Catégorie : ĐỜN CA TÀI TỬ

Trần Phước Thuận: TỔ CỔ NHẠC BẠC LIÊU /Lê Tài Khị: Hậu tổ cổ nhạc Bạc Liêu

TỔ CỔ NHẠC BẠC LIÊU

Người đã khai sinh ra trường phái cổ nhạc Bạc Liêu, thường gọi ông là Nhạc Khị (1), từ lâu đã được giới nghệ sĩ cổ nhạc tôn xưng là Hậu Tổ. Tư tưởng và sáng tác của ông không những đã làm kim chỉ nam cho các hoạt động cổ nhạc ở Bạc Liêu, mà còn gây ảnh hưởng sâu rộng đến các phong trào ca nhạc cổ ở nhiều nơi, nhiều tỉnh ở Nam bộ trong những thập niên đầu thế kỷ XX. Có thể nói Nhạc Khị là cây đòn bẩy cứng cáp đã tạo được sức bật ban đầu trong quá trình phát triển cổ nhạc Nam bộ nói chung và Bạc Liêu nói riêng.

Đến nay tài liệu viết về Nhạc Khị còn quá ít, cuộc đời và sự nghiệp của ông không được ghi chép rõ ràng; mọi người đối với ông đều thực lòng tôn kính, ai cũng biết ông đối với sự nghiệp cầm ca có công rất lớn và thành quả của ông trên phương diện này mọi người đang thừa hưởng, nhưng đối với công lao của ông thì đa số anh em nghệ sĩ chỉ cảm nhận được qua trực giác, còn cụ thể như thế nào thì ít ai nắm bắt được. Khi bàn về đàn ca tài tử hay quá trình phát triển cổ nhạc người ta thường đề cập tới Nhạc Khị, nhưng đa số chỉ nói về tài nghệ hoặc vị trí của ông trong cổ nhạc chẳng khác một nhân vật huyền thoại, như trong Hồi ký 50 năm mê hát của Vương Hồng Sển có đoạn ghi : “Nếu phải kể công đầu đáng làm Hậu tổ Cải lương thì sao lại không kể ông Hai Khị ở Bạc Liêu… Ông Hai Khị đau cổ xạ, ngón tay co rút và ngo ngoe rất khó, thế mà ông có tài riêng không ai bắt chước được. Ai muốn thử tài cứ đến nhà, ban đầu ông dở mùng cho xem, chỉ thấy trống kèn, chụp choả trơ trơ ở trong ấy, thế rồi khách ra ngồi salon, ông Khị chun vô mùng một mình ên rồi bỗng nghe trọn bộ cổ nhạc khua động có tiết tấu nhịp nhàng y như có cả bốn năm người hòa tấu : trống xổ, kèn thổi, đờn kéo ò e, chụp chỏa lùng tùng xòa, các việc đều do Nhạc Khị một mình điều khiển. Không ai biết ông làm cách nào mà được như vậy … “Quả là diệu thuật”(2) và Huỳnh Minh trong tác phẩm Bạc Liêu xưa và nay cũng nói tương tự : “Nhạc sư Hai Khị tục gọi Nhạc Khị rất mực tài hoa, một mình Nhạc Khị sử dụng bốn món nhạc khí : Đẩu, bạt, kèn, phách tấu lên cùng một lúc, rất mực điêu luyện, ai cũng khen phục”(3)…

Nhạc Khị tên thật là Lê Tài Khí người trong xóm thường gọi Hai Khị. Ông sinh vào khoảng tháng 3 năm Canh Ngọ (1870) tại thôn Láng Giài thuộc tổng Thạnh Hòa (lúc đó thuộc phủ Ba Xuyên, nay là ấp Láng Giài thuộc huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu) và sống trọn đời ở đây cho đến khi mãn phần vào cuối năm Mậu Tý (1948), có vợ là bà Lê Thị Hai cũng là người cùng xóm, hai vợ chồng ông chỉ có hai con gồm một gái một trai tên Lê Thị Sang và Lê Văn Túc (Ba Chột – nhạc sĩ nổi tiếng cùng thời với Cao Văn Lầu).

Cha của ông là một thầy đàn, thấy con mình bị mù lòa(4), bệnh tật không thể học được nghề nào khác nên đã đem tất cả khả năng và sự hiểu biết của mình về nhạc để truyền thụ lại cho con. Nhạc Khị vốn là một cậu bé thông minh, lại có năng khiếu về đàn nên chẳng bao lâu đã hấp thụ toàn bộ sở học của người cha. Có điều cha của ông không phải là một thầy đàn giỏi nên ông chỉ học ở cha một số ít bài bản, nhưng ông lại không cam tâm dừng ở đó mà ngày đêm chuyên cần tự học, tự tìm hiểu, lại cố tạo mọi điều kiện để học những ngón hay, bản lạ của các thầy đàn cao tuổi. Nhờ tính kiên nhẫn và trí thông minh tuyệt vời, nên chẳng bao lâu ông đã trở thành một thầy đàn nổi tiếng, có thể nói là một nhạc sư giỏi nhất ở vùng Bạc Liêu.

Theo lời ông Cao Văn Hoài con thứ tư của nhạc sĩ Cao Văn Lầu thì trí nhớ của Nhạc Khị không thể tưởng tượng được – ông chỉ cần nghe ai đàn hoặc ca bất cứ bài bản nào trong một hai lần, ông đều có thể đàn hoặc ca lại giống y như thế; dù cho chữ đàn rắc rối đến đâu ông cũng lặp lại rất dễ dàng. Cho nên tuy ông không chính thức thọ giáo với ai ngoài cha ông nhưng tinh hoa của các thầy đàn lão luyện ở đây ông đều thụ đắc. Hơn thế nữa, những gì thụ đắc được ông đều tự cải biên cho phong phú hơn; bất cứ bài bản nào qua tay ông đều được sàng lọc và đẽo gọt rất kỹ càng.

Nhạc Khị là người Bạc Liêu đầu tiên có công trong việc canh tân, hiệu đính và hệ thống hóa hai mươi bản Tổ (5) để làm cơ sở cho cổ nhạc và cải lương Nam bộ. Ông lại có công đào tạo được nhiều nhạc sĩ nổi tiếng như: Sáu Lầu, Cai Đệ, Mười Khói, Ba Chột, Tư Bình, Hai Tài,Trịnh Thiên Tư, Mộng Vân, Thiện Thành, Tư Quận, Hai Tố, Năm Phát, Chín Khánh, Sáu Gáo, Mộc Thái, Tám Tu, Năm Nhu, Năm Nhỏ, Lý Khi… tạo được một lực lượng nhạc sĩ hùng hậu cho các ban nhạc cổ truyền, các phong trào đàn ca tài tử, ca ra bộ và cho sân khấu cải lương Nam bộ trong buổi đầu.

Ông được sinh ra và lớn lên trong thời kỳ tối đen của đất nước, thực dân Pháp xâm chiếm nước ta đặt ách thống trị trên toàn lãnh thổ, nhân dân ta phải sống trong cảnh cơ cực, lầm than. Các phong trào yêu nước liên tiếp nổi lên chống Pháp, những sĩ phu có tài thao lược thì lãnh đạo nhân dân vũ trang đánh giặc, những văn nhân thi sĩ thì sử dụng ngòi bút của mình để làm lợi khí công kích kẻ thù, trong giới cầm ca cũng có người dùng lời ca tiếng nhạc để cổ vũ tinh thần yêu nước – Lê Tài Khí là người đã từng tham gia vào việc làm tốt đẹp này.

Năm 30 tuổi, Nhạc Khị đã thành lập ban nhạc cổ, bề ngoài là một ban nhạc phục vụ các buổi ma chay, tiệc tùng, lễ lạc… để kiếm sống, nhưng thực chất đây là một “lò” đào luyện ca nhạc sĩ Bạc Liêu, cũng vừa làm phương tiện để tuyên truyền những bài ca yêu nước.

Việc đào tạo của ông cũng khác mọi người. Cách dạy đàn của ông không phải là để cho người học chỉ biết đàn mà phải biết sáng tác. Đối với ông, nghệ thuật dĩ nhiên phải mang tính nghệ thuật nhưng phải phục vụ con người và đất nước, vì vậy việc sáng tác chỉ xoay quanh các vấn đề hoàn cảnh đất nước, phải khắc họa được những hình ảnh trung thực nhất lúc bấy giờ. Để cụ thể hóa việc làm này, ông đã cải biên bài Nam ai cổ mang tên “Tô Huệ chức cẩm hồi văn” và từ đó rút ra chủ đề “Chinh phụ vọng chinh phu” để hướng dẫn học trò và các thành viên của ban nhạc sáng tác. Chủ đề này mang tính bi kịch cao, dễ làm xúc động lòng người, dễ nắn nót thành lời ca tiếng nhạc và tuy mượn tích xưa nhưng phản ánh rõ những gì trong hiện tại – đã chỉ ra cái nỗi khổ sầu, cái cảnh ly tan đau đớn có thật – cái cảnh mà người dân đang nặng mang. Ông muốn mượn câu ca tiếng đàn để gợi lại cái cảnh con xa cha, chồng xa vợ, gia đình ly tán – cái cảnh đoạn trường do giặc Pháp đã gây ra.

Học trò của ông và các thành viên ban nhạc đa số đều tiếp thu sâu xa lời dạy của ông, thừa kế tinh thần yêu nước nồng nàn của ông, họ đã sáng tác những tác phẩm tuyệt vời như : “Dạ cổ hoài lang” của Sáu Lầu; “Tam quan nguyệt”, “Liêu giang” của Ba Chột; một số lời ca: “Đưa chồng ra mặt trận”, “Chinh phụ thán”, “Sầu chinh phụ” của Trịnh Thiên Tư… Tuy mỗi người mỗi vẻ, nhưng cái chung vẫn là hình ảnh tái tê của người chinh phụ đang mỏi mắt trông chồng. Có một số người nói rằng ông Cao Văn Lầu sáng tác bản “Dạ cổ hoài lang” xuất phát từ hoàn cảnh gia đình, từ sự chia tay của hai vợ chồng ông; nhưng nếu ta so sánh bản “Dạ cổ hoài lang” và bản “Liêu giang” của ông Ba Chột thì sẽ thấy nội dung của hai bản này rất giống nhau, cũng đều là cái nỗi đau đớn tái tê của thiếu phụ đang mỏi mắt trông chồng ngoài biên ải, cũng là hình ảnh chinh phụ vọng chinh phu rất đau lòng đã được khắc họa thật sinh động trong tác phẩm “Tô Huệ chức hồi văn”. Rõ ràng các bản này đã được sáng tác cùng chung một chủ đề, dĩ nhiên nội dung của mỗi bản đều có đặc điểm riêng do hoàn cảnh chi phối, nhưng cái chung vẫn là sự hướng dẫn của thầy.

Nhạc Khị còn sáng tác nhiều nhạc phẩm được lưu hành rộng rãi ở Nam bộ từ đầu thế kỷ, tiêu biểu nhất là bốn bản: “Ngự giá đăng lâu” (14 câu nhịp 4), “Ái tử kê” (12 câu nhịp 4), “Minh Hoàng thưởng nguyệt” (18 câu nhịp 4) và “Phò mã giao duyên” (12 câu nhịp 4), đã được nghệ sĩ các nơi gọi là “Tứ Bửu”; điệu nhạc của các bản này vô cùng thống thiết, đã diễn tả được nỗi thương tâm cùng tột của con người sống trong cảnh nước mất nhà tan. Riêng bản “Ái tử kê”, khi sáng tác ông đã liên tưởng cái cảnh “chít chiu” của bầy gà con mất mẹ với cái cảnh thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình Huế đầu hàng giặc bỏ mặc người dân bơ vơ đau khổ, trong lúc xúc động ông đã sáng tác bản cổ nhạc hi hữu này – một nhạc phẩm tuyệt vời – điệu nhạc khi bổng khi trầm như oán như than, đã khắc họa được cái nỗi đoạn trường của người dân mất nước. Lúc đầu Nhạc Khị đặt tên cho tác phẩm của mình là “Ai tử kê” nhưng giữa hai từ ai và ái cũng na ná với nhau, nên sau đó người ta thường gọi bản này là “Ái tử kê Bạc Liêu”.

Nhạc Khị là người tiên phong xây dựng phong trào ca nhạc tài tử và ca ra bộ ở Bạc Liêu; có công hệ thống hóa và chỉnh tu các loại bài bản nhạc cổ ở Nam bộ; sáng tác những nhạc phẩm không những có nhiều ưu điểm về mặt nghệ thuật lại còn có tác dụng cổ vũ tinh thần yêu nước của người miền Nam trong những ngày đầu thế kỷ XX; ông đã đề ra chủ trương sáng tác rất phù hợp với nghĩa nước lòng dân, phù hợp với hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ và những chủ đề sáng tác đậm đà bản sắc dân tộc.

Nhạc Khị còn có công đào tạo một lực lượng lớn ca sĩ, nhạc sĩ, soạn giả cho các tổ chức ca nhạc cổ và sân khấu cải lương trong buổi đầu; hơn thế nữa ông là người đã khơi động được một phong trào sáng tác hùng mạnh, có thể nói vào bậc nhất ở Nam bộ từ đầu thế kỷ XX đến nay. Trong số người thừa kế sự nghiệp của ông, chỉ riêng bốn người: Cao Văn Lầu, Ba Chột, Trịnh Thiên Tư và Mộng Vân cũng đã có một số lượng tác phẩm đồ sộ – kể cả về phẩm lẫn lượng đều chiếm một khoảng lớn trong kho tàng cổ nhạc Việt Nam.

Cũng do những đóng góp có nhiều điểm ưu việt như thế, nên không riêng gì giới nghệ sĩ Bạc Liêu mà cả một số lớn ca nhạc sĩ ở các nơi khác đều gọi Nhạc Khị là Hậu Tổ và đều thành tâm chiêm bái, tưởng niệm ông vào ngày giỗ tổ cổ nhạc 12 tháng 8 âm lịch hằng năm. Nhạc Khị quả là một con người tàn nhưng không phế – một con người tưởng chừng đã bỏ đi, nhưng lại trở thành con người hữu dụng, thật là một tấm gương cần cù lao động tốt cho mọi người; thành quả của ông đã chứng minh được trong mỗi con người chúng ta đều có một năng lực tiềm ẩn vô cùng to lớn, nếu phát huy đúng hướng đúng chỗ sẽ mang lại những lợi ích thật tuyệt vời cho đời sống con người và xã hội.



Chú thích :

(1) – Trong những thập niên trước, người Bạc Liêu ít khi gọi những thầy đàn cổ nhạc là nhạc sư hay nhạc sĩ, mà chỉ gọi vắn tắt là “nhạc” cộng thêm cái tên của người đó. Từ “nhạc” vừa để chỉ nghề nghiệp vừa để chỉ tính chất chuyên nghiệp, lâu dần trở thành một thành tố của tên người .

(2) – Vương Hồng Sển, Hồi ký 50 năm mê hát, trang 37-38, Nxb Phạm Quang Khai, Sài Gòn – 1966.

(3) – Huỳnh Minh, Bạc Liêu xưa và nay – 1966, trang 191.

(4) – Thật ra Nhạc Khị chỉ bị thông manh, hai mắt ông tuy không trông thấy nhưng người ngoài nhìn vào vẫn tưởng như người mắt sáng.

(5) – Sáu bản Bắc (Lưu thủy, Phú lục, Bình bán, Cổ bản, Xuân tình, Tây thi); bảy bản Lớn (Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Tiểu khúc, Vạn giá, Xàng xê); ba bản Nam (Nam xuân, Nam ai, Đảo ngũ cung); bốn bản Oán (Phụng hoàng, Phụng cầu, Giang nam, Tứ đại). Hai mươi bản Tổ này đã được Nhạc Khị cải biên và áp dụng giảng dạy; sau đó đã được các đệ tử của ông là Cao Văn Lầu, Lê Văn Chột, Trịnh Thiên Tư, Trần Tấn Hưng, Lý Khi ghi chép và truyền bá ở Nam bộ.


Trần Phước Thuận

ĐẶNG HOÀNH LOAN : Nhạc sư – Nghệ sỹ Ưu tú Ba Tu

Nhạc sư – Nghệ sỹ Ưu tú Ba Tu

Dang Hoanh Loan Published on Jul 2, 2018 Bậc thầy Đờn ca tài tử: Nhạc sư – Nghệ sĩ Ưu tú Ba Tu đã nhập môn cho tôi về lối học nhạc đờn tài tử Nam bộ. Hôm nay, sau hơn 5 năm Đờn ca Tài tử Nam Bộ được thế giới vinh danh là « Di sản Văn hóa phi vật thể Đại diện của nhân loại » tôi trích đôi lời giải thích của nhạc sư Ba Tu về nhạc đờn tài tử thành một video. Đây là lời cám ơn chân thành của tôi tới Tài tử bậc thầy Ba Tu, người đã nhập môn cho tôi về nhạc đàn Tài tử. Video cũng là nguồn tư liệu chân thật, gửi tới các bạn, những người muốn tìm hiểu, hoặc có í định nhập môn hình thức âm nhạc truyền thống tuyệt vời này.

Hoàng Vũ-Hoàng Thành-Hoàng Phúc hòa tấu 12 câu phụng hoàng & vọng cổ 1,2,6

Hoàng Vũ-Hoàng Thành-Hoàng Phúc hòa tấu 12 câu phụng hoàng & vọng cổ 1,2,6

Cổ nhạc nam bộ
Published on Mar 3, 2018




– Đăng ký kênh Youtube để xem các Video karaoke Cổ nhạc, Karaoke nhạc trữ tình, tiếng đàn, tiếng hát của các nhạc sĩ và nghệ sĩ. – Kênh sẽ luôn cập nhật tạo ra các Karaoke và CD hay cho các người mộ điệu bộ môn Tài tử Cải lương Việt Nam.

CD hòa tấu Vọng cổ cực hay, rất êm dịu & sâu lắng | Ngón đờn của NS Minh Nhàn – Vũy Khanh & Mỹ Giàu

CD hòa tấu Vọng cổ cực hay, rất êm dịu & sâu lắng | Ngón đờn của NS Minh Nhàn – Vũy Khanh & Mỹ Giàu

Cổ nhạc Vàng Published on Dec 24, 2017 CD Hòa tấu Vọng cổ, bao gồm các thể điệu: 1. Lý con sáo – Vọng cổ 1,2,6 (Dây Đào) 2. Văn thiên tường – Vọng cổ 4,6 (Dây Kép)

Tài tử Văn Giỏi

 Tài tử Văn Giỏi

Dang Hoanh Loan Published on Jul 30, 2018 Văn Giỏi họ Trần, sinh 1947 tại Long Trung, huyện Cai Lạy, tỉnh Tiền Giang trong một gia đình trung lưu. Hai bên nội, ngoại của Văn Giỏi rất nhiều người biết đờn hát. Năm 14 tuổi Văn Giỏi chính thức học đờn. Tới năm 22 tuổi (năm 1969) Văn Giỏi lên Sài Gòn lập nghiệp. 50 năm hành nghề, Văn Giỏi không chỉ biểu diễn và dạy đàn, ông còn bỏ công sáng tác hai bản đàn: Đoản khúc Lam Giang và Phi Vân Điệp khúc. « Mục đích sáng tác là làm bài học và bài biểu diễn cho học trò. Và cũng để có cái phần mới mẻ cho các em sau này. Những bài này còn dùng để vô trong những tuồng Cải Lương » như ông đã từng nói.


Ngón đờn đã làm ngất ngây biết bao trái tim người mộ điệu Cải lương | Hoàng Vũ – Huỳnh Tuấn & Út Tỵ

Ngón đờn đã làm ngất ngây biết bao trái tim người mộ điệu Cải lương | Hoàng Vũ – Huỳnh Tuấn & Út Tỵ

Danh sách các bài NS Hoàng Vũ – NS Huỳnh Tuấn & Nghệ nhân Út Tỵ hòa tấu gồm: 1. Sương chiều – Tú anh (Tone: Phaser + Harmonist) 2. Liên Nam (Nam Xuân – Nam Ai – Nam Đảo | Tone: Normal + Phaser + Chorus + Harmonist) 3. Lý Giao Duyên – Vọng cổ 1,2 (Đào) – Lý Con Sáo – Vọng cổ 5,6 (Đào) (Tone: Normal + Phaser + Chorus + Harmonist)


Nhạc sư Huỳnh Hữu Trí ở Tây Ninh

Nhạc sư Huỳnh Hữu Trí ở Tây Ninh

Dang Hoanh Loan Published on Dec 4, 2018 Huỳnh Hữu Trí, sinh 1961 tại Tây Ninh. Ông là nhạc sư của Bộ nhạc Trung ương Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh. Tôi đã được chuyện trò với ông về nhiều vẫn đề về nghệ thuật âm nhạc của tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh. Ông am hiểu sâu về nhạc lễ của tòa Thánh và chơi đờn cũng rất hay nhiều bài bản đờn Tài tử Nam Bộ. Tôi trích giới thiệu tới quý vị đôi đoạn về cuộc chuyện trò này.

Dương Kim Thoa : Lại phải viết về Song Lang

Lại phải viết về Song Lang

Vì không còn làm mảng văn hóa – văn nghệ nên đáng lẽ mình đã không đi xem phim này. Nhưng rồi mình vẫn phải đi xem khi thấy các chị đồng nghiệp làm mảng này xem phim tới tận lần thứ 3 và khen nức nở. Ban đầu mình còn chọc, nhưng rồi phải thành thực thú nhận, mình cũng đã xem nó tới 2 lần

Vì xem phim trong những ngày ra rạp cuối cùng của Song Lang nên thoạt tiên mình chỉ viết những dòng này với mục đích để ghi lại những ngẫm nghĩ cho riêng mình.

Nhân chuyện Song Lang đang dự giải tại LHP Quốc tế Tokyo (TIFF 2018), mình muốn chia sẻ lại những cảm xúc cá nhân về bộ phim , để nếu ai chưa xem, có thể tìm cách nào đó xem lại, và để ủng hộ đạo diễn trẻ tài năng Leon Quang Lê và các bộ phim khác của anh:

******

Xem Song Lang để thương thêm văn hóa dân tộc

Đã rất lâu rồi khán giả mới lại được xem một bộ phim gợi nhiều cảm xúc và suy ngẫm đến vậy. Có thể bởi nỗi thất vọng với phim Việt từ lâu quá lớn, tới mức thành định kiến. Nhưng cũng có thể bởi Song Lang quá xuất sắc.

Bộ phim đã cho thấy Leon Quang Lê là một đạo diễn có tài. Mặc dù một phần nào đó nó tạo ấn tượng đặc biệt còn bởi thực sự nó là sự dứt ruột của lòng anh mà ra. Nghệ thuật thứ bảy sẽ còn tiếp tục thử thách tài năng của anh ở những gì không phải là “dứt ruột” như vậy nữa.

Đạo diễn đã kết hợp tài tình và khéo léo những kỹ thuật quay phim đặc sắc của phương Tây, song lại vận dụng được cả những ẩn dụ rất tinh tế của văn hóa Á đông, một khả năng không dễ có ở những đạo diễn Việt kiều còn trẻ như Leon Lê.

Tài năng của đạo diễn còn thể hiện ở hai phương diện rất đặc biệt của bộ phim: Thực thì rất thực, song cái thực lại cũng đầy tính ẩn dụ.

Trước hết, hãy nói về cái thực. Rất nhiều người Sài Gòn trải qua giai đoạn sống của những năm 80 thế kỷ trước nhận ra ngay khung cảnh, vật dụng, không khí sống thời ấy qua những cảnh trí trong phim.

Đó là logo của hãng máy khâu Sinco đặt trên những tòa nhà cao tầng tập thể, là chiếc đài dò sóng thủ công, là chiếc loa phường phát không ngơi nghỉ, là những khu phố nhỏ hẹp, chằng chịt dây điện và những lối cầu thang xoắn vặn cọt kẹt cửa sắt….

Để có được cái thực ấy, đạo diễn đã chăm chút tới từng tấm áo, manh quần diễn viên, từng kiểu tóc, từng chi tiết nhỏ xuất hiện trong mỗi khuôn hình, để nhìn vào đó người ta phải thấy nó không thể là đâu khác ngoài Sài Gòn của những năm 80 thế kỷ 20.

Vì sự kỹ càng đó mà góc máy gần như không thể rộng rãi, thậm chí với một số người có thể cảm thấy đôi chút “bức bối” với những khuôn hình hẹp. Bởi những gì của Sài Gòn xưa đó giờ không còn nhiều. Cảnh đường phố nếu có quay rộng hơn, cũng chỉ có thể xuất hiện ban đêm.

Nhưng giữa những điều rất thực ấy là các ẩn dụ đầy ấn tượng. Cảnh cơn mưa trút xuống rửa sạch những dòng máu chảy ra từ tấm thân đổ gục của Dũng Thiên Lôi là một hình ảnh ẩn dụ sẽ không thể có trong một bộ phim như vậy nếu đạo diễn không phải người thấm rất nhuần văn hóa Á đông.

Thực sự Song Lang đã chọn được một câu chuyện kịch bản rất phù hợp để đan lồng với ở cải lương Mỵ Châu – Trọng Thủy. Chuyện đời nhân vật và tích tuồng đã hòa quyện, đan xen nhau rất vừa, rất nhuyễn. Sẽ không dễ để đan lồng như vậy với một tích tuồng khác.

Đúng như những gì đạo diễn Leon Lê từng chia sẻ với truyền thông. Bộ phim có một phần câu chuyện của đời anh, của niềm đam mê với cải lương từ tấm bé. Leon Lê viết kịch bản, anh còn soạn cả lời cho một số bài bản cải lương trong phim. Riêng với việc này, anh sẽ là đạo diễn “có một không hai” của Việt Nam cho tới nay, và hẳn cả về sau này, có thể làm điều đó.

Soạn lời đúng (chưa nói chuyện hay) cho các bài bản không đơn giản, anh phải rất nhuyễn các bài bản cổ của đờn ca tài tử, vínhư các bản xuất hiện trong phim là Trường Tương Tư, Lý Bông dừa, Nặng tình xưa, Nam ai (lớp mái)….

Rất nhiều nghệ sĩ cải lương gạo cội, như Hữu Châu, đã bày tỏ lòng cảm kích với đạo diễn vì cái tình quá lớn với cải lương trong Song lang. Cái tình đó, thật lạ kỳ, không chỉ thấm vào lòng những người vốn sinh ra ở vùng đất cải lương. Có lẽ Leon Lê đã rời quê hương quá lâu nên đủ sức dồn nén cái tình đó một cách chắt lọc và sâu lắng ở mức mộc mạc, giản dị tới chân thành, lan tỏa trong cách kể chuyện phim.

Với nhiều người xem, họ không chịu được một cái kết quá bi kịch của Song lang. Họ cũng như Dũng Thiên Lôi, hồ hởi với một chút hy vọng lóe lên “cuối đường hầm”, nhưng rồi lại chưa kịp tìm tới đó. Cải lương hầu như không có tích, tuồng vui. Và thường thì bi kịch luôn mang ý nghĩa thanh lọc tâm hồn.

Với Song lang cũng vậy. Cái chết của Dũng Thiên lôi là một bi kịch. Nó gần như sự nhức nhối ta từng có ở chi tiết cuối cùng khi Chí Phèo của Nam Cao đau đớn hỏi “Ai cho tao lương thiện?”. Dũng Thiên Lôi phải trả giá cho những lầm lỗi cuộc đời đã gây ra, ngay cả khi anh đã nhận ra sự tàn bạo, thất đức trong những việc phải làm để sống.

Thêm một chuyện có thể coi là bên lề, là người dịch sách, thi thoảng tôi lại bật cười khi đọc phần phụ đề bằng tiếng Anh. Không phải vì chất lượng chuyển ngữ, mà vì sự bất lực của ngôn ngữ dịch không sao chuyển tải được.

Khi “Trọng lang” dịch thành “husband”, khi “Phụ vương” dịch thành “father”, tất cả cảm xúc cổ kính và mỹ miều của cải lương đã “mất sạch”. Nghĩa cốt lõi thì vẫn là vậy, nhưng rõ ràng chẳng thể nào chuyển được vẻ đẹp cảm xúc tuyệt vời của ngôn ngữ nữa. Chuyện này biết từ lâu, nhưng khi “kiểm chứng” từ phim thì thực sự tiếc nuối cho cái “dịch là phản” đó.

https://tuoitre.vn/song-lang-phim-ve-cai-luong-chieu-o-toky…

Trong hình ảnh có thể có: 2 người
Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang ngồi và trong nhà