Catégorie : MINORITIES VIETNAM

WIKIPEDIA : Nhạc cụ người dân tộc thiểu số Việt Nam

Nhạc cụ người dân tộc thiểu số Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Buớc tưới chuyển hướngBước tới tìm kiếm

Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. Mời bạn giúp hoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ.
Wikimedia Commons có thư viện hình ảnh và phương tiện truyền tải về Nhạc cụ người dân tộc thiểu số Việt Nam
Mục lục 1 Alal 2 Aráp 3 Bẳng bu 4 Bro 5 Chênh Kial 6 Chul 7 Cồng, chiêng 8 Cò ke 9 Đàn đá 10 Đao đao 11 Đinh Đuk 12 Đuk đik 13 Goong 14 Goong đe 15 Hơgơr Prong 16 Kèn lá 17 Kềnh H’Mông (khèn Mèo) 18 Khèn bè 19 Khinh khung 20 K’lông pút 21 Knăh ring 22 K’ny (Kaní) 23 M’linh 24 M’nhum 25 Môi 26 Pi cổng 27 Pí đôi 28 Pí lè 29 Pí một lao 30 Pí pặp 31 Pí phướng 32 Pơ nưng Yun 33 Púa 34 Rang leh 35 Rang rai 36 Sáo H’Mông (sáo Mèo) 37 Ta in 38 Ta lư 39 Ta pòl 40 Tính tẩu 41 Tol alao 42 Tông đing 43 Tơ đjếp 44 Tơ nốt 45 T’rum 46 T’rưng 47 Vang 48 Tham khảo

Alal

Bài chi tiết: Alal

Alal là tên gọi theo tiếng Ba Na, dùng để chỉ nhạc cụ hơi có lưỡi gà rung tự do, khá phổ biến trong cộng đồng người Ba Na và một số dân tộc khác tại Việt Nam.

Aráp

Bài chi tiết: Aráp

Aráp là một bộ chiêng quý của người Bâhnar và Giơ Rai ở Việt Nam. Nhiều dân tộc ở Tây nguyên cũng sử dụng bộ chiêng này với tên gọi khác nhau. Người Ca dong gọi là h’leng goong, người Rơ măm gọi là guông t’gạt, người Stră gọi là guông chiêng…

Bẳng bu

Bài chi tiết: Bẳng bu

Bẳng bu là nhạc cụ hơi làm bằng tre phổ biến ở nhiều dân tộc vùng Tây Bắc, Việt Nam. Cái tên của nó xuất phát từ tiếng Thái. Nhạc cụ này dành riêng cho nữ giới, thường được dùng trong các nghi lễ mang đậm tính phồn thực, cầu mong cuộc sống bình yên và mùa màng bội thu.

Bro

Bài chi tiết: Bro

Bro là nhạc dây phổ biến trong một số dân tộc Tây Nguyên ở Việt Nam. Người Bâhnar, xê Đăng, giơ Rai và Giẻ Triêng thường sử dụng nhạc cụ này.

Chênh Kial

Bài chi tiết: Chênh Kial

Chênh Kial là nhạc cụ tự thân vang khi va đập. Cái tên của nó xuất phát từ tiếng Bâhnar tin rằng trong mỗi ống của chênh kial có những vị thần trẻ con reo vui khi gió thổi. Những vị thần này là con của thần gió nên khi gặp gió các thần rất vui mừng. Người treo chênh kial lên đầu hồi nhà Rông để cầu đừng ngưng gió vì nếu không có gió trời sẽ đổ mưa không sớm thì muộn.

Chul

Bài chi tiết: Chul

Chul là loại sáo phổ biến trong vài cộng đồng dân tộc ở Tây Nguyên, nhất là người Ba Na và Giơ Rai. Đây là loại sáo dành cho nam giới. Các chàng trai sử dụng sáo này để tỏ tình với các cô gái.

Cồng, chiêng

Bài chi tiết: Cồng, chiêng

Cồng, chiêngnhạc cụ dân tộc thuộc bộ gõ, được làm bằng đồng thau, hình tròn như chiếc nón quai thao, đường kính từ 20 cm (loại nhỏ) cho đến 60 cm (loại to), ở giữa có hoặc không có núm. Người Gia Rai, Ê Đê và Hrê gọi cả cồng lẫn chiêng là « chinh », còn người Triêng gọi cồng là « chênh goong » (loại có núm), gọi chiêng là « chênh hân » (không núm). Nhìn chung, còn khá nhiều cách gọi và phân biệt giữa hai nhạc cụ có núm và không núm này.

Cò ke

Cò ke là nhạc cụ có cung kéo của dân tộc Mường. Nó có cần đàn làm bằng một đoạn tay tre uốn thẳng, cắm xuyên qua một đoạn tre rỗng suốt 2 đầu. Đầu trên của cần đàn có lỗ để cắm trục chỉnh dây. Phía trước của đoạn ống được bịt bằng một mảnh mo măng tre hoặc một tấm da ếch, da trăn hay da rắn, giúp ống trở thành bộ phận tăng âm.

Cò ke có 2 dây đàn bằng xơ dứa hoặc tằm se, vuốt lá khoai. Người ta chỉnh 2 dây cách nhau 1 quãng bốn hoặc năm. Cung kéo là một miếng cật nứa được kéo cong lại bằng một túm xơ dừa hay lông đuôi ngựa. Cung kéo này nằm rời khỏi dây đàn, không bôi nhựa thông nhằm tăng thêm độ ma xát. Trước khi chơi nhạc cụ này, người ta nhúng túm xơ dừa hoặc lông đuôi ngựa vào nước. Trong lúc diễn, nếu thấy túm xơ dừa hay lông đuôi ngựa bị khô, họ nhổ nước bọt vào để làm ướt trở lại.

Âm thanh của cò ke không chuẩn vì dây mắc khá cao so với cần đàn, ngoài ra nó không có bộ phận chỉnh độ cao dây buông như ở đàn nhị.

Đàn đá

Bài chi tiết: Đàn đá

Đàn đá là một nhạc cụ gõ cổ nhất của Việt Nam[cần dẫn nguồn]. Đàn được làm bằng các thanh đá với kích thước dài, ngắn, dày, mỏng khác nhau.

Đao đao

Bài chi tiết: Đao đao

Đao đao là nhạc cụ của cộng đồng dân tộc Khơ Mú sống tại Việt Nam.

Đinh Đuk

Bài chi tiết: Đinh Đuk

Đinh Đuk là nhạc cụ hơi của vài dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Nhìn chung, người Bâhnar gọi nhạc cụ này là đinh tuk; riêng người Bâhnar ở vùng Măng Giang gọi là « hi hơ », người Giơ Rai gọi là « đinh dương ».

Đuk đik

Bài chi tiết: Đuk đik

Đuk đik là nhạc cụ của người Giẻ Triêng. Nó là 1 ống tre dài 64 cm, đường kính 8 cm với đầu này có mấu kín, còn đầu kia được vát bớt để làm tay cầm và tạo âm theo cao độ mà người thiết kế mong muốn.

Goong

Bài chi tiết: Goong

Goong là loại đàn dây phổ biến trong một số dân tộc sống ở tỉnh Kom Tum và Gia Lai. Nó còn được gọi là Tinh Ninh (Ting Ning) hay Teng Neng (cách gọi của người Bâhnar vùng Măng Giang và An Khê – Gia Lai) hoặc Puội Brol như người Giẻ Triêng ở huyện Đák Giây, Kom Tum gọi.

Goong đe

Bài chi tiết: Goong đe

Goong đe là nhạc cụ có cấu tạo giống như đàn goong, phổ biến ở tỉnh Gia Lai, thường do người Bâhnar sử dụng.

Hơgơr Prong

Bài chi tiết: Hơgơr Prong

Hơgơr Prong là loại trống rất lớn, không định âm của các dân tộc ở Tây Nguyên. Người Bâhnar gọi nó là hơgơr tăk hoặc p’nưng, người Giơ Rai gọi là hơgơr prong hoặc hơge m’nâng, còn người Êđê gọi đơn giản là hơgơr. Tuy nhiên, loại trống này còn có một cái tên tượng thanh phổ biến là « đùng » (nhiều dân tộc gọi).

Kèn lá

Bài chi tiết: Kèn lá

Kèn lá là nhạc cụ rất đơn giản, phổ biến trong các cộng đồng dân tộc ở Tây Nguyên. Người ta chỉ cần lấy 1 chiếc lá cây, cắt phần cuống, gấp đôi theo sống lá để có 1 chiếc kèn đơn sơ.

Kềnh H’Mông (khèn Mèo)

Bài chi tiết: Kềnh H’Mông

Kềnh là nhạc cụ thổi hơi của nhiều dân tộc anh em ở Việt Nam, người kinh gọi là khèn, vì thế kềnh H’Mông còn được gọi là khèn Mèo.

Khèn bè

Bài chi tiết: Khèn bè

Khèn là cách gọi loại kềnh của một số dân tộc của Đông Nam Á. Loại ở đây giống như chiếc bè nên gọi là khèn bè. Ở Việt Nam, người Giẻ Triêng gọi là Đinh Duar còn người Xơ Đăng gọi là Đinh Khén, người Vân Kiều gọi là Khên.Riêng người Ta Ôi gọi là Khèn

Khinh khung

Bài chi tiết: Khinh khung

Khinh khung là nhạc cụ thời tiền sử, vận hành bằng sức nước. Ở Việt Nam người Bâhnar gọi nhạc cụ này là khinh khung, còn người Giarai gọi là Goong klơng klơi.

K’lông pút

Bài chi tiết: K’lông put

K’lông put là nhạc cụ của một số dân tộc anh em ở Việt Nam. Người Giơ Rai gọi nó là Đinh pút, còn người Bâhnar ở vùng An Khê gọi là Đinh Pơl. Tuy nhiên cái tên K’lông pút đã trở nên quen thuộc với mọi người, dù ở trong hay ngoài nước.

Knăh ring

Bài chi tiết: Knăh ring

Knăh ring là bộ chiêng 6 chiếc, sử dụng phổ biến trong cộng đồng dân tộc Giơrai và Bâhnar ở Việt Nam.

K’ny (Kaní)

Bài chi tiết: K’ny

K’ny là nhạc cụ dây có cung vĩ của nhiều dân tộc sống ở vùng Bắc Tây Nguyên, Việt Nam, phổ biến rộng rãi trong cộng đồng Bahnar, Giơ Rai, Xê Đăng và Rơ Ngao…

M’linh

Bài chi tiết: M’linh

M’linh là nhạc cụ tự thân vang khi lắc chúng. Nhạc cụ này là những cái chuông đồng nhỏ phổ biến trong cộng đồng dân tộc Dao và Mường.

M’nhum

Bài chi tiết: M’nhum

M’nhum là bộ chiêng của người Giơ Rai ở Việt Nam. Nó dùng để đánh khi uống rượu. Cái tên của nó đã nói lên điều này (M’nhum là « uống rượu » trong tiếng Giơ Rai).

Môi

Bài chi tiết: Đàn môi

Đàn môi là từ người kinh ở Việt Nam gọi. Nó phổ biến hầu hết trong các cộng đồng dân tộc ở Việt Nam với nhiều tên gọi khác nhau. Trên thế giới nhiều nước cũng có đàn môi với tên gọi khác và chất liệu làm đàn cũng khác so với loại đàn môi ở Việt Nam.

Pi cổng

Bài chi tiết: Pi cổng

Pi cổng là nhạc cụ hơi của nhiều dân tộc ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Pi cổng là tên gọi theo tiếng Thái.

Pí đôi

Bài chi tiết: Pí đôi

Pí đôi là tên gọi theo tiếng Thái. Nhạc cụ này phổ biến trong cộng đồng người Thái đang sinh sống ở Việt nam.

Pí lè

Bài chi tiết: Pí lè

Pí lè là tên gọi theo tiếng Thái – Tày để chỉ nhạc cụ hơi có dăm kép.

Pí một lao

Bài chi tiết: Pí một lao

Pí một lao là nhạc cụ hơi phổ biến ở vùng Tây Bắc, Việt Nam. Tên nhạc cụ này xuất phát từ tiếng Thái, nhưng ngoài người Thái còn có người Kháng, người La Ha và Kha Mú sử dụng nhạc cụ này.

Pí pặp

Bài chi tiết: Pí pặp

Pí pặp là nhạc cụ hơi phổ biến ở cộng đồng người Thái, Việt Nam. Nó là một ống nứa dài từ 30 đến 40 cm, đường kính nho hơn hoặc bằng 1 cm.

Pí phướng

Bài chi tiết: Pí phướng

Pí phướng là nhạc cụ hơi của nhiều dân tộc ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Cái tên nhạc cụ này xuất phát từ tiếng Thái.

Pơ nưng Yun

Bài chi tiết: Pơ nưng Yun

Đây là loại trống vừa của người Bâhnar sinh sống ở Việt Nam. Người Gia Rai gọi nó là hơgơr ching arăp, người Mnâm gọi là hơgơr cân, người Hà Lang gọi là hơgơr tuôn, còn người Rơ năm gọi là Hơ huôl. Nhiều dân tộc Tây Nguyên còn gọi nó bằng 1 từ tượng thanh là « đơng ».

Púa

Bài chi tiết: Púa

Púa là nhạc cụ hơi, xuất phát từ tiếng H’Mông. Người H’Mông và Lôlô sống tại Việt Nam sử dụng phổ biến nhạc cụ này.

Rang leh

Bài chi tiết: Rang leh

Rang leh là nhạc cụ môi hơi phổ biến rộng rãi trong các cộng đồng dân tộc ở vùng Tây Nguyên, Việt Nam. Người Stră gọi nó là rôông gui, người Ca dong gọi là pôper, người Giơ Rai gọi là rang leh, còn người Việt gọi là đàn môi (xem mục đàn môi).

Rang rai

Bài chi tiết: Rang rai

Rang rai là một loại chũm chọe phổ biến trong nhiều cộng đồng dân tộc anh em ở Việt Nam, đặc biệt là người Bâhnar và Giơ Rai thường sử dụng nhạc cụ này.

Sáo H’Mông (sáo Mèo)

Bài chi tiết: Sáo H’Mông

Đây là nhạc cụ của người H’Mông ở miền Bắc Việt Nam. Nó thường được sử dụng để giải trí sau giờ phút lao động mệt nhọc.dung de tan nhung co gai trong cac le hoi cua nguoi mong.

Ta in

Bài chi tiết: Ta in

Ta in là nhạc cụ dây của dân tộc Hà Nhì, tỉnh Lai Châu Lào Cai, Việt Nam. Nó có cần đàn bằng gỗ rắn, bộ phận tăng âm bằng gỗ, hình chữ nhật có 4 cạnh vuốt tròn.

Ta lư

Bài chi tiết: Ta lư

Ta lư là nhạc cụ dây, phổ biến rộng rãi trong cộng đồng dân tộc Vân Kiều ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Việt Nam.

Ta pòl

Bài chi tiết: Ta pòl

Ta pòl là nhạc cụ của ngưởi Bâhnar, nhưng phổ biến trong nhiều cộng đồng dân tộc ở Tây Nguyên, Việt Nam. Người Giarai gọi nó là đinh bút hoặc đinh pơng, người Rơ Năm gọi là pang bôông, còn người Brâu gọi là đinh pu. Ngoài ra nó còn nhiều tên gọi khác tùy theo ngôn ngữ của những dân tộc Tây Nguyên.

Tính tẩu

Bài chi tiết: Tính tẩu

Tính tẩu là nhạc cụ khảy dây được dùng phổ biến ở một số dân tộc miền núi tại Việt Nam như Thái, Tày … Ở vài vùng thuộc Trung Quốc, Lào, và Thái Lan người ta nhận thấy cũng có nhạc cụ này.

Tol alao

Bài chi tiết: Tol alao

Tol alao là một loại đàn cổ sơ của người Bâhnar sinh sống ở Việt Nam. Nhạc cụ này cũng được người Ca dong sử dụng và gọi là tol alao như người Bâhnar. Đây là loại đàn dành riêng cho nữ giới. Các cô gái thường đánh cho các chàng trai thưởng thức.

Tông đing

Bài chi tiết: Tông đing

Tông đing là nhạc cụ gõ của dân tộc Bâhnar sinh sống ở Việt Nam. Người Giơ Rai cũng thường sử dụng nhạc cụ này với tên gọi là Teh ding. Người Ca dong gọi là Goong teng leng (teng leng là đánh ở trên).

Tơ đjếp

Bài chi tiết: Tơ đjếp

Tơ đjếp là nhạc cụ hơi có lưỡi gà rung tự do, phổ biến ở một số dân tộc vùng Tây Nguyên Việt Nam.

Tơ nốt

Bài chi tiết: Tơ nốt

Tơ nốt là nhạc cụ hơi của người Bâhnar có quan hệ mật thiết với các nhạc cụ săn bắn. Nó là nhạc cụ mang tính chiến đấu. Ngày xưa người ta dùng nó để báo tin cho cộng đồng biết đang có việc quan trọng. Ngày nay nhiều dân ở Tây Nguyên sử dụng nhạc cụ này.

T’rum

Bài chi tiết: T’rum

T’rum là bộ cồng 3 chiếc có núm của người Giơ rai sống ở Tây Nam Pleiku, Việt Nam. Mỗi chiếc có kích cỡ và tên gọi khác nhau.

T’rưng

Bài chi tiết: T’rưng

Đàn t’rưng là loại nhạc cụ gõ phổ biến ở vùng Tây Nguyên, đặc biệt là đối với dân tộc Giơ Rai và Bâhnar. Cái tên « t’rưng » xuất phát từ tiếng Giơ Rai, lâu ngày trở nên quen thuộc với mọi người.

Vang

Bài chi tiết: Vang

Vang là 3 bộ chiêng ba chiếc dành riêng cho Vua Lửa (Pơtau Pui) trong cộng đồng dân tộc Giơ Rai và vài dân tộc khác ở Việt Nam.

[ẩn]xtsCác nhạc cụ dân tộc Việt Nam AlalArápBẳng buBroCảnhChênh kialChiêng treChulChũm chọeCồng chiêngCò keĐàn bầuĐàn đáĐao đaoĐàn đáyĐàn hồĐàn môiĐàn nhịĐàn tamĐàn tranhĐàn tứĐàn tỳ bàĐàn nguyệtĐàn sếnĐing nămĐinh đukĐing ktútĐuk đikGoongGoong đeGuitar phím lõmHơgơr prongKèn bầuKèn láKềnh H’MôngKhèn bèKhinh khungK’lông pútKnăh ringK’nyM’linhM’nhumPháchPi cổngPí đôi / Pí pặpPí lèPí một laoPí phướngPơ nưng yunPúaRang lehRang raiSáo H’MôngSáo trúcSênh tiềnSong langTa inTa lưTa pòlTiêuTính tẩuThanh laTol alaoTông đingTơ đjếpTơ nốtTam thập lụcTrống cáiTrống cơmTrống đếTrống đồngTrống ParanưngT’rumT’rưngTù vàTỳ bàVang

Tham khảo

Thể loại:

https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%A1c_c%E1%BB%A5_ng%C6%B0%E1%BB%9Di_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c_thi%E1%BB%83u_s%E1%BB%91_Vi%E1%BB%87t_Nam

Vietnam’s 54 Ethnic Groups【 54 Sắc Tộc Việt Nam 】

Vietnam’s 54 Ethnic Groups【 54 Sắc Tộc Việt Nam 】

Ajoutée le 18 déc. 2009

Im making a video of the ethnic people of Vietnam.. I read some news about about harsh mistreatment of montgard.. the living conditions for minority group still very poor compared to urban dwellers…hope life gets better for them as the country grows At present there are 54 different ethnic groups inhabiting Vietnam, in which Kinh (Viet) people make up nearly 90% of the whole population, and 53 other ethnic groups represent over 10%. In order of appearance of the video Kinh Jingzu ( Kinh) Ha Nhi Tay Hoa Dao Lo Lo Khang Lu Xtieng Phu La Pa Then Mong (Hmong) Mang Co Ho Ro Mam Xinh Mun Thai Xo Dang Si La La Ha Cong Ngai Cho Ro Co Bo Y Nung Brau Hre La Hu Pu Peo San Diu Ra Glai Kho Mu Ba Na Giay Gia Rai Co Lao Lo Lo Ma Chut Gie Trieng Bru Van Kieu Muong Khmer Cham Ta Oi Chu Ru M’nong Brau Co Tu O Du La Chi Lao E De San Chay Each group of ethnic people have developed their own language and identity, thus making the Vietnamese culture, long known for its variety, a well blended combination of different cultures. For people to generalized what vietnamese should look like remember some points 1) Vietnamese is a nationality not an ethnicity 2) Majority are kinh (closest minority group in regards to physical looks and language is Muong, But for culture its Hoa) 3)Differnet physical appearance, dialects in each Region Bac Ky ( Tonkinese ) Trung Ky ( Annamese ) Nam Ky ( Cochinchinese ) (Southern Chinese Vietnamese ) called « Chợ Lớn (Northern Chinese Vietnamese) called « Chợ Nhỏ 4) Some viets may be mixed with a minority group or may not be aware of their family heritage Vietnamese language: – The Viet – Muong Group includes 4 ethnic groups: Chut, Kinh, Muong, Tho. – The Tay – Thai Group includes 8 ethnic groups: Bo Y, Giay, Lao, Lu, Nung, San Chay, Tay, Thai. – The Mon – Khmer Group includes 21 ethnic groups: Ba Na, Brau, Bru-Van Kieu, Cho Ro, Co, Co Ho, Co Tu, Gie Trieng, Hre, Khang, Khmer, Kho Mu, Ma, Mang, M’nong, O Du, Ro Mam, Ta Oi, Xinh Mun, Xo Dang, Xtieng. – The Mong – Dao Group includes 3 groups: Dao, Mong, Pa Then. – The Kadai Group includes 4 ethnic groups: Co Lao, La Chi, La Ha, Pu Peo. – The Nam Dao Group includes 5 ethnic groups: Cham, Chu Ru, Ede, Gia Rai, Raglai. – The Han Group includes 3 ethnic groups: Hoa, Ngai, San Diu. – The Tang Group includes 6 ethnic groups: Cong, Ha Nhi, La Hu, Lo Lo, Phu La, Si La. closest in term of physical appearance and language are the muong but their culture is more like Thai while in terms of culture Id say the Hoa Music: Cha Cha Cha 1 by Asia Golden

 

The Pà Thẻn (巴哼族人 – 瑶族) Ethnic Group in Vietnam

The Pà Thẻn (巴哼族人 – 瑶族) Ethnic Group in Vietnam

Ajoutée le 5 mars 2016

The Pà Thẻn (巴哼) people are an ethnic group closely related to the Hmong/Miao and Mien/Yao people, but they are officially recognized as their own people in Vietnam. Linguists have said that they speak part of the Miao-Yao (Hmong-Mien) language family cluster, and that their language is a divergent Miao language that branched off from the Miao language group. In China, they are categorized part of the Yao people (瑶族) where they lived in Hunan province, Guizhou province, and Guangxi province. They are known as Hong Yao (Red Yao 红瑶), Hua Yao (Flowery Yao 花瑶), and Ba Xing Yao (Eight Surname Yao 八姓瑶). Even though they are categorized as Yao people, linguists says that their language is more Miao, than Yao. It is believed this group of Pa Then migrated off from Guangxi province to Vietnam. In their legends, they believed their people began with 8 original clans (8 surnames) in the beginning of their people. They like the color red because it symbolized of hope and vitality. They wore red from top to bottom is because their ancestors saw the color red to be the symbol for fire birds living in the forests in which they respect and love very much. On Pa Then’s clothing also have a very important dog pattern as well. The dog on their clothing is said to be their ancestor’s savior. The Pa Then people were said to be left in hunger and cannot grow food. A dog swam over across from the other side of the sea to give them rice seeds, and feed themselves. From that point on their ancestors commemorate the dog on their clothing pattern very much in which have saved their people’s lives. From my overall thought about this group, I can say their stories and legends are very closely related to both Hmong/Miao, and Mien/Yao at the same time, but in Vietnam they are categorized as their own group because they do not see they are Hmong (H’Mong/Miao) or Mien (Dao/Yao).

TRAN Quang Hai : La musique vietnamienne depuis ses origines jusqu’à nos jours

La musique vietnamienne depuis ses origines jusqu’à nos jours

De la passion de sa vie, de ses connaissances larges et profondes et de son talent exceptionnel en musique, TRAN Quang Hai, ethnomusicologue, retraité du CNRS (Centre de recherche en Ethnomusicologie), nous présente l’histoire de la musique vietnamienne, des origines à nos jours, avec toutes ses composantes et ses caractéristiques.

Du Nord au Sud du Vietnam, chaque région et chaque peuple possèdent ses propres chants et ses instruments ce qui rend la musique traditionnelle vietnamienne extrêmement riche et diversifiée. Nombreuses sont ses composantes : la musique de cour, les musiques religieuses, la musique populaire… En 2008, la musique de cour a été inscrite sur la liste représentative du patrimoine culturel immatériel de l’humanité par l’UNESCO.

TRAN Quang Hai est à la fois musicien et chercheur en chant diphonique. Issu d’une famille de musiciens traditionnels depuis cinq générations du Vietnam, il a reçu une formation de dix ans de musique asiatique au Centre d’Etudes de Musique Orientale à Paris (1962-1972). Il a réalisé plus de 3000 concerts, a participé à plus de 120 festivals internationaux, a écrit de nombreux articles scientifiques et a enregistré nombres de CD et de films qui complètent sa carrière de musicien professionnel.

>> Pour en savoir plus sur Tran Quang Hai, consultez son site : http://tranquanghai.com

 

————TRAN Quang Hai, est né à Linh Dong Xa (Vietnam), il est issu d’une famille de musiciens traditionnels depuis cinq générations. En 1968, il entre comme ethnomusicologue au CNRS (Centre National de la Recherche Scientifique) jusqu’en 2009, où il prend sa retraite. Son domaine de recherche est la musique vietnamienne, la musique asiatique, et le chant diphonique sibérien.

Il est membre de nombreuses sociétés scientifiques dans le domaine de l’ethnomusicologie : Société d’Ethnomusicologie aux Etats-Unis depuis 1969, Conseil international de Musique Traditionnelle – ICTM depuis 1971 et membre du bureau exécutif depuis 2005, Société Française d’Ethnomusicologie comme membre fondateur depuis 1985, Société international de Guimbardes comme membre fondateur depuis 2000, …

Il a publié beaucoup de CD sur la musique traditionnelle du Vietnam (Grand Prix du Disque Charles Cros en 1983), de DVD sur le chant diphonique (2004, 2005, et 2006) et sur la musique du Vietnam (2000, 2009), un film sur sa vie (2005), et quelques centaines d’articles sur les musiques du monde et le chant diphonique.

Il a reçu la médaille de Cristal du CNRS (1995), la médaille du Chevalier de la Légion d’Honneur (2002), et la médaille d’honneur du Travail, catégorie Grand Or (2009).

  • Date de réalisation : 10 Octobre 2013
    Lieu de réalisation : Fondation Maison des Sciences de l’Homme – ESCoM-AAR – Réseau Asie – 190 avenue de France, 75013 Paris, France
    Durée du programme : 75 min
    Classification Dewey : Sociologie et anthropologie , Groupes raciaux, ethniques, nationaux, Culture et normes de comportement – Anthropologie sociale et culturelle, Histoire du monde. Civilisation, Sociologie de la danse, de la musique, du théâtre (sociologie des arts du spectacle), Méthodes, recherche, statistiques relatives à la musique, Musicologie, Analyse et histoire de la musique en relation avec les groupes ethniques, nationaux, raciaux particuliers, Ethnomusicologie
  • Catégorie : Entretiens
    Niveau : niveau Doctorat (LMD), Recherche
    Disciplines : Anthropologie et Ethnologie, Histoire, Sociologie, Musique
    Collections : TRAN Quang Hai
    ficheLom : Voir la fiche LOM
  • Auteur(s) : TRAN Quang Hai
    producteur : FMSH-ESCoM
    Réalisateur(s) : de PABLO Elisabeth, DO Thi Thanh Tam, NGUYEN Cong Khanh, LE Thi Thuong
  • Langue : Français
    Mots-clés : ethnologie, sociologie de la musique, Histoire des peuples, anthropologie culturelle, ethnomusicologie, Histoire de la musicologie, Sociologie de la vie quotidienne
    Conditions d’utilisation / Copyright : Tous droits réservés.

commentaires


Ajouter un commentaireLire les commentaires

Aucun commentaire sur cette vidéo pour le moment (les commentaires font l’objet d’une modération)

Dans la même collection