Catégorie : CỒNG CHIÊNG

PHƯƠNG DUYÊN: Bảo tồn cồng chiêng: « Lấy ngắn nuôi dài »

Bảo tồn cồng chiêng: « Lấy ngắn nuôi dài »

Thứ Hai, 27/01/2020, 07:21 [GMT+7] Đăng lên Facebook Đưa bài viết lên linkhay Đưa bài viết lên Google Bookmarks Đăng lên Twitter In bài viết này . .

(GLO)- Sự dùng dằng giữa bảo tồn và phát triển là mâu thuẫn cơ bản trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống, trong đó có cồng chiêng. Nên bảo tồn theo lối nguyên bản hay “lựa thế” theo sự phát triển chung của xã hội là câu hỏi đang được thực tiễn cuộc sống và chính các chủ nhân của di sản cồng chiêng trả lời. Và, “lấy ngắn nuôi dài” bằng cách đưa cồng chiêng ra khỏi phạm vi làng tham gia làm dịch vụ, phát triển du lịch là một trong những lựa chọn để từ đó nuôi lớn tình yêu với văn hóa truyền thống.

 

Thanh niên Ya Ma say mê cồng chiêng Ấn tượng với « Vũ điệu cồng chiêng » Công nhận cồng chiêng dân tộc Cor là Di sản Văn hóa phi vật thể QG

1.Trước kia, tại Pleiku chỉ lác đác vài quán ẩm thực Tây Nguyên nhưng hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của du lịch, số lượng các quán cũng tăng lên nhanh chóng. Đi kèm với ẩm thực là dịch vụ cồng chiêng nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách về trải nghiệm văn hóa bản địa. Nhanh nhạy nắm bắt nhu cầu ấy, cách đây khoảng 5 năm, Nghệ nhân Ưu tú Rơ Chăm Tih (làng Jút 1, xã Ia Dêr, huyện Ia Grai) tập hợp nghệ nhân cồng chiêng từ các làng trên địa bàn thành phố lại thành đội chiêng 10-15 người. Chỉ cần một cú điện thoại từ các quán Nghệ nhân Ksor HNao (làng Kép, phường Đống Đa), TNưng (xã Biển Hồ), Bazan (phường Thắng Lợi)…, anh và các thành viên trong đội chiêng sẵn sàng có mặt, khởi lên một không gian trầm bổng, rộn rã của cồng chiêng. Cách đây nh­­iều năm, đội chiêng của anh còn nhận lời biểu diễn tại đám cưới ở một nhà hàng khiến toàn thể khách mời một phen bất ngờ, thích thú. Đó là cái nhanh nhạy và thức thời của người biết sống dựa vào di sản, cũng từ đó quảng bá cho di sản.

Anh Rơ Chăm Tih cho hay, thu nhập từ việc “chạy sô” ở các quán đã giúp các thành viên trong đội có thêm khoản thu nhập kha khá ngoài những công việc thường nhật, bởi không chỉ “đắt sô” dịp cuối tuần mà các ngày còn lại đội chiêng cũng thường xuyên có “lịch” biểu diễn. Bận rộn là vậy nhưng hàng tuần anh vẫn dành thời gian tập luyện cho đội cồng chiêng thanh-thiếu niên của làng Jút 1. Được “nhạc trưởng” tài hoa Rơ Chăm Tih dìu dắt, 15 thành viên trong đội đều biết chơi cồng chiêng và các loại nhạc cụ đặc trưng của dân tộc Jrai để tham gia các lễ hội của làng.

 Trình diễn cồng chiêng. Ảnh: NGUYỄN LINH VINH QUỐC
Trình diễn cồng chiêng. Ảnh: NGUYỄN LINH VINH QUỐC


2. Gặp nghệ nhân Đinh Plih (làng Leng, xã Tơ Tung, huyện Kbang) không dễ bởi hiện anh đang cùng 10 nghệ nhân khác của làng ra sinh sống tại Làng văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam (Khu Du lịch Đồng Mô, huyện Sơn Tây, Hà Nội). Nhiệm vụ của anh và nhóm nghệ nhân là giới thiệu, quảng bá về văn hóa của dân tộc Bahnar thông qua các hoạt động như: dệt thổ cẩm, tạc tượng, đan lát, biểu diễn cồng chiêng… Cộng tiền bán các sản phẩm thủ công cho khách du lịch và mức “lương” hiện có, thu nhập của mỗi nghệ nhân khoảng trên dưới 4 triệu đồng/tháng, sau khi đã trừ hết các chi phí. Có thể nói, đây là cách “xuất khẩu” văn hóa rất hay để làm du lịch; các nghệ nhân, trong đó có 3 nghệ nhân cồng chiêng cũng “có thu nhập rất cơ bản” như cách nói của Plih.

Trong ngành văn hóa tỉnh nhà, nghệ nhân Đinh Plih là gương mặt hết sức quen thuộc bởi những tâm huyết của anh đối với bảo tồn và quảng bá văn hóa dân tộc. Từ năm 2012 đến nay, anh chính là người đã đứng ra thành lập 3 đội cồng chiêng của làng Leng, gồm đội chiêng “nhí”, đội chiêng nữ và một đội nữa của những người trung niên tham gia làm du lịch, biểu diễn tại Làng kháng chiến Stơr hoặc ngay tại làng khi có khách đến thăm, tìm hiểu văn hóa bản địa. Trò chuyện với nghệ nhân này, chúng tôi càng bất ngờ khi nghe những tính toán rất hợp lý của anh: 2/3 thu nhập từ việc biểu diễn chia đều cho các thành viên trong đội chiêng, phần còn lại làm quỹ chung để đầu tư trang phục, đạo cụ cho các đội, chưa kể việc mua bộ cồng chiêng và trống với giá gần cả trăm triệu đồng. Đáng chú ý là cũng từ nguồn quỹ này, các đội chiêng đã thống nhất mua bò sinh sản tặng hơn 20 hộ nghèo trong làng nuôi rẽ. Và tình yêu với cồng chiêng đã được gìn giữ theo cách đó trong lòng mỗi người dân làng Leng.

  Th.S-nhạc sĩ Linh Nga Niê Kdam: “Việc gìn giữ, bảo tồn ching chiêng trong môi trường cộng đồng là điều rất cấp thiết. Nhưng đây cũng là một hoạt động nghệ thuật dân gian được nhiều du khách yêu mến và muốn được thưởng lãm. Do đó, việc tiếp xúc hoặc tổ chức những hoạt động diễn tấu ching chiêng phục vụ khách du lịch và các lễ hội ngoài cộng đồng là điều rất nên làm, vừa góp phần bảo tồn văn hóa, nâng cao ý thức tự hào của bà con các dân tộc, đồng thời giúp người dân có thêm thu nhập phụ ngoài sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng cần chú trọng gìn giữ cả không gian văn hóa cồng chiêng-di sản của nhân loại”.  



3. Từng có nhiều ý kiến phản đối việc sân khấu hóa cồng chiêng, tách rời cồng chiêng khỏi không gian diễn xướng từ bao đời nay. Quan điểm này có cái lý riêng, bởi không gian của làng buôn với nhà rông, nhà sàn, bến nước… cùng những lễ hội chính là những yếu tố đảm bảo hồn cốt cồng chiêng. Chính không gian ấy (chứ không phải riêng cồng chiêng) đã được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.

Nhưng cũng từ thực tế, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã phải thốt lên rằng: Không thể vặn ngược kim đồng hồ! Nghĩa là không thể đi ngược lại với nhu cầu phát triển tất yếu của đời sống. Gìn giữ và phát huy giá trị di sản sẽ chỉ là khẩu hiệu, là nói suông nếu không gắn liền với thực tiễn, với lợi ích thiết thân, với nhu cầu đảm bảo cuộc sống của chủ nhân di sản. Sự nhanh nhạy bứt lên, bảo tồn cồng chiêng theo cách của Rơ Chăm Tih, Đinh Plih và nhiều nghệ nhân khác trên địa bàn tỉnh đã khẳng định một điều rằng: Không thể chỉ đóng khung cồng chiêng trong phạm vi buôn làng.
 


GS-TS. Trần Quang Hải, chuyên gia về âm nhạc châu Á: “Cần đào tạo thêm nhiều nhóm cồng chiêng “nhí” và cồng chiêng nữ để thu hút giới trẻ trong việc thực hành cách đánh cồng chiêng theo đúng kỹ thuật cổ truyền dưới sự hướng dẫn của những nghệ nhân giàu kinh nghiệm, hết lòng đem sự hiểu biết của mình truyền lại cho hậu sinh. Ngoài ra, điều tôi mong muốn là trong sự góp mặt của cồng chiêng vào lĩnh vực du lịch, các nghệ nhân nên ý thức về y phục của từng sắc tộc chứ không nên biến đổi theo thị hiếu quần chúng”.

Còn nhớ, tại Festival Cồng chiêng Quốc tế lần thứ nhất tổ chức tại Pleiku năm 2009, PGS-TS. Ngô Văn Doanh từng rất trăn trở: Với sự đổi thay to lớn và mạnh mẽ của đời sống văn hóa-xã hội, cồng chiêng không thể không bị mất dần không gian sống của mình, bị “vỡ” ra và biến thái đi. Vậy phải làm thế nào để không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tiếp tục sống trong đời sống hiện đại của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên? Và ông đề ra giải pháp như sau: “Cần tổ chức, chọn ra và xây dựng những đội cồng chiêng “chuyên nghiệp” hay “bán chuyên nghiệp” của các dân tộc, của từng đơn vị hành chính. Tất nhiên, khi đã thành chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp rồi thì các đội cồng chiêng này phải dần dần tự sống và tự hoạt động”.

Nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Văn Doanh cũng giải đáp thêm câu hỏi mà nhiều người sẽ đặt ra: Tại sao lại lập ra các đội cồng chiêng chuyên nghiệp, trong khi đó di sản mà chúng ta phải bảo vệ là “không gian văn hóa cồng chiêng”? Ông khẳng định: “Từ những kinh nghiệm ở các dân tộc khác ở Việt Nam, chúng tôi cho rằng, “không gian văn hóa” chắc chắn sẽ có nhiều biến đổi trong những hoàn cảnh và điều kiện mới, trong khi đó thì cồng chiêng gần như là hạt nhân không thể hoặc khó bị thay thế. Ngư­ợc lại, dù khi các không gian văn hóa cồng chiêng cụ thể (nh­ư các lễ hội, các phong tục…) có bị thu hẹp, bị loãng hay bị biến đổi cho phù hợp với môi trư­ờng sống thì chính cồng chiêng sẽ tạo ra cái hồn Tây Nguyên và duy trì cái hồn ấy trong các không gian đã bị biến đổi”.

Cũng từng tham dự và có một tham luận tại hội thảo trong khuôn khổ Festival Cồng chiêng Quốc tế lần thứ nhất năm 2009, đến nay, nhìn lại sự phát triển của các đội cồng chiêng trên địa bàn tỉnh trong 10 năm qua, GS-TS. Trần Quang Hải-chuyên gia về âm nhạc châu Á cũng tán đồng việc cồng chiêng “lấy ngắn nuôi dài”. Từ Pháp, trao đổi với chúng tôi qua email, ông nhắn gửi: “Tôi rất mừng về việc bảo lưu và duy trì truyền thống cồng chiêng ở Gia Lai theo cách này, đặc biệt là của 2 sắc tộc Jrai và Bahnar-những người đã hết lòng phát huy nghệ thuật cồng chiêng, giữ gìn gia tài cồng chiêng với hơn 5.000 bộ”.
 

 PHƯƠNG DUYÊN

https://baogialai.com.vn/channel/742/202001/bao-ton-cong-chieng-lay-ngan-nuoi-dai-5666882/

LAN ANH : Đội cồng chiêng huyện Kông Chro đoạt giải nhất toàn đoàn

Đội cồng chiêng huyện Kông Chro đoạt giải nhất toàn đoàn

09:53, 05/12/2019 (GMT+7)(GLO)- Tại quảng trường huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai, huyện đoàn Đak Pơ đã tổ chức Liên hoan cồng chiêng, hát dân ca và diễn tấu nhạc cụ dân tộc thanh thiếu niên tỉnh Gia Lai lần thứ IV-năm 2019 vào tối ngày 4-12.

Xã Yang Bắc liên hoan cồng chiêng 200 thanh thiếu nhi tham gia liên hoan cồng chiêng

  Tham gia liên hoan có 4 đội thi với 150 thanh thiếu nhi của cụm hoạt động số 3, gồm các huyện: Kông Chro, Kbang, Đak Pơ và thị xã An Khê. Mỗi đội biểu diễn 3 nội dung: hát dân ca, biểu diễn nhạc cụ dân tộc, trình diễn cồng chiêng. Các đội đã mang đến liên hoan những tiết mục đặc sắc như: ca ngợi Đảng và Nhà nước, Bne Oh Liem (Khen em đẹp), Năm hok Grin, lễ hội bỏ mã, mừng lúa mới, mừng lễ hội đâm trâu….   Kết thúc liên hoan, Ban tổ chức đã trao giải nhất toàn đoàn cho đội thi huyện Kông Chro, giải nhì toàn đoàn cho huyện Kbang, giải ba cho đoàn huyện Đak Pơ và khải khuyến khích cho đoàn thị xã An Khê. Ngoài ra, Ban tổ chức đã trao 12 giải (3 giải nhất, 3 giải nhì, 3 giải ba, 3 giải khuyến khích) cho các tiết mục xuất sắc, chia đều cho từng nội dung; trao giải phụ thí sinh nhỏ tuổi nhất cho em Đinh Niê Mơn Mởn (6 tuổi, đơn vị thị xã An Khê).   Lan Anh

Dư Toán : Bế mạc Festival văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên 2018 22:05, 02/12/2018

Bế mạc Festival văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên 2018 22:05, 02/12/2018 Bản inEmail

Tối 2/12, tại Quảng trường Đại Đoàn kết, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai diễn ra lễ bế Festival văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên 2018.

Một tiết mục nghệ thuật tại Lễ bế mạc. Ảnh: Dư Toán – TTXVN

Điểm nhấn của Lễ bế mạc là chương trình nghệ thuật mang đến cho khán giả một bữa tiệc đa sắc màu trong một không gian mang đậm những giá trị văn hóa đặc trưng của Tây Nguyên. Với 17 tiết mục ca múa nhạc và trình diễn cồng chiêng do các ca sĩ cùng học sinh và các đoàn nghệ nhân tham dự Festival lần này biểu diễn, đêm bế mạc hướng đến mục đích tôn vinh không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, tôn vinh những giá trị văn hóa độc đáo của Gia Lai nói riêng và khu vực Tây Nguyên nói chung.

UBND tỉnh Gia Lai cho các tập thể có những đóng góp tích cực cho sự thành công của Festival văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên 2018. Ảnh: Dư Toán – TTXVN.

Phát biểu tại buổi Lễ, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai, Võ Ngọc Thành nêu rõ, Festival văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên 2018 là cuộc hội ngộ cồng chiêng lớn của khu vực, đã quy tụ về đây những bộ cồng chiêng có âm thanh tuyệt vời, những bài chiêng hay, các nhạc cụ truyền thống đặc trưng của các tỉnh, thành trong cả nước với hàng trăm diễn viên, nghệ nhân ở mọi lứa tuổi.

“Festival Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên năm 2018 tại Gia Lai đã khép lại, trong bản hòa tấu âm thanh tuyệt vời từ phố núi đã gửi đi một thông điệp: Chúng ta hãy cùng chung tay bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, bảo tồn và phát huy kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại”, ông Võ Ngọc Thành nói.


 

 

 
Một tiết mục nghệ thuật tại Lễ bế mạc. Ảnh: Dư Toán – TTXVN

Festival văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên 2018 diễn ra từ ngày 30/11 đến ngày 2/12, quy tụ hơn 1.000 nghệ nhân đến từ 5 tỉnh Tây Nguyên, trình diễn nhiều hoạt động đặc sắc như: Lễ hội đường phố; phục dựng nghi lễ, lễ hội truyền thống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên; hội thảo về bảo tồn và phát huy di sản Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên; sinh hoạt văn nghệ dân gian; ẩm thực Tây Nguyên…

Dịp này, UBND tỉnh Gia Lai đã tặng bằng khen cho 67 tập thể vì đã có những đóng góp tích cực cho sự thành công của Festival văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên 2018. Dư Toán

https://dantocmiennui.vn/van-hoa/be-mac-festival-van-hoa-cong-chieng-tay-nguyen-2018/204033.html

Huỳnh Thị Hà Duyệt: Kbang: Gìn giữ và phát huy cồng chiêng Tây Nguyên

Thứ Ba, 01/08/2017, 05:11 [GMT+7] Gửi tin qua EmailĐăng lên FacebookĐưa bài viết lên linkhayĐưa bài viết lên Google BookmarksĐăng lên TwitterChia sẻIn tin này .

(GLO)- Kbang là huyện có gần 50% dân số là đồng bào dân tộc Bahnar, chính vì thế mà việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người Bahnar-trong đó có cồng chiêng Tây nguyên-luôn được huyện quan tâm. Những nỗ lực ấy đã và đang phát huy hiệu quả với việc hình thành ngày càng nhiều đội cồng chiêng tiềm năng, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn nhiều thách thức đặt ra.  

Rộn ràng Ngày hội văn hóa cồng chiêng huyện Kbang Huyện Chư Pưh: Bế giảng lớp dạy cồng chiêng cho thanh-thiếu niên Y Xô – Người « truyền lửa » cồng chiêng ở Hà Tây Bảo tồn văn hóa cồng chiêng
Đội chiêng thanh-thiếu niên Nhà lưu niệm Anh hùng Núp. Ảnh: Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Theo thống kê của Phòng Văn hóa-Thông tin huyện Kbang, hiện nay trên địa bàn huyện có 103 đội cồng chiêng, với trên 3.600 nghệ nhân. Đặc biệt trong đó có 1 đội cồng chiêng nữ và 7 đội cồng chiêng thanh-thiếu niên (độ tuổi từ 25 trở xuống). Từ năm 2010 đến nay huyện Kbang duy trì 2 năm 1 lần, tổ chức Liên hoan Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trong toàn huyện, nhằm phát động phong trào thi đua luyện tập và biểu diễn cồng chiêng trong đồng bào dân tộc Bahnar.

Tại xã Tơ Tung, năm 2015 một đội cồng chiêng gồm các thanh-thiếu niên làng Stơr đã được thành lập, với mục tiêu đầu tiên là nhằm biểu diễn phục vụ du khách đến tham quan Nhà lưu niệm Anh hùng Núp. Tuy nhiên sau 1 thời gian luyện tập, hầu hết các thành viên trong đội đều đã ý thức được nguồn cội văn hóa của dân tộc mình và mong muốn được chơi cồng chiêng như những người Bahnar biết trân quý bản sắc dân tộc. Anh Đinh Doa- làng Stơr, xã Tơ Tung- năm nay 37 tuổi thì đã có gần 15 năm kinh nghiệm chơi cồng chiêng. Được giao nhiệm vụ dẫn dắt đội cồng chiêng tại chính Nhà lưu niệm Anh hùng Núp ngay từ những ngày đầu thành lập, nên đối với anh đây là một việc làm rất ý nghĩa.

Em Đinh Uê (14 tuổi, làng Stơr, xã Tơ Tung)- sau 2 năm luyện tập cồng chiêng, tâm sự: Em thích đánh cồng chiêng vì đây là văn hóa truyền thống của dân tộc. Em sẽ cố gắng tập luyện nhiều hơn để chơi tốt hơn và luyện tập cùng các anh em trong nhà nữa để ai cũng có thể chơi được chiêng.

 

Đội chiêng nữ làng Leng biểu diễn phục vụ khách tham quan. Ảnh: Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Xã Tơ Tung, huyện Kbang còn được biết đến là địa phương duy nhất trong huyện đã xây dựng được đội cồng chiêng nữ tại làng Leng. Được thành lập từ năm 2012, với trên 20 thành viên đến nay đội đã có trên 40 thành viên có thể thể biểu diễn cồng chiêng thành thục, đủ sức tạo nên những giai điệu rộn ràng với thanh âm mạnh mẽ và thôi thúc không thua kém gì các đội cồng chiêng do những nghệ nhân nam biểu diễn. Tiếng lành đồn xa, có lẽ, chính sự thành công của đội đã tạo động lực cho phong trào luyện tập cồng chiêng trong huyện phát triển mạnh mẽ hơn, và là khởi đầu cho sự nhen nhóm hình thành các đội cồng chiêng nữ khác. Như Câu lạc bộ cồng chiêng nữ làng Chiêng, thị trấn Kbang- thành lập năm 2015, nhưng vì hoạt động chưa hiệu quả nay đã giải thể; hay Chi hội Phụ nữ làng Groi- thị trấn phối hợp với các ban ngành, đoàn thể làng gây quỹ mua bộ cồng chiêng trị giá 27 triệu đồng để phục vụ việc luyện tập, tuy nhiên việc sinh hoạt chưa thường xuyên.

Ông Đinh Bli-Bí thư Chi bộ làng Leng, xã Tơ Tung, người trực tiếp dẫn dắt đội cồng chiêng nữ luyện tập- chia sẻ kinh nghiệm: Đối với đội cồng chiêng nữ thì đã được thành lập từ lâu, khoảng 4, 5 năm. Khi có các sự kiện ở tỉnh, huyện tổ chức thì đội cũng đi biểu diễn, phục vụ cho khách thưởng thức, tìm hiểu. Hiện nay thì đội vẫn duy trì luyện tập thường xuyên và có thể nói đã thành thạo hầu hết các bài biểu diễn; các loại trang phục truyền thống phục vụ biểu diễn cũng gần như có sẵn tại nhà, hoặc là họ vừa tự dệt trang phục vừa truyền lại nghề cho các thế hệ sau này để mà gìn giữ truyền thống dân tộc.

Năm 2005, Không gian Văn hóa cồng chiêng Tây nguyên đã  được UNESSCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đó vừa là sự khẳng định cho giá trị đặc sắc của một nền văn hóa dân tộc, vừa là sự ghi nhận cho những nỗ lực gìn giữ “di sản” ấy suốt bao đời. Tuy nhiên, để phát huy có hiệu quả cồng chiêng Tây nguyên trong các thế hệ người Bahnar nói riêng và các địa phương nói chung thì đây là một việc làm hết sức khó khăn mà không chỉ một cá nhân hay tập thể nào có thể làm được.

Huỳnh Thị Hà Duyệt

https://baogialai.com.vn/channel/12382/201708/kbang-gin-giu-va-phat-huy-cong-chieng-tay-nguyen-5543851/

Cồng chiêng Tây Nguyên – nét đẹp văn hóa buôn làng (buôn A Ko Thong, TP Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk)

Cồng chiêng Tây Nguyên – nét đẹp văn hóa buôn làng (buôn A Ko Thong, TP Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk)

Published on Feb 26, 2017

Quá hay. Phải dùng từ « quá hay » để diễn tả hết cái hay của cồng chiêng. Cồng chiêng là nhạc cụ bởi nó đưa ra tiếng nhạc, nhưng không phải chỉ nhằm để giải trí, tiêu khiển mà còn gắn liền với một lễ hội hay một sự kiện quan trọng. Vì vậy cồng chiêng được xem như một vật thiêng, là phương tiện để con người giao lưu với những bậc vô hình, là sợi dây nối kết giữa người trần và các đấng linh thiêng. Do đó âm nhạc ở đây không đơn thuần là nghệ thuật mà có chức năng phục vụ một sự kiện đặc biệt trong xã hội hoặc trong đời sống hàng ngày của dân gian. Hầu như mỗi sinh hoạt trong bộ tộc đều dính liền với nét nhạc. Lúc đứa trẻ mới lọt lòng thì già làng sử dụng cái cồng xưa cổ nhứt đến bên giường đánh lên để cho những âm thanh đầu tiên lọt vào tai đứa bé là tiếng của bộ lạc, khẳng định nó là một phần của cộng đồng bộ tộc. Khi đứa trẻ lớn lên thì mỗi giai đoạn của đời sống đều gắn liền theo tiếng cồng chiêng, từ việc đồng áng như gieo mạ, gặt lúa; cho đến những buổi gặp gỡ nam nữ, cuộc chia ly hay tang lễ … đều có những bài bản riêng. Để thưởng thức trọn vẹn âm hưởng cồng chiêng 6 phut 29 giây. https://www.youtube.com/watch?v=kKZQu… và đừng quên nhấn Đăng Ký để ủng hộ kênh và xem thêm nhiều clip thú vị khác.

ĐẶNG HOÀNG LOAN : CỒNG CHIÊNG MỘT SÁNG TẠO TÂY NGUYÊN

CỒNG CHIÊNG
MỘT SÁNG TẠO TÂY NGUYÊN

Đặng Hoành Loan

Năm 2006 không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên chính thức được UNESO công nhận là Kiệt tác Di sản văn hóa truyền miệng và phi vật thể của nhân loại. Đây là niềm tự hào không chỉ của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên mà còn là niềm tự hào của mọi người dân Việt Nam sống trong nước và ngoài nước.

Đã gọi là Di sản thì phải có con người sáng tạo ra di sản và sở hữu di sản trong suốt trường kì lịch sử. Vậy họ là ai ? Họ là đồng bào các dân tộc Xơ-đăng, Rơ-măm, Ba-na, Giai rai, Ê-đê, Mnoong, Giẻ-triêng, Cơ-ho, Mạ, Chu-ru hiện đang cư trú ở địa bàn các tỉnh Kon-tum, Gia-lai, Đắc-lắc, Đắc-nông và Lâm Đồng.

Những sản phẩm sáng tạo phục vụ cuộc sống của họ bao gồm nhiều lĩnh vực, trong đó có văn hóa tâm linh, văn hóa ứng xử cộng đồng, văn hóa canh tác nương rẫy, kiến trúc nhà rông, sử thi v.v. nhưng đặc biệt là những sáng tạo có giá trị rất cao về văn hóa nghệ thuật mà trong đó sự sáng tạo âm nhạc công chiêng là lớn. Nghệ thuật cồng chiêng có giá trị nổi bật ngang tầm những kiệt tác sáng tạo phi vật thể của nhân loại.

1. Cồng chiêng – nhạc cũ hữu linh. Người Tây Nguyên không chế tác cồng chiêng, họ phải mua cồng chiêng của người Lào và người Kinh. Vậy tại sao họ có thể trở thành chủ nhân của những sáng tạo nghệ thuật này.

Năm 1949 Giáo sư G. Condominas người Pháp có trong tay một số thanh đá kêu do những người làm đường trên địa bàn cư trú của dân tộc Mnông Gar tỉnh Đắc Lắc cung cấp. Ông đã đem chúng về Pháp và kết hợp với A. Schaeffner nhà nghiên cứu âm nhạc học để xác định những thanh đá này có phải là các âm của một bọ đàn không. Cuối cùng G. Condominas kết luận đây là các âm của một bộ đàn đá tiền sử.

Năm 1977, lần khảo sát âm nhạc dân gian đầu tiên của chúng tôi tại Tây Nguyên. Lần ấy chúng tôi đã được chứng kiến « đàn đá nước » (tên chúng tôi tự đặt) tại Kon Tum. Người ta dùng dây rừng chăng ngang suối. Trên dây người ta buộc hai nhóm, mỗi nhóm hai thanh đá. Nhờ tác động của dòng nước các thanh đá va vào nhau tạo ra các âm thanh âm nhạc rất huyền bí.

Vào những năm 1980, Viện nghiên cứu âm nhac (nay là Viện Âm nhạc – Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam) đã phát hiện nhiều bộ đàn đá nằm rải rác ở các tỉnh Bình Thuận, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Bình Đa.

Năm 2002, chúng tôi lại tiến hành khảo sát âm nhạc dân gian dân tộc Mnông Gar tại tỉnh Dắc Lắc. Dịp ấy chúng tôi đã chứng kiến cuộc diễn tấu 3 thanh đá kêu đầy ngâu hứng của 3 nghệ nhân dân gian Mnông Gar. Âm thanh là của đá, còn tiết tấu, cao độ là của dàn chiêng 3 âm của dân tộc Mnông Gar. Chúng tôi hỏi nghệ nhân đây là đàn gì, họ nói đây là « Goong Lú ». Vậy đàn đá là tên mà các nhà nghiên cứu đã mệnh danh cho « Goong Lú », một nhạc cụ tiền sử của người Mnông như G. Condominas đã từng công bố.

Những cuộc nghiên cứu khảo sát đán đá cho chúng ta biết rằng các dân tộc ở Tây Nguyên đã có nhạc đàn từ thời Tiền sử. Những sáng tạo xa xưa đó là cơ sở cho công cuộc chế tác các nhạc cụ bằng tre, nứa, lá – những nguyên liêu tại chỗ rất gần gũi với đời sống canh tác nương rẫy của người Tây Nguyên sau này. Những cái tên Goong Gram, Đinh Goong, Chinh Gram, Bơ-lơng-khơng, Goong Kial dường như có cùng nguồn cội từ dàn Goong Lú (gọi là dàn vì Goong Lú gồm nhiều thanh đá kêu có cao độ khác nhau và có trật tự âm thanh từ thấp lên cao).

Rối đến một thời điểm nào đó trong tiến trình lịch sử cái trục giao thương duyên hải miền Trung Việt Nam – Tây nguyên – Lào không chỉ cung cấp cho Tây Nguyên lương thực, thực phẩm mà còn cung cấp cả cồng chiêng. Câu ca dao miền Trung đã phản ánh phần nào mối giao thương ấy:

Ai về nhắn với thượng nguồn
Mít non chở xuống, cá chuồn chở lên.

Đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào, công bố chính xác thời điểm lịch sử con đường cồng chiêng xâm nhập vào Tây Nguyên, để rồi nó dần thay thế cho các dàn chiêng đá (Goong Lú). Song có điều chắc chắn rằng, tiếng chiêng đồng vang xa hơn, nhẹ nhàng hơn, thoải mái hơn trong diễn tấu đã làm cho người Tây Nguyên chấp nhận nó, bản địa hóa nó và coi nó là vật có thể thay thế cho Goong Lú thời tiền sử.

Từ cách tiếp biến văn hóa ấy, cồng chiêng dần trở thành nhạc cụ được dùng chính thức trong nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên từ lễ Đâm trâu cúng Zàng đến lễ Bỏ mả, lễ Rời buôn cũ lập buôn mới, lễ Cúng bến nước, lễ Mừng trẻ sơ sinh (lễ Thổi tai), lễ Làm nhà mới… Tất cả những lễ thức ấy đều xuất phát từ quan niệm Zàng cai quản mọi vật, Zàng có trong mọi vật. Vì thế quan hệ giữa con người và vạn vật quanh mình là quan hệ vạn vật hữu linh (vạn vật có Zàng), chiêng đồng là của Zàng ban cho.

Câu truyện truyền thuyết về chiêng đồng của người Xơ-đăng đã minh chứng cho điều này. Truyện kể rằng: « Vào thời xửa thời xưa khi người Xơ-đăng đang sống thanh bình, nương rẫy tốt tươi, lúa, bông đầy nhà thì bống đâu hàng đàn voi dữ tràn về phá rẫy, phá buôn. Chưa đầy nửa ngày buôn rẫy xác xơ. Theo tiến gọi của già làng, con trai Xơ-đăng mang theo lao và tên ná cùng hợp sức tiêu diệt thú dữ. Đánh nhau suốt mấy ngày đêm, sức đã tàn, lực đã kiệt mà thú dữ càng lúc càng trở nên hung bạo. Không còn cách nào khác, các chàng trai chỉ còn biết chắp tay cầu xin Zàng phù hộ. Bỗng nhiên trước mắt họ ùn lên một ụ đất, họ đào ụ đất lên và thấy có một vật bằng đồng tròn như ông mặt trời, to bằng bốn người ôm, họ gõ vào vật ấy tiếng trầm vang động núi rừng làm cho bày voi ngơ ngác. Rồi cứ thế các ụ đất cứ mọc lên, các ụ đất về sau đào lên các vật bằng đồng ấy càng nhỏ lại và âm càng cao. Khi đào đến ụ đất cuối cùng, các chàng trai Xơ đăng đã có được hơn mười chiếc chiêng. Khi họ cùng nhau gõ lên thì tiếng trầm nghe như thác đổ, tiếng cao nghe như gió reo. Lũ voi dữ nghe thấy tiếng chiêng đồng hoảng sợ bỏ chạy vào rừng sâu, cây cối bị thú dữ phá nát trở lại xanh tươi. Người Xơ đăng từ đấy có cuộc sống bình yên » .

Câu chuyện thầm khẳng định rằng, công chiêng không chỉ là nhạc cụ bình thường như bao nhạc cụ khác ở Tây Nguyên, mà nó còn là nhạc cụ của quyền uy, nhạc cụ linh thiêng do Zàng ban phát. Vì vậy muốn tiếng cồng chiêng vang lên trong những ngày lễ hội lớn, nhỏ của buôn làng thì trước hết người ta phải làm lễ xin Zàng cho phép sử dụng, bởi cồng chiểng là của Zàng, có linh hồn của zàng trong đó.

2. Cấu tạo dàn cồng chiêng.

Cồng chiêng Tây Nguyên có hai loại là chiêng bằng và chiêng núm. Chiêng núm gọi là Chêng, chiêng bằng gọi là Chinh. Tùy theo từng dân tộc mà số lượng mỗi loại Chêng-Chinh tham gia vào dàn cồng chiêng có số lượng nhiều ít khác nhau.

Các dân tộc Ba-na, Giai-rai, Xơ-đang, Rơ-măm, Chu-ru thường sử dụng nhiều chiêng núm. Các dân tộc Ê-đê, Cơ-ho, Giẻ-triêng, Mnông, Mạ thường sử dụng nhiều chiêng bằng. Việc sử dụng chiêng bằng hay chiêng núm và sự pha trộn giữa hai loại cồng chiêng là sự lựa chọn mang tính đặc thù về thẩm âm của từng dân tộc.

Từ cách lựa chọn âm sắc chiêng (bằng hay núm) đã dẫn tới sự cấu tạo âm thanh của mỗi dàn chiêng. Các dàn chiêng lớn nhất thường có cấu tạo từ 9 đến 12 chiêng như dàn cồng chiêng các dân tộc Ba-na, Gia-rai, Ê-đê. Các dàn cồng chiêng nhỏ nhất thường có cấu tạo từ 2 đến 4 chiếc, như dàn chiêng Tha của người Brâu chỉ có 2 chiếc chiêng băng, dàn cồng chiêng cúng lúa của người Tơ-drá (một nhánh của dân tộc Xơ-đăng) có 4 chiếc chiêng núm, còn trung bình mõi dàn cồng chiêng thường có từ 6 đến 8 chiếc.

Tên của mỗi chiếc cồng chiêng trong dàn cồng chiêng thường đặt theo tên gọi của các thành viên trong gia đình như các chiêng : ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em, em nhỏ, em út. Tùy vào ngôn ngữ của từng dân tộc mà tên gọi thành phần trong gia đình có khác nhau nên tên gọi cồng chiêng cũng khác nhau. Ví dụ : Người Mnông gọi tên các chiêng là May, Rnui, Nđớt, loa, Thơ, Thết. Người Ê-đê gọi tên các chiêng là Ân, Hluê, Hliang, Mđu Khơk, Moong, Moong Khơk v.v..

3. Hàng âm của cồng chiêng.

Như trên đã trình bày, người Tây Nguyên có lịch sử chơi nhạc đàn từ thời tiền sử, những thanh đá kêu là chứng tích cho hiện tượng này. Cùng với đàn đá là tập hợp khá phong phú các nhạc cụ chế tác bằng các chất liệu tre, nứa. Đấy là những căn cứ để các dân tộc Tây Nguyên sáng tạo ra các hàng âm (có thể coi như những thang âm) cho các bộ cồng chiêng của mình.

Theo khảo sát của chúng tôi thì dàn cồng chiêng của người Gia-rai có hàng âm Đồ-Sol-Si-Đô-Rê-Mi-Fa-Sol-Si-Đô-Rế. Dàn công chiêng của người Ba-na có hàng âm : Rề-La-Rê-La-Si-Đô-Rê-Fa-Sol-La-Si. Dàn cồng chiêng của người Ê-đê có hàng âm: Sì-Đô-Rê-Đô-Rê-Fa-Sol-La-Si. Dàn cồng chiêng của người Xơ-đăng có hàng âm : Là-Đô-Rê-Fa-Sol-La-Đô-Rê.

Vậy ai là người xác định cao độ chuẩn cho các hàng âm của mỗi dàn chiêng ? Vào Tây Nguyên chúng ta sẽ gặp được những người làm chuẩn cao độ và âm thanh cho các dàn chiêng, người đó là các ông « Pok chinh » hoặc các ông « Puih chêng ». Những ông « Pok chinh » hoặc « Puih chêng » thường có lỗ tai rất kì diệu. Cao độ của mỗi dàn chiêng như khắc sâu vào tâm trí họ. Họ không có thanh mẫu nhưng khi đánh vào bất kì chiếc chiêng nào ông « Pok chinh » hoặc « Puih chêng » cũng nhận ra những chỗ đúng, sai của chiếc chiêng. Ví dụ như, chiêng thấp hoặc cao, âm chiêng không tập trung vào giữa mặt chiêng, hoặc chiêng mất tiếng v.v… Tất cả những sai sót ấy sẽ được khắc phục nhanh chóng chỉ sau vài động tác kĩ thuật của ông « Pok chinh » hoặc « Puih chêng ».

Vào những dịp lễ thức của dòng tộc, của buôn làng như lễ Bỏ mả, lễ Cúng lúa, lễ Đâm trâu v.v… bao giờ người ta cũng phải mời bằng được ông « Pok chinh » hoặc ông « Puih chêng » đến để chỉnh chiêng.

Một lần điễn dã tại làng Mrông Ngõ, huyện Chư Pả tỉnh Gia Lai chúng tôi đã có dịp gặp Kso Avek – một ông Pok chinh nổi tiếng ở Gia Lai. Dịp ấy chúng tôi được nghe ông « thuyết trình » một cách rành rẽ về nghệ thuật chỉnh chiêng. Ông cho biết :chiêng là tiếng nói của dân làng với Zàng, dân làng nói Zàng không nghe thấy, nhưng chiêng nói thì Zàng nghe thấy. Chiêng mà sai tiếng thì Zàng không hiểu dân làng nói gì, vì thế muốn để Zàng hiểu phải làm cho chiêng đúng tiếng.

Quan niệm bình dị ấy Pok chiêng Kso Avek đã hàm chúa đầy đủ tính nghiêm túc, tính chuẩn xác của âm nhạc Tây Nguyên. Và hàng âm của các dàn chiêng cũng được sinh ra từ tình chuẩn xác ấy.

4. Cách đánh cồng chiêng.

Người Tây Nguyên có hai cách đánh cồng chiêng. Một cách đánh bằng dùi, một cách đánh bằng cườm tay. Dùi chiêng có hai loại, một loại dùi mềm và một loại dùi cứng. Loại dùi mềm thường làm bằng gốc cây dứa dại khô hoặc làm bằng gỗ có bọc vải. Lọa dùi cứng thường làm bằng nhánh gỗ khô hoặc thân cây sắn tươi. Mỗi loại dùi chiêng khi tác động lên mặt chiêng tạo ra âm sắc chiêng khác nhau. Loại dùi mềm cho âm thanh tròn trĩnh, vang ngân, trầm hùng. Loại dùi cứng cho âm thanh sắc nhọn, nghe có tiếng va chạm của kim khí và sự mãnh liệt của âm thanh. Còn cách đánh bằng cườm tay cho ta một cảm giác âm thanh xa xăm, bí ẩn.

Khi đánh chiêng, tay phải cầm dùi, hoặc cườm tay kích vào mặt chiêng tạo âm thanh, tay trái lúc chặn vào mặt chiêng, lúc rời khỏi mặt chiêng sẽ tạo ra âm chiêng (nốt nhạc chiêng). Sự kết hợp nhuần nhuyễn hai tay phải và trái của người đánh chiêng sẽ tạo ra một âm chiêng hoàn chỉnh. Nhưng để có thể tham gia diễn tấu được một bài chiêng thì vấn đề còn phức tạp hơn rất nhiều. Mỗi thành viên tham gia vào dàn chiêng giữ vị trí một cao độ và tiết tấu khác nhau. Do vậy họ phải nắm rất chắc thời khắc gõ chiêng của mình làm sao cho đúng thời khắc tiết tấu, đúng gai điệu, đúng âm sắc. Và điều kì diệu của bản nhạc chiêng chính là sự đồng cảm, sự tập trung, sự hào hứng của những « tâm thức chiêng » khi cùng nhau trình diễn một bản nhạc cồng chiêng.

5. Những bản nhạc cồng chiêng.

Chiêng là ngôn ngữ âm nhạc thay thế tiếng nói của con người giao tiếp với thần linh. Để thỏa mãn tiếng nói giao tiếp ấy, các dân tộc ở Tây Nguyên đã sáng tạo ra rất nhiều các bài nhạc chiêng khác nhau. Mỗi bài nhạc chiêng ứng với một lễ thức, một tiết lễ trong lễ thức, mỗi lễ thức ứng với một dàn chiêng.

Khi đánh trong lễ Bỏ mả (Pthi) người Gia-rai đánh dàn chiêng Arap. Dàn chiêng Arap có tới 16 chiếc chiêng (gồm chiêng bằng và chiêng núm) là các chiêng Ania, Mung, Moong, Mung Anẽh, Moong Kok, Mông Kok nhỏ, Ania chiêng, Mung chiêng, Mung chinh, Tơ Rớt, Đut, Lnal, Tok Tơ Rớt, Yok Đut, Teng neng, Chinh Hlinh, Groaih. Lễ bỏ mả thường kéo dài trong ba bốn ngày. Vào đếm cuổi cùng khi mọi việc đã hoàn tất, con cái, người thân quỳ lại trước Pnang than khóc linh hồn người đã khuất và nói lời từ biệt linh hồn và mong linh hồn đừng quay về quấy rầy con cái. Khi ông thầy lễ dứt bài khấn, các chàng trai đánh bài chiêng Xoang. Bài chiêng có tiết tấu rộn rã cuốn hút mọi người vào vòng Xoang sôi động và vui vẻ.

Khi đánh trong lễ Đâm trâu, người Ba-na chơi dàn chiêng Honh. Lễ đâm trâu là lễ thức lớn nhất của các dân tộc Ba-na, Gia-rai, Xơ-đăng và nhiều dân tộc khác ở Tây Nguyên. Người ta tổ chức lễ đâm trấu để tạ ơn Zàng, tạ ơn các thần nước, thần lúa, thần núi, thần sông và nhiều vị thần khác đã ban cho họ cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Chiêng Honh gồm có 11 chiếc chiêng bằng và chiêng núm là các chiêng Pru, Chil, Pêt-ty, Zoong, Moong, Tơ-rết, Pết-moong, Pơ-klẹ. Moong-xlam, Pêt, Đrêt. Các bài chiêng : Cheng, Spo, Pru là những bài chiêng hùng tráng như muốn mô tả những cuộc chiến đấu dũng cảm của các vị tù trưởng và dân buôn khi xảy ra chiến tranh bảo vệ lãnh thổ.

Ngoài những bài chiêng đánh trong các lễ thức lớn như lễ Đâm trâu, lễ Bỏ mả, các dân tộc Tây Nguyên có có rất nhiều các bài chiêng đánh trong lễ Cúng bên nước, lễ Cúng cơm mới, lễ Dựng nhà, lễ Thổi tai, lễ Rước kpan, lễ Cúng đất v.v… Người Mnông Gar có các bài chiêng: Booc-ngăn, Rơ-le, Bar-đăn, Đol-rơ-la, Goong-Yowl, Táp-tốp, Tiêng, Par-mây. Người Ê-đê có các bài chiêng: Chiêng gọi buôn làng, Chiêng gọi hồn lúa, Chiêng ngày mùa, Chiêng Chi-ria, Chiêng thác đổ, chiêng Tông-gát. Người Cơ-ho có các bài chiêng: Voa-nắc (chiêng đón khách), Bắc-đơn, Pép-ê-zun (săn nai), Ti-tắp-tắp, Dăn pắc – Dăn Điếp, Chinh boch, Po-trim-po. Người Ba-na Rơngao có các bài chiêng: Kă-kơ-pô, Pơ juăr (đuổi ma)…

Mối bài chiêng Tây Nguyên là một « tác phẩm » âm nhạc hoàn thiện. Mỗi « tác phẩm » lại chứa đựng những ngữ nghĩa âm nhạc phản ánh một đời sống bình dị, chân thực và dân chủ của người dân Tây Nguyên. Nghe nhạc cồng chiêng Tây Nguyên ta như thấy có tiếng gió, tiếng suối, tiếng thì thầm của con người trước thiên nhiên bao la và bí ẩn. Những « tác phẩm » ấy chỉ có thể sinh ra ở những người dân giàu tâm hồn nghệ sỹ – người dân Tây Nguyên.

Lời kết. Cồng chiêng Tây Nguyên không phải do người Tây Nguyên chế tác, nhưng nó lại trở thành nhạc cụ của người Tây Nguyên, được người Tây Nguyên quý trọng và biến nó thành nhạc cụ đặc sắc của các dân tộc sống trên Tây Nguyên.

Ngày nay các cặp phạm trù tiếp thu – sáng tạo, bắt trước – phục tùng đã làm cho chúng ta tốn nhiều công sức và giấy mực để đàm thảo tìm ra cách làm đúng, mà kết quả xem chừng vẫn chưa thỏa mãn. Nhiều người quan niệm rằng những hình thức nghệ thuật nước ta chưa có như Pop, Rock, Rap v.v… thì cức bắt trước nước ngoài mà làm, làm càng giống càng tốt. « Ở địa hạt ca khúc nhạc trẻ Việt Nam, các tác giả trẻ chịu ảnh hưởng nặng từ các trào lưu nhạc quốc tế qua các yếu tố cấu tạo nên ca khúc như hình thức, giai điệu, tiết tấu, công năng hòa thanh… mà rất ít có những sáng tạo chuyên nghiệp… » . Điều tưởng như phưc tạp ấy đã được người dân Tây Nguyên chứng minh bằng những sáng tạo trong nghệ thuật cồng chiêng của mình đó là: biến công cụ của người khác thành công cụ sáng tạo nghệ thuật cho mình. Nhờ vậy mà giờ đây, cồng chiêng Tây Nguyên vẫn là « Một nền nghệ thuật còn tươi rói chất tự nhiên thuần khiết, hồn nhiên và mộc mạc, mà nhiều nên nghệ thuật phát triển cao đã « đánh mất nay đang có khuynh hướng tìm trở lại cái chất tự nhiên ấy » .

Tìm hiểu cồng chiêng Tây Nguyên cũng đồng nghĩa với việc tìm hiểu cội nguồn sáng tạo nghệ thuật của con người Tây Nguyên. Hiểu được cội nguồn sáng tạo, hiệu đượ giá trị sáng tạo chúng ta sẽ biết quý trọng và gìn giữ một không gian văn hóa mà ở nơi ấy cồng chiêng là trung tâm với tên gọi Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

ĐHL

-4:36