Catégorie : NGÔN NGỮ HỌC

Mời Anh Chị xem bài viết của nhà văn TIỂU TỬ có nhan đề CÁI MẶT.

Mời Anh Chị xem bài viết của nhà văn TIỂU TỬ có nhan đề CÁI MẶT.. rất hay

CÁI MẶT

Con người có cái mặt là quan trọng nhất. Thật vậy, nếu lấy cái mặt bỏ đi, tất cả những gì còn lại trên thân thể sẽ không dùng vào đâu được hết và cũng không còn tồn tại được nữa. Không có mũi để thở, không có miệng để ăn…,con người không có cái mặt là kể như “tiêu tùng”!

Trước khi “đào sâu” cái mặt, xin mở dấu ngoặc ở đây để “vinh danh” tiếng Việt: phần lớn những gì nằm trên cái mặt đều bắt đầu bằng chữ “m,” trên thế giới chưa có thứ tiếng nào như vậy hết! Ðây, nhìn coi: trên mặt có mắt, mũi, miệng (mồm), má.

Ở “mắt” có mày, có mi, có mí mắt, rồi mắt mụp, mắt mọng nước, mắt mơ màng, mắt mơ mộng, mắt mờ, mắt mù…Qua tới “mũi,” ngoài “mùi” ra không thấy chữ “m” nào khác dính vào. Có lẽ tại vì cái mũi nó…cứng khư, không…linh hoạt..

Ấy vậy mà nó – cái mũi – và “chân mày” (cũng kém linh hoạt như cái mũi!) lại được đi kèm với cái mặt để…hỗ trợ cho tiếng “mặt,” trong từ ngữ thông thường: “mặt mũi,” “mặt mày,” làm như nếu nói “mặt” không, phát âm nghe…trơn lùi, nhẹ hểu không lọt lỗ tai! Cho nên người ta nói “mặt mũi bơ phờ,” “mặt mày hốc hác,” chớ ít nghe “mặt bơ phờ, mặt hốc hác.”

Bây giờ tới “miệng” thì có môi, có mép rồi mồm mép, môi miếng, miệng méo, miệng móm, mím môi, mếu máo, mấp máy, bú mớm, mút mấp…Ðến “má” thì ngoài “mụt mụn” chỉ có “mi một cái” là còn thấy chữ “m” nhè nhẹ phất phơ…Tiếng Việt hay quá!

Trở về với cái mặt. Ông Trời, khi tạo ra con người, ban cho cái mặt là một ân huệ lớn. Nhờ có cái mặt mà con người nhận ra nhau, chồng nhận ra vợ, con nhận ra cha, biết ai là bạn ai là thù v.v…Thử tưởng tượng một ngày nào đó bỗng nhiên không ai còn cái mặt nữa. Nếu có sống được nhờ một sự nhiệm màu nào đó, thử hỏi con người lấy gì để nhận diện nhau?

Chồng vợ, cha con, bạn thù gì đều…xà ngầu. Vậy là loạn đứt! Cho nên xưa nay, người ta coi trọng cái mặt lắm.

Có người còn nói, “Thà chịu mất mạng chớ không bao giờ để cho mất mặt”! Vì vậy, rủi có ai lỡ lời chạm tự ái một người nào thì người đó thấy bị…mất mặt, liền đưa một nắm tay lên hăm he: “Thằng đó, bộ nó giỡn mặt tao hả? Tao phải dằn mặt nó một lần cho nó biết mặt tao”

Rồi, bởi vì cái mặt nó…nặng ký như vậy cho nên khi nói về một người nào, người ta chỉ nhắm ngay vào cái mặt của người đó để mà nói. Nếu ghét thì gọi “cái bảng mặt” (Cái mặt mà như tấm bảng thì thiệt tình thấy chán quá!

Thường nghe nói, “Cái bảng mặt thằng đó tao coi hổng vô!”) Nếu hơi khinh miệt thì gọi “cái bộ mặt” (“Thằng này có bộ mặt ăn cướp!”) Còn khi thương thì cái mặt trở thành “cái gương mặt” (“Em có gương mặt đẹp như trăng rằm!”)

Chưa hết! Khi nổi giận muốn… hộc máu, người ta cũng chỉ nhắm vào cái mặt của đối thủ chớ không chỗ nào khác để “dộng một đạp”hay “cho một dao” hay “phơ một phát” hay…“tạt một lon ác-xít”! Bởi vậy, xưa nay những người có “nợ máu” lúc nào cũng sợ bị “nhìn mặt trả thù,” và hồi thời chống Pháp, những điềm chỉ viên đi nhìn mặt “quân phản loạn” đều lấy bao bố trùm đầu để giấu mặt!

Con người, khi nhìn người khác, lúc nào cũng bắt đầu ở cái mặt (Chỉ có người không..bình thường mới nhìn người khác bắt đầu ở cái chân hay cái bụng hay cái lưng!) Ở đó – ở cái mặt – ngoài cái đẹp cái xấu ra, còn hiện lên “cái mặt bên trong” của con người. Các nhà văn gọi là “nét mặt,” nghe…trừu tượng nhưng suy cho kỹ nó rất đúng.

Bởi vì chỉ có cái mặt là…vẽ được cái nội tâm của con người thật đầy đủ. Cho nên mới có câu “Xem mặt mà bắt hình dong” (hình dong ở đây là cái hình dong giấu kín bên trong con người) Cho nên, trên sòng bài, các con bạc thường “bắt gân mặt” nhau để đoán nước bài của đối thủ.

Cho nên mấy “giáo sư chiêm tinh gia” lúc nào cũng liếc sơ cái mặt của thân chủ trước khi nâng bàn tay lên xem chỉ tay, để..định mức coi “thằng cha này nó sẽ tin mấy phần trăm những gì mình nói”! Thì ra, đời người không nằm trong lòng bàn tay như mấy “thầy” đó nói, mà nó nằm ngay trên nét mặt!

Cũng bởi vì cái mặt nó…phản động như vậy cho nên các “đỉnh cao trí tuệ của ta” đã nâng cao cảnh giác, ẩn mặt một cách…an toàn suốt giai đoạn đấu tranh “chìm”và chỉ “xuất đầu lộ diện” khi toàn dân đã vùng lên nổi dậy. Và các “đồng chí vĩ đại của ta” thay tên đổi mặt lia chia để đánh lạc hướng kẻ địch, nay để râu mai thay tóc mốt cạo đầu v…v…

Họ ôm khư khư cái mặt để…”quản lý” nó từng giây từng phút, chỉ sợ nó để lòi ra cái mặt thật nhét giấu ở bên trong, riết rồi nó xơ cứng như mặt bằng đất. Ðến nỗi vào bàn hội nghị quốc tế, các đối tượng không làm sao “bắt gân mặt” để “đi” một nước bài cho ngoạn mục!

Ở đây, phải nói thêm cho rõ là cho dù trong nội bộ với nhau – nghĩa là giữa “ta” và “ta” – cái mặt vẫn bị quản lý y chang như vậy, bởi vì hành động đó đã biến thành “bản năng” từ khuya!

Vì vậy, đừng ngạc nhiên khi thấy sau hội nghị, mới ôm “hôn nhau thắm thiết tình đồng chí” mà trên đường về lại khu bộ có cán bộ đã bị “bùm”hay bị “cho xe rơi xuống hố” một cách rất….bài bản, để lại niềm “vô cùng thương tiếc” nằm trên vòng hoa phúng điếu của người đã ra lệnh hạ thủ!

Có khi chính “đồng chí” này là người thay mặt tập thể, đứng ra….rớt nước mắt đọc điếu văn! Ở đây, ông bà mình nói: “Phải muối mặt mới làm được như vậy.” Thật là chí lý! Cái mặt đã muối rồi thì đâu còn sợ….bị thúi hay bị sình! Ta cứ tỉnh bơ thôi!

Bởi cái mặt nó phản ảnh con người nên hát bội mới “dặm mặt“sao cho đúng với cái “vai“ Ðể khi bước ra sân khấu, khán giả nhận ra ngay “thằng trung, thằng nịnh, thằng hiền, thằng dữ” v.v…Ngoài đời, không có ai dặm mặt, nhưng vẫn được người khác “nhận diện” là : thằng mặt gà mái, thằng mặt có cô hồn, thằng mặt..mẹt, mặt mâm, mặt thớt, mặt hãm tài, mặt đưa đám, mặt trù cha hại mẹ, mặt…mo…v.v…

Sau tháng tư 1975, người dân miền Nam đã được Nhà Nước “vẽ lọ bôi hề” thành những khuôn mặt … không giống ai, để đóng vai “nhân dân làm chủ” trên sân khấu cách mạng, trong vở trường kịch “Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”!

Trên sân khấu chánh trị Việt Nam bây giờ, trong cũng như ngoài nước, “đào kép” tuy không dặm mặt như nghệ sĩ hát bội nhưng mỗi người đều có “lận lưng” vài cái mặt nạ để tùy hoàn cảnh, tùy đối tượng mà đeo lên cho người ta “thấy mình là ai” (dĩ nhiên không phải là cái mặt thật của mình). Rồi cũng “phùng mang trợn mắt hát hò inh ỏi” một cách rất…tròn vai, làm “bà con đồng bào, đồng chí, đồng hương” cứ thấy như thiệt! Ðiểm đặc biệt là ông nào bà nào cũng muốn thiên hạ chỉ nhìn thấy có “cái mặt của mình” trong đám bộ mặt đang múa may quay cuồng trên sân khấu.

Vì vậy, họ phải ráng bơm cho cái mặt của mình to bằng…cái mâm (mặt mâm), cái nia, để thấy họ mới đúng là …“đại diện”! Chẳng qua là họ muốn tạo thời cơ để kiếm cho cái…đít của họ một cái…ghế! Ðến đây thì vở tuồng trên sân khấu đang chuyển sang lớp “gà nhà bôi mặt đá nhau”…Cái mặt đã trở thành “một vấn đề”!

Ðể chấm dứt bài này, và cũng để được yên thân, xin phép độc giả cho tôi “vác cái mặt của tôi đi chỗ khác”!

TIỂU TỬ

Theo TRẦN VIỆT HẢI : Con heo khác con lợn ?

Con heo khác con lợn ?

1) Điểm khác nhau thứ nhất là con heo sinh ra ở Miền Nam, con lợn sinh ra ở Miền Bắc.
2) Điểm khác nhau thứ hai là con heo thì ăn bắp, con lợn thì ăn ngô nè.
3) Điểm khác nhau thứ ba là con heo thì da không làm bánh được còn con lợn làm bánh da lợn.
4) Điểm khác nhau thứ tư là con heo đóng phim người lớn, con lợn đóng phim thiếu nhi (phim Hiệp sĩ lợn).

Sau đây là một số điểm thú vị của con lợn và con heo:

1) Miền Bắc không có con heo nhưng lại thích « nói toạc móng heo » – Miền Nam không có con lợn nhưng làm được bánh da lợn.

2) Miền Bắc có lợn sề, lợn nái, lợn giống, lợn cấn, lợn sữa, lợn choai, lợn tháu, lợn ỷ, lợn rừng – Miền Nam có heo nhà, heo ruộng, heo bông, heo lang, heo cỏ, heo bò, heo đen, heo nọc, heo hạch, heo nái, heo nưa, heo lứa, heo mọi, heo sữa, heo rừng.

3) Con lợn từ Miền Bắc xuống Miền Nam bị hóa kiếp thành con heo cũng có điển tích đàng hoàng:
Paulus Huỳnh Tịnh Của là một học giả người Miền Nam, trong Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, ông đã giải nghĩa lợn là con heo, là giống lục súc béo hơn hết. Đúng như con lợn tự khoe: “Nội trong hàng lục súc với nhau, ai sánh đặng mình heo béo tốt?” (Lục súc tranh công).

4) Đọc Việt sử, ta thấy người Miền Nam phần lớn là những di dân từ Miền Trung, tiếng nói của họ nặng, khi phải bẩm trình với quan lớn, họ lại phát âm thành “quan lợn”. Quan cho là vô phép nên sai lính lấy hèo phạt, ai bẩm “quan lợn” là phạt đòn 10 hèo. Nhiều người bị phạt hèo như vậy, nên khi thấy con lợn họ hình dung ngay ra những cây hèo vút vào mông họ, họ bèn mỉa mai gọi con lợn là “con hèo”. Rồi để khỏi lầm lẫn con lợn với cây gậy quái ác ấy, họ bớt đi dấu huyền, còn lại là con heo.

Hihi… có lý… có lý… « quan nợn » là phạm húy nhé!.
(Trần Văn Tui cọp dê net)

Tập 1 – Nẻo về nguồn cội – Trở về ánh sáng tuổi thơ với chiếc đèn ông sao

Tập 1 – Nẻo về nguồn cội – Trở về ánh sáng tuổi thơ với chiếc đèn ông sao

Nẽo về nguồn cội
Ajoutée le 28 sept. 2015



Đây là chuỗi series phim « Đồ chơi trung thu truyền thống » nằm trong loạt phim « Nẻo về nguồn cội » phát sóng vào 7h30 từ Thứ 2-Thứ 6 hàng tuần trên kênh VTV1 – Đài Truyền hình Việt Nam từ ngày 22/9/2015.

Trần Văn Ngô (Từ Nguyên): TIẾNG VIỆT…KHÔNG KHÓ BA, SỐ BA

_tran van ngo

Trần Văn Ngô (Từ Nguyên)

TIẾNG VIỆT…KHÔNG KHÓ
BA, SỐ BA
Từ Nguyên
(Tiếp theo các bài số Một, số Hai)
Gặp số ba, chữ ba…là vui nhất vì có thể nói ba hoa chích chòe, ba chớp ba nháng nghĩa là nói lung tung, tán hươu tán vượn hay ba xí ba tú, chút này chút nọ, nói ba hoa thiên địa nói chuyện trời, trăng…không đâu vào đâu.
Nhưng không nói như quân ba trợn ngh ĩa là người vô học, lỗ mảng, đồ ba xạo, nói ba xàm ba láp nghĩa là nói tầm bậy tầm bạ, ba lăng nhăng. Người nói vậy bị chê là ba que xỏ lá, ba gai, nói những lời nặng nề, thô tục, nói láo, ba xàm ba đế.
Phải nói cho trúng, ba bảy hai mươi mốt mới được.
CON SỐ BA
Trong cuộc sống, chúng ta gặp số ba rất nhiều. Nhà ba gian hai chái. Có tầng cấp ba bực bước vào nhà. Mời anh Ba vào chơi.
Trong nhà, gian giữa đặt bàn thờ. Trên bàn thờ là lư hương với ba nén (cây) nhang (hương), bộ tam sự (hương, đèn, trầm). Khi lạy, lạy ba lạy hay xá ba xá ba ngôi tam bảo, Phật, Pháp, Tăng. Trước bàn thờ tổ tiên lạy bốn lạy, xá bốn xá.
Khi cần gặp nhau nói ba điều bốn chuyện…tới nhà gặp bửa ăn cũng xin mời anh chị ngồi vào mâm, xơi ba miếng. Bửa nay rằm mà không có cơm chay, thôi thì xin ăn lạt cũng được. Cơm với muối mè và chuối ba tiêu.
Thịt ba rọi là có da, thịt và mỡ. Thịt ba chỉ nói miếng thịt ở bụng (con heo), có ba thớ nạc lẫn với mỡ. Ăn nói ba rọi là nói xỏ nói xiên. (Còn nói đến vải the, có ba đường chỉ lớn nhỏ, dùng để…che mắt thánh.) Bánh mì ba tê ? phải qua bên nước Phú lãng sa mới có.
Đi đâu, mới ra ngõ đã gặp ngã ba đường cái, tới quán hàng của bà Ba Bủng. Ba bà đi bán lợn xề, ba cô đội gạo lên chùa…
Ông già Ba Tri kể lại cuộc đánh Tàu, mà chú ba hay chú chệt hồi đó qua xứ mình mua bán ve chai nay thành ông chủ, cầm ba toong đập chó. Ông ba kẹ, ông ba bị chín quai hay bắt trẻ con. Người lớn sợ ông ba mươi (con cọp), mới thấy bóng đã vội ba chân bốn cẳng, chạy cho lẹ.
Ba ba là một thứ rùa nhỏ, cũng ăn chớ, uống ba xịn đế (rượu trắng nếp than), gẫm chuyện đời cho kiếp ba sinh (kiếp này, kiếp trước và kiếp sau theo lẽ luân hồi nếu may mắn còn làm được con người.)
Ví chăng duyên nợ ba sinh
Làm chi đem thói khuynh thành trêu ngươi (Kiều)
Ba lông là trái banh, không có lông, ba gác là xe hai bánh chở hàng hai chân phải đạp không được gác chân lên xe, ba khía là con vật dính vào cây sống ở bờ rạch nước mặn bắt về làm mắm, ba lơn là nói pha trò, cù không cười.
BA LÀ CHA
Ba có trước chữ papa, đứa bé bập bẹ, kêu ba, ba, me, me…Con đi với cha hay với bố. Thờ cha kính mẹ ấy là đạo con, không nói thờ ba…
Ba sanh không phải nói chuyện cha mẹ sinh mình ra, mà kể chuyện cuộc đời biến chuyển nhanh chóng. Chuyện kể rằng có một người đốt nhang, nhang chưa tàn mà thấy mình trải qua ba kiếp người, khi giàu sang khi nghèo khó.
Mình có làm được ba sinh một lần cũng vui vậy !
Ba lo. Một mình lo bảy lo ba, lo cau trổ muộn lo già hết duyên. Lo lắng : lo nên, lo hư; lo giàu lo nghèo ; lo sống, lo thác. Ba lô là túi vải đeo sau lưng. Tây ba lô du lịch tới Việt Nam, ăn cơm tay cầm.
Bô lô ba la là ăn nói liếng thoắng, kể chuyện vui vẻ nghe không kịp, cười cười nói nói khi mới gặp lại nhau.
Chưa nói đã cười là người vô duyên !
BA LA MẬT
Chữ ba la mật được nhắc tới hoài trong kinh Phật. Ba đó không phải là số ba.
Ba la mật là tiếng âm của chữ Phạn paramita có nghĩa là tới bờ bên kia. Người Ấn có thói quen khi làm xong việc gì, phủi tay sung sướng nói paramita! Paramita!như người sang sông tới bờ rồi.
Bờ đây là bờ nào ? Sách Phật nói bờ bên kia là chỗ mình muốn tới là niết bàn là cực lạc, thì bờ bên này là cõi trần. Hai bờ có mà không có, không cách xa nhau mà gần nhau. Muốn qua không cần thuyền bè mà là tu. Tu Phật là tìm vật liệu để làm cho mình chiếc thuyền đi tới bờ bên kia, trong tâm trí.
BA PHẢI
Nói xuôi cũng được nói ngược cũng xong. Ba phải, cả ba người nói trắng, nói đen đều phải cả. Được lòng mọi người nhưng lại bị chê là không dứt khoát, không có lập trường.
Dạ, xin chào ông ba phải.
CHUYỆN ÔNG BA KIM
Ông bà này được bạn mời tới nhà dùng cơm trưa. Tới trước nhà, lần nào ông cũng không vội. Chờ cho ba kim trên chiếc đồng hồ đeo tay, coi sao cho kim chỉ giờ, kim chỉ phút và kim chỉ giây chụm lại, lúc đó ông mới bấm chuông.
Bạn bè biết chuyện, cho ông tên hiệu là Ba Kim. Ông Ba Kim qua đời từ lâu.

Giọng nói người Sài Gòn

Giọng nói người Sài Gòn không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Thần Kinh, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước Nam Bộ, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn. Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương. Có dạo đọc trong một bài viết về Sài Gòn – Gia Định của nhà văn Sơn Nam, có thấy ông viết giọng Sài Gòn, cũng như văn hóa và con người Sài Gòn là một sự pha trộn và giao thoa đến hợp nhất của nhiều nơi. Đó là những người Chăm bản địa, những người khách Hoa, những người miền Trung đầu tiên đến đất Gia Định…Từ đó hình thành một loại ngôn ngữ vừa bản địa, vừa vay mượn của những người đi mở đất… Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn của miền Nam, cũng như giọng người Hà Nội được xem là giọng chuẩn của người miền Bắc. Giọng chuẩn tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời gian. Như nói về giọng chuẩn của người Hà Nội, người ta nói đến chất giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói chuyện rất hay và “điêu luyện”. Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được. Nếu nói là người Việt Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa chăng chỉ có giọng Huế của người con gái Huế trầm tư mới cùng được ví von thế…Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác. Không ngọt ngào …mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa, không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt, giọng người Sài Gòn cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn. Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hãnh của người Sài Gòn, chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó lòng. Dường như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định – Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống, trong đổi mới và phát triển, thì giọng nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, có cái “thanh” của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ. Giọng người Sài Gòn nói lên nghe là biết liền. Ngồi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau ở một quán nước, bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang sang sảng riêng…Mà điều đặc biệt trong cách người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen, hén” ở cuối câu… Người miền khác có khoái, có yêu người Sài Gòn thì cũng vì cách dùng từ “nghen, hen” này. Khách đến nhà chơi, chủ nhà tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu “Thôi, tôi dìa nghen!” – Chủ nhà cũng cười “Ừ, dzậy anh dìa hen!”. Nói chuyện điện thoại đã đời, để kết câu chuyện và cúp máy, một người nói “Hổng còn gì nữa, dzậy thôi hen!” “thôi” ở đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt gì đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng nhau, bắt gặp cái gì vui, quay đầu sang đứa kế bên “Hay hén mậy?” bằng giọng điệu thoải mái… Giọng người Sài Gòn đôi khi diễn đạt cùng một câu nói, nhưng lại bằng nhiều cung bậc giọng điệu khác nhau lại mang ý nghĩa khác nhau. Đám nhỏ quậy, nghịch phá, người chị mắng, giọng hơi gằn lại và từng tiếng một, có chút hóm hỉnh trong đó “Dzui dzữ hen!”. Đám bạn cùng tuổi, ngồi chơi chung, cười đùa, một người nói giọng cao cao vui vẻ “Dzui dzữ hen!”…Người Sài Gòn có thói quen hay “đãi” giọng ở chữ cuối làm câu nói mang một sắc thái khác khi hờn giận, khi đùa vui như “Hay dzữuuu”, “Giỏi dzữưưu…!” Nghe người Sài Gòn nói chuyện, trong cách nói, bắt gặp “Thôi à nghen” “Thôi à!” khá nhiều, như một thói quen và cái “duyên” trong giọng Sài Gòn. Người Sài Gòn nói chuyện, không phát âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r” vậy. Nói thì đúng là sai, nhưng viết và hiểu thì chẳng sai đâu, đó là giọng Sài Gòn mà, nghe là biết liền. Mà cũng chẳng biết có phải là do thật sự người Sài Gòn không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài Gòn. Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy!” thì người Sài Gòn nói nó… thuận miệng và tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen!”. Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó. Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ “vâng”. Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”. Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói “vâng!” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt. Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi câu nói. “Mày ăn cơm chưa con ? – Dạ, chưa!”; “Mới dìa/dzề hả nhóc? – Dạ, con mới!”… Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó “thương” lạ…dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẳn hay. Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói “Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói “Hổm nay”, “dạo này”…người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng. Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều”, là “lắm”. Nói “Nhỏ đó [” nghĩa là khen cô bé đó lắm vậy.) Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau. Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất Nam Bộ chung mà. Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem…”Nhỏ đó [ lắm!”, “Nhỏ đó ngoan!”…Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như “cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi. Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu “Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề…nhìn phát bực!” Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm. Một người lớn hơn gọi “Ê, nhóc lại nói nghe!” hay gọi người bán hàng rong “Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!”… “Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người Sài Gòn. Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là “cho chén chè, cho tô phở”… “cho” ở đây là mua đó nghen. Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này “Lấy cái tay ra coi!” “Ngon làm thử coi!” “Cho miếng coi!” “Nói nghe coi!”… “Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè ? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà. Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi “mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?” – Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài Gòn à. Người Sài Gòn có thói quen hay nói “Sao kỳ dzậy ta?” “Sao rồi ta?” “Được hông ta?”…Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà. Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là… “bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!” Nguồn Operablog

EVA : PGS Bùi Hiền bị Chín.h Phủ từ chối thẳng’Không có chủ trương cải tiến chữ quốc ngữ’, toàn dân hết nỗi lo học lại!

Đời sống

PGS Bùi Hiền bị Chín.h Phủ từ chối thẳng’Không có chủ trương cải tiến chữ quốc ngữ’, toàn dân hết nỗi lo học lại!

PGS Bùi Hiền bị Chín.h Phủ từ chối thẳng’Không có chủ trương cải tiến chữ quốc ngữ’, toàn dân hết nỗi lo học lại!

Phó Thủ tư.ớng Vũ Đức Đam khẳng định, Chí.nh phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa có chủ trương cải tiến chữ quốc ngữ.

Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ không sử dụng đề xuất cải tiến chữ quốc ngữ của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hiền, nguyên Hiệu phó Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội đưa ra vào tháng 9 vừa qua tại hội thảo “Ngôn ngữ ở Việt Nam: Hội nhập và Phát triển”. Đây là khẳng định của Bộ trưở.ng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ theo yêu cầu của Thủ tư.ớng Nguyễn Xuân Phúc tại phiên họp Chí.nh phủ thường kỳ sáng nay (1/12).

Cũng theo Bộ trư.ởng Phùng Xuân Nhạ, trước đây có một số nhà khoa học đã đề xuất cải tiến tiếng Việt, tuy nhiên, việc này là không thể vì rất tốt kém, nhưng lại không có tác động gì lớn. Còn Phó Thủ tư.ớng Vũ Đức Đam khẳng định, Ch.ính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa có chủ trương cải tiến chữ quốc ngữ.

Đề xuất tiếng Việt gây sốc dư luận của PGS. TS. Bùi Hiền. (Ảnh: Dân trí)

Liên quan đến việc bạo hành trẻ em tại nhóm trẻ tư thục Mầm Xanh ở thành phố Hồ Chí Minh, Bộ trư.ởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ cho biết, ngay sau khi vụ việc này xảy ra, Bộ đã yêu cầu thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra toàn bộ các cơ sở giữ trẻ ở thành phố và tới đây Bộ sẽ đề nghị tổng kiểm tra toàn bộ các cơ sở này trong cả nước.

Thủ tư.ớng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, việc bạo hành trẻ em đã lặp đi lặp lại nhiều lần, vì thế, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Bộ Tài chính cần sớm tìm kiếm giải pháp để đầu tư xây dựng thêm các trường mầm non bằng cả vốn ngân sách và xã hội hóa. Nhưng vấn đề quan trọng nhất là phải quan tâm đến nhân cách, đạo đức và trình độ của các cô giáo và người giữ trẻ mầm non.
Theo VTV New

Xem thêm…
Tác giả cải tiến “Tiếq Việt”: ‘Bị chửi là ngu, tôi vẫn làm đến cùng’
“Nhiều người đã bỏ cuộc, nhưng tôi không nản chí, kể cả bị “ném đá” như hiện tại tôi vẫn cố gắng làm đến cùng để đưa ra công trình hoàn chỉnh. Được dùng hay không đó vẫn là tâm huyết của tôi muốn đóng góp cho đất nước” – PGS Bùi Hiền quả quyết.

Đề xuất cải tiến “Tiếq Việt” từ 38 chữ giảm còn 31 ký tự đón nhận sự “ném đá” rất nhiều từ cộng đồng mạng, xung quanh vấn đề này, PV Báo GĐ&XH đã có cuộc trò truyện với PGS. Bùi Hiền – nguyên Hiệu phó ĐH Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội, nguyên Phó viện trưởng Viện Nội dung & Phương pháp dạy – học phổ thông về đề xuất cải tiến tiếng Việt mà ông đang nghiên cứu.

Cải tiến nhằm dễ viết, dễ hiểu

– PV: Thưa ông, lý do gì khiến ông quyết tâm theo đuổi một công trình được coi là rất khó đó là cải tiếng chữ viết quốc ngữ?

PGS. Bùi Hiền: Trước tiên, tôi muốn giải thích sở dĩ đề xuất của tôi trở thành tâm điểm chú ý đó là bài viết trong cuốn kỷ yếu hội thảo khoa học. Báo chí lúc đầu quan tâm đưa lên, nhưng đưa chưa đầy đủ, vì chỉ chủ yếu xoáy vào cái đoạn trích “Luật Záo Zụk”, đưa kết quả trước, đưa giải thích sau, dẫn đến nhiều người không hiểu và “ném đá”.

Về lý do, trước đây đã có nhiều người bắt tay vào làm, cải tiến chữ viết quốc ngữ song đều thất bại. Cách đây mấy chục năm, tôi đã nhận ra một điều với Tiếng Việt, ngay cả nhiều người lớn, học bao nhiêu năm vẫn không “sạch nước cản”, viết sai chính tả, nhầm lẫn. Cần giản lược, bỏ hết những cái “rườm rà”, nên tôi nghĩ cần phải cải tiến hết.

– PV: Điểm mới của chữ viết Tiếng Việt mới khác với trước ở những điểm gì, thưa PGS?

PGS. Bùi Hiền: Chúng ta đều thấy, bảng chữ cái, phụ âm… chúng ta đang dùng hiện nay đều là quy ước, quy ước ký hiệu này thì nghĩa thế này, quy ước kí hiệu kia thì lại nghĩa thế kia… Các phụ âm như “ng”, “kh”… dùng nhiều, nhưng nó lại là thừa thãi, nhầm lẫn. Do đó, tôi quy ước lại, giản đơn đi cho dễ đọc, dễ hiểu hơn.

Giản lược của tôi theo nguyên tắc một ký tự một âm, chứ một ký tự không còn 2 – 3 âm như cũ. Tất cả các phụ âm ghép đều lược hết như “ng”, “nh”, “gh”, “kh”… đều không còn nữa, thay vào đó là các ký tự ví dụ như “q” hay “k”. Cách đọc thì vẫn như cũ, chỉ khác là ký tự thôi, không thay đổi về cách hiểu, cách đọc.

PGS Bùi Hiền và cuốn Kỷ yếu hội thảo có bài tham luận cải tiến chữ viết Tiếng Việt. Ảnh: Q.Anh

Vẫn tiếp tục nghiên cứu và… “trình làng”

– PV: Nhiều người nói rằng đề xuất của ông khó học, khó hiểu và nhiều người sẽ phải đi học lại như lớp 1, ông nghĩ sao về điều này?

PGS Bùi Hiền: Ai đó nói rằng sẽ phải “luộc lại” hết đội ngũ giáo viên, phải học lớp 1… Theo tôi, đã là cái mới thì phải học cái đó là bắt buộc, còn học bao lâu, có khó không mới đáng bàn. Theo cảm nhận của tôi, với những người lớn thì chắc mất khoảng vài giờ học nghiêm túc sẽ nhớ hết, đọc được, viết được.

Không phải bỏ cái này, thêm cái kia mà tôi không bỏ, tôi chỉ thay đổi giá trị, khi ghép lại sẽ đọc được ngay. Ngay cả một số người nói sẽ phải in lại sách, báo… tôi nghĩ, những cái cũ vẫn giữ lại, chúng ta đều đọc được, còn cái mới nếu áp dụng ta sẽ dùng cho in sách, hay văn bản mới.

– PV: Ông có bất ngờ về việc mình bỗng dưng nổi tiếng và nhận được sự quan tâm, cũng như bị “ném đá”?

PGS Bùi Hiền: Bất đắc dĩ trở thành người nổi tiếng, điều này khiến tôi bất ngờ vì tôi chưa công bố rộng rãi công trình. Những ngày đầu, tôi có vào mạng để đọc, tôi tìm hiểu xem lý do phản đối là gì để tôi chỉnh sửa, phản biện. Nhưng tôi không nhận được những góp ý nào cụ thể, mà chỉ có những ý kiến nói là khó, rắc rối, lãng phí…

Ngoài ra, rất nhiều người chửi bới, thóa mạ tôi trên mạng xã hội, nên tôi đã không còn vào mạng đọc nữa. Tôi già rồi, về hưu không màng chuyện tiếng tăm, mà đó là tai tiếng thì đúng hơn. Còn những người thân của tôi một số người ủng hộ, một số người lại lo cho sức khỏe của tôi.
ban quy uoc.jpg
Bảng quy ước rút ngắn ký tự phiên âm của PGS Bùi Hiền.

– PV: Ông có dự định gì cho công trình của mình và cảm thấy nhụt chí sau khi hứng luồng dư luận phản đối?

PGS Bùi Hiền: Với tất cả những gì mọi người đọc được, đó chỉ là một phần nằm trong báo cáo hội thảo khoa học, đây là phần 1, còn một phần nữa tôi đang tiếp tục làm.

Tôi không còn quan tâm tới những ý kiến chửi bới, phản đối. Tôi còn đang tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cho phần 2 là phần nguyên âm. Khi nào làm xong tôi sẽ “trình làng” xin ý kiến các nhà khoa học trước để xin ý kiến, góp ý.

Việc tôi làm là vì thấy bất hợp lý thì tôi làm, từ 40 năm rồi, tự tôi làm, không nhận bất kỳ một nguồn tài trợ, viện trợ nào cả. Nhiều người gọi tôi là “tiến sĩ ăn hại”, tôi thấy mình chưa làm hại ai cả, công trình nghiên cứu của tôi hoàn toàn góc độ cá nhân. Có ứng dụng hay không còn nhiều khâu thẩm định, nhưng triển khai hay không đó cũng là nghiên cứu tâm huyết, hoàn toàn không ảnh hưởng tới ai cả.

Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!

Eva.vn

http://tinexpress.net/pgs-bui-hien-bi-chin-h-phu-tu-choi-thangkhong-co-chu-truong-cai-tien-chu-quoc-ngu-toan-dan-het-noi-lo-hoc-lai/

Nhiều ý kiến trái chiều đề xuất ‘Tiếng Việt’ thành ‘Tiếq Việt’

Nhiều ý kiến trái chiều đề xuất ‘Tiếng Việt’ thành ‘Tiếq Việt’

25/11/2017 11:20 GMT+7

TTO – PSG-TS Bùi Hiền đề xuất bỏ chữ Đ ra khỏi bảng chữ cái tiếng Việt hiện hành và bổ sung thêm một số chữ cái tiếng Latin như F, J, W, Z.

Nhiều ý kiến trái chiều đề xuất Tiếng Việt thành Tiếq Việt - Ảnh 1.

PGS-TS Bùi Hiền đưa ra đề xuất trong bài viết Chữ quốc ngữ và hội nhập quốc tế đăng trong cuốn Ngôn ngữ ở Việt Nam – Hội nhập phát triển tập 1, do NXB Dân trí phát hành tháng 6-2017

Bài viết Chữ quốc ngữ và hội nhập quốc tế được đăng trong cuốn Ngôn ngữ ở Việt Nam – Hội nhập phát triển tập 1, do NXB Dân trí phát hành tháng 6-2017

Đề xuất cải tiến cách viết chữ Quốc ngữ của PSG-TS Bùi Hiền đang làm nóng dư luận. Nếu cải cách sẽ phải thay đổi từ nhận thức, cách học, cách dạy, thay đổi sách giáo khoa, các văn bản, sách báo, cả lập trình chữ viết trên máy tính…

PGS-TS Bùi Hiền – nguyên hiệu phó Đại học Sư phạm Hà Nội, nguyên viện phó Viện Nội dung và Phương pháp dạy học phổ thông – mới đề xuất cải tiến chữ viết Tiếng Việt được đề cập trong bài « Chữ quốc ngữ và hội nhập quốc tế » (trong sách Ngôn ngữ ở Việt Nam – Hội nhập phát triển tập 1, do NXB Dân trí phát hành).

Trong bài viết ông Bùi Hiền nhận xét: « Từ năm 1924, khi toàn quyền Đông Dương ký nghị định cho phép dạy chữ quốc ngữ bắt buộc ở cấp tiểu học, trải qua gần một thế kỷ, đến nay chữ quốc ngữ đã bộc lộ nhiều bất hợp lý, nên cần phải cải tiến để giản tiện, dễ nhớ, dễ sử dụng, tiết kiệm thời gian, vật tư… ».

Theo PGS-TS Bùi Hiền, những bất hợp lý trong tiếng Việt hiện nay gồm có việc sử dụng 2, 3 chữ cái để biểu đạt một âm vị phụ âm đứng đầu. Ví dụ C – Q – K (cuốc, quốc, ca, kali), Tr – Ch (tra, cha), S – X (sa, xa)…

Bên cạnh đó, lại có hiện tượng dùng 2 chữ cái ghép lại để biểu đạt âm vị một số phụ âm đứng cuối vần như Ch, Ng, Nh (mách, ông, tanh…).

Theo ông Hiền, bất hợp lý trên dẫn đến khó khăn cho người đọc, người viết, gây hiểu nhầm, hiểu không chính xác. Những người học là trẻ em hoặc người nước ngoài dễ mắc lỗi do đặc điểm phức tạp và không thống nhất trên.

Từ nhận định này, PGS Hiền kiến nghị một phương án làm cơ sở để tiến tới một phương án tối ưu trình nhà nước.

Chữ quốc ngữ cải tiến của tác giả Bùi Hiền dựa trên tiếng nói văn hóa của thủ đô Hà Nội cả về âm vị cơ bản lẫn 6 thanh điệu chuẩn, nguyên tắc mỗi chữ chỉ biểu đạt một âm vị, và mỗi âm vị chỉ có một chữ cái tương ứng biểu đạt.

Sẽ bỏ chữ Đ ra khỏi bảng chữ cái tiếng Việt hiện hành và bổ sung thêm một số chữ cái tiếng Latin như F, J, W, Z.

Bên cạnh đó, thay đổi giá trị âm vị của 11 chữ cái hiện có trong bảng trên, cụ thể: C = Ch, Tr; D = Đ; G = G, Gh; F = Ph; K = C, Q, K; Q = Ng, Ngh; R = R; S = S; X = Kh; W =Th; Z = d, gi, r.

Vì âm « nhờ » (nh) chưa có kí tự mới thay thế nên trong bản trên tạm thời dùng kí tự ghép N’ để biểu đạt.

PGS-TS Nguyễn Hữu Hoành, Phó Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học Việt Nam cho biết, vấn đề này đã được các nhà ngôn ngữ học trao đổi, đề cập rất nhiều nhưng không thể thay đổi được vì chữ viết liên quan tới văn hóa, lịch sử và nhiều vấn đề khác.

GS-TS Bùi Khánh Thế – chuyên ngành ngôn ngữ học, Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học và đào tạo Trường ĐH Ngoại ngữ – Tin học TP.HCM – cho rằng cải tiến tiếng Việt như đề xuất của ông Bùi Hiền sẽ làm mất đi sự tinh tế trong cách viết, đọc, phát âm tiếng Việt.

Đây cũng là lý do đã có nhiều hội thảo đề cập đến những điểm còn bất hợp lý của tiếng Việt nhưng không ai đủ thuyết phục cho rằng cần cải tiến chữ viết tiếng Việt.

Trao đổi thêm về đề xuất của mình trên cơ sở nhiều ý kiến trái chiều, ông Bùi Hiền khẳng định mặc dù việc cải tiến có những sự phức tạp, cần nhiều thời gian vì nếu thay đổi sẽ phải thay đổi từ nhận thức, cách học, cách dạy, thay đổi sách giáo khoa, các văn bản, sách báo, cả lập trình chữ viết trên máy tính… nhưng nếu quyết tâm vẫn có thể làm được, chỉ khoảng 1-2 năm sẽ quen dần.

Khá nhiều ý kiến khác xung quanh đề xuất gây sốc này, cho rằng hiện đã có quá nhiều đổi mới khiến người học mệt mỏi.

Vì thế không nên có thêm một đề xuất mà chỉ hình dung đã thấy rối.

Bạn đọc Tuổi Trẻ Online nghĩ sao về đề xuất của PGS-TS Bùi Hiền lẫn của các chuyên gia ngôn ngữ?

https://tuoitre.vn/nhieu-y-kien-trai-chieu-de-xuat-tieng-viet-thanh-tieq-viet-20171125111107896.htm