Catégorie : NHẠC CỤ VIỆT NAM

Hồng Bắc: Những người lưu giữ, bảo tồn các nhạc cụ dân tộc thiểu số

Trang chủ / Tạp chí văn nghệ

Những người lưu giữ, bảo tồn các nhạc cụ dân tộc thiểu số

Hồng Bắc –   09 Tháng Bảy 2017 | 8:04:00 (VOV5) – Nhiều nghệ nhân vẫn kiên trì theo đuổi, cố gắng truyền dạy âm nhạc cổ truyền và cách chế tác nhạc cụ dân tộc cho lớp trẻ. Nghe âm thanh bài viết tại đây:

 

Hiện nay, các nhạc cụ dân tộc thiểu số ở Việt Nam đang ngày càng bị mai một, lãng quên, trong khi những người biết chế tác và sử dụng các nhạc cụ này thì còn lại rất ít, phần lớn đều đã cao tuổi. Với lòng đam mê, muốn lưu giữ nét văn hóa của dân tộc mình, nhiều nghệ nhân vẫn kiên trì theo đuổi, cố gắng truyền dạy âm nhạc cổ truyền và cách chế tác nhạc cụ dân tộc cho lớp trẻ.

 Nghệ nhân Lương Xuân Nghiệp chế tác nhạc cụ dân tộc Thái. ( Hồng Bắc/VOV)

Nghệ nhân Ama H’Loan ở buôn Ako Dhong, phường Tân Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắc Lắc, tự tay chế tác và chơi thuần thục các loại nhạc cụ của dân tộc Ê Đê. Ông nhận thấy nhiều lễ hội, phong tục tập quán của dân tộc mình dần dà bị quên lãng, nhiều loại nhạc cụ như chiêng, kèn, sáo nay chỉ còn lại trong kí ức. Lo sợ văn hóa dân tộc bị mai một, ngoài việc khôi phục lại những nhạc cụ mình đã biết làm từ hồi còn trẻ, nghệ nhân Ama H’Loan còn lặn lội đi khắp nơi tìm gặp những người cao tuổi biết về các loại nhạc cụ để tìm hiểu, ghi chép và làm những nhạc cụ khác.

Từ những vật liệu như tre, nứa, sừng trâu, quả bầu khô, sáp ong, những vật tưởng chừng như vô tri, vô giác dưới bàn tay khéo léo, sự đam mê, cần mẫn của ông, những nhạc cụ dân tộc Ê Đê như đinh năm, đinh puốt, Tak-ta… được khôi phục, được biểu diễn trong những lễ hội của buôn làng và cả ở các chương trình nghệ thuật lớn trong cả nước.

Nghệ nhân Ama H’Loan biểu diễn nhạc cụ dân tộc. ( Hồng Bắc/VOV) 

Nghệ nhân Ama H’Loan cho biết: “Đi nhiều nơi và tôi để ý là ở những nơi đó những nhạc cụ của dân tộc như kèn đinh puốt, đinh năm… hầu như là không còn thấy, tức là đã quá mai một. Cho nên đến năm 1999 khi tôi được nghỉ hưu, một vài tháng ở nhà tôi trăn trở, thứ nhất là do mình cũng đam mê các nhạc cụ này và nên làm khôi phục lại. Khi tôi mày mò làm lại và khi thổi từng loại nhạc cụ sẵn có tôi đã làm ở nhà lên, bà con nghe thích quá, nhất là những người già 80, 90 tuổi mới nói với tôi là ông đã đánh thức lại cái thời của ông bà mình ngày xưa.”

Chung một niềm đam mê với văn hóa dân tộc như nghệ nhân Ama H’Loan, nghệ nhân Lương Xuân Nghiệp, ở bản Cẳng, xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, sau nhiều năm trăn trở đã thành lập Câu lạc bộ nghệ thuật dân ca dân tộc Thái, thu hút tới 40 thành viên tham gia. Ông Lương Xuân Nghiệp dành nhiều thời gian cho việc tìm kiếm, sưu tầm, làm và lưu giữ cẩn thận những nhạc cụ như: Khèn bè, pí (sáo), x lò (nhị), đàn tính…

Thông qua các buổi sinh hoạt Câu lạc bộ, ông truyền niềm đam mê với nhạc cụ dân tộc cho thế hệ trẻ: “Lớp trẻ bây giờ rất thích các loại nhạc hiện đại và họ lãng quên những gì thuộc về dân gian của mình. Vì vậy, thành lập câu lạc bộ ra để tập hợp, tập luyện, truyền dạy. Bây giờ cũng thấy được tác dụng tương đối đáng kể, những loại nhạc cụ này được bảo tồn, phát huy, lớp trẻ nhiều em cũng đã tập và biết sơ sơ, làm theo người lớn. Có gần 20 trẻ em tham gia, nhà tôi thì cháu nội, cháu ngoại đều theo học.”

Câu lạc bộ nghệ thuật dân ca dân tộc Thái làng Cẳng của ông Lương Xuân Nghiệp cùng với các Câu lạc bộ của xã Môn Sơn thường xuyên tham gia giao lưu các chương trình văn hóa văn nghệ trong và ngoài tỉnh, góp phần đưa các làn điệu dân ca, tiếng nhạc dân tộc Thái đến gần hơn với đồng bào cả nước.

Dù đã nỗ lực để khôi phục, lưu giữ các giá trị văn hóa dân tộc không bị mất đi, nghệ nhân Ama H’Loan và Lương Xuân Nghiệp vẫn trăn trở làm sao để việc bảo tồn, truyền dạy và phát huy giá trị các loại nhạc cụ không bị đứt đoạn. Đặc biệt là tìm được thế hệ kế cận có đủ tâm huyết để nối tiếp các nghệ nhân đi trước.

Nghệ nhân Ama H’Loan chia sẻ: “Bây giờ mai một hết rồi, còn vài ba người họ biết một số các nhạc cụ thôi. Tôi đang lo bây giờ mình đã 79 tuổi rồi, những người còn lại như mình không còn bao nhiêu nữa, cho nên tôi rất băn khoăn chuyện này cũng không dễ gì có thể tìm được những người có thể làm và sử dụng thành thạo những loại nhạc cụ này. Tôi cũng đã đề xuất với các ngành chức năng, Nhà nước nghiên cứu về vấn đề này.”

Động viên, khuyến khích các nghệ nhân dân gian, đặc biệt là các nghệ nhân dân tộc thiểu số lưu giữ các nhạc cụ dân tộc, các giá trị văn hóa của dân tộc mình là việc làm cần thiết. Cùng với sự đam mê, nhiệt huyết của chính các nghệ nhân như Ama H’Loan và Lương Xuân Nghiệp thì ngành văn hóa cũng đã có những chính sách cụ thể, hiệu quả để việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc ngày càng lan tỏa.

Hồng Bắc

https://vovworld.vn/vi-VN/tap-chi-van-nghe/nhung-nguoi-luu-giu-bao-ton-cac-nhac-cu-dan-toc-thieu-so-557372.vov

Độc Tấu Vọng Cổ Dây Kép 123456 Chữ Đàn Hay Dành Để Đi Show

Độc Tấu Vọng Cổ Dây Kép 123456 Chữ Đàn Hay Dành Để Đi Show

158,457 views•Dec 2, 2019 466 74 Share SaveCổ Nhạc Trần Huy 3.11K subscribers Hãy Đăng Ký Kênh (subscribe) Để Cập Nhật Nhiều Video Mới Nhất Từ Cổ Nhạc Trần Huy. Trần Huy Độc Tấu Vọng Cổ Chữ Đàn Hay Lấy Từ Các Nhạc Sỹ Lớn.Mời Cả Nhà Cũng Tham Khảo Theo dõi và liên hệ với Cổ Nhạc Trần Huy qua Twitter : https://mobile.twitter.com/Huy79009785 Facebook : https://www.facebook.com/profile.php?…

Trần Quang Hải : Đàn Đá và Kèn Đá Tuy An dưới gốc độ âm thanh học

Trần Quang Hải : Đàn Đá và Kèn Đá Tuy An dưới gốc độ âm thanh học

Đàn Đá và Kèn Đá Tuy An dưới gốc độ âm thanh học

GSTS Trần Quang Hải (Trung tâm Nghiên cứu khoa học quốc gia , Pháp)

Đàn đá và kèn đá là hai nhạc cụ được tìm thấy tại huyện Tuy An . Đàn đá được khám phá tại Hòn Núi Một thuộc thôn Trung Lương, xã An Nghiệp, huyện Tuy An vào năm 1990 cho tới năm 1991 thì tìm được tất cả 8 thanh đá. Bộ đàn đá này được đánh giá là có thang âm thuộc loại chuẩn nhất trong số những đàn đá thời tiền sử được phát hiện tại Việt Nam. Kèn đá được phát hiện dưới lòng một phế tích Chăm Pa ở thôn Phú Cần, xã An Tho, huyện Tuy An và đã được giữ gìn và sử dụng  qua bảy đời các vị trụ trì của chùa Hậu Sơn ước khoảng trên 150 năm , và được xem là nhạc cụ độc nhất vô nhị trên thế giới .

Đứng về mặt âm thanh học, đàn đá đã được đo âm thanh và tần số vào năm 1992 tại phòng thu thanh của hội âm nhạc TP HCM và đã công bố kết quả các tần số . Hội đồng khoa học đàn đá Tuy An đã phát hành một tư liệu khoa học về đàn đá Tuy An, tỉnh Phú Yên vào tháng 9, 1992 gồm một số bài báo cáo kết quả sơ khởi về âm thanh và tần số 8 thanh đá .

GS Tô Vũ có viết một bài về Kèn Đá với đề tài « Cặp kèn đá tiền sử , hai hiện vật lạ bằng đá ở Phú Yên dưới gốc độ âm thanh nhạc học và nhạc khí học lý luận » đăng trong tư liệu « các báo cáo chuyên đề » (Phú Yên, 2 tháng 10, 1996). Kết quả việc đo hai kèn đá do NSND Đỗ Lộc thổi và được các chuyên viên kỹ thuật của Z.755 (cơ quan đã đo 8 thanh đá trước đây) thực hiện vào ngày 29 tháng 6 năm 1995 tại TP HCM.

Trong bài tham luận này, tôi sử dụng bộ phận mềm « Overtone Analyzer » do một bạn người Đức tên là Bodo Maass có thể đo chính xác cao độ các tần số 8 thanh đá và kèn đá. Qua cách đo này có thể đối chiếu với kết quả đo năm 1992 và hiện nay để xác định thang âm của 8 thanh đá Tuy An và khẳng định giá trị của hai nhạc cụ bằng đá , đồng thời cho thấy giá trị của hai hiện vật âm nhạc hiếm có và tiêu biểu cho nền hóa nghệ thuật của tỉnh Phú Yên .

Những khám phá đàn đá tại Việt Nam trước đàn đá Tuy An

Năm 1949, những người phu làm đường phát hiện tại tại Ndut Liêng Krak, Đắc Lắc, Tây Nguyên một bộ 11 thanh đá xám có dấu hiệu ghè đẽo bởi bàn tay con người, kích thước từ to đến nhỏ trong đó thanh dài nhất 101,7 cm nặng 11,210 kg; thanh ngắn nhất 65,5 cm nặng 5,820 kg. Phát hiện này được báo cho Georges Condominas, một nhà khảo cổ người Pháp làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ (Ecole Française d’Extrême Orient). Tháng 6 năm 1950 giáo sư Georges Condominas đưa những thanh đá này về Paris và chúng được nghiên cứu bởi giáo sư âm nhạc André Schaeffner. Sau đó, Georges Condominas công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí Âm nhạc học (năm thứ 33 – bộ mới) số 97-98 tháng 7 năm 1951, khẳng định về loại đàn lithophone ở Ndut Liêng Krak, « “nó không giống bất cứ một nhạc cụ bằng đá nào mà khoa học đã biết »  . Hiện bộ đàn đá này được trưng bày ở Viện Bảo Tàng Quai Branly (Musée du Quai Branly), Paris (Pháp).

Năm 1956, trong chiến tranh Việt Nam  bộ đàn đá thứ hai được phát hiện và một đại úy Mỹ mang về trưng bày ở New York.

Năm 1980, Georges Condominas lại phát hiện bộ đàn đá thứ ba có 6 thanh tại buôn Bù Đơ thuộc xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Đây là bộ đàn do dòng họ Ksiêng (người Mạ) lưu giữ qua 7 đời.

Từ những năm 1979 vấn đề nghiên cứu, sưu tầm về đàn đá được giới khoa học Việt Nam khơi dậy và cho đến những năm đầu thập niên 1990, người ta tìm được khoảng 200 thanh đàn đá rải rác ở Đắc Lắc, Khánh Hòa  , Đồng Nai, Ninh Thuận, Lâm Đồng, Sông Bé và Phú Yên…; mỗi bộ đàn này có từ 3 đến 15 thanh. Nổi tiếng trong đó là các bộ đàn đá Khánh Sơn, đàn đá Bắc Ái, đàn đá Tuy An, đàn đá Bình Đa (gọi theo địa danh phát hiện). Căn cứ vào loại đàn đá tìm được ở di chỉ khảo cổ Bình Đa, các nhà khoa học cho biết những thanh đá để làm đàn này có tuổi đời khoảng 3.000 năm.

Đàn đá Khánh Sơn

Các nhà nghiên cứu sau khi khai quật và khảo sát tại đỉnh núi Dốc Gạo, thuộc địa phận thôn Tô Hạp, xã Trung Hạp, Khánh Sơn đã tìm ra nhiều dấu tích chứng tỏ người xưa đã chế tác đàn đá tại đây với nhiều khối đá và mảnh tước thuộc loại đá phún trào có nhiều ở Khánh Sơn, cũng là loại đá để chế tác đàn đá Khánh Sơn. Những dấu hiệu chế tác đàn đá tại chỗ chứng tỏ những cư dân từ xưa ở nơi này, dân tộc Raglai, là những người chủ thực sự của những bộ đàn đá.

Những khám phá đàn đá sau đàn đá Tuy An

Tháng 6, năm 2003, ông K’Branh (dân tộc Cơ Hơ)  ở buôn Bờ Nôm, Lâm Đồng phát hiện bộ đàn đá 20 thanh. Hai thanh dài nhất rộng bản 22cm và dài 151cm và 127cm. Thanh ngắn nhất rộng bản khoảng 10cm, chiều dài 43cm. Số còn lại có độ dài từ 71cm đến 75cm và độ rộng bản trên dưới 15cm. Đây là bộ đàn đá cổ có nhiều thanh nhất được phát hiện.

Đàn đá Bình Thuận

Tháng 7 năm 2006, một bộ đàn đá được phát hiện ở Bình Thuận gồm 8 thanh trong đó thanh dài nhất là 95cm rộng 17cm và nặng 12,5kg. Các thanh khác có chiều dài thấp dần đến thanh cuối cùng là 52,5cm nặng 4,5kg. Cả 8 thanh đều được ghè đẽo tinh xảo, có hình dạng giống nhau với hai đầu dày và hơi phình to, ở giữa có eo nhỏ lại và là nơi mỏng nhất. Giới khảo cổ học xôn xao vì khu vực phát hiện bộ đàn đá này nằm gần biển, tại vùng ảnh hưởng đậm của văn hóa Sa Huỳnh, trong khi từ trước tới nay tất cả các bộ đàn đá được phát hiện đều tại các vùng rừng, núi cao .

Bộ đàn đá hiện đại 100 thanh do hai anh em nghệ sĩ Nguyễn Chí Trung và Nguyễn Đức Lộc sáng tạo, gồm 2 giàn đàn mỗi giàn 50 thanh. Hiện bộ đàn đá này giữ kỷ lục là bộ đàn đá nhiều thanh nhất Việt Nam.

Đàn đá Tuy An

Được phát hiện tại Hòn Núi Một thuộc thôn Trung Lương, xã An Nghiệp, huyện Tuy An. Năm 1990 tìm thấy thanh đá đầu tiên khi gõ phát ra âm thanh và hơn một năm sau mới tìm thấy thanh đá thứ tám. Chúng không phải là “đá kêu” mà là một bộ đàn đá được đánh giá là hoàn chỉnh nhất trong tất cả các bộ đoàn đá đã được phát hiện tại Việt Nam, kể cả bộ đàn đá đang lưu giữ tại Viện Bảo tàng Quai Branly ở Pari (Pháp).
T heo kết quả nghiên cứu khoa học thì bộ đàn đá Tuy An là sản phẩm lâu đời của cộng đồng người đã từng sinh sống trên đất nước Việt Nam, có niên đại vào khoảng nửa đầu thiên niên kỷ I trước Công Nguyên, thuộc loại thang âm điệu thức gần gũi với các loại thang âm dân tộc khu vực Nam Á, Đông Nam Á và có khả năng diễn tấu một số bài dân ca, dân nhạc của một vài tộc người đã từng cư ngụ trên lãnh thổ Việt Nam. Đây là di sản văn hoá có giá trị lịch sử của cộng đồng dân tộc Việt Nam nói chung và của miền Trung cũng như tỉnh Phú Yên nói riêng.

Hội đồng khoa học đàn đá Tuy An đã phát hành một tư liệu nhan đề « Tư liệu khoa học về Đàn Đá Tuy An, tỉnh Phú Yên » vào tháng 9, năm 1992 có giá trị về mặt địa chất học, âm nhạc học và âm thanh học với sự cộng tác của GS Tô Vũ, nhạc sĩ Ngô Đông Hải và nhạc sĩ Lư Nhất Vũ cùng với ban kỹ thuật của đơn vị X, thuộc Tổng cục kỹ thuật Quân đội nhân dân Việt Nam (1)

Kết quả sơ khởi 8 thanh đá vào ngày 24 tháng 7, năm 1992 tại phòng thu thanh của hội âm nhạc TP HCM, số 81, đường Trần  Quốc Thảo, quận 3 cho biết kết quả như sau :

Thanh đá số 1 : tần số : 822 Hz

Thanh đá số 2 : tần số : 973 Hz

Thanh đá số 3 : tần số : 1076 Hz

Thanh đá số 4 : tần số : 1214 Hz

Thanh đá số 5 : tần số : 1474 Hz

Thanh đá số 6 : tần số : 1592 Hz

Thanh đá số 7 : tần số : 1856 Hz

Thanh đá số 8 : tần số : 1940 Hz

Sau khi rửa sạch các thanh đá , ban kỹ thuật lại đo lần thứ nhì với kết quả như sau :

Thanh đá 1 : tần số : 816 Hz

Thanh đá 2 : tần số : 938 Hz

Thanh đá 3 : tần số : 1056 Hz

Thanh đá 4 : tần số : 1197 Hz

Thanh đá 5 : tần số : 1447 Hz

Thanh đá 6 : tần số : 1558 Hz

Thanh đá 7 : tần số : 1834 Hz

Thanh đá 8 : tần số : 1893 Hz

Phương pháp đo tần số này chỉ cho thấy cao độ cơ bản của 8 thanh đá mà thôi. Phần âm vang các bội âm phía trên âm cơ bản đóng một vai trò quan trọng về âm sắc của mỗi thanh đá . Nhưng ban kỹ thuật không lưu ý tới hay không đủ thì giờ để đi sâu vào khía cạnh này.

Tám thanh đá có hình dáng và kích thước khác nhau với độ dày mỏng không giống . Do đó âm thanh của từng thanh đá có độ kêu trong / đục không cùng một cường độ.

Kết quả việc đo cao độ với bộ phận mềm « Overtone Analyzer »

Bộ phận mềm « Overtone Analyzer » do anh Bodo Maas, người Đức và là bạn của tôi,  kỹ sư âm thanh học , và ca sĩ Wolfgang Saus đã sáng chế bộ phần mềm đặc biệt cho tôi dùng để đo các tần số bội âm của kỹ thuật hát đồng song thanh mà tôi đã nghiên cứu từ hơn 40 năm tại Pháp .

Bộ phận mềm có một bàn đàn piano với âm giai bình quân (tempered scale) để có thể so sánh với giọng hát gồm những bội âm của thang âm thiên nhiên (natural scale hay harmonic scale). Những tần số các âm thanh được ghi bằng hệ thống Hertz và cent (đơn vị đo cao độ về âm thanh học). Mỗi thanh đá gồm có 1 âm cơ bản (fundamental degree) và từ 2 tới 5 bội âm tùy theo từng thanh đá . Những bội âm (harmonics / overtones) của những nhạc cụ thuộc bộ « roi » hay « tự âm vang » (idiophone) như đá, các bộ gõ bằng kim loại, gỗ, sừng, phát ra không cùng khoảng cách như bội âm của giọng hát.

Sau đây là kết quả của việc đo tần số 8 thanh đá với hình ảnh và tổng số bội âm .

Thanh đá 1

Thanh đá 1 : tần số : 837,1Hz (Ab5+13ct)

Bội âm 1 :1520,8 Hz (Gb6+47ct)

Bội âm 2 :2266,4 Hz (Db7+38ct)

Bội âm 3 : 2484,4 Hz (Eb7-3ct)

Bội âm 4 : 3746,8 Hz (Bb7+8ct)

Bội âm 5 : 4050,9 Hz (B7+43ct)

Thanh đá 2

Thanh đá 2 : tần số : 985,1 Hz (B5-5ct)

Bội âm 1 : 2104,9 Hz (C7+10ct) dày

Bội âm 2 : 2543,6 Hz (Eb7+38ct) dày+mỏng

Bội âm 3 : 2907 Hz   (Gb7-31ct) mỏng

Bội âm 4 : 3943,3 Hz (B7-3ct) dày

Bội âm 5 : 4406,2 Hz (Db8-11ct) mỏng

Thanh đá 3

Thanh đá 3 : tần số : 1084,7 Hz (Db6-38ct)

Bội âm 1 : 2142,6 Hz (C7+41ct)

Bội âm 2 : 2379,4 Hz (D7+22ct)

Bội âm 3 : 2917,7 Hz (Gb7-25ct)

Thanh đá 4

Thanh đá 4 : tần số 1235,5 Hz (Eb6-13ct)

Bội âm 1 : 2333,7 Hz (D7-12ct)

Bội âm 2 : 2648,6 Hz (E7+8ct)

Bội âm 3 : 3055 Hz (G7-45ct)

Bội âm 4 : 3695,6 Hz (Bb7-16ct)

Bội âm 5 : 4341,6 Hz (Db8-37ct)

Thanh đá 5

Thanh đá 5 : tần số : 1535,5 Hz (G6-50ct)

Bội âm 1 : 2799,3 Hz (F7+3ct)

Bội âm 2 : 4104,8 Hz (C8-34ct)

Bội âm 3 : 4390,1 Hz (Db8-18ct)

Thanh đá 6

Thanh đá 6 có 2 cao độ khác nhau tùy theo nơi gõ

Cao độ 1 : tần số :1706,5 Hz (Ab6+47ct)

Bội âm 1 : 2866,6 Hz (F7+45ct)

Bội âm 2 : 3682,2 Hz (Bb7-22ct)

Bội âm 3 : 4145,1 Hz (C8-17ct)

Cao độ 2 : tần số : 1652,7 Hz (Ab6-9ct)

Bội âm 1 : 2869,3 Hz (F7+46ct)

Bội âm 2 : A3616,1 Hz (Ab7-3ct)

Bội âm 3: 3671,4 Hz (Bb7-27ct)

Bội âm 4: 4115,5 Hz (C8-29ct)

Thanh đá 7

Thanh đá 7 có hai cao độ cách nhau một quãng 5

tần số : 1862,6 Hz (Bb6 – 2ct)

Bội âm 1 : 2847,8 Hz (F7+33ct)

Bội âm 2 : 3722,6 Hz (Bb7-3ct)

Bội âm 3: 4263,6 Hz (C8+32ct)

Hai âm Bb6 và F7 nghe rõ ràng khi gõ ở một vài nơi trên thanh đá .

Thanh đá 8

Thanh đá 8:tần số : 1975,7 Hz (B6)

Bội âm 1 : 3972,9 Hz (B7+10ct)

Bội âm 2 : 4182,8 Hz (C8+1ct)

So sánh giữa hai kết quả đo tần số của nhà máy Z755 thuộc tổng cục kỹ thuật quân đội nhân dân Việt Nam năm 1992 khi chưa rửa các thanh đá và của tôi năm 2011 không có cách biệt nhiều lắm

Tần số đo:  1992                          2011

Đá 1         822 Hz                        837,1Hz

Đá 2           973 Hz                        985,1Hz

Đá 3           1076Hz                       1084,7Hz

Đá 4           1214 Hz                          1235,5Hz

Đá 5           1474 Hz                          1525,5Hz

Đá 6           1592 Hz                          1652,7Hz

Đá 7           1856 Hz                          1862,6Hz

Đá 8           1940 Hz                          1975,7Hz

Đối chiếu hai đề nghị thang âm của đàn đá Tuy An:

Sol#5 Si 5 Do#6 Ré#6 Fa#6, Sol#6, La#6, Si6  – 1992

Sol#5 Si 5 Do#6 Ré#6 Sol-6, Sol#6, La#6, Si6  – 2011

Về âm sắc có thể thay đổi tùy theo dụng cụ dùng để gõ như gỗ, sừng hay đá vì độ vang với bội âm có thể nhiều hay ít làm thay đổi độ âm vang của thanh đá .

Tôi không đồng ý về sự cho rằng thang âm của bộ đàn đá giống như thang âm dây Nam của Việt Nam . Nên biết rằng dây Nam của nhạc miền Nam chỉ có chừng 100 năm nay thì làm sao thang âm của đàn đá được tạo ra cả ngàn năm trước . Ngoài ra phải biết bộ đàn đá này do bộ lạc nào sáng chế ra và bộ lạc đó có thang âm như thế nào . Đa số nhạc sĩ người Kinh khi sáng tác nhạc Tây nguyên đều chỉ dùng có một thang âm của dân tộc Gia rai và Ba na chứ không biết thang âm của các bộ lạc khác ở Tây nguyên như người Mờ Nông Ga, Lắc, Mạ, Xê Đăng, Rờ glai, Ê đê, vv….

Do đó việc đưa ra giả thuyết là nhạc cụ đàn đá Tuy An có thể hòa chung với các nhạc cụ của người Kinh hay Tây phương là điều không chính xác .

Kèn Đá

Năm 1994-1995, việc phát hiện cặp kèn đá (tù và) hình hai con cóc tại huyện Tuy An (Phú Yên) đã làm chấn động giới khảo cổ học. Đây là báu vật vô giá bởi sự độc đáo và là nhạc khí thời cổ đại bằng đá thuộc bộ hơi duy nhất phát hiện được ở nước ta.



Cặp “cóc kêu” này đang nằm trong một kho chứa trên đường Trần Hưng Đạo (TP Tuy Hòa), bởi cơ sở trưng bày của Bảo tàng tỉnh Phú Yên phải đến năm 2011 mới xây xong. Đây là một trong những hiện vật đã được tỉnh hoàn thành hồ sơ đăng ký bảo vật quốc gia.

TRAN QUANG HẢI thổi « cóc kêu »

Được phát hiện dưới lòng một phế tích Chăm Pa ở thôn Phú Cần, xã An Thọ, huyện Tuy An và đã được giữ gìn và sử dụng qua bảy đời các vị trụ trì của chùa Hậu Sơn, ước khoảng trên 150 năm. 
T heo các nhà nghiên cứu khoa học: hai cổ vật này được con người (có khả năng là sản phẩm của tổ tiên người Chăm) chế tác từ đá bazan có tại địa phương, niên đại của hai cổ vật ở vào khoảng trước thế kỷ VII. Việc phát hiện ra cặp kèn đá này có ý nghĩa rất lớn về nhiều mặt, trong đó có việc phục vụ cho tham quan du lịch, nghiên cứu khoa học, tìm hiểu văn hoá lịch sử dân tộc

Chi tiết chính về cặp kèn đá hình hai con cóc, một lớn (cái) một nhỏ (đực). Kèn “cái” nặng 75 kg, kích thước đáy 40 cm, cao 35 cm, chiều cong của lưng 55 cm, lỗ thổi rộng 2,5 cm; từ lỗ thổi đến lỗ thoát hơi (có chiều hơi cong) dài 29,6 cm có một lỗ xoáy sâu vào trong 11,7 cm, miệng lỗ rộng 33 cm. Kèn “đực” nặng 34,5 kg, kích thước đáy 29 cm, cao 35 cm, chiều cong của lưng 52 cm; từ lỗ thổi đến lỗ thông hơi dài 29,5 cm, lỗ thổi rộng 1,8 cm, chỗ thoát hơi mở rộng thêm 6,7 cm; một bên có lỗ xoáy sâu 8,7 cm.

Những nhát ghè đẽo nhỏ ở phần lỗ thổi, điều này để tiện lợi hơn khi đưa miệng vào thổi; còn phần đế có những nhát ghè đẽo lớn, tạo một độ phẳng để khi thổi không bị rung; còn các lỗ xoáy sâu là nơi đặt ngón tay cái vào để tì trong khi thổi.

Theo nhạc sĩ Ngọc Quang, Chủ tịch Hội Văn học – Nghệ thuật Phú Yên, cặp kèn đá này là loại nhạc cụ “nặng đô” của bộ hơi, người thổi phải có làn hơi khỏe thì mới có thể chơi được, nhiều người đã thổi kèn trumpet nhưng qua kèn đá này cũng “bó tay”; thế nhưng cũng có người thuộc loại “thấp bé, nhẹ cân” nhưng có phương pháp nén hơi phù hợp thì vẫn có thể thổi kèn đá rất hay.

Chính nhạc sĩ Ngọc Quang và nhiều nghệ sĩ “thư sinh” ở Đoàn ca múa dân gian Sao Biển (Phú Yên) đã nhiều lần biểu diễn thành công trong và ngoài nước bằng nhạc cụ độc đáo này; ông cũng là người viết ca khúc Hồn đá khá thành công với cảm hứng từ cặp kèn đá này. Nhạc sĩ Ngọc Quang sôi nổi: “Những giai điệu trầm hồn, âm sắc nguyên sơ vang vọng từ cặp kèn đá Tuy An hiện thuộc hàng “đặc sản” có một không hai trên thế giới. Và âm thanh của kèn “cái” luôn có sự vang vọng, sắc sảo hơn kèn “đực”, thế nhưng khi cả hai cùng hòa tấu thì có một sự hòa quyện hết sức… hút hồn!”

GS Tô Vũ đã viết một bài « cặp kèn đá « tiền sử », hai « hiện vật lạ » bằng đá ở Phú Yên dưới gốc độ âm thanh nhạc học và nhạc khí học lý luận » trong bản tư liệu của UBND tỉnh Phú Yên sở văn hóa và thông tin phát hành ngày 2 tháng 10, 1996. Ông đã công bố kết quả cao độ và tần số của hai kèn đá cổ qua nghệ thuật thổi của NSND Đỗ Lộc và được nhà máy Z755 đảm nhận việc đo tần số vào ngày 29 tháng 6, năm 1995 tại TP HCM.(2)

Cao độ của hai kèn đá chỉ quan trọng khi đo cao độ cơ bản (fundamental degree). Còn việc thay đổi cao độ lên xuống là do nơi tài nghệ của người thổi . Anh Đỗ Lộc là một nghệ nhân chuyên nghiệp biết cách dùng dăm môi để thổi thì có thể biến chuyển cao độ lên xuống . NSUT Thanh Hải cũng là nhạc sĩ chuyên nghiệp biết thổi kèn trumpet nên việc sử dụng môi, miệng để thổi tạo âm thanh hoàn chỉnh . Còn tôi là một người không biết thổi , chỉ tạo được âm cơ bản của hai kèn đá . Dù sao âm cơ bản chỉ xê xích chút đỉnh tùy theo hơi thổi vào mạnh hay nhẹ .

Sau đây là kết quả của việc đo cao độ hai kèn đá của Thanh Hải và của tôi vào ngày 21 tháng 2, 2011 vừa qua .

Trần Quang Hải thổi :

Kèn đá 1 – Cóc lớn

Âm cơ bản : tần số : 314,9 Hz (Eb4+21ct)

Bội âm mạnh từ 2 tới 6

Bội âm nhẹ từ 13 tới 14

Kèn đá 2 – Cóc nhỏ

Âm cơ bản : tần số : 333,8Hz (E4+22ct)

Bội âm mạnh từ 2 tới 5

Thanh Hải thổi

Kèn đá 1 – Cóc lớn

Âm cơ bản : tần số : 304,2Hz (Eb4-39ct)

Có thể thổi xuống thấp tới 271,9Hz (Db4-34ct)

Kèn đá 2 – cóc nhỏ

Âm cơ bản : tần số : 323Hz (E4-35ct)

Qua cách thổi của mỗi người cho thấy sự xê dịch cao độ rất nhỏ

TQH             Thanh Hải      Đỗ Lộc

Kèn đá 1 cơ bản       314,9Hz        304,2Hz          316Hz

Kèn đá 2 cơ bản       333,8Hz        323Hz             329Hz

KẾT LUẬN

Qua việc đo tần số các thanh đá Tuy An, tôi nhận thấy bộ đàn đà nay có cao độ khá chính xác và tạo một thang âm hoàn chỉnh hơn những bộ đàn đá trước . Hai thanh đá số 7 và 8 có thể thuộc vào một bộ đàn đá khác vì không có liên hệ vào thang âm của 6 thanh đá của bộ này . Thang âm gồm một bát độ không giống với những thang âm hiện có của Việt Nam .

Hai kèn đá có âm thanh giống như âm thanh của tù và hay hải loa. Có thể chỉ dùng để thổi thay thế cho tù và kèn sừng trong các lễ hội làng xã.

Việc thể nghiệm dung đàn đá và kèn đá trong những sáng tác đương đại cần phải xem lại vì cao độ của đàn đá và kèn đá không hạp với thang âm bình quân của Tây phương.

Đàn đá Tuy An và kèn đá là hai nhạc cụ cổ được xem là báu vật của kho tàng văn hóa Phú Yên . Không nên mang đi khắp nơi để trình diễn mà nên giữ gìn ở viện bảo tàng cho hậu thế . Có thể phục chế những nhạc cụ này để đi trình diễn hơn là sử dụng báu vật gốc có thể bị hư hao trong việc di chuyển.

Đàn đá và kèn đá Phú Yên xứng đáng được tôn vinh và được xem là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại .

Tài liệu tham khảo:

(1)Hội đồng khoa học đàn đà Tuy An: Tư liệu khoa học về Đàn đá Tuy An tỉnh Phú Yên, 59 trang, Phú Yên, tháng 9, năm 1992

(2) Hội đồng khoa học nghiên cứu hai hiện vật bằng đá : Các báo cáo chuyên đề, UBND tỉnh Phú Yên, sở Văn Hóa và Thông Tin, 88 trang, Phú Yên, 2 tháng 10, 1996.

Bộ phần mềm “Overtone Analyzer” do Bodo Maas và Wolfgang Saus sáng chế. Có thể vào xem ở http://sygyt.com

GIA MINH: Đàn đá, kèn đá Tuy An – đồng vọng tiền nhân

Thứ Tư, 19/02/2020 15:35 Đàn đá, kèn đá Tuy An – đồng vọng tiền nhân Thứ Bảy, 16/02/2013 07:00 SA

CHIA SẺ

Trải qua bao biến thiên, “hồn văn hóa” của cha ông lắng sâu qua các vật thể văn hóa đá để lại những thông điệp quý giá cho muôn đời, góp phần giáo dục truyền thống văn hóa, lịch sử, tâm linh và nuôi dưỡng tâm hồn con người. Ðàn đá và kèn đá Tuy An trở thành báu vật của quốc gia. Mới đây, hai báu vật này được đại diện tổ chức UNESCO tại Việt Nam khuyến khích lập hồ sơ đề nghị công nhận di sản văn hóa nhân loại.

marin1.jpg
Tiến sĩ Marin cùng nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình thử âm thanh đàn đá Tuy An  – Ảnh: T.QUỚI

Trong buổi biểu diễn, giới thiệu về đàn đá và kèn đá Tuy An do UBND tỉnh Phú Yên tổ chức mới đây, tiến sĩ Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam và nhiều đại biểu như mê mẩn, đắm chìm trong âm thanh của người xưa đồng vọng. Tiến sĩ Marin nói: “Âm nhạc không biên giới, không sắc tộc, không có sự cách ngăn của thời đại và là con đường dẫn đến hòa bình. Tôi đánh giá rất cao về tính độc đáo của hai loại nhạc, khí cụ bằng đá này, nhất là mối liên hệ và sự kết hợp uyển chuyển linh hoạt của chúng. Tôi hoàn toàn ủng hộ và khuyến khích tỉnh Phú Yên lập hồ sơ đề cử đàn đá và kèn đá gửi đến UNESCO để công nhận là di sản văn hóa nhân loại”. Tiến sĩ Katherine Mauller Marin phân tích thêm: “Tôi không chắc hai nhạc cụ này có cùng thời hay không, nhưng qua cách biểu diễn của các nghệ sĩ thì thấy giữa đàn đá và kèn đá có sự hòa quyện với nhau và hòa được với cả cồng chiêng Tây Nguyên. Đây là điều rất đặc biệt. Hơn thế nữa, bộ đàn đá có niên đại cách đây hơn 2.500 năm nhưng vẫn có thể diễn tấu được những bài nhạc hiện đại cùng với nhạc cụ điện tử. Tôi đã có một buổi thưởng thức âm nhạc tuyệt vời!”.

Nghệ sĩ ưu tú, nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Quang, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Phú Yên, người dày công nghiên cứu hai loại nhạc cụ cho rằng: Trước và sau khi phát hiện bộ đàn đá Tuy An, ở nhiều địa phương trong nước và các nước trên thế giới đều có đàn đá, nhưng chỉ có đàn đá Tuy An được xem là hoàn thiện nhất về mặt thang âm, điệu thức. Về thang âm, bộ đàn đá Tuy An có thang âm rộng (hơn quãng 8), được sắp xếp có chủ ý của người chế tác nên có thể diễn tấu được nhiều tác phẩm âm nhạc khác nhau, kể cả những bản nhạc mới ngày nay và có thể hòa tấu với nhiều loại nhạc cụ, kể cả một số nhạc cụ điện tử. Điểm đặc biệt nữa của bộ đàn đá này mang lưỡng điệu tính. Nó có thể diễn tấu những bài nhạc điệu thức Thứ lẫn điệu thức Trưởng, đây là nét vượt trội, độc đáo so với các nhạc cụ định âm khác.

Còn với cặp kèn đá, đây là loại nhạc cụ “nặng đô” của bộ hơi, đòi hỏi người thổi phải có làn hơi khỏe và cách nén phù hợp thì mới có thể chơi được. Giai điệu trầm hùng, âm sắc nguyên sơ vang vọng từ cặp kèn đá Tuy An hiện thuộc hàng “độc” có một không hai trên thế giới.

marin3.jpg
Tiến sĩ Marin thử kèn đá – Ảnh: T.QUỚI

Viện Nghiên cứu âm nhạc quốc gia Pháp đã nghiên cứu và đo âm thanh đàn đá, kèn đá bằng phương pháp hiện đại với bộ phần mềm “Overtone Analyzer” cho thấy không có sự sai biệt lớn so với những phương pháp đo trước đây. Điều này khẳng định bộ đàn đá Tuy An có thang âm rất chuẩn. Trong bài luận của mình, GS, TS Trần Quang Hải (con trai của GS Trần Văn Khê) viết: “Đàn đá và kèn đá Tuy An là hai nhạc cụ cổ được xem là báu vật. Không nên mang nó đi khắp nơi để trình diễn mà nên giữ gìn ở viện bảo tàng cho hậu thế . Có thể phục chế những nhạc cụ này để đi trình diễn hơn là sử dụng báu vật gốc có thể bị hư hao trong việc di chuyển. Đàn đá và kèn đá Phú Yên xứng đáng được tôn vinh và được xem là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại”.

“Ở một thời đại mà chưa có một chuẩn về âm nhạc, không một thiết bị trợ giúp để chỉnh âm, lại được chế tác trên nguyên liệu đá nhưng cha ông ta đã tạo được những nhạc cụ với tính nhạc khá chuẩn. Quả là tài tình” – NSƯT Ngọc Quang tâm đắc. Chính sự độc đáo của đàn đá, kèn đá Tuy An đã khơi nguồn cảm hứng ông viết nên bài “Hồn đá”. “Từ thuở nào, cha ông ta đã gửi lại, gửi lại trong đá. Những âm thanh nghe sao hào hùng, như tiếng lòng, như tiếng nước non của con người từ thuở hồng hoang…”. Đó cũng chính là cái “hồn văn hóa” lặng sâu vào trong đá, là tiếng đồng vọng của tiền nhân với những thông điệp còn bí ẩn với thế hệ hôm nay và mai sau.

Bộ đàn đá Tuy An được nông dân Huỳnh Ngọc Hồng phát hiện năm 1990 ở vùng núi Hòn Một (xã An Nghiệp, Tuy An) đang được lưu giữ cẩn trọng tại Bảo tàng Phú Yên. Theo tài liệu khoa học, tuổi đàn đá Tuy An nằm trong khoảng nửa đầu thiên niên kỷ thứ I trước Công nguyên, do chính người tại đây chế tác.   Cặp “cóc đá” linh thiêng được một nông dân khác là ông Ðỗ Phán phát hiện năm 1994 ở vùng núi thôn Phú Cần (xã An Thọ, Tuy An). Kèn “cái” nặng 75kg, kích thước đáy 40cm, cao 35cm, chiều cong của lưng 55cm, lỗ thổi rộng 2,5cm. Kèn “đực” nặng 34,5kg, kích thước đáy 29cm, cao 35cm, chiều cong của lưng 52cm; lỗ thổi rộng 1,8cm.

GIA MINH

http://www.baophuyen.com.vn/93/93589/dan-da-ken-da-tuy-an-dong-vong-tien-nhan.html

WIKIPEDIA : Nhạc cụ người dân tộc thiểu số Việt Nam

Nhạc cụ người dân tộc thiểu số Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Buớc tưới chuyển hướngBước tới tìm kiếm

Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. Mời bạn giúp hoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ.
Wikimedia Commons có thư viện hình ảnh và phương tiện truyền tải về Nhạc cụ người dân tộc thiểu số Việt Nam
Mục lục 1 Alal 2 Aráp 3 Bẳng bu 4 Bro 5 Chênh Kial 6 Chul 7 Cồng, chiêng 8 Cò ke 9 Đàn đá 10 Đao đao 11 Đinh Đuk 12 Đuk đik 13 Goong 14 Goong đe 15 Hơgơr Prong 16 Kèn lá 17 Kềnh H’Mông (khèn Mèo) 18 Khèn bè 19 Khinh khung 20 K’lông pút 21 Knăh ring 22 K’ny (Kaní) 23 M’linh 24 M’nhum 25 Môi 26 Pi cổng 27 Pí đôi 28 Pí lè 29 Pí một lao 30 Pí pặp 31 Pí phướng 32 Pơ nưng Yun 33 Púa 34 Rang leh 35 Rang rai 36 Sáo H’Mông (sáo Mèo) 37 Ta in 38 Ta lư 39 Ta pòl 40 Tính tẩu 41 Tol alao 42 Tông đing 43 Tơ đjếp 44 Tơ nốt 45 T’rum 46 T’rưng 47 Vang 48 Tham khảo

Alal

Bài chi tiết: Alal

Alal là tên gọi theo tiếng Ba Na, dùng để chỉ nhạc cụ hơi có lưỡi gà rung tự do, khá phổ biến trong cộng đồng người Ba Na và một số dân tộc khác tại Việt Nam.

Aráp

Bài chi tiết: Aráp

Aráp là một bộ chiêng quý của người Bâhnar và Giơ Rai ở Việt Nam. Nhiều dân tộc ở Tây nguyên cũng sử dụng bộ chiêng này với tên gọi khác nhau. Người Ca dong gọi là h’leng goong, người Rơ măm gọi là guông t’gạt, người Stră gọi là guông chiêng…

Bẳng bu

Bài chi tiết: Bẳng bu

Bẳng bu là nhạc cụ hơi làm bằng tre phổ biến ở nhiều dân tộc vùng Tây Bắc, Việt Nam. Cái tên của nó xuất phát từ tiếng Thái. Nhạc cụ này dành riêng cho nữ giới, thường được dùng trong các nghi lễ mang đậm tính phồn thực, cầu mong cuộc sống bình yên và mùa màng bội thu.

Bro

Bài chi tiết: Bro

Bro là nhạc dây phổ biến trong một số dân tộc Tây Nguyên ở Việt Nam. Người Bâhnar, xê Đăng, giơ Rai và Giẻ Triêng thường sử dụng nhạc cụ này.

Chênh Kial

Bài chi tiết: Chênh Kial

Chênh Kial là nhạc cụ tự thân vang khi va đập. Cái tên của nó xuất phát từ tiếng Bâhnar tin rằng trong mỗi ống của chênh kial có những vị thần trẻ con reo vui khi gió thổi. Những vị thần này là con của thần gió nên khi gặp gió các thần rất vui mừng. Người treo chênh kial lên đầu hồi nhà Rông để cầu đừng ngưng gió vì nếu không có gió trời sẽ đổ mưa không sớm thì muộn.

Chul

Bài chi tiết: Chul

Chul là loại sáo phổ biến trong vài cộng đồng dân tộc ở Tây Nguyên, nhất là người Ba Na và Giơ Rai. Đây là loại sáo dành cho nam giới. Các chàng trai sử dụng sáo này để tỏ tình với các cô gái.

Cồng, chiêng

Bài chi tiết: Cồng, chiêng

Cồng, chiêngnhạc cụ dân tộc thuộc bộ gõ, được làm bằng đồng thau, hình tròn như chiếc nón quai thao, đường kính từ 20 cm (loại nhỏ) cho đến 60 cm (loại to), ở giữa có hoặc không có núm. Người Gia Rai, Ê Đê và Hrê gọi cả cồng lẫn chiêng là « chinh », còn người Triêng gọi cồng là « chênh goong » (loại có núm), gọi chiêng là « chênh hân » (không núm). Nhìn chung, còn khá nhiều cách gọi và phân biệt giữa hai nhạc cụ có núm và không núm này.

Cò ke

Cò ke là nhạc cụ có cung kéo của dân tộc Mường. Nó có cần đàn làm bằng một đoạn tay tre uốn thẳng, cắm xuyên qua một đoạn tre rỗng suốt 2 đầu. Đầu trên của cần đàn có lỗ để cắm trục chỉnh dây. Phía trước của đoạn ống được bịt bằng một mảnh mo măng tre hoặc một tấm da ếch, da trăn hay da rắn, giúp ống trở thành bộ phận tăng âm.

Cò ke có 2 dây đàn bằng xơ dứa hoặc tằm se, vuốt lá khoai. Người ta chỉnh 2 dây cách nhau 1 quãng bốn hoặc năm. Cung kéo là một miếng cật nứa được kéo cong lại bằng một túm xơ dừa hay lông đuôi ngựa. Cung kéo này nằm rời khỏi dây đàn, không bôi nhựa thông nhằm tăng thêm độ ma xát. Trước khi chơi nhạc cụ này, người ta nhúng túm xơ dừa hoặc lông đuôi ngựa vào nước. Trong lúc diễn, nếu thấy túm xơ dừa hay lông đuôi ngựa bị khô, họ nhổ nước bọt vào để làm ướt trở lại.

Âm thanh của cò ke không chuẩn vì dây mắc khá cao so với cần đàn, ngoài ra nó không có bộ phận chỉnh độ cao dây buông như ở đàn nhị.

Đàn đá

Bài chi tiết: Đàn đá

Đàn đá là một nhạc cụ gõ cổ nhất của Việt Nam[cần dẫn nguồn]. Đàn được làm bằng các thanh đá với kích thước dài, ngắn, dày, mỏng khác nhau.

Đao đao

Bài chi tiết: Đao đao

Đao đao là nhạc cụ của cộng đồng dân tộc Khơ Mú sống tại Việt Nam.

Đinh Đuk

Bài chi tiết: Đinh Đuk

Đinh Đuk là nhạc cụ hơi của vài dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Nhìn chung, người Bâhnar gọi nhạc cụ này là đinh tuk; riêng người Bâhnar ở vùng Măng Giang gọi là « hi hơ », người Giơ Rai gọi là « đinh dương ».

Đuk đik

Bài chi tiết: Đuk đik

Đuk đik là nhạc cụ của người Giẻ Triêng. Nó là 1 ống tre dài 64 cm, đường kính 8 cm với đầu này có mấu kín, còn đầu kia được vát bớt để làm tay cầm và tạo âm theo cao độ mà người thiết kế mong muốn.

Goong

Bài chi tiết: Goong

Goong là loại đàn dây phổ biến trong một số dân tộc sống ở tỉnh Kom Tum và Gia Lai. Nó còn được gọi là Tinh Ninh (Ting Ning) hay Teng Neng (cách gọi của người Bâhnar vùng Măng Giang và An Khê – Gia Lai) hoặc Puội Brol như người Giẻ Triêng ở huyện Đák Giây, Kom Tum gọi.

Goong đe

Bài chi tiết: Goong đe

Goong đe là nhạc cụ có cấu tạo giống như đàn goong, phổ biến ở tỉnh Gia Lai, thường do người Bâhnar sử dụng.

Hơgơr Prong

Bài chi tiết: Hơgơr Prong

Hơgơr Prong là loại trống rất lớn, không định âm của các dân tộc ở Tây Nguyên. Người Bâhnar gọi nó là hơgơr tăk hoặc p’nưng, người Giơ Rai gọi là hơgơr prong hoặc hơge m’nâng, còn người Êđê gọi đơn giản là hơgơr. Tuy nhiên, loại trống này còn có một cái tên tượng thanh phổ biến là « đùng » (nhiều dân tộc gọi).

Kèn lá

Bài chi tiết: Kèn lá

Kèn lá là nhạc cụ rất đơn giản, phổ biến trong các cộng đồng dân tộc ở Tây Nguyên. Người ta chỉ cần lấy 1 chiếc lá cây, cắt phần cuống, gấp đôi theo sống lá để có 1 chiếc kèn đơn sơ.

Kềnh H’Mông (khèn Mèo)

Bài chi tiết: Kềnh H’Mông

Kềnh là nhạc cụ thổi hơi của nhiều dân tộc anh em ở Việt Nam, người kinh gọi là khèn, vì thế kềnh H’Mông còn được gọi là khèn Mèo.

Khèn bè

Bài chi tiết: Khèn bè

Khèn là cách gọi loại kềnh của một số dân tộc của Đông Nam Á. Loại ở đây giống như chiếc bè nên gọi là khèn bè. Ở Việt Nam, người Giẻ Triêng gọi là Đinh Duar còn người Xơ Đăng gọi là Đinh Khén, người Vân Kiều gọi là Khên.Riêng người Ta Ôi gọi là Khèn

Khinh khung

Bài chi tiết: Khinh khung

Khinh khung là nhạc cụ thời tiền sử, vận hành bằng sức nước. Ở Việt Nam người Bâhnar gọi nhạc cụ này là khinh khung, còn người Giarai gọi là Goong klơng klơi.

K’lông pút

Bài chi tiết: K’lông put

K’lông put là nhạc cụ của một số dân tộc anh em ở Việt Nam. Người Giơ Rai gọi nó là Đinh pút, còn người Bâhnar ở vùng An Khê gọi là Đinh Pơl. Tuy nhiên cái tên K’lông pút đã trở nên quen thuộc với mọi người, dù ở trong hay ngoài nước.

Knăh ring

Bài chi tiết: Knăh ring

Knăh ring là bộ chiêng 6 chiếc, sử dụng phổ biến trong cộng đồng dân tộc Giơrai và Bâhnar ở Việt Nam.

K’ny (Kaní)

Bài chi tiết: K’ny

K’ny là nhạc cụ dây có cung vĩ của nhiều dân tộc sống ở vùng Bắc Tây Nguyên, Việt Nam, phổ biến rộng rãi trong cộng đồng Bahnar, Giơ Rai, Xê Đăng và Rơ Ngao…

M’linh

Bài chi tiết: M’linh

M’linh là nhạc cụ tự thân vang khi lắc chúng. Nhạc cụ này là những cái chuông đồng nhỏ phổ biến trong cộng đồng dân tộc Dao và Mường.

M’nhum

Bài chi tiết: M’nhum

M’nhum là bộ chiêng của người Giơ Rai ở Việt Nam. Nó dùng để đánh khi uống rượu. Cái tên của nó đã nói lên điều này (M’nhum là « uống rượu » trong tiếng Giơ Rai).

Môi

Bài chi tiết: Đàn môi

Đàn môi là từ người kinh ở Việt Nam gọi. Nó phổ biến hầu hết trong các cộng đồng dân tộc ở Việt Nam với nhiều tên gọi khác nhau. Trên thế giới nhiều nước cũng có đàn môi với tên gọi khác và chất liệu làm đàn cũng khác so với loại đàn môi ở Việt Nam.

Pi cổng

Bài chi tiết: Pi cổng

Pi cổng là nhạc cụ hơi của nhiều dân tộc ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Pi cổng là tên gọi theo tiếng Thái.

Pí đôi

Bài chi tiết: Pí đôi

Pí đôi là tên gọi theo tiếng Thái. Nhạc cụ này phổ biến trong cộng đồng người Thái đang sinh sống ở Việt nam.

Pí lè

Bài chi tiết: Pí lè

Pí lè là tên gọi theo tiếng Thái – Tày để chỉ nhạc cụ hơi có dăm kép.

Pí một lao

Bài chi tiết: Pí một lao

Pí một lao là nhạc cụ hơi phổ biến ở vùng Tây Bắc, Việt Nam. Tên nhạc cụ này xuất phát từ tiếng Thái, nhưng ngoài người Thái còn có người Kháng, người La Ha và Kha Mú sử dụng nhạc cụ này.

Pí pặp

Bài chi tiết: Pí pặp

Pí pặp là nhạc cụ hơi phổ biến ở cộng đồng người Thái, Việt Nam. Nó là một ống nứa dài từ 30 đến 40 cm, đường kính nho hơn hoặc bằng 1 cm.

Pí phướng

Bài chi tiết: Pí phướng

Pí phướng là nhạc cụ hơi của nhiều dân tộc ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Cái tên nhạc cụ này xuất phát từ tiếng Thái.

Pơ nưng Yun

Bài chi tiết: Pơ nưng Yun

Đây là loại trống vừa của người Bâhnar sinh sống ở Việt Nam. Người Gia Rai gọi nó là hơgơr ching arăp, người Mnâm gọi là hơgơr cân, người Hà Lang gọi là hơgơr tuôn, còn người Rơ năm gọi là Hơ huôl. Nhiều dân tộc Tây Nguyên còn gọi nó bằng 1 từ tượng thanh là « đơng ».

Púa

Bài chi tiết: Púa

Púa là nhạc cụ hơi, xuất phát từ tiếng H’Mông. Người H’Mông và Lôlô sống tại Việt Nam sử dụng phổ biến nhạc cụ này.

Rang leh

Bài chi tiết: Rang leh

Rang leh là nhạc cụ môi hơi phổ biến rộng rãi trong các cộng đồng dân tộc ở vùng Tây Nguyên, Việt Nam. Người Stră gọi nó là rôông gui, người Ca dong gọi là pôper, người Giơ Rai gọi là rang leh, còn người Việt gọi là đàn môi (xem mục đàn môi).

Rang rai

Bài chi tiết: Rang rai

Rang rai là một loại chũm chọe phổ biến trong nhiều cộng đồng dân tộc anh em ở Việt Nam, đặc biệt là người Bâhnar và Giơ Rai thường sử dụng nhạc cụ này.

Sáo H’Mông (sáo Mèo)

Bài chi tiết: Sáo H’Mông

Đây là nhạc cụ của người H’Mông ở miền Bắc Việt Nam. Nó thường được sử dụng để giải trí sau giờ phút lao động mệt nhọc.dung de tan nhung co gai trong cac le hoi cua nguoi mong.

Ta in

Bài chi tiết: Ta in

Ta in là nhạc cụ dây của dân tộc Hà Nhì, tỉnh Lai Châu Lào Cai, Việt Nam. Nó có cần đàn bằng gỗ rắn, bộ phận tăng âm bằng gỗ, hình chữ nhật có 4 cạnh vuốt tròn.

Ta lư

Bài chi tiết: Ta lư

Ta lư là nhạc cụ dây, phổ biến rộng rãi trong cộng đồng dân tộc Vân Kiều ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Việt Nam.

Ta pòl

Bài chi tiết: Ta pòl

Ta pòl là nhạc cụ của ngưởi Bâhnar, nhưng phổ biến trong nhiều cộng đồng dân tộc ở Tây Nguyên, Việt Nam. Người Giarai gọi nó là đinh bút hoặc đinh pơng, người Rơ Năm gọi là pang bôông, còn người Brâu gọi là đinh pu. Ngoài ra nó còn nhiều tên gọi khác tùy theo ngôn ngữ của những dân tộc Tây Nguyên.

Tính tẩu

Bài chi tiết: Tính tẩu

Tính tẩu là nhạc cụ khảy dây được dùng phổ biến ở một số dân tộc miền núi tại Việt Nam như Thái, Tày … Ở vài vùng thuộc Trung Quốc, Lào, và Thái Lan người ta nhận thấy cũng có nhạc cụ này.

Tol alao

Bài chi tiết: Tol alao

Tol alao là một loại đàn cổ sơ của người Bâhnar sinh sống ở Việt Nam. Nhạc cụ này cũng được người Ca dong sử dụng và gọi là tol alao như người Bâhnar. Đây là loại đàn dành riêng cho nữ giới. Các cô gái thường đánh cho các chàng trai thưởng thức.

Tông đing

Bài chi tiết: Tông đing

Tông đing là nhạc cụ gõ của dân tộc Bâhnar sinh sống ở Việt Nam. Người Giơ Rai cũng thường sử dụng nhạc cụ này với tên gọi là Teh ding. Người Ca dong gọi là Goong teng leng (teng leng là đánh ở trên).

Tơ đjếp

Bài chi tiết: Tơ đjếp

Tơ đjếp là nhạc cụ hơi có lưỡi gà rung tự do, phổ biến ở một số dân tộc vùng Tây Nguyên Việt Nam.

Tơ nốt

Bài chi tiết: Tơ nốt

Tơ nốt là nhạc cụ hơi của người Bâhnar có quan hệ mật thiết với các nhạc cụ săn bắn. Nó là nhạc cụ mang tính chiến đấu. Ngày xưa người ta dùng nó để báo tin cho cộng đồng biết đang có việc quan trọng. Ngày nay nhiều dân ở Tây Nguyên sử dụng nhạc cụ này.

T’rum

Bài chi tiết: T’rum

T’rum là bộ cồng 3 chiếc có núm của người Giơ rai sống ở Tây Nam Pleiku, Việt Nam. Mỗi chiếc có kích cỡ và tên gọi khác nhau.

T’rưng

Bài chi tiết: T’rưng

Đàn t’rưng là loại nhạc cụ gõ phổ biến ở vùng Tây Nguyên, đặc biệt là đối với dân tộc Giơ Rai và Bâhnar. Cái tên « t’rưng » xuất phát từ tiếng Giơ Rai, lâu ngày trở nên quen thuộc với mọi người.

Vang

Bài chi tiết: Vang

Vang là 3 bộ chiêng ba chiếc dành riêng cho Vua Lửa (Pơtau Pui) trong cộng đồng dân tộc Giơ Rai và vài dân tộc khác ở Việt Nam.

[ẩn]xtsCác nhạc cụ dân tộc Việt Nam AlalArápBẳng buBroCảnhChênh kialChiêng treChulChũm chọeCồng chiêngCò keĐàn bầuĐàn đáĐao đaoĐàn đáyĐàn hồĐàn môiĐàn nhịĐàn tamĐàn tranhĐàn tứĐàn tỳ bàĐàn nguyệtĐàn sếnĐing nămĐinh đukĐing ktútĐuk đikGoongGoong đeGuitar phím lõmHơgơr prongKèn bầuKèn láKềnh H’MôngKhèn bèKhinh khungK’lông pútKnăh ringK’nyM’linhM’nhumPháchPi cổngPí đôi / Pí pặpPí lèPí một laoPí phướngPơ nưng yunPúaRang lehRang raiSáo H’MôngSáo trúcSênh tiềnSong langTa inTa lưTa pòlTiêuTính tẩuThanh laTol alaoTông đingTơ đjếpTơ nốtTam thập lụcTrống cáiTrống cơmTrống đếTrống đồngTrống ParanưngT’rumT’rưngTù vàTỳ bàVang

Tham khảo

Thể loại:

https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%A1c_c%E1%BB%A5_ng%C6%B0%E1%BB%9Di_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c_thi%E1%BB%83u_s%E1%BB%91_Vi%E1%BB%87t_Nam

Vietnamese Ethnic Instruments (Stone Instrument) – Hero Nup – VYFB Performed in Japan

Vietnamese Ethnic Instruments (Stone Instrument) – Hero Nup – VYFB Performed in Japan

Thien Vy

Published on Feb 16, 2012



Ban Nhạc Gia Đình Trẻ Việt – The Vietnamese Youth Family Band Nhạc Cụ Tây Nguyên – Highland Ethnic Instruments (Stone Instument) Anh Hùng Núp – Hero Nup

Thùy Trang: Dàn nhạc Seaphony dân tộc, sao không?

21/05/2019 03:29

Từ « Đêm vô thức bản địa », người trong giới mơ đến một sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo có thể hình thành tại TP HCM

« Đêm vô thức bản địa » ra mắt vào năm 2017 với một số đêm diễn, gây ấn tượng đối với những khán giả may mắn thưởng thức trực tiếp ở nhà hát. Mới đây, chương trình này tiếp tục chiếm trọn trái tim người yêu nhạc khi được phát sóng lại trên sóng truyền hình. Hỏi những người tổ chức vì sao không thấy dự án tiếp tục thì nhận được câu trả lời dự án vẫn đang tiến hành chưa có gì để nói.

Ấn tượng khó phai

Là dàn nhạc dân tộc bản địa Việt Nam đầu tiên có quy mô sánh ngang dàn nhạc giao hưởng Tây phương, dàn nhạc Seaphony độc đáo và khác biệt hoàn toàn với các dàn nhạc trong nước và quốc tế trước nay với thanh âm nguyên sơ từ các nhạc khí bản địa được sử dụng thay vì nhạc cụ phổ biến. Không ngoa khi nói rằng « Đêm vô thức bản địa » là một trải nghiệm độc đáo chưa từng có trước nay với sự trình diễn của hơn 50 nghệ nhân, nhạc công của các dân tộc anh em đến từ nhiều vùng miền trên cả nước. Những thanh âm đầy mê hoặc của đàn môi, kèn lá, đàn tính, đàn goong, cồng chiêng, trống baranưng, trống gineng… hòa quyện cùng những làn điệu dân ca đầy cảm xúc đã hớp hồn người nghe.

Để xây dựng dàn nhạc Seaphony, trong năm 2017, nghệ sĩ Nguyễn Nhất Lý, nhạc sĩ Nguyễn Mạnh Tiến cùng các nhạc sĩ tâm huyết của dự án S.E.A Sound đi đến các bản làng miền núi phía Bắc (Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Lạng Sơn, Điện Biên, Yên Bái, Hà Giang), các buôn làng ở 5 tỉnh Tây Nguyên cũng như làng Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận, tập hợp nghệ nhân và tuyển chọn các nhạc khí tiềm năng cho dàn nhạc từ các dân tộc Tày, Thái, Dao, H’mông, Lào, M’nông, Ê Đê, Jarai,… Tiếp đó là hành trình lao động sáng tạo và tập luyện miệt mài của tập thể các nhạc sĩ, nghệ nhân, nhạc công tham gia trong nhiều tháng ròng. Kết quả, dàn nhạc Seaphony ra mắt bằng một không gian âm nhạc hùng vĩ nên thơ, độc nhất vô nhị trong các buổi diễn « Đêm vô thức bản địa ».

Dàn nhạc Seaphony dân tộc, sao không? - Ảnh 1.

Cảnh biểu diễn “Đêm vô thức bản địa” tại Nhà hát Lớn Hà Nội ngày 12-12-2017Ảnh: Lương Trường

« Đêm vô thức bản địa » nằm trong dự án S.E.A Sound do nghệ sĩ Nguyễn Nhất Lý sáng lập, nhằm xây dựng cộng đồng thưởng thức, biểu diễn, sáng tác và phát triển âm nhạc bản địa các nước Đông Nam Á. Trước khi diễn ra « Đêm vô thức bản địa », các buổi diễn « Đêm vô thức Tây Bắc », « Đêm vô thức Tây Nguyên », « Đêm vô thức Chăm »,… đều diễn ra trước đó. Có thể nói, « Đêm vô thức bản địa » với các chủ đề, gồm: « Tĩnh », « Thanh », « Chuyển », « Ứng », « Thoại », « Động », « Biến », « Vũ », « Bỗng », « Sắc »… chính là một bản hòa ca trọn vẹn và tinh túy nhất của những đêm diễn giới thiệu khí nhạc tiêu biểu của từng vùng miền. Các loại nhạc khí trong chương trình được làm từ chất liệu dân gian tạo những bản hòa tấu mộc mạc, gần gũi. Bên cạnh phần hòa tấu của các nhạc khí, trên sân khấu, nghệ nhân 3 miền ngẫu hứng giao tiếp qua tiếng hát. « Đêm vô thức bản địa » tạo ra sự kết nối các tộc người, vùng miền, văn hóa khác nhau.

Thừa nhân lực, trí lực nhưng thiếu tài lực

Cùng chung tay xây dựng nên « Đêm vô thức bản địa », nhạc sĩ Nguyễn Mạnh Tiến bảo rằng dàn nhạc Seaphony (tái thiết từ tên của dự án âm nhạc S.E.A Sound) được thành lập mang ý nghĩa kết nối văn hóa vùng miền và đặc biệt hướng thế hệ trẻ tìm hiểu về giá trị âm nhạc truyền thống dân tộc. Đó là lý do không gian âm nhạc của « Đêm vô thức bản địa » được cố ý xây dựng từ không gian văn hóa sử thi. Nhạc sĩ Nguyễn Nhất Lý cho biết nhóm của anh làm việc với nghệ nhân 3 miền chỉ có một năm. Buổi công diễn giống như sự thử nghiệm, sau đó dàn nhạc tiếp tục quá trình hoàn thiện. Điều đó khiến cho nhiều người thấy tiếc và mong ngóng ngày « Đêm vô thức bản địa » chính thức có lịch diễn phục vụ khán giả trong nước lẫn quốc tế.

Giới chuyên môn khẳng định so với một dàn nhạc Tây phương, một dàn nhạc dân tộc thuần nhạc cụ Việt Nam đủ sức để thay thế với một biên chế dàn nhạc đầy đủ từ bộ hơi, bộ gõ, bộ dây, thậm chí là một dàn nhạc giao hưởng dân tộc quy mô lớn với lượng nhạc công, nhạc cụ lên đến hàng trăm. Trước năm 1975, Việt Nam đã từng có một dàn nhạc giao hưởng dân tộc với tên gọi Bách Việt, ra mắt bằng tâm huyết của những người yêu nhạc dân tộc. Dàn nhạc ra mắt và chỉ hoạt động được một thời gian là tan rã vì mỗi người có công việc riêng. Trong lễ hội Sài Gòn – TP HCM 300 năm, một dàn nhạc giao hưởng dân tộc đã hình thành, quy tụ hàng trăm nghệ nhân nhạc cụ dân tộc nhưng chỉ trình diễn trong đêm khai mạc rồi giải thể. Nhà hát Ca múa nhạc dân tộc Bông Sen từng có ý định thành lập một dàn nhạc giao hưởng dân tộc như thế nhưng đến nay vẫn chưa thành hiện thực. Nói vậy để khẳng định rằng việc thành lập một dàn nhạc giao hưởng dân tộc hoàn toàn khả thi về mặt nhân lực, trí lực. Theo nhạc sĩ Minh Châu, những người tâm huyết với nhạc dân tộc sẵn sàng góp sức để định hình cho một dàn nhạc giao hưởng dân tộc thuần Việt như thế.

Tuy nhiên, vấn đề lớn là tài lực cần đủ lớn để nuôi dưỡng một dàn nhạc lại là vấn đề bất khả thi. Bởi việc vận hành một dàn nhạc giao hưởng đã không dễ, việc để các nghệ sĩ chuyên tâm cống hiến cho hoạt động của dàn nhạc lại càng không dễ. Nhiều nghệ sĩ nhạc dân tộc đã từng ngồi lại bàn với nhau về việc xây dựng một dàn nhạc giao hưởng dân tộc vì điều đó rất dễ với họ, như khẳng định của nghệ sĩ Hải Phượng. Nhưng nút thắt về tài chính vẫn là điều nan giải. Mọi người vẫn chỉ có thể mong đợi vào nguồn tài trợ từ cơ quan nhà nước, « lúc đó một dàn nhạc giao hưởng dân tộc không có gì khó cả » – nhạc sĩ Minh Châu khẳng định. 

Sẽ là sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo

Nhiều người cho rằng « Đêm vô thức bản địa » sẽ là sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo, đủ sức cuốn hút du khách nếu nó được đầu tư khai thác theo hướng này.

Chúng ta đang có những chương trình nghệ thuật khai thác yếu tố văn hóa dân tộc đang rất ăn khách với công chúng trong và ngoài nước như chương trình kịch xiếc « À ố show », vở « Làng tôi », vở « Palao » (tác phẩm múa mang văn hóa và tâm hồn Chăm được thể hiện qua ngôn ngữ nghệ thuật đương đại với 20 nghệ sĩ múa, hát và chơi các nhạc cụ truyền thống Chăm), « Teh Dar » (văn hóa Tây Nguyên trên sân khấu đương đại).

Dù chưa phải là những tuyệt phẩm đỉnh cao nhưng nhiều vở diễn trong số này đã hành trình lưu diễn khắp các châu lục, đều nhận được sự yêu thích của khán giả quốc tế.

Vậy nên, một dàn nhạc dân tộc hoành tráng như « Đêm vô thức bản địa » là điều hoàn toàn khả thi và cần thiết cho hoạt động biểu diễn nghệ thuật đang rất tẻ nhạt hiện nay. Thùy Trang

https://nld.com.vn/van-nghe/dan-nhac-seaphony-dan-toc-sao-khong-20190520212511481.htm

NGUYỄN VĨNH BẢO : Sự hiện diên của đàn Ghi-ta (Guitare) và Vỹ-cầm (Violon)

Sự hiện diên của đàn Ghi-ta (Guitare) và Vỷ-cầm (Violon)
Sự hiện diện của đờn Ghi-ta móc phím và Vỹ-cầm trong Đờn Ca Tài Tử và Sân Khấu Cải lương Nam Bộ. Nhạc sĩ miền Bắc, miền Trung không chấp nhận sự hiện diện của hai loại đàn nầy trong dàn nhạc, duy nhứt chỉ có miền Nam. Đờn Ghi-ta phím bằng, chính nhạc sĩ miền Nam cho móc phím cho lõm xuống, nên gọi là “Ghi-ta móc”. Khi nhìn cây đờn phím đã móc, nhạc sĩ miền Bắc và miền Trung gọi là Ghi-ta lõm phím, bên nào cũng đúng. Sự ra đời của Đờn Gi-ta là bắt nguồn từ cây Đờn Mandoline. Đờn nầy hình trái bơ. Cần đờn khoảng 30 phân, tra 4 dây đôi, chỉ có một vài bà Đầm (bà Pháp) dùng để đờn những bản ngoại quốc nhỏ, giải trí lúc rảnh rỗi. Chắc chắn là phần đông nhạc sĩ ta không thấy cây đờn Mandoline nầy. Chợt khoảng năm 1930 tại Rạch-Giá có Thầy Giáo Tiên dùng đờn bản Việt. Nhưng vì đờn tra dây đôi, phím nằm khít nhau, lại thêm phím bằng nên chỉ đờn những bản nho nhỏ như Ngũ Điểm Bài Tạ, Long Hổ Hội, Lưu Thuỷ Vắn, Bình Bán Vắn, Kim Tiền, bởi những bàn nầy không có nhu cầu nhấn nhá, khi Rao sương sương buồn thì Thầy Giáo Tiên đờn trên dây mà Thầy đặt tên là Rạch Giá. Thời điểm nầy đóng đờn Mandoline tại Sài gòn có tiệm Mélodia ở đường Lagrandière (Gia-Long, Lý-Tự-Trọng) Của Hoạ-sĩ Lê-Yến, bí danh Hộ-Khanh. Tại Hà Nội thì có ông Trần-Đình-Thư. Đờn Mandoline của ông Trần-Đình-Thư phím đàn thay vì bằng thau, ông dùng cọng pha lê (cristal) của bóng đèn 25 bougies. Chót cần đờn chạm mặt con dơi, đờn đẹp, âm thanh tốt. Trong đờn ca Tài Tử Nam Bộ chỉ có đờn Tranh và Độc huyền(Bầu) tra dây bằng kim loại, còn đờn Đoản thùng tròn như đờn Kìm, cần ngắn tra 2 dây tơ, âm thanh nghe không hấp dẫn bằng đờn Mandoline. Nhưng đờn Mandoline kiến trúc của nó như vậy, không cho phép người đờn diễn tả những bản buồn như theo ý, nên một số người nghĩ ra cách là móc phím nó, thay vì dây đôi, đổi ra dây chiết. Nhưng cũng không đạt yêu cầu, âm thanh phát ra nghe như dế kêu. Khoảng năm 1934 ra đời cây đờn 4 dây, thùng đờn nhỏ một mười một sáu với đờn Ghi-ta bình thường, cần đờn dài, khoảng phím rộng hơn đờn Mandoline đặt tên là đờn Ghi-ta Mando, có người gọi là đờn Octavina. Tên Ghi-ta-Mando thì ai cũng hiểu, nhưng cái tên Octavina, người thì dịch Octa là tám, Vina là đờn Vina của Ấn-độ, người khác lại dịch Octa là tám, Vina là Việt Nam. Sai bét. Thời điểm nầy không có cái màn ghép chữ như Vietcombank, Immexco, Seaprodex ….. Cái tên Octavina là loại đờn Tây-Ban-Nha, hình dạng giống như đờn Ghi-ta-Mando, nhưng nhiều dây mà người ta thấy tại Phi-Lục-Tân. Lúc báy giờ đờn Ghi-ta-Mando du nhập vào dàn đờn Sân Khấu Hát Cải Lương. Đờn Vỹ-cầm (Violon), nhạc sĩ đờn Vỹ-cầm nhạc Tây Jean Tịnh, làm việc tại đài Phát Thanh Sài Gòn là người đầu tiên chép bản Vọng Cổ nhịp tám của đờn Cò, rồi dùng đàn Vỹ-cầm đàn chung với đờn Tranh của nhạc sĩ Lang đệm cho ca sĩ Hai Đá ca Vọng cổ nhịp tám lời ca “Gió bấc lạnh lùng thấy hoa rụng rời trên mặt đất”, thu năm 1934 vào dĩa nhựa BÉKA của hãng John ELLER Đức. Năm 1938 người nhạc sĩ đờn Cò Mười Còn ở Cần-Đước là người đầu tiên sử dụng đờn Vỹ-cầm đờn bản Vọng Cổ nhịp 16, kế đó là nhạc sĩ Tư Huyện (Nguyễn-Thế-Huyện) Cần Đước, nhạc sĩ Hai Thơm, nhạc sĩ Tư Còn Sa-Đéc. Đờn Vỹ-Cầm, qua con mắt của nhạc sĩ đờn Cò là sự phối hợp của đờn Cò và đờn Gáo. Muốn đờn thì dùng kỹ thuật kéo dây bấm phím (fingering techniques) của đờn Cò.
Vĩnh-Bảo

Đàn OCTAVINA

ghi ta phím lõm viêt nam
Đàn violon

ĐẶNG HOÀNH LOAN : LẬP BẢO TÀNG NHẠC CỤ TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM – TẠI SAO KHÔNG ?

LẬP BẢO TÀNG NHẠC CỤ TRUYỀN THỐNG
CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM – TẠI SAO KHÔNG ?

Dự án xây dựng BẢO TÀNG NGHỆ THUẬT TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM tưởng đã thành hiện thực, thì bỗng phút chốc…úm ba la … thành ra thứ khác, vứt bỏ không thương tiếc nhiều tỉ đồng của dân của nước, không một lời giải thích nguyên do. Ấy đấy, cái lối hành chính “tân quan tân chích sách là thế đấy”.

Thôi thì dự án xây dựng BẢO TÀNG NGHỆ THUẬT TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM đã tiêu ma, thì vì sao lại không nghĩ tới việc nâng cấp Phòng bảo tàng Nhạc cụ truyền thống các dân tộc Việt Nam – Viện Âm nhạc, thành Bảo tàng Nhạc cụ truyền thống các dân tộc Việt Nam được nhỉ. Tôi nghĩ nên nâng cấp, vì các lí do sau đây :

-Thứ nhất, về thời gian : Phòng trưng bày nhạc cụ truyền thống các dân tộc Việt Nam-Viện Âm nhạc đã được xây dựng tính đến nay ngót 40 năm có lẻ.

-Thứ hai về nhạc cụ hiện vật : Số nhạc cụ hiện vật đang được trưng bày có đầy đủ các nhạc cụ cùng các chi họ nhạc cụ của 54 dân tộc anh em (từ Bắc – Trung-Nam).

– Thứ ba về căn cứ pháp lí : Dự án Xây dựng Viện Âm nhạc đã được Chính Phủ phê duyệt trong đó có phê duyệt Bảo tàng nhạc cụ các dân tộc Việt Nam.

-Thứ tư về nội dung khoa học : Tất cả các nhạc cụ được trưng bày hiện nay đều có lí lịch khoa học, thuyết minh khoa học đầy đủ.

– Thứ năm về số lượng nhạc cụ: Số lượng nhạc cụ hiện vật đang có cũng đã đủ để xây dựng bảo tàng.

– Thứ sáu những bài bản độc tấu, hòa tấu nhạc cụ : Mỗi nhạc cụ trong phòng trưng bày hiện nay đều có đẩy đủ các bản đàn kèm theo. Đây là kho báu vô giá, không thể tìm ở đâu được.

-Thứ bảy về hướng dẫn tham quan : Viện âm nhạc có một tổ hướng dẫn tham quan, được vũ trang kiến thức nghiên cứu nhạc cụ, biểu diễn nhạc cụ khá thành thạo và điêu luyện. Họ chơi được nhiều bản cồng chiêng Mường, Chinh chêng Gia rai, nhiều nhạc cụ các dân tộc Tây Nguyên và các dân tộc miền núi phía Bắc.

Ấy vậy, cái không thì vẫn cứ không, cái hư hao thì thì vẫn cứ hư hao, cấp dưới thì lúng túng, cấp trên đầu họ thì “bận trăm ngàn việc khác” không còn thì giờ để quan tâm (?!), cấp cao hơn thì không biết, hỏi đến đổ lỗi cho cơ chế… Chỉ có số tiền của Nhà nước lấy từ túi dân từ hơn 40 năm qua để sưu tầm, bảo quản nhạc cụ thì đang đứng trước nguy cơ “bỏ thì thương vương thì tội”, “Cha chung không ai khóc”, sự biến mất dần các nhạc cụ của Phòng trưng bày chỉ còn là thời gian.

Tôi xem trên mạng, thấy TS Lê Thị Minh Lí giới thiệu Bảo tàng Kéo Co ở Hàn Quốc thấy thú vị quá lập tức viết bài này để đánh thức sự lãng quên.

ĐẶNG HOÀNH LOAN

Nhà nghiên cứu ĐẶNG HOÀNH LOAN
Hát xẩm
Dàn Klong Put dân tộc Xê Đăng
Đàn đá gong lu tây nguyên
Hát ru cá trong lễ Kin Chiêng Booc May của người Thái
nhạc cụ kèn dài của dân tộc Pu Péo
Nhạc cụ người Co Lao
Dàn chiêng dân tộc Gia Rai
Dàn nhạc đờn ca tài tử miền Nam

Các hướng dẫn viên Phòng trưng bày nhạc cụ Viện Âm nhac biểu diễn. — cùng với Nguyễn Hữu Đạt

Tran Quang Hai Anh Loan thân mến,
Tất cả những đề nghị của anh về việc thành lập Bảo tàng viện nhạc cụ rất chí lý . Tôi đã nghĩ tới việc này từ lâu vì tôi đã làm việc ở Paris trong một viện nghiên cứu có trên 8000 nhạc cụ và đã tham gia việc tổ chức triển lãm nhac cứ thế giới theo từng phân loại: nhạc cụ tự âm vang (idiophone), nhạc cụ da (membranophone), nhạc cụ hơi (aerophone) và nhac cứ dây (cordophone).
Vietnam với 54 sắc tộc, với hàng trăm loại nhạc cụ khác nhau, thêm vào đó có những nhạc công tài giỏi (như em Đặng Hoài Thu và toàn ban nhạc công của Viện Âm nhạc) biết sử dụng nhạc cụ nhiều loại , cũng như tài liệu sách vở âm thanh có đủ thì việc thành lập viện bảo tàng nhạc cụ rất dễ được thực hiện và đủ sức lôi kéo giới trẻ học sinh tới khám phá gia tài của tổ tiên lưu truyền .
Vấn đề thực hiện cần phải có một ủy ban làm việc nghiêm túc để xúc tiến việc làm một cách hữu hiệu .
Nếu cần , tôi sẵn sàng phụ giúp một tay với kinh nghiệm làm việc ở Pháp về tổ chức một viện bảo tàng nhạc cụ (museum of musical instruments) như một số viện bảo tàng nổi tiếng trên thế giới (làm việc tại Department of Ethnomusicology, Musée de l’Homme , Paris từ năm 1968 tới 2009) .

Tôi có soạn thảo một quyển sách « Music of the World » (Nhạc thế giới) với rất nhiều tài liệu âm thanh và bài viết về các loại nhạc cụ .Ngoài ra tôi có tham gia viết bài cho quyển tự điển nhạc cụ (New Grove Dictionary of Musical Instruments) xuất bản tại London năm 1984 . Tôi đã kê khai trên 200 nhạc cụ Viet Nam .

Đó là phần góp ý vào bài của anh Đặng Hoành Loan , một nhà nghiên cứu giàu kinh nghiệm và đã đóng góp rất nhiều trong tất cả những di sản văn hóa phi vật thể về âm nhạc của Việt Nam .