Catégorie : ĐẶNG HOÀNH LOAN

Đặng Hoành Loan tiểu sử (1943 -)

Đặng Hoành Loan

Đặng Hoành LoanSubmitted by quantri on 02/09/2016 – 01:24

Đặng Hoành Loan

Chuyên ngành nghiên cứu – lý luận

Ông có bút danh Đặng Nguyễn, sinh ngày 22 tháng 12 năm 1943 tại thị xã Hà Đông. Quê ở Chương Mỹ, Hà Tây. Nguyên Phó Viện trưởng Viện Âm nhạc kiêm Trưởng ban biên tập tạp chí Thông báo khoa học Viện Âm nhạc. Ông đã nghỉ hưu, hiện ở quận Cầu Giấy, Hà Nội.

Hơn 40 năm hoạt động âm nhạc, ông là một trong những nhạc sĩ năng động, sáng tạo trên nhiều lĩnh vực: biểu diễn, sáng tác, chỉ huy, nghiên cứu, lý luận âm nhạc và cả quản lý. Từ 1959-1963, ông học và tốt nghiệp Khoa Nhạc cụ dân tộc Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam). Từ năm 1964-1975, ông chỉ huy Dàn nhạc Đoàn Ca Kịch Liên khu V. Từ năm 1976, ông là cán bộ nghiên cứu, sưu tầm Viện Âm nhạc. Đến năm 1996, ông làm Phó Viện trưởng Viện Âm nhạc kiêm Trưởng ban biên tập tạp chí
Thông báo khoa học Viện Âm nhạc.

Những công trình nghiên cứu âm nhạc tiêu biểu:

Tìm hiểu cấu trúc âm nhạc trong lớp Tuồng Võ Tam Tư

(tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 1990),

Một phác thảo về âm nhạc dân gian và cổ truyền Quảng Trị

(sách
Âm nhạc cổ truyền Quảng Trị,
Viện Nghiên cứu Âm nhạc và Sở Văn hóa Thông tin Quảng Trị, 1997),

Phát triển âm nhạc truyền thống – mục tiêu, kết quả và những tồn tại

(sáchkỷ yếu Hội thảo khoa học

Phát triển âm nhạc truyền thống – ý nghĩa văn hóa và thành tựu nghệ thuật,

Bộ Văn hóa Thông tin, 2004);
Ca trù – những điều trông thấy
(sách
Đặc khảo Ca trù Việt Nam,
Viện Âm nhạc, 2006);
Cồng chiêng Tây Nguyên – không mà có
(tạp chí Di sản văn hóa, Bộ Văn hóa Thông tin, 2007).

Ngoài lĩnh vực nghiên cứu – lý luận, ông còn tham gia nhiều hoạt động âm nhạc khác, đặc biệt là sáng tác nhạc hòa tấu và nhạc hát. Một số tác phẩm tiêu biểu:
Huyền sử chiêng đồng
(poème ballet, 1990),
Nghe kể H’Ri
(nhạc múa),
Suối đàn T’rưng hát
(hòa tấu 20 đàn T’rưng); sáng tác âm nhạc cho 5 vở kịch hát mới:

Quạ thần và pho tượng đá, Trầu Cau, Chốn quan trường, Thiên kim tình hận


Phạm Công – Cúc Hoa.
Ông đã có 2 album âm nhạc:
Chuyện tình núi và sông

Dự cảm
(Nxb. Âm nhạc, 2007).

Với những đóng góp của mình, ông đã được tặng thưởng: Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba, Bằng khen Chính phủ và Huy chương 25 năm ngành Văn hóa.

PGS Đặng Hoành Loan: Nên có một bảo tàng mang tên GS Trần Văn Khê

PGS Đặng Hoành Loan: Nên có một bảo tàng mang tên GS Trần Văn Khê

Dân trí

Theo Phó Giáo sư, nhạc sỹ Đặng Hoành Loan, với những cống hiến và đóng góp của GS Trần Văn Khê chúng ta nên có một bảo tàng, giới thiệu trưng bày những tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học nghệ thuật của ông.

Giáo sư Trần Văn Khê

Giáo sư Trần Văn Khê ra đi để lại sự tiếc thương đối với gia đình và những người yêu mến ông. Theo PGS, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, hiếm có một GS nào có tình yêu âm nhạc truyền thống như GS Trần Văn Khê.

GS Trần Văn Khê được biết đến như một bậc đại thụ, trưởng bối với nhiều đóng góp và cống hiến cho nền âm nhạc Việt Nam. Chính vì thế, thông tin về sự ra đi của GS Khê khiến cho không ít người cảm thấy đau xót, bàng hoàng. Phó Giáo sư, nhạc sỹ Đặng Hoành Loan – người từng có nhiều cơ hội được tiếp xúc, làm việc với GS Khê cũng không giấu nổi xúc động cho biết, ông cảm thấy mất mát và hụt hẫng như mất đi một người thân trong gia đình. 

Đối với nhạc sỹ Đặng Hoành Loan, GS Trần Văn Khê vừa là một người thầy, vừa là một tấm gương mẫu mực về quá trình lao động nghệ thuật, sự đam mê và cống hiến hết mình cho công việc. Theo nhạc sỹ Đặng Hoành Loan, cả cuộc đời GS Trần Văn Khê vẫn đeo đuổi chỉ một công việc: nghiên cứu, giảng dạy, quảng bá giá trị đặc sắc của âm nhạc truyền thống Việt Nam và góp phần vinh danh giá trị đó ở khắp mọi nơi trên thế giới. 

Với GS Trần Văn Khê, âm nhạc truyền  thống là một thứ quốc hồn, quốc túy. Ông không bỏ lỡ một dịp nào để đem lời ca, tiếng nhạc Việt Nam đến khắp năm châu dù đó là những lần thuyết trình trên các đài truyền thanh, truyền hình hay trong các chuyến đi tham dự hội nghị âm nhạc. Chính vì thế, nhắc đến GS Trần Văn Khê người ta nhắc đến một thư viện sống, một bách khoa toàn thư về âm nhạc truyền thống Việt Nam. Chính Giáo sư Khê là người đã có công góp sức rất lớn vào việc thẩm định Hồ sơ Nhã nhạc cung đình Huế và được giao trọng trách thẩm định hồ sơ cồng chiêng Tây Nguyên.

Ông đã chứng minh được những nét đặc sắc, độc nhất vô nhị của hai loại hình nghệ thuật này. Không lâu sau đó, Nhã nhạc cung đình Huế, cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Theo GS Đặng Hoành Loan, phải nghe GS Khê nói về cội nguồn âm nhạc dân tộc, mới cảm được hết cái tình của một người nhạc sĩ suốt đời say mê nghiên cứu, sưu tầm, phổ biến âm nhạc truyền thống Việt Nam. Ông rất bác học, tinh tế nhưng lại rất mộc mạc, giản dị và đời thường. Hiếm có một vị giáo sư nào mà vừa có thể thuyết giảng, diễn thuyết minh họa về  chèo, tuồng, cải lương, hát bài chòi, hò Huế, hò lục tỉnh… lại vừa đàn, vừa ca “mượt mà” được như ông. 

PGS, Nhạc sỹ Đặng Hoành Loan. (Ảnh: NNVN)

PGS, Nhạc sỹ Đặng Hoành Loan. (Ảnh: NNVN)

Nhạc sỹ Đặng Hoành Loan xúc động kể:  “Điều rất khó tìm ra ở một Giáo sư như ông đó là tình yêu, sự hết mình với âm nhạc Việt Nam. Trong nhiều năm liền, bác miệt mài nghiên cứu, xây dựng những bộ đĩa âm thanh của những nghệ nhân như Quách Thị Hồ, ông Năm Ngũ… để đề cử với hội nghị âm nhạc thế giới. Cũng chính ông là người trực tiếp đề xuất hỗ trợ, trợ cấp cho các nghệ nhân ưu tú với mong muốn thúc đẩy, cổ vũ sự phát triển của loại hình nghệ thuât truyền thống đối với đông đảo tầng lớp xã hội. Rất nhiều học trò của ông trên khắp thế giới cũng được “truyền lửa” và có những đóng góp lớn cho nên âm nhạc Việt Nam”.

Trước đây, khi nhạc sỹ Đặng Hoành Loan còn công tác ở Viện âm nhạc Việt Nam cũng đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình của GS Trần Văn Khê: “Hồi đó ông còn đang ở nước ngoài, nhưng hầu như lần nào về Việt Nam ông cũng đến Viện âm nhạc thăm, động viên tinh thần anh em ở đó. Tôi nhớ có lần, khi trông thấy kho tư liệu với rất nhiều băng đĩa, tài liệu cổ được chúng tôi cất giữ, bảo quản cẩn thận, ông đã nắm tay tôi xúc động và nói: Bằng mọi giá phải giữ được những thứ này, đó là tài sản vô giá mà không thể đánh đổi bằng bất cứ thứ gì”.

GS Khê làm việc miệt mài, ngay cả khi sức khỏe kém phải ngồi xe lăn. Nhạc sỹ Đặng Hoành Loan kể,  không chỉ là người đứng ra tổ chức, xây dựng các chương trình khơi lửa tình yêu âm nhạc truyền thống, ông còn dành nhiều thời gian cho các hội thảo khoa học trong nước, quốc tế. Căn nhà rộng gần 200m2 của ông tại quận Bình Thạnh được ông biến thành không gian sinh hoạt của những người yêu âm nhạc truyền thống. 

Cứ đều đặn hàng tuần nhiều thành phần, tầng lớp xã hội lại cùng gặp gỡ, trò chuyện. Họ đơn giản chỉ là sinh viên, người bán nước, hay đến cả giáo viên, kỹ sư nhưng cùng có chung niềm đam mê với các loại hình nghệ thuật truyền thống.

55 năm sống ở nước ngoài nhưng vẫn mang quốc tịch Việt Nam, một đời GS Trần Văn Khê chỉ đau đáu nỗi niềm và tình yêu dành cho âm nhạc dân tộc. Ở tuổi 94, trải qua nhiều thăng trầm; giáo sư vẫn minh mẫn, lạc quan và cho rằng đời sống của mình thế cũng là viên mãn lắm. 

Trong một lần trả lời phát biểu, khi được nói về mình ông cho biết: “Khê nghĩa là suối”, tôi ví mình như dòng suối chảy ra biển cả rồi lại ngược về nguồn, đã đậm đà vị mặn nhưng không hề bớt trong mát…” Những điều ích lợi mà ông đã làm cho dân tộc mình theo cách riêng của ông đã được quê hương xứ sở ghi nhận sau những năm dài.

Chính vì những đóng góp lớn lao và quá trình cống hiến không mệt mỏi của GS Trần Văn Khê, theo nhạc sỹ Đặng Hoành Loan, Việt Nam nên có một bảo tàng, giới thiệu trưng bày những tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học nghệ thuật của ông. Đây cũng là một cách truyền lửa tình yêu âm nhạc truyền thống cho các thế hệ sau này.

Hà Trang

https://dantri.com.vn/van-hoa/pgs-dang-hoanh-loan-nen-co-mot-bao-tang-mang-ten-gs-tran-van-khe-1435909953.htm

Sự kiện: GS Trần Văn Khê qua đời

Từ khóa:

Đáng quan tâm

ĐẶNG HOÀNH LOAN : Nhạc sư – Nghệ sỹ Ưu tú Ba Tu

Nhạc sư – Nghệ sỹ Ưu tú Ba Tu

26,167 viewsJul 2, 20189110ShareSaveDang Hoanh Loan 8.04K subscribers

Bậc thầy Đờn ca tài tử: Nhạc sư – Nghệ sĩ Ưu tú Ba Tu đã nhập môn cho tôi về lối học nhạc đờn tài tử Nam bộ. Hôm nay, sau hơn 5 năm Đờn ca Tài tử Nam Bộ được thế giới vinh danh là « Di sản Văn hóa phi vật thể Đại diện của nhân loại » tôi trích đôi lời giải thích của nhạc sư Ba Tu về nhạc đờn tài tử thành một video. Đây là lời cám ơn chân thành của tôi tới Tài tử bậc thầy Ba Tu, người đã nhập môn cho tôi về nhạc đàn Tài tử. Video cũng là nguồn tư liệu chân thật, gửi tới các bạn, những người muốn tìm hiểu, hoặc có í định nhập môn hình thức âm nhạc truyền thống tuyệt vời này.

DANG HOANH LOAN: Nghệ sĩ Ca trù Nguyễn Thị Chúc

FR

Nghệ sĩ Ca trù Nguyễn Thị Chúc

861 viewsApr 15, 201981ShareSaveDang Hoanh Loan 7.89K subscribers Nghệ sĩ Ca trù Nguyễn Thị Chúc, bậc nghệ sĩ tài danh cuối cùng của nghệ thuật Ca trù đã mất cách đây đôi năm. Bà ra đi nhưng cũng đã kịp đào tạo cho đất nước nhiều nghệ sĩ Ca trù trẻ hát hay phách giỏi. Bà mới được nhà nước truy phong danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân.

ĐẶNG HOÀNH LOAN : Nghệ sỹ Ba Tu và Nghệ sỹ Văn Giỏi hòa đờn bản Xuân Nữ

Nghệ sỹ Ba Tu và Nghệ sỹ Văn Giỏi hòa đờn bản Xuân Nữ

142,032 views•Oct 12, 201831762SHARESAVEDang Hoanh Loan7.77K subscribersSUBSCRIBEDNăm 2011, khi thu thanh bản đờn Xuân Nữ do NSƯT Ba Tu và NSƯT Văn Giỏi hòa đờn, tôi có hỏi NSƯT Ba Tu, bài này có nằm trong hệ thống bài bản chơi Đờn ca tài tử không ? NSƯT Ba Tu cho biết : Nó không nằm trong hệ thống 20 bản tổ, nhưng nó nằm trong nhạc mục của sân khấu Cải Lương – Tài tử. Những cuộc chơi đờn ca ngày nay các tài tử vẫn thường chơi bản này. Nó đã được xếp vào hệ thống các bản Oán, chơi cũng mùi lắm.SHOW LESS

trên 170 video clips về đờn ca tài tử và các loại dân ca Việt Nam do Đặng Hoành Loan thực hiện được lưu giữ trên YOUTUBE.

https://www.youtube.com/channel/UC5bVVNPx–pqsol8TCNpUPg

trên 170 video clips về đờn ca tài tử và các loại dân ca Việt Nam do Đặng Hoành Loan thực hiện được lưu giữ trên YOUTUBE. Một công trình nghiên cứu duy nhứt của một nhà nghiên cứu ở Việt Nam

ĐẶNG HOÀNH LOAN và TRẦN QUANG HẢI

ĐẶNG HOÀNH LOAN: Xòe và âm nhạc Xòe Thái

Xòe và âm nhạc Xòe Thái

Đăng ngày 19/05/2021 – 19:21Tác giả: Đặng Hoành Loan

Muốn tìm hiểu Xòe và âm nhạc Xòe Thái, trước hết phải tìm hiểu không gian trình diễn Xòe Thái gốc và không gian trình diễn Xòe Thái phái sinh. Theo nghiên cứu của chúng tôi, Xòe Thái có ba không gian trình diễn chính với ba quy mô nghệ thuật và nội dung nghệ thuật khác nhau. Trong ba không gian ấy, không gian trình diễn ra đời sớm nhất, có quy mô nghệ thuật chuyên nghiệp nhất, gốc nhất là không gian Xòe trong diễn xướng Then.

Giống với tất cả các hình thái tín ngưỡng dân gian, các ông bà Then là những người có chữ, có kiến thức xã hội, có nghề nghiệp truyền đời và có nhiều sáng tạo nghệ thuật: ca, đàn, văn học, múa nhảy. Đặc biệt, họ được cộng đồng tôn trọng và cộng đồng coi họ là “kho tàng tri thức” cộng đồng. Ốm đau ư, hỏi Then; cãi nhau, tranh giành đất đai ư, hỏi Then; hiếm muộn con cái ư, hỏi Then; làm nhà, cưới vợ gả chồng ư, hỏi Then; tổ chức vui chơi cộng đồng như thế nào, hỏi Then v.v… và v.v…, Then giúp, sẽ chỉ dẫn cho họ.

Cái uy tín ấy có được là nhờ một quá trình thực hành tín ngưỡng của giới các ông bà Then trong đời sống xã hội. Mỗi đêm Then, mỗi lần làm Then là một lần các ông bà Then truyền đạt kiến thức xã hội, mà đặc biệt là truyền đạt các hình thức nghệ thuật diễn xướng của họ tới cộng đồng. Kho kiến thức đó bao gồm lời thơ, đàn hát, trang phục, múa nhảy và các đồ dùng vật dụng trong hành lễ như trang trí, mâm cúng, đèn hương…

Để thuyết phục được cộng đồng, lôi kéo cộng đồng tin theo tín ngưỡng của mình, giới các ông bà Then đã có một quá trình hoàn chỉnh nghệ thuật, hoàn chỉnh tổ chức nghệ thuật trình diễn ở đỉnh cao của nghệ thuật dân gian từ rất sớm. Trong đó người nghệ sĩ chính là các ông bà Then, các nghệ sĩ hỗ trợ là nhóm các nghệ sĩ múa và đệm nhạc cho múa.

Mỗi ông bà Then, luôn có một nhóm các nghệ sĩ múa, nhạc hỗ trợ bên mình. Đứng đầu nhóm múa là Mẻ đa. Mẻ đa là thầy dạy múa và là người chỉ đạo nghệ thuật múa trong quá trình diễn xướng của ông bà Then. Mẻ đa luôn phải tuyển chọn, phải tổ chức truyền dạy cho các bé gái ở tuổi từ 12 đến 13, để đến đôi ba năm sau các em sẽ là những nghệ sĩ thế chỗ cho những nghệ sĩ múa lớn tuổi đã đi lấy chồng.

Mỗi nhóm nghệ sĩ múa thường quan hệ gắn bó với một thầy Then. Khi thầy Then làm lễ nhóm nghệ sĩ múa hóa thân trở thành những âm binh để hành trình cùng thầy Then đi tới các mường tìm hồn vía trả về thân xác tín chủ. Trên đường hành binh của thầy Then, đội quân múa là các Sao chạu, Sao chay sẽ múa diễn tả những trường đoạn Then như trường đoạn múa Mời rượu quan khách nhà trời, múa Phát đường cho quang đãng để đoàn quân Then mang lễ vật lên đường, múa Chèo thuyền vượt biển, múa Dâng lễ vật, múa Chầu trước cửa thánh thần, múa Tiễn quan tướng về trời và múa Vun đắp cây mệnh thêm tươi tốt. Các nghệ sĩ trong các đội múa Then thường quen gọi các điệu múa theo tên động tác hoặc theo tên trường đoạn Then, như: Nả lăng (quay ra đằng trước, đằng sau) Tang txả, Nhụm hơ (dậm đẩy thuyền), Ca ớk (đưa khăn lên ngang ngực), Khóa hô (vung khăn quá đầu), Tủm xoong tơ, Quát bó héo (quét hoa tàn). Tóm lại múa trong nghi lễ Then là hình thức múa thiêng, múa diễn tả những cảnh ở mường Trời mà không phải múa ở đời thường. Đạo cụ múa trong nghi lễ Then thường là những dải lụa dài màu xanh lá cây màu hồng nhạt và màu đỏ hoặc màu vàng, màu tím vắt ngang vai, hai tay cầm hai đầu dải lụa. Các dải lụa màu tượng trưng cho 7 sắc cầu vồng và 7 sắc cầu vồng là tượng trưng cho mường Trời, người mường Trời. Ngoài ra, đạo cụ còn những chiếc quạt thiêng dùng để biểu hiện các tiên nữ mường Then.

Khi múa các Sao chạu, Sao chay lúc sử dụng dải lụa, khi sử dụng quạt để biểu diễn nhiều động tác, sắp xếp nhiều đội hình khác nhau để diễn tả mái chèo khi chèo thuyền, diễn tả công việc chặt cây phát đường, diễn tả chiếc võng ru hồn và diễn tả cảnh ngàn hoa chào đón khách v,v… tất cả là các dải lụa và quạt thiêng.

Múa đón khách (Ảnh: Đặng Hoành Loan)

Múa ru hồn vía lang thang trên mường Trời (Ảnh: Đặng Hoành Loan)

Nhạc đệm cho múa trong nghi lễ Then là tính tảu:

Tính tảu (Ảnh: Đặng Hoành Loan)

Tính là đàn, Tảu là quả bầu, tính tảu là đàn có thùng vang làm bằng quả bầu nậm khô. Cần đàn không có phím, dài bằng chín nắm tay chồng nhau (tức khoảng trên dưới 60 cm), đàn mắc hai dây, các dây cách nhau quãng 5. Khi chơi người ta dùng ngón tay trỏ khảy vào hai dây đàn. 

Báo khá, là tên gọi nghệ sĩ chơi tính tảu. Các nghệ sĩ chơi tính tảu trong Then thường là những nghệ sĩ gắn bó thân tình và lâu dài với thầy Then, có thể nói họ là cánh tay phải của thầy Then. Thầy làm Then ở đâu là có mặt họ ở đó. Họ đàn giỏi, thuộc và biết ngọn ngành nhiều bản nhạc múa trong Then. Họ hòa đàn cùng thầy Then, họ là linh hồn của múa Then. Họ chính là những nghệ sĩ tài ba chơi tính tảu và cũng là thầy dạy tính tảu trong cộng đồng.

Các Báo khá thuộc tất cả các trường đoạn hát Then có trình diễn múa. Do vậy thầy Then hát đến đoạn nào là họ biết phải chơi bản đàn ở đoạn Then ấy để các Sao chạu bắt vào điệu múa Then. Ví dụ điệu Mời lảu (mời rượu) điệu Đoóng tạng (mở đường), Chao hơ (chèo thuyền) và Khua luống Mướng Phạ v,v… Dưới đây là trường đoạn âm nhạc hát múa Then “Khua luống mướng Phạ” (Sân chơi lớn trên mường trời), điệu múa đi dâng lễ xin hồn của các Sao chay trong lễ Then Cầu con.

Nội dung lời ca:

Tìm hồn nơi sân chơi lớn ”Mánh ngoạng”

Tìm hồn nơi sân chơi to

Trai gái tụ tập

Báo khỏa ơi, gái Then ơi

Ta luồn lách đi qua

Ta dâng lễ lên trời xin lấy hồn con yêu

Ta đưa lễ lên thiên xin lấy hồn con quý, hồn út ơi hồn con ơi!! [1]

Sau lễ chính Kin Pang Then, các nghệ sĩ múa Then còn cùng với trai gái bản múa vui quanh cây Pang. Khi ấy người ta thêm trống, thêm chiêng chơi tiết tấu nhịp tư rất rạo rực đệm cho các điệu: Phá pét, Mổ vi, Mổ cúp, Mổ tó cáy, Mổ phá xí. Đó là những điệu Xòe hân hoan mừng lễ Kin Pang thành công, dân làng hạnh phúc.

Tính hấp dẫn của nghệ thuật Xòe và nhạc tính tảu trong Then, dần dà được cộng đồng “nhấc” nó khỏi không gian thiêng, “cắm” nó vào các cuộc vui trong sinh hoạt cộng đồng. Đấy là không gian Xòe có trong tín ngưỡng, đã phái sinh vào sinh hoạt đời sống thường ngày. Theo chúng tôi, điệu múa được phái sinh, được cộng đồng ứng dụng sớm nhất đó là điệu Xòe vòng quanh cây Pang trong lễ Kin Pang Then.

Điệu Xòe vòng gần gũi với sinh hoạt cộng đồng, vui vẻ, dễ múa, không hạn chế người tham gia vòng Xòe, lại có thêm âm sắc của trống cái và chiêng đồng làm cho điệu Xòe thêm náo nức. Lâu dần Xòe vòng đã trở thành tập tục nghệ thuật trong đời sống người Thái, nó có mặt trong hầu hết các ngày hội của cộng đồng. Xòe vòng đã trở thành nghệ thuật biểu tượng, là nghệ thuật thước đo tình cảm, sự gắn bó của cá nhân với cộng đồng. “Cho nên, khi nói đến những kẻ mất gốc, quên nòi, người ta thường dùng câu: “Nó quên mất Xòe rồi”, hoặc nặng hơn: “Nó mất Xòe rồi” [2].

Âm nhạc Xòe vòng không gò bó, thường có tiết tấu nhịp 4/4 tốc độ vừa phải, đều đặn, kết hợp với tiết tấu trống chiêng điểm theo tiết tấu của nhạc cụ [3].

Ví dụ Một giai điệu nhạc chơi trong Xòe vòng.

Nhạc cụ chơi trong Xòe vòng mở rộng hơn nhạc cụ chơi trong lễ Then. Ngoài tính tảu có thể thêm khèn bè, pí và hát Khắp. Tùy không khí Xòe và số lượng người tham gia các vòng Xòe, khi không khí đẩy lên cao người ta vừa chuốc rượu vừa hát Khắp, vừa Xòe.

Xòe vòng là không gian trình diễn Xòe thứ hai, không gian chơi Xòe cộng đồng, có cội nguồn từ Then.

Khi xã hội Thái hình thành tầng lớp quý tộc giàu có, các quan Chi châu, Chi phủ đã tận dụng nghệ thuật Xòe trong Then, tổ chức thành các đội Xòe nghệ thuật để trình diễn trong những nghi lễ ngoại giao. Nhiều đội Xòe có tính nghệ thuật cao được ra đời từ đấy. Tương truyền, người biến Xòe Then thành Xòe nghệ thuật là nghệ sĩ Điêu Chính Ngâu. Ngoài ra, người ta còn biết đến những đội Xòe của Đèo Văn Ân ở Phong Thổ và đội Xòe của Đèo Văn Long ở Mường Lay. Đó là những đội Xòe có tính nghệ thuật chuyên nghiệp rất cao.

Xòe nghệ thuật, có những nguyên tắc múa đã được quy chuẩn, các nghệ sĩ múa được tuyển chọn và đào tạo rất bài bản. Những đội Xòe “quý tộc” này được trình diễn trong một không gian riêng, môi trường riêng. Chương trình biểu diễn của họ có nhiều điệu, mỗi điệu sử dụng một hoặc hai đạo cụ như Xòe nón (đạo cụ là nón), Xòe chai (đạo cụ là chai), Xòe ma hính (đạo cụ là chùm xóc nhạc), Xòe khăn (đạo cụ là khăn có thêu họa tiết, hoa văn Thái) v,v…

Sau giải phóng Tây Bắc, các đội Xòe chuyên nghiệp không còn, các nghệ sĩ Xòe tản về các địa phương và xây dựng các đội Xòe địa phương theo cách nghĩ, cách biến tấu của mình. Theo chúng tôi, đây là nguyên nhân làm nở rộ nhiều phong cách Xòe, nhiều điệu Xòe mang đặc tính địa phương, như Xòe Long teo, Xòe nón Mường Lay, Xòe nón Phong Thổ, Xòe hái bông Điện Biên. Và còn rất nhiều những dị bản Xòe được nghệ sĩ các vùng tiếp thu và phong cách hóa theo cảm quan nghệ thuật của nghệ sĩ ở các vùng miền khác nhau. Xòe trở nên đa dạng là nhờ vậy.

Cho đến nay, nghệ thuật Xòe Thái chỉ còn lại hai không gian trình diễn chính đó là không gian diễn xướng Then và không gian Xòe trong sinh hoạt đời sống cộng đồng. Các hình thức Xòe nghệ thuật trước đây đang được cộng đồng bảo lưu theo nhiều hình thức khác nhau như: Nhà Văn hóa hoặc các câu lạc bộ và trong chương trình của các đoàn nghệ thuật, tuy nhiên nó không được trình diễn nhiều như Xòe trong Then, Xòe trong vui chơi cộng đồng.

Xòe là hồn cốt, là nghệ thuật đỉnh cao, là nghệ thuật đời sống của người Thái. Xét về mặt sinh hoạt, Xòe vẫn đang tồn tại trong đời sống người Thái như mặt trời, như không khí. Các ông bà Then vẫn có những Mẻ đa làm công việc bảo mẫu nuôi dưỡng, dạy dỗ tạo ra các đội Xòe Then. Và những đội Xòe Then, những nghệ sĩ Xòe Then của Mẻ đa là hạt nhân nuôi dưỡng và bảo tồn cái gốc của Xòe Thái. Cái gốc của Xòe Thái còn, thì Xòe Thái còn có cơ sở để vực dậy, để phát triển Xòe Thái trong đời sống người Thái hiện đại. Nói tóm lại, còn cái gốc là Xòe Then để đối chiếu để sáng tạo, thì Xòe Thái không bao giờ mất và không bao giờ bị biến dạng.

Trích nguồn Thông báo khoa học tiếng việt số 59

Chú thích:

1. Đặng Hoành Loan – Phạm Minh Hương – Nguyễn Thủy Tiên: Hát Then Tày, Nùng, Thái Việt Nam, Viện Âm nhạc – Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2018, tr.444
2. Quàng Văn Kín: Việt Nam Hương Sắc số 35/1996
3. Cũng có tác giả ghi nhạc Xòe vòng theo nhịp 2/2, nhưng theo quan sát của chúng tôi một nhịp 2/4 chưa hoàn tất một nhịp múa.

(Nguồn: https://www.vienamnhac.vn/)

  • 25 lượt xem

cXòe và âm nhạc Xòe Thái

Đăng ngày 19/05/2021 – 19:21Tác giả: Đặng Hoành Loan

Muốn tìm hiểu Xòe và âm nhạc Xòe Thái, trước hết phải tìm hiểu không gian trình diễn Xòe Thái gốc và không gian trình diễn Xòe Thái phái sinh. Theo nghiên cứu của chúng tôi, Xòe Thái có ba không gian trình diễn chính với ba quy mô nghệ thuật và nội dung nghệ thuật khác nhau. Trong ba không gian ấy, không gian trình diễn ra đời sớm nhất, có quy mô nghệ thuật chuyên nghiệp nhất, gốc nhất là không gian Xòe trong diễn xướng Then.

Giống với tất cả các hình thái tín ngưỡng dân gian, các ông bà Then là những người có chữ, có kiến thức xã hội, có nghề nghiệp truyền đời và có nhiều sáng tạo nghệ thuật: ca, đàn, văn học, múa nhảy. Đặc biệt, họ được cộng đồng tôn trọng và cộng đồng coi họ là “kho tàng tri thức” cộng đồng. Ốm đau ư, hỏi Then; cãi nhau, tranh giành đất đai ư, hỏi Then; hiếm muộn con cái ư, hỏi Then; làm nhà, cưới vợ gả chồng ư, hỏi Then; tổ chức vui chơi cộng đồng như thế nào, hỏi Then v.v… và v.v…, Then giúp, sẽ chỉ dẫn cho họ.

Cái uy tín ấy có được là nhờ một quá trình thực hành tín ngưỡng của giới các ông bà Then trong đời sống xã hội. Mỗi đêm Then, mỗi lần làm Then là một lần các ông bà Then truyền đạt kiến thức xã hội, mà đặc biệt là truyền đạt các hình thức nghệ thuật diễn xướng của họ tới cộng đồng. Kho kiến thức đó bao gồm lời thơ, đàn hát, trang phục, múa nhảy và các đồ dùng vật dụng trong hành lễ như trang trí, mâm cúng, đèn hương…

Để thuyết phục được cộng đồng, lôi kéo cộng đồng tin theo tín ngưỡng của mình, giới các ông bà Then đã có một quá trình hoàn chỉnh nghệ thuật, hoàn chỉnh tổ chức nghệ thuật trình diễn ở đỉnh cao của nghệ thuật dân gian từ rất sớm. Trong đó người nghệ sĩ chính là các ông bà Then, các nghệ sĩ hỗ trợ là nhóm các nghệ sĩ múa và đệm nhạc cho múa.

Mỗi ông bà Then, luôn có một nhóm các nghệ sĩ múa, nhạc hỗ trợ bên mình. Đứng đầu nhóm múa là Mẻ đa. Mẻ đa là thầy dạy múa và là người chỉ đạo nghệ thuật múa trong quá trình diễn xướng của ông bà Then. Mẻ đa luôn phải tuyển chọn, phải tổ chức truyền dạy cho các bé gái ở tuổi từ 12 đến 13, để đến đôi ba năm sau các em sẽ là những nghệ sĩ thế chỗ cho những nghệ sĩ múa lớn tuổi đã đi lấy chồng.

Mỗi nhóm nghệ sĩ múa thường quan hệ gắn bó với một thầy Then. Khi thầy Then làm lễ nhóm nghệ sĩ múa hóa thân trở thành những âm binh để hành trình cùng thầy Then đi tới các mường tìm hồn vía trả về thân xác tín chủ. Trên đường hành binh của thầy Then, đội quân múa là các Sao chạu, Sao chay sẽ múa diễn tả những trường đoạn Then như trường đoạn múa Mời rượu quan khách nhà trời, múa Phát đường cho quang đãng để đoàn quân Then mang lễ vật lên đường, múa Chèo thuyền vượt biển, múa Dâng lễ vật, múa Chầu trước cửa thánh thần, múa Tiễn quan tướng về trời và múa Vun đắp cây mệnh thêm tươi tốt. Các nghệ sĩ trong các đội múa Then thường quen gọi các điệu múa theo tên động tác hoặc theo tên trường đoạn Then, như: Nả lăng (quay ra đằng trước, đằng sau) Tang txả, Nhụm hơ (dậm đẩy thuyền), Ca ớk (đưa khăn lên ngang ngực), Khóa hô (vung khăn quá đầu), Tủm xoong tơ, Quát bó héo (quét hoa tàn). Tóm lại múa trong nghi lễ Then là hình thức múa thiêng, múa diễn tả những cảnh ở mường Trời mà không phải múa ở đời thường. Đạo cụ múa trong nghi lễ Then thường là những dải lụa dài màu xanh lá cây màu hồng nhạt và màu đỏ hoặc màu vàng, màu tím vắt ngang vai, hai tay cầm hai đầu dải lụa. Các dải lụa màu tượng trưng cho 7 sắc cầu vồng và 7 sắc cầu vồng là tượng trưng cho mường Trời, người mường Trời. Ngoài ra, đạo cụ còn những chiếc quạt thiêng dùng để biểu hiện các tiên nữ mường Then.

Khi múa các Sao chạu, Sao chay lúc sử dụng dải lụa, khi sử dụng quạt để biểu diễn nhiều động tác, sắp xếp nhiều đội hình khác nhau để diễn tả mái chèo khi chèo thuyền, diễn tả công việc chặt cây phát đường, diễn tả chiếc võng ru hồn và diễn tả cảnh ngàn hoa chào đón khách v,v… tất cả là các dải lụa và quạt thiêng.

Múa đón khách (Ảnh: Đặng Hoành Loan)

Múa ru hồn vía lang thang trên mường Trời (Ảnh: Đặng Hoành Loan)

Nhạc đệm cho múa trong nghi lễ Then là tính tảu:

Tính tảu (Ảnh: Đặng Hoành Loan)

Tính là đàn, Tảu là quả bầu, tính tảu là đàn có thùng vang làm bằng quả bầu nậm khô. Cần đàn không có phím, dài bằng chín nắm tay chồng nhau (tức khoảng trên dưới 60 cm), đàn mắc hai dây, các dây cách nhau quãng 5. Khi chơi người ta dùng ngón tay trỏ khảy vào hai dây đàn. 

Báo khá, là tên gọi nghệ sĩ chơi tính tảu. Các nghệ sĩ chơi tính tảu trong Then thường là những nghệ sĩ gắn bó thân tình và lâu dài với thầy Then, có thể nói họ là cánh tay phải của thầy Then. Thầy làm Then ở đâu là có mặt họ ở đó. Họ đàn giỏi, thuộc và biết ngọn ngành nhiều bản nhạc múa trong Then. Họ hòa đàn cùng thầy Then, họ là linh hồn của múa Then. Họ chính là những nghệ sĩ tài ba chơi tính tảu và cũng là thầy dạy tính tảu trong cộng đồng.

Các Báo khá thuộc tất cả các trường đoạn hát Then có trình diễn múa. Do vậy thầy Then hát đến đoạn nào là họ biết phải chơi bản đàn ở đoạn Then ấy để các Sao chạu bắt vào điệu múa Then. Ví dụ điệu Mời lảu (mời rượu) điệu Đoóng tạng (mở đường), Chao hơ (chèo thuyền) và Khua luống Mướng Phạ v,v… Dưới đây là trường đoạn âm nhạc hát múa Then “Khua luống mướng Phạ” (Sân chơi lớn trên mường trời), điệu múa đi dâng lễ xin hồn của các Sao chay trong lễ Then Cầu con.

Nội dung lời ca:

Tìm hồn nơi sân chơi lớn ”Mánh ngoạng”

Tìm hồn nơi sân chơi to

Trai gái tụ tập

Báo khỏa ơi, gái Then ơi

Ta luồn lách đi qua

Ta dâng lễ lên trời xin lấy hồn con yêu

Ta đưa lễ lên thiên xin lấy hồn con quý, hồn út ơi hồn con ơi!! [1]

Sau lễ chính Kin Pang Then, các nghệ sĩ múa Then còn cùng với trai gái bản múa vui quanh cây Pang. Khi ấy người ta thêm trống, thêm chiêng chơi tiết tấu nhịp tư rất rạo rực đệm cho các điệu: Phá pét, Mổ vi, Mổ cúp, Mổ tó cáy, Mổ phá xí. Đó là những điệu Xòe hân hoan mừng lễ Kin Pang thành công, dân làng hạnh phúc.

Tính hấp dẫn của nghệ thuật Xòe và nhạc tính tảu trong Then, dần dà được cộng đồng “nhấc” nó khỏi không gian thiêng, “cắm” nó vào các cuộc vui trong sinh hoạt cộng đồng. Đấy là không gian Xòe có trong tín ngưỡng, đã phái sinh vào sinh hoạt đời sống thường ngày. Theo chúng tôi, điệu múa được phái sinh, được cộng đồng ứng dụng sớm nhất đó là điệu Xòe vòng quanh cây Pang trong lễ Kin Pang Then.

Điệu Xòe vòng gần gũi với sinh hoạt cộng đồng, vui vẻ, dễ múa, không hạn chế người tham gia vòng Xòe, lại có thêm âm sắc của trống cái và chiêng đồng làm cho điệu Xòe thêm náo nức. Lâu dần Xòe vòng đã trở thành tập tục nghệ thuật trong đời sống người Thái, nó có mặt trong hầu hết các ngày hội của cộng đồng. Xòe vòng đã trở thành nghệ thuật biểu tượng, là nghệ thuật thước đo tình cảm, sự gắn bó của cá nhân với cộng đồng. “Cho nên, khi nói đến những kẻ mất gốc, quên nòi, người ta thường dùng câu: “Nó quên mất Xòe rồi”, hoặc nặng hơn: “Nó mất Xòe rồi” [2].

Âm nhạc Xòe vòng không gò bó, thường có tiết tấu nhịp 4/4 tốc độ vừa phải, đều đặn, kết hợp với tiết tấu trống chiêng điểm theo tiết tấu của nhạc cụ [3].

Ví dụ Một giai điệu nhạc chơi trong Xòe vòng.

Nhạc cụ chơi trong Xòe vòng mở rộng hơn nhạc cụ chơi trong lễ Then. Ngoài tính tảu có thể thêm khèn bè, pí và hát Khắp. Tùy không khí Xòe và số lượng người tham gia các vòng Xòe, khi không khí đẩy lên cao người ta vừa chuốc rượu vừa hát Khắp, vừa Xòe.

Xòe vòng là không gian trình diễn Xòe thứ hai, không gian chơi Xòe cộng đồng, có cội nguồn từ Then.

Khi xã hội Thái hình thành tầng lớp quý tộc giàu có, các quan Chi châu, Chi phủ đã tận dụng nghệ thuật Xòe trong Then, tổ chức thành các đội Xòe nghệ thuật để trình diễn trong những nghi lễ ngoại giao. Nhiều đội Xòe có tính nghệ thuật cao được ra đời từ đấy. Tương truyền, người biến Xòe Then thành Xòe nghệ thuật là nghệ sĩ Điêu Chính Ngâu. Ngoài ra, người ta còn biết đến những đội Xòe của Đèo Văn Ân ở Phong Thổ và đội Xòe của Đèo Văn Long ở Mường Lay. Đó là những đội Xòe có tính nghệ thuật chuyên nghiệp rất cao.

Xòe nghệ thuật, có những nguyên tắc múa đã được quy chuẩn, các nghệ sĩ múa được tuyển chọn và đào tạo rất bài bản. Những đội Xòe “quý tộc” này được trình diễn trong một không gian riêng, môi trường riêng. Chương trình biểu diễn của họ có nhiều điệu, mỗi điệu sử dụng một hoặc hai đạo cụ như Xòe nón (đạo cụ là nón), Xòe chai (đạo cụ là chai), Xòe ma hính (đạo cụ là chùm xóc nhạc), Xòe khăn (đạo cụ là khăn có thêu họa tiết, hoa văn Thái) v,v…

Sau giải phóng Tây Bắc, các đội Xòe chuyên nghiệp không còn, các nghệ sĩ Xòe tản về các địa phương và xây dựng các đội Xòe địa phương theo cách nghĩ, cách biến tấu của mình. Theo chúng tôi, đây là nguyên nhân làm nở rộ nhiều phong cách Xòe, nhiều điệu Xòe mang đặc tính địa phương, như Xòe Long teo, Xòe nón Mường Lay, Xòe nón Phong Thổ, Xòe hái bông Điện Biên. Và còn rất nhiều những dị bản Xòe được nghệ sĩ các vùng tiếp thu và phong cách hóa theo cảm quan nghệ thuật của nghệ sĩ ở các vùng miền khác nhau. Xòe trở nên đa dạng là nhờ vậy.

Cho đến nay, nghệ thuật Xòe Thái chỉ còn lại hai không gian trình diễn chính đó là không gian diễn xướng Then và không gian Xòe trong sinh hoạt đời sống cộng đồng. Các hình thức Xòe nghệ thuật trước đây đang được cộng đồng bảo lưu theo nhiều hình thức khác nhau như: Nhà Văn hóa hoặc các câu lạc bộ và trong chương trình của các đoàn nghệ thuật, tuy nhiên nó không được trình diễn nhiều như Xòe trong Then, Xòe trong vui chơi cộng đồng.

Xòe là hồn cốt, là nghệ thuật đỉnh cao, là nghệ thuật đời sống của người Thái. Xét về mặt sinh hoạt, Xòe vẫn đang tồn tại trong đời sống người Thái như mặt trời, như không khí. Các ông bà Then vẫn có những Mẻ đa làm công việc bảo mẫu nuôi dưỡng, dạy dỗ tạo ra các đội Xòe Then. Và những đội Xòe Then, những nghệ sĩ Xòe Then của Mẻ đa là hạt nhân nuôi dưỡng và bảo tồn cái gốc của Xòe Thái. Cái gốc của Xòe Thái còn, thì Xòe Thái còn có cơ sở để vực dậy, để phát triển Xòe Thái trong đời sống người Thái hiện đại. Nói tóm lại, còn cái gốc là Xòe Then để đối chiếu để sáng tạo, thì Xòe Thái không bao giờ mất và không bao giờ bị biến dạng.

Trích nguồn Thông báo khoa học tiếng việt số 59

Chú thích:

1. Đặng Hoành Loan – Phạm Minh Hương – Nguyễn Thủy Tiên: Hát Then Tày, Nùng, Thái Việt Nam, Viện Âm nhạc – Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2018, tr.444
2. Quàng Văn Kín: Việt Nam Hương Sắc số 35/1996
3. Cũng có tác giả ghi nhạc Xòe vòng theo nhịp 2/2, nhưng theo quan sát của chúng tôi một nhịp 2/4 chưa hoàn tất một nhịp múa.

(Nguồn: https://www.vienamnhac.vn/)