Catégorie : CỒNG CHIÊNG

LAN ANH : Đội cồng chiêng huyện Kông Chro đoạt giải nhất toàn đoàn

Đội cồng chiêng huyện Kông Chro đoạt giải nhất toàn đoàn

09:53, 05/12/2019 (GMT+7)(GLO)- Tại quảng trường huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai, huyện đoàn Đak Pơ đã tổ chức Liên hoan cồng chiêng, hát dân ca và diễn tấu nhạc cụ dân tộc thanh thiếu niên tỉnh Gia Lai lần thứ IV-năm 2019 vào tối ngày 4-12.

Xã Yang Bắc liên hoan cồng chiêng 200 thanh thiếu nhi tham gia liên hoan cồng chiêng

  Tham gia liên hoan có 4 đội thi với 150 thanh thiếu nhi của cụm hoạt động số 3, gồm các huyện: Kông Chro, Kbang, Đak Pơ và thị xã An Khê. Mỗi đội biểu diễn 3 nội dung: hát dân ca, biểu diễn nhạc cụ dân tộc, trình diễn cồng chiêng. Các đội đã mang đến liên hoan những tiết mục đặc sắc như: ca ngợi Đảng và Nhà nước, Bne Oh Liem (Khen em đẹp), Năm hok Grin, lễ hội bỏ mã, mừng lúa mới, mừng lễ hội đâm trâu….   Kết thúc liên hoan, Ban tổ chức đã trao giải nhất toàn đoàn cho đội thi huyện Kông Chro, giải nhì toàn đoàn cho huyện Kbang, giải ba cho đoàn huyện Đak Pơ và khải khuyến khích cho đoàn thị xã An Khê. Ngoài ra, Ban tổ chức đã trao 12 giải (3 giải nhất, 3 giải nhì, 3 giải ba, 3 giải khuyến khích) cho các tiết mục xuất sắc, chia đều cho từng nội dung; trao giải phụ thí sinh nhỏ tuổi nhất cho em Đinh Niê Mơn Mởn (6 tuổi, đơn vị thị xã An Khê).   Lan Anh

Dư Toán : Bế mạc Festival văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên 2018 22:05, 02/12/2018

Bế mạc Festival văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên 2018 22:05, 02/12/2018 Bản inEmail

Tối 2/12, tại Quảng trường Đại Đoàn kết, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai diễn ra lễ bế Festival văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên 2018.

Một tiết mục nghệ thuật tại Lễ bế mạc. Ảnh: Dư Toán – TTXVN

Điểm nhấn của Lễ bế mạc là chương trình nghệ thuật mang đến cho khán giả một bữa tiệc đa sắc màu trong một không gian mang đậm những giá trị văn hóa đặc trưng của Tây Nguyên. Với 17 tiết mục ca múa nhạc và trình diễn cồng chiêng do các ca sĩ cùng học sinh và các đoàn nghệ nhân tham dự Festival lần này biểu diễn, đêm bế mạc hướng đến mục đích tôn vinh không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, tôn vinh những giá trị văn hóa độc đáo của Gia Lai nói riêng và khu vực Tây Nguyên nói chung.

UBND tỉnh Gia Lai cho các tập thể có những đóng góp tích cực cho sự thành công của Festival văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên 2018. Ảnh: Dư Toán – TTXVN.

Phát biểu tại buổi Lễ, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai, Võ Ngọc Thành nêu rõ, Festival văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên 2018 là cuộc hội ngộ cồng chiêng lớn của khu vực, đã quy tụ về đây những bộ cồng chiêng có âm thanh tuyệt vời, những bài chiêng hay, các nhạc cụ truyền thống đặc trưng của các tỉnh, thành trong cả nước với hàng trăm diễn viên, nghệ nhân ở mọi lứa tuổi.

“Festival Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên năm 2018 tại Gia Lai đã khép lại, trong bản hòa tấu âm thanh tuyệt vời từ phố núi đã gửi đi một thông điệp: Chúng ta hãy cùng chung tay bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, bảo tồn và phát huy kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại”, ông Võ Ngọc Thành nói.


 

 

 
Một tiết mục nghệ thuật tại Lễ bế mạc. Ảnh: Dư Toán – TTXVN

Festival văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên 2018 diễn ra từ ngày 30/11 đến ngày 2/12, quy tụ hơn 1.000 nghệ nhân đến từ 5 tỉnh Tây Nguyên, trình diễn nhiều hoạt động đặc sắc như: Lễ hội đường phố; phục dựng nghi lễ, lễ hội truyền thống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên; hội thảo về bảo tồn và phát huy di sản Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên; sinh hoạt văn nghệ dân gian; ẩm thực Tây Nguyên…

Dịp này, UBND tỉnh Gia Lai đã tặng bằng khen cho 67 tập thể vì đã có những đóng góp tích cực cho sự thành công của Festival văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên 2018. Dư Toán

https://dantocmiennui.vn/van-hoa/be-mac-festival-van-hoa-cong-chieng-tay-nguyen-2018/204033.html

Huỳnh Thị Hà Duyệt: Kbang: Gìn giữ và phát huy cồng chiêng Tây Nguyên

Thứ Ba, 01/08/2017, 05:11 [GMT+7] Gửi tin qua EmailĐăng lên FacebookĐưa bài viết lên linkhayĐưa bài viết lên Google BookmarksĐăng lên TwitterChia sẻIn tin này .

(GLO)- Kbang là huyện có gần 50% dân số là đồng bào dân tộc Bahnar, chính vì thế mà việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người Bahnar-trong đó có cồng chiêng Tây nguyên-luôn được huyện quan tâm. Những nỗ lực ấy đã và đang phát huy hiệu quả với việc hình thành ngày càng nhiều đội cồng chiêng tiềm năng, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn nhiều thách thức đặt ra.  

Rộn ràng Ngày hội văn hóa cồng chiêng huyện Kbang Huyện Chư Pưh: Bế giảng lớp dạy cồng chiêng cho thanh-thiếu niên Y Xô – Người « truyền lửa » cồng chiêng ở Hà Tây Bảo tồn văn hóa cồng chiêng
Đội chiêng thanh-thiếu niên Nhà lưu niệm Anh hùng Núp. Ảnh: Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Theo thống kê của Phòng Văn hóa-Thông tin huyện Kbang, hiện nay trên địa bàn huyện có 103 đội cồng chiêng, với trên 3.600 nghệ nhân. Đặc biệt trong đó có 1 đội cồng chiêng nữ và 7 đội cồng chiêng thanh-thiếu niên (độ tuổi từ 25 trở xuống). Từ năm 2010 đến nay huyện Kbang duy trì 2 năm 1 lần, tổ chức Liên hoan Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trong toàn huyện, nhằm phát động phong trào thi đua luyện tập và biểu diễn cồng chiêng trong đồng bào dân tộc Bahnar.

Tại xã Tơ Tung, năm 2015 một đội cồng chiêng gồm các thanh-thiếu niên làng Stơr đã được thành lập, với mục tiêu đầu tiên là nhằm biểu diễn phục vụ du khách đến tham quan Nhà lưu niệm Anh hùng Núp. Tuy nhiên sau 1 thời gian luyện tập, hầu hết các thành viên trong đội đều đã ý thức được nguồn cội văn hóa của dân tộc mình và mong muốn được chơi cồng chiêng như những người Bahnar biết trân quý bản sắc dân tộc. Anh Đinh Doa- làng Stơr, xã Tơ Tung- năm nay 37 tuổi thì đã có gần 15 năm kinh nghiệm chơi cồng chiêng. Được giao nhiệm vụ dẫn dắt đội cồng chiêng tại chính Nhà lưu niệm Anh hùng Núp ngay từ những ngày đầu thành lập, nên đối với anh đây là một việc làm rất ý nghĩa.

Em Đinh Uê (14 tuổi, làng Stơr, xã Tơ Tung)- sau 2 năm luyện tập cồng chiêng, tâm sự: Em thích đánh cồng chiêng vì đây là văn hóa truyền thống của dân tộc. Em sẽ cố gắng tập luyện nhiều hơn để chơi tốt hơn và luyện tập cùng các anh em trong nhà nữa để ai cũng có thể chơi được chiêng.

 

Đội chiêng nữ làng Leng biểu diễn phục vụ khách tham quan. Ảnh: Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Xã Tơ Tung, huyện Kbang còn được biết đến là địa phương duy nhất trong huyện đã xây dựng được đội cồng chiêng nữ tại làng Leng. Được thành lập từ năm 2012, với trên 20 thành viên đến nay đội đã có trên 40 thành viên có thể thể biểu diễn cồng chiêng thành thục, đủ sức tạo nên những giai điệu rộn ràng với thanh âm mạnh mẽ và thôi thúc không thua kém gì các đội cồng chiêng do những nghệ nhân nam biểu diễn. Tiếng lành đồn xa, có lẽ, chính sự thành công của đội đã tạo động lực cho phong trào luyện tập cồng chiêng trong huyện phát triển mạnh mẽ hơn, và là khởi đầu cho sự nhen nhóm hình thành các đội cồng chiêng nữ khác. Như Câu lạc bộ cồng chiêng nữ làng Chiêng, thị trấn Kbang- thành lập năm 2015, nhưng vì hoạt động chưa hiệu quả nay đã giải thể; hay Chi hội Phụ nữ làng Groi- thị trấn phối hợp với các ban ngành, đoàn thể làng gây quỹ mua bộ cồng chiêng trị giá 27 triệu đồng để phục vụ việc luyện tập, tuy nhiên việc sinh hoạt chưa thường xuyên.

Ông Đinh Bli-Bí thư Chi bộ làng Leng, xã Tơ Tung, người trực tiếp dẫn dắt đội cồng chiêng nữ luyện tập- chia sẻ kinh nghiệm: Đối với đội cồng chiêng nữ thì đã được thành lập từ lâu, khoảng 4, 5 năm. Khi có các sự kiện ở tỉnh, huyện tổ chức thì đội cũng đi biểu diễn, phục vụ cho khách thưởng thức, tìm hiểu. Hiện nay thì đội vẫn duy trì luyện tập thường xuyên và có thể nói đã thành thạo hầu hết các bài biểu diễn; các loại trang phục truyền thống phục vụ biểu diễn cũng gần như có sẵn tại nhà, hoặc là họ vừa tự dệt trang phục vừa truyền lại nghề cho các thế hệ sau này để mà gìn giữ truyền thống dân tộc.

Năm 2005, Không gian Văn hóa cồng chiêng Tây nguyên đã  được UNESSCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đó vừa là sự khẳng định cho giá trị đặc sắc của một nền văn hóa dân tộc, vừa là sự ghi nhận cho những nỗ lực gìn giữ “di sản” ấy suốt bao đời. Tuy nhiên, để phát huy có hiệu quả cồng chiêng Tây nguyên trong các thế hệ người Bahnar nói riêng và các địa phương nói chung thì đây là một việc làm hết sức khó khăn mà không chỉ một cá nhân hay tập thể nào có thể làm được.

Huỳnh Thị Hà Duyệt

https://baogialai.com.vn/channel/12382/201708/kbang-gin-giu-va-phat-huy-cong-chieng-tay-nguyen-5543851/

Cồng chiêng Tây Nguyên – nét đẹp văn hóa buôn làng (buôn A Ko Thong, TP Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk)

Cồng chiêng Tây Nguyên – nét đẹp văn hóa buôn làng (buôn A Ko Thong, TP Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk)

Published on Feb 26, 2017

Quá hay. Phải dùng từ « quá hay » để diễn tả hết cái hay của cồng chiêng. Cồng chiêng là nhạc cụ bởi nó đưa ra tiếng nhạc, nhưng không phải chỉ nhằm để giải trí, tiêu khiển mà còn gắn liền với một lễ hội hay một sự kiện quan trọng. Vì vậy cồng chiêng được xem như một vật thiêng, là phương tiện để con người giao lưu với những bậc vô hình, là sợi dây nối kết giữa người trần và các đấng linh thiêng. Do đó âm nhạc ở đây không đơn thuần là nghệ thuật mà có chức năng phục vụ một sự kiện đặc biệt trong xã hội hoặc trong đời sống hàng ngày của dân gian. Hầu như mỗi sinh hoạt trong bộ tộc đều dính liền với nét nhạc. Lúc đứa trẻ mới lọt lòng thì già làng sử dụng cái cồng xưa cổ nhứt đến bên giường đánh lên để cho những âm thanh đầu tiên lọt vào tai đứa bé là tiếng của bộ lạc, khẳng định nó là một phần của cộng đồng bộ tộc. Khi đứa trẻ lớn lên thì mỗi giai đoạn của đời sống đều gắn liền theo tiếng cồng chiêng, từ việc đồng áng như gieo mạ, gặt lúa; cho đến những buổi gặp gỡ nam nữ, cuộc chia ly hay tang lễ … đều có những bài bản riêng. Để thưởng thức trọn vẹn âm hưởng cồng chiêng 6 phut 29 giây. https://www.youtube.com/watch?v=kKZQu… và đừng quên nhấn Đăng Ký để ủng hộ kênh và xem thêm nhiều clip thú vị khác.

ĐẶNG HOÀNG LOAN : CỒNG CHIÊNG MỘT SÁNG TẠO TÂY NGUYÊN

CỒNG CHIÊNG
MỘT SÁNG TẠO TÂY NGUYÊN

Đặng Hoành Loan

Năm 2006 không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên chính thức được UNESO công nhận là Kiệt tác Di sản văn hóa truyền miệng và phi vật thể của nhân loại. Đây là niềm tự hào không chỉ của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên mà còn là niềm tự hào của mọi người dân Việt Nam sống trong nước và ngoài nước.

Đã gọi là Di sản thì phải có con người sáng tạo ra di sản và sở hữu di sản trong suốt trường kì lịch sử. Vậy họ là ai ? Họ là đồng bào các dân tộc Xơ-đăng, Rơ-măm, Ba-na, Giai rai, Ê-đê, Mnoong, Giẻ-triêng, Cơ-ho, Mạ, Chu-ru hiện đang cư trú ở địa bàn các tỉnh Kon-tum, Gia-lai, Đắc-lắc, Đắc-nông và Lâm Đồng.

Những sản phẩm sáng tạo phục vụ cuộc sống của họ bao gồm nhiều lĩnh vực, trong đó có văn hóa tâm linh, văn hóa ứng xử cộng đồng, văn hóa canh tác nương rẫy, kiến trúc nhà rông, sử thi v.v. nhưng đặc biệt là những sáng tạo có giá trị rất cao về văn hóa nghệ thuật mà trong đó sự sáng tạo âm nhạc công chiêng là lớn. Nghệ thuật cồng chiêng có giá trị nổi bật ngang tầm những kiệt tác sáng tạo phi vật thể của nhân loại.

1. Cồng chiêng – nhạc cũ hữu linh. Người Tây Nguyên không chế tác cồng chiêng, họ phải mua cồng chiêng của người Lào và người Kinh. Vậy tại sao họ có thể trở thành chủ nhân của những sáng tạo nghệ thuật này.

Năm 1949 Giáo sư G. Condominas người Pháp có trong tay một số thanh đá kêu do những người làm đường trên địa bàn cư trú của dân tộc Mnông Gar tỉnh Đắc Lắc cung cấp. Ông đã đem chúng về Pháp và kết hợp với A. Schaeffner nhà nghiên cứu âm nhạc học để xác định những thanh đá này có phải là các âm của một bọ đàn không. Cuối cùng G. Condominas kết luận đây là các âm của một bộ đàn đá tiền sử.

Năm 1977, lần khảo sát âm nhạc dân gian đầu tiên của chúng tôi tại Tây Nguyên. Lần ấy chúng tôi đã được chứng kiến « đàn đá nước » (tên chúng tôi tự đặt) tại Kon Tum. Người ta dùng dây rừng chăng ngang suối. Trên dây người ta buộc hai nhóm, mỗi nhóm hai thanh đá. Nhờ tác động của dòng nước các thanh đá va vào nhau tạo ra các âm thanh âm nhạc rất huyền bí.

Vào những năm 1980, Viện nghiên cứu âm nhac (nay là Viện Âm nhạc – Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam) đã phát hiện nhiều bộ đàn đá nằm rải rác ở các tỉnh Bình Thuận, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Bình Đa.

Năm 2002, chúng tôi lại tiến hành khảo sát âm nhạc dân gian dân tộc Mnông Gar tại tỉnh Dắc Lắc. Dịp ấy chúng tôi đã chứng kiến cuộc diễn tấu 3 thanh đá kêu đầy ngâu hứng của 3 nghệ nhân dân gian Mnông Gar. Âm thanh là của đá, còn tiết tấu, cao độ là của dàn chiêng 3 âm của dân tộc Mnông Gar. Chúng tôi hỏi nghệ nhân đây là đàn gì, họ nói đây là « Goong Lú ». Vậy đàn đá là tên mà các nhà nghiên cứu đã mệnh danh cho « Goong Lú », một nhạc cụ tiền sử của người Mnông như G. Condominas đã từng công bố.

Những cuộc nghiên cứu khảo sát đán đá cho chúng ta biết rằng các dân tộc ở Tây Nguyên đã có nhạc đàn từ thời Tiền sử. Những sáng tạo xa xưa đó là cơ sở cho công cuộc chế tác các nhạc cụ bằng tre, nứa, lá – những nguyên liêu tại chỗ rất gần gũi với đời sống canh tác nương rẫy của người Tây Nguyên sau này. Những cái tên Goong Gram, Đinh Goong, Chinh Gram, Bơ-lơng-khơng, Goong Kial dường như có cùng nguồn cội từ dàn Goong Lú (gọi là dàn vì Goong Lú gồm nhiều thanh đá kêu có cao độ khác nhau và có trật tự âm thanh từ thấp lên cao).

Rối đến một thời điểm nào đó trong tiến trình lịch sử cái trục giao thương duyên hải miền Trung Việt Nam – Tây nguyên – Lào không chỉ cung cấp cho Tây Nguyên lương thực, thực phẩm mà còn cung cấp cả cồng chiêng. Câu ca dao miền Trung đã phản ánh phần nào mối giao thương ấy:

Ai về nhắn với thượng nguồn
Mít non chở xuống, cá chuồn chở lên.

Đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào, công bố chính xác thời điểm lịch sử con đường cồng chiêng xâm nhập vào Tây Nguyên, để rồi nó dần thay thế cho các dàn chiêng đá (Goong Lú). Song có điều chắc chắn rằng, tiếng chiêng đồng vang xa hơn, nhẹ nhàng hơn, thoải mái hơn trong diễn tấu đã làm cho người Tây Nguyên chấp nhận nó, bản địa hóa nó và coi nó là vật có thể thay thế cho Goong Lú thời tiền sử.

Từ cách tiếp biến văn hóa ấy, cồng chiêng dần trở thành nhạc cụ được dùng chính thức trong nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên từ lễ Đâm trâu cúng Zàng đến lễ Bỏ mả, lễ Rời buôn cũ lập buôn mới, lễ Cúng bến nước, lễ Mừng trẻ sơ sinh (lễ Thổi tai), lễ Làm nhà mới… Tất cả những lễ thức ấy đều xuất phát từ quan niệm Zàng cai quản mọi vật, Zàng có trong mọi vật. Vì thế quan hệ giữa con người và vạn vật quanh mình là quan hệ vạn vật hữu linh (vạn vật có Zàng), chiêng đồng là của Zàng ban cho.

Câu truyện truyền thuyết về chiêng đồng của người Xơ-đăng đã minh chứng cho điều này. Truyện kể rằng: « Vào thời xửa thời xưa khi người Xơ-đăng đang sống thanh bình, nương rẫy tốt tươi, lúa, bông đầy nhà thì bống đâu hàng đàn voi dữ tràn về phá rẫy, phá buôn. Chưa đầy nửa ngày buôn rẫy xác xơ. Theo tiến gọi của già làng, con trai Xơ-đăng mang theo lao và tên ná cùng hợp sức tiêu diệt thú dữ. Đánh nhau suốt mấy ngày đêm, sức đã tàn, lực đã kiệt mà thú dữ càng lúc càng trở nên hung bạo. Không còn cách nào khác, các chàng trai chỉ còn biết chắp tay cầu xin Zàng phù hộ. Bỗng nhiên trước mắt họ ùn lên một ụ đất, họ đào ụ đất lên và thấy có một vật bằng đồng tròn như ông mặt trời, to bằng bốn người ôm, họ gõ vào vật ấy tiếng trầm vang động núi rừng làm cho bày voi ngơ ngác. Rồi cứ thế các ụ đất cứ mọc lên, các ụ đất về sau đào lên các vật bằng đồng ấy càng nhỏ lại và âm càng cao. Khi đào đến ụ đất cuối cùng, các chàng trai Xơ đăng đã có được hơn mười chiếc chiêng. Khi họ cùng nhau gõ lên thì tiếng trầm nghe như thác đổ, tiếng cao nghe như gió reo. Lũ voi dữ nghe thấy tiếng chiêng đồng hoảng sợ bỏ chạy vào rừng sâu, cây cối bị thú dữ phá nát trở lại xanh tươi. Người Xơ đăng từ đấy có cuộc sống bình yên » .

Câu chuyện thầm khẳng định rằng, công chiêng không chỉ là nhạc cụ bình thường như bao nhạc cụ khác ở Tây Nguyên, mà nó còn là nhạc cụ của quyền uy, nhạc cụ linh thiêng do Zàng ban phát. Vì vậy muốn tiếng cồng chiêng vang lên trong những ngày lễ hội lớn, nhỏ của buôn làng thì trước hết người ta phải làm lễ xin Zàng cho phép sử dụng, bởi cồng chiểng là của Zàng, có linh hồn của zàng trong đó.

2. Cấu tạo dàn cồng chiêng.

Cồng chiêng Tây Nguyên có hai loại là chiêng bằng và chiêng núm. Chiêng núm gọi là Chêng, chiêng bằng gọi là Chinh. Tùy theo từng dân tộc mà số lượng mỗi loại Chêng-Chinh tham gia vào dàn cồng chiêng có số lượng nhiều ít khác nhau.

Các dân tộc Ba-na, Giai-rai, Xơ-đang, Rơ-măm, Chu-ru thường sử dụng nhiều chiêng núm. Các dân tộc Ê-đê, Cơ-ho, Giẻ-triêng, Mnông, Mạ thường sử dụng nhiều chiêng bằng. Việc sử dụng chiêng bằng hay chiêng núm và sự pha trộn giữa hai loại cồng chiêng là sự lựa chọn mang tính đặc thù về thẩm âm của từng dân tộc.

Từ cách lựa chọn âm sắc chiêng (bằng hay núm) đã dẫn tới sự cấu tạo âm thanh của mỗi dàn chiêng. Các dàn chiêng lớn nhất thường có cấu tạo từ 9 đến 12 chiêng như dàn cồng chiêng các dân tộc Ba-na, Gia-rai, Ê-đê. Các dàn cồng chiêng nhỏ nhất thường có cấu tạo từ 2 đến 4 chiếc, như dàn chiêng Tha của người Brâu chỉ có 2 chiếc chiêng băng, dàn cồng chiêng cúng lúa của người Tơ-drá (một nhánh của dân tộc Xơ-đăng) có 4 chiếc chiêng núm, còn trung bình mõi dàn cồng chiêng thường có từ 6 đến 8 chiếc.

Tên của mỗi chiếc cồng chiêng trong dàn cồng chiêng thường đặt theo tên gọi của các thành viên trong gia đình như các chiêng : ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em, em nhỏ, em út. Tùy vào ngôn ngữ của từng dân tộc mà tên gọi thành phần trong gia đình có khác nhau nên tên gọi cồng chiêng cũng khác nhau. Ví dụ : Người Mnông gọi tên các chiêng là May, Rnui, Nđớt, loa, Thơ, Thết. Người Ê-đê gọi tên các chiêng là Ân, Hluê, Hliang, Mđu Khơk, Moong, Moong Khơk v.v..

3. Hàng âm của cồng chiêng.

Như trên đã trình bày, người Tây Nguyên có lịch sử chơi nhạc đàn từ thời tiền sử, những thanh đá kêu là chứng tích cho hiện tượng này. Cùng với đàn đá là tập hợp khá phong phú các nhạc cụ chế tác bằng các chất liệu tre, nứa. Đấy là những căn cứ để các dân tộc Tây Nguyên sáng tạo ra các hàng âm (có thể coi như những thang âm) cho các bộ cồng chiêng của mình.

Theo khảo sát của chúng tôi thì dàn cồng chiêng của người Gia-rai có hàng âm Đồ-Sol-Si-Đô-Rê-Mi-Fa-Sol-Si-Đô-Rế. Dàn công chiêng của người Ba-na có hàng âm : Rề-La-Rê-La-Si-Đô-Rê-Fa-Sol-La-Si. Dàn cồng chiêng của người Ê-đê có hàng âm: Sì-Đô-Rê-Đô-Rê-Fa-Sol-La-Si. Dàn cồng chiêng của người Xơ-đăng có hàng âm : Là-Đô-Rê-Fa-Sol-La-Đô-Rê.

Vậy ai là người xác định cao độ chuẩn cho các hàng âm của mỗi dàn chiêng ? Vào Tây Nguyên chúng ta sẽ gặp được những người làm chuẩn cao độ và âm thanh cho các dàn chiêng, người đó là các ông « Pok chinh » hoặc các ông « Puih chêng ». Những ông « Pok chinh » hoặc « Puih chêng » thường có lỗ tai rất kì diệu. Cao độ của mỗi dàn chiêng như khắc sâu vào tâm trí họ. Họ không có thanh mẫu nhưng khi đánh vào bất kì chiếc chiêng nào ông « Pok chinh » hoặc « Puih chêng » cũng nhận ra những chỗ đúng, sai của chiếc chiêng. Ví dụ như, chiêng thấp hoặc cao, âm chiêng không tập trung vào giữa mặt chiêng, hoặc chiêng mất tiếng v.v… Tất cả những sai sót ấy sẽ được khắc phục nhanh chóng chỉ sau vài động tác kĩ thuật của ông « Pok chinh » hoặc « Puih chêng ».

Vào những dịp lễ thức của dòng tộc, của buôn làng như lễ Bỏ mả, lễ Cúng lúa, lễ Đâm trâu v.v… bao giờ người ta cũng phải mời bằng được ông « Pok chinh » hoặc ông « Puih chêng » đến để chỉnh chiêng.

Một lần điễn dã tại làng Mrông Ngõ, huyện Chư Pả tỉnh Gia Lai chúng tôi đã có dịp gặp Kso Avek – một ông Pok chinh nổi tiếng ở Gia Lai. Dịp ấy chúng tôi được nghe ông « thuyết trình » một cách rành rẽ về nghệ thuật chỉnh chiêng. Ông cho biết :chiêng là tiếng nói của dân làng với Zàng, dân làng nói Zàng không nghe thấy, nhưng chiêng nói thì Zàng nghe thấy. Chiêng mà sai tiếng thì Zàng không hiểu dân làng nói gì, vì thế muốn để Zàng hiểu phải làm cho chiêng đúng tiếng.

Quan niệm bình dị ấy Pok chiêng Kso Avek đã hàm chúa đầy đủ tính nghiêm túc, tính chuẩn xác của âm nhạc Tây Nguyên. Và hàng âm của các dàn chiêng cũng được sinh ra từ tình chuẩn xác ấy.

4. Cách đánh cồng chiêng.

Người Tây Nguyên có hai cách đánh cồng chiêng. Một cách đánh bằng dùi, một cách đánh bằng cườm tay. Dùi chiêng có hai loại, một loại dùi mềm và một loại dùi cứng. Loại dùi mềm thường làm bằng gốc cây dứa dại khô hoặc làm bằng gỗ có bọc vải. Lọa dùi cứng thường làm bằng nhánh gỗ khô hoặc thân cây sắn tươi. Mỗi loại dùi chiêng khi tác động lên mặt chiêng tạo ra âm sắc chiêng khác nhau. Loại dùi mềm cho âm thanh tròn trĩnh, vang ngân, trầm hùng. Loại dùi cứng cho âm thanh sắc nhọn, nghe có tiếng va chạm của kim khí và sự mãnh liệt của âm thanh. Còn cách đánh bằng cườm tay cho ta một cảm giác âm thanh xa xăm, bí ẩn.

Khi đánh chiêng, tay phải cầm dùi, hoặc cườm tay kích vào mặt chiêng tạo âm thanh, tay trái lúc chặn vào mặt chiêng, lúc rời khỏi mặt chiêng sẽ tạo ra âm chiêng (nốt nhạc chiêng). Sự kết hợp nhuần nhuyễn hai tay phải và trái của người đánh chiêng sẽ tạo ra một âm chiêng hoàn chỉnh. Nhưng để có thể tham gia diễn tấu được một bài chiêng thì vấn đề còn phức tạp hơn rất nhiều. Mỗi thành viên tham gia vào dàn chiêng giữ vị trí một cao độ và tiết tấu khác nhau. Do vậy họ phải nắm rất chắc thời khắc gõ chiêng của mình làm sao cho đúng thời khắc tiết tấu, đúng gai điệu, đúng âm sắc. Và điều kì diệu của bản nhạc chiêng chính là sự đồng cảm, sự tập trung, sự hào hứng của những « tâm thức chiêng » khi cùng nhau trình diễn một bản nhạc cồng chiêng.

5. Những bản nhạc cồng chiêng.

Chiêng là ngôn ngữ âm nhạc thay thế tiếng nói của con người giao tiếp với thần linh. Để thỏa mãn tiếng nói giao tiếp ấy, các dân tộc ở Tây Nguyên đã sáng tạo ra rất nhiều các bài nhạc chiêng khác nhau. Mỗi bài nhạc chiêng ứng với một lễ thức, một tiết lễ trong lễ thức, mỗi lễ thức ứng với một dàn chiêng.

Khi đánh trong lễ Bỏ mả (Pthi) người Gia-rai đánh dàn chiêng Arap. Dàn chiêng Arap có tới 16 chiếc chiêng (gồm chiêng bằng và chiêng núm) là các chiêng Ania, Mung, Moong, Mung Anẽh, Moong Kok, Mông Kok nhỏ, Ania chiêng, Mung chiêng, Mung chinh, Tơ Rớt, Đut, Lnal, Tok Tơ Rớt, Yok Đut, Teng neng, Chinh Hlinh, Groaih. Lễ bỏ mả thường kéo dài trong ba bốn ngày. Vào đếm cuổi cùng khi mọi việc đã hoàn tất, con cái, người thân quỳ lại trước Pnang than khóc linh hồn người đã khuất và nói lời từ biệt linh hồn và mong linh hồn đừng quay về quấy rầy con cái. Khi ông thầy lễ dứt bài khấn, các chàng trai đánh bài chiêng Xoang. Bài chiêng có tiết tấu rộn rã cuốn hút mọi người vào vòng Xoang sôi động và vui vẻ.

Khi đánh trong lễ Đâm trâu, người Ba-na chơi dàn chiêng Honh. Lễ đâm trâu là lễ thức lớn nhất của các dân tộc Ba-na, Gia-rai, Xơ-đăng và nhiều dân tộc khác ở Tây Nguyên. Người ta tổ chức lễ đâm trấu để tạ ơn Zàng, tạ ơn các thần nước, thần lúa, thần núi, thần sông và nhiều vị thần khác đã ban cho họ cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Chiêng Honh gồm có 11 chiếc chiêng bằng và chiêng núm là các chiêng Pru, Chil, Pêt-ty, Zoong, Moong, Tơ-rết, Pết-moong, Pơ-klẹ. Moong-xlam, Pêt, Đrêt. Các bài chiêng : Cheng, Spo, Pru là những bài chiêng hùng tráng như muốn mô tả những cuộc chiến đấu dũng cảm của các vị tù trưởng và dân buôn khi xảy ra chiến tranh bảo vệ lãnh thổ.

Ngoài những bài chiêng đánh trong các lễ thức lớn như lễ Đâm trâu, lễ Bỏ mả, các dân tộc Tây Nguyên có có rất nhiều các bài chiêng đánh trong lễ Cúng bên nước, lễ Cúng cơm mới, lễ Dựng nhà, lễ Thổi tai, lễ Rước kpan, lễ Cúng đất v.v… Người Mnông Gar có các bài chiêng: Booc-ngăn, Rơ-le, Bar-đăn, Đol-rơ-la, Goong-Yowl, Táp-tốp, Tiêng, Par-mây. Người Ê-đê có các bài chiêng: Chiêng gọi buôn làng, Chiêng gọi hồn lúa, Chiêng ngày mùa, Chiêng Chi-ria, Chiêng thác đổ, chiêng Tông-gát. Người Cơ-ho có các bài chiêng: Voa-nắc (chiêng đón khách), Bắc-đơn, Pép-ê-zun (săn nai), Ti-tắp-tắp, Dăn pắc – Dăn Điếp, Chinh boch, Po-trim-po. Người Ba-na Rơngao có các bài chiêng: Kă-kơ-pô, Pơ juăr (đuổi ma)…

Mối bài chiêng Tây Nguyên là một « tác phẩm » âm nhạc hoàn thiện. Mỗi « tác phẩm » lại chứa đựng những ngữ nghĩa âm nhạc phản ánh một đời sống bình dị, chân thực và dân chủ của người dân Tây Nguyên. Nghe nhạc cồng chiêng Tây Nguyên ta như thấy có tiếng gió, tiếng suối, tiếng thì thầm của con người trước thiên nhiên bao la và bí ẩn. Những « tác phẩm » ấy chỉ có thể sinh ra ở những người dân giàu tâm hồn nghệ sỹ – người dân Tây Nguyên.

Lời kết. Cồng chiêng Tây Nguyên không phải do người Tây Nguyên chế tác, nhưng nó lại trở thành nhạc cụ của người Tây Nguyên, được người Tây Nguyên quý trọng và biến nó thành nhạc cụ đặc sắc của các dân tộc sống trên Tây Nguyên.

Ngày nay các cặp phạm trù tiếp thu – sáng tạo, bắt trước – phục tùng đã làm cho chúng ta tốn nhiều công sức và giấy mực để đàm thảo tìm ra cách làm đúng, mà kết quả xem chừng vẫn chưa thỏa mãn. Nhiều người quan niệm rằng những hình thức nghệ thuật nước ta chưa có như Pop, Rock, Rap v.v… thì cức bắt trước nước ngoài mà làm, làm càng giống càng tốt. « Ở địa hạt ca khúc nhạc trẻ Việt Nam, các tác giả trẻ chịu ảnh hưởng nặng từ các trào lưu nhạc quốc tế qua các yếu tố cấu tạo nên ca khúc như hình thức, giai điệu, tiết tấu, công năng hòa thanh… mà rất ít có những sáng tạo chuyên nghiệp… » . Điều tưởng như phưc tạp ấy đã được người dân Tây Nguyên chứng minh bằng những sáng tạo trong nghệ thuật cồng chiêng của mình đó là: biến công cụ của người khác thành công cụ sáng tạo nghệ thuật cho mình. Nhờ vậy mà giờ đây, cồng chiêng Tây Nguyên vẫn là « Một nền nghệ thuật còn tươi rói chất tự nhiên thuần khiết, hồn nhiên và mộc mạc, mà nhiều nên nghệ thuật phát triển cao đã « đánh mất nay đang có khuynh hướng tìm trở lại cái chất tự nhiên ấy » .

Tìm hiểu cồng chiêng Tây Nguyên cũng đồng nghĩa với việc tìm hiểu cội nguồn sáng tạo nghệ thuật của con người Tây Nguyên. Hiểu được cội nguồn sáng tạo, hiệu đượ giá trị sáng tạo chúng ta sẽ biết quý trọng và gìn giữ một không gian văn hóa mà ở nơi ấy cồng chiêng là trung tâm với tên gọi Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

ĐHL

-4:36

ĐẶNG HOÀNH LOAN : CHUYỆN TRÒ VỚI KSO UẾCH – NGƯỜI « LÊN DÂY » CHO DÀN CHIÊNG JRAI

CHUYỆN TRÒ VỚI KSO UẾCH –
NGƯỜI « LÊN DÂY » CHO DÀN CHIÊNG JRAI

Đặng Hoành Loan

Cuối năm 2004 chúng tôi có dịp về điền dã sưu tầm âm nhạc dân gian dân tộc Jrai tại xã Yaka huyện Chư Pã, tỉnh Giai Lai. Buổi làm việc đầu tiên tại xã, chúng tôi được gặp già làng Siu Mi Ing, trưởng thôn Ksor Blao và ông chủ tịch xã Rơ Chăm Ngliu. Buổi gặp mặt diễn ra vui vẻ và thân thiện.

Sau nhiều câu xã giao, nhiều chuyện xa gần về đời sống sinh hoạt xã hội, nào chuyện con đường, chuyện điện về buôn, đến chuyện thay đổi cây, con trong nông nghiệp được trao đi đổi lại khá xôm xả.

Khi men rượu đã ngấm sâu, ché rượu cũng nhạt dần (sau nhiều lần tiêm nước), khói thuốc từ các tẩu thuốc dân gian nhả đặc quánh căn phòng, thì cũng là lúc câu chuyện buôn làng thuở xưa được già làng Siu Mi Ing kể lại. Nào chuyện chiến tranh trước đây giữa hai dòng họ Jrai Hrap với Jrai Hdrung ; chuyện rời buôn từ bên Kon Tum về đây sau cuộc chiến cuối cùng ; chuyện phong tục cưới xin, ma chay ; chuyện lễ hội của làng buôn cũng được già làng kể đến từng chi tiết. Nhưng có lẽ thú vị nhất là chuyện cồng chiêng.

Già làng nói : Từ xa, xa lắm, Yang đã ban cho người Jrai cồng chiêng để mỗi dịp lễ thiêng, người Jrai đánh cồng chiêng, cầu xin Yang cho buôn làng hạnh phúc, cho chiến tranh không xảy ra, cho người chết được đi xa, cho bến nước không ngừng chảy, cho lúa, bắp đầy hạt. Cồng chiêng là thiêng lắm ! Mỗi khi đánh cồng chiêng phải làm lễ xin phép Yang, phải chỉnh lại âm cồng chiêng cho đúng. Âm cồng chiêng có đúng thì tiếng cồng chiêng mới thấu tới Yang, Yang mới hiểu mình cầu xin gì. Còn âm cồng chiêng nó sai thì giọng nó không đúng ,Yang không hiểu được đâu. Chỉ có cồng chiêng mới nói chuyện được với Yang thôi.

Tôi hỏi già làng Siu Mi Ing :

– Thế ai là người chỉnh âm thanh cồng chiêng ?

– Ông Pok Chêng là người chỉnh âm thanh cồng chiêng. Già làng vừa trả lời tôi vừa nâng cần rượu. Ông hút mấy hụm rượu từ chiếc cần trúc dài uốn cong cắm vào ché rượu, rồi nói tiếp : Ở Tây Nguyên buôn làng nào cũng phải có Pok chêng. Ở xã mình cũng có ông Pok chêng tài lắm, ông là Kso Uếch, nhưng hôm nay ông không có nhà, nghe đâu ông đi chỉnh cồng chiêng ở bên Kon Tum.
– Có cách nào để tìm được ông ấy không, già làng ?
– Khó lắm. Ông ấy thường đi chỉnh cồng chiêng khắp nơi. Có lần ông đã đi chỉnh cồng chiêng cho các buôn ở sát biên giới Lào cơ. Bây giời phải sang nhà ông ấy, ở bên làng Mrông Ngõ, rồi hỏi vợ ông ấy thì mới biết – Ông chủ tịch xã Rơ Chăm Ngliu mách bảo chúng tôi.

Thế rồi may rủi đều có số, chúng tôi cũng tìm được ông Pok chêng Kso Uếch khi ông đang chỉnh dàn chiêng trong đám tang người Jrai ở một làng gần thị xã Kon Tum.

Vóc người nhỏ bé, ánh mắt tinh nhanh, vừa nhìn thấy chúng tôi, dường như ông đã đoán biết ý định của những vị khách không mời mà đến này.
– Chào Ksor Uếch ! Có mấy ông ờ Hà Nội vào, muốn được gặp ông. Rchăm Tyh (người cán bộ địa phương cộng tác điền dã cùng chúng tôi) nói.

Ông nhìn chúng tôi một lượt rồi gật đầu, nhưng vẫn không rời khỏi công việc chỉnh chiêng. Ít phút sau ông ngừng tay và nói đôi câu bằng tiếng Jrai. Rchăm Tyh dịch lại cho chúng tôi : « Hai ngày nữa xong việc ở đây tôi sẽ về. Muốn biết chỉnh chiêng như thế nào thì phải có dàn cồng chiêng và phải có người đánh cồng chiêng ». Nói xong ông lại tiếp tục công việc.

Chúng tôi chấp nhận lời đề nghị của ông, bởi chúng tôi hiểu, đó là yêu cầu bức thiết. Chia tay ông chúng tôi trở lại xã Yaka để chuẩn bị những công việc cần thiết cho cuộc : »thuyết trình » chỉnh chiêng của ông.

Đúng hai hôm sau Kso Uếch đã về buôn và cũng vừa lúc chúng tôi hoàn thành tất cả những công việc cần thiết cho cuộc « thuyết trình » này. Dàn chinh chêng (quen gọi là cồng chiêng) cổ 16 chiếc của già làng Siu Mi Ing và các nghệ nhân đánh cồng chiêng của làng Mrông Yố đã có mặt đầy đủ. Tôi ngẫm câu thành ngữ :  » Người Tây Nguyên nói như dao chém lá, như rựa chặt cây » quả không sai.

Khi cuộc chỉnh chiêng bắt đầu, như một chỉ huy dàn nhạc lão luyện, Kso Uếch cầm chiếc chiêng nhỏ khởi nhịp để cả dàn cồng chiêng nổi lên bài chiêng Cúng lúa. Dứt bài chiêng, Kso Uếch nói với chúng tôi : « Dàn chinh chêng này có 3 chêng mất tiếng » cần chỉnh lại. Nói xong ông chọn 3 chiếc chiêng ấy để riêng, rồi nhấc chiếc gùi xủng xoảng đồ nghề bên trong tiến gần lại chỗ chúng tôi.

– Muốn chỉnh chinh chiêng phải có đồ nghề. Đây là Mút pkia (búa gò), đây là Mút theng (búa chỉnh âm), đây là Mút dol (dìu đẽo gỗ), đây là Nét pkia (đe nhỏ sửa chiêng mỏng), đây là Nol psơi pkia (đe lớn sửa chiêng lớn). Ông chậm rãi cầm từng dụng cụ một giới thiệu cho chúng tôi. Dứt lời, ông lấy dùi gõ vào mặt chiếc chiêng Moong Kôốc (chiêng núm) là 1 trong 3 chiếc chiêng ông cho là mất tiếng. Hình như để tìm ra lỗi mất tiếng của chiêng, ông đánh chiêng ở nhiều vị trí khác nhau: khi giữa núm chiêng, khi sát thành chiêng, khi giữa thành và núm chiêng, rồi đánh lúc xa lúc gần. Chêng này chết phải chỉnh lâu lắm – ông quay sang chúng tôi khẳng định, rồi chậm rãi nhét thuốc vào chiếc tẩu tre, châm lửa.

Mặc dù đã có ngót 40 năm hành nghề âm nhạc, nhưng tôi vẫn không hiểu tại sao chiêng vẫn kêu mà ông bảo chiêng chết. Tôi tự nhủ, thôi ngu thì hỏi mà hiểu, còn hơn gật gật đầu mà mù tịt. Thưa Pok chiêng, tôi vẫn thấy chiêng kêu đàng hoàng đấy chứ có câm đâu mà chết ?

Ông cầm chiêng lên, đánh rồi giải thích : Chiêng kêu, nhưng tiếng nó tản khắp mặt chiêng, như thế là chiêng chết. Chiêng không chết là âm chiêng phải phát ra từ giữa mặt chiêng. Ông gõ thêm mấy tiếng chiêng nữa rồi nhìn chúng tôi như hỏi : đã nhận ra chưa ? Thú thực, lúc bấy giờ chúng tôi cũng chỉ mới lờ mờ cảm nhận, nên đành lặng yên không trả lời ông.

Ông điềm nhiên nạp thêm thuốc vào tẩu rồi với tay lấy chiếc chiêng thứ hai, chiếc Mung chinh (chiêng bằng), ông nhấc chinh lên gõ nhẹ vào mặt chinh. Cũng như lần trước, ông cẩn trọng gõ nhiều điểm rồi khẳng định : Chinh này lạc tiếng.

– Làm thế nào mà ông nhận ra chiếc Mung chinh này lạc tiếng giữa lúc 16 chiêng cùng hòa tấu ? Tôi hỏi ông.

– Mình nghe quen thì mình nhận ra thôi. Còn lũ trẻ bây giờ nó lên tỉnh, lên huyện đánh chiêng cốt cho kêu to chứ có biết sai đúng gì đâu, nên hỏi nó, nó cũng không biết đâu.

– Thế chiêng lạc tiếng khác với chiêng chết ở chỗ nào ?

– Chiêng lạc tiếng là nó hát không đúng cái giọng, nhưng âm của nó vẫn ở giữa tâm chiêng.

– Chiêng « hát không đúng cái giọng » tức là chiêng sai bậc âm, có thể là bị thấp và cũng có thể là bị cao, phải không Pok chiêng ?

Ông gật đầu đồng ý, rồi với tay lấy chiếc chiêng thứ ba, chiếc chinh Tơ rớt (chiêng bằng). Cũng lặp lại những thao tác trước đây để thẩm định âm thanh một cách kĩ lưỡng, rồi kết luận : chiêng này câm. Mọi người đều tán thành đúng là chiêng câm vì nó không vang như những chiếc khác.

Sau khi đã xác định đúng lỗi của từng chiếc chiêng, ông bắt đầu chỉnh sửa. Bằng những động tác kĩ thuật rất chỉnh chu và khéo léo, khi dùng búa gõ, khi dùng khúc gỗ dỗ dỗ xuống những điểm cần chỉnh ở cả hai phía trong và ngoài chiêng, khi dùng dùi nạo quét nhẹ từ thành chiêng vòng vào tâm chiêng, rồi lại vòng ngược từ tâm chiêng ra ngoài mặt chiêng. Sau khi hoàn thành mỗi động tác chỉnh sửa ông lại đánh chiêng bằng 2 loại dùi : loại bọc vải và loại không bọc vải để kiểm tra hiệu quả âm thanh.

Hơn một giờ đồng hồ tập trung chỉnh sửa ông đã hoàn tất âm thanh cho 3 chiếc chiêng. Chiêng chết đã có âm thanh giữa tâm chiêng ; chiêng lạc đã chuẩn cao độ ; chiêng câm đã kêu vang như những chiếc chiêng khác.

Tôi nhớ rất rõ và cũng rất ấn tượng khi ông chỉnh xong chiếc Mung chinh. Ông cầm chiếc Mung chinh đến bên người nghệ nhân chơi chiếc Ania chinh. Ông yêu cầu người nghệ nhân đánh chiêng Ania chinh cầm chiêng đứng lên, giơ chiêng song song với chiếc Mung chinh của ông. Sau đó ông đánh mạnh vào chiếc Mung chinh. Ông đánh như vậy độ hai, ba lần, vừa đánh vừa lắng nghe rồi gật đầu tỏ vẻ mỹ mãn.

– Tôi tò mò hỏi ông : Ông đánh thế để làm gì ?

– Để nghe tiếng ngoài chiêng. Hai tiếng ngoài chiêng nhập vào nhau là chiêng đã chỉnh đúng, không còn lạc tiếng nữa.

– Tôi gặng hỏi ông : Tiếng ngoài chiêng là tiếng gì ?

– Là tiếng ngoài chiêng thôi – ông giải thích một cách bí ẩn.

Để tìm nguyên nhân, tôi bắt chiếc ông lặp lại cách so âm thanh giữa hai chiếc chiêng Mung chinh và Ania chinh của ông hai, ba lần và nhận ra rằng : đây là hai chiếc chiêng cùng âm (chênh nhau quãng 8), khi để chúng gần nhau, rồi đánh một trong hai chiếc sẽ tạo nên giao thoa âm thanh. Lúc bấy giờ ta sẽ nghe thấy bồi âm quãng 5 của hai chiêng cùng vang lên rất rõ. Tôi suy đoán, tiếng ngoài chiêng mà Kso Uếch nói, chính là tiếng bồi âm này. Khi hai tiếng bồi âm quãng 5 của 2 chiêng khớp nhau là chiếc chiêng được chỉnh đã chuẩn xác. Nếu quả đúng như vậy (hoặc không đúng như tôi suy đoán) thì lối thử chiêng, bằng cách này để nghe cái « âm thanh ngoài chiêng » ấy cũng đủ chứng minh các dân tộc ở Tây Nguyên đã có một kho « tri thức âm thanh học dân gian » từ rất lâu đời. Nhờ kho « tri thức âm thanh học dân gian » này, mà họ đã chế tác ra muôn vàn những nhạc cụ định âm khác nhau bằng nhiều loại vật liệu từ tự nhiên : đá, tre trúc, nứa, gỗ, đất. Và cũng nhờ có kho tri thức ấy mà họ đã biết biến đổi cồng chiêng của các dân tộc ngoài Tây Nguyên thành nhạc cụ cồng chiêng của người Tây Nguyên – dàn nhạc cụ có tầm nghệ thuật trác tuyệt.

Thử lại lần cuối cùng 3 chiếc chiêng vừa chỉnh âm, ông gật đầu vẻ mỹ mãn rồi trao lại chiêng cho 3 nghệ nhân. Ông cầm chiếc chiêng Đook đốt (chiêng nhỏ có núm), tay phải cầm dùi dơ cao như báo hiệu cho toàn dàn chiêng chuẩn bị. Ông khởi nhịp bằng 3 tiếng chiêng đều đặn, cả dàn chiêng đổ vào theo một trật tự âm thanh và tiết tấu nhất định. Bài chiêng Cúng lúa vang lên, lúc trầm hùng, lúc sống động, khi bí ẩn, đã gây cho người nghe một cảm giác hưng phấn lạ lùng.

Đế lúc bấy giời, những kẻ làm nghề nhạc như chúng tôi mới thấy hết cái hay, cái đẹp âm thanh của một dàn chiêng chuẩn. Dứt bài chiêng Cúng lúa cũng là lúc ông mặt trời cao nguyên đứng ở đỉnh đầu. Chia tay các nghệ nhân đánh cồng chiêng, chia tay Pok chêng Kso Uếch, tôi gạn hỏi ông :

– Ông làm nghề chỉnh chiêng lâu chưa ?

– Tôi theo cha đi chỉnh chiêng từ năm 10 tuổi. Cha dạy tôi, tôi nhớ, rồi tôi cùng làm với cha, dần dần mà biết. Hôm nay tôi mới chỉ nói cho các ông về các lối chỉnh âm thanh cồng chiêng. Còn cách thức sửa lại cồng chiêng mới mua về để nó hát đúng tiếng dân tộc mình thì còn nhiều chuyện lắm.

Bây giờ 70 tuổi rồi, muốn trao lại nghề này cho lớp trẻ thôi.

– Đã có cháu nào đến xin học ông chưa ?
– Cũng có, nhưng không ham lắm. Ông trả lời tôi, rồi cừa buồn.

Nụ cười ấy của ông làm tôi vẫn nhớ mãi. Nó như nói với tôi : nếu không có người làm nghề chỉnh chiêng như ông thì tiếng chiêng sẽ sai lạc. Khi ấy cồng chiêng không còn là tiếng nói giao tiếp thầm kín của người Tây Nguyên với Yang được nữa rồi.
ĐHL

L’image contient peut-être : 2 personnes, personnes debout, barbe et plein air
L’image contient peut-être : une personne ou plus, personnes assises, plein air et eau

J’aimeAfficher plus de réactions

Commenter