Catégorie : CUỘC THI KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY SANH TRẦN VĂN KHÊ

Thí sinh Đặng Ngọc Ngận – 037: “NHẠC VIỆT CHI BẢO” – TRẦN VĂN KHÊ NGƯỜI KHƠI MẠCH SỐNG CHO ÂM NHẠC DÂN TỘC

Nguyễn Quốc Thệ

· 💧♥️Thí sinh Đặng Ngọc Ngận – 037

💧♥️“NHẠC VIỆT CHI BẢO” – TRẦN VĂN KHÊNGƯỜI KHƠI MẠCH SỐNG CHO ÂM NHẠC DÂN TỘC

Đặng Ngọc NgậnHọc viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.Hồ Chí Minh

Giáo sư Trần Văn Khê được sinh ra trong một đêm rằm tháng 6 âm lịch năm Tân Dậu (1921) tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang). Xuất thân trong một gia đình mà cả bên nội và bên ngoại đều am hiểu nhạc cổ truyền, từ những ngày còn trong bụng mẹ cho đến lúc lớn lên, sự gắn bó với âm nhạc kịch nghệ truyền thống như một “thiên duyên” mà số phần đã sắp đặt sẵn cho cuộc đời Thầy, để rồi sau này, dân tộc ta có một “Nhạc Việt chi bảo” mà thế giới vô cùng trân quý.

1. Giáo sư Trần Văn Khê với những đóng góp lớn lao trong nghiên cứu và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới

Ngày 11 tháng 11 năm 1959, trên tờ báo Journal die Jura người ta đã nhắc đến Thầy rằng, “ông Trần Văn Khê, một người nghệ sĩ, một nhà thông thái và một khách hào hoa”. Từ vùng đất Paris hoa lệ, Thầy đã đi khắp châu Âu để giới thiệu quê hương mình cùng những câu ca điệu hát, qua vốn nhạc thuật cổ kính và tế nhị của một người nghệ sĩ tài hoa. Qua những lần biểu diễn của Thầy, nhân dân quốc tế đã phải thốt lên rằng “thêm một lần nữa, chúng ta ý thức rằng nền văn minh Tây Phương chẳng phải là nền văn minh duy nhất, cũng không phải hẳn là nền văn minh đẹp nhất và tiên tiến nhất…”. Để có được những nhận định như vậy từ bạn bè thế giới, chắc chắn rằng, Giáo sư Trần Văn Khê của chúng ta đã phải nỗ lực không ngừng trong hành trình hoạt động khoa học và nghệ thuật với một niềm hi vọng lớn lao – đem âm nhạc Việt Nam, gắn vào bức tranh văn hóa nghệ thuật toàn bích của nhân loại.

1.1 Trước hết, chúng ta có thể thấy những nghiên cứu về âm nhạc chính là thành quả của cả một đời lao động và cống hiến của Thầy. Từ năm 1954 đến năm 1958, Thầy đã đi sâu nghiên cứu về âm nhạc truyền thống Việt Nam, một mặt phục vụ cho việc hoàn thành luận án của mình, mặt khác đã giới thiệu âm nhạc dân tộc cho những người yêu nhạc trên thế giới. Thầy là người đã đem nhạc Việt góp mặt với nhạc của các nước trên thế giới trong những công trình như: Bách Khoa tự điển về âm nhạc của nhà xuất bản Fasquelles, Gallimard (Pháp); Unione Tipografico Editrice Torinese (Ý); Sân khấu nước Việt trong công trình Sân khấu các nước Á Châu do Jean Jacquot thuộc Trung tâm nghiên cứu Khoa học ở Pháp xuất bản; khảo luận nghiên cứu về âm nhạc truyền thống Việt Nam trên các tạp chí như: Tạp chí Nghệ thuật Á Châu (Arts Asiatiques); Tạp chí Nhạc học (Revue de Musicologie) ở Paris; Tạp chí Pháp – Á (France Asie) ở Tokyo; Tập san của Hội nghiên cứu các vấn đề ở Đông Dương (Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises) ở Việt Nam,… cũng như rất nhiều công trình nghiên cứu trên các tạp chí trong nước và quốc tế.

Trong quá trình nghiên cứu âm nhạc truyền thống Việt Nam, Thầy đã dành nhiều thời gian tra thư mục trong thư viện, đến các bảo tàng nghe các băng từ, đĩa hát cũng như đi điền dã, ghi âm chụp ảnh và viết những công trình nghiên cứu hết sức ý nghĩa về âm nhạc truyền thống Việt Nam. Ngày trở về quê hương, toàn bộ “gia tài” mà Thầy tạo dựng đã được đem về cho dân tộc. Với vốn tài sản tinh thần đồ sộ gồm 6.420 cuốn sách; 4.266 tạp chí; 108 bản báo và những cây đàn; những cuốn sổ ghi chép, băng ghi âm và ghi hình nhiều tư liệu âm nhạc quý hiếm mà cả đời Thầy chắt chiu, góp nhặt đã được sắp xếp cẩn thận để đưa về quê nhà sau hơn 55 năm Thầy ở xứ người.

Cả cuộc đời của mình, Thầy thực sự đã góp phần rất lớn lao trong việc nghiên cứu âm nhạc truyền thống Việt Nam. Đó cũng chính là một trong những mục đích mà suốt đời Thầy theo đuổi, minh chứng cho sự cố gắng nỗ lực gieo mầm yêu âm nhạc dân tộc vào trong tâm hồn mọi người.

1.2 Bên cạnh sự miệt mài nghiên cứu về âm nhạc dân tộc, việc quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới cũng là một sự kiên trì không mệt mỏi, khiến nhân loại phải nghiêng mình kính phục Thầy, một người Việt Nam yêu nước và tài hoa.

Từ năm 1958, khi nhận bằng tiến sĩ Văn chương (Khoa Nhạc học) tại Đại học Sorbonne với luận án Âm nhạc truyền thống Việt Nam (La musique Vietnamienne traditionnelle) Thầy đã vô cùng chú ý đến việc quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới. Bằng sự nỗ lực của mình, Thầy đã góp phần đưa Quan họ, Ca trù, Hát bội, Đờn ca tài tử… của nước ta ra thế giới với vai trò là một nhà nghiên cứu khoa học và cũng là một người nghệ sĩ.

Ngoài việc quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới qua các công trình nghiên cứu khoa học, các cuộc diễn thuyết về âm nhạc truyền thống Việt Nam tại các nhạc viện, các trường đại học tại Pháp, Anh; Hà Lan; Thụy Sĩ; Nhật Bản,… Thầy còn đưa nhạc Việt đến với thế giới bằng cách thu đĩa hát cũng như diễn tấu âm nhạc dân tộc trong các buổi hòa nhạc, truyền thanh, truyền hình tại các nước như Pháp, Anh, Thụy Sĩ, Ấn Độ, Ba Tư, Nhật Bản,…

Theo cách nói của Thầy, thì việc quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới với chủ trương khai thác và phổ biến dân ca, cổ nhạc để bảo vệ một kho tàng có thể bị tiêu tan, chọn lọc những bảo vật tiêu biểu cho tinh hoa dân tộc dùng trong việc trình bày văn hóa nước nhà cho người ngoại quốc và làm căn bản cho một nền nhạc Việt sâu sắc và phong phú hơn. Thầy cũng luôn nhấn mạnh một kinh nghiệm sống còn trong quảng bá âm nhạc dân tộc ra thế giới, đó là khi đưa nghệ thuật truyền thống dân tộc ra nước ngoài biểu diễn, phải chú ý kết hợp với giới thiệu, giảng giải ngắn gọn cho người ta hiểu, “chúng ta phải trao cho người nước ngoài cái chìa khóa để vào vườn âm nhạc Việt Nam”.

2. Đờn ca tài tử Nam bộ – Di sản văn hóa nhân loại, một kết quả xứng đáng cho sự cố gắng và nỗ lực của các bậc tiền nhân

Khi xác lập vị trí của Đờn ca tài tử Nam bộ trong nền âm nhạc dân tộc, Giáo sư Trần Văn Khê nhấn mạnh “Đờn ca tài tử là thể loại nhạc thính phòng đặc thù của miền Nam, cũng như Ca trù của miền Bắc và Ca Huế của miền Trung”. Trong khảo cứu của mình, Thầy cũng đã chỉ rõ Đờn ca tài tử hình thành vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhờ các nhạc sĩ, nhạc quan của triều Nguyễn theo phong trào Cần Vương vào Nam đem theo truyền thống Ca Huế (thêm chút hương vị xứ Quảng). Theo hành trình Nam tiến, tiếp xúc với văn nghệ dân gian (những câu hò, điệu lý), nhất là phong trào đờn ca ở đây đã sẵn có, Đờn ca tài tử, vì thế mà hình thành và phát triển như một món ăn tinh thần không thể thiếu vắng trong nền âm nhạc truyền thống của dân tộc.

Giáo sư Trần Văn Khê cũng nhấn mạnh rằng “ngoài ý nghĩa là người có tài, “tài tử” trong “Đờn ca tài tử” còn được dùng để chỉ sự không dùng tiếng đờn giọng hát làm kế sinh nhai. Đờn ca tài tử không phải để kiếm sống mà để giải trí, cùng với bạn đồng điệu hòa đờn cho người mộ điệu thưởng thức, đờn hát để vui chơi với nhau. Người đờn tài tử trước đây hễ vui thì đờn chơi, không “hứng” thì thôi chứ không ai có thể bỏ tiền ra mua tiếng đờn của họ. Dù vậy, nhưng họ thường tập luyện rất công phu, phải cố gắng học từng chữ nhấn, chữ huyền, rao sao cho mùi, sắp chữ sao cho đẹp và tạo cho mình một phong cách riêng.

Cùng với những loại hình nghệ thuật truyền thống khác, Đờn ca tài tử cho đến nay, dẫu trải qua biết bao sự thăng trầm, vẫn có một sức sống lâu bền và mãnh liệt, góp vào bức tranh âm nhạc dân tộc Việt Nam cũng như quốc tế một màu sắc rất đặc trưng. Ngày 05 tháng 12 năm 2013, nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam bộ đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đó cũng chính là một kết quả xứng đáng cho sự cố gắng và nỗ lực của các bậc tiền nhân, trong đó có sự nỗ lực của Thầy, Giáo sư Trần Văn Khê.

Vào lúc 02 giờ 55 phút, ngày 24 tháng 6 năm 2015, nền văn hóa nghệ thuật của nhân loại nói chung và của Việt Nam nói riêng đã vô cùng đau lòng khi phải chia xa “Nhạc Việt chi bảo” – Giáo sư Trần Văn Khê đáng kính.

Viết về Thầy, tôi không biết phải viết như thế nào cho phải lẽ… Trong cuộc đời mình, tôi đã thật sự vô cùng may mắn khi được gặp Thầy dù là những lần gặp vô cùng ngắn ngủi, khi biết tôi là một người trẻ nhưng cũng có một niềm quý mến âm nhạc dân tộc, đặc biệt là nghệ thuật Đờn ca tài tử và Sân khấu cải lương, trước những ưu tư trong hành trình học tập của tôi, Thầy đã cười thật tươi và động viên rằng “Con đừng quá băn khoăn đi thế nào cho đúng hướng, chỉ cần sống hết lòng với âm nhạc dân tộc, rồi tự khắc con sẽ thấy mình hạnh phúc thôi”… Thầy là vậy đó, với bất kỳ ai cũng nâng niu và thương mến, tựa hồ như cái tình của một người nghệ sĩ với người mộ điệu tri âm của cuộc đời mình…

“Thâu tóm tinh hoa trời đất lại

Nêu cao văn hiến nước non này”

Nhà nghiên cứu Vũ Khiêu đã viết về Thầy như thế. Và theo thời gian, rõ ràng tinh thần, tư tưởng của Thầy vẫn còn sống mãi, sẽ như những tán cây đời tỏa bóng tươi xanh cho mỗi chúng ta hôm nay và ở cả tương lai sắp tới. Cùng với những nỗ lực của tiền nhân, trong đó có sự góp phần rất lớn của Thầy, nhất là việc nghiên cứu và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới, chúng ta hoàn toàn có thể vững tin rằng âm nhạc truyền thống dân tộc Việt Nam, trong đó có Đờn ca tài tử sẽ phát triển mạnh mẽ, vững bền như tinh thần gieo hạt và truyền lửa của Thầy, Giáo sư Trần Văn Khê – một “Nhạc Việt chi bảo” quý báu của nền văn hóa nghệ thuật nhân loại. —————————————————————————————————

Đặng Ngọc Ngận

Học viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.Hồ Chí Minh

Thí sinh Đặng Thị Hồng Nhung – 038: GS. Trần Văn Khê – Giữ hồn dân tộc bằng giai điêu quê hương& Nhịp Song lang – mộc mạc nhạc cụ Việt Nam1.

Nguyễn Quốc Thệ

· 💧♥️Thí sinh Đặng Thị Hồng Nhung – 038

💧♥️GS. Trần Văn Khê – Giữ hồn dân tộc bằng giai điêu quê hương& Nhịp Song lang – mộc mạc nhạc cụ Việt Nam

1.Tôi tên là Đặng Thị Hồng Nhung, sinh viên của Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Quê hương tôi là Bình Dương – vùng đất trù phú, nổi tiếng một thời là mảnh đất của văn nghệ, thi ca . . .“Ngày hôm nay, mừng lễ ngày sanh, nào anh em ta cùng nhau hòa đờn, nào chị em ta cùng nhau hòa đờn, mừng sức khỏe, mừng sống lâu, ta hòa đờn tình tang vài câu,…”

Những câu hát từ nổi bân khuân khi người dân Việt Nam cứ đến sanh nhật là lại ngân nga những câu hát của người Mỹ “Happy birthday to you…”, đã làm cho một người say mê âm nhạc dân tộc quyết tâm đặt ra một bài hát để cho các bạn Việt Nam nơi đất khách (Pháp) hát để mừng sinh nhật của mình. Ấy vậy mới thấy được lòng yêu nước nồng nàn và mong muốn truyền bá âm nhạc dân tộc của Giáo sư – Tiến sĩ Trần Văn Khê là bao la và vô tận đến đâu. Cùng tâm huyết lưu giữ nét truyền thống quý báu của quốc gia, với ông sự nghiệp bảo tồn nền văn hóa là muôn đời.

Cố Giáo sư – Tiến sĩ Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 07 năm 1921 tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền.

Tháng 6 năm 1958, ông bảo về xuất sắc luận án tiến sĩ với đề tài chính “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” và hai đề tài phụ “Khổng Tử và âm nhạc”, “Vị trí âm nhạc trong xã hội Việt Nam” và trở thành người Việt Nam đầu tiên có bằng tiến sĩ nhạc học tại Pháp. Trong suốt những năm tháng cuộc đời ông luôn tâm niệm giữ gìn và phát huy âm nhạc dân tộc. Ông đã đi qua 67 nước trên thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Trên cả mục đích công việc, đó là sự thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc của một người con hơn 55 năm bôn ba xứ người vẫn luôn đau đáu, làm sao để âm nhạc truyền thống Việt Nam. Thế nhưng chưa bao giờ ông quên mình là một người Việt Nam và một lòng hướng về đấy nước. Nhất là chất giọng đậm chất Đông Nam Bộ của ông, không mai một, thay đổi dẫu bao năm nơi học tập, làm việc đất khách quê người. Mọi hoạt động từ nói chuyện với con cháu, viết thơ, viết sách… ông đều sử dụng Tiếng Việt. Cố giáo sư được xem là báu vật của nước nhà, ông chính là người đã có công nghiên cứu và quảng bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam ra thế giới. Dù ở bất cứ nơi đâu, giáo sư Khê đều nói đến giá trị đặc sắc của âm nhạc dân tộc và tầm quan trọng của việc giảng dạy, quảng bá, khai thác đúng nguyên tắc để bảo tồn và phát huy nó. Năm 2006 giáo sư về nước tiếp tục tham gia nghiên cứu, quảng bá âm nhạc truyền thống, với ông âm nhạc dân tộc là hơi thở. Ở Cố Giáo sư Trần Văn Khê, người ta không chỉ học ở kiến thức uyên thâm, ở sự miệt mài tận tụy không ngơi nghỉ mà còn học ở ông nhân cách lớn. Lúc nào và ở đâu, ông cũng hướng về tổ quốc, về quê hương, về văn hóa dân tộc, khiến ai biết đến cũng vô cùng trân trọng.

Ngày 24 tháng 06 năm 2015, vào lúc 2 giờ 55 phút, Giáo sư trút hơi thở cuối cùng tại Bệnh viên Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh sau thời gian dài lâm bệnh.

2.Từ những ngày bé chập chững bước vào mẫu giáo mỗi chúng ta đều đã từng vào một khoảnh khắc nào đó bắt gặp thứ nhạc cụ rất đỗi bình dị, với tiếng kêu thanh thoát mà bất cứ đứa trẻ nào nhìn vào cũng thấy vui, hòa điệu cùng các bài vè. Nhưng mấy ai trong mình từng biết, từng hiểu và từng nghe qua cái tên Song Lang/ Song Loan. Được xem là nhạc cụ “tổ” của dân tộc Kinh.

Là một loại mõ nhỏ bằng gỗ cứng hình tròn dẹt, Song Loan/Song Lang có hình dáng bé nhỏ so với các nhạc cụ khác, một mảnh gỗ tròn chưa bằng miệng chén. Có một cần gõ uốn mỏng hoặc lá thép có độ đàn hồi, trên đầu cần có gắn miếng gỗ nhỏ để gõ xuống thân của nó, tạo ra âm thanh đều đặn “Cốp ! Cốp !”. Song Loan/Song Lang vốn dùng để giữ nhịp. Từ khi nhạc tài tử xuất hiện, thì Song Lang có vị trí cơ bản trong dàn nhạc tài tử và cải lương. Tuy là nhạc cụ nhỏ bé, nhưng cũng vô cùng quan trọng. Có nghĩa là, mỗi nhạc cụ trong dàn nhạc là do một nhạc công đảm trách, còn Song Loan/Song Lang thì không; bất cứ nhạc công nào cũng có thể sử dụng nó, nhưng người điều khiển Song Lang cũng là người phải có tư duy uyên bác về âm nhạc cũng như có tài lãnh đạo cả dàn nhac. Khi sử dụng Song Lang người ta dùng tay hoặc chân đập vào dùi gõ, dùi gõ đập Song Lang tạo ra âm thanh… Song Lang được sử dụng để cầm nhịp trong nhạc tài tử Nam Bộ, trong sân khấu Cải lương và trong Ca Huế. Song Lang giữ vai chính trong dàn nhạc tài tử và cải lương, nhiệm vụ của nó là giữ trường canh cho các nhạc cụ khác theo đó mà giữ tiết tấu nhịp điệu của mình trong lúc hòa tấu. Có thể nói song loan là nền tảng của nhịp điệu cho cả nhạc và ca, nhất là các bản ngắn trong cải lương “ca nói” của các nghệ nhân đạt yêu cầu là nhờ có tính hiệu của song loan. Vì thế, trong giới cải lương tôn vinh Song Lang như “Tổ” là vậy. Tôi đến với Song Lang từ những ngày ấu thơ, qua những bài vè, những tiết tấu cứ âm vang mãi trong tâm trí bé nhỏ. Từng cuộc thi nho nhỏ nơi góc trường mầm non như tiếp thêm ngọn lửa yêu quý thứ nhạc cụ giản dị như đầy những âm sắc vọng vang khắp xóm làng. Mỗi ngày đến trường, giờ sinh hoạt cùng tiếng Song Lang hòa điệu là niềm vui, là tuổi thơ và là cả một bầu trời kí ức cho lứa trẻ. Lớn dần chúng tôi rời xa nơi đất mẹ, đến với thành phố xa hoa, tráng lệ, nhưng đâu đó trong tâm mình vẫn lưu giữ hình ảnh mập mờ của thứ nhạc cụ ít được nhắc tên. Cũng đâu đó đã có lần, bản thân mình đắm chìm trong thế giới của những điều mới lạ mà quên đi mất thứ tinh thần dân tộc nhỏ bé mà Song Lang lưu giữ và bảo tồn. Vậy mới thấy được người trẻ quả thực đã đôi khi vô tình lãng quên mất giá trị văn hóa đất nước qua những thứ âm nhạc vừa thâm thúy vừa đặc trưng. Chính vì những sự đặc biệt riêng của nó mà không ít lần, Cố giáo sư Trần Văn Khê dành nhiều thời gian để giới thiệu, quảng bá cho người trẻ, người nước ngoài về văn hóa tốt đẹp mà Song Lang mang lại trong đời sống của mỗi con người Việt Nam. Qua đó nhấn mạnh nét đẹp truyền thống từ nhạc cụ âm nhạc dân tộc mà mỗi chúng ta cần bảo tồn, học học, phát huy, và biểu diễn, quảng bá.

Cố GS. Trần Văn Khê là một cây đại thụ trong làng âm nhạc Việt Nam, được tất cả các nhạc sĩ từ già đến trẻ đều yêu quý, ngưỡng mộ. Cái vĩ đại nhất của GS. Trần Văn Khê là hiểu biết của ông về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Dường như tất cả thời gian và tâm huyết của ông đều dành cho việc giảng dạy, sưu tầm nghiên cứu âm nhạc dân tộc cùng với việc đi quảng bá nghệ thuật dân tộc Việt Nam trên khắp năm châu. Ông là một kho tri thức về chèo, tuồng, ả đào, hát xẩm, hát ví, hát bài chòi, điệu hò, điệu lý, nhạc tài tử… Từ vốn kiến thức đồ sộ tích lũy được qua thời gian, GS. Trần Văn Khê như một kho từ điển sống về âm nhạc.

Trong thời đại công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay, với lời nhắn nhủ của Cố Giáo sư sẽ có rất nhiều người nước ngoài đến thăm đất nước chúng ta, nhìn nhận đát nước chúng ta, khi đó người trẻ cần cho họ thấy được nét đặc trưng, đặc biệt và bản sắc của dân tộc Việt Nam.

Do đó, chúng ta mỗi người trẻ cần tự hào rằng, đất nước chúng ta có nền ân nhạc, nền văn hóa rất sâu sắc, chúng ta cần hiểu, biết, thương, học tập, gìn giữ và lan truyền cho khắp năm châu, thì chừng đó cái bản sắc văn hóa văn tộc, nghệ thuật dân tộc có một sinh lực mới và sống trường tồn. Cố Giáo sư đã từng nói “Xin các bạn (trẻ) nhớ, đừng quên, đừng mặc cảm, nước ngoài có những hoàng tráng, chúng ta có những cái tế nhị, nước ngoài có bề ngoài, hào nhoáng, nhưng chúng ta có những bề trong cực thâm thúy, nên nhớ những điều đó…”.

Thí sinh Phan Thị Mỹ Duyên – 039: TƯỞNG NHỚ GS. TRẦN VĂN KHÊ & NHỮNG LỜI RU CỦA MẸ

Nguyễn Quốc Thệ

· 💧♥️Thí sinh Phan Thị Mỹ Duyên – 039

💧♥️TƯỞNG NHỚ GS. TRẦN VĂN KHÊ & NHỮNG LỜI RU CỦA MẸ

Tôi là sinh viên Khoa Du lịch – Trường Đại học Văn Hiến, tôi xin viết vài lời về GS. Trần Văn Khê và chia sẻ về những lời ru của mẹ . . . Sinh ra và lớn lên tại vùng đất miền Tây Nam Bộ nơi có những câu vọng cổ, điệu lý, câu hò. Từ nhỏ tôi đã được ông Nội là một “thầy đờn” của xóm đàn cho nghe, dạy cho tôi hát vọng cổ và những câu hò điệu lý. Mỗi lần thấy Nội cùng các cô chú trong xóm lại nhà và cùng hội hợp đàn hát thì mình lúc nào cũng ngồi nghe say xưa. Vì say mê những câu hò, câu hát ấy nên lúc nào ngủ trưa thì tôi luôn nằng nặc đòi mẹ hát ru để ngủ.

Khi lớn lên tôi vẫn rất thích những câu hò điệu lý và những làn điệu dân ca quê hương. Nên đã học hỏi và tìm hiểu về hát vọng cổ và những câu hò. Là một hướng dẫn viên du lịch nên luôn tôi luôn muốn giới thiệu với du khách và ngoài nước về loại hình nhạc truyền thống Nam Bộ. Cho dù tôi dẫn tour trong nước hay ngoài nước tôi cũng hát để truyền tải hết niềm đam mê về dòng nhạc ấy đến du khách. Đam mê dòng nhạc này nên tôi không thể không biết đến Giáo sư Tiến sĩ âm nhạc Trần Văn Khê là một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền nổi tiếng ở Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư đã viết nên những trang sử vàng đáng nhớ cho nền âm nhạc Việt Nam. Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại vùng đất Tiền Giang trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt), Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm. Thông minh và tài năng ông đã giành được nhiều suất học bổng. Ông là người Việt Nam đầu tiên có bằng Tiến sĩ Nhạc Học tại Pháp. Giáo sư Tiến sĩ Trân Văn khê là người đã có công nghiên cứu và quảng bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam ra thế giới. Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam.

Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, năm 2006, ông chính thức trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc. Ngoài ra ông còn quan tâm đến việc giảng dạy cho các cháu nhỏ. Đấy chính là một biện pháp để duy trì nền âm nhạc dân tộc Việt Nam. Ông tự mình mở nhiều lớp và có các câu lạc bộ để thu hút các cháu.

Việc làm của ông trong phạm vi không lớn lắm nhưng có thể nói rằng ông là con người cả đời đã cống hiến cho nền âm nhạc dân tộc Việt Nam. Nói về một con người thì có lẽ đấy là điểm đậm nhất, đẹp nhất về ông. Sau một thời gian bị bệnh, ông qua đời vào khoảng hai giờ sáng ngày 24 tháng 6 năm 2015 tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh.

2.Nghệ thuật hát ru Nam Bộ chẳng mấy ai nghĩ rằng mình nên người là nhờ tiếng ru của mẹ. Và, cũng chẳng mấy ai nhớ câu ru nào mẹ đã ru mình.

Hát ru là bài hát đầu tiên cho một con người mới cất tiếng khóc chào đời. Bài hát đó được cất lên từ nỗi sung sướng hay cơ cực, hân hoan hay buồn tủi… do chính người mẹ đã mang nặng đẻ đau sinh ra một hình hài. Ngay từ xa xưa ở Việt Nam, phần lớn các câu trong bài hát ru con lấy từ ca dao, đồng dao, hay trích từ các loại thơ hoặc hò dân gian được truyền miệng từ bà xuống mẹ, thế hệ trước sang thế hệ sau. Do đó, những bài hát này rất đa dạng mộc mạc và mang đậm chất người dân lao động miền Tây.

Ầu ơi… ví dầu.Cầu ván đóng đinh.

Cầu treo lắc lẻo,Gập ghềnh khó qua…

Ầu ơ i…Khó qua mẹ dắt con qua…

Con đi trường học,Mẹ đi trường đời…

Đối với tôi những câu hát ấy như in vào tâm trí đến tận bây giờ. Cho dù ở nơi đâu và ở vị trí nào tôi cũng luôn gìn giữ và tiếp nối với những văn hóa dân gian Việt Nam. Mong sau này những câu hát ru sẽ được nhiều người biết đến và hát ru con. Thay vào đó cho các cháu sau này biết thêm về nghệ thuật hát ru. Để trẻ thơ ngày nay không phải chỉ biết gắn liền với các thiết bị thông minh mà còn biết được rất nhiều điều bổ ít từ trong những lời ru câu hát.

Các bạn trẻ như tôi có hứa với tôi sau này chúng ta có chồng, sinh con thì nhất định hát ru thật hay cho con mình nghe không?

Thí sinh Nguyễn Phúc Hậu – 033: TRẦN VĂN KHÊ – CON NGƯỜI MANG NẶNG CHỮ TÌNH

Nguyễn Quốc Thệ

💧♥️Thí sinh Nguyễn Phúc Hậu – 033

💧♥️Đến từ ĐH Sư Phạm Tp. HCM

TRẦN VĂN KHÊ – CON NGƯỜI MANG NẶNG CHỮ TÌNH

Một tiếng tơ đồng vạn tiếng thương!

1. Đôi dòng tâm tình về cố GS. TS Trần Văn Khê

Auguste Rodin là một họa sĩ và được biết đến là một nhà điêu khắc nổi tiếng của Pháp, lúc sinh thời ông đã từng nói: “The artist must create a spark before he can make a fire and before art is born, the artist must be ready to be consumed by the fire of his own creation.” Có thể tạm dịch “Người nghệ sĩ phải tạo ra một tia lửa trước khi có thể nhóm lên ngọn lửa và trước khi nghệ thuật sinh ra, người nghệ sĩ phải sẵn sàng để ngọn lửa sáng tạo của chính mình nuốt trọn.” Tôi cho rằng đây là một ý kiến hoàn toàn đúng bởi lẽ ngay trong đời sống này tôi đã tìm thấy được một con người, một minh chứng đáp ứng được những lời lẽ của ngài Rodin. Tôi chẳng phải tốn công đi tìm người nghệ sĩ đó vì ông ấy luôn hiện hữu trong tâm trí tôi, người đó không ai khác ngoài cố GS.TS Trần Văn Khê – con người mang nặng chữ tình.

Tôi sinh ra và lớn lên ở xã Đông Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Một diễm phúc lớn và đáng tự hào của tôi là khi quê nhà có được vị GS lừng danh và lỗi lạc. GS. TS Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang). Ông sinh trưởng trong một nhà có bốn đời làm nghệ thuật. Với dòng chảy truyền thống của gia đình đã làm cho ông có tình yêu với âm nhạc cổ truyền ngay từ khi còn nhỏ. Mấy ai biết được thuở ấu thơ người đàn ông này đã phải chịu cảnh mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch và Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Tiếng tăm và sự nghiệp của ông có được ngày hôm nay là cả một quá trình tự phấn đấu và rèn luyện, từ một cậu bé quê đến GS. TS âm nhạc học được cả thế giới công nhận và biết đến, con đường ấy chắc hẳn sẽ không có một ai ngoài Trần Văn Khê. Tuy nhiên, chúng ta hãy hi vọng và nỗ lực trong mọi hoàn cảnh, hãy lấy ông làm tấm gương sáng để học tập và cố gắng từng ngày.

Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác; là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies). Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam, đây là một việc làm đầy ý nghĩa cho việc đưa âm nhạc Việt Nam ra quốc tế. Cuộc hành trình rời xa quê hương sau 50 năm, cuối cùng năm 2006, ông chính thức về nước và sinh sống tại căn nhà số 32 Huỳnh Đình Hai, quận Bình Thạnh, TP. HCM, dù tuổi cao sức yếu nhưng ông vẫn tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông đã hiến cho TP. HCM 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc. Năm 2009, ông là một trong những trí thức nổi tiếng ký vào thư phản đối dự án Boxit ở Tây Nguyên. Sau một thời gian bị bệnh, ông qua đời vào khoảng hai giờ sáng ngày 24 tháng 6 năm 2015 tại bệnh viện Nhân dân Gia Định, TP. HCM.

Trong Truyện Kiều, đại thi hào dân tộc Nguyễn Du có viết:

“Thiện tâm ở tại lòng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”

Quả thật đối với một người như GS. Trần Văn Khê, ông là kết tinh của mọi sự tinh hoa. Một người Việt Nam có kiến thức sâu rộng về văn hóa, văn học, âm nhạc,… thông thạo nhiều ngoại ngữ như Pháp, Anh, Trung, Nhật,… có sự nghiệp được cả thế giới công nhận và kính trọng thì đây là một niềm tự hào, một vinh dự vô cùng to lớn đối với Việt Nam.

Đối với ông nghệ thuật âm nhạc cổ truyền dân tộc là một lẽ sống, là kho tàng quý báu của ông cha ta để lại, chúng ta phải có nghĩa vụ học hỏi, tiếp thu và lưu truyền. Từ những bài giảng thể hiện lối tâm tình, sự uyên bác đó đã khiến cho tôi ngày càng say mê với văn hóa, nghệ thuật truyền thống dân tộc và xem thầy là một vị thầy khả kính. Tôi biết tâm nguyện của ông còn rất nhiều, nhất là việc đưa âm nhạc dân tộc vào học đường. Tâm nguyện này cho đến giờ vẫn chưa được thực hiện, tôi mong rằng các nhà giáo dục xem xét đưa việc giảng dạy âm nhạc truyền thống vào trường học nhằm giúp cho các thế hệ sau tiếp nối, và phát huy những giá trị tốt đẹp mà ông cha ta đã gầy dựng. Trong năm nay do đại dịch covid hoành hành nên kỵ giỗ của thầy không được tổ chức. Với tấm lòng hiếu kính của nhiều học trò, thân hữu, bạn bè trong và ngoài nước nên nén tâm hương cùng những lời cầu nguyện trước áng tiền của thầy vẫn bay khắp trời Nam.

2. Ý nghĩa của văn hóa Việt Nam qua các cổ bản Cải lương

Theo hệ thống ngũ cung hò – xự – xang – xê – cống líu sáu bài Bắc được sắp xếp như sau:

1. Lưu thủy, hò, kim màu trắng, 16 câu tượng trưng thập nhị tức là 12 chi gồm 12 con giáp và tứ thời.

2. Phú lục, xự, mộc màu xanh, 17 câu tượng trưng 12 chi và ngũ phương.

3. Bình bán, xang, thủy màu đên, 22 câu tượng trưng 12 chi và thiên can.

4. Cổ bản, xê, hỏa màu đỏ, 34 câu tượng trưng 12 chi, thiên can 10, bát tiên ( Xuân phân, thu phân, hạ chí, đông chí, lập xuân – hạ – thu – đông)

5. Xuân tình, cống, thổ màu vàng, 24 câu tượng trưng 12 chi, thiên can 10 và âm dương

6. Tây thi, líu, kim màu trắng 26 câu tượng trưng 12 chi, 10 thiên can và tứ thời _

Bài lưu thủy vô đầu bản cung hò mang ý nghĩa chúc nhau nước chảy thông lưu không gì cản trở, bước đầu đời mọi việc êm xuôi tốt đẹp, nước là điều kiện tối ưu tạo ra sự sống của mọi sinh vật, hò – kim (màu trắng) kết hợp tạo thành bức tranh thủy mặc tuyệt đẹp._Phú lục hay còn gọi là phú lục chấn vô đầu bản là cung xự, phú là nhiều, lục là lục địa, chấn là rộng lớn ngày xưa những dịp lễ lạc cúng đình, chùa, miếu mạo,

Hoặc ăn tư niên nhà, khai trương thương hiệu đều chúc nhau hai bài lưu thủy trường và phú lục chấn, ngụ ý chúc cho nhau mọi việc đều thông lưu như nước chảy giàu có, đất đai phì nhiêu, cò bay thẳng cánh, cuộc sống thịnh vượng bình an. Hai bài này kết hợp đàn liên tục ngụ ý một đất nước muốn lớn mạnh phải dựa trên sông ngòi, biển cả, đất đai, địa lí ôn hòa, dân chúng ấm no, gia đình hạnh phú._

Bình bán, mở đầu bài bằng chữ xang bài thứ 3 trong 6 Bắc, bình là bằng bán là phân nửa, ở giữa trong thanh âm ngũ cung chúng ta thấy xang ở giữa trên và dưới đều có hai chữ xang nền đen sinh ra u, xự màu xanh mang ý nghĩa thủy sinh mộc

_Cổ bản, bài thứ 4 trong 6 bài bắc, cổ bản vô đầu bản cung xê, đây là một trong những bản âm nhạc cổ truyền biểu hiện, diễn tả căn bản luân lí Việt Nam theo thuyết Khổng Tử, Mạnh Tử, gọi là tam can : quân thần vua tôi, phụ tử cha con, phu thê chồng vợ, ngũ thường: nhân lễ nghĩa trí tính, cung xê hỏa màu đỏ, hỏa sinh thổ màu vàng, màu đỏ sinh màu vàng lửa đốt cháy rừng biến thành đất từ đó chúng ta cổ bản có thêm một cách đờn nữa là chuyển từ hơi Bắc qua hơi Ai gọi là cổ bản ai.

_Xuân tình, bài thứ năm trong sáu bài Bắc,vô đầu bằng chữ cống vui vẻ, phấn khởi có nghĩa là tình xuân, tình cảm của tuổi thanh xuân điển hình con người ở lứa tuổi luôn chứa chang một tình cảm nồng nàn, tràn đầy sức sống thích xông tới không sợ chông gai hầm hố, chữ cống nền vàng sinh màu trắng, hò liu thổ sinh kim.

_Tây Thi, bài thứ sáu trong sáu bài Bắc, bài này được sáng tác vào đầu thế kỉ XX bởi bốn nhạc sĩ miền Nam, trong đó có ông Tư Quán một danh cầm xuất thân từ miền Đông cùng nhau đi biểu diễn nhạc cổ truyền miền Nam tại hội chợ quốc tế Paris, với ý nghĩa là đi Tây để thi âm nhạc.

Thí sinh Hồ Vũ Thủy Tiên – 031: Từ quê hương của Di sản thế giới BÀI CHÒI, viết về cây đại thụ của nền âm nhạc truyền thống Việt Nam (Hồ Vũ Thủy Tiên – Quảng Ngãi)

Nguyễn Quốc Thệ

dftYdSuescttSheSrplddoaay lnsatr 5So:r0rml2 PuceMdr  · 💧♥️Thí sinh Hồ Vũ Thủy Tiên – 031

💧♥️

Từ quê hương của Di sản thế giới BÀI CHÒI, viết về cây đại thụ của nền âm nhạc truyền thống Việt Nam (Hồ Vũ Thủy Tiên – Quảng Ngãi)

Thấm thoát đã tròn 100 năm ngày sinh của Giáo sư Trần Văn Khê – Người truyền lửa và đưa âm nhạc truyền thống Việt Nam đến với bạn bè thế giới. Ông đã dành cả cuộc đời của mình cho âm nhạc, cho những giai điệu bắt nguồn từ đời sống văn hóa đặc trưng của người Việt Nam.


GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ – NGƯỜI TRUYỀN LỬA TÌNH YÊU ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM


Ngược thời gian về ngày 24 tháng 7 năm 1921, GS Trần Văn Khê được sinh ra trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ và sống với âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Ông được tiếp xúc âm nhạc ngay từ thuở lọt lòng cả khi chơi, khi ngủ. Âm nhạc là truyền thống của gia đình, trở thành hơi thở, thành ước mơ và ngọn lửa cháy bổng trong lòng của ông.
Tròn một tuổi, Trần Văn Khê đã bộc lộ sự cảm âm trong tiếng đờn của ông nội, ông đờn nhanh thì nhảy nhanh, còn đàn chậm thì nhảy chậm. Rồi cứ thế, ông bắt đầu tập và chơi nhuần nhuyễn các loại nhạc cụ, hiểu rành rọt các thể điệu, kiểu cung lại thêm truyền thống gia đình, lớn lên được tiếp thu nền Tây học rồi lại được du học Pháp là điều kiện để ngọn lửa âm nhạc trong ông tiếp tục rực cháy trở thành người truyền lửa tình yêu âm nhạc nước nhà.


Năm 1942, cậu bé Trần Văn Khê ngày nào đã trở thành chàng trai 21 tuổi chất phác, hồn hậu, học giỏi và được đại diện học tại trường Y Hà Nội. Ông học y để chữa bệnh cứu người và cũng có nhiều đóng góp trong nền âm nhạc lúc bấy giờ. Lần tham gia cách mạng, ông dùng âm nhạc làm vũ khí khích lệ tinh thần lạc quan của đồng bào mình trong kháng chiến. Rồi năm 1949, ông được sang Pháp du học và sau đó làm luận án tiến sĩ với đề tài “Âm nhạc truyền thống việt Nam”.


Vào năm 1958, ông bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ chủ đề về “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” của Đại học Sorbonne, Pháp. Từ đó, ông bước vào con đường nghiên cứu, giảng dạy, diễn thuyết liên tục tại Pháp và nhiều quốc gia. Đây chính là mốc thời gian đáng nhớ, khi Trần Văn Khê – tiến sĩ âm nhạc người Việt đã mang tiếng lòng dân tộc Việt Nam đến bè bạn năm châu, để hiểu hơn về dân tộc Việt ngoan cường nhưng tâm hồn luôn đầy những âm sắc bay bổng. Âm nhạc chính là nghề nghiệp, là hơi thở, cũng là tình yêu và khát vọng cháy bổng của Giáo sư Trần Văn Khê.


Vì hoàn cảnh đất nước, Giáo sư Trần Văn Khê phải sống ở nước ngoài đến hơn nửa đời người. Vậy nhưng 57 năm bôn ba ở nơi đất khách, trái tim ông hướng về Việt Nam và luôn tự hào là người Việt Nam.

“Chất giọng của ông vẫn mang những nét đặc trưng Nam bộ, không hề pha tạp. Và ông chỉ dùng tiếng nước ngoài khi nào buộc phải giao tiếp với người nước ngoài. Còn lại, ông luôn say mê, vui vẻ sử dụng tiếng Việt” (Trích theo tác giả Minh Trần – Báo CAND Xuân 2016). Có một câu nói để đời của Giáo sư Trần Văn Khê được lưu truyền mà tôi vô cùng tâm đắc: “Có người gọi công việc tôi đã làm có tánh tiếp thị âm nhạc Việt Nam đến bạn bè thế giới. Thực ra, tôi chỉ đơn giản muốn mọi người biết về nét đẹp của đất nước mình”. Có thể thấy, tình yêu nước của Giáo sư thật đẹp và đất nước Việt Nam trở nên đẹp hơn với bạn bè thế giới qua công việc của GS Trần Văn Khê. Đất nước mình thật đẹp với những nét đơn sơ, mộc mạc nhưng chất chứa cả cái tình, cái nghĩa như tiếng đàn bầu trong ngôn ngữ thi ca: “Đất nước tôi thon thả giọt đàn bầu” hay “Lắng tai nghe đàn bầu, thánh thót trong đêm thâu/ Tiếng đàn bầu của ta, cung thanh là tiếng mẹ, cung trầm là giọng cha…” Thật vậy, cấu tạo của đàn bầu rất đơn giản, chỉ với một dây đàn nhưng lại thể hiện được đầy đủ mọi giai điệu truyền thống trên cơ sở giàu âm điệu, giàu sức diễn tả với âm thanh phong phú của ngôn ngữ người Việt.
Với tình yêu âm nhạc truyền thống Việt Nam, ông lặn lội khắp các miền đất nước, ghi âm, chụp hình được trên 500 bài dân ca, dân nhạc các loại nhằm tìm hiểu cặn kẽ một nền âm nhạc đa dạng và sâu rộng, cố gắng ghi lại cũng như phục hồi những gì sắp bị chìm vào quên lãng; kêu gọi gìn giữ cái hay, cái đẹp cho thế hệ sau. Sau mấy mươi năm nghiên cứu và giảng dạy tại Pháp, năm 2006, GS. Trần Văn Khê nhất quyết trở về quê hương để sống và cống hiến trong những năm tháng cuối đời cho nền âm nhạc dân tộc nước nhà.
Cả một đời xây một chữ tình
Chẳng vì duyên lợi chẳng vì danh
Tình quê, tình nước, tình nhân loại
Tình nhạc, tình thơ, tình với tình
Thiên phú trời cho đâu đã chắc
Trao dồi luyện tập mới nên tinh
80 ngoài tuổi ngồi ghi lại
Chút lửa tình trao kẻ hậu sinh
(Giáo sư Trần Văn Khê)
“Hậu sinh” mà GS Trần Văn Khê nhắc đến trong đoạn thơ trên là những lời gởi gắm “lửa tình” cho bạn trẻ. Ông dành cả một cuộc đời để ghi lại những giai điệu khắp các miền tổ quốc chỉ mong “hậu sinh” tiếp tục giữ gìn và phát huy. Chúng ta có thể tiếp thu âm nhạc theo thời đại, nhưng không được làm mất đi những giai điệu âm nhạc truyền thống. Bởi vì, âm nhạc truyền thống chính là hơi thở, là linh hồn của văn hóa Việt Nam.
Giáo sư Trần Văn Khê từng cho rằng, trải qua bao thời đại, cha ông ta đã tạo dựng và lưu truyền những nét đặc thù của âm nhạc truyền thống Việt Nam. Khởi nguồn từ những bài hát ru của các bà các mẹ đưa con trẻ chìm vào giấc ngủ, đến bài đồng giao tuổi thơ cùng đám bạn chạy khắp làng. Những ca từ mang tính giáo dục tốt đẹp về kính trên nhường dưới, về ơn nghĩa sinh thành: “Một lòng thờ mẹ kính cha…”. Rồi những buổi đập lúa ngoài đồng, trồng cây ngô, cây sắn người nông dân hò mấy câu lý làm không khí vui tươi và bớt đi mệt nhọc. GS Trần Văn Khê đã dành cả cuộc đời để nói chuyện về nhạc dân tộc với sự kỳ vọng dành cho lớp trẻ, để chúng ta có thể cảm, hiểu, yêu và nhận thức được giá trị đích thực mà âm nhạc dân tộc đem lại.
Thấm thoát, đã 6 năm ngày mất của Giáo sư Trần Văn Khê, cảm xúc của tôi vẫn còn chất chứa những hối tiếc vì chưa được một lần được nghe thầy giảng bài, chưa một lần gặp mặt. Đối với tôi, ông như một người thầy chắp thêm lửa cho tình yêu âm nhạc truyền thống của người Việt Nam mà tôi vô cùng ngưỡng mộ.
Một ngày tháng bảy tưởng nhớ GS Trần Văn Khê – Người truyền lửa tình yêu âm nhạc truyền thống Việt Nam!


2. HÁT LÝ – MỘT LÀN ĐIỆU DÂN CA PHONG PHÚ
Sinh ra ở một vùng quê nghèo miền núi thuộc tỉnh Quảng Ngãi, tuổi thơ tôi gắn với cái nắng miền Trung cháy da thịt, cùng người dân chất chứa nghĩa tình. Từ nhỏ, tôi đã sống cùng ông bà ngoại – thế hệ đã trải qua những năm tháng chiến tranh hào hùng của dân tộc. Sau năm 1975, ông bà có với nhau sáu mặt con rồi tăng gia sản xuất nuôi nấng con nên người. Đến khi mẹ sinh ra tôi, lại phải lặn lội đi làm ăn xa nên tôi lớn lên trong vòng tay chăm sóc yêu thương của ông bà.
Một ngày đầu tháng bảy, tôi chợt nghe đâu đó “Bông xanh, bông trắng rồi lại vàng bông, ơi bạn ơi!” tôi lại nhớ về những bài lý mà bà ngoại hay hát cho tôi nghe. Tôi hay hỏi bà “Sao ngoại thuộc mấy bài hát này, ai bày ngoại học dãy?”. Ngoại tôi đáp: “Tao có biết chữ đâu mà học, từ thời bà cố tụi mày hát nên tao nhớ đến giờ”. Tôi cười tít mắt rồi nói “Ngoại hát thêm mấy bài nữa cho con nghe nghen, con thuộc để sau con hát cho con của con nghe.”. Hai bà cháu cứ thế mà trò chuyện quên cả thời gian. Tình yêu những làn điệu dân ca Việt Nam trong tôi cũng bắt nguồn từ dạo ấy.
Hát lý theo Wikipedia định nghĩa: “Hát lý trong âm nhạc dân gian Việt Nam, là một trong rất nhiều làn điệu dân ca của người Việt, mộc mạc, giản dị. Lý cùng với các làn điệu khác như hò, cò lả, nam ai, nam bình, hát xoan, hát xẩm, hát ru,… tạo những nét độc đáo của dân ca Việt Nam. Điệu lý đặc biệt phát triển ở Trung Bộ và Nam Bộ, miền Trung là trung tâm của các điệu lý. Hát lý được phân biệt với hò vì không gắn liền với một động tác lao động hay giao duyên. Lý cũng có nhạc tính cố định hơn hò, câu hát đều đặn, trong khi hò có thể thêm câu dài câu ngắn, tùy người hát.”
Định nghĩa thì dài dòng thế thôi nhưng ở quê tôi từ trẻ nhỏ đến người già ai cũng hò được các điệu lý. Cứ mỗi lần nghe một điệu lý đâu đó cất lên, là cả một vùng quê êm đềm, cánh đồng, con sông như hiện ra trước mắt. Câu chữ trong điệu lý là hình ảnh đời sống giản dị từ sinh hoạt, lễ hội đến lao động của người dân Việt Nam. Lý là những câu hát bình dân, tác giả là những người dân quê chân chất, chỉ vài câu từ cũng tạo nên một bài lý xua tan cái mệt nhọc. Chẳng ai nhớ một bài Lý gốc hoàn chỉnh từ đâu mà có, chỉ biết Lý truyền khẩu từ người này qua người khác, rồi lan ra từ vùng này qua vùng khác. Cứ thế, mà một cái tên nhưng có hàng chục kiểu hát, ca từ khác nhau. Những bài lý cùng xuất phát từ một câu ca dao gốc có lời ca giống hoặc gần giống nhau, người dân vùng miền đã sáng tạo thêm hoặc bớt một số từ địa phương để hát:
Ai mang con sáo sang sông
Để cho con sáo sổ lồng sáo bay
(Lý con sáo sang sông – quan họ Bắc Ninh)
Ai đem con sáo sang sông
Nên chi con sáo sổng lồng bay xa
(Lý con sáo – Thừa Thiên Huế)
Ai đem con sáo sang sông
Cho sáo sổ lồng con sáo bay xa
(Lý con sáo – Nam Bộ)
Cùng là đề tài con sáo nhưng mỗi bài Lý lại thể hiện dấu ấn địa phương khác nhau. Đó cũng là một trong những yếu tố tạo nên đặc trưng của văn học dân gian và bản sắc văn hóa vùng miền của Việt Nam. Mỗi lần nghe điệu lý, điệu hò cất lên, tôi lại thầm biết ơn GS Trần Văn Khê với những công trình nghiên cứu mà ông để lại từ nhạc cụ đến làn điệu dân ca truyền thống Viêt Nam. Đến nay, nhiều vùng quê tại miền Trung của tôi cũng vẫn giữ được nét đặc trưng của hát lý, rồi lại tạo ra nhiều bài khác để cùng hát cho nhau nghe trong những ngày tăng gia sản xuất.
Việc học hát những làn điệu dân ca chính là một cách để gìn giữ và tiếp nối văn hóa dân gian của Việt Nam. Dù ở lứa tuổi nào, chúng ta cũng nên tìm hiểu và học hát những làn điệu dân ca của Việt Nam (nhất là trẻ nhỏ). Đừng để tuổi thơ của các em chỉ gắn với điện thoại, máy tính và các thiết bị công nghệ khác. Hãy cho trẻ được tiếp cận với văn hóa truyền thống Việt Nam từ âm nhạc dân gian. Bởi những làn điệu dân ca truyền thống luôn mang tính giáo dục, răn dạy chúng ta những đức tính tốt, biết sẻ chia và biết nhớ ơn cội nguồn.
Quảng Ngãi, 12 tháng 07 năm 2021
Hồ Vũ Thủy Tiên

Thí sinh HỒ NHỰT QUANG 035: GS.TS TRẦN VĂN KHÊ VÀ GIÁ TRỊ LỜI RU TRUYỀN THỐNG

Nguyễn Quốc Thệ

1tSiponsoiurehsd  · 💧♥️Thí sinh Hồ Nhựt Quang – 035

💧♥️GS.TS TRẦN VĂN KHÊ VÀ GIÁ TRỊ LỜI RU TRUYỀN THỐNG

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18/07/2021

Thí sinh: Hồ Nhựt Quang

Có lẽ trong mỗi chúng ta, nhất là những ai được sinh ra trước thế hệ Gen Z đều được lớn lên bằng dòng sữa mẹ và lời ru của mẹ. Nội dung lời ru là những thông điệp của người mẹ, người chị, có khi là của người bà hoặc ông, cha, anh…chia sẻ tình cảm về tình yêu quê hương đất nước, tình cảm gia đình, tâm sự buồn vui, ví von trong cuộc sống. Khi ở tuổi còn thơ, chắc chắn chúng ta không thể hiểu được nội dung lời ru là gì, chỉ đón nhận bằng tiết tấu êm dịu, tình cảm và sự trân trọng, bảo bọc, tạo nên cảm giác được an trú để ta chìm vào giấc ngủ nồng nàn, để rồi khi lớn lên, nó trở thành ký ức đẹp khiến ta khắc khoải mỗi khi nhớ về tuổi thơ.

Thú thật, vào trước năm 1995, tôi chưa thể hiểu lời hát ru quý giá thế nào, may mắn, tôi đã được GS.TS Trần Văn Khê- người từ Pháp về trường ĐH KHXH-NV giảng cho sinh viên chúng tôi nghe về văn hóa nghệ thuật truyền thống Việt Nam, trong đó có hát bội, đờn ca tài tử và cải lương, nghệ thuật khóc và cười trên sân khấu…và đã có nói về giá trị lời hát ru trong thai giáo: “Sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn!”

GS-TS Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 năm Tân Dậu, nguyên quán tại làng Đông Hòa (Vĩnh Kim-Tiền Giang ngày nay). Thầy được sinh ra trong một dòng dõi cao quý, cụ cố ngoại của thầy là tướng Nguyễn Tri Phương- một danh thần đầy khí tiết triều Nguyễn. Cả hai bên nội ngoại đều là những gia đình có truyền thống âm nhạc –nghệ thuật nổi tiếng, như thầy đờn Năm Diệm (ông nội), thầy đờn Bảy Triều (thân phụ), cô thứ ba là bà Ba Viện (Trần Ngọc Viện)- người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban. Cậu thứ năm là thầy đờn Năm Khương (Nguyễn Tri Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, cũng là nhà soạn tuồng. Chính vì được sinh ra trong gia đình có truyền thống văn hóa- âm nhạc như thế nên ngày thầy ra đời cũng có sự đặc biệt. Thuở sinh tiền, thầy kể lại rằng: “Hồi má tôi mang thai tôi, thiệt sự là chưa có ai nghĩ đến chuyện thai giáo, chưa biết chăm sóc sức khỏe sanh sản như thế nào là đúng khoa học, phần nhiều dưới quê là nghe lời khuyên của mụ vườn. Gia đình tôi thì có cái khác đó là sau giờ nghỉ trưa, cậu Năm tôi lại đem ống sáo đến thổi những bản đờn truyền thống trong nhạc tài tử cho má tôi nghe. Mỗi ngày mợ Năm tôi đều xoa xoa, vuốt ve bụng má tôi và rồi thủ thỉ nói chuyện một cách êm dịu với em bé trong bụng, thậm chí hát ru ít câu cho em bé nghe… Cậu Năm tôi ý tứ lắm, không cho má tôi đi xem hát bội vì sợ má tôi dễ bị hoảng hốt khi nhìn mặt tướng có nét vẽ vằn vện hoặc là đấu kiếm đấu võ, hò hét khiến ảnh hưởng em bé. Trong phòng ngủ của má tôi, cậu Năm cho treo tranh Tố Nữ, tức là bốn người phụ nữ đờn với vẽ mặt thanh tú đôn hậu. Đến ngày chuyển bụng, mợ Năm tôi luôn túc trực cạnh giường, chuyện trò cho má tôi an tâm bớt lo lắng. Khi tôi vừa lọt lòng thì cậu Năm tôi thổi sáo, chào mừng tôi ra đời. Nghe má tôi kể lại như vậy, tôi cảm thấy rất diễm phước và diễm phước nữa đó là tôi được lớn lên trong gia đình yêu âm nhạc truyền thống, được lớn lên nhờ lời ru của má và mợ. Sau này, khi nhà tôi mang thai con trai đầu lòng là Trần Quang Hải, tôi cũng chăm sóc giống như vậy.” Thông qua các bài diễn thuyết của thầy, tôi đã say sưa nhiều điều thú vị về văn hóa và nghệ thuật truyền thống Việt Nam, hiểu được giá trị ấy đặc biệt quan trọng như thế nào đối với vận mệnh của dân tộc. Thầy đã kết luận tại buổi nói chuyện rằng: Văn hóa còn thì đất nước còn. Có lẽ vì thế, từ một người có chuyên ngành y khoa, học về chính trị, từ một người giỏi về âm nhạc phương Tây, là bạn thân của những nhạc sĩ trứ danh như Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng…thầy chuyển sang nghiên cứu văn hóa-âm nhạc dân tộc Việt Nam. Tháng 6 năm 1958, thầy đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne với luận văn có tên: “LaMusique vietnamienne traditionnelle” (Âm nhạc truyền thống Việt Nam). Mang khát vọng muốn truyền bá văn hóa và nghệ thuật truyền thống Việt Nam vinh danh trên tầm thế giới, từ năm 1963, thầy dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de Paris), trở thành thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác. Thầy còn là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies). Từ lúc xuất dương năm 1949, đến ngày hồi hương năm 2006, thầy đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về văn hóa và âm nhạc dân tộc Việt Nam.

Câu chuyện về cuộc đời và sự nghiệp của thầy giúp tôi có nhiều thay đổi và định hướng tích cực hơn trong cuộc sống. Khi về nước với rất nhiều tài liệu quý của mấy chục năm nghiên cứu và giảng dạy ở nước ngoài, thầy đã sinh sống tại ngôi nhà địa chỉ 32- Huỳnh Đình Hai (Q.Bình Thạnh-TPHCM) tiếp tục chia sẻ về văn hóa –nghệ thuật dân tộc. Bản thân tôi rất ngại ngùng khi tiếp xúc với người nổi tiếng vì sợ ai đó đánh giá khác về mình, tuy nhiên, khoảng cách ấy đã bị xóa nhanh vì 2 lý do:

– Lý do thứ nhất, khi chúng ta gặp GS.TS Trần Văn Khê, chúng ta sẽ nhận được nhiều năng lượng tích cực bởi vì thầy luôn hòa nhã, thân thiện, luôn khen những điều chúng ta đã làm được để chúng ta phấn chấn phát huy hơn. Ở những khuyết điểm của chúng ta thì thầy không bao giờ chê trách, mà sẽ cho chúng ta những giải pháp chọn lựa, nhờ đó chúng ta biết cách tự chuẩn hóa kiến thức và phát huy năng lực bản thân.

– Lý do thứ hai, đừng nghĩ rằng bề dày thâm sâu trong hiểu biết và học vị cao của thầy sẽ làm chúng ta khó với tới, khó tiếp cận. Điểm độc đáo là thầy luôn hóa giải điều khó hiểu thành dễ hiểu, ứng dụng linh hoạt của học thuật mang tính bác học và dân gian ở mức dung dị và hòa hợp nhất để bất kỳ ai dù ở địa phương nào, già hay trẻ, thuộc chuyên ngành khoa học tự nhiên hay xã hội cũng đều dễ hiểu, dễ thực hiện nhất. Thầy quan niệm rằng, đừng trách giới trẻ không quan tâm văn hóa- nghệ thuật truyền thống, mà phải tìm cách giúp cho giới trẻ hiểu biết về văn hóa-nghệ thuật nước nhà, có hiểu thì mới yêu quý, có yêu quý thì mới biết gìn giữ.

May mắn được thầy truyền lửa để cùng thầy chia sẻ về văn hóa ẩm thực, trang phục, lễ giáo, nghệ thuật đờn ca tài tử cải lương, hát bội, hát ru, nghề truyền thống…Thầy đã lập cho tôi một câu lạc bộ văn hóa-nghệ thuật ngay tại hội trường tư gia của thầy mang tên CLB Nghiên cứu và Vinh danh Văn Hóa Nam Bộ được báo đài và nhiều quý vị học giả quan tâm sâu sắc. Trong các chuyên đề nghiên cứu, thầy băn khoăn nhất về việc bảo tồn hát ru Việt Nam vì rất hiếm khi nghe ai đó ru con ngủ như ngày xưa. Tôi còn nhớ thầy đã rất xúc động khi tôi lên sân khấu giao lưu hát ru Nam bộ minh họa cho buổi diễn thuyết của thầy về chủ đề thai giáo vào ngày 12/05/2010. Hôm đó, tôi đã hát ru mấy câu mà ngày xưa bà ngoại tôi đã ru tôi ngủ:

Ầu ơ…con tôi ngủ dại ướt manh,

Mẹ nằm phần ướt, ráo dành cho con.

Ngày sau, con có lớn khôn

,Mẹ già trí lẫn, ầu ơ…mẹ già trí lẫn, chớ hờn nghe con…ơ ầu ơ…

Chưa dứt câu hát ru, tôi đã nghe dưới hàng ghế khán giả có nhiều tiếng nấc nức nở và tôi cũng xúc động rưng rưng khi nhớ về bà ngoại của tôi. Tiếng hát ru của Việt Nam mình lạ lắm, không giống quốc gia nào đâu, có bản sắc rất riêng, mang tính vùng miền khác nhau, chất liệu từ ngữ và giai điệu cũng khác nhau nhưng trầm lắng, luyến láy êm dịu thiết tha. Nội dung lời hát ru của miền Nam lại rất đặc biệt ở chỗ không bị giới hạn kiêng kỵ gì. Ví dụ như vài trường hợp dưới đây:

– Than thở khi biết chồng có vợ bé hoặc muốn đi lấy chồng khác mà sợ phải xa con (có khi không phải thực tế là vậy):

Gió đưa bụi chuối sau hè,

Anh mê vợ bé, bỏ bè con thơ.

Trời mưa bong bóng bập bồng

,Mẹ đi lấy chồng, con ở với ai…

– Mượn món ăn nói về tình mẫu tử, mượn cách làm món ăn để ru con:

Cơm nào ngon, bằng cơm với cá,

Tình nào bằng tình má thương con.

Dí dầu con cá nấu canh,

Bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm.

– Khuyên con biết yêu văn hóa phong tục:

Con ơi, đừng sợ lân đình,

Đừng ghê ông hổ, mà mình tội thêm.

Tội là bỏ tổ, bỏ tiên,

Nhang tàn khói lạnh, tiền hiền quạnh hiu.

Người mẹ chắc chắn không cần phải cố thể hiện như một nghệ sỹ nhưng em bé sẽ tiếp nhận như được thần tượng âm nhạc đem lại sự an trú trong tâm hồn, từ đó nuôi dưỡng từng chút phát triển thể chất lẫn tinh thần. Lời hát ru, điệu ru em đã trở thành sợi chỉ đỏ, chất keo sơn, là nhịp cầu trái tim để khi nhớ về tuổi thơ, nhớ về mẹ cha, nhớ quê hương thì câu hát ru lại vang lên trong ký ức. GS.TS Trần Văn Khê đã cho rằng, cách thai giáo tốt nhất là người mẹ luôn giữ tâm lý lạc quan, quý trọng thai nhi, biết cách kiểm soát tâm lý, tránh sự tức giận vì khoa học đã chứng minh trong cơ thể người mẹ tiết ra rất nhiều chất adrenaline khi tức giận, chất cholamine khi người mẹ sợ hãi, chất endorphine khi người mẹ hạnh phúc và những chất đó đi ngang qua cuống rốn, ảnh hưởng đến thai nhi.

Thầy đã về với thiêng liêng nhưng giá trị lời hát ru và văn hóa nghệ thuật dân tộc vẫn sống mãi trong lòng chúng tôi. Kính như tại,

Hồ Nhựt QuangTPHCM, 18/07/2021

Thí sinh TRƯƠNG Xuân Quốc – 032: “Tìm hiểu về Giáo sư Trần Văn Khê và Âm nhạc truyền thống Việt Nam”

Active

Nguyễn Quốc Thệ

tS2pohhnsuoored  · 💧♥️Thí sinh Trương Xuân Quốc – 032

💧♥️Cháu Trương Xuân Quốc xin gửi lời chào thân thương nhất tới quý ban tổ chức và ban giám khảo cuộc thi “Tìm hiểu về Giáo sư Trần Văn Khê và Âm nhạc truyền thống Việt Nam”.

Cháu hiện là sinh viên Du lịch Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh. Bài dự thi này, cháu viết bằng cả trái tim của một bạn trẻ kính trọng, luôn học tập tấm gương cố GS.TS Trần Văn Khê và tình yêu rộng lớn, bất diệt với âm nhạc truyền thống Việt Nam. Với sự hiểu biết vừa phải của bản thân, có lẽ sẽ không tránh khỏi những thiếu xót, rất mong sự cảm thông của quý ban giám khảo và bạn đọc.

1. Tìm hiểu về Giáo sư Trần Văn Khê

Cuộc đời Giáo sư Trần Văn Khê

GS.TS Trần Văn Khê (1921 – 2015), ông sinh tại làng tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang). Ông sinh ra trong gia đình bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã quen với âm nhạc truyền thống. Lên 12 tuổi, ông đã sử dụng thành thạo nhiều nhạc cụ dân tộc như: đàn tranh, trống, đàn kìm, sáo,…. Năm 1942, ông ra Hà Nội học Y khoa, ít lâu sau ông trở về miền Nam, theo phong trào thanh niên, sang Pháp để học tập vào năm 1949. Năm 1951 ông đậu và học tại khoa giao dịch quốc tế Trường chính trị Paris. Sau đó, ông bị bệnh phải nằm viện 3 năm 2 tháng. Đến năm 1954, ông chuyển sang học và chuẩn bị luận án tiến sĩ tại Paris-Sorbonne University về âm nhạc truyền thống Việt Nam. Tháng 6 năm 1958, ông là người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ “Âm nhạc truyền thống Việt Nam”. Từ đó, ông hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc trên thế giới với ước mong truyền bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra ngoài thế giới.

Từ 1965 đến 1988, giáo sư là giảng viên bộ môn dân tộc nhạc học tại Paris-Sorbonne University. Ở trường đại học này, ông đã hướng dẫn nhiều nghiên cứu sinh và là giám khảo của hơn 40 cuộc thi cao học và tiến sĩ. Từ 1970 đến 2004, ông còn là giáo sư thỉnh giảng cho hơn 15 trường đại học trên khắp thế giới. Riêng thuyết trình và biểu diễn âm nhạc truyền thống của Việt Nam, ông đã tham dự trên 20 liên hoan âm nhạc thế giới, trên 200 hội nghị quốc tế về âm nhạc ở khắp năm châu.

Năm 2006, năm 85 tuổi, ông về Việt Nam sống tại Bình Thạnh (TP. HCM) cho đến khi ông “thung dung cánh hạc nhập thiên thai” (lời TS. Nguyễn Xuân Diện) vào 24/6/2015. Khi về Việt Nam, ông đã chuyển về 435 kiện sách, trong đó hơn 10.000 đầu sách, tạp chí liên quan đến nghiên cứu, giới thiệu âm nhạc truyền thống Việt Nam và âm nhạc thế giới; các hiện vật âm nhạc như nhạc cụ, đĩa, băng ghi âm, hình ảnh, sách báo, bằng khen, huy hiệu… Trong đó, đáng chú ý còn có hơn 200 quyển ghi chép do Giáo sư ghi lại trong suốt hành trình nghiên cứu và gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp. Căn nhà số 32 Huỳnh Đình Hai của ông trở thành địa chỉ văn hóa, cùng với nhiều nhà nghiên cứu, nghệ sĩ âm nhạc dân tộc. Giáo sư đã tổ chức thường xuyên các hoạt động văn hóa, giới thiệu, chia sẻ kiến thức, biểu diễn về các loại hình di sản văn hóa phi vật thể vô cùng đặc sắc và hoàn toàn miễn phí.

Trong thời gian sống tại quê hương, tuy đã qua tuổi thất thập cổ lai hy, tuổi đáng ra phải nghỉ ngơi và dưỡng lão. Nhưng ông vẫn không ngừng học tập, cống hiến, tổ chức và tham gia nhiều buổi giới thiệu âm nhạc truyền thống Việt Nam, tham gia các kỷ yếu hội thảo khoa học. Đặc biệt năm 2005, ông được UNESCO chọn là người phản biện bộ hồ sơ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, đó là một điều hết sức mừng rỡ và hãnh diện cho Việt Nam. Giờ đây, chúng ta có 13 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh thì hầu hết trong đó đều có sự nâng niu từ bàn tay của ông.

Ông nói cái gì cũng chi ly, chi tiết, đầy đủ chứng lý, minh họa. Nói đến đâu hát đến đó, nói đến nhạc cụ nào thì miệng nói tay đàn. Ông có cách trình bày, diễn giải, nói một chuyện rất đơn giản nhưng rất hấp dẫn; nói một chuyện phức tạp nhưng rất dễ hiểu. Ông còn am hiểu và giới thiệu về văn hóa, ẩm thực, tín ngưỡng, tôn giáo, giáo dục, nghe đơn giản, hấp dẫn, mới mẻ và thuyết phục.

Di sản Trần Văn Khê

Giờ đây, ông đã trở thành người thiên cổ nhưng những bài báo, sách vở, bài viết, băng dĩa, cung cách sống, phong cách ông giới thiệu về văn hóa Việt Nam là di sản lớn cần phải bảo tồn, chia sẻ và học tập. Bản thân cháu rất muốn đọc nhiều hơn những quyển sách, bài viết, nghe nhiều hơn những buổi nói chuyện của Giáo sư, nhưng hành trình ấy rất khó khăn. Hiện tại, cháu chỉ sưu tầm hơn 100 video và hơn 30 bài viết của Giáo sư, thật sự còn quá ít! Cháu muốn học tập nhiều hơn từ ông, nhưng biết tìm ở đâu?

Cháu rất mong, trong sinh nhật kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông. Sẽ có những dự án offline và online được khởi xướng. Một là, xây dựng nhà tưởng niệm cố GS.TS Trần Văn Khê tại TP. HCM, ở đó mọi người có thể đến để tưởng niệm, xem những tài liệu mà ông để lại, đồng thời nhà tưởng niệm ấy sẽ là điểm đến du để những du khách đến ghé thăm. Ngoài ra, hằng năm có đến hàng vạn học sinh có những chuyến du lịch tại TP. HCM, điểm đến nhà tưởng niệm Giáo sư Trần Văn Khê sẽ là nơi để các bạn nhỏ hiểu biết nhiều hơn về một cuộc đời và những bài học quý báu ông để lại. Hai là, thành lập các fanpage chính thống trên những nền tảng thu hút các bạn trẻ như: Facebook, TikTok, Youtube để truyền tải Di sản Trần Văn Khê đến gần các bạn trẻ nhiều hơn. Ở đó sẽ đăng tải những câu chuyện và bài nói chuyện truyền cảm hứng của Giáo sư, chắc chắn sẽ thu hút rất nhiều người quan tâm, đặc biệt người trẻ.

Cuộc đời của cố GS.TS Trần Văn Khê là một tòa lâu đài nguy nga. Tòa lâu đài ấy là di sản đồ sộ mà thế hệ tiếp nối như cháu cần phải học tập và kế thừa. Giờ đây chỉ cần có chiếc cầu nối để thế hệ mới tiếp xúc Di sản Trần Văn Khê, như thế thì không còn gì hạnh phúc hơn.

2. Âm nhạc truyền thống Việt Nam – Nghệ thuật Bài chòi

Khi chúng ta du lịch đến các tỉnh miền Trung thân yêu như: Bình Định, Quảng Nam. Chúng ta không thể nào không tham gia, thưởng thức một trò chơi mà cũng là một loại hình nghệ thuật rất đặc sắc, đó là Bài chòi. Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào lúc 17h15’ ngày 7 tháng 12 năm 2017, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 12 của UNESCO diễn ra tại Jeju, Hàn Quốc.

Đây là di sản văn hóa phi vật thể thứ 12 của Việt Nam được UNESCO ghi danh. Bài chòi có rất nhiều cái hay, nhưng trong giới hạn của bài viết, cháu xin chỉ giới thiệu về cách chơi Bài chòi. Bài chòi 9 tỉnh Trung bộ là một mô hình trò chơi đa dạng và thống nhất. Nơi nào cũng phải hội đủ các điều kiện: thời gian ngày Tết Nguyên Đán, chòi để người chơi ngồi, thẻ bài để bán cho người chơi mua, trống mõ để người chơi gõ lên nếu trúng quân bài hoặc trúng thưởng, anh Hiệu bốc bài và hô tên con bài, ai có ba quân bài trùng với ba con bài trong ba câu hô của anh Hiệu thì người đó thắng cuộc.

Về thời gian, xã hội hiện đại, nhu cầu đánh bài chòi, cũng như nhu cầu thưởng thức của khách du lịch ngày càng cao nên thời gian hô bài chòi không nhất thiết phải cố hữu vào Tết Nguyên Đán mà được tổ chức thường xuyên hơn nhằm phục vụ nhu cầu của khác du lịch, đặc biệt tại Thành phố Hội An (Quảng Nam) và Thành phố Quy Nhơn (Bình Định) có những mô hình hô Bài chòi phục vụ khách du lịch rất thú vị.

Về chòi, có nơi sẽ có 9 chòi, 11 chòi, cũng có nơi có thể lên đến 13 chòi, hình thức sẽ có chòi chệt (người chơi ngồi trên ghế), chòi sàn cao một mái, chòi sàn cao hai mái, mái vòm, tùy vào từng địa phương và đặc điểm môi trường tự nhiên tại nơi diễn ra sẽ có những hình thức chòi khác nhau. Ngày xưa, tên của các chòi được đặt theo Thiên Can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý), Địa Chi (Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi), Bát Quái (Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài), mục đích để người chơi chọn chòi hạp tuổi ngồi vào đó rồi mua thẻ bài để thử vận may đầu năm. Ngày nay, vì nhiều lý do người ta đã thay những tên gọi ấy bằng những con số từ 1 đến 13 (thường 9 chòi). Điều này phần nào làm mất đi một nét văn hóa hồn nhiên và rất đẹp của ông bà ta khi xưa.Về thẻ bài, phải có hai bộ, một bộ bài nọc và một bộ bài cái. Bài cái là loại thẻ gộp ba quân bài làm một thẻ, dùng để bán cho người chơi; bài nọc chỉ một thẻ một con bài dùng để Hô Thai.

Về câu Hô Thai, là câu hát có sẵn từ đời này truyền đời khác, có thể là do anh chị Hiệu sáng tác thêm. Lời Hô Thai phần lớn là lục bát và lục bát biến thể. Nội dung phản ánh tư tưởng, lối sống, nghề nghiệp thường hô theo bốn điệu Xuân Nữ, Cổ Bản, Xàng Xê, Hồ Quảng. Câu Hô Thai phải mang được tên con bài đang được nhắc tới. Đối với các vùng có bài chòi thì mỗi nơi sẽ có phong cách hô riêng.

Như vậy, câu Hô Thai là câu hát đố dành cho người chơi để người chơi đoán tên con bài và chờ anh chị Hiệu thông báo tên con bài. Sau đó đối chiếu với quân bài trên tay mình xem có khớp với quân bài vừa được hô hay không, nếu khớp là trúng. Khi đó người chơi gõ một hồi mõ to để thông báo trúng. Nếu ai có ba quân bài trùng với ba quân bài Hiệu hô thì người đó thắng cuộc. Lúc đó các anh chạy bài hoặc anh chị Hiệu sẽ mang giải thưởng đến trao cho người thắng cuộc. Sau đó bắt đầu một ván bài sôi động, hấp dẫn mới.

Lối chơi Bài chòi thật đơn giản, người chơi không cần tính toán thế bài, ai muốn chơi chỉ cần mua bài và lên chòi thưởng thức điệu Bài chòi và chờ anh Hiệu thông báo con bài. Điểm đặc biệt, người chơi khoảng 9 người mà người xem có đến hàng trăm người, chứng tỏ tính cộng động rất cao. Thứ hai, mặc dù gọi là đánh bài nhưng không mang tính sát phạt, một trò chơi đơn giản thử vận may đầu năm và nhu cầu thưởng thức âm nhạc của người dân. Thứ ba, anh chị Hiệu, người tạo nên sức hấp dẫn của trò chơi với tài năng và khả năng ứng tác ứng tấu hài hước của mình. Để nói về Bài chòi thì còn quá nhiều điều thú vị cần phải nói, rất mong một ngày nào đó cháu có thể có điều kiện để giới thiệu nhiều hơn về di sản văn hóa phi vật thể rất đặc biệt này. Xin chân thành cảm ơn!

Trương Xuân QuốcMùa hè, năm 2021.

Thí sinh LÊ THỊ KIM ANH 026: GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ – NGƯỜI CÓ ĐÓNG GÓP LỚN CHO NỀN ÂM NHẠC TRUYỀN T G GÓP LỚN CHO NỀN ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM, NHẤT LÀ NGHIÊN CỨU VÀ QUẢNG BÀ ÂM NHẠC VIỆT NAM RA THẾ GIỚI

GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ – NGƯỜI CÓ ĐÓNG GÓP LỚN CHO NỀN ÂM NHẠC TRUYỀN T G GÓP LỚN CHO NỀN ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM, NHẤT LÀ NGHIÊN CỨU VÀ QUẢNG BÀ ÂM NHẠC VIỆT NAM RA THẾ GIỚI (Lê Thi Kim Anh , DH Văn Hiến)

1.Ngày 24/6/2015, GS. Trần Văn Khê – một người thầy, một nhà văn hóa lớn, một nhà nghiên cứu và truyền bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam kiệt xuất trút hơi thở sau cùng để bước vào cõi vĩnh hằng sau gần trăm năm hiện diện và góp phần bảo vệ phát huy truyền bá những tinh hoa quê hương đất nước đến với bạn bè năm châu.

GS. Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh,biết đàn những bản dễ như « Lưu Thuỷ », « Bình Bán vắn », « Kim Tiền », « Long Hổ Hội ». Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca. Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931. Ông có một người anh họ ngoại (con ông Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca.

Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt) và Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm.GS. Trần Văn Khê có người em trai là nhạc sĩ Trần Văn Trạch và em gái út là Trần Ngọc Sương. Nhạc sĩ Trần Văn Trạch là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng ở Sài gòn trước năm 1975. Trần Ngọc Sương sinh năm 1925, từng là ca sĩ lấy biệt hiệu là Ngọc Sương, sau đổi lại là Thủy Ngọc trong những năm 1948-50, và hiện sống tại Montreal, Canada.Người vợ duy nhất của GS. Trần Văn Khê là bà Nguyễn Thị Sương (1921-2014). Ông Trần Văn Khê có bốn người con với bà Sương: Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh, kiến trúc sư, hiện sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thị Thủy Tiên hiện sống tại Paris, và Trần Thị Thủy Ngọc, nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu Đông Nam Á của trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học ở Paris.

Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, năm 2006, ông chính thức trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.

Được sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống âm nhạc, thầy Trần Văn Khê ngay từ những năm tháng tuổi thơ đã được hấp thụ những bài học qua tiếng hát ru của mẹ và cung đàn của cha, một phương pháp giáo dục mà sau này thầy vẫn gọi là “thai giáo” là “gia giáo” (giáo dục gia đình) trong các buổi chia sẻ với báo giới, nên âm nhạc truyền thống Việt Nam đã đi vào tâm thức của thầy Trần Văn Khê một cách rất tự nhiên, hình thành nên một tình yêu gắn liền giữa âm nhạc – truyền thống gia đình. Tuy nhiên, do vấn đề thời cuộc, thầy Khê buộc phải rời quê hương lưu lạc nơi đất khách quê người hơn nửa thế kỷ. Trong suốt thời gian sống, học tập và làm việc tại hải ngoại, ý thức dân tộc được điều kiện trỗi dậy trong thầy mạnh mẽ. Đó chính là động lực để thầy say sưa nghiên cứu, so sánh và truyền bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới. Nếu tình yêu âm nhạc của thầy Trần Văn Khê lúc còn ở quê nhà được hình từ “âm nhạc” và “truyền thống gia đình”, thì giờ đây tình yêu ấy còn là quê hương đất nước, dân tộc Việt Nam.

Thầy Trần Văn Khê tuyệt đối không phải là người duy nhất yêu mến nhạc truyền thống, cũng không phải người đầu tiên nghiên cứu và hệ thống lại âm nhạc truyền thống Việt Nam, nhưng chính do bối cảnh lịch sử đã tạo cho thầy có một tiền đề mà không phải ai cũng có được, đó là một tình yêu âm nhạc được xây dựng trên nền tảng của âm nhạc – truyền thống gia đình – truyền thống dân tộc. Chính trên cơ sở ấy, đã tạo nên sự thành công “không tiền khoán hậu” trong suốt hành trình của thầy Trần Văn Khê, để mỗi khi nhắc đến thầy người ta sẽ nghĩ ngay đến âm nhạc và văn hóa Việt Nam, và ngược lại nói đến văn hóa và âm nhạc truyền thống Việt Nam người ta sẽ nghĩ ngay đến thầy Trần Văn Khê.Chính quá trình miệt mài nghiên tầm trong công tác sưu tầm, hệ thống, nghiên cứu với một ý thức cực kỳ cao độ, đã khiến thầy tích tụ được một kho tàng tri thức về âm nhạc truyền thống khổng lồ không chỉ của Việt Nam mà còn của cả Châu Á. Từ đó, thầy luôn có tâm nguyện được giảng dạy và truyền trao tất cả những hiểu biết của mình cho thế hệ kế tục. Trong suốt quá trình giảng dạy tại Đại học Sorbonne, thầy Trần Văn Khê luôn tận tâm giảng dạy cho tất cả các môn sinh tìm đến thầy để học về âm nhạc truyền thống Châu Á. Có rất nhiều trong số đó thành đạt, trở thành những giáo sư, nhà nghiên cứu đầu ngành ở khắp mọi nơi trên thế giới, nhưng rồi Trần Văn Khê với ý thức cao độ về quốc gia dân tộc của mình, thầy mong mỏi được một lần hướng dẫn và chấm luận án cho một sinh viên Việt Nam đến nghiên cứu về âm nhạc Việt Nam tại Đại học Sorbonne. Khát vọng ấy phải đến năm 1976 khi thầy gặp Nguyễn Thuyết Phong, người Việt Nam đến Đại học Sorbonne làm luận án về Âm nhạc Phật giáo Việt Nam thì ông mới thỏa được ước mơ.

Tuy nhiên, trong lòng thầy lại luôn canh cánh một ước mơ to lớn hơn “được dạy âm nhạc Việt Nam cho học sinh Việt Nam ngay trên đất Việt Nam”. Ước mơ ấy của thầy Trần Văn Khê được hiện thực hóa sau khi thầy hồi hương và gặp được thầy Cao Văn Phường – Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Hiệu trưởng Trường Đại học Bình Dương vào năm 2005. Với cuộc gặp gỡ giữa hai tâm hồn lớn có cùng một điểm chung là tự ý thức gánh vác trách nhiệm văn hóa giáo dục của nước nhà mà không chờ đợi bất kỳ sự giao phó nào. Bên cạnh đó, bằng sự đồng cảm sâu sắc với triết lý giáo dục Học – Hỏi – Hiểu – Hành để xây dựng những con người có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội và thiên nhiên của Trường Đại học Bình Dương, thầy Trần Văn Khê đã dành cả mười năm cuối cùng của cuộc đời đồng hành cùng thầy và trò Trường Đại học Bình Dương. Mặc dù tuổi cao sức yếu, mặc dù bệnh tật hành hạ trong những lúc trái gió trở trời, song thầy Trần Văn Khê vẫn luôn ưu ái dành những giờ giảng hăng say về âm nhạc truyền thống, về văn hóa cho các thế hệ thầy và trò Trường Đại học Bình Dương, nơi mà thầy Khê xem như là “ngôi nhà thứ hai” của mình. Trong suốt mười năm gắn bó, thầy Khê và các thế hệ thầy và trò Trường Đại học Bình Dương đã có những kỷ niệm sâu sắc khó có thể phai mờ cùng năm tháng. Mà trên hết chính là cốt cách, tinh thần trách nhiệm của một người thầy mẫu mực trong sự nghiệp phụng sự dân tộc được kết nên từ cuộc đời của thầy Khê sẽ mãi là mực thước để thầy và trò Trường Đại học Bình Dương nâng niu, gìn giữ, học tập.Sự trở về của thầy Trần Văn Khê sau hơn nửa thế kỷ sống tại Pháp cùng với 420 kiện hiện vật quý giá bao gồm sách vở, từ điển, bài viết, đĩa hát, băng cassettes, công trình nghiên cứu, nhật ký diền dã và nhiều nhạc cụ thầy sưu tập được suốt chặng đường nghiên cứu… để hiến tặng cho Việt Nam sau khi thầy qua đời. Điều ấy, lại một lần nữa khẳng định ý thức phụng sự quê hương đất nước, kề vai gánh lấy và hoàn thành xuất sắc một phần trách nhiệm to lớn của đất nước mặc dù không ai giao phó, đó là tinh thần của trí thức chân chính Việt Nam.

2.CẢM NHẬN CỦA EM VỀ LÀN ĐIỆU DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH

Trong các loại hình dân ca tiêu biểu, có thể nói dân ca Quan họ Bắc Ninh được đánh giá là loại hình dân ca đặc sắc và được nhiều người yêu thích nhất. Điều đó được khẳng định không chỉ bởi những làn điệu ngọt ngào, đằm thắm; những ca từ mộc mạc nhưng rất tinh túy mà còn bởi nghề chơi Quan họ độc đáo, đầy sức cuốn hút. Xưa kia, người Quan họ không gọi là hát Quan họ mà gọi là chơi Quan họ, một thú chơi dân dã, tao nhã, nhưng có sức quyến rũ mãnh liệt người chơi và người được thưởng thức. Vào canh hát, người Quan họ như tỉnh như say, canh hát càng về khuya càng trầm, càng bổng, càng mặn nồng thiết tha. Từ khi còn trong nôi, lời ru của bà, của mẹ đẫm chất Quan họ đã thấm sâu vào hồn tôi để rồi mỗi ngày lớn lên, cái chất dân ca đằm say ấy nó lại càng ngấm vào từng mạch máu, hơi thở của tôi. Càng đi sâu vào những làn điệu, những câu ca Quan họ cổ, tôi càng mường tượng ra một không gian Quan họ xưa kia sao mà bao la, ngút ngát nhưng cũng gần gũi, bình dị làm sao. Ẩn chứa trong sự mộc mạc, dung dị của dân ca Quan họ là những nét thanh cao, kiêu sa đến ngưỡng mộ. Có những câu ca rất giản dị, gần gũi mà ăm ắp tình người: « Dưới giời mấy kẻ biết chơiChơi cho lở đất, long giời mới hayChơi cho sông cạn lại đầyCho thuyền về bến, cho mây gặp rồngChơi cho loan phượng trùng phùngChơi cho nên nghĩa nên tình đôi ta ».(Dưới giời mấy kẻ biết chơi)Có những câu ca lại sâu sắc, ẩn chứa những tâm sự đầy vơi nỗi niềm mà người đời xem chừng khó có thể diễn đạt: « Sầu riêng em vẫn âm thầmVui này cho bõ đau ngầm ngày xưa Ai làm gan héo dạ sầuEm ngồi, em nghĩ càng cay đắng lòng.Người về tựa chốn loan phòngEm về thắp ngọn đèn chong canh dài ».(Trống Rồng) Những nỗi niềm gửi trao, những hờn ghen, trách cứ trong câu ca được giãi bày hết sức tế nhị mà sâu sa đến thế: « Anh tư đã có chốn để em chờ đợi luống côngChữ chung tình đã hẹn từ xưa ».(Lòng vẫn đợi chờ)Hoặc: « Yêu hoa phải giữ lấy màu cho hoaXin đừng chê xấu chê xa,Chê em vụng nói cửa nhà neo đơn.Trong làng cũng có nơi hơn,Trái duyên chẳng thuận phải sang quê người ».(Người ngoan)Bao nhiêu làn điệu, bao nhiều lời ca cũng chỉ gói gọn trong chủ đề tình yêu, nhưng đề tài này nói sao cho vừa, nói sao cho hết; một đề tài vô tận để người quan họ khai thác, thế mới thấy sự tài tình xưa kia của người quê Quan họ khi sáng tạo loại hình dân ca quý báu này. Lối chơi tao nhã, phóng khoáng mà lại khiêm nhường của người Quan họ càng làm nổi bật cốt cách của mình. Người Quan họ có nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng mà không nơi nào có được. Giữa bộn bề công việc thường nhật của mình, họ đã tạo ra một không gian riêng biệt, một thú chơi lôi cuốn mọi tầng lớp trong xã hội xa xưa ở xứ sở này đều muốn vào cuộc chơi một cách tự nguyện và hết sức say sưa. Sau những giờ lao động vất vả, họ lại tụ họp bên nhau để ca hát, đặt lời, bẻ giọng những câu ca mới. Họ ca với nhau những canh Quan họ thâu đêm, rạng ngày; cho tàn canh mãn võ để vui dân, vui xóm, vui bầu, vui bạn. Và rồi lúc chia tay họ cứ mãi dùng dằng, dan díu mà chẳng nỡ dứt dây sao cho đành. Ngoài những lúc thư nhàn cùng nhau sinh hoạt văn hóa Quan họ, họ lại gần gũi, động viên, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống khó khăn hàng ngày của mình. Điều đặc biệt quan trọng là họ thực hiện hết sức nghiêm cẩn những gì đã đề ra trong lối chơi Quan họ khi đã thành quy tắc. Người Quan họ luôn cẩn trọng trong trang phục, giao tiếp và mọi hành vi ứng xử của mình. Tất cả những gì mà quê hương Quan họ đã khởi nguồn và gìn giữ cho đến ngày nay thật xứng với thành quả mà họ đã gặt hái được. Chính vì vậy mà vào ngày 30 tháng 9 năm 2009, dân ca Quan họ Bắc Ninh chính thức được tổ chức Unesco công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Sau thời điểm này, dân ca Quan họ Bắc Ninh có thể nói đã đạt đến đỉnh cao về nhu cầu của cộng đồng người nghe cũng như những người muốn tự mình ca lên được những làn điệu dân ca quan họ. Khắp trong và ngoài tỉnh rộ lên phong trào ca hát Quan họ. Nhiều nơi thành lập những câu lạc bộ Quan họ và có nhu cầu học hỏi về loại hình dân ca này. Thật tự hào về nét văn hóa đặc sắc của quê hương và một niềm tin trong tôi cũng như người dân nơi đây chắc chắn sẽ không bao giờ phai: Dân ca Quan họ Bắc Ninh sẽ mãi mãi trường tồn và lan tỏa.

1d  ·

💧
♥️

Thí sinh Lê Thị Kim Anh – 026

💧
♥️

GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ – NGƯỜI CÓ ĐÓNG GÓP LỚN CHO NỀN ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM, NHẤT LÀ NGHIÊN CỨU VÀ QUẢNG BÀ ÂM NHẠC VIỆT NAM RA THẾ GIỚI (Lê Thị Kim Anh – ĐH Văn Hiến)1.Ngày 24/6/2015, GS. Trần Văn Khê – một người thầy, một nhà văn hóa lớn, một nhà nghiên cứu và truyền bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam kiệt xuất trút hơi thở sau cùng để bước vào cõi vĩnh hằng sau gần trăm năm hiện diện và góp phần bảo vệ phát huy truyền bá những tinh hoa quê hương đất nước đến với bạn bè năm châu.GS. Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh,biết đàn những bản dễ như « Lưu Thuỷ », « Bình Bán vắn », « Kim Tiền », « Long Hổ Hội ». Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca. Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931. Ông có một người anh họ ngoại (con ông Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca.Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt) và Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm.GS. Trần Văn Khê có người em trai là nhạc sĩ Trần Văn Trạch và em gái út là Trần Ngọc Sương. Nhạc sĩ Trần Văn Trạch là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng ở Sài gòn trước năm 1975. Trần Ngọc Sương sinh năm 1925, từng là ca sĩ lấy biệt hiệu là Ngọc Sương, sau đổi lại là Thủy Ngọc trong những năm 1948-50, và hiện sống tại Montreal, Canada.Người vợ duy nhất của GS. Trần Văn Khê là bà Nguyễn Thị Sương (1921-2014). Ông Trần Văn Khê có bốn người con với bà Sương: Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh, kiến trúc sư, hiện sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thị Thủy Tiên hiện sống tại Paris, và Trần Thị Thủy Ngọc, nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu Đông Nam Á của trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học ở Paris.Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, năm 2006, ông chính thức trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.Được sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống âm nhạc, thầy Trần Văn Khê ngay từ những năm tháng tuổi thơ đã được hấp thụ những bài học qua tiếng hát ru của mẹ và cung đàn của cha, một phương pháp giáo dục mà sau này thầy vẫn gọi là “thai giáo” là “gia giáo” (giáo dục gia đình) trong các buổi chia sẻ với báo giới, nên âm nhạc truyền thống Việt Nam đã đi vào tâm thức của thầy Trần Văn Khê một cách rất tự nhiên, hình thành nên một tình yêu gắn liền giữa âm nhạc – truyền thống gia đình. Tuy nhiên, do vấn đề thời cuộc, thầy Khê buộc phải rời quê hương lưu lạc nơi đất khách quê người hơn nửa thế kỷ. Trong suốt thời gian sống, học tập và làm việc tại hải ngoại, ý thức dân tộc được điều kiện trỗi dậy trong thầy mạnh mẽ. Đó chính là động lực để thầy say sưa nghiên cứu, so sánh và truyền bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới. Nếu tình yêu âm nhạc của thầy Trần Văn Khê lúc còn ở quê nhà được hình từ “âm nhạc” và “truyền thống gia đình”, thì giờ đây tình yêu ấy còn là quê hương đất nước, dân tộc Việt Nam.Thầy Trần Văn Khê tuyệt đối không phải là người duy nhất yêu mến nhạc truyền thống, cũng không phải người đầu tiên nghiên cứu và hệ thống lại âm nhạc truyền thống Việt Nam, nhưng chính do bối cảnh lịch sử đã tạo cho thầy có một tiền đề mà không phải ai cũng có được, đó là một tình yêu âm nhạc được xây dựng trên nền tảng của âm nhạc – truyền thống gia đình – truyền thống dân tộc. Chính trên cơ sở ấy, đã tạo nên sự thành công “không tiền khoán hậu” trong suốt hành trình của thầy Trần Văn Khê, để mỗi khi nhắc đến thầy người ta sẽ nghĩ ngay đến âm nhạc và văn hóa Việt Nam, và ngược lại nói đến văn hóa và âm nhạc truyền thống Việt Nam người ta sẽ nghĩ ngay đến thầy Trần Văn Khê.Chính quá trình miệt mài nghiên tầm trong công tác sưu tầm, hệ thống, nghiên cứu với một ý thức cực kỳ cao độ, đã khiến thầy tích tụ được một kho tàng tri thức về âm nhạc truyền thống khổng lồ không chỉ của Việt Nam mà còn của cả Châu Á. Từ đó, thầy luôn có tâm nguyện được giảng dạy và truyền trao tất cả những hiểu biết của mình cho thế hệ kế tục. Trong suốt quá trình giảng dạy tại Đại học Sorbonne, thầy Trần Văn Khê luôn tận tâm giảng dạy cho tất cả các môn sinh tìm đến thầy để học về âm nhạc truyền thống Châu Á. Có rất nhiều trong số đó thành đạt, trở thành những giáo sư, nhà nghiên cứu đầu ngành ở khắp mọi nơi trên thế giới, nhưng rồi Trần Văn Khê với ý thức cao độ về quốc gia dân tộc của mình, thầy mong mỏi được một lần hướng dẫn và chấm luận án cho một sinh viên Việt Nam đến nghiên cứu về âm nhạc Việt Nam tại Đại học Sorbonne. Khát vọng ấy phải đến năm 1976 khi thầy gặp Nguyễn Thuyết Phong, người Việt Nam đến Đại học Sorbonne làm luận án về Âm nhạc Phật giáo Việt Nam thì ông mới thỏa được ước mơ.Tuy nhiên, trong lòng thầy lại luôn canh cánh một ước mơ to lớn hơn “được dạy âm nhạc Việt Nam cho học sinh Việt Nam ngay trên đất Việt Nam”. Ước mơ ấy của thầy Trần Văn Khê được hiện thực hóa sau khi thầy hồi hương và gặp được thầy Cao Văn Phường – Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Hiệu trưởng Trường Đại học Bình Dương vào năm 2005. Với cuộc gặp gỡ giữa hai tâm hồn lớn có cùng một điểm chung là tự ý thức gánh vác trách nhiệm văn hóa giáo dục của nước nhà mà không chờ đợi bất kỳ sự giao phó nào. Bên cạnh đó, bằng sự đồng cảm sâu sắc với triết lý giáo dục Học – Hỏi – Hiểu – Hành để xây dựng những con người có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội và thiên nhiên của Trường Đại học Bình Dương, thầy Trần Văn Khê đã dành cả mười năm cuối cùng của cuộc đời đồng hành cùng thầy và trò Trường Đại học Bình Dương. Mặc dù tuổi cao sức yếu, mặc dù bệnh tật hành hạ trong những lúc trái gió trở trời, song thầy Trần Văn Khê vẫn luôn ưu ái dành những giờ giảng hăng say về âm nhạc truyền thống, về văn hóa cho các thế hệ thầy và trò Trường Đại học Bình Dương, nơi mà thầy Khê xem như là “ngôi nhà thứ hai” của mình. Trong suốt mười năm gắn bó, thầy Khê và các thế hệ thầy và trò Trường Đại học Bình Dương đã có những kỷ niệm sâu sắc khó có thể phai mờ cùng năm tháng. Mà trên hết chính là cốt cách, tinh thần trách nhiệm của một người thầy mẫu mực trong sự nghiệp phụng sự dân tộc được kết nên từ cuộc đời của thầy Khê sẽ mãi là mực thước để thầy và trò Trường Đại học Bình Dương nâng niu, gìn giữ, học tập.Sự trở về của thầy Trần Văn Khê sau hơn nửa thế kỷ sống tại Pháp cùng với 420 kiện hiện vật quý giá bao gồm sách vở, từ điển, bài viết, đĩa hát, băng cassettes, công trình nghiên cứu, nhật ký diền dã và nhiều nhạc cụ thầy sưu tập được suốt chặng đường nghiên cứu… để hiến tặng cho Việt Nam sau khi thầy qua đời. Điều ấy, lại một lần nữa khẳng định ý thức phụng sự quê hương đất nước, kề vai gánh lấy và hoàn thành xuất sắc một phần trách nhiệm to lớn của đất nước mặc dù không ai giao phó, đó là tinh thần của trí thức chân chính Việt Nam.2.CẢM NHẬN CỦA EM VỀ LÀN ĐIỆU DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINHTrong các loại hình dân ca tiêu biểu, có thể nói dân ca Quan họ Bắc Ninh được đánh giá là loại hình dân ca đặc sắc và được nhiều người yêu thích nhất. Điều đó được khẳng định không chỉ bởi những làn điệu ngọt ngào, đằm thắm; những ca từ mộc mạc nhưng rất tinh túy mà còn bởi nghề chơi Quan họ độc đáo, đầy sức cuốn hút. Xưa kia, người Quan họ không gọi là hát Quan họ mà gọi là chơi Quan họ, một thú chơi dân dã, tao nhã, nhưng có sức quyến rũ mãnh liệt người chơi và người được thưởng thức. Vào canh hát, người Quan họ như tỉnh như say, canh hát càng về khuya càng trầm, càng bổng, càng mặn nồng thiết tha. Từ khi còn trong nôi, lời ru của bà, của mẹ đẫm chất Quan họ đã thấm sâu vào hồn tôi để rồi mỗi ngày lớn lên, cái chất dân ca đằm say ấy nó lại càng ngấm vào từng mạch máu, hơi thở của tôi. Càng đi sâu vào những làn điệu, những câu ca Quan họ cổ, tôi càng mường tượng ra một không gian Quan họ xưa kia sao mà bao la, ngút ngát nhưng cũng gần gũi, bình dị làm sao. Ẩn chứa trong sự mộc mạc, dung dị của dân ca Quan họ là những nét thanh cao, kiêu sa đến ngưỡng mộ. Có những câu ca rất giản dị, gần gũi mà ăm ắp tình người: « Dưới giời mấy kẻ biết chơiChơi cho lở đất, long giời mới hayChơi cho sông cạn lại đầyCho thuyền về bến, cho mây gặp rồngChơi cho loan phượng trùng phùngChơi cho nên nghĩa nên tình đôi ta ».(Dưới giời mấy kẻ biết chơi)Có những câu ca lại sâu sắc, ẩn chứa những tâm sự đầy vơi nỗi niềm mà người đời xem chừng khó có thể diễn đạt: « Sầu riêng em vẫn âm thầmVui này cho bõ đau ngầm ngày xưa Ai làm gan héo dạ sầuEm ngồi, em nghĩ càng cay đắng lòng.Người về tựa chốn loan phòngEm về thắp ngọn đèn chong canh dài ».(Trống Rồng) Những nỗi niềm gửi trao, những hờn ghen, trách cứ trong câu ca được giãi bày hết sức tế nhị mà sâu sa đến thế: « Anh tư đã có chốn để em chờ đợi luống côngChữ chung tình đã hẹn từ xưa ».(Lòng vẫn đợi chờ)Hoặc: « Yêu hoa phải giữ lấy màu cho hoaXin đừng chê xấu chê xa,Chê em vụng nói cửa nhà neo đơn.Trong làng cũng có nơi hơn,Trái duyên chẳng thuận phải sang quê người ».(Người ngoan)Bao nhiêu làn điệu, bao nhiều lời ca cũng chỉ gói gọn trong chủ đề tình yêu, nhưng đề tài này nói sao cho vừa, nói sao cho hết; một đề tài vô tận để người quan họ khai thác, thế mới thấy sự tài tình xưa kia của người quê Quan họ khi sáng tạo loại hình dân ca quý báu này. Lối chơi tao nhã, phóng khoáng mà lại khiêm nhường của người Quan họ càng làm nổi bật cốt cách của mình. Người Quan họ có nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng mà không nơi nào có được. Giữa bộn bề công việc thường nhật của mình, họ đã tạo ra một không gian riêng biệt, một thú chơi lôi cuốn mọi tầng lớp trong xã hội xa xưa ở xứ sở này đều muốn vào cuộc chơi một cách tự nguyện và hết sức say sưa. Sau những giờ lao động vất vả, họ lại tụ họp bên nhau để ca hát, đặt lời, bẻ giọng những câu ca mới. Họ ca với nhau những canh Quan họ thâu đêm, rạng ngày; cho tàn canh mãn võ để vui dân, vui xóm, vui bầu, vui bạn. Và rồi lúc chia tay họ cứ mãi dùng dằng, dan díu mà chẳng nỡ dứt dây sao cho đành. Ngoài những lúc thư nhàn cùng nhau sinh hoạt văn hóa Quan họ, họ lại gần gũi, động viên, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống khó khăn hàng ngày của mình. Điều đặc biệt quan trọng là họ thực hiện hết sức nghiêm cẩn những gì đã đề ra trong lối chơi Quan họ khi đã thành quy tắc. Người Quan họ luôn cẩn trọng trong trang phục, giao tiếp và mọi hành vi ứng xử của mình. Tất cả những gì mà quê hương Quan họ đã khởi nguồn và gìn giữ cho đến ngày nay thật xứng với thành quả mà họ đã gặt hái được. Chính vì vậy mà vào ngày 30 tháng 9 năm 2009, dân ca Quan họ Bắc Ninh chính thức được tổ chức Unesco công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Sau thời điểm này, dân ca Quan họ Bắc Ninh có thể nói đã đạt đến đỉnh cao về nhu cầu của cộng đồng người nghe cũng như những người muốn tự mình ca lên được những làn điệu dân ca quan họ. Khắp trong và ngoài tỉnh rộ lên phong trào ca hát Quan họ. Nhiều nơi thành lập những câu lạc bộ Quan họ và có nhu cầu học hỏi về loại hình dân ca này. Thật tự hào về nét văn hóa đặc sắc của quê hương và một niềm tin trong tôi cũng như người dân nơi đây chắc chắn sẽ không bao giờ phai: Dân ca Quan họ Bắc Ninh sẽ mãi mãi trường tồn và lan tỏa.

Nguyễn Quốc Thệ

1d  · 💧♥️Thí sinh Lê Thị Kim Anh – 026💧♥️GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ – NGƯỜI CÓ ĐÓNG GÓP LỚN CHO NỀN ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM, NHẤT LÀ NGHIÊN CỨU VÀ QUẢNG BÀ ÂM NHẠC VIỆT NAM RA THẾ GIỚI (Lê Thị Kim Anh – ĐH Văn Hiến)1.Ngày 24/6/2015, GS. Trần Văn Khê – một người thầy, một nhà văn hóa lớn, một nhà nghiên cứu và truyền bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam kiệt xuất trút hơi thở sau cùng để bước vào cõi vĩnh hằng sau gần trăm năm hiện diện và góp phần bảo vệ phát huy truyền bá những tinh hoa quê hương đất nước đến với bạn bè năm châu.GS. Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh,biết đàn những bản dễ như « Lưu Thuỷ », « Bình Bán vắn », « Kim Tiền », « Long Hổ Hội ». Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca. Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931. Ông có một người anh họ ngoại (con ông Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca.Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt) và Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm.GS. Trần Văn Khê có người em trai là nhạc sĩ Trần Văn Trạch và em gái út là Trần Ngọc Sương. Nhạc sĩ Trần Văn Trạch là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng ở Sài gòn trước năm 1975. Trần Ngọc Sương sinh năm 1925, từng là ca sĩ lấy biệt hiệu là Ngọc Sương, sau đổi lại là Thủy Ngọc trong những năm 1948-50, và hiện sống tại Montreal, Canada.Người vợ duy nhất của GS. Trần Văn Khê là bà Nguyễn Thị Sương (1921-2014). Ông Trần Văn Khê có bốn người con với bà Sương: Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh, kiến trúc sư, hiện sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thị Thủy Tiên hiện sống tại Paris, và Trần Thị Thủy Ngọc, nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu Đông Nam Á của trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học ở Paris.Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, năm 2006, ông chính thức trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.Được sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống âm nhạc, thầy Trần Văn Khê ngay từ những năm tháng tuổi thơ đã được hấp thụ những bài học qua tiếng hát ru của mẹ và cung đàn của cha, một phương pháp giáo dục mà sau này thầy vẫn gọi là “thai giáo” là “gia giáo” (giáo dục gia đình) trong các buổi chia sẻ với báo giới, nên âm nhạc truyền thống Việt Nam đã đi vào tâm thức của thầy Trần Văn Khê một cách rất tự nhiên, hình thành nên một tình yêu gắn liền giữa âm nhạc – truyền thống gia đình. Tuy nhiên, do vấn đề thời cuộc, thầy Khê buộc phải rời quê hương lưu lạc nơi đất khách quê người hơn nửa thế kỷ. Trong suốt thời gian sống, học tập và làm việc tại hải ngoại, ý thức dân tộc được điều kiện trỗi dậy trong thầy mạnh mẽ. Đó chính là động lực để thầy say sưa nghiên cứu, so sánh và truyền bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới. Nếu tình yêu âm nhạc của thầy Trần Văn Khê lúc còn ở quê nhà được hình từ “âm nhạc” và “truyền thống gia đình”, thì giờ đây tình yêu ấy còn là quê hương đất nước, dân tộc Việt Nam.Thầy Trần Văn Khê tuyệt đối không phải là người duy nhất yêu mến nhạc truyền thống, cũng không phải người đầu tiên nghiên cứu và hệ thống lại âm nhạc truyền thống Việt Nam, nhưng chính do bối cảnh lịch sử đã tạo cho thầy có một tiền đề mà không phải ai cũng có được, đó là một tình yêu âm nhạc được xây dựng trên nền tảng của âm nhạc – truyền thống gia đình – truyền thống dân tộc. Chính trên cơ sở ấy, đã tạo nên sự thành công “không tiền khoán hậu” trong suốt hành trình của thầy Trần Văn Khê, để mỗi khi nhắc đến thầy người ta sẽ nghĩ ngay đến âm nhạc và văn hóa Việt Nam, và ngược lại nói đến văn hóa và âm nhạc truyền thống Việt Nam người ta sẽ nghĩ ngay đến thầy Trần Văn Khê.Chính quá trình miệt mài nghiên tầm trong công tác sưu tầm, hệ thống, nghiên cứu với một ý thức cực kỳ cao độ, đã khiến thầy tích tụ được một kho tàng tri thức về âm nhạc truyền thống khổng lồ không chỉ của Việt Nam mà còn của cả Châu Á. Từ đó, thầy luôn có tâm nguyện được giảng dạy và truyền trao tất cả những hiểu biết của mình cho thế hệ kế tục. Trong suốt quá trình giảng dạy tại Đại học Sorbonne, thầy Trần Văn Khê luôn tận tâm giảng dạy cho tất cả các môn sinh tìm đến thầy để học về âm nhạc truyền thống Châu Á. Có rất nhiều trong số đó thành đạt, trở thành những giáo sư, nhà nghiên cứu đầu ngành ở khắp mọi nơi trên thế giới, nhưng rồi Trần Văn Khê với ý thức cao độ về quốc gia dân tộc của mình, thầy mong mỏi được một lần hướng dẫn và chấm luận án cho một sinh viên Việt Nam đến nghiên cứu về âm nhạc Việt Nam tại Đại học Sorbonne. Khát vọng ấy phải đến năm 1976 khi thầy gặp Nguyễn Thuyết Phong, người Việt Nam đến Đại học Sorbonne làm luận án về Âm nhạc Phật giáo Việt Nam thì ông mới thỏa được ước mơ.Tuy nhiên, trong lòng thầy lại luôn canh cánh một ước mơ to lớn hơn “được dạy âm nhạc Việt Nam cho học sinh Việt Nam ngay trên đất Việt Nam”. Ước mơ ấy của thầy Trần Văn Khê được hiện thực hóa sau khi thầy hồi hương và gặp được thầy Cao Văn Phường – Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Hiệu trưởng Trường Đại học Bình Dương vào năm 2005. Với cuộc gặp gỡ giữa hai tâm hồn lớn có cùng một điểm chung là tự ý thức gánh vác trách nhiệm văn hóa giáo dục của nước nhà mà không chờ đợi bất kỳ sự giao phó nào. Bên cạnh đó, bằng sự đồng cảm sâu sắc với triết lý giáo dục Học – Hỏi – Hiểu – Hành để xây dựng những con người có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội và thiên nhiên của Trường Đại học Bình Dương, thầy Trần Văn Khê đã dành cả mười năm cuối cùng của cuộc đời đồng hành cùng thầy và trò Trường Đại học Bình Dương. Mặc dù tuổi cao sức yếu, mặc dù bệnh tật hành hạ trong những lúc trái gió trở trời, song thầy Trần Văn Khê vẫn luôn ưu ái dành những giờ giảng hăng say về âm nhạc truyền thống, về văn hóa cho các thế hệ thầy và trò Trường Đại học Bình Dương, nơi mà thầy Khê xem như là “ngôi nhà thứ hai” của mình. Trong suốt mười năm gắn bó, thầy Khê và các thế hệ thầy và trò Trường Đại học Bình Dương đã có những kỷ niệm sâu sắc khó có thể phai mờ cùng năm tháng. Mà trên hết chính là cốt cách, tinh thần trách nhiệm của một người thầy mẫu mực trong sự nghiệp phụng sự dân tộc được kết nên từ cuộc đời của thầy Khê sẽ mãi là mực thước để thầy và trò Trường Đại học Bình Dương nâng niu, gìn giữ, học tập.Sự trở về của thầy Trần Văn Khê sau hơn nửa thế kỷ sống tại Pháp cùng với 420 kiện hiện vật quý giá bao gồm sách vở, từ điển, bài viết, đĩa hát, băng cassettes, công trình nghiên cứu, nhật ký diền dã và nhiều nhạc cụ thầy sưu tập được suốt chặng đường nghiên cứu… để hiến tặng cho Việt Nam sau khi thầy qua đời. Điều ấy, lại một lần nữa khẳng định ý thức phụng sự quê hương đất nước, kề vai gánh lấy và hoàn thành xuất sắc một phần trách nhiệm to lớn của đất nước mặc dù không ai giao phó, đó là tinh thần của trí thức chân chính Việt Nam.2.CẢM NHẬN CỦA EM VỀ LÀN ĐIỆU DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINHTrong các loại hình dân ca tiêu biểu, có thể nói dân ca Quan họ Bắc Ninh được đánh giá là loại hình dân ca đặc sắc và được nhiều người yêu thích nhất. Điều đó được khẳng định không chỉ bởi những làn điệu ngọt ngào, đằm thắm; những ca từ mộc mạc nhưng rất tinh túy mà còn bởi nghề chơi Quan họ độc đáo, đầy sức cuốn hút. Xưa kia, người Quan họ không gọi là hát Quan họ mà gọi là chơi Quan họ, một thú chơi dân dã, tao nhã, nhưng có sức quyến rũ mãnh liệt người chơi và người được thưởng thức. Vào canh hát, người Quan họ như tỉnh như say, canh hát càng về khuya càng trầm, càng bổng, càng mặn nồng thiết tha. Từ khi còn trong nôi, lời ru của bà, của mẹ đẫm chất Quan họ đã thấm sâu vào hồn tôi để rồi mỗi ngày lớn lên, cái chất dân ca đằm say ấy nó lại càng ngấm vào từng mạch máu, hơi thở của tôi. Càng đi sâu vào những làn điệu, những câu ca Quan họ cổ, tôi càng mường tượng ra một không gian Quan họ xưa kia sao mà bao la, ngút ngát nhưng cũng gần gũi, bình dị làm sao. Ẩn chứa trong sự mộc mạc, dung dị của dân ca Quan họ là những nét thanh cao, kiêu sa đến ngưỡng mộ. Có những câu ca rất giản dị, gần gũi mà ăm ắp tình người: « Dưới giời mấy kẻ biết chơiChơi cho lở đất, long giời mới hayChơi cho sông cạn lại đầyCho thuyền về bến, cho mây gặp rồngChơi cho loan phượng trùng phùngChơi cho nên nghĩa nên tình đôi ta ».(Dưới giời mấy kẻ biết chơi)Có những câu ca lại sâu sắc, ẩn chứa những tâm sự đầy vơi nỗi niềm mà người đời xem chừng khó có thể diễn đạt: « Sầu riêng em vẫn âm thầmVui này cho bõ đau ngầm ngày xưa Ai làm gan héo dạ sầuEm ngồi, em nghĩ càng cay đắng lòng.Người về tựa chốn loan phòngEm về thắp ngọn đèn chong canh dài ».(Trống Rồng) Những nỗi niềm gửi trao, những hờn ghen, trách cứ trong câu ca được giãi bày hết sức tế nhị mà sâu sa đến thế: « Anh tư đã có chốn để em chờ đợi luống côngChữ chung tình đã hẹn từ xưa ».(Lòng vẫn đợi chờ)Hoặc: « Yêu hoa phải giữ lấy màu cho hoaXin đừng chê xấu chê xa,Chê em vụng nói cửa nhà neo đơn.Trong làng cũng có nơi hơn,Trái duyên chẳng thuận phải sang quê người ».(Người ngoan)Bao nhiêu làn điệu, bao nhiều lời ca cũng chỉ gói gọn trong chủ đề tình yêu, nhưng đề tài này nói sao cho vừa, nói sao cho hết; một đề tài vô tận để người quan họ khai thác, thế mới thấy sự tài tình xưa kia của người quê Quan họ khi sáng tạo loại hình dân ca quý báu này. Lối chơi tao nhã, phóng khoáng mà lại khiêm nhường của người Quan họ càng làm nổi bật cốt cách của mình. Người Quan họ có nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng mà không nơi nào có được. Giữa bộn bề công việc thường nhật của mình, họ đã tạo ra một không gian riêng biệt, một thú chơi lôi cuốn mọi tầng lớp trong xã hội xa xưa ở xứ sở này đều muốn vào cuộc chơi một cách tự nguyện và hết sức say sưa. Sau những giờ lao động vất vả, họ lại tụ họp bên nhau để ca hát, đặt lời, bẻ giọng những câu ca mới. Họ ca với nhau những canh Quan họ thâu đêm, rạng ngày; cho tàn canh mãn võ để vui dân, vui xóm, vui bầu, vui bạn. Và rồi lúc chia tay họ cứ mãi dùng dằng, dan díu mà chẳng nỡ dứt dây sao cho đành. Ngoài những lúc thư nhàn cùng nhau sinh hoạt văn hóa Quan họ, họ lại gần gũi, động viên, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống khó khăn hàng ngày của mình. Điều đặc biệt quan trọng là họ thực hiện hết sức nghiêm cẩn những gì đã đề ra trong lối chơi Quan họ khi đã thành quy tắc. Người Quan họ luôn cẩn trọng trong trang phục, giao tiếp và mọi hành vi ứng xử của mình. Tất cả những gì mà quê hương Quan họ đã khởi nguồn và gìn giữ cho đến ngày nay thật xứng với thành quả mà họ đã gặt hái được. Chính vì vậy mà vào ngày 30 tháng 9 năm 2009, dân ca Quan họ Bắc Ninh chính thức được tổ chức Unesco công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Sau thời điểm này, dân ca Quan họ Bắc Ninh có thể nói đã đạt đến đỉnh cao về nhu cầu của cộng đồng người nghe cũng như những người muốn tự mình ca lên được những làn điệu dân ca quan họ. Khắp trong và ngoài tỉnh rộ lên phong trào ca hát Quan họ. Nhiều nơi thành lập những câu lạc bộ Quan họ và có nhu cầu học hỏi về loại hình dân ca này. Thật tự hào về nét văn hóa đặc sắc của quê hương và một niềm tin trong tôi cũng như người dân nơi đây chắc chắn sẽ không bao giờ phai: Dân ca Quan họ Bắc Ninh sẽ mãi mãi trường tồn và lan tỏa.