội chóp mũ màu đỏ trên đó có một ruban thắt một quả bóng, chân đi giày giống như « luther ». Mình viết một ca khúc để chào mừng quan khách theo nhịp ¾, điệu valse ấy mà .
Mừng thay, vui thay
Tối nay được gặp đây
Vui thay
Hát mừng chào quý chức……

Đó là lời hát đầu tiên của bài “Chèo đi bơi đi” được viết ra vào năm 1938. Sau đó mình đi hướng đạo Tây, groupe Saint Georges. Có một thằng bạn đặt lời Pháp cho bản này mà mình không nhớ lời . Sau kỳ đi hướng đạo , mình mới viết lại lời cho bản “Chèo đi bơi đi” mà mọi người biết sau này .
TQH : Anh sáng tác nhạc sớm quá , mới 13 tuổi đã bắt đầu viết nhạc và bản nhạc đó đã được truyền đi khắp nơi . Vậy thì anh tuổi con gì ?
LHM : Tuổi Sửu, Ất Sửu .
TQH : Như vậy anh sinh năm 1925 phải không ?
LHM: Đúng rồi . Vào năm 1946, tôi có gặp Lưu Hữu Phước . Anh ấy có nói :”Sao anh còn nhỏ tuổi vậy ? Tôi cứ tưởng anh lớn tuổi rồi ! “. Tôi trả lời : “Không đâu, tôi nhỏ hơn anh nhiều”. Lưu Hữu Phước sinh năm 1922. Anh Phước lại nói : “Này nhé, cho phép tôi gọi chú Mục bằng chú nhé. Tôi thích bài “Chèo đi bơi đi” dựa trên âm giai ngũ cung. Bắt đầu từ hôm nay, chú nên đi theo chúng tôi để cùng nhau sáng tác nhạc giúp ích cho cuộc kháng chiến” . Đó là lần đầu cũng là lần cuối tôi gặp Lưu Hữu Phước.
TQH : Anh có xu hướng sáng tác nhạc theo âm giai ngũ cung hay chỉ có vài bài theo thang âm này ?
LHM : Tôi có nhiều bài ngũ cung lắm chứ . Này nhé, chẳng hạn như bài này :
Này cô xinh tươi
Tôi muốn lấy cô
Cùng cô trăm năm
Nên duyên cầm sắc .
Này cô xinh tươi
Tôi muốn lấy cô
Cùng cô trăm năm
Nên duyên sắc cầm
.

TQH: Bài này hoàn toàn ngũ cung , lại có tiết điệu nhạc trẻ em , rất dễ nhớ .
LHM : Tôi có khoảng 30 bài tương tự như thế.
TQH : Sao anh không nghĩ xuất bản những ca khúc này ?
LHM: Có chứ . Anh Đặng Quốc Cơ ở Pháp  có đề nghị với tôi nhưng vì tôi lười quá không ghi lại.
TQH : Anh không nên lười , anh Mục . Anh phải ráng ngồi chép lại đi . Đó là những đóng góp quan trọng cho âm nhạc Việt Nam . Nếu một ngày nào đó , anh ra đi vĩnh viễn thì có ai biết anh đã có những sáng tác đầy màu sắc nhạc dân tộc, rất hạp với nhạc trẻ em, giai điệu dễ nhớ . Như thế có uổng không chớ !
LHM : Nếu Hải thật lòng giúp tôi , thì tôi sẽ tìm thì giờ chép lại những bản này . Đồng ý chứ?
TQH : Không những đồng ý mà hoan nghinh cả hai tay lẫn hai chân, anh Mục ạ .
LHM (cười): Hôm nay mình muốn khoe với Hải. Từ lâu rồi , mình có viết một ORATORIO.
TQH : Anh viết ORATORIO à ? Loại nhạc này rất hiếm thấy ở Việt Nam . Ở Việt Nam ít có ai sáng tác loại nhạc này . Có thể anh là người đầu tiên đó !
LHM : Mình viết về 14 stations .
TQH : Tức là 14 đàng thánh giá đạo Thiên chúa phải không ?
LHM : Đúng rồi . Mình dựa trên lời Pháp của Paul Claudel .
TQH : Ông Paul Claudel là nhà văn Pháp rất nổi tiếng.
LHM : Trong số 14 bài nhạc diễn tả 14 chặng đàng thánh giá, bài số 4 là nổi tiếng nhất . (anh Mục hát một đoạn). Người hát đã khóc khi hát . Cô hát bài này cách đây hơn 30 năm tại Saigon. Cô ta khóc tại vì sao ? Vì qua lời thơ ý nhạc cô cảm thấy như thấy Chúa trần truồng đang  bị đày đọa, tra tấn, trong khi Đức Mẹ đau đớn khóc lóc thấy con mình bị khinh khi, hành hạ. (Anh Lê Hữu Mục hát có khi quên lời chỉ nhớ nhạc thôi). Có nhiều variations hay lắm.
TQH : Anh có chép lại tác phẩm này hay không ?
LHM : Có một người bạn đã chép tay bài Oratorio rất đẹp .
TQH : Vậy thì anh còn chần chờ gì mà không xuất bản ?
LHM : Tôi có ý định muốn giao tất cả nhạc phẩm của tôi cho Hải mà tôi xem là người thừa kế tôi. Ở trong tay tôi, các nhạc phẩm này nằm trong hộc tủ.
TQH : Tại sao anh lại dấu các bản nhạc của anh trong tủ ?
LHM (cười) : Tôi ẩu và coi thường quá. Chúa cho tôi tài năng về âm nhạc, và cái khiếu là tùy hứng dễ dàng . Tôi chủ trương là trong tương lai phải tạo một phong trào « improvisation instantanée » (tức hứng), chứ không thể ngồi nghĩ ra lời và âm nhạc . Đề tài làm tại chỗ, hát tại chỗ, sáng tác tại chỗ. Mozart, Beethoven, Chopin sáng tác nhạc tại chỗ, người ta chép lại lưu lại đời sau . Nhạc tùy hứng tạo một trường phái sáng tác mới , làm giàu cho nhạc Việt trong tương lai .
TQH : Đề nghị của anh rất chí lý và rất đáng hoan nghinh. Em có nhớ ở đảo Sardaigne xứ Ý có truyền thống hát đối đáp tùy hứng giữa các thi sĩ. Loại hát này gọi là « Chjame – Responde »  (Hỏi – đáp) được nghe tại những quán cà phê ở đảo Sardaigne khi có những nhà thơ tới uống rượu và gặp nhau thách thức tài năng tức hứng qua những đề tài chính trị, biến cố trong làng hay tranh luận . Giai điệu chỉ có một giai điệu nhưng thơ thì được sáng tác tại chỗ . Chính loại hát đối đáp tức hứng được tìm thấy ở tục lệ hát Quan Họ của Việt Nam . Nhờ cách đối đáp tức hứng mà tục lệ Quan Họ ngày càng có nhiều bài bản . Hiện nay có thể đếm được nhiều trăm bài hát đã được sưu tầm và in ra thành sách ở Việt Nam .
LHM : Tôi nhớ có một lần tại Viện đại học Dalat, có Phạm Duy tới trinh bày âm nhạc . Trong buổi tiệc, tôi đứng dậy hát tức hứng :
Phạm Duy ?
Anh muốn gì tôi ?
Phạm Duy ?
Anh nói đi !

Tuy là tức hứng nhưng tôi dựa trên thang âm ngũ cung . (anh Mục hát : Do Fa, Sol La Re Fa – Do Fa – Sol La Fa). Phạm Duy không đáp lại, chứng tỏ anh ta không biết phản ứng trong loại nhạc này . Hải để ý . Loại nhạc « musique aléatoire », « musique improvisée » đã bắt đầu xuất hiện ở nhạc cổ điển Tây phương đương đại , nhưng không phát triển mạnh .
TQH : Xứ Việt Nam không có truyền thống tức hứng trong tân nhạc . Điều này muốn thực hiện cần phải có thời gian và nhứt là phải tạo một môi trường thích ứng với chương trình giáo dục âm nhạc trong xứ .

LHM : À này ! Bạch Yến có nhờ tôi chép tay bài « Hẹn một ngày về » tôi sáng tác từ lâu và viết thêm lời tiếng Pháp . Tôi lại quên đi mất.
TQH : Đúng rồi . Em nhớ lúc mình đi trên đường từ Bar sur Aube về Paris, anh có hứa với Bạch Yến việc này . Tính ra cũng gần 10 năm rồi anh nhỉ ! Bài « Hẹn một ngày về » anh viết theo âm hưởng rất Tây phương và  đã được phổ biến ở Việt Nam trước 75.
LHM : Thật sự tôi quên mất. Trên báo Người Việt, tôi có viết  một bài trong đó tôi có nhắc là Bạch Yến không bao giờ nài nỉ ai xin bài để hát . Thế mà Bạch Yến lại nài nỉ tôi gởi bài « Hẹn một ngày về » để có dịp trình diễn trên sân khấu hay thu vào dĩa . Thế mà tôi lại quên mất đi . Đúng là vì tôi già đi, tôi bị những « trous de mémoire » mà tuổi già tạo nên .
TQH : Anh có bị bịnh Elzheimer không ?
LHM : Không , tôi có đi khám bịnh về sự mất trí nhớ . Bác sĩ bảo là tôi bị mệt vì làm việc nhiều quá. Chỉ cần nghỉ ngơi , tịnh dưỡng thì trí nhớ sẽ được phục hồi, chứ không có gì phải lo ngại cả. Tôi nhờ Hải xin lỗi Bạch Yến dùm tôi . Tôi hứa sẽ viết một bài  nhạc đặc biệt hoàn toàn bằng tiếng Pháp, riêng tặng Bạch Yến. Điệu nhạc sẽ mang âm hưởng nhạc « espagnole ». Hy vọng bài đó sẽ đáp ứng sự chờ đợi của Bạch Yến .
TQH : Như vậy thì tuyệt vời . Được như vậy Bạch Yến sẽ có một nhạc phẩm đúng « ni tấc » để hát .

LHM : Tôi còn nhớ bản nhạc đầu tiên tôi viết về bịnh thụ dâm của tôi. Tiếng Việt còn gọi là « đánh xong ». Lúc đó tôi mới 12 tuổi, sợ bị phạm tội , tôi có viết một bản nhạc nhỏ với lời như sau :
Ôi Giê Su giúp cho con
Giữ tâm hồn trong trắng
Trong đêm khuya hãi hùng
Trong đêm khuya bão bùng …


Sau này tôi sang Canada, tôi thấy là bịnh thụ dâm không có gì là tội lỗi cả, chỉ nguy hiểm cho đầu óc chứ không có hại cho cơ thể .
Đánh xong có suớng gì đâu
Còn nguyên cơ thể, cái đầu đã hư .


TQH : Tất cả trẻ con đều trải qua giai đoạn này , rất là bình thường . Cái hay là anh đã sáng tác một bản nhạc về vấn đề này vào tuổi còn thơ , vào năm 1937.

LHM: Tôi chỉ có một ước mơ là bài ORATORIO được xuất bản . Anh Đặng Quốc Cơ ở Pháp có nói cho tôi là lúc nào cũng sẵn sàng xuất bản cho tôi . Rồi những bản nhạc khác của tôi hiện vẫn còn nằm im lìm trong tủ chưa được cho “chào đời”. Tôi lười quá, lại coi thường không cho đó là quan trọng . Nếu Hải có thể lo dùm tôi thì tôi sẽ trao lại cho Hải gia tài âm nhạc của tôi để Hải giúp tôi hoàn thành ước mơ này .
TQH : Việc này không có gì khó cho em đâu . Trước hết , anh nên gởi cho em tất cả các bản nhạc của anh để em xem lại và sắp xếp theo thứ tự năm tháng , rồi làm thành một tuyển tập nhạc của anh , ghi lại tiểu sử của anh thật đầy đủ . À ! Anh có tiểu sử cập nhựt hay không ?
LHM : Tiểu sử tôi chưa soạn xong . Tôi có 3 cuốn sách bị mất tích . Ngoài ra còn phải gom góp những bài viết về văn học nữa .
TQH : Em thấy tiểu sử của anh nên chia thành ba giai đoạn : giai đoạn âm nhạc, giai đoạn dạy học và giai đoạn nghiên cứu . Anh chủ trương Vietnamotologie từ lâu , viết nhiều bài về phonologie, về cách đọc bài viết của Nguyễn Trãi, vv…Phần dạy học và nghiên cứu đã có những người khác lo . Về phần âm nhạc , em rất muốn được anh cho biết tất cả về cuộc đời sáng tác nhạc của anh , cũng như anh đã học nhạc lúc nào , biết đàn những cây đàn nào và học hòa âm viết nhạc với ai để cho bài viết về giai đoạn âm nhạc của anh được dầy đủ.
LHM: Tôi nghiên cứu phonologie là cũng vì trong đó có âm nhạc . Âm thanh trong từ ngữ mang chất nhạc. Cả sự im lặng tôi cũng cho đó là âm nhạc . Trong bài Giao hưởng khúc số 5 của Beethoven lúc bắt đầu bài giữa những đoạn nhạc đều có im lặng một cách cố ý . “La vraie musique c’est le silence” (Âm nhạc thật chính là sự im lặng)
TQH : Đúng vậy . Sự im lặng rất cần thiết trong âm nhạc . Không phải chỉ có cao độ mới là âm nhạc . Biết cách sử dụng im lặng sẽ làm tăng màu sắc âm nhạc trong bài nhạc . Nảy giờ, nói chuyện với anh khá lâu . Em để anh đi dùng cơm trưa và anh cũng cần an nghỉ .
LHM : Tôi cũng bắt đầu đói bụng rồi . Cám ơn Hải đã gọi điện thoại thăm tôi . Mong có dịp Hải sang Montreal để anh em mình có dịp bàn thêm về âm nhạc . Nhớ thỉnh thoảng nhắc tôi gởi tài liệu nhạc của tôi cho Hải nhé . Tôi bị bịnh mau quên nên nhớ đâu nói đó . Chào Hải và cho tôi gửi lời thăm Bạch Yến nhé .
TQH : Em sẽ liên lạc với anh khi có dịp sang Montreal và sẽ luôn nhắc anh làm chuyện gởi bài bản nhạc của anh cho em . Anh đừng lo . Điều quan trọng là anh nhớ giữ gìn sức khỏe để đóng góp thêm vào gia tài văn hóa Việt Nam ở hải ngoại . Chúc anh ăn ngon , nghỉ khỏe và mong gặp lại anh trong một tương lai rất gần . Chào anh Mục . Bon appétit !
LHM : Chào Hải . A bientôt et merci .

(Phỏng vấn ngày 18 tháng 3, 2007. Viết xong ngày 22 tháng 7, 2007- Trần Quang Hải

WIKIPEDIA : LÊ THƯƠNG tiểu sử

Lê Thương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Buớc tưới chuyển hướngBước tới tìm kiếm

Lê Thương
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinhNgô Đình Hộ
Sinh8 tháng 1 năm 1914
Hà Nội, Liên bang Đông Dương
Mất17 tháng 9 năm 1996
Thành phố Hồ Chí Minh
Thể loạiNhạc tiền chiến
Nghề nghiệpGiáo viên, nhạc sĩ

Lê Thương (19141996) là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu nhất cho thời kỳ tiền chiến của tân nhạc Việt Nam. Ông là tác giả của bộ ba ca khúc Hòn vọng phu bất hủ.

Mục lục

Tiểu sử

Lê Thương tên thật là Ngô Đình Hộ, sinh ngày 8 tháng 1 năm 1914, tại phố Hàm Long, Hà Nội, trong một gia đình bố mẹ là những nghệ sĩ cổ nhạc. Một bài viết khác cho rằng Lê Thương sinh tại Nam Định. Chi tiết về cuộc đời ông rất ít được nhắc tới. Theo hồi ký của Phạm Duy, Lê Thương sinh năm 1913 và là một thầy tu nhà dòng hoàn tục.

Năm 1935, Lê Thương hành nghề dạy học ở Hà Nội, sau đó ông chuyển về dạy ở Hải Phòng. Lê Thương cùng Hoàng Quý, Hoàng Phú (tức nhạc sĩ Tô Vũ), Phạm Ngữ, Canh Thân tụ họp thành một nhóm ca nhạc sĩ trẻ để bắt đầu sáng tác và hát phụ diễn cho những buổi diễn kịch nói của nhóm kịch Thế Lữ tại Hải Phòng, hay theo ban kịch đi hát tại Hà Nội, Vĩnh Yên. Họ cũng là những hướng đạo sinh và hay tổ chức đi cắm trại hay đi hát tại các tỉnh lân cận bằng xe đạp.

Năm 1941, Lê Thương vào miền Nam. Ban đầu ông ở An Hóa, tỉnh Bến Tre, sau đó Lê Thương chuyển về sống tại Sài Gòn. Tuy là một nhạc sĩ tài danh, nhưng nghề chính của ông là dạy học. Ông từng là giáo sư Sử Địa, có một thời gian giảng dạy tại một số trường trung học tư ở Sài Gòn. Ông cũng từng là giáo sư Pháp ngữ tại trường trung học Pétrus – Ký vào thập niên 60. Lê Thương cũng từng làm công chức ở Trung tâm Học liệu, bộ Quốc gia Giáo dục và là giảng viên Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ thời Việt Nam Cộng hòa.

Âm nhạc

Lê Thương là một trong những nhạc sĩ Việt Nam tiên phong viết tân nhạc với bài Bản đàn xuân. Ngoài Bản đàn xuân, trong thời kỳ ở miền Bắc, Lê Thương còn sáng tác những tác phẩm khác như Tiếng đàn đêm khuya, Một ngày xanh, Trên sông Dương Tử, Thu trên đảo Kinh Châu

Từ khi vào miền Nam năm 1941, Lê Thương phổ thơ nhiều bài như Lời kỹ nữ (thơ Xuân Diệu), Lời vũ nữ (thơ Nguyễn Hoàng Tư), Bông hoa rừng (thơ Thế Lữ), Tiếng thùy dương (tức Ngậm ngùi thơ Huy Cận) và Tiếng thu (thơ Lưu Trọng Lư)…

Lê Thương là nhạc sĩ tiên phong của nhiều thể loại âm nhạc. Thời kỳ kháng chiến, ông có soạn một ca khúc rất nổi tiếng Lòng mẹ Việt Nam hay Bà Tư bán hàng nói về một bà mẹ thành phố có các con tham gia kháng chiến. Và bài hát đó là một trong những lý do Lê Thương bị Pháp bắt giam vào khám Catinat cùng Phạm DuyTrần Văn Trạch năm 1951.

Lê Thương thuộc những người đầu tiên viết truyện ca và đã để lại những bản truyện ca hay nhất như Nàng Hà Tiên, Lịch sử loài người, Hoa thủy tiên… Đặc biệt hơn cả là bộ ba Hòn vọng phu, được xem như một trong những tác phẩm nổi tiếng của tân nhạc Việt Nam. Văn Cao cũng từng thừa nhận ảnh hưởng bởi Lê Thương với phong cách âm nhạc bắt nguồn từ âm nhạc cổ truyền Việt Nam.

Trần Văn Khê, Trần Văn Trạch và Lê Thương ở Sài Gòn năm 1949

Lê Thương cũng là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên viết nhạc hài hước với những bản Hoà bình 48 (phê phán sự mỵ dân đội lốt hoà bình), Làng báo Sài Gòn (đả kích báo giới bồi bút, bất tài và ham tiền), Đốt hay không đốt (châm biếm máu Hoạn Thư), Liên Hiệp Quốc… Những bản này được nghệ sĩ Trần Văn Trạch trình diễn nhiều lần vào thập niên 1940. Lê Thương còn đặt lời cho những bản nhạc ngoại quốc ngắn như Nhớ Lào (nhạc Lào), Bông hoa dại tức Ô Đuồng Chăm Pá (nhạc Lào), Lòng trẻ trai (nhạc Hoa Kỳ), Hoa anh đào tức Sakura (cổ nhạc Nhật Bản), Màn Brúc đánh giặc (dân ca Pháp)…

Một thời gian, Lê Thương có cùng nhạc sĩ Lê Cao Phan phụ trách ban nhạc Măng Non cho trẻ em, phát thanh các truyện cổ tích, khúc dân ca, bài ca nhi đồng. Và cùng Nguyễn Xuân Khoát, Lê Thương được xem như những nhạc sĩ mở đầu của dòng nhạc dành cho thiếu nhi với những bản Tuổi thơ, Cô bán bánh, Con mèo trèo cây cau, Thằng bé tí non, Ông Nhang bà Nhang, Truyền kỳ Việt sử, Học sinh hành khúc… Nổi tiếng hơn cả là bài Thằng Cuội thường được trẻ em hát trong mỗi dịp tết Trung Thu, mặc dù nhiều người không biết đó là một ca khúc của nhạc sĩ Lê Thương: Bóng trăng trắng ngàCó cây đa toCó thằng Cuội giàÔm một mối mơLặng yên ta nói Cuội ngheỞ cung trăng mãi làm chiBóng trăng trắng ngàCó cây đa toCó thằng Cuội giàÔm một mối mợ…

Ngoài âm nhạc, Lê Thương còn gia nhập vào ban kịch của Thế Lữ vào những năm thập niên 1930, và ban kịch Sầm Giang của Trần Văn Trạch khi ông sống ở Sài Gòn. Lê Thương đã sáng tác ca khúc cho nhiều kịch bản, và viết nhạc phim cho hãng phim Mỹ Vân.

Lê Thương lập gia đình cùng một phụ nữ học ở Pháp về và họ có chín người con. Ông cũng có hai người tình, người tình đầu là một cô hát ả đào nổi tiếng ở Hà Nội. Người thứ hai là một vũ nữ tại Chợ Vườn Chuối Sài Gòn.

Sau 1975, ông không tham gia hoạt động văn nghệ. Vào thập niên 1990, ông bị mất hẳn trí nhớ và qua đời ngày 17 tháng 9 năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Sáng tác

Bản đàn xuân Bông hoa rừng Cô bán bánh Con cóc leo võng Con mèo trèo cây cau Con muỗi Đàn bao tuổi rồi Đàn tình xưa Đốt hay không đốtHoa thủy tiên Học sinh hành khúc Hòn vọng phu 1 Hòn vọng phu 2 Hòn vọng phu 3 Làng báo Sài Gòn Lịch sử loài người 1 – 2Lời kỹ nữ Lời vũ nữ Lòng mẹ Việt Nam Một ngày xanh Nàng Hà Tiên Người chơi độc huyền Nhớ LàoNhớ thày xưa Ông Nhang bà Nhang Ông Nỉnh, ông Nang Tâm sự ca nhân Thằng bé tí non Thằng Cuội Thu trên đảo Kinh ChâuTiếng đàn đêm khuya Tiếng thu Tiếng thùy dương Trên sông Dương Tử Truyền kỳ Việt sử Tuổi thơ Xuân yêu đương .

Tham khảo

Liên kết ngoài

  • Lê Thương Bài viết của Trần Minh Phi trên Giai điệu xanh

Thể loại:

Trình đơn chuyển hướng

Khác

Tìm kiếm

Tương tác

Gõ tiếng Việt

Trợ giúp

  •  Tự động [F9]
  •  Telex (?)
  •  VNI (?)
  •  VIQR (?)
  •  VIQR*
  •  Tắt [F12]
  •  Bỏ dấu kiểu cũ [F7]
  •  Đúng chính tả [F8]

Công cụ

In/xuất ra

Ngôn ngữ

Thêm liên kết

HOÀNG LAN : Nhạc sĩ Hùng Lân (1922 – 1986)

Hoàng Lan‎ toSalut Saigon & Salut Les Copains2 hrsHoàng LanJune 1, 2019

Nhạc sĩ Hùng Lân (1922 – 1986)

Tên thật là Hoàng Văn Hương , tên khai sinh là Hoàng Văn Cường, chính gốc họ Nguyễn. Ông được sinh trong một gia đình Công Giáo, đông anh em, bố mẹ mất sớm

Bút hiệu Hùng Lân ra đời, được ghép từ hai tên của người em thứ năm và thứ tám của ông. Ngoài ra, ông còn dùng bút danh Nam Hoa, Lâm Thanh

Năm 1951, Hùng Lân lập gia đình với bà Nguyễn Thị Dung – một thiếu nữ hát rất hay, đã từng hát đơn ca trong ca kịch “Tục lụy” của Lưu Hữu Phước và Thế Lữ – và có sáu con gái, một trai

Từ năm 8 tuổi, ông được theo học nhạc linh mục người Pháp P. Depautis và linh mục J. Bouis, được tuyển vào ban hợp xướng Nhà Thờ Lớn Hà Nội
Sự nghiệp âm nhạc của ông dành phần lớn cho nhạc thánh ca nhà thờ

Năm 1945, Ông là đoàn trưởng ca đoàn Lê Bảo Tịnh .Sự thành công nhất định của ca đoàn Lê Bảo Tinh đã có phần góp không nhỏ của ông .Ngoài ra, nhạc sĩ Hùng Lân còn là người khởi xướng và phát huy phong trào dùng tiếng Việt trong Thánh ca. Nhạc phẩm nổi tiếng Silent Night đã được ông chuyển lời Việt Đêm Thánh Vô Cùng mà hầu như ai cũng thuộc lòng , được hát vang trong mùa Giáng Sinh
Hùng Lân sáng tác ba tập Thánh ca mang tựa đề “Ca vang lời Chúa” và khoảng 80 bài Thánh Vịnh Ứng Tác.
Năm 1948, Ông dạy âm nhạc tại trường Trung học Nguyễn Trãi , Chu Văn An , Hà Nội
Năm 1954, Hùng Lân di cư vào Nam
Năm 1963, ông tốt nghiệp cử nhân văn chương Pháp tại Đại học Văn khoa Sài Gòn
Ông tu nghiệp một khóa ngắn hạn tại Hoa Kỳ về ngành giáo dục và truyền thông tại Đại học Syracuse, tiểu bang New York (Hoa Kỳ).
– Ông là giáo sư âm nhạc của trường Ca vũ nhạc Phổ thông Sài Gòn
– Trưởng ban Phát thanh Nha Tổng Giám đốc Thanh niên và Thể thao Sài Gòn,
– Là một trong những sáng lập viên , giáo sư trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn
– Người chủ xướng chương trình Đố Vui Để Học , do Trung Tâm Học Liệu phát hành trên Truyền Hình Việt Nam năm 1969
– Phụ trách chương trình Phát thanh Học đường cho trẻ em, thiếu niên ở đài phát thanh Sài Gòn VTVN
– Từ năm 1971 cho đến năm 1975, ông về Trường Sư phạm thuộc Đại học Đà Lạt dạy môn Sư phạm Âm nhạc.
Theo nhạc sĩ Phạm Duy,” nhạc đời
của nhạc sĩ Hùng Lân có thể chia làm ba thể loaị

– Tình yêu thiên nhiên
– Tình cảm cá nhân
– Kêu gọi thanh niên,”

Trong đó thể loại Kêu gọi Thanh Niên là nổi bật nhất và tiêu biểu cho khuynh hướng nhạc Hùng Lân Những bài hùng ca của ông đã thôi thúc, hun đúc ý chí giúp nước nhà , mang tầm ảnh hưởng lớn đến thanh niên như Khoẻ Vì Nước, Việt Nam Minh Châu Trời Đông, Rạng Đông, Cô Gái Việt, Mùa Hợp Tấu…

Ông được xem là người đầu tiên soạn sách giáo khoa âm nhạc và đưa âm nhạc vào dậy học sinh chính khoá trong trường học và được xem là bậc thầy trong khai phá nhạc đồng dao : Chi Chi Chành Chành, Nu Na Nu Nống,Kéo Cưa Lừa Xẻ,Tập Tầm Vông . Chắc chúng ta cũng không xa lạ với bài Em Yêu Ai, Thằng Tí Sún…

Ông xuất bản” Khai tâm và Sơ đẳng” gồm 2 tập, Cây Đàn Sống ( NXB Thế giới Hà Nội ) , Giáo khoa Âm nhạc ( lớp Đệ thất, Đệ lục, Đệ ngũ, Đệ tứ)
Theo Hồi ký Phạm Duy :
“… Khi Tân nhạc Việt Nam đang thành hình và phát triển, có một người hoạt động rất mạnh mẽ trong cả hai lĩnh vực nhạc đạo và nhạc đời, đó là Hùng Lân. Là người Công giáo, xuất thân từ nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh, ông là một trong những người tạo dựng nhạc Thánh ca.

Trong lĩnh vực nhạc đời, Hùng Lân là người có công lớn trong việc tạo dựng một nền nhạc vui khỏe. Nhạc vui tươi đã có người khởi đầu là Nguyễn Xuân Khoát, nay Hùng Lân là người tiếp tục, cùng với Hoàng Quý, Lưu Hữu Phước v.v…”

Sách và nhạc phẩm tiêu biểu của nhạc sĩ Hùng Lân
Sách
• 1970: Tìm Hiểu Dân Nhạc Việt Nam
• 1971:Nhạc Ngữ Việt Nam
• 1972: Tìm hiểu dân ca Việt Nam (giải nhất Biên khảo Nghệ thuật)
• 1973: Vui Ca Lên 1 và 2
• 1975-1986: Nhạc lý tân biên (Di cảo)
Sách giáo khoa âm nhạc của giáo sư Hùng Lân đã xuất bản:
• 1952: Giáo khoa âm nhạc (giải thưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa)
• 1960: Nhạc lý toàn thư
• 1964: Hỏi và đáp nhạc lý, nhạc hòa âm và nhạc đơn điệu
• 1974: Thuật sáng tác ca khúc, Sư phạm âm nhạc thực hành
Ngoài ra ông còn soạn 100 bài viết cho phong cầm (Accordion) độc tấu hay đệm nhạc.
Ca khúc
• Cô Gái Việt
• Em yêu ai
• Hận Trương Chi
• Hè về
• Khỏe vì nước
• Lính mới tò te
• Một mùa xuân huyền ảo
• Mùa hợp tấu
• Rạng đông
• Sầu lữ thứ
• Thằng « Tí Sún »
• Tiếng gọi lên đường
• Trăng lên
• Việt Nam minh châu trời đông
• Vườn xuân
• Xóm nghèo
Thánh ca[
• Ai lên núi Chúa
• Cao vời khôn ví
• Chúa sống trong tôi
• Con nay trở về
• Con vươn hồn lên
• Có bao giờ
• Dâng hồn xác
• Đồng cỏ tươi
• Hai người tiên phong
• Hãy tiếp nhận con
• Hoan ca Phục Sinh
• Lên núi Sion
• Mẹ là mùa xuân
• Một giọt sương
• Nguyện cầu Thánh Linh
• Thắp ngọn nến hồng
• Thầy là cây nho
• Tôi không còn cô đơn
• Trèo lên cao sơn
• Trên núi Cây Dầu
• Vinh quang Chúa
• Vườn địa đàng
• Xin chỉ cho con
• Xin Thánh Thần

Bốn ái nữ của nhạc sĩ Hùng Lân Loan Hoang Hanh Liên , Hong Lang và Dieu Anh