Catégorie : NHẠC CỤ VIỆT NAM

WIKIPEDIA : Nhạc cụ người dân tộc thiểu số Việt Nam

Nhạc cụ người dân tộc thiểu số Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Buớc tưới chuyển hướngBước tới tìm kiếm

Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. Mời bạn giúp hoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ.
Wikimedia Commons có thư viện hình ảnh và phương tiện truyền tải về Nhạc cụ người dân tộc thiểu số Việt Nam
Mục lục 1 Alal 2 Aráp 3 Bẳng bu 4 Bro 5 Chênh Kial 6 Chul 7 Cồng, chiêng 8 Cò ke 9 Đàn đá 10 Đao đao 11 Đinh Đuk 12 Đuk đik 13 Goong 14 Goong đe 15 Hơgơr Prong 16 Kèn lá 17 Kềnh H’Mông (khèn Mèo) 18 Khèn bè 19 Khinh khung 20 K’lông pút 21 Knăh ring 22 K’ny (Kaní) 23 M’linh 24 M’nhum 25 Môi 26 Pi cổng 27 Pí đôi 28 Pí lè 29 Pí một lao 30 Pí pặp 31 Pí phướng 32 Pơ nưng Yun 33 Púa 34 Rang leh 35 Rang rai 36 Sáo H’Mông (sáo Mèo) 37 Ta in 38 Ta lư 39 Ta pòl 40 Tính tẩu 41 Tol alao 42 Tông đing 43 Tơ đjếp 44 Tơ nốt 45 T’rum 46 T’rưng 47 Vang 48 Tham khảo

Alal

Bài chi tiết: Alal

Alal là tên gọi theo tiếng Ba Na, dùng để chỉ nhạc cụ hơi có lưỡi gà rung tự do, khá phổ biến trong cộng đồng người Ba Na và một số dân tộc khác tại Việt Nam.

Aráp

Bài chi tiết: Aráp

Aráp là một bộ chiêng quý của người Bâhnar và Giơ Rai ở Việt Nam. Nhiều dân tộc ở Tây nguyên cũng sử dụng bộ chiêng này với tên gọi khác nhau. Người Ca dong gọi là h’leng goong, người Rơ măm gọi là guông t’gạt, người Stră gọi là guông chiêng…

Bẳng bu

Bài chi tiết: Bẳng bu

Bẳng bu là nhạc cụ hơi làm bằng tre phổ biến ở nhiều dân tộc vùng Tây Bắc, Việt Nam. Cái tên của nó xuất phát từ tiếng Thái. Nhạc cụ này dành riêng cho nữ giới, thường được dùng trong các nghi lễ mang đậm tính phồn thực, cầu mong cuộc sống bình yên và mùa màng bội thu.

Bro

Bài chi tiết: Bro

Bro là nhạc dây phổ biến trong một số dân tộc Tây Nguyên ở Việt Nam. Người Bâhnar, xê Đăng, giơ Rai và Giẻ Triêng thường sử dụng nhạc cụ này.

Chênh Kial

Bài chi tiết: Chênh Kial

Chênh Kial là nhạc cụ tự thân vang khi va đập. Cái tên của nó xuất phát từ tiếng Bâhnar tin rằng trong mỗi ống của chênh kial có những vị thần trẻ con reo vui khi gió thổi. Những vị thần này là con của thần gió nên khi gặp gió các thần rất vui mừng. Người treo chênh kial lên đầu hồi nhà Rông để cầu đừng ngưng gió vì nếu không có gió trời sẽ đổ mưa không sớm thì muộn.

Chul

Bài chi tiết: Chul

Chul là loại sáo phổ biến trong vài cộng đồng dân tộc ở Tây Nguyên, nhất là người Ba Na và Giơ Rai. Đây là loại sáo dành cho nam giới. Các chàng trai sử dụng sáo này để tỏ tình với các cô gái.

Cồng, chiêng

Bài chi tiết: Cồng, chiêng

Cồng, chiêngnhạc cụ dân tộc thuộc bộ gõ, được làm bằng đồng thau, hình tròn như chiếc nón quai thao, đường kính từ 20 cm (loại nhỏ) cho đến 60 cm (loại to), ở giữa có hoặc không có núm. Người Gia Rai, Ê Đê và Hrê gọi cả cồng lẫn chiêng là « chinh », còn người Triêng gọi cồng là « chênh goong » (loại có núm), gọi chiêng là « chênh hân » (không núm). Nhìn chung, còn khá nhiều cách gọi và phân biệt giữa hai nhạc cụ có núm và không núm này.

Cò ke

Cò ke là nhạc cụ có cung kéo của dân tộc Mường. Nó có cần đàn làm bằng một đoạn tay tre uốn thẳng, cắm xuyên qua một đoạn tre rỗng suốt 2 đầu. Đầu trên của cần đàn có lỗ để cắm trục chỉnh dây. Phía trước của đoạn ống được bịt bằng một mảnh mo măng tre hoặc một tấm da ếch, da trăn hay da rắn, giúp ống trở thành bộ phận tăng âm.

Cò ke có 2 dây đàn bằng xơ dứa hoặc tằm se, vuốt lá khoai. Người ta chỉnh 2 dây cách nhau 1 quãng bốn hoặc năm. Cung kéo là một miếng cật nứa được kéo cong lại bằng một túm xơ dừa hay lông đuôi ngựa. Cung kéo này nằm rời khỏi dây đàn, không bôi nhựa thông nhằm tăng thêm độ ma xát. Trước khi chơi nhạc cụ này, người ta nhúng túm xơ dừa hoặc lông đuôi ngựa vào nước. Trong lúc diễn, nếu thấy túm xơ dừa hay lông đuôi ngựa bị khô, họ nhổ nước bọt vào để làm ướt trở lại.

Âm thanh của cò ke không chuẩn vì dây mắc khá cao so với cần đàn, ngoài ra nó không có bộ phận chỉnh độ cao dây buông như ở đàn nhị.

Đàn đá

Bài chi tiết: Đàn đá

Đàn đá là một nhạc cụ gõ cổ nhất của Việt Nam[cần dẫn nguồn]. Đàn được làm bằng các thanh đá với kích thước dài, ngắn, dày, mỏng khác nhau.

Đao đao

Bài chi tiết: Đao đao

Đao đao là nhạc cụ của cộng đồng dân tộc Khơ Mú sống tại Việt Nam.

Đinh Đuk

Bài chi tiết: Đinh Đuk

Đinh Đuk là nhạc cụ hơi của vài dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Nhìn chung, người Bâhnar gọi nhạc cụ này là đinh tuk; riêng người Bâhnar ở vùng Măng Giang gọi là « hi hơ », người Giơ Rai gọi là « đinh dương ».

Đuk đik

Bài chi tiết: Đuk đik

Đuk đik là nhạc cụ của người Giẻ Triêng. Nó là 1 ống tre dài 64 cm, đường kính 8 cm với đầu này có mấu kín, còn đầu kia được vát bớt để làm tay cầm và tạo âm theo cao độ mà người thiết kế mong muốn.

Goong

Bài chi tiết: Goong

Goong là loại đàn dây phổ biến trong một số dân tộc sống ở tỉnh Kom Tum và Gia Lai. Nó còn được gọi là Tinh Ninh (Ting Ning) hay Teng Neng (cách gọi của người Bâhnar vùng Măng Giang và An Khê – Gia Lai) hoặc Puội Brol như người Giẻ Triêng ở huyện Đák Giây, Kom Tum gọi.

Goong đe

Bài chi tiết: Goong đe

Goong đe là nhạc cụ có cấu tạo giống như đàn goong, phổ biến ở tỉnh Gia Lai, thường do người Bâhnar sử dụng.

Hơgơr Prong

Bài chi tiết: Hơgơr Prong

Hơgơr Prong là loại trống rất lớn, không định âm của các dân tộc ở Tây Nguyên. Người Bâhnar gọi nó là hơgơr tăk hoặc p’nưng, người Giơ Rai gọi là hơgơr prong hoặc hơge m’nâng, còn người Êđê gọi đơn giản là hơgơr. Tuy nhiên, loại trống này còn có một cái tên tượng thanh phổ biến là « đùng » (nhiều dân tộc gọi).

Kèn lá

Bài chi tiết: Kèn lá

Kèn lá là nhạc cụ rất đơn giản, phổ biến trong các cộng đồng dân tộc ở Tây Nguyên. Người ta chỉ cần lấy 1 chiếc lá cây, cắt phần cuống, gấp đôi theo sống lá để có 1 chiếc kèn đơn sơ.

Kềnh H’Mông (khèn Mèo)

Bài chi tiết: Kềnh H’Mông

Kềnh là nhạc cụ thổi hơi của nhiều dân tộc anh em ở Việt Nam, người kinh gọi là khèn, vì thế kềnh H’Mông còn được gọi là khèn Mèo.

Khèn bè

Bài chi tiết: Khèn bè

Khèn là cách gọi loại kềnh của một số dân tộc của Đông Nam Á. Loại ở đây giống như chiếc bè nên gọi là khèn bè. Ở Việt Nam, người Giẻ Triêng gọi là Đinh Duar còn người Xơ Đăng gọi là Đinh Khén, người Vân Kiều gọi là Khên.Riêng người Ta Ôi gọi là Khèn

Khinh khung

Bài chi tiết: Khinh khung

Khinh khung là nhạc cụ thời tiền sử, vận hành bằng sức nước. Ở Việt Nam người Bâhnar gọi nhạc cụ này là khinh khung, còn người Giarai gọi là Goong klơng klơi.

K’lông pút

Bài chi tiết: K’lông put

K’lông put là nhạc cụ của một số dân tộc anh em ở Việt Nam. Người Giơ Rai gọi nó là Đinh pút, còn người Bâhnar ở vùng An Khê gọi là Đinh Pơl. Tuy nhiên cái tên K’lông pút đã trở nên quen thuộc với mọi người, dù ở trong hay ngoài nước.

Knăh ring

Bài chi tiết: Knăh ring

Knăh ring là bộ chiêng 6 chiếc, sử dụng phổ biến trong cộng đồng dân tộc Giơrai và Bâhnar ở Việt Nam.

K’ny (Kaní)

Bài chi tiết: K’ny

K’ny là nhạc cụ dây có cung vĩ của nhiều dân tộc sống ở vùng Bắc Tây Nguyên, Việt Nam, phổ biến rộng rãi trong cộng đồng Bahnar, Giơ Rai, Xê Đăng và Rơ Ngao…

M’linh

Bài chi tiết: M’linh

M’linh là nhạc cụ tự thân vang khi lắc chúng. Nhạc cụ này là những cái chuông đồng nhỏ phổ biến trong cộng đồng dân tộc Dao và Mường.

M’nhum

Bài chi tiết: M’nhum

M’nhum là bộ chiêng của người Giơ Rai ở Việt Nam. Nó dùng để đánh khi uống rượu. Cái tên của nó đã nói lên điều này (M’nhum là « uống rượu » trong tiếng Giơ Rai).

Môi

Bài chi tiết: Đàn môi

Đàn môi là từ người kinh ở Việt Nam gọi. Nó phổ biến hầu hết trong các cộng đồng dân tộc ở Việt Nam với nhiều tên gọi khác nhau. Trên thế giới nhiều nước cũng có đàn môi với tên gọi khác và chất liệu làm đàn cũng khác so với loại đàn môi ở Việt Nam.

Pi cổng

Bài chi tiết: Pi cổng

Pi cổng là nhạc cụ hơi của nhiều dân tộc ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Pi cổng là tên gọi theo tiếng Thái.

Pí đôi

Bài chi tiết: Pí đôi

Pí đôi là tên gọi theo tiếng Thái. Nhạc cụ này phổ biến trong cộng đồng người Thái đang sinh sống ở Việt nam.

Pí lè

Bài chi tiết: Pí lè

Pí lè là tên gọi theo tiếng Thái – Tày để chỉ nhạc cụ hơi có dăm kép.

Pí một lao

Bài chi tiết: Pí một lao

Pí một lao là nhạc cụ hơi phổ biến ở vùng Tây Bắc, Việt Nam. Tên nhạc cụ này xuất phát từ tiếng Thái, nhưng ngoài người Thái còn có người Kháng, người La Ha và Kha Mú sử dụng nhạc cụ này.

Pí pặp

Bài chi tiết: Pí pặp

Pí pặp là nhạc cụ hơi phổ biến ở cộng đồng người Thái, Việt Nam. Nó là một ống nứa dài từ 30 đến 40 cm, đường kính nho hơn hoặc bằng 1 cm.

Pí phướng

Bài chi tiết: Pí phướng

Pí phướng là nhạc cụ hơi của nhiều dân tộc ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Cái tên nhạc cụ này xuất phát từ tiếng Thái.

Pơ nưng Yun

Bài chi tiết: Pơ nưng Yun

Đây là loại trống vừa của người Bâhnar sinh sống ở Việt Nam. Người Gia Rai gọi nó là hơgơr ching arăp, người Mnâm gọi là hơgơr cân, người Hà Lang gọi là hơgơr tuôn, còn người Rơ năm gọi là Hơ huôl. Nhiều dân tộc Tây Nguyên còn gọi nó bằng 1 từ tượng thanh là « đơng ».

Púa

Bài chi tiết: Púa

Púa là nhạc cụ hơi, xuất phát từ tiếng H’Mông. Người H’Mông và Lôlô sống tại Việt Nam sử dụng phổ biến nhạc cụ này.

Rang leh

Bài chi tiết: Rang leh

Rang leh là nhạc cụ môi hơi phổ biến rộng rãi trong các cộng đồng dân tộc ở vùng Tây Nguyên, Việt Nam. Người Stră gọi nó là rôông gui, người Ca dong gọi là pôper, người Giơ Rai gọi là rang leh, còn người Việt gọi là đàn môi (xem mục đàn môi).

Rang rai

Bài chi tiết: Rang rai

Rang rai là một loại chũm chọe phổ biến trong nhiều cộng đồng dân tộc anh em ở Việt Nam, đặc biệt là người Bâhnar và Giơ Rai thường sử dụng nhạc cụ này.

Sáo H’Mông (sáo Mèo)

Bài chi tiết: Sáo H’Mông

Đây là nhạc cụ của người H’Mông ở miền Bắc Việt Nam. Nó thường được sử dụng để giải trí sau giờ phút lao động mệt nhọc.dung de tan nhung co gai trong cac le hoi cua nguoi mong.

Ta in

Bài chi tiết: Ta in

Ta in là nhạc cụ dây của dân tộc Hà Nhì, tỉnh Lai Châu Lào Cai, Việt Nam. Nó có cần đàn bằng gỗ rắn, bộ phận tăng âm bằng gỗ, hình chữ nhật có 4 cạnh vuốt tròn.

Ta lư

Bài chi tiết: Ta lư

Ta lư là nhạc cụ dây, phổ biến rộng rãi trong cộng đồng dân tộc Vân Kiều ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Việt Nam.

Ta pòl

Bài chi tiết: Ta pòl

Ta pòl là nhạc cụ của ngưởi Bâhnar, nhưng phổ biến trong nhiều cộng đồng dân tộc ở Tây Nguyên, Việt Nam. Người Giarai gọi nó là đinh bút hoặc đinh pơng, người Rơ Năm gọi là pang bôông, còn người Brâu gọi là đinh pu. Ngoài ra nó còn nhiều tên gọi khác tùy theo ngôn ngữ của những dân tộc Tây Nguyên.

Tính tẩu

Bài chi tiết: Tính tẩu

Tính tẩu là nhạc cụ khảy dây được dùng phổ biến ở một số dân tộc miền núi tại Việt Nam như Thái, Tày … Ở vài vùng thuộc Trung Quốc, Lào, và Thái Lan người ta nhận thấy cũng có nhạc cụ này.

Tol alao

Bài chi tiết: Tol alao

Tol alao là một loại đàn cổ sơ của người Bâhnar sinh sống ở Việt Nam. Nhạc cụ này cũng được người Ca dong sử dụng và gọi là tol alao như người Bâhnar. Đây là loại đàn dành riêng cho nữ giới. Các cô gái thường đánh cho các chàng trai thưởng thức.

Tông đing

Bài chi tiết: Tông đing

Tông đing là nhạc cụ gõ của dân tộc Bâhnar sinh sống ở Việt Nam. Người Giơ Rai cũng thường sử dụng nhạc cụ này với tên gọi là Teh ding. Người Ca dong gọi là Goong teng leng (teng leng là đánh ở trên).

Tơ đjếp

Bài chi tiết: Tơ đjếp

Tơ đjếp là nhạc cụ hơi có lưỡi gà rung tự do, phổ biến ở một số dân tộc vùng Tây Nguyên Việt Nam.

Tơ nốt

Bài chi tiết: Tơ nốt

Tơ nốt là nhạc cụ hơi của người Bâhnar có quan hệ mật thiết với các nhạc cụ săn bắn. Nó là nhạc cụ mang tính chiến đấu. Ngày xưa người ta dùng nó để báo tin cho cộng đồng biết đang có việc quan trọng. Ngày nay nhiều dân ở Tây Nguyên sử dụng nhạc cụ này.

T’rum

Bài chi tiết: T’rum

T’rum là bộ cồng 3 chiếc có núm của người Giơ rai sống ở Tây Nam Pleiku, Việt Nam. Mỗi chiếc có kích cỡ và tên gọi khác nhau.

T’rưng

Bài chi tiết: T’rưng

Đàn t’rưng là loại nhạc cụ gõ phổ biến ở vùng Tây Nguyên, đặc biệt là đối với dân tộc Giơ Rai và Bâhnar. Cái tên « t’rưng » xuất phát từ tiếng Giơ Rai, lâu ngày trở nên quen thuộc với mọi người.

Vang

Bài chi tiết: Vang

Vang là 3 bộ chiêng ba chiếc dành riêng cho Vua Lửa (Pơtau Pui) trong cộng đồng dân tộc Giơ Rai và vài dân tộc khác ở Việt Nam.

[ẩn]xtsCác nhạc cụ dân tộc Việt Nam AlalArápBẳng buBroCảnhChênh kialChiêng treChulChũm chọeCồng chiêngCò keĐàn bầuĐàn đáĐao đaoĐàn đáyĐàn hồĐàn môiĐàn nhịĐàn tamĐàn tranhĐàn tứĐàn tỳ bàĐàn nguyệtĐàn sếnĐing nămĐinh đukĐing ktútĐuk đikGoongGoong đeGuitar phím lõmHơgơr prongKèn bầuKèn láKềnh H’MôngKhèn bèKhinh khungK’lông pútKnăh ringK’nyM’linhM’nhumPháchPi cổngPí đôi / Pí pặpPí lèPí một laoPí phướngPơ nưng yunPúaRang lehRang raiSáo H’MôngSáo trúcSênh tiềnSong langTa inTa lưTa pòlTiêuTính tẩuThanh laTol alaoTông đingTơ đjếpTơ nốtTam thập lụcTrống cáiTrống cơmTrống đếTrống đồngTrống ParanưngT’rumT’rưngTù vàTỳ bàVang

Tham khảo

Thể loại:

https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%A1c_c%E1%BB%A5_ng%C6%B0%E1%BB%9Di_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c_thi%E1%BB%83u_s%E1%BB%91_Vi%E1%BB%87t_Nam

Vietnamese Ethnic Instruments (Stone Instrument) – Hero Nup – VYFB Performed in Japan

Vietnamese Ethnic Instruments (Stone Instrument) – Hero Nup – VYFB Performed in Japan

Thien Vy

Published on Feb 16, 2012



Ban Nhạc Gia Đình Trẻ Việt – The Vietnamese Youth Family Band Nhạc Cụ Tây Nguyên – Highland Ethnic Instruments (Stone Instument) Anh Hùng Núp – Hero Nup

Thùy Trang: Dàn nhạc Seaphony dân tộc, sao không?

21/05/2019 03:29

Từ « Đêm vô thức bản địa », người trong giới mơ đến một sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo có thể hình thành tại TP HCM

« Đêm vô thức bản địa » ra mắt vào năm 2017 với một số đêm diễn, gây ấn tượng đối với những khán giả may mắn thưởng thức trực tiếp ở nhà hát. Mới đây, chương trình này tiếp tục chiếm trọn trái tim người yêu nhạc khi được phát sóng lại trên sóng truyền hình. Hỏi những người tổ chức vì sao không thấy dự án tiếp tục thì nhận được câu trả lời dự án vẫn đang tiến hành chưa có gì để nói.

Ấn tượng khó phai

Là dàn nhạc dân tộc bản địa Việt Nam đầu tiên có quy mô sánh ngang dàn nhạc giao hưởng Tây phương, dàn nhạc Seaphony độc đáo và khác biệt hoàn toàn với các dàn nhạc trong nước và quốc tế trước nay với thanh âm nguyên sơ từ các nhạc khí bản địa được sử dụng thay vì nhạc cụ phổ biến. Không ngoa khi nói rằng « Đêm vô thức bản địa » là một trải nghiệm độc đáo chưa từng có trước nay với sự trình diễn của hơn 50 nghệ nhân, nhạc công của các dân tộc anh em đến từ nhiều vùng miền trên cả nước. Những thanh âm đầy mê hoặc của đàn môi, kèn lá, đàn tính, đàn goong, cồng chiêng, trống baranưng, trống gineng… hòa quyện cùng những làn điệu dân ca đầy cảm xúc đã hớp hồn người nghe.

Để xây dựng dàn nhạc Seaphony, trong năm 2017, nghệ sĩ Nguyễn Nhất Lý, nhạc sĩ Nguyễn Mạnh Tiến cùng các nhạc sĩ tâm huyết của dự án S.E.A Sound đi đến các bản làng miền núi phía Bắc (Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Lạng Sơn, Điện Biên, Yên Bái, Hà Giang), các buôn làng ở 5 tỉnh Tây Nguyên cũng như làng Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận, tập hợp nghệ nhân và tuyển chọn các nhạc khí tiềm năng cho dàn nhạc từ các dân tộc Tày, Thái, Dao, H’mông, Lào, M’nông, Ê Đê, Jarai,… Tiếp đó là hành trình lao động sáng tạo và tập luyện miệt mài của tập thể các nhạc sĩ, nghệ nhân, nhạc công tham gia trong nhiều tháng ròng. Kết quả, dàn nhạc Seaphony ra mắt bằng một không gian âm nhạc hùng vĩ nên thơ, độc nhất vô nhị trong các buổi diễn « Đêm vô thức bản địa ».

Dàn nhạc Seaphony dân tộc, sao không? - Ảnh 1.

Cảnh biểu diễn “Đêm vô thức bản địa” tại Nhà hát Lớn Hà Nội ngày 12-12-2017Ảnh: Lương Trường

« Đêm vô thức bản địa » nằm trong dự án S.E.A Sound do nghệ sĩ Nguyễn Nhất Lý sáng lập, nhằm xây dựng cộng đồng thưởng thức, biểu diễn, sáng tác và phát triển âm nhạc bản địa các nước Đông Nam Á. Trước khi diễn ra « Đêm vô thức bản địa », các buổi diễn « Đêm vô thức Tây Bắc », « Đêm vô thức Tây Nguyên », « Đêm vô thức Chăm »,… đều diễn ra trước đó. Có thể nói, « Đêm vô thức bản địa » với các chủ đề, gồm: « Tĩnh », « Thanh », « Chuyển », « Ứng », « Thoại », « Động », « Biến », « Vũ », « Bỗng », « Sắc »… chính là một bản hòa ca trọn vẹn và tinh túy nhất của những đêm diễn giới thiệu khí nhạc tiêu biểu của từng vùng miền. Các loại nhạc khí trong chương trình được làm từ chất liệu dân gian tạo những bản hòa tấu mộc mạc, gần gũi. Bên cạnh phần hòa tấu của các nhạc khí, trên sân khấu, nghệ nhân 3 miền ngẫu hứng giao tiếp qua tiếng hát. « Đêm vô thức bản địa » tạo ra sự kết nối các tộc người, vùng miền, văn hóa khác nhau.

Thừa nhân lực, trí lực nhưng thiếu tài lực

Cùng chung tay xây dựng nên « Đêm vô thức bản địa », nhạc sĩ Nguyễn Mạnh Tiến bảo rằng dàn nhạc Seaphony (tái thiết từ tên của dự án âm nhạc S.E.A Sound) được thành lập mang ý nghĩa kết nối văn hóa vùng miền và đặc biệt hướng thế hệ trẻ tìm hiểu về giá trị âm nhạc truyền thống dân tộc. Đó là lý do không gian âm nhạc của « Đêm vô thức bản địa » được cố ý xây dựng từ không gian văn hóa sử thi. Nhạc sĩ Nguyễn Nhất Lý cho biết nhóm của anh làm việc với nghệ nhân 3 miền chỉ có một năm. Buổi công diễn giống như sự thử nghiệm, sau đó dàn nhạc tiếp tục quá trình hoàn thiện. Điều đó khiến cho nhiều người thấy tiếc và mong ngóng ngày « Đêm vô thức bản địa » chính thức có lịch diễn phục vụ khán giả trong nước lẫn quốc tế.

Giới chuyên môn khẳng định so với một dàn nhạc Tây phương, một dàn nhạc dân tộc thuần nhạc cụ Việt Nam đủ sức để thay thế với một biên chế dàn nhạc đầy đủ từ bộ hơi, bộ gõ, bộ dây, thậm chí là một dàn nhạc giao hưởng dân tộc quy mô lớn với lượng nhạc công, nhạc cụ lên đến hàng trăm. Trước năm 1975, Việt Nam đã từng có một dàn nhạc giao hưởng dân tộc với tên gọi Bách Việt, ra mắt bằng tâm huyết của những người yêu nhạc dân tộc. Dàn nhạc ra mắt và chỉ hoạt động được một thời gian là tan rã vì mỗi người có công việc riêng. Trong lễ hội Sài Gòn – TP HCM 300 năm, một dàn nhạc giao hưởng dân tộc đã hình thành, quy tụ hàng trăm nghệ nhân nhạc cụ dân tộc nhưng chỉ trình diễn trong đêm khai mạc rồi giải thể. Nhà hát Ca múa nhạc dân tộc Bông Sen từng có ý định thành lập một dàn nhạc giao hưởng dân tộc như thế nhưng đến nay vẫn chưa thành hiện thực. Nói vậy để khẳng định rằng việc thành lập một dàn nhạc giao hưởng dân tộc hoàn toàn khả thi về mặt nhân lực, trí lực. Theo nhạc sĩ Minh Châu, những người tâm huyết với nhạc dân tộc sẵn sàng góp sức để định hình cho một dàn nhạc giao hưởng dân tộc thuần Việt như thế.

Tuy nhiên, vấn đề lớn là tài lực cần đủ lớn để nuôi dưỡng một dàn nhạc lại là vấn đề bất khả thi. Bởi việc vận hành một dàn nhạc giao hưởng đã không dễ, việc để các nghệ sĩ chuyên tâm cống hiến cho hoạt động của dàn nhạc lại càng không dễ. Nhiều nghệ sĩ nhạc dân tộc đã từng ngồi lại bàn với nhau về việc xây dựng một dàn nhạc giao hưởng dân tộc vì điều đó rất dễ với họ, như khẳng định của nghệ sĩ Hải Phượng. Nhưng nút thắt về tài chính vẫn là điều nan giải. Mọi người vẫn chỉ có thể mong đợi vào nguồn tài trợ từ cơ quan nhà nước, « lúc đó một dàn nhạc giao hưởng dân tộc không có gì khó cả » – nhạc sĩ Minh Châu khẳng định. 

Sẽ là sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo

Nhiều người cho rằng « Đêm vô thức bản địa » sẽ là sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo, đủ sức cuốn hút du khách nếu nó được đầu tư khai thác theo hướng này.

Chúng ta đang có những chương trình nghệ thuật khai thác yếu tố văn hóa dân tộc đang rất ăn khách với công chúng trong và ngoài nước như chương trình kịch xiếc « À ố show », vở « Làng tôi », vở « Palao » (tác phẩm múa mang văn hóa và tâm hồn Chăm được thể hiện qua ngôn ngữ nghệ thuật đương đại với 20 nghệ sĩ múa, hát và chơi các nhạc cụ truyền thống Chăm), « Teh Dar » (văn hóa Tây Nguyên trên sân khấu đương đại).

Dù chưa phải là những tuyệt phẩm đỉnh cao nhưng nhiều vở diễn trong số này đã hành trình lưu diễn khắp các châu lục, đều nhận được sự yêu thích của khán giả quốc tế.

Vậy nên, một dàn nhạc dân tộc hoành tráng như « Đêm vô thức bản địa » là điều hoàn toàn khả thi và cần thiết cho hoạt động biểu diễn nghệ thuật đang rất tẻ nhạt hiện nay. Thùy Trang

https://nld.com.vn/van-nghe/dan-nhac-seaphony-dan-toc-sao-khong-20190520212511481.htm

NGUYỄN VĨNH BẢO : Sự hiện diên của đàn Ghi-ta (Guitare) và Vỹ-cầm (Violon)

Sự hiện diên của đàn Ghi-ta (Guitare) và Vỷ-cầm (Violon)
Sự hiện diện của đờn Ghi-ta móc phím và Vỹ-cầm trong Đờn Ca Tài Tử và Sân Khấu Cải lương Nam Bộ. Nhạc sĩ miền Bắc, miền Trung không chấp nhận sự hiện diện của hai loại đàn nầy trong dàn nhạc, duy nhứt chỉ có miền Nam. Đờn Ghi-ta phím bằng, chính nhạc sĩ miền Nam cho móc phím cho lõm xuống, nên gọi là “Ghi-ta móc”. Khi nhìn cây đờn phím đã móc, nhạc sĩ miền Bắc và miền Trung gọi là Ghi-ta lõm phím, bên nào cũng đúng. Sự ra đời của Đờn Gi-ta là bắt nguồn từ cây Đờn Mandoline. Đờn nầy hình trái bơ. Cần đờn khoảng 30 phân, tra 4 dây đôi, chỉ có một vài bà Đầm (bà Pháp) dùng để đờn những bản ngoại quốc nhỏ, giải trí lúc rảnh rỗi. Chắc chắn là phần đông nhạc sĩ ta không thấy cây đờn Mandoline nầy. Chợt khoảng năm 1930 tại Rạch-Giá có Thầy Giáo Tiên dùng đờn bản Việt. Nhưng vì đờn tra dây đôi, phím nằm khít nhau, lại thêm phím bằng nên chỉ đờn những bản nho nhỏ như Ngũ Điểm Bài Tạ, Long Hổ Hội, Lưu Thuỷ Vắn, Bình Bán Vắn, Kim Tiền, bởi những bàn nầy không có nhu cầu nhấn nhá, khi Rao sương sương buồn thì Thầy Giáo Tiên đờn trên dây mà Thầy đặt tên là Rạch Giá. Thời điểm nầy đóng đờn Mandoline tại Sài gòn có tiệm Mélodia ở đường Lagrandière (Gia-Long, Lý-Tự-Trọng) Của Hoạ-sĩ Lê-Yến, bí danh Hộ-Khanh. Tại Hà Nội thì có ông Trần-Đình-Thư. Đờn Mandoline của ông Trần-Đình-Thư phím đàn thay vì bằng thau, ông dùng cọng pha lê (cristal) của bóng đèn 25 bougies. Chót cần đờn chạm mặt con dơi, đờn đẹp, âm thanh tốt. Trong đờn ca Tài Tử Nam Bộ chỉ có đờn Tranh và Độc huyền(Bầu) tra dây bằng kim loại, còn đờn Đoản thùng tròn như đờn Kìm, cần ngắn tra 2 dây tơ, âm thanh nghe không hấp dẫn bằng đờn Mandoline. Nhưng đờn Mandoline kiến trúc của nó như vậy, không cho phép người đờn diễn tả những bản buồn như theo ý, nên một số người nghĩ ra cách là móc phím nó, thay vì dây đôi, đổi ra dây chiết. Nhưng cũng không đạt yêu cầu, âm thanh phát ra nghe như dế kêu. Khoảng năm 1934 ra đời cây đờn 4 dây, thùng đờn nhỏ một mười một sáu với đờn Ghi-ta bình thường, cần đờn dài, khoảng phím rộng hơn đờn Mandoline đặt tên là đờn Ghi-ta Mando, có người gọi là đờn Octavina. Tên Ghi-ta-Mando thì ai cũng hiểu, nhưng cái tên Octavina, người thì dịch Octa là tám, Vina là đờn Vina của Ấn-độ, người khác lại dịch Octa là tám, Vina là Việt Nam. Sai bét. Thời điểm nầy không có cái màn ghép chữ như Vietcombank, Immexco, Seaprodex ….. Cái tên Octavina là loại đờn Tây-Ban-Nha, hình dạng giống như đờn Ghi-ta-Mando, nhưng nhiều dây mà người ta thấy tại Phi-Lục-Tân. Lúc báy giờ đờn Ghi-ta-Mando du nhập vào dàn đờn Sân Khấu Hát Cải Lương. Đờn Vỹ-cầm (Violon), nhạc sĩ đờn Vỹ-cầm nhạc Tây Jean Tịnh, làm việc tại đài Phát Thanh Sài Gòn là người đầu tiên chép bản Vọng Cổ nhịp tám của đờn Cò, rồi dùng đàn Vỹ-cầm đàn chung với đờn Tranh của nhạc sĩ Lang đệm cho ca sĩ Hai Đá ca Vọng cổ nhịp tám lời ca “Gió bấc lạnh lùng thấy hoa rụng rời trên mặt đất”, thu năm 1934 vào dĩa nhựa BÉKA của hãng John ELLER Đức. Năm 1938 người nhạc sĩ đờn Cò Mười Còn ở Cần-Đước là người đầu tiên sử dụng đờn Vỹ-cầm đờn bản Vọng Cổ nhịp 16, kế đó là nhạc sĩ Tư Huyện (Nguyễn-Thế-Huyện) Cần Đước, nhạc sĩ Hai Thơm, nhạc sĩ Tư Còn Sa-Đéc. Đờn Vỹ-Cầm, qua con mắt của nhạc sĩ đờn Cò là sự phối hợp của đờn Cò và đờn Gáo. Muốn đờn thì dùng kỹ thuật kéo dây bấm phím (fingering techniques) của đờn Cò.
Vĩnh-Bảo

Đàn OCTAVINA

ghi ta phím lõm viêt nam
Đàn violon

ĐẶNG HOÀNH LOAN : LẬP BẢO TÀNG NHẠC CỤ TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM – TẠI SAO KHÔNG ?

LẬP BẢO TÀNG NHẠC CỤ TRUYỀN THỐNG
CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM – TẠI SAO KHÔNG ?

Dự án xây dựng BẢO TÀNG NGHỆ THUẬT TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM tưởng đã thành hiện thực, thì bỗng phút chốc…úm ba la … thành ra thứ khác, vứt bỏ không thương tiếc nhiều tỉ đồng của dân của nước, không một lời giải thích nguyên do. Ấy đấy, cái lối hành chính “tân quan tân chích sách là thế đấy”.

Thôi thì dự án xây dựng BẢO TÀNG NGHỆ THUẬT TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM đã tiêu ma, thì vì sao lại không nghĩ tới việc nâng cấp Phòng bảo tàng Nhạc cụ truyền thống các dân tộc Việt Nam – Viện Âm nhạc, thành Bảo tàng Nhạc cụ truyền thống các dân tộc Việt Nam được nhỉ. Tôi nghĩ nên nâng cấp, vì các lí do sau đây :

-Thứ nhất, về thời gian : Phòng trưng bày nhạc cụ truyền thống các dân tộc Việt Nam-Viện Âm nhạc đã được xây dựng tính đến nay ngót 40 năm có lẻ.

-Thứ hai về nhạc cụ hiện vật : Số nhạc cụ hiện vật đang được trưng bày có đầy đủ các nhạc cụ cùng các chi họ nhạc cụ của 54 dân tộc anh em (từ Bắc – Trung-Nam).

– Thứ ba về căn cứ pháp lí : Dự án Xây dựng Viện Âm nhạc đã được Chính Phủ phê duyệt trong đó có phê duyệt Bảo tàng nhạc cụ các dân tộc Việt Nam.

-Thứ tư về nội dung khoa học : Tất cả các nhạc cụ được trưng bày hiện nay đều có lí lịch khoa học, thuyết minh khoa học đầy đủ.

– Thứ năm về số lượng nhạc cụ: Số lượng nhạc cụ hiện vật đang có cũng đã đủ để xây dựng bảo tàng.

– Thứ sáu những bài bản độc tấu, hòa tấu nhạc cụ : Mỗi nhạc cụ trong phòng trưng bày hiện nay đều có đẩy đủ các bản đàn kèm theo. Đây là kho báu vô giá, không thể tìm ở đâu được.

-Thứ bảy về hướng dẫn tham quan : Viện âm nhạc có một tổ hướng dẫn tham quan, được vũ trang kiến thức nghiên cứu nhạc cụ, biểu diễn nhạc cụ khá thành thạo và điêu luyện. Họ chơi được nhiều bản cồng chiêng Mường, Chinh chêng Gia rai, nhiều nhạc cụ các dân tộc Tây Nguyên và các dân tộc miền núi phía Bắc.

Ấy vậy, cái không thì vẫn cứ không, cái hư hao thì thì vẫn cứ hư hao, cấp dưới thì lúng túng, cấp trên đầu họ thì “bận trăm ngàn việc khác” không còn thì giờ để quan tâm (?!), cấp cao hơn thì không biết, hỏi đến đổ lỗi cho cơ chế… Chỉ có số tiền của Nhà nước lấy từ túi dân từ hơn 40 năm qua để sưu tầm, bảo quản nhạc cụ thì đang đứng trước nguy cơ “bỏ thì thương vương thì tội”, “Cha chung không ai khóc”, sự biến mất dần các nhạc cụ của Phòng trưng bày chỉ còn là thời gian.

Tôi xem trên mạng, thấy TS Lê Thị Minh Lí giới thiệu Bảo tàng Kéo Co ở Hàn Quốc thấy thú vị quá lập tức viết bài này để đánh thức sự lãng quên.

ĐẶNG HOÀNH LOAN

Nhà nghiên cứu ĐẶNG HOÀNH LOAN
Hát xẩm
Dàn Klong Put dân tộc Xê Đăng
Đàn đá gong lu tây nguyên
Hát ru cá trong lễ Kin Chiêng Booc May của người Thái
nhạc cụ kèn dài của dân tộc Pu Péo
Nhạc cụ người Co Lao
Dàn chiêng dân tộc Gia Rai
Dàn nhạc đờn ca tài tử miền Nam

Các hướng dẫn viên Phòng trưng bày nhạc cụ Viện Âm nhac biểu diễn. — cùng với Nguyễn Hữu Đạt

Tran Quang Hai Anh Loan thân mến,
Tất cả những đề nghị của anh về việc thành lập Bảo tàng viện nhạc cụ rất chí lý . Tôi đã nghĩ tới việc này từ lâu vì tôi đã làm việc ở Paris trong một viện nghiên cứu có trên 8000 nhạc cụ và đã tham gia việc tổ chức triển lãm nhac cứ thế giới theo từng phân loại: nhạc cụ tự âm vang (idiophone), nhạc cụ da (membranophone), nhạc cụ hơi (aerophone) và nhac cứ dây (cordophone).
Vietnam với 54 sắc tộc, với hàng trăm loại nhạc cụ khác nhau, thêm vào đó có những nhạc công tài giỏi (như em Đặng Hoài Thu và toàn ban nhạc công của Viện Âm nhạc) biết sử dụng nhạc cụ nhiều loại , cũng như tài liệu sách vở âm thanh có đủ thì việc thành lập viện bảo tàng nhạc cụ rất dễ được thực hiện và đủ sức lôi kéo giới trẻ học sinh tới khám phá gia tài của tổ tiên lưu truyền .
Vấn đề thực hiện cần phải có một ủy ban làm việc nghiêm túc để xúc tiến việc làm một cách hữu hiệu .
Nếu cần , tôi sẵn sàng phụ giúp một tay với kinh nghiệm làm việc ở Pháp về tổ chức một viện bảo tàng nhạc cụ (museum of musical instruments) như một số viện bảo tàng nổi tiếng trên thế giới (làm việc tại Department of Ethnomusicology, Musée de l’Homme , Paris từ năm 1968 tới 2009) .

Tôi có soạn thảo một quyển sách « Music of the World » (Nhạc thế giới) với rất nhiều tài liệu âm thanh và bài viết về các loại nhạc cụ .Ngoài ra tôi có tham gia viết bài cho quyển tự điển nhạc cụ (New Grove Dictionary of Musical Instruments) xuất bản tại London năm 1984 . Tôi đã kê khai trên 200 nhạc cụ Viet Nam .

Đó là phần góp ý vào bài của anh Đặng Hoành Loan , một nhà nghiên cứu giàu kinh nghiệm và đã đóng góp rất nhiều trong tất cả những di sản văn hóa phi vật thể về âm nhạc của Việt Nam .

NHẠC SƯ NGUYỄN VĨNH BẢO-GIỚI THIỆU ĐÀN TRANH

NHẠC SƯ NGUYỄN VĨNH BẢO-GIỚI THIỆU ĐÀN TRANH

Nhac su Vĩnh Bao family published on April 3th 2019 “Hiệu Đàn Nhạc Sư Nguyễn Vĩnh Bảo” -Chuyên cung cấp các loại đàn Cổ nhạc và phụ kiện: Đàn tranh 17 dây, 19 dây, 21 dây Đàn Bầu, Đàn Kìm, Đàn Cò, Đàn Gáo, Guitar Cổ thùng Dây đàn, bao đàn, hộp đàn các loại Giá để bài nhạc, Chân để đàn Móng đàn tranh, khoá vặn trục đàn tranh, Song lang ..… -Sản phẩm lưu niệm mang hình ảnh Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo: Áo thun, Ly sứ, Dĩa sứ, Túi xách, Móc khóa,… ============= ➡️Hân hạnh được phục vụ quý khách hàng đến tham quan và mua sắm tại: 134A đường Đinh Bộ Lĩnh, Phường 4, Thành Phố Cao Lãnh, Tỉnh Đồng Tháp. ➡️Hotline: 0764.573.669 (cô Thu Anh) ➡️Email: hieudannsvinhbao@gmail.com ➡️Nhận giao hàng trong Nước và Ngoài nước

NHẠC SƯ NGUYỄN VĨNH BẢO-GIỚI THIỆU ĐÀN KÌM

NHẠC SƯ NGUYỄN VĨNH BẢO-GIỚI THIỆU ĐÀN KÌM

NSVinhBao Family Published on Apr 3, 2019 “Hiệu Đàn Nhạc Sư Nguyễn Vĩnh Bảo” -Chuyên cung cấp các loại đàn Cổ nhạc và phụ kiện: Đàn tranh 17 dây, 19 dây, 21 dây Đàn Bầu, Đàn Kìm, Đàn Cò, Đàn Gáo, Guitar Cổ thùng Dây đàn, bao đàn, hộp đàn các loại Giá để bài nhạc, Chân để đàn Móng đàn tranh, khoá vặn trục đàn tranh, Song lang ..… -Sản phẩm lưu niệm mang hình ảnh Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo: Áo thun, Ly sứ, Dĩa sứ, Túi xách, Móc khóa,… ============= ➡️Hân hạnh được phục vụ quý khách hàng đến tham quan và mua sắm tại: 134A đường Đinh Bộ Lĩnh, Phường 4, Thành Phố Cao Lãnh, Tỉnh Đồng Tháp. ➡️Hotline: 0764.573.669 (cô Thu Anh) ➡️Email: hieudannsvinhbao@gmail.com ➡️Facebook: https://www.facebook.com/HieuDanNSNgu… ➡️Nhận giao hàng trong Nước và Ngoài nước

DANG HOANH LOAN : Tài tử Văn Giỏi

Dang Hoanh Loan Published on Jul 30, 2018 Văn Giỏi họ Trần, sinh 1947 tại Long Trung, huyện Cai Lạy, tỉnh Tiền Giang trong một gia đình trung lưu. Hai bên nội, ngoại của Văn Giỏi rất nhiều người biết đờn hát. Năm 14 tuổi Văn Giỏi chính thức học đờn. Tới năm 22 tuổi (năm 1969) Văn Giỏi lên Sài Gòn lập nghiệp. 50 năm hành nghề, Văn Giỏi không chỉ biểu diễn và dạy đàn, ông còn bỏ công sáng tác hai bản đàn: Đoản khúc Lam Giang và Phi Vân Điệp khúc. « Mục đích sáng tác là làm bài học và bài biểu diễn cho học trò. Và cũng để có cái phần mới mẻ cho các em sau này. Những bài này còn dùng để vô trong những tuồng Cải Lương » như ông đã từng nói.

Tài tử Văn Giỏi

 Tài tử Văn Giỏi

Dang Hoanh Loan Published on Jul 30, 2018 Văn Giỏi họ Trần, sinh 1947 tại Long Trung, huyện Cai Lạy, tỉnh Tiền Giang trong một gia đình trung lưu. Hai bên nội, ngoại của Văn Giỏi rất nhiều người biết đờn hát. Năm 14 tuổi Văn Giỏi chính thức học đờn. Tới năm 22 tuổi (năm 1969) Văn Giỏi lên Sài Gòn lập nghiệp. 50 năm hành nghề, Văn Giỏi không chỉ biểu diễn và dạy đàn, ông còn bỏ công sáng tác hai bản đàn: Đoản khúc Lam Giang và Phi Vân Điệp khúc. « Mục đích sáng tác là làm bài học và bài biểu diễn cho học trò. Và cũng để có cái phần mới mẻ cho các em sau này. Những bài này còn dùng để vô trong những tuồng Cải Lương » như ông đã từng nói.