Catégorie : CONDOLENCES

Tran Viet Hai: Nữ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi.

Subject: Nữ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi.Gia đình của nhạc sĩ Phạm Duy đã thông báo danh ca Thái Thanh, người được mệnh danh là Tiếng hát vượt thời gian, đã qua đời tại Mỹ vào lúc 11 giờ 20 ngày 17-3 (giờ địa phương). Hưởng thọ 86 tuổi.——————————————————————————–Also ref link:https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/tieng-hat-vuot-thoi-gian-danh-ca-thai-thanh-qua-doi-huong-tho-86-tuoi/————————————–Xin Thành Kính Chia Buồn cùng Tang Quyến.Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian: Trần Mạnh Chi, Pham Hồng Thái, Nguyên Hồng, Bùi Quỳnh Giao, Lâm Dung, Quốc Sĩ, Duy Nhật, Vương Trang, Ngọc Quỳnh, Minh Châu, Paul Phú, Mai Hương, Thanh Thanh, Henry, John Tạ, Ngọc Cường, Ngô Thiện Đức, Ngọc Tú, Thanh Châu, Kim Nga, Tâm Bùi, ThụyVy, Minh Coeur, Mộng Thủy, Bích Trâm, Bích Ty, Mindy Lưu, Kim Lý, Lý Tòng Tôn, Thanh Thanh, Lưu Anh Tuấn, Yên Sơn, Thụy Lan, Hồng Anh, Khánh Lan, Hồng Tước, Mạnh Bổng, Trọng Nghĩa, Phạm Đăng Khải, Thanh Mỹ, Hoàng Vinh, Quyên Di, Trần Huy Bích, Dương Viết Điền, Đặng Quý Mão, Nhật Uyên, Gina Nga, Katherine Lê, Nguyễn Quang, Lệ Hoa, và Trần Việt Hải, Thân hữu văn nghệ sĩ: Lam Phương, Cung Trầm Tưởng, Trần Quang Hải, Bạch Yến, Thái Tú Hạp, Ái Cầm, Kiều Chinh, Thanh Thúy, Thanh Châu, Thanh Tuyền, Cao Mỵ Nhân, Hồng Vũ Lan Nhi, Kim Tước, Thanh Tước, Bích Huyền, Cát Ngọc, Trần Phong Vũ Ngọc Vân, Bồ Đại Kỳ, Nguyễn Bá Thảo, Vũ Đức Âu Vĩnh Hiền, Vương Trùng Dương, Nguyễn Ngọc Chấn, Nguyễn Thanh Huy, Thanh Thương Hoàng, Vũ Hoài Mỹ, Trần Trung Đạo, Trường Sa, Hoàng Sa, Mỹ Chương, Lê Văn Khoa, Ngọc Hà, Khiếu Long, Nhược Thu, Thúy Anh, Nguyên Vũ, Vũ Hương Thơ, Tha Nhân, Ông Như Ngọc, Trần Quốc Bảo, Lê Đình Hải, Phạm Quốc Bảo, Phạm Kim, Võ Ý, Nguyễn Xuân Vinh, Phiến Đan, Nguyễn Văn Liêm, Phạm Gia Đại, Phạm Gia Cổn, Kiều Hạnh, Cát Biển, Lê Thị Hoài Niệm, Diễm Chi, Trần Quảng Nam, Trịnh Nam Sơn, Võ Tá Hân, Kim Châu, Kiều Mỹ Duyên, Ngọc Hoài Phương, Vũ Uyên Giang, Phan Bá Thụy Dương, Hà Nguyên Du, Đỗ Bình Paris, Phương Oanh Paris, Hà Phương Hoài, Hà Huyền Chi, Vũ Xuân Hùng, Huỳnh Kỳ Phát, Trung Nghĩa, Túy Vân MS, Nguyễn Thiện Lý, Vân Khanh SJ, Mỹ Trâm, Nguyễn Đăng Dũng, Michelle Mỹ Thanh NY, Phạm Ngọc Mai và Bích Phương Hạ Đỏ.Đồng Thành Kính Phân Ưu.————————————————————————–Thái Thanh – Những Tình Khúc Hay Nhất Thập Niên 90 Của Tiếng Hát Vượt Thời Gian Thái Thanh:https://www.youtube.com/watch?v=CJBIroCwfzA——————————————————————————–THÁI THANH : Tiếng Hát Tuyệt Vời (Việt Hải Los Angeles)Sáng thứ bảy một hôm khi thức dậy tôi nghe chuông điện reo, bên đầu giây bên kia là chị nhà thơ Vũ Hoài Mỹ (VHM) hớn hở khoe với tôi là tối hôm qua chị nghe nhạc, trong một CD có bài hát “Nửa Hồn Thương Đau”, nhạc của Phạm Đình Chương và do ca sĩ Thái Thanh (TT) hát, chị cảm thấy rất “phê”. Chị VHM lập đi lập lại câu nói: “Giọng Thái Thanh tuyệt vời, Thái Thanh thật tuyệt vời!”. Đoạn chị đọc tôi nghe bài thơ chị vừa làm khi cảm xúc nẩy ra khi nhớ về một nữ hoàng của nền ca nhạc Việt Nam. Tôi biết nàng thơ VHM, chị có biệt tài làm thơ rất nhanh và nhuyễn. Ngày hôm nay chị là người góp ý niệm khi đọc cho tôi nghe bài thơ mới cảm tác của chị về cô Thái Thanh qua đề tựa của bài thơ là:“Thái Thanh: Tiếng Hát Tuyệt Vời”:” Thái bình, mà tiếng ngậm ngùi.Thanh âm xưa ấm lòng người ngàn phươngTiếng êm mượt ướp trầm hươngHát ru day dứt “nửa hồn thương đau”Tuyệt tình, không vướng lụy “Sao”Vời trông đất Mẹ dạt dào tự do. “Chị VHM giải thích là sau năm 75, TT chán nản không trở lại nghiệp ca hát, không chạy theo luồng gió mới của buổi giao mùa. Câu thứ 5 chị ám chỉ sự kiện dứt khoát lập trường với chế độ mới trong buổi giao thời đầy “trăng sao”, tức thời buổi đầy nghi kỵ của chế độ cờ đỏ “sao” vàng.Tôi cảm nhận sự kiện “phê, phê” lại đến với tôi, tôi bắt ý khi đọc bài thơ của chị xong, tôi quyết định viết lên những cảm nghĩ riêng của mình bằng lời lẽ thay vì bằng những vần thơ như chị. Bài viết này mang cùng tên với bài thơ của chị vì đây là sự kiện thật sự, một true fact theo ý nghĩ của tôi. Trước đây có vài thân hữu khuyến khích tôi viết ghi nhận các ca nhạc sĩ có những đóng góp cho lãnh vực âm nhạc, tôi ngần ngại vì khi không đủ dữ kiện thì viết không trung thực được. Riêng về ca sĩ TT tôi rất muốn viết từ lâu rồi. Vì những ai sống tại miền nam Việt Nam trước năm 75 ít nhiều cũng biết TT và những nhạc phẩm mà cô hát. Rất nhiều người như các bạn tôi đều thú nhận trong đời họ, họ có những kỷ niệm riêng tư với tiếng hát TT. Và tôi cũng như họ. Tôi vội ghi bài thơ của VHM lên trang bià một tờ báo với hàng chữ hý hoáy, và liền leo vào “người tình hi-tech”, một đặc ngữ mà nhà tôi ám chỉ cái computer của tôi, tôi quý nó vì nó gắn liền với cái nội tâm tri giác của tôi.Tôi nhớ một chương trình trên đài truyền hình số 9 về quê hương của những năm trước mùa di tản năm 75, giọng hát TT được dùng làm nhạc đệm mở đầu chương trình khi chạy bài hát bài “Tình Ca” của nhạc sĩ Phạm Duy:“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơiMẹ hiền ru những câu xa vờiÀ à ơi! Tiếng ru muôn đờiTiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vuiKhóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơiTiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôiThoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi…”Rồi đậm đà hơn về tình ca quê hương, giang sơn gấm vóc cho con tim tôi thêm rung động qua giọng ca mà làn hơi ngân dài của tiếng hát vượt dòng thời gian này xuôi theo khắp nẽo đường đất nước, theo nhiều biến cố, vận nước nổi trôi để chúng ta còn nhớ mãi:“Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bờ biển xanhRuộng đồng vun sóng ra Thái BìnhNhìn trùng dương hát câu no lànhĐất nước tôi ! Dẫy Trường Sơn ẩn bóng hoàng hônĐất miền Tây chờ sức người vươn, đất ơiĐất nước tôi ! Núi rừng cao miền Bắc lửa thiêngLúa miền Nam chờ gió mùa lên, lúa ơiTôi yêu những sông trườngBiết ái tình ở dòng sông HươngSống no đầy là nhờ Cửu LongMáu sông Hồng đỏ vì chờ mongNgười yêu thế giới mịt mùngCùng tôi ôm ấp ruộng đồng Việt NamLàm sao chắp cánh chim ngànNhìn Trung Nam Bắc kết hàng mến nhau…”Giọng ca TT thanh thoát, xao xuyến tâm tư người nghe về đất nước, quê hương mến yêu. Kỷ niệm cũ đó vẫn mãi mãi ngự trị trong tâm hồn tôi khi tiếng ca mang những tình tự rất quê hương đưa người dân Việt phiêu du tâm hồn qua ba miền đất nước. Hoà lẩn bài “Tình Ca” này trong hồn tôi là bài “Tình Hoài Hương”, nhạc cũng do Phạm Duy:“Quê hương tôi, có con sông dài xinh xắnNước tuôn trên đồng vuông vắnLúa thơm cho đủ hai mùaDân trong làng trời về khuya vẳng tiếng lúa đê mê.Quê hương tôi có con sông đào ngây ngấtLúc tan chợ chiều xa tắpBóng nâu trên đường bước dồnLửa bếp nồng, vòm tre non, làn khói ấm hương thôn!Ai về, về có nhớ, nhớ cô mình chăng?Tôi về, về tôi nhớ hàm răng cô mình cười!Ai về mua lấy miệng cườiĐể riêng tôi mua lại mảnh đời, thơ ngây thơ…!Mấy anh em họ Phạm thành lập một ban hợp ca lấy tên là ban THĂNG LONG (tên này đã được dùng làm bảng hiệu cho quán phở gia đình ở Chợ Đại, Chợ Neo trước đây). Rồi cũng trong tâm trạng lưu luyến dĩ vãng rất gần, Phạm Đình Viêm lấy tên là Hoài Trung (nhớ Khu 4 chăng ?), Phạm Đình Chương lấy tên là Hoài Bắc (1). Cô em út trong gia đình, Băng Thanh đổi tên là Thái Thanh để đi đôi với tên chị Thái Hằng.Một bản nhạc hay là điều cần thiết để thành công cho người nhạc sĩ. Tuy nhiên, cái yếu tố khác không kém phần quan trọng là người ca sĩ chuyển đạt bài hát đó có khả năng thuyết phục sự rung cảm đến người nghe bản nhạc đó hay không. TT hát với sự khéo léo vận dụng âm thanh theo tiết tấu của bài hát và diễn tả lời bài hát trong một kỹ thuật giao thoa đồng điệu của năng khiếu thiên bẩm. Tôi nhớ lại khi xem hoặc nghe TT diễn tả một cách thật truyền cảm và thật điêu luyện những nhạc phẩm mà TT đã trình bày như: Kỷ Vật Cho Em, Mùa Thu Chết, Nghìn Trùng Xa Cách, Trả Lại Em Yêu, Bà Mẹ Gio Linh hay Bên Cầu Biên Giới, Ngàn Thu Áo Tím,… Tôi cho là vô cùng tuyệt vời:“Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lạiXin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về.Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime,Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã,Anh trở về anh trở về hàng cây nghiêng ngảAnh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa,Anh trở về trên chiếc băng caTrên trực thăng sơn màu tang trắng.Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lạiXin trả lời xin trả lời mai mốt anh về.Anh trở về chiều hoang trốn nắngPoncho buồn liệm kín hồn anhAnh trở về bờ tóc em xanhChít khăn sô lên đầu vội vã… Em ơi!Em hỏi anh. Em hỏi anh bao giờ trở lạiXin trả lời, xin trả lời mai mốt anh vềAnh trở lại với kỷ vật viên đạn đồng đenEm sang sông cho làm kỷ niệmAnh trở về anh trở về trên đôi nạng gỗAnh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân.Em một chiều dạo phố mùa Xuân,Bên nguời yêu tật nguyền chai đá…”Lời bài hát “Kỷ vật cho em” buồn thảm, thê lương, giọng ca cao vút như ai oán của TT khiến tôi rung cảm cho người chinh phụ trong bài hát đối diện với cái rủi ro oan nghiệt của chiến tranh cho hạnh phúc đời nàng. Lần đầu tiên tôi nghe giọng TT ca bài hát này nó đã in sâu cái cảm xúc xoáy vào nội tâm tôi hay một sự chấp nhận mặc nhiên tiên khởi trong hồn tôi cho tới nay. TT cho âm thanh bài hát ngân nga lên xuống theo cung điệu nhịp hát, khi cô phát âm ngôn từ “Em ơi!”, tôi nghe rỏ và thích khúc này, sự kiện cho ta chút bùi ngùi, chút tình tứ cảm thông. Đây là bài hát phải do TT ca và vì cái tần số thính giác đã quen thuộc trong tiềm thức như là một định kiến khuôn mẫu có sẵn trong tôi.Tiếng hát của Thái Thanh với riêng tôi, tôi có những kỷ niệm thật êm đềm. Năm 1967-68, tôi thường đến nhà 2 cô bạn Mỹ Trâm và Mỹ Xuân trong hẻm lối vào kế bên hông đại học Vạn Hạnh, hai cô này học nhạc từ lò luyện tập ca hát của nhạc sĩ Nguyễn Đức, có nhiều lần tôi chứng kiến 2 cô đang tập dượt hát tại nhà, tôi ngồi xem khi hai cô nghe máy hát phát ra những bản nhạc của Phạm Duy do Thái Thanh hát, Mỹ Xuân hát giọng trầm, Mỹ Trâm có giọng hát cao trong trẻo, cao vút khi nàng bắt chước giọng TT. Tôi nghĩ có lẽ không thể nào sánh bằng, nhưng những hậu duệ vẫn lấy giọng ca TT làm chuẩn hay thước đo của sự tiến triển của giọng mình qua các bài như bài “Tiếng Đàn tôi”, nhịp điệu Tango:“Đời lạnh lùng trôi theo giòng nước mắt,Với bao tiếng tơ xót thương đời.Vì cuộc tình đã chết một đêm nao.Lúc trăng hãy còn thơ ấu!Dù đời tàn trên cánh nhạc chơi vơi.Thoáng nghe tiếng ai khóc ai cười.Người đẹp về trong lúc mùa thu rơi.Tiếng chuông tiễn đưa đến tôi.Mênh mông lả lơi!Đàn trầm xa lánh cõi đời.Mênh mông lả lơi!Lạnh lùng em đã rời tôi.Khoan, khoan, hò ơi!Người về xa tắp không lời.Khoan, khoan, hò ơi!Lệ sầu rụng xuống đàn tôi…”Bài ca khác qua giọng hát TT được 2 cô tập dượt mà tôi còn nhớ là “Ngày đó chúng mình”, một bài tình ca với nét nhạc trữ tình, nhẹ nhàng, du dương, giọng ca TT bắt đầu:“Ngày đó có em đi nhẹ vào đờiVà mang theo trăng sao – đến với lời thơ nuốiNgày đó có anh mơ lại mộng ngờiVà se tơ kết tóc – giam em vào lòng thôiNgày đôi ta ca vui tiếng hát vói đường dàiNgâm kẽ tiếng thơ, khơi mạch sầu lơiNgày đôi môi đôi môi đã quyết trói đời ngườiôi những cánh tay đan vòng tình áiNgày đó có ta mơ được trọn đờiTình vươn vai lên khơi – tới chín trời mây khóiNgày đó có say duyên vượt biển ngoàiTrùng dương ơi! Giữ kín cho lâu đài tình đôi …”Một bài hát khác của nhạc sĩ Phạm Duy là bài “Tiếng Sáo Thiên Thai”, một ca khúc chứa đựng nhiều lời thanh thoát ca tụng vẽ đẹp thiên nhiên, khi TT cất tiếng hát thì hồn tôi có cảm giác thật “thiên thai”, khúc nhạc mang âm thanh thư thái:“Xuân tươi!Êm êm ánh xuân nồng,Nâng niu sáo bên rừng,Dăm ba chú Kim đồng…Tiếng sáo,Nhẹ nhàng lướt cỏ nắng,Nhạc lòng đưa hiu hắt,Và buồn xa buồn vắng,Mênh mông là buồn!Tiên nga, buông lơi tóc bên nguồn,Hiu hiu lũ cây tùng,Ru ru tiếng trên cồn…Mây ơi!Ngập ngừng sau đèo vắng,Nhìn mình cây nhuộm nắng,Và chiều như chìm lắng,Bóng chiều không đi…”Rồi một bài hát mà giọng ca TT đã làm lòng tôi dâng lên nỗi buồn man mác là bản “Hoa Rụng Ven Sông”:“Giờ đây trên sông hoa rụng tơi bờigiờ đây em ơi cơn mộng tan rồilòng anh tan hoangthôi vỗ tình ơingày như theo sôngbóng xế tàn rơiCòn đâu em ơi còn đâu ánh trăng vàngcòn đâu ánh trăng vàngmơ trên làn tóc rốicòn đâu em ơi còn đâu bước chân ngườicòn đâu bước chân ngườimơ trên đường chiều rơiCòn đâu đêm sang lá đổ rộn ràngcòn đâu sương tan trăng nội mơ màngcòn đâu em ngoantóc rối ngổn ngangtuổi em đôi mươixuân mới vừa sang…”Tôi nhận xét trong lịch sử âm nhạc Việt Nam thì nhạc Phạm Duy và tiếng hát Thái Thanh có sự liên hệ mật thiết, bất khả phân ly, vì nhiều bài ca của Phạm Duy được sáng tác ra chỉ để giọng ca TT đem lên đỉnh cao đúng vị trí của nó, và ngược lại nhạc Phạm Duy cũng đem tiếng hát TT vào sự đam mê, ngưỡng mộ, thần tượng cô nhiều hơn đối với hàng nhiều, thật nhiều người, trong đó có nhiều ca sĩ tập sự như Mỹ Trâm, Mỹ Xuân,… Nhiều bài viết đã nói nhiều về tương quan giữa nhạc Phạm Duy và tiếng hát Thái Thanh, và đó là tương quan hai chiều bổ sung lẫn nhau.Qua nhiều bài hát từ các bài vừa nói trên hay Ngày Xưa Hoàng Thị, Tiễn Em, Dòng Sông Xanh, Nụ Tầm Xuân, Tìm Nhau, Giết Người Trong Mộng, Em Lễ Chùa Này, Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng,… hay Đừng Xa Nhau mà Mỹ Trâm nghe nhiều lần học kỹ thuật ca của TT:“Đừng xa nhau! Đừng quên nhau!Đừng rẽ khúc tình nghèoĐừng chia nhau nỗi vui niềm đau.Đừng buông mau! Đừng dứt áo!Đừng thoát giấc mộng đầu,Dù cho đêm có không bền lâu.Đời phai mau, người ghen nhau,Lòng vẫn cứ ngọt ngào,Miệng ru nhau những ân tình sâu.Đừng xôn xao, đừng khóc dấu,Đừng oán trách phận bèo,Vì sông xa vẫn trung thành theo…”Tôi biết tôi có viết về giọng ca Thái Thanh, dù là ghi nhận lại hay quảng bá giọng ca này là độc đáo hay xuất chúng thì cũng bằng thừa, nhưng vì có vài người bạn thân khuyến khích tôi nên viết ra những cảm nghĩ của mình và bạn bè về giọng ca vàng Thái Thanh đã làm mưa, làm gió, tung hoành trong vườn ca âm nhạc Việt Nam trong bao năm qua. Tôi nẩy ra ý nghĩ đi gom góp ý kiến của các bạn, rồi đúc kết những ý nghĩ của họ lại trong một bài viết về người ca sĩ của sự mến mộ chung này của quần chúng. Phần kế tiếp tôi xin trích các emails được phúc đáp từ một số thân hữu trong giới thi, văn và nhạc để tìm hiểu xem giọng ca TT có kỷ niệm nào với họ hay họ nghĩ sao về giọng hát này. Nào, chúng ta hãy xem sự ghi nhận của các bạn qua những lời nhận xét sau đây:Nhạc sĩ trẻ Nguyễn Thiện Doãn cung cấp cho tôi những lời tận đáy lòng của anh về tiếng ca của Thái Thanh:“Vào thuở 18 tuổi khi vừa lớn, Thiện Doãn vẫn thích nhất bài Khi Tôi Về do Phạm Duy sáng tác và Thái Thanh trình bầy. Lời và nhạc, đối với Thiện Doãn, đã quá hay, nhưng nếu không có giọng hát của ca sĩ Thái Thanh thì chưa chắc đã làm NTD phải chú tâm mà ưa thích trong lúc cái tuổi đời mình chưa đủ để phải cưu mang và suy tư (Tam thập nhi lập, Tứ thập nhi viễn chi). Tuy lúc đó còn trong lứa tuổi mới lớn, yêu đương bồng bột, sá gì đến chuyện chiến chinh và thanh bình, nhưng không hiểu sao cứ mỗi lần nghe ca sĩ Thái Thanh cất lên với giọng trong veo, vút tầng mây để rồi giọng ca ấy lẽn vào tâm tư mình với nhiều hình tượng và mơ ước: “Khi tôi về, con chim bồ câu nằm trong tổ ấm khi dây thép gai đã hết rào quanh đồn phòng ngư. Và người lính đã trở về bờ ruộng nương đã một lần hoang phế và hôm nay anh cày đám ruộng xưa khi anh về đường đồng quê lối cũ. Con diều bay hồn nhiên, đùa bay trong chiều lộng gió thanh bình. Ôi, chốn quê nhà trên thảm cỏ xanh… Chắc chắn là mơ ước về một quê hương thanh bình, hiền hoà của miền quê mộc mạc, của quê hương đầy ắp tình tự và thâm thúy qua lời nhạc, tiếng ca được gói ghém trong bài “Khi Tôi Về. Con cò lại bay trên đồng ruộng xanh Tre già bảo nhau cúi đầu trầm ngâm Cùng mùi khói lam quen thuộc…”.Đến những năm cuối thập niên 80’s thì lại được dịp nghe những bài Đạo Ca của nhạc sĩ Phạm Duy qua giọng hát tuyệt vời quen thuộc của nữ ca sĩ Thái Thanh. Giọng ca của ca sĩ Thái Thanh đã để lại trong tâm hồn Thiện Doãn một ấn tượng miên man, to lớn. Bên cạnh những dòng nhạc thanh thoát của nhạc sĩ Phạm Duy, những hòa âm điêu luyện của nhạc sĩ Duy Cường, lời thơ nỗi tiếng của thi sĩ Phạm Thiên Thư, tiếng hát thánh thót như chim sơn ca của ca sĩ Thái Thanh đã chuyên chở những vàng son về ý niệm của dòng nhạc và lời ca rót vào lòng người nghe mà trong đó có Thiện Doãn là một ví dụ điển hình. Tuy tuổi đời còn trẻ so với những bậc trưởng thượng, TD vẫn xin được ghi nhận nơi đây lòng kính phục và trân qúy đến với nữ ca sĩ Thái Thanh nói riêng, và các nhạc sĩ đóng góp nhạc cho ca sĩ Thái Thanh ca nói chung.”, Thiện Doãn, San José.Với nhạc sĩ Phan Ni Tấn từ Canada, cho ý kiến của anh:“Nói về giọng hát Thái Thanh, bắt tôi lựa ra một hay hai bài thì tôi e sẽ không đủ, nhưng đã hỏi thì tôi xin nêu ra nhé. Tôi xin chọn bài Đường Chiều Lá Rụng vì lời như thơ, được giọng ca thánh thót cất lên trong âm thanh âm nhạc tạo nên hình ảnh một không gian mênh mông, bao la của buổi chiều lá rụng. Khi tâm tư tôi đang định cư nơi nhiều rừng núi của Canada này mà hồn nghe thấy lá mùa thu rơi để dễ đồng cảm hơn những hình ảnh cô liêu, tàn tạ hay héo úa của cảnh chiều hoang phế…”, Phan Ni Tấn, Toronto.Nhạc sĩ Phạm Anh Dũng cho biết anh thích nhiều bài hát qua giọng ca của Thái Thanh, một ví dụ điển hình là bài “Bà Mẹ Gio Linh”. PAD, Santa Maria.Mẹ Gio Linh tượng trưng cho hằng triệu bà mẹ khác khắc khổ trong chiến tranh, hy sinh thân phận mình để nuôi con ra chiến trận, họ bám víu lấy quê hương tội nghiệp như thân phận chính mình, nhạc Phạm Duy qua sự diễn đạt như lời tâm sự rất tình tự của giọng ca Thái Thanh:“Mẹ già cuốc đất trồng khoaiNuôi con đánh giặc đêm ngàyCho dù áo rách sờn vaiCơm ăn bát vơi bát đầyHò ơi ơi ới hò! Hò ơi ơi ới hò!Nhà thì nó đốt còn đâyKhuyên nhau báo thù phen nàyMẹ mừng con giết nhiều TâyRa công sới vun cầy cấyHò ơi ơi ới hò! Hò ơi ơi ới hò!Con vui ra đi, sớm tối vác súng vềMẹ già một con yêu nước có kém chiĐêm nghe xa xa có tiếng súng lắng vềMẹ nguyện cầu cho con sống rất say mê.Mẹ già tưới nước trồng rauNghe tin xóm làng kêu gàoQuân thù đã bắt được conĐem ra giữa chợ cắt đầu…”Nhạc Sĩ Anh Vũ biên cho tôi đôi dòng nhận xét của anh như sau:“Với tôi, ca sĩ Thái Thanh hát bài nào cũng tuyệt vời vì giọng hát của cô là cả sự điêu luyện và thiên phú. Điêu luyện ở chỗ cách chuyển tông (tone), luyến, láy, rung, ngân cơ hồ như những bất cứ nhạc cụ nào mà người nhạc công tài ba đang xữ dụng. Thái Thanh không những áp dụng lối ép hơi từ bụng, thanh quản trong kỷ thuật thanh nhạc, mà cô còn áp dụng cả một vùng trời nghệ thuật bằng cách đem cả trái tim, tâm hồn gởi gấm theo từng ý nghĩa âm ba nhịp điệu, cuờng độ trải rộng bát ngát hay sâu thăm thẳm trong khoảng không gian, thời gian cơ hồ yên tĩnh… Tôi vốn thích nhất là bài -Trường ca- Con đường cái quan.” Anh Vũ, Orange county.Nhạc sĩ Trần Đại Phước cho dòng ghi nhận của anh về TT:“Theo kinh nghiệm và cảm nhận riêng, tôi nghĩ Thái Thanh có một giọng hát cùng một cung cách hát vô cùng điêu luyện một cách cực kỳ sắc sảo, không có giọng nữ nào trong giới ca sĩ Việt Nam có thể vượt qua nổi.Sự sắc sảo này không chỉ nằm trong âm sắc (timbre) mà còn ở trong việc diễn tả cao độ của âm thanh nữa. Sắc giọng của Thái Thanh bén nhọn, mạnh mẽ nên có tính cách xoáy sâu vào tâm tư của người nghe. Do đó, chỉ có giọng Thái Thanh mới có thể đi đôi với hai sắc giọng khác trong ban Thăng Long, một rất “rền” (Hoài Trung) và một rất “nhựa” (Hoài Bắc). Cũng có thể nói là tiếng hát Thái Thanh mang tính chất opera, nhưng do thiên phú chứ không phải do đào luyện nên nghe tự nhiên, dễ chịu. Tuy nhiên, tôi xin thêm rằng nghe Thái Thanh hình như cũng phải cần đến một “tâm lực” hùng hậu, vì có hơn một người quen đã nói với tôi rằng khi nghe Thái Thanh hát, họ cảm thấy “sợ”.Cũng nhờ sắc sảo – chính xác và uyển chuyển – trên độ cao của nốt nhạc, Thái Thanh đã phần lớn có thể diễn tả vượt trên những ký âm thông thường của một ca khúc, đôi khi còn có thể tạo nên những “glissandi” mà cũng chỉ có Thái Thanh mới thể hiện được, ví dụ chữ “lướt” trong “Buồn Tàn Thu”. Người khó tính về chuyện hát thật sát với ký âm có thể không hài lòng, nhưng theo tôi, đó cũng là quyền diễn xuất của một ca sĩ trong việc đơn ca, mình chỉ nên nhận xét về hay hay dở, xuất sắc hay tầm thường, mà ở Thái Thanh, hầu như luôn luôn chỉ có xuất sắc.”, TĐP, Dallas.Nhạc sĩ Hiếu Anh cho tôi ý nghĩ của anh khi nghe TT hát:“Rất hân hạnh biết anh và lại được anh nhắc tới ca sĩ THÁI THANH, một ca sĩ có giọng ca thánh thót ngọt nào và truyền cảm, một giọng ca mà nhiều người đã phải nhìn nhận rằng: “GIỌNG CA VƯỢT THỜI GIAN và KHÔNG GIAN”. Những bản TÌNH CA của Phạm Duy mà THÁI THANH đã hát sau này ít có ai qua mặt được THÁI THANH như bài Đố Ai, NỤ TẦM XUÂN,… hay HỘI TRÙNG DƯƠNG của Phạm Đình Chương, và cả những tác phẩm của các nhạc sĩ khác như bài MÙA THU KHÔNG TRỞ LẠI của Phạm Trọng Cầu, mà THÁI THANH đã hát rất hay.Tuy vậy, sở thích và trình độ thưởng thức của mỗi người mỗi khác… nhưng tựu trung hầu như đa số đều mến mộ giọng ca THÁI THANH như một GIỌNG CA VÀNG hiếm có.Sau cùng, tôi có một kỷ niệm rất khó quên với giọng ca THÁI THANH là tôi đã rơi nước mắt khi nghe THÁITHANH ca bài BIỆT LY của DZOÃN MẪN trong cái đêm của ngày cuối cùng mà tôi phải biệt ly người vợ vừa cưới để ngày mai lên đường nhập ngũ vào trường Bộ Binh Thủ Đức… vì nó xảy ra đúng tâm trạng sắp tạm biệt gia đình và người vợ mới cưới.”, Hiếu Anh, Louisville, Kentucky.Nhạc sĩ Hàn Sĩ Nguyên góp ý của anh như sau:“Anh hỏi về ca sĩ Thái Thanh, Nguyên biết trả lời sao bây giờ? Thái Thanh nổi tiếng quá rồi. Thôi thì vắn tắt như thế này nhé :Có nhiều yếu tố tác động, vun đắp, hình thành nên một nhân cách, một tâm hồn…– Một là Ca dao VN– Hai là Thơ Kiều của Nguyễn Du– Ba là nhạc Phạm Duy đi đôi cùng tiếng hát Thái Thanh, mà Nguyên nghĩ hai thành phần này theo Nguyên là không thể tách rời nhau.Chính Nguyên là một trong số những người chịu ảnh hưởng nặng nề của cả 3 yếu tố ấy, ngay từ tấm bé, cho đến bây giờ, mãi mãi về sau này. Vì vậy, tình cảm của Nguyên là “vô cùng biết ơn những người nghệ sĩ ấy”.Nói riêng về Thái Thanh thì… bài nào cũng thích, nhưng nếu phải chọn thì Nguyên đặc biệt thích thì 2 bài:1- “Ngày đó chúng mình”, gamme Re trưởng: là bản nhạc đầu tiên Nguyên tập chơi đàn năm 16 tuổi.2- “Tình cầm”, đặc biệt thích khi mình… không còn trẻ nữa, vì nó quá tuyệt vời!”, Hàn Sĩ Nguyên.Nhạc sĩ Trần Quốc Sỹ cho ý kiến của anh về Thái Thanh:“Theo tôi, hai nhạc phẩm mà Thái Thanh đã làm rung động người nghe nhất là bài “Áo anh sứt chỉ đường tà” và bài “Kỷ vật cho em”. Có lẽ ít ca sĩ nào có thể trình bày hai nhạc phẩm này hay hơn Thái Thanh.Nghe Thái Thanh trong bài “Áo anh sứt chỉ đường tà” và bài “Kỷ vật cho em”, thính giả có thể có cảm tưởng như mình đứng giữa những gì đang xảy ra của cuộc chiến buồn vơi…”, Trần Quốc Sỹ, Hungtington Beach, nam Cali.Từ bên Úc châu, nữ nhạc sĩ Quách Nam Dung ghi những nhận xét về Thái Thanh như sau:“Thái Thanh được coi là giọng ca hàng đầu của nền âm nhạc Việt Nam, giọng ca oanh vàng này đã chiếm một khoảng thời gian dài, nhất là từ thập niên 50’s đến giữa 70’s, trong không gian Việt Nam, đặc biệt là tại miền nam khi nhiều nhạc phẩm của nhạc sĩ Phạm Duy và nhiều nhạc sĩ khác được cô cất tiếng ca mình chuyên chở đến đám đông. Trong nhiều bài ca cô hát, QND thích nhất bài “Giết Người Trong Mộng” của Phạm Duy.”, Quách Nam Dung, Melbourne.Nhạc sĩ Đỗ Duy Thụy đóng góp quan điểm của anh về giọng ca vàng Thái Thanh:“Nói đến giọng ca Thái Thanh, phải nói đến nhạc Phạm Duy, cũng như Khánh Ly với nhạc Trịnh Công Sơn. Những bản nhạc rất hay lại càng truyền cảm hơn nên rất dễ thu hút tâm hồn người nghe, cộng thêm sắc thái độc đáo của giọng ca nên rất dễ trở thành huyền thoại.Tôi đã rất yêu thích giọng hát của Thái Thanh nhưng nếu phải chọn bài hát nào hay nhất qua giọng hát của chị, thì hình như sự ưa thích đó đã đổi thay theo tâm trạng của tôi trong từng hoàn cảnh sống của mình. Nói như vậy, vì tôi còn nhớ cách đây đã lâu, ngày tôi cùng bao nhiêu thanh niên khác đã từ bỏ học đường theo tiếng gọi của non sông lên đuờng nhập ngũ vào thời điểm chiến tranh bộc phát mãnh liệt trong mùa hè đỏ lửa, để lại sau lưng cả một tuổi trẻ đầy mơ ước, rời xa những người thương yêu, và quên đi một tương lai nhiều hứa hẹn. Ngày đó, bước chân chiến đấu trên con đường vô định, tôi đã rất say mê những nhạc phẩm như “Trả Lại Em Yêu” và “Kỷ Vật Cho Em” của Phạm Duy. Và những nhạc phẩm này mà được nghe qua tiếng hát ray rứt cao vút của Thái Thanh thì tuyệt vời cho tâm trạng của tuổi trẻ lớn lên trong một quê hương đầy lầm than máu lửa.Nhưng sau này, từ khi ra đi làm thân viễn xứ trưởng thành nơi đất lạ, nỗi nhớ quê hương có lẽ đã thay thế cho sự khổ đau của chiến tranh và những dằn vặt mất mát của tuổi trẻ, nên tâm trạng của tôi cũng đổi thay khác đi. Bây giờ, có những buổi trưa hè nóng bức chợt nghe văng vẳng tiếng hát cải lương vọng từ đài phát thanh Việt Ngữ, tôi bỗng có một cảm giác rất gần gũi, rất thân thương với văn hoá của đất mẹ. Một cảm giác như mình đã mất mát tuổi trẻ, lớn lên trong trống vắng, và bây giờ tìm lại được dĩ vãng của chính mình.Vì vậy, tôi đã rất thích và xúc động mỗi khi nghe nhạc phẩm “Tiếng Nước Tôi” và phải với giọng hát Thái Thanh cao vút và ngân dài mới diễn tả trọn vẹn sự yêu thương một ngôn ngữ mà tôi đã dùng từ lúc chào đời.Tôi không biết giải thích tại sao bây giờ tôi lại yêu thích giọng hát của chị Thái Thanh qua nhạc phẩm này như vậy. Có thể vì nợ áo cơm phải dùng ngoại ngữ mà tôi vẫn không hấp thụ hoàn toàn. Có thể về già nên nặng lòng hoài hương chăng? Có thể vì tôi hoạt động trong lãnh vực Việt Ngữ được nhìn thấy các em nhỏ đang cố gắng học tiếng mẹ đẻ. Có thể vì tiếng Việt tôi đã xử dụng để cảm thông tận cùng với ông bà cha mẹ, anh chị em, vợ con, bạn bè v.v… Có thể vì ngôn ngữ này tôi đã diễn tả hoàn hảo hơn ý nghĩ và tâm hồn tôi, thông hiểu hoàn hảo hơn nhưng bài viết, bài thơ, bài nhạc của người cùng quê hương, Có thể tiếng Việt đã thấm vào trong dòng máu của tôi lúc chào đời từ trên môi mẹ.Vì lý do nào đó, tôi vẫn bâng khuâng cảm xúc mỗi khi nghe giọng hát của Thái Thanh cao vút: “Tôi yêu tiếng nước tôi… Từ khi mới ra đời à ơi…”, ĐDT, Houston.Nhà thơ Bích Khuyên đưa ra cảm nghĩ của chị là:“Tôi say mê giọng ca Thái Thanh từ khi mới lớn, bài hát thích nghe qua giọng ca Thái Thanh thì rất nhiều. Ví dụ bài Nửa Hồn Thương Đau, Ngậm Ngùi hay Giết Người Trong Mộng, tôi thấy lời ca vang cao vút của Thái Thanh tạo cho người nghe một nỗi buồn tê tái trong tâm hồn. Tôi nghĩ cái giá trị của giọng ca này sẽ vô cùng hiếm quý và sẽ đứng vững trong vườn hoa lịch sử âm nhạc Việt Nam.”, Bích Khuyên, Oklamoma city.Nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi bày tỏ tâm tình về Thái Thanh và kỷ niệm của chị:“Mỗi lần nghe đến “Tiếng Hát Vượt Thờì Gian” là tôi lại nghĩ liền đến Thái Thanh. Từ năm ngoái, tôi dã gặp chị Thái Thanh 2 lần, trong buổi họp mặt taị nhà anh chị bác sĩ Đỗ Xuân Giụ. Anh chị Đỗ Xuân Giụ có một tâm hồn rất văn nghệ, cho nên anh chị đã tổ chức ít ra là 2 lần trong năm, và quy tụ những thành phần cũng yêu văn nghệ như anh chị. Mỗi lần họp mặt như thế, cũng ước chừng một đám đông 60 người. Và lần naò cũng có chị Thái Thanh hát, và anh Nghiêm Phú Phi đàn. Tôi nhớ 2 lần gặp chị Thái Thanh, dáng ngươì cao cao, gầy gầy, và rất ít son phấn, có thể nói là chị trang điểm rất nhẹ, đến nỗi tôi có cảm tưởng chị không trang điểm Tôi ngồi bên chị và hỏi thăm xã giao. Chị nói chuyện cởi mở, và dễ thương. Chị ăn mặc giản dị, trẻ trung… Ăn uống xong, thì đến phần ca nhạc. Bao giờ thì cũng những ngươì bạn hát trước, có người ngâm thơ, và sau vài ba ngươì, thì Thái Thanh sẽ “bị” mời lên. Hình ảnh chị hôm nay, khác với những ngày xưa chỉ là khi hát, chị phải đeo kính trắng để đọc những lời. Còn lại thì không có chi thay đổi, cử chỉ nhún nhẩy, lốí hát vui tươi, hay buồn sầu cũng vẫn được thể hiện trên khuôn mặt của chị. Chị hát rất say sưa, và tôi nghe với hết cả tâm hồn. Đứng trước micro, chị tâm sự là chị thích hát nhạc Phạm Duy và Phạm Đình Chương, ngoài ra, chị cũng thích hát nhạc Trịnh Công Sơn, nhưng chưa nhiều. Tuy nhiên, chị hát rất nhiều của nhiều tác giả khác nhau. Nhìn Thái Thanh, ắt hẳn, ai cũng nhớ đến bài Tình Ca của Phạm Duy, mà tôi đã nghe từ năm 1952, khi còn ở Huế, và còn là nữ sinh Đồng Khánh, cuả lớp đệ Thất B3. Vào thời đó, Ban Hợp Ca Thăng Long cũng có ra Huế để hát một chương trình đặc biệt, và tôi tuy chỉ khoảng 12, 13 cũng được gia dình mua vé cho đi xem. Rồi những bài Hội Trùng Dương của Phạm Đình Chương, Dòng sông Hồng, Dòng sông Hương và Dòng sông Cửu Long… Tôi còn nhớ khi có chương trình nhạc phụ diễn ở các rạp ciné do anh Trần văn Trạch đề xướng, tôi vẫn nhớ Ban Thăng Long với bài Ngựa Phi Đường Xa… mà Hoài Trung đã hí giống ngựa hí như đúc. Và Thái Thanh trong bài Dòng Sông Xanh, tiếng hát cao vút, khiến người nghe cảm thấy rộn ràng, xao xuyến. Khi tôi nghe Thái Thanh hát bài Hương Xưa của Cung Tiến mà nhớ cả một trời xưa thơ mộng. Nếu kể ra những bài tôi thích thì sẽ nhiều lắm. Nguyên những loạt bài của Phạm Duy như Nghìn Trùng Xa Cách, Đừng Xa Nhau, Ngày Xưa Hoàng Thị, Phố Núi Cao… sẽ nhiều rồi, và tiếng hát Thái Thanh đước các đài radio mãi rả rích một ngày không biết bao nhiêu lần. Và bài Dìu Nhau của Phạm Duy có lẽ tôi chỉ nghe Thái Thanh hát mà thôi . Tuy nhiên, Thái Thanh còn làm tôi nhớ đến bài Tuôỉ 13 của Nguyên Sa và Ngô Thụy Miên. Tôi thích tiếng hát Thái Thanh trong baì Em Dến Thăm Anh Một Chiều Mưa của Tô Vũ, gợi trong tôi những ngày ở Huế mưa dầm dề, mưa Cả tuần không ngớt, và tôi di trong mưa, nghe qua radio nhà ai bài Em Dến Tham Anh Một Chiều Mưa… trong lứa tuổi 13 đó, mà cũng thấy buồn chi lạ. Nỗi buồn man mác… Thái Thanh sinh ra để làm loài chim sơn ca hay họa mi, chỉ cho người đời lời ca tiếng hát, và hát nhiều bài của nỗi nhớ không nguôi, mà bài nào cũng cho người nghe một tâm trạng khác nhau, hoặc buồn, hoặc vui… Nhắc đến Thái Thanh, tôi muốn nói nhiều đến giọng hát đặc sắc của chị. Giọng hát có lúc nhõng nhẽo như khi chị hát lúc tuổi 13, có lúc tha thiết day dứt như khi chị cất tiếng hát: “Em hỏi anh, em hỏi anh, bao giờ trở lại. Xin trả lời, xin trả lời, mai mốt anh về…”. Có lúc trữ tình, lãng man, như trong bài Hương Xưa: “Người ơi, một chiều nắng tơ vàng hiền hoà hồn có mơ xa… Người ơi, đường xa lắm con đường về làng, diù mấy thuyền đò… Còn đó, tiếng tre êm ru, còn đó bóng da hẹn hò, còn đó những đêm sao mờ hồn ta mênh mang nghe sáo vi vu…”. Tôi ngồi trong một góc, để nghe tiếng Thái Thanh đang vang lên trong căn phòng ấm cúng tại nhà anh chị Đỗ Xuân Giụ, mà lòng như bềnh bồng trôi về một thủa nào xa tít tắp, của một thời Huế xưa, một thời Sài Gòn trong dĩ vãng,… Nhất là thời của Trưng Vương, khi ở vào lứa tuổi đẹp nhất của những năm là học trò đệ Nhị, đệ Nhất ở trường Trưng Vương. Tiếng hát Thái Thanh đã gợi nhớ trong tôi bao nhiêu là kỷ niệm thật êm đềm, khiến nhiều khi nghe chị hát, mà ngỡ như nghe tiếng hát từ dĩ vãng vọng về, cuả những ngày xưa thân ái, để luyến tiếc thêm, và hoài niệm về những ngày xa xưa mà thôi.”, HVLN, Orange county.Chị HVLN nhắc tôi bài “Tuổi 13”, tôi có kỷ niệm với bài nhạc này khi viết bài văn “Mùa Thu Cho Em”. Tôi kể cho anh Ngô Thụy Miên nghe, bài “Tuổi 13” là thơ của Nguyên Sa, nhạc của Ngô Thụy Miên, nhưng phải do Thái Thanh hát, vì chỉ có giọng ca này mới diễn tả trọn vẹn nét dấu yêu với một chút e ấp, một chút nũng nịu, một chút thơ ngây, và một chút nhõng nhẽo của lứa tuổi 13 thần tiên trong cái cảm giác của tôi khi mãi nghe đi nghe lại bài này, và chỉ có Thái Thanh hát “Tuổi 13” mới thật sự “phê” trong cái đam mê hay ý thích của tôi mà thôi.Thi sĩ Nhược Thu cho tôi phần ý kiến của anh:“Tôi nghe Thái Thanh ca “Năm năm tình lận đận”, tôi hiểu nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên nhiều hơn. Giọng ca Thái Thanh diễn tả bài hát thật rung động tim tôi. Dù những ngày ở sân trường đại học văn khoa, hay khi đi vào quân ngũ, rồi bị bắt đi “học tập”, bao bài tình ca do Thái Thanh hát vẫn mãi sống trong tôi. Cám ơn “Trả lại em yêu”, cám ơn “Hẹn hò”:“Một người ngồi bên kia sôngim nghe nước chảy về đâuMột người ngồi đâytrông hoa trôi theo nước chảy phương nàoTrời thì mưa rơimưa rơi không ngưng suối tuôn niềm đauNgười thì hẹn nhau sang sôngmong cho chóng tạnh mùa Ngâu…”,Cám ơn “Tôi đi giữa hoàng hôn”, Cám ơn “Giã Từ Đêm Mưa”, Cám ơn “Biệt ly”,…, và cám ơn tiếng hát Thái Thanh sẽ còn mãi trong tôi.”, Nhược Thu, San Diego.Nhạc sĩ Nguyễn Đăng Tuấn đưa ra cảm nghĩ của anh:“Tiếng Hát Thái Thanh đã tung hoành ngang dọc trong suốt những thập niên sáu mươi và bảy mươi của thế kỷ hai mươi\. Hàng đầu\. Thái Thanh nổi tiếng với nhiều ca khúc khác nhau\. Từ nơi các người viết nhạc trước vào sau thời kỳ “toàn quốc kháng chiến”, hay trước và sau thời “tiền chiến”.Giọng hát Thái Thanh được vang trong khắp các đài phát thanh Sài Gòn, và đài phát thanh Quân Đội tại miền nam Việt Nam tự do\. Và bị tắt tiếng sau ngày miền Nam rơi vào tay cộng sản. Để rồi ngậm ngùi “đâu rộn ràng giọng hát Thái Thanh”.br> Tiếng hát Thái Thanh trải suốt. Từ những ca khúc đầy mơ mộng như Suối Mơ của Văn Cao, Con Thuyền Không Bến của Đặng Thế Phong, Ngọc Lan của Dương Thiệu Tước, Hoài Cảm của Cung Tiến, Suối Tóc của Văn Phụng, hay những ca khúc đượm tình quê hương như Đôi Mắt Người Sơn Tây của Phạm Đình Chương, Tình Quê Hương của Đan Thọ, Hòn Vọng Phu của Lê Thương, Tình Hoài Hương của Phạm Duy, hay ca khúc âm vang trời Âu như Paris Có Gì Lạ Không Em của Ngô Thụy Miên,v.v.tiếp theo và hếtĐương nhiên tiếng hát Thái Thanh trải rộng cả trăm ca khúc khác nhau, nếu không nói là nghìn bài là con số có được\. Tiếng hát rộng, mỏng, uốn éo, và thích nét làm dáng của Thái Thanh khi ca trên sân khấu hoặc trên màn ảnh ti vi. Tôi nghe TT ca mà tâm tư xao xuyến khi gợi về quê hương như bài Tình Hoài hương. Hẳn Thái Thanh đã có riêng một số lượng thích giả đông đảo.”, NĐT, New Jersey.Từ Sydney nhà thơ Tăng Đức Sơn cho nhận xét của anh:“Thời gian thịnh hành của nhạc tiền chiến là những năm đầu của thập niên 60 trở đi. Gọi là nhạc tiền chiến vì giới sáng tác như những nhạc sĩ cũng như ca sĩ đa số thuộc lớp thế hệ của trước khi chấm dứt chiến tranh Việt Pháp và chia đôi đất nước năm 1954, hay trước cuộc nội chiến nam bắc. Cuộc di cư vĩ đại đưa số nhân tài từ bắc vào nam đã mang theo luôn cái “gia tài” Thái Thanh ấy nam tiến. Kể từ sau cuộc giao duyên nam- bắc 1954 đó âm nhạc miền nam khởi sắc, mà cái “gia tài” Thái Thanh là một giọng ca hiếm có ít ai phủ nhận nó.Khi một người nổi tiếng, có danh vọng thì quần chúng có khuynh hướng bắt chước hay nhái theo, ví dụ như tại xứ Mỹ có truyền thống bắt chước bao nhiêu người giả bộ dạng Micheal Jackson, giả giọng, giả lối ca, tướng đi, áo quần, giả Elvis Presley, giả John Lennon, giả Ricky Martin hay thậm chí giả luôn cả ban nhạc bốn người trong ban nhạc ABBA v.v.… Tiếng hát hiếm có, trong sáng vượt thời gian, không gian từ tiền chiến cho đến 1975 của TT cũng không thoát ngoại lệ nầy. Một số ca sĩ địa phương nơi tôi ở hay nữ sinh trung học đều cố gắng luyện có một giọng cao vút trong trẻo như thế; có một dạo còn là đề tài tuyển lựa giọng ca gần giống TT nhất. Thí sinh cũng chỉ luyện hát những bản “ruột” cho giống TT nhất ca để phân biệt hơn thua giữa các ứng viên thi hát.Với tôi bài “Nghìn Trùng Xa Cách” cho tôi nhiều kỷ niệm khi tôi vượt biên ra đi lênh đênh trên biển cả, khi con tàu vượt bao con sóng biển, trùng dương ra khơi nhìn quê hương bỏ lại hơn bao giờ hết giọng ca TT chất chứa nỗi bùi ngùi khi tôi ly hương:“Trả hết cho người, cho người đi,trả hết cho ai, ngày tháng êm trôi,đường ta đi , trời đất yên vui,rừng nắng ban mai, đường phố trăng soi,trả hết cho người, cho người đi.Trả hết cho ai,trả những chua cay,ngày chia tay, lặng lẽ mưa rơi,một tiếng thương ôi, gữi đến cho người,trả hết đôi môi giựơng cười…”Một đặc điểm của giọng hát Thái Thanh ngân cao thánh thót, giọng ca opera thì cho dù vài bài nhạc người nghe không thích cho lắm, nhưng khi nghe TT ca thì bài nhạc trở thành quý phái, thanh cao mang âm hưởng giá trị nghệ thuật mà thính giả sẽ thích thú hơn khi thưởng thức.Khoảng mấy tháng trước tôi nghe TT xuất hiện trong một buổi phỏng vấn ngắn trên một đài phát thanh Việt Ngữ ở Cali. Giờ thì Cô tuổi tác cao, hơi lãng tai và giọng nói khàn khàn. Ôi! cũng là định luật tự nhiên chung đó thôi. Mấy thập niên vang tiếng của ngôi sao Hồng Hà, thánh thót một thời ngày xưa vẫn còn sống mãi trong lòng mọi người, trong lòng tất cả người Việt Nam, trong lòng thính giả nghe được tiếng Việt Nam. Tiếng hát TT cất lên mở đầu trong các chương trình hội thảo về ngôn ngữ, giáo dục văn hóa hay trong các buổi truyền thanh, truyền hình ở nơi nào có mặt của người Việt qua bài ca muôn đời mến yêu “Tôi yêu tiếng nước tôi”. Chúng ta yêu tiếng Việt, và ngày nào chúng ta còn ấp ủ nói ngôn ngữ mẹ Việt Nam thì bài Tình Ca qua tiếng hát TT sẽ mãi mãi rung động tâm tư chúng ta:“Tôi yêu tiếng nước tôi,từ khi mới ra đời,mẹ hiền ru những câu xa vời.Tiếng nước tôi,Bốn ngàn năm….”, Tăng Đức Sơn, Úc châu.Nhận xét của Nhạc sĩ Hoàng Thy về Thái Thanh như sau:“Người ta không ngạc nhiên khi nghe Thái Thanh ca bất cứ một nhạc phẩm nào trong quá khứ và nhạc phẩm được đó được xem là hay, tôi nghĩ chị chọn lựa bài và tập cho mình một phong thái riêng khi hát nó. Những ca khúc được chị ca đều vượt trội khi chị chuyên chở ý tưởng hay lời ca của bản nhạc. Thêm vào đó, cung cách trình diễn linh động như tôi còn nhớ khi xem chị trình bày các ca khúc Kỷ Vật Cho Em, Mùa Thu Chết hay Nghìn Trùng Xa Cách. Ngày nay quay về dĩ vãng cũ của Sài Gòn trước năm 75, hình ảnh hay giọng ca của chị là một kỷ niệm đẹp trong tôi.” Hoàng Thy, San Diego.Nhạc sĩ trẻ Minh Luân cho những dòng kỷ niệm chân thành của anh về giọng ca Thái Thanh như sau:“Nhắc đến nữ danh ca Thái Thanh thì chúng ta không thể nào không nhắc tới đại tác phẩm “Buồn Tàn Thu” của nhạc sĩ Văn Cao. Có lẽ tôi suy diễn hơi xa khi cho rằng nhạc sĩ Văn Cao sáng tác nhạc phẩm này chỉ dành riêng cho giọng hát Thái Thanh mà thôi. Quả thật là như vậy mỗi khi nghe Thái Thanh hát dạo câu đầu của bài “Buồn Tàn Thu” là hồn tôi rung cảm ngây ngất vì nó quá tuyệt vời… xin mời các bạn thưởng thức tại đây:“Ai lướt đi ngoài sương gióKhông dừng chân đến em bẽ bàngÔi vừa thoáng nghe emMơ ngày bước chân chàngTừ từ xa đường vắngĐêm mùa thu chếtNghe mùa đang rớt rơi theo lá vàngEm ngồi đan áoLòng buồn vương vấnEm thương nhớ chàngNgười ơi còn biết em nhớ mongTình xưa còn đó xa xôi lòng…”Văn Cao viết lên lời tình tự, nhưng lời tự tình này lại được cất vang từ giọng hát điêu luyện về ngàn trùng âm vang vọng nhớ, về dĩ vãng buồn bã của mùa thu tàn lụi:Tôi đã mở đi mở lại bài này cả trăm lần nghe mãi mà cũng không thấy chán… Giọng ca Thái Thanh, theo ý tôi, quả thật là tự cổ chí kim rất khó tìm. Ca sĩ Ngọc Hạ mặc dầu có một giọng ca có thể hát lại những đại tác phẩm của các bậc tiền bối, nhưng cũng không thể nào thay thế nổi vị trí của Thái Thanh trong bài “Buồn Tàn Thu”.”, Lê Minh Luân, San José.Nhà thơ Ngọc Anh GL cho nhận xét của chị khi nghe giọng ca Thái Thanh:“Có thể nói tiếng hát Thái Thanh đã làm say mê bao lớp người Việt Nam, đặc biệt là lớp người tha hương, sống viễn xứ, Thái Thanh làm say mê bao người trong những thập niên 40’s, 50’s, 60’s, 70’s, 80’s , 90’s và vẫn còn tiếp. Tôi thích nghe ca sĩ Thái Thanh hát chung với Ban hợp ca Thăng Long có Hoài Trung, Hoài Bắc như bài Xóm Đêm, Ngựa Phi Đường Xa, Giã Từ Đêm Mưa, hay Tiếng Đàn Tôi.”, NAGL, Los Angeles.Nhà thơ Trang Điền Morita gửi tôi phần cảm nghĩ của anh:“Thái Thanh được mệnh danh là “Tiếng hát vượt thời gian”, tôi nghĩ không ngoa từ khi chị tham gia phong trào Toàn quốc Kháng chiến đến khi chị ra hải ngoại, cho đến khi chọn lối sống ẩn dật, nhưng qua bao bài hát và giọng ca của chị vẫn được người đời nhắc nhở và hâm mộ. Tôi thích nhiều nhạc phẩm do chị ca, đan cử vài bài như: Ngậm ngùi, Mùa thu chết, Nửa hồn thương đau, Giết người trong mộng, Còn một chút gì để nhớ, Mùa thu Paris,… hãy nghe và nhớ mãi tiếng ca này.” Trang Morita, Northridge.Từ vùng tây bắc Mỹ, nơi tuyết và mưa nhiều hơn nắng, nhà thơ Đạm Thủy góp ý:“Cám ơn Việt Hải đã cho tôi cơ hội đóng góp vài nhận xét về tiếng hát Thái Thanh. Khi tham khảo ý tưởng của nhiều người về một giọng ca đã nổi tiếng “vượt thời gian” từ cả một thế hệ, chắc hẳn VH đã cảm thấy không thấy THỪA. Chính lý do đó mà Đạm Thủy không ngại đóng góp vài giọt nước trong một cái bể sẵn có, cái bể đập sóng ca ngợi một thiên tài.Ngoài những kỹ thuật rất điêu luyện của giọng ca mà nhiều người đã mô tả, giọng ca của nàng trong trẻo nhưng không chua, mà thánh thót nhưng không vắt vẻo, rất xứng đáng để người ta ca tụng mãi mãi, ngày nào còn nghe được nàng ca, dù rằng qua CDs hay DVDs đi nữa. Tôi gọi ca sĩ Thái Thanh là “nàng” chỉ vì sự trân quý, âu yếm như trân châu mà thôi, dù rằng tuổi của “nàng” có thể làm cô, dì của tôi. Thực ra như thế cũng giống như sự thể người ta sẽ không gọi thiên tài Thái Thanh là “bà Thái Thanh” được, vì tiếng hát Thái Thanh vốn gần gũi với quần chúng, và nó sẽ sống mãi với quần chúng.Về kỹ thuật, bản Buồn Tàn Thu của Văn Cao mà chúng ta được nghe Thái Thanh hát: Nàng bắt đầu chữ “Ai…” ngân dài một đỗi như treo lửng lơ cái thắc mắc người nào không rõ trong cơn gió mưa bên ngoài, xong rồi mới diễn tả động từ “lướt” một cách gợi hình. Cái hay là điểm độc đáo đó.Sau năm 1975, người ta lăng xê ra một ca sĩ trẻ tên là Ánh Tuyết chuyên hát những bài mà Thái Thanh xưa đã hát như Thiên Thai, chẳng hạn. Tôi bèn mua vài cuốn băng nghe thử. Nhưng nghe kỹ kỹ thuật ca không thể bằng được. Mặc dù, tôi tự kiểm điểm lại cho chính mình chọn sự vô tư. Lúc đó tôi mới thấy rõ cái dấu mộc hay rỏ hơn thì là cái giá trị kỹ thuật khi ngân vang tiếng hát mà Thái Thanh đã ấn lên từng bài hát của nàng. Nàng hát rồi là bản đó của nàng. Thế thôi.Xét cho cùng phải nhìn nhận là giọng hát Thái Thanh đã là một lằn ranh xác định mức tối hảo, để là một cái thước để đo lường nghệ thuật và định chẩn chân giá trị âm nhạc mà “yếu tố Thái Thanh” như một quy luật định phẩm.Nếu nhạc Việt về thể loại tiền chiến còn được sáng tác và các ca sĩ trong tương lai khởi sự chọn hát, tôi nghĩ tiếng hát Thái Thanh là sự tham khảo rất lợi ích cho họ vậy.”, ĐT, Seattle.Thi sĩ Nghiêm Xuân Cường góp phần nhận xét của anh:“Thực ra có quá nhiều nhạc phẩm đã đóng góp cho tên tuổi Thái Thanh. Tôi yêu giọng ca Thái Thanh vì cái nông nàn của làn hơi cũng như của sự diễn tả. Theo tôi thì hai bài Tình Ca và Tình Hoài Hương của Phạm Duy thì không ai có thể hát hay hơn Thái Thanh. Khi chị Thái Thanh cất tiếng hát bài Tình Ca: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi. Mẹ hiền ru nhung câu xa vời. À à ơi tiếng ru muôn đời…” tôi nghe như có cái gì rưng rưng ở trong lòng và, muời lần như một, là nuớc mắt tràn lên mi.Những cái lên xuống, ngắt câu, những chỗ diễn tả chua xót, ngọt ngào, buồn bã,v.v… mà chỉ có Thái Thanh mới làm được, và đem hết được ý của câu nhạc đi thẳng vào lòng nguời nghe. Thí dụ như khi nghe chị hát bài Thôi của Y Vân: “Thôi, em đừng khóc nữa mà làm gì. Kỷ niệm buồn ân tình cũ xa xôi, thôi, em đừng tiếc, em đừng tiếc. Đừng tiếc nữa mà làm gì. Kiếp này đành LỠ duyên rồi”. Chữ LỠ được phát âm láy và có một sự chua xót lẫn đắng cay mà phải nghe mới thấy được cái điêu luyện của giọng ca tuyệt vời này.Cũng vậy ,trong Hội Trùng Dương của Phạm Đình Chương giọng của chị lúc nhanh, lúc chậm, lúc vui buồn, lúc lên xuống: “Ngày vui, tan đao binh. Mẹ bồng con sơ sinh. Chiều đầu xóm, hân hoan đón người trường chinh…” như những giòng sông của quê hương tuy đã xa, rất xa mà vẫn còn chẩy mãi trong lòng người tha hương…”, NXC, Michigan.Nhạc sĩ Dương Viết Điền viết về Thái Thanh như sau:“Tôi nghe tiếng hát của Thái Thanh qua hai bài hát chất chứa đầy tình tự quê hương, đó là các bài Tình Ca và Tình Hoài Hương, chị làm tôi nhớ nhà, nhớ dĩ vãng, nhớ cố hương thêm. Khi tôi di cư vào từ bắc vào miền trung, rồi miền trung vào miền nam, rồi những năm tháng dài tù đầy “cải tạo” tại miền bắc, rồi ly hương sang Mỹ, những lời ca của ca sĩ Thái Thanh qua hai bài hát bất hủ này của nhạc sĩ Phạm Duy mang hồn tôi trở về những kỷ niệm tình tự quê hương ngày xưa. Cám ơn giọng ca thiên phú của chị Thái Thanh và cám ơn Việt Hải cho tôi góp tiếng nói cùng các bạn hữu.”, Dương Viết Điền, Los Angeles.Kế tiếp là cây bút mê âm nhạc, thích viết về âm nhạc Minh Thanh, cô cũng là người say mê giọng ca Thái Thanh:“Giọng hát Thái Thanh đã được nhiều người yêu thích vì cô có nhiều bài hát lắm. Kể về các bài hát thì Thái Thanh không phải chỉ nổi tiếng với nhạc Phạm Duy mà còn rất nhiều bài hát của các nhạc sĩ khác, như bài hát của Nguyễn Ánh 9, Ngô Thụy Miên, Văn Cao, Hoàng Trọng, Dương Thiệu Tước, Phạm Đình Chương. Cũng có thể nói về Thái Thanh cho nét đặc biệt thích hợp tuyệt vời hơn là khi cô trình bày các bài sau 75, ví dụ như bài Rong Ca của Phạm Duy “Hẹn Em Năm 2000”:“Hẹn em nhé, năm 2000 sẽHai bên cửa hé, cho anh trở vềTừ ngày đi, theo cuộc tỉnh mêTrăm năm nhỏ bé, trăm năm bộn bề…”Bài Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn (phổ thơ Du Tử Lê) nhạc Phạm Đình Chương, Bài Đêm Màu Hồng (trước 75), Suối Mơ, Dòng Sông Xanh, Hoài Cảm, Đôi Mắt Người Sơn Tây, rồi Quán Bên Đường (Phạm Duy phổ thơ Bình Nguyên Lộc), Thái Thanh diễn tả thật tuyệt vời.Bài Em Lễ Chùa Này, Đưa em tìm Động Hoa Vàng (Phạm Duy, phổ thơ Phạm Thiên Thư),… và còn quá nhiều để kể ra đây.”, Minh Thanh, nam Cali.Nhà thơ Lê Duyên Thùy Trang đóng góp ý của cô như sau:“Nhạc do Thái Thanh ca đến với tôi vào những năm đẹp nhất của khuôn viên sân trường đại học trong cuối thập niên 60’s và đầu thập niên 70’s. Khi mà tôi tìm thấy nơi Thái Thanh một giọng ca đượm nét quyến luyến, rất trữ tình, tôi thích các bài tình ca do cô hát như: Trả lại em yêu, Áo lụa Hà Đông, Tuổi 13, Từ giọng hát em, Muà thu trong mắt em, Mùa thu không trở lại,…”, LD Thùy Trang, Boston.Trong một buổi điện đàm thăm hỏi ca sĩ Mai Hương, tôi có hỏi chị với tư cách một người thưởng ngoạn nhạc Thái Thanh hát và cũng là người thân của cô Thái Thanh thì chị có nhận xét như thế nào về TT là một ca sĩ và TT là một người thân trong gia tộc. Chị Mai Hương cho biết là tiếng hát Thái Thanh điêu luyện về kỹ thuật, có nhiều kinh nghiệm về âm vực. Bên cạnh đó cô Thái Thanh là người mẹ tuyệt vời lo lắng cho các người con cô.Tôi có dịp học một lớp với Lê Việt con trai thứ của cô TT tại đại học Cal State Northridge, sau này tôi được biết Việt học lấy đủ loại bằng cấp từ kỹ sư rồi chuyển sang ngành bác sĩ. Lê Việt là một thanh niên rất thông minh. Em trai út của Việt là Lê Đại tốt nghiệp ngành âm nhạc tại trường Cal State Long Beach, với minor ngành computer science. Lê Đại rất khá về lãnh vực web design. Cô TT theo sát và khuyến khích các con trên bước đường học vấn. Thiết nghĩ tiến triển nghề nghiệp và bổn phận gia đình thông thường là 2 yếu tố tương phản, lắm khi có cái này thì không có cái kia. Trong tuổi đời mừng sinh nhật cổ lai hy cô đã hoàn thành cả hai. Đây là điểm son về vai trò làm mẹ của cô Thái Thanh, song song bên hào quang âm nhạc của cô. Ngoài ra, Lê Việt còn có hai chị em là hai ca sĩ thành danh Ý Lan và Quỳnh Hương, thỉnh thoảng tôi nghe trên radio 2 cô tham dự vào các hoạt động từ thiện xã hội, cộng đồng.Sau đây là đồi dòng cảm nghĩ của nhà thơ Sương Mai nuối tiếc về sự nghỉ hưu, sống ẩn dật của ca sĩ TT:“Tiếng hát Thái Thanh là một tiếng hát tuyệt vời, Thái Thanh lại biết chọn bài hát. Những bài hát của Thái Thanh hát là những bài có tầm vóc và giá trị dài lâu về nhạc cũng như lời, khi Thái Thanh góp vào tiếng hát, làm cho bài hát bốc lên bay cao như cánh hạc, Thái thanh hát bằng cả tâm hồn và bằng sự rung động của trái tim chính mình, cho nên khi hát Thái Thanh đã để cho mình bay bổng theo điệu nhạc, ai nghe Thái Thanh hát mà không xao xuyến, không mê man, hay không đắm say nỗi lòng?Sương Mai thích Thái Thanh hát bài “Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng” cuả nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ thơ thi sĩ Phạm Thiên Thư và bài “Ngàn Thu Áo Tím” cuả nhạc sĩ Hoàng Trọng và Lưu Thị Vĩnh Phúc:“Ngày xưa xa xôi em rất yêu màu tímNgày xưa xa xôi em sống trong trìu mếnChiều xuống aó tím thường thướt thaBước trên đường gấm hoa…Từ khi yêu anh anh bắt xa màu tím…”Tiếc là đời người ngắn ngủi và chóng tàn, Thái Thanh theo luật tuần hoàn của vũ trụ, giờ đây đã về hưu ẩn dật, không còn đứng trên sân khấu trước chúng ta, để hát cho chúng ta nghe nữa.Sắc đẹp, tiếng hát rồi cũng sẽ tàn lụn theo dòng thời gian, có chăng chỉ là những dư âm tiếng hát còn đọng lại cho ngàn sau…”, Sương Mai, Sacramento.Ngoài ra tôi có dịp đọc nhiều bài báo sau năm 75 tại hải ngoại kể về giai đoạn giao mùa khi CS xâm chiếm miền nam, ca sĩ Thái Thanh tỏ thái độ bất hợp tác với chính quyền mới. Bài viết của tác giả Thụy Khuê đưa ra nhận xét lý thú:“Ngay cả khi cô im tiếng 10 năm trong chế độ Cộng Sản (1975-1985) để bày tỏ thái độ chống đối một cách bất bạo động, tiếng hát Thái Thanh vẫn được yêu mến hàng đầu trong băng nhạc của nhiều gia đình người Việt xa xứ. Ngày nay cô đã ngưng hát, coi như “nghỉ hưu”, nhưng có thể nói số người thưởng ngoạn vẫn nhớ và thương giọng hát đó cũng vẫn rất đông đảo.Thái Thanh thường trả lời những người mến mộ muốn nghe cô cất tiếng lại: “Khi nào có hội nghị Diên Hồng hay có đại nhạc hội hồi hương trong tự do (chắc còn lâu!), thì cụ Thái Thanh này, dù có phải chống gậy lụ khụ, cũng sẽ tự động ra sân khấu, không cần ai mời cũng vẫn lên tiếng hát mừng quê hương tôi, mừng người nước tôi”.”Nhạc sĩ Minh Thao, Phạm Phú Minh hiện cư ngụ tại Bergen, Na Uy, kể lại chuyện cũ của buổi giao thời năm 75, thiết nghĩ bài viết của anh là nguồn tài liệu lịch sử nêu lên cái phong cách đáng kính của kẻ sĩ không ngã lòng, không a dua theo thời cuộc, không phục tòng sức mạnh trước những biến đổi đau thương của đất nước:“Ca sĩ Thái Thanh đối với tôi là ca sĩ hàng đầu tại Việt Nam thời cô còn sinh hoạt ca hát. Cho nên bài hát mà cô đã trình bày xuất sắc thì nhiều vô kể, rất khó thống kê. Tuy nhiên, có những bài hát đến với người nghe trong hoàn cảnh đặc biệt thì nó hay vô cùng, không có gì so sánh được. Xin được kể anh Việt Hải nghe một câu chuyện, nếu anh cảm thấy được thì tuỳ nghi xử dụng cho bài viết của anh nhé:Thời gian đầu giao mùa khi CS vào tiến chiếm miền nam, nếu tôi nhớ không lầm là vào tháng 8 năm 1975, CS chuẩn bị cho cuộc đổi tiền lần thứ nhất vào tháng 9 cùng năm, nên bọn chúng cho tập trung dân chúng lại để học tập chánh trị tại địa phương (không nêu ra đề tài đổi tiền, chúng chỉ nêu ra đề tài chánh quyền cải cách thống nhất đất nước, để chúng lót đường cho sự độc tài, hòng sang đoạt của cải của người dân về sau này).Nhà cô Thái Thanh ở trên đường Lê Thánh Tôn, gần Trung Tâm Văn Hoá Pháp, cũng gần bệnh viện Grall (tức nhà thương Đồn Đất), thuộc phường Bến Nghé, quận Nhất Sài Gòn. Cho nên cô cũng “được” mời đi học tập chánh trị thuộc khu vực được tổ chức tại hội trường đại học Dược Khoa, trên đường Cường Để…Nói là học tập chánh trị, nhưng CS cũng muốn khoe “cái văn hóa ưu việt” trước cái dân ngụy ở ngay trung tâm Sài Gòn. Cho nên chúng cho tổ chức buổi văn nghệ “tự phát” gần như thi đua giữa đám thanh niên địa phương chúng tôi với đám bộ đội lúc đó đóng tại building đối diện toà Đại Sứ Mỹ cũ. Và hôm đó bọn chúng bị bẽ bàng, sượng mặt. Tất cả cũng nhờ cô Thái Thanh… (và cũng từ đó về sau tôi không còn chứng kiến sự hợp tác văn nghệ theo cái kiểu… rất “bộ đội” và khích dân chúng “hồ hởi” cùng làm).Câu chuyện thế nầy:Phần thứ nhất do nhóm văn công bộ đội phụ trách, gồm các tiết mục đơn, hợp ca và cả độc tấu sáo, mandoline… Chúng cố lám ra vẻ chuyên nghiệp, người trình diễn nào cũng đánh tí phấn, tô tí son môi, dù chúng chỉ là đám đực rựa thuộc đơn vị bộ đội tại đó nên càng xem càng thấy ngô nghê và buồn cười.Nhóm thanh niên địa phương chúng tôi thời đó còn máu tư sản nên con gái còn mặc áo dài, con trai áo trắng bỏ trong quần xanh hoặc đen. Nhưng vì mới mất nước, thấy bộ đội sắt máu quá nên không ai trang điễm gì hơn.Rồi tình cờ có một người bạn nhận diện cô Thái Thanh đang là khán giả “bị mời” đang ngồi phía dưới. Chúng tôi đến nhờ cô giúp một tay. Và dù không nói ra, nhưng chúng tôi và cô ngầm hiểu phải “dạy” cho bọn ngố nầy một bài học để xem cái ưu việt nào hơn cái ưu việt nào. Dù không có sự chuẩn bị nào về chương trình và phần nhạc đệm chỉ có một cây guitar thùng, do một tay đàn còn… dưới mức tài tử mấy bực. Nhưng Cô Thái Thanh vẫn hăng hái nhận lời mở đầu phần thứ nhì (tức là phần của thanh niên địa phương chúng tôi). Cô lên tự giới thiệu hát bài Tình Ca của Phạm Duy là một tác giả bị cấm triệt để lúc đó. Trước bọn cán ngố cô bình tĩnh giới thiệu sẽ hát bài hát đầy tình tự yêu nước nhất mà cô biết và cô cất giọng…“Tôi yêu tiếng nước tôiTừ khi mới ra đời… người ơi…”Giọng cô cao vút và trong vắt, mặc kệ cho dàn âm thanh “phường khóm”, mặc kệ tiếng đệm đàn vụng về… Cô dẫn dụ người nghe về một cõi thần thiên của quê hương, mới bị tan hàng có mấy tháng mà tưởng đâu đã xa nghìn trùng… Đám bộ đội ngồi sững sờ, cũng chết lặng theo vì bị cô thu phục, mê hoặc hoàn toàn…“Tiếng nước tôiTiếng mẹ ru từ lúc nằm nôi…Tiếng nước tôi…”Khi cô hát có những đôi mắt xung quanh nhoà lệ, trong đó có đôi mắt của tôi trong nỗi xúc cảm vô biên… một kỷ niệm thật khó quên trong đời tôi vì hậu quả tâm lý ngược lại do vấn đề nhân tính và tình cảm thiêng liêng của con người đối với quê hương và văn hóa dân tộc. Thế là phe bộ đội thua to.Từ trước tôi đã mê nghe cô hát… Và cho đến giờ tôi vẫn còn mê giọng hát của cô, nhất là trong bài “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà” do nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ bài thơ Màu Tím Hoa Sim của thi sĩ Hữu Loan. Nhưng đối với tôi cho đến tận giờ phút nầy của thế kỷ 21 bản TÌNH CA vẫn là bài hát hay nhất trong tâm hồn tôi, vì nó cho tôi kỷ niệm đáng nhớ từ cô Thái Thanh.Có lẽ tôi không cần kể thêm những bài tôi vẫn hằng yêu mến khi nghe cô hát như Còn Chút Gì Để Nhớ, Hẹn Hò,… Hoặc ngay cả những bài Em Hiền Như Ma Sơ, Trả Lại Em Yêu,… mà tôi hằng ưa thích do ca sĩ Thái Thanh cất giọng lên và cuối cùng vẫn là ca sĩ hát những bài hát đó “tới” nhất, tuyệt vời nhất theo cái thính giác hay âm nhĩ của tôi. Bởi vì chỉ với một baì Tình Ca trong hoàn cảnh giao mùa đó đã đủ cho hình tượng cô sống mãi trong tâm hồn tôi rồi. Cô mãi mãi nêu lên tinh thần bất khuất của kẻ sĩ trong cơn đổi đời bi thãm của lịch sử Việt Nam nói chung, hay lịch sử âm nhạc Việt Nam nói riêng.Thêm một chuyện bên lề nữa là khi “gian hàng cà phê” của cô mở ra ở vĩa hè đường Tự Do có một lần không biết vô tình hay cố ý bọn Công An tạo vở kịch bắt cướp đã xả súng AK bắn thẳng vô, khiến một cô gái bị thương (hình như đó là người giúp việc cho cô). Chúng tôi đến thăm cô tại nhà. Cô tiếp chúng tôi một cách niềm nở, hiền hoà, và chân tình như người hàng xóm với nhau. Cô đâu có biết là cô đang tiếp những người hết sức aí mộ cô như thần tượng, không những trong lãnh vực ca hát mà còn trong nhân cách sống của người nghệ sĩ trước bạo quyền.Lần đó cô có giới thiệu với tôi em Quỳnh Dao (hay Quỳnh Giao ?) là con gái của cô, đang học piano tại phòng khách. Không biết cô đó bây giờ có tiếp tục theo đuổi nghệ thuật âm nhạc hay không mà tôi không được nghe nói tới.Gởi anh Việt Hải bài viết theo ký ức đã trôi qua gần 30 năm. Nếu dùng được cho bài viết của anh thì tốt, nếu không thì xin anh giúp tôi forward lá thư nầy nầy đến cô Thái Thanh như cách tôi biểu lộ lòng ngưỡng mộ, tri ân chân thành nhất đối với cô vậy.”, Minh Thao, Phạm Phú Minh, Bergen, Na Uy.Lời Kết:Mỗi con người đều phải dính dáng hay liên hệ với ba yếu tố trong cuộc sống, đó là: Gia đình, Xã hội hay Cộng đồng chung quanh và Tổ quốc trên cao. Ngày xưa khi tôi học về cụ Nguyễn Đình Chiểu, tôi được thầy tôi dạy về tấm gương của cụ đồ nho phong bất khuất này. Khi chính quyền thực dân Pháp kêu gọi những thành phần thanh niên Việt ra làm tay sai cho chúng, cụ từ chối, mà chỉ chọn nếp sống ẩn dật làm thơ và dạy học. Khi các nghiã binh nổi dậy chống Pháp bị thực dân bắt đem đi xử tử, cụ viết Văn Tế Nghiã Sĩ Cần Giuộc khóc cho bản án của họ như một hình thức tri ân. Cụ cũng là nhà thơ nổi tiếng qua tác phẩm Lục Vân Tiên, cụ đào tạo rất nhiều thế hệ trẻ hành trang cho họ lòng yêu nước, trong đó có người con gái của cụ là nữ sĩ Sương Nguyệt Anh. Bà SNA hoạt động ngầm quyên tiền cho phong trào Đông Du gửi du học sinh Việt Nam ra xứ ngoài du học, bà còn xuất bản tờ Phụ Nữ Chung tranh đấu cho quyền phụ nữ dưới thời Pháp thuộc. Nói như vậy để thấy rằng cụ Nguyễn Đình Chiểu quý trọng việc rèn luyện, dạy dỗ thế hệ mai hậu, là một vị thi hào của xứ sở và là một kẻ sĩ yêu nước, thương nòi.Tương tự như thế, người công dân Thái Thanh trong nhãn quan của tôi đã sống gương mẫu với cái bất khuất của kẻ sĩ trong giai đoạn khó khăn nhất của lịch sử miền nam năm 75, cô là một ca sĩ thượng hạng của nền âm nhạc Việt Nam và cô đã thành công nuôi dưỡng những người con trưởng thành đóng góp cho cộng đồng và cho xã hội vậy. Bài viết nầy do nhiều anh chị em thuộc thế hệ đi sau cô gom góp những suy tư về những đặc điểm được xem là di sản Thái Thanh để lại cho ngàn sau.Việt Hải, Los Angeles.* VH chân thành cám ơn các anh chị thân hữu đóng góp ý trong bài nay. Mùa tưởng niệm, 30-04-2004.Link: : https://thanhthuy.me/2014/08/13/thai-thanh-tieng-hat-tuyet-voi-viet-hai/———————————————————————————–‘Tiếng Hát Vượt Thời Gian,’ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi:https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/tieng-hat-vuot-thoi-gian-danh-ca-thai-thanh-qua-doi-huong-tho-86-tuoi/THÁI THANH – NHỮNG Tình Khúc Hải Ngoại Để Đời CỦA DANH CA « TIẾNG HÁT VƯỢT THỜI GIAN »:https://www.youtube.com/watch?v=01Z89fXdFYsBAN HỢP CA THĂNG LONG – THÁI THANH: https://dotchuoinon.com/2015/08/23/tan-nhac-viet-nam-ban-hop-ca-thang-long/:

TRẦN QUỐC BẢO : Ca sĩ Kim Anh trong Ban Tam ca  » The Cat’s Trio » của thập niên 70, vừa rời bỏ trần thế

Ca sĩ Kim Anh trong Ban Tam ca  » The Cat’s Trio » của thập niên 70, vừa rời bỏ trần thế

Ca sĩ Kim Anh trong Ban Tam ca

Nữ ca sĩ Kim Anh , con mèo đầu đàn trong ban tam ca nhạc trẻ, lẫy lừng thập niên 70  » The Cat’ s Trio » vừa rời bỏ trần thế hồi 3 giờ PM hôm nay 28/02/2020 tại Mỹ . Hưởng thọ 72 tuổi .

By Nhật Vi February 28 at 4:00 pm

Con Mèo Kim Anh tên thật là Trần Thị Kim Anh. Cô sinh ra trong một gia đình có truyền thống âm nhạc , chị lớn của Kim Anh là ca sĩ Minh Tuyết.

FE7FE11B-8996-4C5D-B9C9-B80F618C200D

Cơ duyên đưa Kim Anh đến với âm nhạc rất tình cờ không dự định trước . Khoảng năm 1967, Ca sĩ  Minh Tuyết vì bị bệnh đột xuất không đi hát được,  nên nhờ em gái là Kim Anh đến vũ trường Majestic báo cho nhạc sĩ Đỗ Thiều biết.

Vì chương trình trình đang bị trống, nên Nhạc sĩ Đỗ Thiều mời thử Kim Anh hát thế chị bài hát « Moon River » . Vì Ca sĩ Minh Tuyết tập luyện nhiều lần ở nhà và Kim Anh cũng đã nghe nhiều lần nên rất thuộc. Chính bài hát đầu tiên nầy đưa Kim Anh đến với sân khấu. Cô chinh phục được khán giả có mặt đêm đó tại phòng trà,  và làm ngạc nhiên ban nhạc  trước một cô ca sĩ nghiệp dư thật tình cờ này . Sau đó cô được Nhạc sĩ Đỗ Thiều mời thu băng bài hát « Tìm Một Ánh Sao « cho chương trình Dạ Hương trên đài phát thanh.

Khởi đi từ sân khấu Majestic, Kim Anh lần lượt cộng tác với các phòng trà Ritz, Queen Bee, La Sirene, Tự Do, Quốc Tế, Văn Cảnh.. Sau biến cố Mậu Thân 1968,   mọi sinh hoạt phòng trà vũ trường lắng đọng. Kim Anh đã đi hát Show cho các Club Mỹ ở Vũng Tầu, Biên Hòa…

Tháng 10 năm 1969, nhạc sĩ Lê Chấn kết hợp Mỹ Hòa, Uyên Ly, Kim Anh thành lập ban tam ca Ba Con Mèo còn gọi là « The Cat’s Trio. » Gần một năm sau, Mỹ Hòa đi ra, Minh Xuân thế chỗ vào, Ban tam ca Ba Con Mèo tiếp tục thành công với những nhạc phẩm Reach Out, Aquarios, Let The Sunshine In, Impossible Dream… cùng với những nhạc phẩm Việt Nam như Xóm Đêm, Mưa, Giờ Này Anh Ở Đâu, Đêm Đô Thị…

5AB033AC-F446-44C0-B7D3-101F3686C93D

Điều thật buồn là cách đây 9 tuần, chồng của cô ca sĩ Kim Anh là anh John Trương Duyên cũng đã từ trần vào ngày 20 tháng 12 năm 2019. Bây giờ lại đến lượt cô từ giả cõi đời.

1973D996-A409-4B9A-8CFF-4D8DA585A4C9

Xin chia tay lưu luyến với con Mèo xinh đẹp tài năng Kim Anh ,  con mèo đầu đàn trong ban tam ca » The Cat Trio  » Cầu chúc hương hồn cô thênh thang trong cõi an nhàn .

Ảnh và tin ở Trần Quốc Bảo 

https://vietstarusa.com/ca-si-kim-anh-trong-ban-tam-ca–the-cats-trio-cua-thap-nien-70-vua-roi-bo-tran-the-d28425.html

TRẦN QUỐC BẢO : NỮ CA SĨ KIM ANH « BA CON MÈO » ĐỘT NGỘT TỪ TRẦN TUỔI 72

NỮ CA SĨ KIM ANH « BA CON MÈO » ĐỘT NGỘT TỪ TRẦN TUỔI 72

Thứ hai ngày mai (2 tháng 3) Trần Quốc Bảo sẽ in số báo chủ đề Tưởng Niệm ca sĩ Kim Anh « Ba Con Mèo », rất mong quý anh chị em nghệ sĩ ghi vài giòng phân ưu hoặc kỷ niệm để TQB để vào trong số báo này dành gửi đến gia đình Ba Con Mèo. Trân trọng cám ơn
(trích bài Trần Quốc Bảo đăng trong Bán Nguyệt San Trẻ số 543 phát hành đầu tháng 3 năm 2020)

Inline image

    3g chiều thứ sáu 28 tháng 2/2020, ca sĩ Minh Xuân và Uyên Ly gọi người viết báo tin « B. ơi, Kim Anh vừa mất nửa tiếng, chị báo em biết ». Cô hưởng thọ 72 tuổi.
      Tên thật của cô là Trần Thị Kim Anh, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1947. Trong gia đình có người chị lớn đi hát, nghệ danh Minh Tuyết. Khoảng năm 1967, chị Minh Tuyết bị bịnh không đi hát được nên nhờ Kim Anh chạy lên vũ trường Majestic báo cho nhạc sĩ Đỗ Thiều biết. Chương trình đang bị trống, Đỗ Thiều « gạ » Kim Anh hát thế. Bài bản của chị hai Minh Tuyết, Kim Anh đã nghe nhiều lần nên rất thuộc, rất nhớ. Bài hát đầu tiên, Kim Anh cất tiêng trên bục gỗ là ca khúc Moon River đã làm khán giả phía dưới ngạc nhiên, sau đó cô được Đỗ Thiều mời thu băng bài hát Tìm Một Ánh Sao cho chương trình Dạ Hương trên đài phát thanh.
      Khởi đi từ sân khấu Majestic, Kim Anh lần lượt cộng tác với Ritz, Queen Bee, La Sirene, Tự Do, Quốc Tế, Văn Cảnh.. sau đó biến cố Mậu Thân trờ tới, mọi sinh hoạt phòng trà vũ trường lắng đọng, cô phải đi hát Show cho các Club Mỹ ở Vũng Tầu, Biên Hòa…
     Tháng 10 năm 1969, nhạc sĩ Lê Chấn kết hợp Mỹ Hòa, Uyên Ly, Kim Anh thành lập ban tam ca Ba Con Mèo còn gọi là The Cat’s Trio. Gần một năm sau, Mỹ Hòa đi ra, Minh Xuân thế chỗ vào, Ba Con Mèo tiếp tục thành công với những nhạc phẩm Reach Out, Aquarios, Let The Sunshine In, Impossible Dream… cùng với những nhạc phẩm Việt Nam như Xóm Đêm, Mưa, Giờ Này Anh Ở Đâu, Đêm Đô Thị…
     Cũng nên nhắc thêm, cách đây 9 tuần, chồng ca sĩ Kim Anh là anh John Trương Duyên (em chồng ca sĩ Mai Hương) đã từ trần vào ngày 20 tháng 12 năm 2019.
       Bán Nguyệt San Trẻ số 543 phát hành đầu tháng 3 sẽ làm số Tưởng Niệm Kim Anh của ban Ba Con Mèo, ước mong ghi nhận được những kỷ niệm vui buồn của anh chị em nghệ sĩ. Xin gửi mail về: mctranquocbao@yahoo.com

Inline image
Inline image

CLIP VIDEO SHOW NHẠC CUỐI CÙNG CỦA CA SĨ KIM ANH « BA CON MÈO »    Sau đây là một clip Video được trích ra từ live show Saigon Màu Kỷ Niệm do TQB tổ chức ngày 1 tháng 9 năm 2019 tại miền Nam Cali. Có thể nói đây là clip Video cuối cùng của ban Ba Con Mèo hát chung với nhau lần cuối, vì sau show nhạc 1 tháng 9, khoảng hơn một tuần sau, chị Kim Anh phải vào nhà thương vì bị mini stroke trên đầu, từ đó sức khỏe chị kém dần, và thứ tư 25 tháng 2 tuần này, cơn stroke tái phát và chị đã ra đi rất đột ngột không phải đau đớn trên giường bịnh. Cầu nguyện linh hồn chị Kim Anh từ nay sớm hưởng nhan thánh Chúa đời đời.https://www.youtube.com/watch?v=Y9FibFsM6Yw&feature=share&fbclid=IwAR2lUUvEqeoDKjsQNDdvdLKF7D_hg-cTnfcC0saaC3tmoceGXeJKC-GqbiY

Nhớ về ca sĩ Kim Anh Ba Con Mèo và buổi diễn cuối cùng của chị, show Saigon Màu Kỷ Niệm ngày 1 tháng 9 năm 2019

Inline image

Ngày 22 tháng 6 năm 2019, có một buổi tiệc nhỏ tại nhà hàng Mon Ami do chị Thái Xuân tổ chức, hôm đó có mặt Kim Anh, Uyên Ly, TQB chợt nhớ ra ngày 22/6 cũng đúng là ngày sinh nhật của Uyên Ly nên yêu cầu 2 chị hát cùng với mọi người bài Đêm Đô Thị, tuy hát « chay » không đàn không trống và TQB chỉ quay có 30 giây, nhưng clip nhạc này vô tình lại là 1 kỷ niệm quý giá của ngày hôm nay. Xin mời thưởng thức.
Log In or Sign Up to View

TƯỞNG NIỆM VĂN THI SĨ HỒ TRƯỜNG AN (1938-2020) – Biên soạn: Phan Anh Dũng

KỈNH AN
Tưởng Niệm Nhà Văn Hồ Trường An (1938 – 2020)

Mượn tràng chữ kết vòng hoa
tiễn Anh về cõi Tâm hòa Thân an
Anh giã từ cuộc phong trần
đã quang tâm bút điểm hồng ưu tư

Anh đi thanh thản nụ cười
chúc trần gian thoát kiếp đời điêu linh
Anh đi gởi lại bao tình
cho đồng môn, với bạn mình nghiệp văn

Nhắn lời cố vượt trầm thăng
vững tin sẽ biết vĩnh hằng về đâu
thoát trần giũ bỏ công hầu
gắng lòng nói với ngàn sau nghĩa tình

Như Anh suốt cuộc đời mình
đã bôn ba khắp hành trình thế gian
lưu đời thế sự vạn trang
đủ minh chứng một Việt Nam kiêu hùng

Tiễn Anh về cõi vô cùng
Về vui anh nhé! Hương Trầm Kỉnh An!

Cao Nguyên
Washington DC – Jan 28, 2020


====


Cầu chúc linh hồn nhà văn  Hồ Trường An

sớm siêu thoát và yên nghỉ chốn vĩnh hằng !

Dương Hoàng Mai


===

Xin cám ơn tất cả quí vị và bạn hữu đã thông tin và chia buồn với chúng tôi về sự ra đi của nhà văn Hồ Trường An. Những tháng gần đây, tôi không liên lạc được anh HTAn, tôi đã có linh cảm về sự ra đi này.
Tôi không biết phải nói gì về lúc này. Thì thôi, chúng ta hãy dành sự im lặng cho nhau, để tưởng niệm về người anh em của tôi trong gia đình, cũng như người bạn văn đã cùng nhau sinh hoạt trong mấy chục năm trời.

Trần Long Hồ

===

       HÌNH ẢNH TANG LỄ – 3 THÁNG 2, 2020 – THÀNH PHỐ TROYES, FRANCE

 Mây Thu xin gửi đến anh Phan Anh Dũng hình ảnh về buổi tang lễ của Nhà văn Hồ Trường An cử hành từ 11 giờ 30 đến 13 giờ 40 ngày 03-02-2020,  tại nhà hỏa táng Rosières-près-Troyes ở ngoại ô thành phố Troyes.

 Email ngày 31/1/2020 của nhà thơ Đỗ Bình, cựu quân nhân QLVNCH, Câu Lạc Bộ Văn Hóa VN- Paris:

Chương trình nghi lễ tiễn đưa anh Hồ trường An dự trù sẽ có những đìểm sau:

– Ở nhà quàn sẽ có tụng kinh theo nghi thức Phật giáo
– Đọc kinh theo nghi thức Công giáo.

Ở khu nhà thiêu:

– Nghi lễ quốc kỳ: Hội cựu Quân nhân đảm trách.

– Đại diện giới văn nghệ sĩ đọc điếu văn.

– Đại diện cộng đồng ở Troyes đọc điếu văn.

– Đại diện Cộng đồng ở Pháp đọc điếu văn.

– Anh Bernard Detrez ngỏ lời cảm ơn với các bạn.

                                      TIỂU SỬ HỒ TRƯỜNG AN

Tên thật Nguyễn Viết Quang.

Sinh ngày 11/11/1938 tại Long Đức Đông, tỉnh Vĩnh Long. Mất ngày 27/1/2020 tại Troyes, Pháp quốc.

Tốt nghiệp Khóa 26 (1968) Trường Bộ Binh Sĩ Quan Thủ Đức. Trưởng ban Chiến Tranh Chính Trị tại hai Chi Khu Trị Tâm và Lái Thiêu (tỉnh Bình Dương) từ năm 1969 tới năm 1971. Sau đó phục vụ tại Ban Thông Tin Báo Chí Quân Đoàn III và Quân Khu 3 (tỉnh Biên Hòa) cho tới tháng 4/75. Sau đó cư ngụ tại Troyes, Pháp quốc.
Trong nước, đã cộng tác với các báo:  Bách Khoa, Tin Văn, Tin Sách, Tranh Thủ, Tiền Phong, Tiền Tuyến, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Bút Hoa…
Ra hải ngoại, cộng tác với các báo: Quê Mẹ, Hồn Nước, Đất Mới, Văn, Văn Học Nghệ Thuật, Văn Học, Bút Lửa, Lạc Hồng, Viên Giác, Đẹp, Tự Do (Texas), Tự Do (Canada), Chiêu Dương, Xây Dựng, Lửa Việt, Làng Văn, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Hải Ngoại Nhân Văn, Cỏ Thơm…

TÁC PHẨM CỦA HỒ TRƯỜNG AN

Truyện dài:

Phấn Bướm (1986), Hợp Lưu ( 1986), Lớp Sóng Phế Hưng (1988), Lúa Tiêu Ruộng Biền (1989), Ngát Hương Mật Ong (1989), Còn Tuôn Mạch Đời  (1990), Lối Bướm Đường Hương (1991), Tình Trong Nhung Lụạ (1991), Ngát Thơm Hoa Bưởi Bông Trà (1992), Tình Đẹp Đất Long Hồ (1993), Trang Trại Thần  Tiên (1993),  Vùng Thôn Trang Diễm Ảo (1994), Thuở Sen Hồng Phượng Thắm (1995), Chân Trời Mộng Đẹp (1995),  Bãi Gió Cồn Trăng (1995), Bóng Đèn Tà Nguyệt  (1995), Tình Sen Ý Huệ (1999), Hiền Như Nắng Mới (2001), Chiếc Quạt Tôn Nữ (2002), Màn Nhung Đã Khép (2003), Đàn Trăng Quạt Bướm (2005), Trở Lại Bến Thùy Dương (2009).

Tập Truyện:

Chuyện Quê Nam (1991), Tạp Chủng (1991), Hội RẫyVườn Sông Rạch (1992), Chuyện Miệt Vườn (1992), Đồng Không Mông Quạnh (1994), Gả Thiếp Về Vườn (1994), Đêm Xanh Huyền Hoặc (1994), Chuyện Ma Đất Tân Bồi (1998),
Tập Truyện Ma (2001), Quà Ngon Đất Quê Nam (2003),  Trăng Xanh Bên Trời Huế (2009), Truyền Kỳ Trên Quê Nam (2009).

Ký Sự, Bút Khảo, Bút Ký:

Giai Thoại Hồng (1988), Thông Điệp Hồng (1990),  Cõi Ký Ức Trăng Xanh (1991), (Chân Trời Lam Ngọc I (1993), Chân Trời Lam Ngọc II (199(1995), Sàn Gỗ Màn Nhung (1996), Cảo Thơm ( 1998), Theo Chân Những Tiếng Hát (1998), Tác Phẩm Đẹp Của Bạn (2000), Chân Dung Những Tiếng Hát I (2000), Chân Dung Những Tiếng Hát II (2001), Lai Láng Dòng Phù Sa (2001), Thập Thúy Tầm Phương (2001), Chân Dung 10 Nhà Văn Nữ (2002), Tập Diễm Ngưng Huy (2003), Chân Dung Những Tiếng Hát III (2003), Bảy Sắc Cầu Vồng (2004), Giai Thoại Văn Chương (2006), Náo Nức Hội Trăng Rằm (2007), Thắp Nắng Bên Trời (2007), Quê Nam Một Cõi ( 2007), Giữa Đất Trời Giao Hưởng ( 2008 ), Non Cao Vực Thẳm ( 2011), Ảnh Trường Kịch Giới ( 2012 ), Trên Nẻo Đường Nắng Tới.

Tập Thơ:

Thiên Đường Tìm Lại ( 2002), Vườn Cau Quê Ngoại (2003)

LTS: VĂN THI SĨ HỒ TRƯỜNG AN RA ĐI VÀO MÙNG 3 TẾT CANH TÝ … MỜI QUÝ VỊ ĐỌC MỘT BÀI THƠ VÀ MỘT BÀI VĂN ÔNG VIẾT VỀ TẾT …

Xuân Tha Hương

Mơ trở về thăm một bến xuân
Cùng ai nhắp lại chén tương phùng
Tìm người mắt sáng ngời sương ngọc
Gợi thủa hồn xanh biếc cỏ nhung
Ngút mắt, cố hương xa vạn dặm
Sẩy tay, hạnh phúc biệt muôn trùng
Gương hồ phẳng lặng còn đâu nữa?
Gió nổi làm xao đợt sóng rung.

Ðợt sóng rung theo cuộc nhiễu nhương
Bước chân xa mãi bến thiên đường
Ðầm đìa lệ ướt đời tang hải
Chất ngất sầu trên xuân viễn phương
Tóc trắng chửa phai cơn ác mộng
Tai bưng còn vọng tiếng sa trường
Tìm xuân gặp Tết trong vang bóng
Ðào rực ánh hồng, mai thoảng hương.


Hồ Trường An

                Tết Này Anh Trở Về –  Hồ Trường An

Cô Hai Nguyện săm soi mớ dưa giá trắng phau phau trong chiếc thau nhôm. Cọng giá mập mạp thấy thương hết sức! Ðiểm vào đó là những cọng hẹ xanh biếc. Tui có biệt tài nấu bất cứ món rau cải nào cũng giữ được màu xanh. Rau lang luộc, rau cải trời luộc, rau giền, mồng tơi, bồ ngót, cao kỷ nấu canh xanh tươi ngăn ngắt. Còn tui mà xào cải bẹ với thịt gà thì màu cải khi chưa vô chảo chỉ xanh có bảy, đến khi ra dĩa nó xanh tới mười, vừa xanh vừa trong, đẹp dễ sợ!

Năm nay cô Hai Nguyện tính ăn Tết tươm tất hơn năm ngoái. Cô đã lựa con cá lóc vừa bự vừa mập để kho chung với thịt bắp đùi, nước kho phải bằng nước dừa xiêm tươi thì cô mới bằng bụng. Có nồi thit cá kho chung đệm trứng luộc để dành ăn với bánh tét hoặc bánh chưng của cô Ký người Bắc thì phải điệu quá rồi, ăn lai rai, ăn hoài hoài tới hạ nêu cũng không ngán. Bánh tét ăn với món kho phải đệm thêm dưa giá, dưa cải hoặc củ kiệu, củ hành ngâm giấm thì mới nổi vị mà không ngán. Bởi vậy cô Hai Nguyện cùng hai đứa con gái lớn, Trang và Hiền, làm đủ thứ dưa. Trang trổ tài làm khéo, mua củ cải trắng, cà rốt, đu đủ xanh để tỉa bông huệ, chim bướm trước khi ngâm giấm, coi vừa đẹp lại vừa ngon!

Sáng ba mươi tháng chạp ta, cô Hai Nguyện thở một cái phào, khoan khoái hết sức. Nồi cá thịt cùng trứng luộc kho chung đã xong. Cô còn làm thêm nồi giò heo hầm với măng, nồi khổ qua dồn thịt bằm với bún tàu, nấm mèo nước trong leo lẻo, niêu tôm kho tàu nước gạch đỏ ối… Chiều nay cô mới mổ gà nấu cháo kèm gỏi gà trộn bắp chuối, rau răm để cúng rước ông bà.

Cô Hai Nguyện đã lau chùi, quét tước nhà cửa, bàn thờ ông bà. Lư hương, chân đèn, mâm cổ bồng đã đánh sáng loáng. Trên vách, cô treo bộ tranh tứ quí màu sắc tươi rói. Trên các cột hàng ba, cô dán liễn bằng giấy hồng đơn, chữ thảo mực tàu đen lánh. Năm nay cô chỉ mua một cặp cúc vạn thọ màu hoàng yến, một cặp mồng gà lưỡi búa đỏ để bày trong sân. Bánh phồng, bánh tráng, bánh tét thì đã có má cô là bà Hương kiểm Thiện ở chợ Trường An cho ê hề. Còn mứt thì cô mua ở chợ Vĩnh Long. Hai hộp mứt hình trái tim gói giấy trang kim lấp lánh cài cái nơ sa-teng hường coi mê quá! Trong hộp, mứt củ cải và mứt bí như giồi phấn, mứt khổ qua tươi nước cốt cỏ rồng chầu xanh như cẩm thạch, mứt cà-rốt màu gạch mới, mứt cà-chua đỏ như son tàu, mứt nào cũng khéo ơi là khéo, bỏ tiền ra mua giá phải chăng, tội gì mà làm cho mệt để lãnh cái thua sút, thô kém!

Dữ ác! Năm nay không hiểu ông ứng bà hành gì mà cô Hai Nguyện phấn khởi đón xuân như vậy? Năm năm qua, thằng bảy Huỳnh Kim Báu, thằng chồng trời đánh thánh đâm của cô đã bỏ nhà theo vợ bé, trôi nổi ở chơn trời góc biển nào rồi. Hễ cỡ mười năm mà nó không về, hoặc cô không tìm được tung tích nó, thì cô đành lấy cái ngày nó ra đi để làm đám giỗ. Thây kệ, ai quấy ai sai có trời cao đất dày, có nước mây cây cỏ chứng giám. Thằng Bảy kia dù gì cũng là tía của lũ con cô. Bên chồng cô kể từ khi biết nó ăn ở tệ bạc với cô, họ đâm ra thương mến cô. Bởi đó tuy giận nó, cô vẫn không nỡ để lũ con cô quên nguồn cội, tổ tông.

Năm năm qua, một thân đàn bà yếu đuối, cô Hai Nguyện vẫn phải đảm đương mọi việc mưu sinh. Cô mua lúa đem tới nhà máy chà gạo rồi đem gạo ra bán ngoài chợ. Con Trang vừa học xong đệ lục phải bỏ học ngồi trước rạp hát bóng Lạc Thanh bán quà vặt như cốc, ổi, xoài dầm chua, me ngào đường… Con Hiền thì ở nhà coi việc bếp núc, dọn dẹp. Chỉ có thằng Ðức được đi học. Nhờ trời thương Phật độ, má con cô lần hồi đủ ăn. Tối tối Trang đi xuống cầu Cái Cá học nghề luôn áo vắt sổ nơi cô Tám Kim Chi, em kế ba nó. Tới năm ngoái, bà nội nó mua cho nó cái máy vắt sổ để nó trả góp. Nhờ luôn áo khéo, vắt sổ tính giá phải chăng nên nó có khá nhiều khách hàng.

Năm nay con Trang mười tám, sáng đẹp như trăng rằm. Con nầy lanh lợi, biết phải quấy, ăn nói mực thước, lớp lang nên được lối xóm mến yêu, bạn bè trang lứa nể nang. Còn con Hiền mười lăm tuổi mà khờ khạo lắm! Nước da nó trắng hơn con Trang, vóc vạc thanh cảnh, thân hình đã bắt đầu dậy mẩy. Chiều chiều nó ưa mượn cái quần xăng-đầm của cô Hai Nguyện mặc vào rồi kéo quần lên tới ngực buộc chặt, nhảy xuống cái đìa bên hông nhà tắm lội đùng đùng như cù dậy. Một hôm ngủ đêm sáng dậy, nó thấy máu từ quần loang ra ướt mền, ướt chiếu, nó hoảng hồn gọi cô Hai Nguyện, mếu máo kể lể:” Má ơi, con hay tắm đìa nên chắc đĩa chui vô người con làm ổ, máu me nhểu tùm lum đây nè!” Cô Hai an ủi: “Hễ làm đờn bà con gái, tới tuổi dậy thì là mỗi tháng máu tuôn ra rỉ rả như vậy đó, không sao đâu con”.

Nhìn hai đứa con gái, cô Hai Nguyện tự hào, nhủ thầm: “Tui không được đẹp nên không giữ nổi thằng chồng mắc dịch, bị nó phụ bạc bỏ lăn bỏ lóc. Bù lại, tui được bầy con hiếu hạnh, ngoan ngoãn. Con Trang sắc sảo, con Hiền đoan trang, thằng Ðức siêng năng, tuy giống ông già nó như đúc nhưng thằng tía nó mặt mày dúc dắc, lẳng lơ bao nhiêu thì thằng con nghiêm trang, đằm thắm bấy nhiêu.

° ° °

Từ ngoài đầu ngõ, Trang và Hiền la chói lói:

– Má ơi, ba dìa! Ba dìa má ơi!

Cô Hai Nguyện đang ngồi xắt su hào, vụt đứng dậy, mặt xanh dờn như đờn bà xảo thai. Nhưng cô không nhúc nhích, chơn cẳng như chôn chặt trong đất. Thằng Ðức tưởng má nó chưa nghe kịp, nhắc:

– Ba dìa má à. Ba dìa thiệt mà!

Cô Hai Nguyện vụt tỉnh cơn bàng hoàng, ngây ngất. Thằng chồng ôn dịch của tui về? Nó còn dám vác cái bản mặt chai mày đá về đây làm gì? Tưởng nó chết bờ chết bụi, không bỏ xương trong miệng cọp thì cũng gởi thịt trong bụng sấu rồi chớ! Ai dè nó còn xách đít về đây để tui tức thiếu điều trào máu hoè ra khỏi họng. Cô rít lên:

– Thây kệ mồ nó!

Cô ngoe nguẩy ra ngoài vườn, ngồi trên cây sung gie ra mặt ao. Hừ, thằng khốn nạn Bảy Báu, thằng chồng oan gia của cô, năm năm nay đi theo con Tư Mỹ Huệ, chẳng hiểu nó có phỉ chí trong thú yêu đương, hay bị con dâm nương kia hành thân hoại thể? Hồi nó gây gổ, bỏ cô đi theo con Tư, cô hăm he:

– Mầy đành đoạn bỏ tao mà đi theo bợ đít mấy con thúi thây lầy cốt, mai sau mầy vác mặt về đây là chổi nhúng đường mương, chổi dọn chuồng heo tao sẽ quét mầy ra khỏi nhà, biết chưa?

Tên Huỳnh Kim Báu đã mặt trơ trán bóng, bảo:

Con cá buôi quạt đuôi ra biển Bắc,

Bơi dọc lội ngang, không chắc trở về.


Ôi năm năm qua, ngày ngày cô làm lụng đầu tắt mặt tối để kiếm miếng ăn. Ðêm đêm, càng nghĩ tới thằng chồng lòng lang dạ thú kia mà tay chân cô lạnh ngắt, ngực cô nặng trĩu, châu lụy cô tuôn rơi đồm độp:

Cu kêu từng cặp trên cây

Tào khương nghĩa nặng, sao mầy bỏ tao?


Ngồi trên cành sung, cô Hai Nguyện lắng tai nghe tiếng lao xao từ trên nhà vọng tới. Có lẽ chòm xóm tới chào hỏi thằng chồng đi hoang của cô đó mà. Xời ơi, họ chỉ biết nó là thằng hàng xóm dễ thương chớ đâu thèm biết tới cái tánh bạc bẽo, ưa thay đào đổi mận của nó! Còn lũ con cô đó, bởi sợi dây huyết thống thiêng liêng, thấy tía nó về là mừng rối rít. Lá rụng về cội mà! Tụi nó quên tuốt luốt cái thói vô trách nhiệm của tía tụi nó, quên lúc tên Bảy Báu bỏ nhà ra đi, bốn mẹ con đổ mồ hôi hột ra vật lộn kiếm miếng ăn, chơn chạy không bén đất. Ðã bao phen đi bán gạo về, thay vì nghỉ ngơi, cô hăng hái ra sở rẩy sau nhà để săn sóc mười luống dưa gang. Tháng bảy âm lịch vừa rồi, cô trúng mùa dưa. Cô bán mớ dưa chín mềm, còn kỳ dư loại dưa cứng cạy, cô bán cho các vựa mắm để họ gài mắm. Vốn là dân làng Tân Ngãi nên cô rất mát tay trồng dưa:

Dưa Tân Ngãi, bự trái dầy cơm,

Dẫu mình không nợ, không duơn,

Tháng bảy, tháng tám mau chơn trở về


Té ra, Tết nầy chồng cô trở về! Cơn giận làm trái tim cô nhảy ạch đụi trong lồng ngực. Thiệt tình cô Hai Nguyện không oán cô Tư Mỹ Huệ. Cô có bao giờ gặp mặt con tình địch nầy đâu! Nhiều lần cô suy nghĩ, biết Bảy Báu là thứ tham thanh chuộng lạ, hết đèo con nọ tới xọ con kia. Cô đã từng nhiều phen trách ai tham giấy bỏ bìa; khi thương, thương vội, khi lìa, lìa xa… Chồng của cô nếu không dính con Tư Mỹ Huệ vốn là gái điếm chợ Lách, thì cũng rượn theo con Bảy Kim Hoàng ở Cái Nhum, cũng lẹo tẹo với con Mít con Xoài, cũng mê say con Ổi con Lựu nào đó… Trước con Tư Mỹ Huệ, Bảy Báu cũng đã từng cặp xách hết con ngựa bà nầy lại du dương mùi mẫn với con đĩ chó khác. Cô Hai Nguyện đã từng ốm o so bại, mình mẩy mỏng lét, da dẻ xanh chành vì ghen. Ngày tối cô đâu có làm ăn gì cho an ổn được! Cô cứ rình rập để bắt gian phu. Cô hết ghịt tóc lột quần tình đình lại đè đầu đè cổ chồng ngắt véo, đánh vả. Cô phung phí hơi sức chửi bới la rầy chồng tới mỏi miệng rát cổ, ran ngực thốn tim. Chồng cô lúc nào cũng nhịn cô, mặt mày lấm la lấm lét, mắt mũi dớn dác, lơ láo… Vậy mà đời nào nó chừa thói ngoại tình, bỏ tật phong nguyệt cho cô nhờ! Mà cắc cớ thay, ông trời ổng sanh chi cho cô cái tánh lạc lòng. Chồng cô mỗi khi chán mèo hoặc bị mèo đá đít là quay về với cô, dùng giọng kèn tiếng quyển lung lạc khiếng cô xiêu lòng ăn ở với nó, để nó bơm cho cô một cái bầu bự chình ình. Hễ cô vừa đẻ xong là nó đánh lừa đánh đảo cô để đi ve vãn, tò tí mấy con khác rồi quất ngựa chuối bôn đào.

° ° °

Bảy Báu xách chiếc valise bự tổ chảng, tay kia bồng một thằng nhỏ cỡ hơn một tuổi đứng tần ngần trước ngõ. Trang vồn vã:

– Ba vô nhà đi ba, kẻo nắng. Không sao đâu!

Bảy Báu gượng làm tỉnh:

– Ừ, có sao đâu! Nhưng ba nhờ tụi bây năn nỉ má tụi bây dùm ba một tiếng.

Hiền rụt rè hỏi:

– Con của ai đây ba?

Bảy Báu tỉnh tuồng:

– Em của bây đó đa. Ba đặt tên nó là thằng Phước. Má nó chết rồi. Ba vừa làm tuần bách nhật cho cổ hôm qua.

Ðứa nhỏ thiệt dễ thương, mập mạp trắng trẻo. Nó giương cặp mắt đen huyền như hai hột nhãn, nhìn hai cô gái rồi cười hịch hạc, thấy thương đứt ruột. Trang sốt sắng:

– Ba đưa em cho con bồng. Vô nhà mau đi ba.

Khi bốn cha con vô nhà thì Hiền đòi bồng em lấy hên rồi hun thằng nhỏ chùn chụt. Trang giằng lấy thằng nhỏ, hun ngay cái nọng của nó, đả đớt:

– Mèn ơi, cưng của chị “Chang” thơm “xữa” quá “chời” quá đất!

Hiền xía vô nựng đứa nhỏ, miệng tía lia:

– “Chắng” gì mà “chắng” như dừa nạo, như bông bưởi vậy nè “chời”!

Thằng Phước nhột quá cười sằng sặc. Chu choa ơi, hoàn cảnh côi cút của đứa nhỏ cùng sợi giây huyết thống đã làm hai cô gái yêu thương đứa em khác mẹ của mình tức thời. Hai cô gái giống mẹ ở chỗ ưa con nít. Ba mẹ con hễ rảnh rang là dạo xóm, thấy con ai cũng bồng, cũng hun hít, cũng nựng nịu. Cô Hai Nguyện ưa làm bánh chuối, kẹo chuối để kêu tụi con nít lối xóm lại ăn.

Thằng Ðức lỏn lẻn nhìn cha rồi nhìn thằng Phước. Vì nhút nhát, nó không dám tới gần để rờ rẫm hun hít, nhưng nó nhìn em nó bằng cặp mắt sáng quắc vì thèm thuồng coi thiệt tức cười. Bảy Báu buông valise ở góc nhà một cái xạch rồi dựa ngửa người trên ghế, hỏi:

– Má tụi bây đâu rồi?

Ðức xớt trả lời:

– Nghe tin ba dìa, má bỏ ra vườn sau rồi. Má cứ bụm mặt khóc ào ào…

Bảy Báu nhìn đứa con trai, ứa nước mắt:

– Ðức lại đây!

Ðức ngoan ngoãn bước lại gần cha. Bảy Báu vuốt ve con trai, ngậm ngùi:

– Thiệt thằng con tui mau lớn quá! Năm nay con ngồi lớp mấy?

Ðức thỏ thẻ:

– Dạ con học lớp đệ thất rồi ba. Con thi nhảy lớp hồi năm ngoái, nghĩa là từ lớp nhứt con thi thẳng một lèo vô đệ thất chớ không cần ngồi lớp tiếp liên.

Bảy Báu đỏ mặt vì ăn năn, hổ thẹn, nước mắt chảy ròng ròng. Sau cùng, anh ta nói vắn tắt:

– Con học giỏi là ba mừng.

Vừa thấy Bảy Báu cà rà trước ngõ, bà Năm Thẹo ở gần bên, cách hàng rào xương rồng, đã lập lờ lập lượn sau cánh cổng để nghe ngóng. Rồi kế đó bà chạy qua nhà thím Năm Én, nhà cô Bảy Ơn rủ họ nhập bọn qua nhà cô Hai Nguyện. Liền sau đó, bà Chín Ích ở đối diện nhà bà Năm Thẹo cũng lạch bạch bước qua, miệng ong óng:

– Bây chờ tao đi với chớ!

Bà Năm Thẹo tuôn vô nhà cô Hai Nguyện trước hết, cười ỏn ẻn:

– Nghe thằng Bảy mầy dìa nên tao rủ chị Chín với mấy con lủng, con lành qua thăm.

Bà Chín Ích nhìn thằng Phước trầm trồ:

– Chèn ơi, thằng nhỏ giống cháu Bảy quá chừng chừng!

Cô Bảy Ơn nói:

– Thiệt tình, chị Bảy khi khổng khi không có thằng con dễ thương quá!

Thím Năm suýt soa:

– Tui nghĩ rằng ông trời thương chị Bảy nên Tết nầy ông lì xì cho chỉ đứa con trai nầy. Con Trang, con Hiền, thằng Ðức đều thua nó màu da trắng.

Phút chốc chòm xóm bu tới, ồn ào bàn tán. Cô Hai Nguyện từ ngoài vườn bước vào, mặt trắng bệch như sáp, mắt chau quảu ngút lửa. Cô hét:

– Ai vào đây làm giặc, nổi loạn đó vậy?

Bảy Báu làm tỉnh, đứng dậy:

– Qua đây, em Hai. Bảy Báu, chồng của em dìa ăn Tết với vợ con đây!

Cô Hai Nguyện xáng cho chồng một cái nhìn sấm sét:

– Báu nào? Báo đời, báo hại chớ quí báu gì nà! Mà thôi, nhà tui là nhà mần ăn, không chứa cái phường mèo mả gà đồng, cái quân mèo đàng chó điếm, thầy nghe chưa? Thầy làm ơn xách gói đi chỗ khác, chỗ nào có mấy con dâm phụ chuyên môn cướp giựt chồng người. Thầy còn nấn ná chần chờ thì tui sẽ lấy chổi quét cứt gà, chổi tẩm cứt heo quét thầy xuống đường mương cho thầy coi.

Bảy Báu nhăn nhó:

– Tội nghiệp qua lắm mình ôi. Mình hãy cho qua phân giải đôi lời.

Cô Hai Nguyện nhảy đong đỏng:

– Thầy đã phân giải nhiều lần rồi. Tui cũng đã lạt lòng nhiều quá rồi. Không mình không đầu gì nữa hết! Thầy hãy cuốn gói cho lẹ để mẹ con tui ăn Tết.

Nói được những tiếng thô nhám như đá ong, cứng nặng như đá xanh đó, cơn giận cô hạ xuống, rút biệt một cái rột như nước lọt qua miệng cống.

Bà Năm Thẹo tằng hắng can:

– Thôi cho tao can đi! Mầy cũng để cho thằng chồng mầy phân bua phải quấy đôi lời chớ! Hễ nó vừa mở miệng là mầy nạt nhào thì còn non nước gì!

Thím Năm Én khuyên:

– Hai, em phải nghe lời bác Năm, bác Chín. Chị cũng can em. Bổn phận làm vợ là phải nể nang, ngọt dịu với chồng. Nó dẫu ăn ở quấy với em thì có trời cao chứng giám, có bà con láng giềng chê cười nó. Nhưng nếu em mà gay gắt với nó quá thì té ra em cũng quấy theo nó hay sao? Gắt quá thì nó nổ đa em! Hễ mọi sự nổ tanh banh tét bét thì mụ nội ai mà hàn gắn lành lặn như xưa?

Cô Hai Nguyện quét mắt qua khắp bà con hàng xóm láng giềng. Coi bộ ai cũng có ý binh vực thằng chồng dâm bôn bạc bẽo của cô. Cô nhìn con Hiền bồng đứa nhỏ. Mèn đéc ơi, thằng nhỏ coi giống hịt thằng Bảy Huỳnh Kim Báu quá trời quá đất! Nó ngó cô, hả miệng chim dòng dọc ra cười hịch hạc, bày cái nướu màu hồng tươi vừa nhú mấy cái răng sữa lùn tịt. Chèn ơi, nụ cười nó giống nụ cười tía nó quá chừng chừng! Bởi nụ cười đó mà hồi mười tám năm về trước, cô lén ăn cắp tiền bạc vòng vàng của tía má cô để đi theo tiếng gọi của trái tim. Trái tim cô lúc nào mà chẳng dại dột! Nụ cười đó đã từng hóa giải tủi hờn, căm tức nơi cô mỗi khi thằng Bảy Báu bị mèo đá xất bất xang bang bò về. Cô Hai Nguyện hét:

– Con cái ai đây?

Bảy Báu ấp úng:

– Thì…nó là con của… qua. Qua bồng nó về đây cho em nuôi làm phước.

– Ê, đùng có giỡn nghe cha nội! Cây không trồng, lòng không tiếc; con không đẻ, mẹ ghẻ không thương!

Cô Bảy Ơn khuyên lơn:

– Chị Bảy, em khuyên chị bớt nóng. Thiệt tình chị nóng cũng phải, chẳng ai dám trách chị chút nào. Anh Bảy bậy quá, sái quấy lung lắm . Em mà ở vô hoàn cảnh chị, em cũng giống như chị vậy, cũng tức bể ngực rồi hộc máu cả chậu cả vịm chớ không vừa. Nhưng mà xin chị suy cho cùng, nghĩ cho cạn. Nếu chị nóng quá mất khôn, làm cho gia cang xào xáo thì tụi nhỏ khốn đốn, gẫm có ích lợi gì đâu! Xin chị cho ảnh ăn năn chuộc tội.

Cô Hai Nguyện rống lên khóc:

– Ðây đâu có phải lần đầu nó vác mặt mo mặt thớt về đâu? Tui nuôi nó lúc nó thất cơ lỡ vận để rồi khi sung sức mập thây, nó xách đít đi đép bậy cho ốm o so bại, thân tàn ma dại rồi mới trở về. Một lần, hai lần thì còn bỏ qua được, chớ lần nầy thì nhứt quá cửu, quá thập rồi chớ đâu phải quá tam! Nó đội vàng cả thúng, hột xoàn cả tráp về đây tui không ham nữa là!

Bà Chín Ích xía vô ỉ ôi:

– Con vợ thằng Bảy nè. Con phải nghe lời má Chín lần nầy. Chồng con trở về đây tốt tươi phi mỹ chớ không te tua bèo nhèo, không rách rưới đói khát. Nó ăn bận như thầy thông thầy ký ở đất thầy-gòn đó con. Nó về đây chắc có duyên cớ gì đó chớ không phải mong nhờ hột cơm của con đâu! Vợ chồng bây có thể hiểu nhau, chớ người ngoài làm sao tỏ tường trong đục! Vậy con gắng nuốt giận, nghe nó cạn phân bày giải. Má Chín khuyên con đừng tỏ ra lấn lướt với kẻ lép vế, thất thế hơn mình. Không nên đâu con!

Thấy chưa? Chỉ vừa thấy thằng nhỏ mà coi bộ bà con lối xóm đều ngã rạp về phía tên Bảy Báu hết trọi. Họ thấy đứa nhỏ mồ côi mồ cút chớ họ làm sao thấy lúc cô canh khuya trằn trọc, tủi phận bị chồng chán, chồng chê, não nề lo gánh mưu sinh cho bầy con dại? Té ra tên Bảy ó đâm nầy sanh ra để được thương yêu dung thứ. Còn cô sanh ra để làm nạn nhơn của nó cho tới tim bảy lỗ héo khô, gan bảy lá héo hắt mà người ngoại cuộc đương thèm biết tới.

Bỗng đứa nhỏ bị con Hiền ôm chặt khóc ré lên. Thằng Ðức vụt chạy lại ôm tía nó, khóc rống:

– Ba ơi, ba đừng đi đâu hết! Má ơi, má đừng để ba bồng em cho bà phước xóm đạo nghe má! Em con dễ thương quá má à!

Mấy bà lối xóm cùng khóc ngon khóc ngọt theo thằng Ðức.

° ° °

Khi lối xóm về hết, cô Hai Nguyện xuống bếp bắt con cá lóc rọng trong vịm ra cạo vẩy. Cô hỏi Trang:

– Tía mầy đâu rồi?

– Ông Năm Thẹo mời tía qua cụng ly bên bển rồi.

– Còn con Hiền đâu?

– Nó bồng thằng Phước qua nhà thím Năm Én mượn cái bình sữa và núm vú cao su.

Cô Hai Nguyện trề môi:

– Tía mầy là thứ đờn ông hư thúi. Vừa về tới nhà là liệng va-ly cái xạch nên bình sữa mới bể hai bể ba như vầy…

Bảy Báu chỉ dám nhậu sương sương với ông Năm Thẹo rồi lật đật trở về nhà kẻo vợ quở, vợ rầy. Cô Hai Nguyện và Trang lo nấu, dọn cơm trưa. Cô dặn cô trưởng nữ của minh:

– Con lên nhà trên mời tía con rửa mặt, thay đồ mát đi. Cơm nước xong, con nhớ gói bánh tét, bánh dừa để tối nay má luộc. Chút nữa má ra chợ Vãng mua bình sữa, xà bông, khăn lau,thau chậu cho thằng Phước.

Hiền mượn được bình sữa, bồng em về nhà. Cơm canh chưa xong nhưng cô Hai Nguyện đã dọn chén, bày bàn sẵn. Cô rửa tay sạch sẽ, bồng đứa nhỏ. Thằng nầy dễ thương thiệt mà. Cô vừa bồng nó là nó rúc đầu vô ngực cô làm cô bồi hồi xúc động. Nó lại cười tít toát, thấy ghét hết sức! Nhưng cô Hai Nguyện chưa hun nó liền đâu. Cô tự hỏi mình có thể yêu thương nó thiệt tình không? Cô chưa biết mặt má nó lần nào. Cô chỉ có thể hình dung má nó qua khuôn mặt của những tình địch khác: mắt con nầy, mũi con kia, tóc tai con nọ, hình vóc con khác nữa… Mà lạ dữ! Thiệt tình cô chẳng ghét con nào hết. Bao nhiêu việc oan trái cũng do cái tánh chuộng trăng hoa, ưa đào đĩ của tên Bảy Báu mà ra. Nếu nó không có tâm địa uốn éo ruột rồng, lòng vòng ruột rắn, lắn quắn ruột dê thì chẳng có con nào có thể nhảy vào cuộc sống lứa đôi của cô để ăn mót hoặc cướp giựt hạnh phúc của cô được hết. Bởi chồng cô già không bỏ, nhỏ không tha, tươi như hoa nó liền mê lú, xấu như ục cú nó cũng say sưa… như vậy thì con đờn bà nào cũng có thể để nó dê, nó nịch ái ráo trọi. Nhưng mà trời ơi, dù cô đã khóc cả thùng, cả thau, cả xô nước mắt vì sự bạc bẽo của chồng, nhưng lòng cô vẫn sẵn sàng dọn một chỗ tha thứ đợi ngày nó trở về.

Trang làm bình sữa xong, đem lại mẹ. Cô Hai Nguyện cho thằng Phước bú. Và khi bình sữa chưa cạn thì nó đã ngủ khò, miệng thỉnh thoảng mỉm cười. Cô Hai Nguyện đặt nó lên vạt tre trải chiếu đậu, rồi đắp mền mỏng lên tận ngực nó. Thằng Ðức cứ cà rà bên em ngắm nghía, lâu lâu hun lên đôi má măng sữa của nó.

Bảy Báu rửa mặt chải đầu, thay đồ mát xong. Biết là vợ bớt cơn thịnh nộ, anh ta giả bộ ra sàn nước rửa chơn rồi mang guốc lóc cóc tới bên vợ nói nhỏ:

– Mình! Bảy Huỳnh Kim Báu, chồng mình dìa với mình đây nè, mình.

Cô Hai Nguyện quắc mắt khi thấy Bảy Báu chờn vờn muốn ôm mình:

– Anh chớ rớ tới tui. Anh mà xáp lại gần là tui tri hô anh muốn ám sát tui, nói cho anh biết.

Bảy Báu tha thiết:

– Mình ôi, anh dìa đây là quyết lòng trụ luôn bên mình cho tới mãn đời suốt kiếp. Anh đã chán ngán việc mèo đàng chó điếm rồi. Khi má thằng Phước lâm chung có dặn anh quay về với mình và bắt anh thề dứt bỏ chuyện én anh, ong bướm để tạo dựng nghiệp nhà.

Cô Hai Nguyện trề môi:

– Nói dóc! Con Tư Mỹ Huệ đó mà kể số gì tới tui. Ðừng có xạo nghe cha nội! Con này ăn cơm bảy phủ, dạo đủ khắp nơi, nó đâu có khờ như anh tưởng!

Bảy Báu giọt dài giọt vắn:

– Má thằng Phước không phải là cô Tư Mỹ Huệ đâu!

Cô Hai Nguyện chưng hững:

– Ủa! Vậy chớ con nào?

Bảy Báu kể vắn tắt:

– Khi qua đưa cô Tư Mỹ Huệ lên Tân Châu lập nghiệp thì cổ tình cờ gặp lại thằng chồng cũ. Ông bà mình thường nói: “Vợ chồng cũ không rủ cũng tới” nên cổ đành đoạn bỏ qua để về với thằng cha đó. Cả hai dắt nhau qua Hồng Ngự mần ăn. Riêng qua thì dẫu gặp cảnh xất bất xang bang thì cũng không còn mặt mũi nào về với mình. Qua nhờ nghề chích dạo kiếm ăn rồi gặp má thằng Phước tức cô Hai Lành con gái thầy Hương quản Nên… Cổ làm cô mụ vườn mát tay lắm, tiền kiếm bộn bàng nhưng duyên số hẩm hiu nên mãi ba mươi ngoài mà cổ còn ở vá. Cùi mít trôi lên gặp cùi thơm trôi xuống, cả hai gá nghĩa bậy với nhau mà ăn nên làm ra. Bởi qua xử tệ với mình nên trời không cho qua hưởng trọn cảnh êm ấm với cô Hai Lành cho tới mãn kiếp. Ðẻ thằng Phước xong một tháng là cô Hai đau dây dưa gần một năm rồi nhắm mắt qua đời…

Món canh chua cá lóc với bạc hà do Trang nấu ngon dễ sợ. Trong bữa cơm trưa hôm đó, Bảy Báu hỏi han vợ con đủ thứ.

Hiền mặc cái áo lụa màu hoàng yến, đeo sợi giây chuyền bướm lóng lánh, dịu dàng bảo mẹ:

– Má cứ ở nhà hủ hỉ với ba, con đón xe ngựa ra chợ Vãng mua sắm vật dụng cho thằng Phước. Con có nấu nước bồ kết và hái chanh cho má gội đầu.

Cô Hai Nguyện ôn tồn:

– Con nhớ mua phấn trị sảy, xà bông thơm, rượu chổi cho em con. Về sữa, con nhớ mua sữa hiệu Con chim chớ đừng mua hiệu khác. Nhớ mau về nghe con. Má cần đủ thứ bộ vận để tắm rửa cho nó.

Khi thằng Phước thức dậy, thằng Ðức giành bồng em đi dạo xóm. Cô Hai dặn dò:

– Nhớ đừng bồng em ra chỗ nắng nôi, gíó máy mà nó ấm đầu sổ mũi nghe hôn con!

Rồi cô dặn Trang:

– Con Trang nhớ làm gà nấu cháo và trộn gỏi bắp chuối để ba con rước ông bà về ăn Tết với con cháu. Tối nay con nhớ ủi quần áo cho cả nhà. Cúng tất, hạ nêu xong, má sẽ đi chuộc bùa trừ tà tróc quái cho em con ăn chơi, mau lớn.

Tết nầy cô Hai Nguyện mua xấp lụa cẩm vân màu cánh sen, xấp lụa hồng đào để may áo dài cho Trang. Cô mua xấp cẩm nhung màu hoàng yến và xấp nhiễu tím may áo dài cho Hiền. Còn thằng Ðức, cô sắm cho nó chiếc quần tây bằng nỉ xám, áo sơ-mi trắng bằng tít-so và đôi giày xăng-đan.

Sực thấy chồng cứ theo tò tò bên mình, cô hỏi:

– Còn ông tía non nầy, ông uống trà hay Uống cà-phê thì nói một tiếng cho tui biết để tui làm?

Bảy Báu cười mơn:

– Mình cho gì thì uống nấy.

Cô Hai Nguyện nguýt chồng rồi lủi xuống bếp, lầu bầu lẩm bẩm:

– Cái thứ trời đánh thánh đâm như anh, uống nước cống, nước đường mương mới đáng, ở đó mà uống cà phê, uống trà…

Nói vậy, nhưng cô vẫn pha một tách cà phê cho chồng và không quên pha thêm một bình trà Xiểu Chủng.

Xế xế, cô Hai Nguyện gội đầu bằng nước bồ kết và nước cốt chanh tươi. Hôm nay là ngày ba mươi tháng chạp, cô Hai Nguyện theo thường lệ, tắm rửa và gội đầu để xả xui.

Bữa cơm chiều, vì để mừng ngày phu thê tái hiệp, cô Hai Nguyện làm thêm vài món nhậu tươm tất cho chồng như nem cá cơm ăn với thịt phay, bún, rau sống; như gỏi sứa tôm thịt…

Tối hôm đó, Trang và Hiền tình nguyện thức canh nồi bánh tét, bánh dừa cùng nồi luộc đầu heo, lòng heo.

Vợ chồng lâu ngày tái hiệp, ân ái thiệt mặn nồng. Thằng Ðức nằm ngủ ở vạt tre kê giáp tấm vách ngăn buồng cô Hai, nửa đêm thức giấc, nghe tiếng lào xào của cha mẹ.

Tối hôm nay, cô Hai Nguyện mặc chiếc áo bà ba lụa tím, quần lãnh trơn cặp lưng bằng nhiễu màu hường cánh sen, chơn đi guốc sơn đen. Khi cô ra ngoài trung đường thắp nhang, cúng nước trở vào thì thấy Bảy Báu mở valise lôi ra một cái gói vuông bọc mo cau. Anh ta mở gói, bày những phiến vàng lá, bảo vợ:

– Bốn chục lượng vàng đó. Xứ Tân Châu dễ làm ăn hơn ở đây nhiều. Qua tặng mình hết để làm vốn, đặng cho hai đứa con gái mình rảnh rang kiếm cách học thêm.

Cô Hai Nguyện nhìn sững chồng rồi gói vàng lại, cẩn thận cất vô tủ. Cô nhỏ nhẹ:

– Mình cứ ngủ đi. Em sửa soạn cúng giao thừa đây.

Giao thừa tới. Pháo chuột, pháo tre hàng xóm nổ vang. Thằng Phước giật mình khóc ré. Cô Hai Nguyện cúng kiếng xong, lại bồng nó, dỗ nó ngủ lại. Bảy Báu ăn mặc chỉnh tề, bước ra phòng khách, bảo vợ:

– Mình kêu sắp nhỏ ăn mặc đàng hoàng để mừng tuổi vợ chồng mình.

Bảy Báu lì xì cho Trang chiếc kiềng chạm, cho Hiền chiếc kiềng trơn kèm chiếc nhẫn nhận hột cẩm thạch hình hột dưa. Thằng Ðức thì được chiếc đồng hồ đeo tay.

Trước khi xuống bếp vớt bánh tét dừa đặt vào rổ cho ráo nước, Trang hỏi mẹ:

– Năm nay con gì ra đời vậy má?

Cô Hai Nguyện trầm ngâm:

– Má chẳng nghe con gì ra đời hết! À, lúc giao thừa, em con giựt mình khóc om sòm. Vậy là con trống ra đời đó. Con trống nầy tên Phước, tức nhiên nó đem phước tới cho nhà mình.

Khi trở về buồng, Bảy Báu ôm chặt vợ vào lòng. Anh ta thấy giờ đây vợ mình mặn mòi quá cỡ, môi má đỏ au chớ không xanh xao như chầu xưa. Anh ta ứa nước mắt:

– Kiếp trước chắc anh tu kỹ nên kiếp nầy được trời ban thưởng cho một người vợ hiền như mình.

Cô Hai Nguyện nguýt:

– Xạo vừa vừa chớ! Em đã bao phen bầm dập bởi lời ỏn thót của mình rồi. Mình về đây được…

Cô toan nói rằng mình về đây được ngày nào là em mừng ngày đó, nhưng cô ngưng ngang vì đó là câu nói gở, gây điềm xui xẻo. Cô nằm bên chồng, cất giọng ngọt lìm lịm:

– Ra giêng, mình nhớ đem hình má thằng Phước hoạ lớn để thờ. Em muốn vong linh má nó theo phù hộ cho nó mạnh khoẻ, ăn chơi…

Hồ Trường An

                             MỘT SỐ HÌNH ẢNH

Hồ Trường An thăm Hoa Thịnh Đốn năm 2004 – từ trái: Bà Khoa, ÔB Nguyễn Văn Đặng & Kiều Nga,  Cụ Huỳnh Thanh Hưng, HỒ TRƯỜNG AN, nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Dung, nhà thơ Hà Bỉnh Trung, biên khảo gia Phạm Văn Tuấn …

Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện, Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên, Nhà văn Hồ Trường An, Nhà văn Song Nhị. (Sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật Nguồn tổ chức ngày 27-05-2012 tại Conflans Sainte-Honorine)

                                                 Hồ Trường An & Trần Mỹ Hòa 

Thi sĩ Đỗ Bình, Nghệ sĩ Thúy Hằng, Mây Thu, Bernard, Nhà văn Vũ Nam (hàng trên từ trái sang) – Phu quân và Nhà văn Dư Thị Diễm Buồn, Nhà văn Hồ Trường An, Bà Lan Phương. (hàng dưới từ trái sang) – (Các bạn đến thăm Nhà văn Hồ Trường An ngày 29-08-2015)

                                                 Từ trái: Trần Vũ, Hồ Trường An…

                       Hồ Trường An & Bernard Detrez – Troyes, France 2013 – Ảnh của: NAG Huỳnh Tâm

VƯỜN CAU QUÊ NGOẠI

Đêm qua vườn ngoại tàu cau rụng
Vàng ố loang từng bẹ lá khô
Mo xám quắt queo bao cữ nắng
Hồn xanh phai lạt giữa mơ hồ.

Thềm vắng, xế nay ngồi vót chổi
Ngoại đưa cần mẫn chiếc dao dâu
Chừng nghe tiếng chổi khua sàn sạt
Quét rụng niềm vui tự thuở đầu.

Sống lá từng tàu cau chuốt mỏng
Dẻo mềm lạt buộc chổi tinh khôi
Ngoại từ xanh tóc nay đầu bạc
Vót chổi bao năm một chỗ ngồi.
 
Đêm qua bão rớt, bông cau rụng
Mai mốt buồng cau thưa trái non
Vững mạnh nọc trầu bên mé nước
Dài giây, tủa rễ, lá xanh rờn.

Nắng tắt, hiên ngoài se sắt lạnh
Gió chiều quét sạch lớp mây giăng
Ngoại đưa đẩy chổi trên sân vắng
Quét lá, làm sao quét ánh trăng?
 
Làm sao quét nỗi buồn giăng mắc?
Đèn lửa đêm dài chong hắt hiu
Cau sấy ba canh, than cháy đỏ
Làm sao hong ráo lệ bao chiều?
 
Vườn cau quê ngoại thời niên thiếu
Ươm giữa hồn thơ nét đẹp buồn
Ký ức tháng ngày rung bóng lá
Thơm hương cau tỏa dưới trăng sương.

Vườn cau hòa tiếng tim châu thổ
Dựng mộ bia sau mái miếu đường
Có bóng ma người bao thuở trước
Suốt đời bám riết đất quê hương.
 
HỒ TRƯỜNG AN

                           HỒ TRƯỜNG AN TÂM SỰ Ở BUỔI HỌP MẶT THU TAO NGỘ, PARIS 2009

   HỒ TRƯỜNG AN, MỘT TÂM HỒN ĐẪM TÌNH QUÊ
                                                        *** Đỗ Bình ***

Hồ Trường An tên thật là Nguyễn Viết Quang, sinh ngày 11 tháng 11 năm 1938 ở làng Long Đức Đông, tỉnh Vĩnh Long và qua đời tại Troyes ngày 27.1.2020. Các bút hiệu khác: Đào Huy Đán, Đông phương Bảo Ngọc, Nguyễn thị Cỏ May. Ông di cư sang Pháp ở tỉnh Troyes và sống đến cuối đời. Thuở nhỏ ông học các trường Tống Phước Hiệp, Nguyễn Đình Chiểu, Chu Văn An, Đại học Dược khoa. Tốt nghiệp khóa 26 trường Sĩ Quan Thủ Đức. Trưởng ban Chiến Tranh Chính Trị tại hai Chi Khu Trị Tâm và Lái Thiêu (tỉnh Bình Dương) từ năm 1969 tới năm 1971. Sau đó phục vụ tại Ban Thông Tin Báo Chí Quân Đoàn III và Quân Khu 3 (tỉnh Biên Hòa) cho tới tháng 4 năm 1975. Hồ Trường An làm thơ rất sớm, thỉnh thoảng có những bài thơ học trò tâm sự của người trai mới lớn, đến khi là sinh viên trường Dược ông đã chuyển sang văn xuôi, viết báo, từng làm phóng viên kịch trường cộng tác với Bách Khoa, Minh Tinh, Tiền Tuyến, Tiền Phong, Tin Văn, Tin Sách, Tiểu Thuyết Tuần San, Tranh Thủ, Tiểu, Bút Hoa. Khi vào quân đội ông được đưa về phục vụ trong Ban thông tin báo chí. Sau năm 1975 ra hải ngoại ông tiếp tục làm báo và cộng tác với các báo: Quê Mẹ, Hồn Nước, Đất Mới, Văn, Văn Học Nghệ Thuật, Văn Học, Bút Lửa, Lạc Hồng, Viên Giác, Đẹp, Tự Do (Texas), Tự Do (Canada), Chiêu Dương, Xây Dựng, Lửa Việt, Làng Văn, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Hải Ngoại Nhân Văn, Cỏ Thơm,.. Ông từng là Tổng thư ký tòa soạn Quê Mẹ (Pháp) và Làng Văn (Canada) trong một thời gian. Chính nhờ cộng tác với nhiều tạp chí đã đem tên tuổi của Hồ Trường An đến với nhiều độc giả khắp nơi ở hải ngoại và quen biết thêm nhiều văn nghệ sĩ và bạn đọc khắp nơi.

Nhà văn Hồ trường An tính tình hiền hòa đôn hậu nhưng dễ nóng! Để khắc phục sự nóng nảy, ông Thiền định pháp danh là Thiện Tĩnh và ăn chay trường suốt mấy chục năm cho đến lúc giã từ cõi đời. Hồ Trường An là người ham học, đọc sách rất nhiều nên kiến thức uyên bác. Ông nghiên cứu sâu sắc về những tư tưởng triết học của nhiều nhà tư tưởng triết gia trên thế giới, am tường nhiều loại thể hình văn học nghệ thuật. Dù nổi tiếng nhưng trong tâm hồn ông chưa thật sự bình thản vì trong nền văn hóa cũ giới tính vẫn bị nhìn một cách khắt khe còn gò bó, bảo thủ nên ông cảm thấy bị phiền lòng khi nghe thị phi về giới tính. Vấn đề lưỡng tính của Hồ Trường An là có cảm tình và hấp dẫn của hai giới nam nữ. Có lẽ kể từ khi ông viết tập thơ « Thiên Đường Tìm Lại », một loại  thi văn dục ái, được Nhà thơ TS Lưu Nguyễn Đạt viết lời tựa: « ..thi văn dục ái chân chính nhằm mục đích khai phóng những yếu tố căn bản của dục cảm, dưới hình thức xúc cảm toàn giác. Thi văn dục ái đã gắn bó người với người bằng thỏa mãn đam mê toàn diện, nhằm phúc hồi lẽ sống chân thành qua sáng tạo cởi mở. Thể xác, xúc cảm và tâm linh được nhắc nhở thỏa mãn trong chân tình hòa hợp. Theo chiều hướng đó, những dòng thi văn tâm linh và lãng mạn trên thế giới , qua những thời điểm khác nhau đều xác định và ca tụng tình yêu dưới hai khía cạnh tâm ái (spiritual or platonic love) và dục ái tới mực độ bổ xung toàn diện (total/absolute love) như một thể cách khai phóng nhân bản để hội nhập vào toàn thế giới hiện sinh…»

Nhà Biên khảo TS Trần Bích San viết trong lời giới thiệu thi tập Thiên Đường Tìm Lại: «Mặc Khải Trong Thi Ca. Thi Ca Dục  Ái Xuất Hiện Từ Lâu Trong Văn Chương Truyền Khẩu. Phong Dao, Tục Ngữ, Câu Đố Có Những Bài, Những Câu Liên Quan Đến Tính Dục Nam Nữ…. Thơ dục ái Hồ Trường An không hoằng dương nhục cảm. Nhà thơ sử dụng nó như phương tiện chuyên chở nghệ thuật, gây thích thú thưởng ngoạn, kích thích giác quan thẩm mỹ tạo ra không khí trân trọng nghệ thuật. Tình yêu trong thơ Hồ Trường An là sự thăng hoa toàn diện, triệt để, vô hạn giữa tâm hồn và thể xác, giữa cá nhân với quê hương, giữa con người với thiên nhiên… »

Cũng trong thời gian đó nhà văn Hồ Trường An bằng lòng chấp nhận trả lời cuộc phỏng vấn của nhà phê bình Thụy Khuê trên đài RFI ông mới công khai về giới tính. Câu lạc Bộ Văn Hóa VN Paris mời ông thuyết trình đề tài văn học, những bằng hữu văn nghệ sĩ xa gần đều trân trọng tài năng và ủng hộ tinh thần ông, điều đó đã giúp nhà văn mạnh dạn rũ bỏ mặc cảm giới tính. Ở hải ngoại trong sinh hoạt đời thường và sinh hoạt trong giới văn nghệ, nhà văn Hồ Trờng An thích giao du quen với những nhà văn nữ vì qua họ ông tìm thấy mình có điểm chung, và sự giao thiệp với những người nhưng quanh vẫn bình thường. Nhà văn Hồ Trường An rất chân thành và qúy tình bạn, những ai đã từng quen biết ông ở xa sang thăm Paris ông biết được, dậy sớm lấy xe lửa từ Troyes lên Paris gặp mặt, mời ăn sau đó đón xe lửa trở về. Ông thích làm nghệ thuật và quan niệm  ‘cầu tinh bất cầu đa’ nên viết cẩn thận, mỗi cuốn là một thông điệp gởi gấm. Dù ông sống toàn thời bằng nghề cầm bút và có nhiều tác phẩm bán chạy nhưng vẫn không khá giả tài ch ánh vì thời nay người ta thích đọc trên internet hơn mua sách nên thị trường sách ngày càng ế ẩm ! Nhà văn nặng nợ với chữ nghĩa, là nghiệp dĩ nên Hồ Trường An vẫn đeo đuổi. Khác với những Bạn văn của ông họ đi làm chuyên môn để nuôi nghiệp, riêng ông vẫn miệt mài kiên trì với nghề cầm bút dù chẳng dư giả mà lòng thanh thản. Tim ông chan chứa tình người, tình quê, một tấm lòng bao la nhân ái luôn chia phần của mình làm một chút quà nhỏ gởi về giúp các bạn văn nghệ sĩ khốn khó hơn ở quê nhà. Năm ông 65 tuổi được lãnh tiền già, ông gọi phôn cho tôi sung sướng nói: «Từ đây tôi sẽ viết cho tôi, viết theo những điều mình suy nghĩ và thích !». 

Nhà văn Hồ Trường An cư ngụ ở tỉnh Troyes thuộc vùng Champagne Ardenne, cách Paris 160 Km về hướng Đông Nam. Đây một thành phố cổ nhiều di tích lịch sử thời Phục hưng thuộc văn hóa quốc gia, nhờ sống nơi yên tĩnh nên ông đã dành toàn thì giờ cho sự nghiệp cầm bút để viết báo và viết tiểu thuyết. Nhà văn vốn sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Nho học, có cha là nhà văn Mặc Khải, cô là Thi sĩ Phương Đài và chị ruột là nữ sĩ Nguyễn thị Thụy Vũ, Bà từng đoạt giải văn chương toàn quốc năm 1970 với tác phẩm «Khung Rêu Trắng». Trước năm 1975 hai chị em ông rất được nhà văn Võ Phiến một cây bút thành danh có văn phong trau chuốt thương mến, nhưng Hồ Trường An lại thích khuynh hướng văn chương tiểu thuyết có ngôn ngữ địa phương của nhà văn Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, nhà văn Sơn Nam nên Hồ Trường An bị ảnh hưởng chất miệt vườn Miền Nam chiếm tâm hồn. Do đó văn phong của Hồ Trường An có chút nửa quê nửa tỉnh, câu văn mộc mạc nhưng ý sâu sắc khi diễn tả về một chân dung, một sự vật một cách tỉ mỉ tài tình thắm đầy tình của người dân miệt vườn Miền Nam. Từ cuốn truyện dài Phấn Bướm ấn hành 1986, cuốn Hợp Lưu 1986, Lớp Sóng Phế Hưng 1988 đến nay ông đã xuất bản được gần 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại gồm Truyện Dài, tập Truyện Ngắn, tập Biên Khảo, Ký Sự, Bút Ký và 2 tập thơ: Thiên Đường Tìm Lại (2002), và Vườn Cau quê Ngoại (2003). Nhà văn Hồ Trường An có một trí nhớ rất đặc biệt, ông nhớ tỉ mỉ về một người mà ông chỉ gặp một lần. Năm 2008 ông bị tai biến mạch máu não toàn thân bất động lúc đầu không nói được và trí nhớ cũng quên! Sau một thời gian điều trị trí nhớ của ông được khôi phục và đã dần dần nói được dù rất khó khăn. Từ lúc ông bị bại liệt, nhờ sức mạnh văn chương thúc đẩy đã giúp ông nhiều nghị lực vượt qua những khó khăn bệnh tật để thực hiện được những tác phẩm biên khảo mà chỉ gõ máy bằng một ngón tay, đó là cuốn Núi Cao Vực Thẩm (2012), viết về 9 vóc dáng văn học Việt Nam của Thế Kỷ 2: Nguyễn Ngọc Bích, Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan, Thụy Khuê, Vũ Tiến Lập, Võ Phiến, Đặng Phùng Quân, Trương Anh Thụy, Thanh Tâm Tuyền. Cuốn Ảnh Trường Kịch Giới (2012), ký ức về điện ảnh VN. Cuốn Trên Nẻo Đường nắng Tới (2013): Nhận định văn học về Những khuôn mặt nổi tiếng trong giới văn học trong và ngoài nước như: GS Nguyễn Ngọc Bích, Nhà phê bình văn học Thụy Khuê, Nhà văn Đặng Phùng Quân, Nhà văn Dương Nghiễm Mậu, Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, Nhà văn Vĩnh Hảo, Nhà văn Hàn Song Tường, Họa sĩ Võ Đình, Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng, Nhà văn Nguyễn thị Thụy Vũ.

Ở Pháp có 3 nhà văn một đời yêu văn chương chữ nghĩa dù sức khỏe yếu đuối bệnh tật hoàn cảnh sáng tác rất khó khăn nhưng vẫn miệt mài hoàn thành những tác phẩm cho đời đến lúc lìa đời mới bỏ bút: Nhà văn An Khê chỉ còn một tay, viết văn gõ máy chữ một tay hoàn thành tác phẩm Từ Khám Lớn Tới Côn Đảo (Làng Văn xuất bản 1992; Nhà văn Duyên Anh: bán thân bất toại phải viết bằng tay trái nhưng vẫn đã hoàn thành nhiều tác phẩm tiểu thuyết cũng như âm nhạc đến cuối đời vẫn còn một số tác phẩm vẫn in. Cuốn  Danh Ná  viết ở Sài gòn tháng 7 năm 1982. Cuốn Nhóc Tì Phản Động  viết xong 16 tháng 2 năm 1986, sau khi nhà văn Duyên Anh mất năm 2017 con của ông xuất bản thêm hai cuốn… và còn nhiều tập truyện chưa xuất bản. Nhà văn Hồ Trường An đã cố tập luyện để khắc phục bệnh tật, từ lúc bị bại liệt gõ PC bằng một ngón tay đến ngày cuối đời được thêm một số tác phẩm hơn 30 cuốn, mỗi cuốn mấy trăm trang.                             

Các tác phẩm đã xuất bản :  
Truyện dài: Phấn Bướm (Làng Văn, 1986), Hợp Lưu (Văn Nghệ, 1986), Lớp Sóng Phế Hưng (1988), Lúa Tiêu Ruộng Biền (1989), Ngát Hương Mật Ong (Làng Văn, 1989), Còn Tuôn Mạch Đời (1990), Lối Bướm Đường Hương (1991), Tình Trong Nhung Lụạ (1991), Ngát Thơm Hoa Bưởi Bông Trà (1992), Tình Đẹp Đất Long Hồ (1993), Trang Trại Thần  Tiên (1993),  Vùng

Thôn Trang Diễm Ảo (1994), Thuở Sen Hồng Phượng Thắm (1995), Chân Trời Mộng Đẹp (1995),  Bãi Gió Cồn Trăng (Làng Văn, 1995), Bóng Đèn Tà Nguyệt  (1995), Tình Sen Ý Huệ (1999), Hiền Như Nắng Mới (2001), Chiếc Quạt Tôn Nữ (2002), Màn Nhung Đã Khép (2003), Đàn Trăng Quạt Bướm (Làng Văn, 2005), Trở Lại Bến Thùy Dương (Làng Văn, 2009).

 Tập truyện: Chuyện Quê Nam (Làng Văn, 1991), Tạp Chủng (Làng Văn, 1991), Cõi Ký Ức Trăng Xanh (Làng Văn, 1991), Hội Rẫy Vườn Sông Rạch (1992), Chuyện Miệt Vườn (1992), Đồng Không Mông Quạnh (1994), Gả Thiếp Về Vườn (Làng Văn, 1994), Đêm Xanh Huyền Hoặc (1994), Chuyện Ma Đất Tân Bồi (1998), Tập Truyện Ma (2001), Quà Ngon Đất Quê Nam (2003), Trăng Xanh Bên Trời Huế (Làng Văn, 2009), Truyền Kỳ Trên Quê Nam (Làng Văn, 2009),

Ký sự, Bút khảo, Bút ký
: Giai Thoại Hồng (1988), Thông Điệp Hồng (1990), (Chân Trời Lam Ngọc I (1993), Chân Trời Lam Ngọc II (199(1995), Sàn Gỗ Màn Nhung (1996), Cảo Thơm ( 1998), Theo Chân Những Tiếng Hát (1998), Tác Phẩm Đẹp Của Bạn (2000), Chân Dung Những Tiếng Hát I (2000), Chân Dung Những Tiếng Hát II (2001), Lai Láng Dòng Phù Sa (2001), Thập Thúy Tầm Phương (2001), Chân Dung 10 Nhà Văn Nữ (2002), Tập Diễm Ngưng Huy (2003), Chân Dung Những Tiếng Hát III (2003), Bảy Sắc Cầu Vồng (2004), Giai Thoại Văn Chương (2006), Náo Nức Hội Trăng Rằm (2007), Thắp Nắng Bên Trời (2007), Quê Nam Một Cõi (2007), Giữa Đất Trời Giao Hưởng ( 2008 ), Núi Cao Vực Thẳm ( 2012), Ảnh Trường Kịch Giới ( 2012 ), Trên Nẻo Đường Nắng Tới(2013). Cảo Thơm, Giữa Đất Trời Giao Hưởng, Lần Giở Trước Đèn, Cây Quỳnh Cành Dao, Những Khuôn Mặt Văn Chương…v..v…
Tập thơ: Thiên Đường Tìm Lại (2002), Vườn Cau Quê Ngoại (2003). Cho Tôi Sống Lại Một Ngày.

Từ bao lâu nay người ta tranh cãi về những chuẩn mực trong văn học nghệ thuật giữa cái hay và cái dở. Trong khi đó thích hay không thích chỉ là chủ quan của người đọc. Phần chính yếu của nghệ thuật chính là cảm nhận chủ quan. Ngày nay người làm thơ ngày càng nhiều, đó là điều đáng mừng vì tâm hồn thơ sẽ giúp cho đời thêm hoa bớt đi sự cay đắng. Nữ sĩ Minh Châu GS Thái Hạc Oanh trong Ba Lê Thi Xã, thuộc hoàng phái, cháu của Thi sĩ Tùng Thiện Vương thời quân chủ đặt câu hỏi: “Tại sao có những bài gọi là thơ mà không phải là thơ, văn xuôi khác thơ ở điểm nào?
Có lẽ chưa có một định nghĩa nào chuẩn mực cho thơ nhưng phải chăng một bài viết cẩu thả, viết cho lấy có chỉ dựa vào thể tự do để gọi là “thơ” thì chưa chắc đã là một bài thơ và cũng không thể gọi là văn xuôi? Phải chăng thơ hiện đại và tự do rất gần gũi với văn xuôi? Nhưng làm một bài thơ tự do hay, hoặc một bài thơ hiện đại hay thì rất khó! Nhưng khi đã thành thơ thì bài đó sẽ đặc sắc và độc đáo, một bài thơ hay phải bao gồm mỹ học và ý thơ.

Quan niệm sáng tác của nhà văn Hồ Trường An là sự dựa trên chủ quan, trong cuốn Trên Nẻo Đường Nắng Tới của ông: «Tác phẩm này chỉ rọi sáng một đoạn văn chương… Có thể có nhiều qúy độc giả cho rằng bút gỉa chủ quan trong việc chọn lựa những quyển sách theo cảm quan riêng biệt của mình mà không đếm xỉa đến cảm quan của độc giả và không nghĩ gì đến giá trị đích thực của nghệ thuật. Nhưng biết sao hơn. Bút giả làm chuyện trái ngược với cách cư xử của Tào Mạnh Đức (Tào Tháo). Quan niệm của ông ta thà giết lầm mười người, còn hơn tha lầm một người. Bút giả thì cam chịu ngu si vì tha lầm người gian lẫn người ngay, không cần biết ai gian ai ngay. Hễ những sách nào mà bút giả không ưa thích thì dù được thiên hạ cho là siêu phẩm, tuyệt phẩm đi nữa thì bút giả gia công đọc đi đọc lại để sưu khảo cái tinh hoa của chúng. Còn nói gì những sách mà tác giả hâm mộ thì viết về chúng một cách trơn chu thống khoái.»

Trong một sinh hoạt Văn học Nghệ thuật  do Câu Lạc Bộ Văn Hóa VN Paris tổ chức năm 2004 nhà văn Hồ Trường An thổ lộ tâm tình lúc ông chưa bị bệnh. Hôm đó quy tụ nhiều khuôn mặt nổi tiếng ở Paris và văn thi sĩ Thụy Cầm Dương Huệ Anh từ Cali sang, Nhạc sĩ/GS Lê Mộng Nguyên, Nhạc sĩ Xuân Lôi, Nhạc sĩ Trịnh Hưng, Nhạc sĩ Trọng Lễ,  Nhạc sĩ, DS Nguyễn Đình Tuấn, GS Âm nhạc Quỳnh Hạnh, Nữ sĩ Minh Châu Thái Hạc Oánh, Nữ sĩ Quỳn Liên, Nữ sĩ Thụy Khanh, Nữ sĩ Hà Lan Phương, Học giả/GS Võ Thu Tịnh, Nhà thơ Vân Uyên, GS Nguyễn Văn Ái, Nhà thơ Phương Du BS Nguyễn Bá Hậu, BS Nguyễn Bá  Linh, Nhà Thần học TS Nguyễn Tấn Phước, Nhà Biên Khảo Liều Phong, GS Nguyễn Ngọc Chân, GS Nguyễn Bảo Hưng, Nhà văn/GS Trần Đại Sĩ, Nhà văn Võ Đức Trung, Nhà văn Hồ Trường An, Nhà thơ Đỗ Bình, Danh họa René, Họa sĩ Nguyễn Đức Tăng, Điêu khắc gia Vương Thu Thủy, Nghệ sĩ Diệu Khánh, Nghệ sĩ Linh Chi, Nghệ sĩ Thúy Hằng, Kim Lan. ..vv… Nhà văn Hồ Trường An – tác giả gần 50 đầu sách gồm truyện dài, tiểu thuyết, bút ký, biên khảo, nhận định và phê bình – đã phát biểu như sau:
«Thưa các bậc niên trưởng, và qúy văn hữu: Tôi làm văn nghệ tùy vào cảm hứng vui đâu chuốc đó chứ không nhất định cái gì, nếu cảm thấy hứng là làm. Cần phê bình là phê bình, khi tôi viết về biên khảo  không phải là viết toàn sự nghiệp văn học của tác giả nào, mà viết từng cuốn chứ không dám ôm đồm. Nếu có cảm hứng làm thơ thì làm những bài thơ Đường, vui đâu chuốc đó. Tôi có một đức tính: Nếu ai khen thì cũng mừng, còn ai chê thì cũng ráng chịu trận chứ không một lời nào đính chính trên báo hết. Bởi càng đính chính thì càng làm cho người ta làm dữ! Do đó, ai chê tôi thì chê; ai khen thì mừng tôi không có một phản ứng, thật ra tôi không có buồn, mình làm một món ngon người này ăn thì khen người kia ăn thì chê, kẻ thích mì người thích hủ tíu, còn có người ăn mì ăn hủ tíu nhiều quá lại thích ăn bún riêu. Qúy vị đã đọc qua cuốn biên khảo «Thập Thúy Tầm Phương», gồm có: Nhà thơ Vi Khuê, Nhà thơ Hoàng Ngọc Liên, Nhà thơ Diên Nghị, Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Dung, Nhà văn Bình Huyên, Nhà văn Linh Linh Ngọc, Nhà thơ Phương Triều, Nhà thơ Nguyễn Văn Cường, Nhà thơ Đỗ Bình, Nhà thơ Dư Thị Diễm Buồn. Cuốn biên khảo thứ tư tôi đang viết là cuốn «Tập Diễn Ngưng Huy» trong đó có hai người hiện diện ở đây là anh Võ Đức Trung và chị Thụy Khanh: Tôi xin giải thích cái tựa sách: Tập: kết tập, Diễm là đẹp, Ngưng là ngưng lại, Huy là ánh sáng, ánh sáng ngưng đọng lại tôi rút ra từ Hồng Lâu Mộng chứ không phải do tôi đặt. Tóm lại tôi không có chủ trương gì lớn lao, tôi không có tham vọng. Xin dứt lời.»

Nhà văn Hồ Trường An tâm sự với tôi cho biết trong những tác phẩm đã viết ông chỉ hài lòng ở những tác phẩm là văn chương đích thực, còn một số khác chỉ là truyện kể! Hầu như những người nổi tiếng ở hải ngoại đều được ông viết nhận định, phê bình về tác giả và tác phẩm của họ, nhưng rất ít người viết về ông. Đối với những nhà phê bình văn học chuyên nghiệp để phân tích văn chương, ý tưởng trong tiểu thuyết của ông không quá  khó, nhưng phân tích tỉ mỉ tâm lý nhân vật trong một số truyện của ông lại rất khó, vì bản thân ông có lưỡng tính nên khi diễn tả về những nhân vật nam hay nữ đôi khi có sự lẫn lộn nam tính và nữ tính trong tác phẩm! Nhà văn thừa nhận điều này nhưng lại không cho biết ở những câu đối thoại nào trong tác phẩm. Tối 30 Tết tức ngày 24 tháng 01 năm 2020 nhà văn Hồ Trường An phôn nói chuyện với tôi rất lâu, đây là lần cuối cùng của ông. Điều tôi rất ngạc nhiên giọng nói của ông lần này nghe rất trẻ và rõ ràng vì đã lâu, kể từ khi ông bị bệnh giọng nói trở nên không rõ ! Trong suốt thời gian gian dài nhiều năm ông thường xuyên liên lạc với tôi, có những khi ngày gọi  phôn 2,3 lần để trao đổi những chuyện liên quan đến văn học nghệ thuật. Ông là một thành viên của Câu Lạc Bộ văn Hóa VN Paris, lúc còn khỏe đã nhiều lần ông lên Paris diễn thuyết về đề tài văn học. Trong cuốn Những Khuôn Mặt Văn Hóa Việt Nam Hải Ngoại mà ông là một thành viên trong Ban Biên Tập, lúc đầu ông gởi tham gia những bài của ông đã được in sách và xuất bản về những tác giả Mai Thảo, Trần Long Hồ, Thụy Khuê, bài đã được toàn ban thuận  đưa vào sách. Thế nhưng sau một thời gian ông đã rút lại những bài đó, và đề gởi riêng cho tôi bài Giới Tính Trong Văn Chương, ông nhấn mạnh đây là bài độc đáo, một bài tâm huyết và đắc ý nhất vì nó dám nói lên những điều thuộc giới tính còn húy kỵ trong quan niệm cổ truyền của người Việt.

Ông giã từ cõi đời một cách đột ngột để thả hồn vào một giấc ngủ say. Ông đã rũ bỏ những buồn phiền nhân thế, những nỗi buồn nhớ quê mà suốt đời lưu vong ông chưa một lần trở lại. Giã từ chiếc xe lăn theo áng mây bồng bềnh bay về cõi miên viễn.

Đỗ Bình
Paris 6.2.2020

      Hồ Trường An, tác giả tác phẩm – Nguyễn Mạnh Trinh

Hồ Trường An là một tác giả có sức sáng tác sung mãn và liên tục có mặt trong cả 20 năm văn học miền nam và hơn 30 năm văn học ở hải ngoại. Vừa là nhà văn, nhà thơ, người nhận định văn học và âm nhạc, những tác phẩm phong phú và đa dạng của ông đã tạo thành một vóc dáng tác giả có nhiều cống hiến cho nghệ thuật.

Hơn thế nữa, đời sống thực tế và đời sống văn chương của ông cũng có nhiều chi tiết thú vị. Cũng như giữa tác giả và tác phẩm có nhiều liên hệ đáng chú ý.

Hồ Trường An tên thật là Nguyễn Viết Quang sinh năm 1938 tại Long Ðức Ðông, tỉnh Vĩnh Long và hiện sinh sống từ năm 1977 ở thành phố Troyes, Pháp cho tới bây giờ. Trước năm 1975, ông học Ðại Học Dược khoa nhưng chưa tốt nghiệp và động viên Khóa 26 sĩ quan trừ Bị Thủ Ðức rồi phục vụ tại hai chi khu Trị Tâm và Lái Thiêu thuộc tiểu khu Bình Dương từ năm 1969 đến năm 1971. Sau ông thuyên chuyển về Ban Thông Tin Báo Chí Quân đoàn III tại Biên hòa tới khi mất nước. Trong khoảng thời gian này ông vẫn liên tục tham gia sinh hoạt văn nghệ và là cộng tác viên của nhiều tờ báo xuất bản tại Sài Gòn trước ngày 30 tháng tư năm 1975 như tranh Thủ, Tiền Tuyến, Tin Sách, Bách Khoa, Ttin Văn, Tiểu Thuyết Tuần San, Bút Hoa, Vấn Ðề, Văn Học…

Khi tị nạn tại Pháp, ông từng là Tổng thư ký tòa soạn các tập san Quê Mẹ, Làng Văn và là cộng tác viên của các tạp chí như Văn, Văn học, Thế kỷ 21, Gió Văn, Hợp Lưu, Lửa Việt,…

Ông ký rất nhiều bút hiệu : Ðào Huy Ðán, Ðinh Xuân Thu, Ðông Phương Bảo Ngọc, Hồ Bảo Ngọc, Người Sông Tiền, Nguyễn Thị Cỏ May, Ðoàn Hồng Yến, Ðặng Thị Thanh Nguyệt.

Ông là em ruột của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ và cha ông là nhà thơ Mặc Khải, tác giả của tập thơ Phấn Nội Hương Ðồng.

Ðặc biệt, ông hay tự xưng mình là Bà Già Trầu với những chi tiết khá thú vị. Sau vài tháng khi in truyện dài Lớp Sóng Phế Hưng thì độc giả rất ái mộ vì theo họ, Hồ Trường An đã rất thành công trong việc mô tả đời sống ở nông thôn miền Nam và tặng cho ông cái tên “ Bà Gìa Trầu”. Trong bức thư gửi cho nhà văn Trương Anh Thụy, giám đốc Tủ Sách Cành Nam ông viết: “lúc đầu tôi hơi giận nhưng nghĩ lại đó là cái vinh dự cho đời cầm bút. Vì mình đã xây dựng Bà Già Trầu trong tác phẩm bằng cả tâm cơ nay được độc giả chú ý đến rồi trộn lẫn tác giả vào nhân vật, há không phải là điểm thành công hay sao?”

Có người khác thì cho rằng Hồ Trường An dùng cái biệt danh Bà Già Trầu vì ông viết truyện ngắn “Bà Già Trầu Cảm Khái” hay và sống thực quá nên bạn bè gọi đùa ông và riết rồi ông cũng tự nhận mình với cái tên ấy. Bà già trầu là hình ảnh của một bà già quê mùa chất phác kể lại những “vận sự” của một người tị nạn sống ở Pháp.

Ký giả BT (tức ký mục gia Bùi Bảo Trúc) đã xếp hạng Hồ Trường An trong số báo xuân năm 1988 của tờ Diễn Ðàn Tự Do là “bà già trầu nhất”. Nhà văn Võ Ðình cũng đồng ý. Ðúng vậy. Trong những cây bút gốc Nam hiện nay không thiếu các “bà già trầu”. Chơn chất như Võ Kỳ Ðiền, mạnh mẽ như Nguyễn Văn Sâm, sôi động như Kiệt Tấn, trẻ trung như Ngô Nguyên Dũng… không có cây bút Nam Kỳ nào mà không có ít nhiều cái bóng dáng le te của một “bà già trầu”. Nhưng Hồ Trường An: “bà già trầu” nhất, mặn mà nhất, tía lia nhất, thiệt nhất. Chính ông cũng đã khơi khơi khai ra: “bạn bè tôi ưa chế diễu rằng tôi thưởng thức văn nghệ giống như các bà già trầu, giống các cô sến. Tôi không chối cãi điều đó!”

Hồ Trường An còn có một biệt danh nữa cũng độc đáo không kém là nhà văn miệt vườn. Tác giả Hồ Trường An có văn phong rất đặc biệt của những tác giả miền Nam. Trong văn học Việt Nam có rất nhiều người có văn phong như vậy như bắt đầu bằng Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh rồi đến Phi Vân, Sơn Nam, Lê Xuyên, Bình Nguyên Lộc, Xuân Vũ, Nguyễn Văn Sâm ,.. và sau này ở hải ngoại như Kiệt Tấn, Nguyễn Ðức Lập, Võ Kỳ Ðiền, Nguyễn Tấn Hưng…

Hồ Trường An đã viết nhiều về chân dung nhân vật gốc miền Nam với tính tình và cuộc sống của những người di dân từ vùng ngoài vào khai hoang lập nghiệp. Ông viết tỉ mỉ về lối sống, từ miếng ăn thức uống đến quần áo chưng diện, trong những tiểu thuyết của ông đã phản ánh một cuộc sống với nhiều chi tiết tuy có lúc tỉ mẩn chi ly nhưng thú vị. Nhân vật của ông, từ ngôn ngữ đến vóc dáng, có nét đặc thù khác với các nhà văn miệt vườn khác. Văn phong của ông tràn đầy cảm giác và có người đã nói rằng khi đọc những trang sách của ông người đọc có cảm tưởng đang ăn một miếng mứt me, vừa ngọt vừa chua với cái ê răng thú vị…

Từ truyện dài Phấn Bướm xuất bản năm 1986 tới nay, ông đã trình làng gần 60 tác phẩm thuộc nhiều thể loại gồm 22 truyện dài, 12 tập truyện ngắn, 22 tác phẩm biên khảo nhận định văn học, âm nhạc và chân dung tác giả. Ông còn là thi sĩ với hai tập thơ Thiên Ðuờng Tìm Lại (2002) và Vườn cau Quê Ngoại (2003).

Tác phẩm mới nhất mà ông xuất bản trong năm nay là “Núi Cao Vực Thẳm” chân dung của 9 vóc dáng văn học Việt Nam thế kỷ 20 do nhà xuất bản Tiếng Quê Hương in và phát hành. Mặc dù tháng 11 năm 2008 ông bị stroke đứt mạch máu não bị liệt nửa người mà năm nay vẫn còn cố công in sách. Cầu mong cho ông sớm được bình phục.

Những năm đầu thập niên 80 khi tôi cũng vừa bắt đầu viết lách thì qua tạp chí Làng Văn mà ông là tổng thư ký có liên lạc thư từ với tôi. Thư ông viết khá dài và biểu lộ nhiều tình cảm. Có lần khi nói chuyện bằng điện thoại, tôi than là bị thiếu ngủ mà ông lại tưởng tôi bị mất ngủ nên gửi cho tôi những toa thuốc tàu và cả những món dược thảo để trị bệnh. Tôi phải cải chính là tôi không bị bệnh mất ngủ mà bị thiếu ngủ vì thời gian này tôi vừa đi học vừa đi làm nên không có đủ thời giờ để ngủ. Nhưng dù sao tôi cũng cám ơn lòng tốt của ông đối với bạn bè.

Năm 1982 thì tôi và ông cùng cộng tác với tạp chí Việt Chiến của các anh Ngô Vương Toại, Giang Hữu Tuyên và Nguyễn Ðình Hùng. Có một số báo đăng truyện ngắn “Tím Mồng Tơi” của ông và bài thơ “Mầu Tím Mồng Tơi” của anh Giang Hữu Tuyên. Cả hai bài đều làm tôi thích thú vì cũng có nhiều điều để nói về những dậu mồng tơi này lắm. Ông viết thư hỏi tôi có ý nghĩ gì về bài viết của ông không. Tôi trả lời rằng đã có nhiều người viết về dậu mồng tơi thí dụ như trong thơ Nguyễn Bính chẳng hạn. Nhưng chưa thấy có bài nào tạo cho tôi một cảm giác gần gũi và làm sống lại những ký ức của riêng tôi mà từ lâu tôi đã quên như bài viết của Hồ Trường An và bài thơ của Giang Hữu Tuyên. Cả hai nhắc tôi nhớ lại những ngày khốn khó ở quê nhà, ở trong trại tù cải tạo mà lá mồng tơi là món rau “sang trọng” nhất lúc đó. Và tôi hứng lên hứa với ông là sẽ viết để kể lại bằng bút mực. Ông viết sẽ chờ để đọc. Nhưng tôi hay quên và cũng lười nên thất hứa khiến mấy năm sau gặp lại ông còn trách tôi hứa lèo…

Hồ Trường An là một chân dung nghệ sĩ đa diện. Như là một thi sĩ, ông đã in hai tập thơ và thơ của ông cũng như văn xuôi đầy ắp những tình cảm và với ngôn ngữ thật bình dị nhất là những bài thơ bảy chữ, tuy có phong vị cổ điển nhưng ý tình đơn sơ thành thật. Trong tập thơ: “Vườn Cau Quê Ngoại” ông viết tặng cho những bằng hữu thân thuộc bằng tất cả những thiết tha của tâm cảm mình. Ông viết “Trại Lá Chầm” để tặng cho chị ruột của mình là nhà văn Thụy Vũ để nhớ lại những ngày sống dưới mái lá chầm ở làng Tân Giai tỉnh Vĩnh Long. Ông cũng viết “Khúc Hát Thương Hồ” để tặng hương hồn nhà văn Nguyễn Văn Ba, một người đã thực hiện tuyển tập những cây bút miền Nam và cũng là một nhà văn miệt vườn như ông….

Thơ của ông đầy những bóng dáng của quê xưa của làng cũ. Và đó là nét riêng biệt của ông. Thí dụ như trong bài “Nhớ đất Tiền Giang” tặng nhà thơ Phương Triều:

“.. năm cùng tháng tận trạm thời gian
đánh dấu từng xâu chuỗi mộng tàn
nhưng ngọn tàn đăng vùng ký ức
đưa tôi về viếng đất Tiền Giang.

Hồi chuông kim cổ Vĩnh Tràng ơi
Chùa đất Mỹ Tho nhạt bóng rồi
Trái mận hồng đào xuân thiếu nữ
Như bình minh sáng rực lòng người

Cồn Phụng Cồn Rồng soi bóng nước
Ai qua Rạch Miễu nhớ con đò?
Thương hồ bao mảnh đời xuôi ngược
Thắm mặn ngày xanh đĩa cá kho

Cá úc cá duồng còn béo lắm?
Hến cồn có ngọt tộ canh rau?
Vĩnh Long quà tặng chàng thi sĩ
Trái mận da người dòn ngọt sao…”

Thơ của ông qua những địa danh và những đặc sản địa phương đã nhắc chúng ta đến một quê hương của đồng bằng sông Cửu Long hiền hòa trù phú. Thơ của ông đẹp nhưng lại có người phê bình rằng những hình ảnh ấy quen thuộc quá và đã thành một khuôn sáo thi ca nên thơ của ông chỉ tha thiết một giọng và không có nhiều mới lạ làm bất ngờ người đọc. Mỗi một nhận định như thế đều có những lý lẽ để chứng minh. Tôi chỉ đọc thơ bằng cái cảm của mình và không thích phân tích tìm tòi cái hay cái dở như một nhà phê bình. Tôi đọc thơ Hồ Trường An để nhớ lại những buổi chiều qua bắc Mỹ Thuận của một chuyến vượt biển, lòng nao nao buồn khi nhìn những bè lục bình trôi phăng phăng theo triều nước xanh in bóng mây trời và thấy mình cô đơn xiết bao trong thiên nhiên. Lúc ấy , thời gian và không gian như lắng đọng vào nhau thành một giao hưởng nào ngân nga không dứt trong lòng tôi. Ðọc thơ Hồ Trường An tôi như nghe lại những giao hưởng ấy.

Thơ của ông không chỉ có toàn về ký ức mà còn có nhắc nhở cho hiện tại và tương lai. Trong bài thơ: “Khai từ cho một quyển sách” Hồ Trường An viết:

Bỗng tiếng thổ ngơi xưa nhắn nhủ
trong chiều hoang vắng giữa lòng đêm
Từng phen gục ngã, từng phen chết
xin ngẩng đầu lên hãy đứng lên

Hãy nhớ mảnh ao dòng nước mát
Hãy yêu vườn rộng rẫy xanh tươi
Có nghe vết cháy hồn đau cũ
Ngời vết son trang điểm cuộc đời

Tươi mãi trong lòng bóng khóm tre
Vàng hanh kỷ niệm buổi trưa hè
Ngát thơm ký ức mùa xôi cốm
Sớm nắng còn say lắng tiếng ve.

Nuôi mãi niềm tin qua đất cũ
Ðể còn gốc rễ bám quê hương
Ngẩng đầu thế kỷ huy hoàng đón
Dẫu đã chồn chân mấy chặng đường”

Nuôi mãi niềm tin qua đất cũ/ để còn gốc rễ bám quê hương. Thơ của ông không phải chỉ nhắc mãi những kỷniệm của đời sống đã qua trong qúa khứ. Mà thơ của ông còn hướng về tương lai để tin tưởng vào những chặng đường sắp tới.

Thơ của ông nhắc đến nhiều người thân, gửi đến nhiều thân hữu tâm giao và là những ngôn từ thiết tha thành thật nhất của ông. Hình ảnh gây cho ông nhiều cảm xúc và nhớ thương nhất là hình ảnh của bà ngoại ông, một hình ảnh không bao giớ phai mờ của bài thơ Vườn Cau Quê Mẹ.

Bà ngoại sống lúc thúc trong căn nhà xưa mà hình bóng đã thành quá quen thuộc trong thi ca. Thế mà với tâm cảm đậm đà chứa đựng bên trong, cảnh không còn đơn thuần là cảnh nữa mà gián tiếp phác họa thành môi trường của tình yêu thương của nỗi nhớ mong trong hồn người. Bà quét lá buổi chiều ở hiên ngoài có phải là hành động quét đi ánh trăng trên sân lá như cơn gió quét đi lớp mây giăng của chiều buồn? Vườn cau không phải đáng nhớ từ cái vẻ đẹp và mùi hương mà vườn cau chính là một nhắc nhở đến một cuộc đời của ngoại luôn luôn săn sóc che chở con cháu.

“ vườn cau quê mẹ thời niên thiếu
ươm giữa hồn thơ nét đẹp buồn
ký ức tháng ngày rung bóng lá
thơm hương cau tỏa dưới trăng sương

vườn cau hòa tiếng tim châu thổ
dựng mộ bia sau mái miếu đường
có bóng ma người bao thuở trước
suốt đời bám riết đất quê hương”

Từ tác phẩm đầu tiên in ở hải ngoại, chúng ta có một Hồ Trường An, nhà văn miệt vườn. Thực ra, tôi không thích lắm cái tên “miệt vườn” nghe quê quê làm sao ấy… Nhưng đó lại là một đặc tính rất rõ nét của văn chương Việt Nam ở hải ngoại cũng như một đặc tính khác cũng nổi bật là văn chương nữ giới mà các nhà ghi chép lại văn học sử không thể nào bỏ qua. Có rất nhiều tác giả tự nhận mình là nhà văn miệt vườn và đọc tác phẩm của họ quả thực đã có nhiều tính chất của một đời sống và sinh hoạt khởi đi từ những người di dân đến những nơi đất đai còn hoang vu để xây dựng cuộc sống mới. Tính chất ấy biểu lộ trong nếp sống, trong phong tục, trong ngôn ngữ và cả trong tình cảm, trong tính tình nữa.

Chúng ta hãy bước vào thế giới miệt vườn của nhà văn Hồ Trường An. Trong tất cả các tác phẩm của ông, tác phẩm nào cũng bàng bạc chân dung của một nhà văn miệt vườn.

Tác phẩm đầu tiên mà Hồ Trường An viết và in ở hải ngoại và được tái bản nhiều lần. Ðó là truyện dài Lớp Sóng Phế Hưng. Ông viết truyện này khi văn học Việt Nam ở hải ngoại bắt đầu khởi sắc với sự góp mặt của các cây bút mới thành danh hợp cùng các nhà văn kỳ cựu của 20 năm văn học miền Nam. Hồ Trường An tuy đã làm báo viết thơ truyện từ trước năm 1975 nhưng những tác phẩm đáng chú ý của ông đều là những tác phẩm mà ông viết sau này.

Truyện dài này có bố cục thật đơn sơ. Nhân vật chính là bà Bếp Luông và các con của bà gồm ba gái hai trai. Gia đình này là một gia đình trung lưu sinh sống ở vùng đất Hóc Hỏa, quận Hỏa Lựu, tỉnh Rạch Giá. Mấy người con với danh tính Hai Cường, Ba Kiểm, Tư Diễm, Năm Nhan, Út Biên đều ở tuổi phải dựng vợ gả chồng và bố cục câu chuyện xoay quanh việc gầy dựng hôn nhân của các chàng trai và các cô gái ấy. Họ sống, họ yêu, họ buồn vui, họ thất vọng và họ hy vọng, tất cả chỉ là những chi tiết đời thường nhưng Hồ Trường An đã làm sinh động với bút pháp đặc thù miền Nam. Tả người hay tả cảnh, cái địa phương tính từ ngôn ngữ đến câu chuyện chuyên chở đã làm rõ ràng hơn cái chân chất của người dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Ðời sống dân quê đơn điệu như vậy chắc khó có những chi tiết hấp dẫn người đọc? Nhưng tại sao tác phẩm này lại được hâm mộ đến như thế để cúng xôi chè cho cái tên Bà Già Trầu của Hồ Trường An?

Có một người rất mê văn Hồ Trường An sẽ trả lời cho câu hỏi ấy. Ðó là giáo sư Nguyễn Ngọc Bích. Ông viết: “Muốn đọc Hồ Trường An, ít nhất trong Lớp Sóng Phế Hưng, ta không thể chỉ đọc bằng mắt. Ta còn phải nghe được giọng miền Nam với cách phát âm đặc biệt của nó, với những hình ảnh, những ẩn dụ, ngoa ngôn của nó, mới nghe thì tưởng độc địa ác ôn lắm nhưng đích thực, đôi khi lại bao bọc một tình thương vô bờ. Nói cách khác, đọc Hồ Trường An, ta phải đọc thực sự – từ “đọc” theo nghĩa là có phát âm lên cho đến “đọc” theo nghĩa là đọc giữa hai hàng chữ, đọc được ra cái tâm lý cái tâm cảnh của người đang phát ngôn, đang nói chuyện, đọc được ra cái tình yêu trong lối chửi đổng của người mẹ”. Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đã từ những câu chửi với đầy tính ngoa ngôn nhưng ẩn tàng nhiều tình thương của Bà Bếp Luông khi đề cập đến cậu con trai trưởng của bà là Hai Cường tính tình hay đam mê chuyện gió trăng tình dục,..

Hình như trong tất cả các tác phẩm của ông ông đã xử dụng đối thoại như một phương cách tả tình tả cảnh gián tiếp. Ðối thoại chuyên chở tâm ý của nhân vật và tạo ra nhiều ấn tượng cho người đọc. Những câu chửi, những lời bóng gió, như là gia vị cho một món ăn ngon đã làm đậm đà hơn cho câu chuyện kể. Ðối thoại của ông không có những chữ nghĩa rắc rối mà có khi chỉ là những câu nói thường ngày hay những câu ca dao, những câu tân nhạc , những điệu vọng cổ chen vào. Ðối thoại làm sinh động hơn cái sinh hoạt vốn đã thầm lặng của đời sống dân quê.

Hồ Trường An tả người với con mắt quan sát của người thích cái đẹp và tìm sự sắc sảo trong cái tỉ mỉ nhỏ nhặt. Tả cô gái đang yêu, ông tả luôn cả cách trang sức, cả cách ăn mặc, cách đi đứng, cách nói chuyện. Và như thế vô tình ông đã phác họa một cách gián tiếp tình yêu của nhân vật này. Tả cảnh, ông đã mang tấm lòng của ông để nhìn vào thiên nhiên để cảnh vật vô tình mang theo những tình ý của người. Tôi nghĩ Hồ Trường An là người lạc quan nên ông nhìn cuộc đời bằng sự bình hòa xuề xòa trong phong cách văn chương. Ông rất khác với nhà văn Nguyễn Bá Trạc: uống nước mưa ở Mỹ đắng cả mồm”. Ông ở Pháp nên bằng lòng với giọt mưa châu Âu rơi xuống thành phố Troyes nơi ông cư ngụ một chút mát lòng…

Ông tả cảnh tả người đẹp qúa như vậy có làm cho người đọc thấy sự đơn điệu không trong nghệ thuật của ông?

Tôi nghĩ không có sự đơn điệu, mà trái lại. Thí dụ như về giới tính và ông đã đề cập đến trong truyện dài Hợp Lưu mà nhà văn Võ Phiến đã viết trong bài tựa cho tác phẩm này. Ông viết rất bóng gió nhẹ nhàng:

“ Trong Hợp Lưu thỉnh thoảng gặp một cảnh ái ân, đôi khi là một cảnh ái ân nồng nàn, tôi sắp sửa ngại ngùng thì đã nghe đâu đó lời chị Liên ôn tồn bảo Quế: “Em hãy tìm cái Chân trong Vọng đi (..) Em Chấp trước rồi em ạ,” Tôi bẽn lẽn trở về chỗ nhát gan của mình.

Hồ Trường An không Chấp trước. Anh không ngại các bộ phận thân thể, các hoạt động sinh lý mà người đời kêu là bẩn thỉu. Anh viết về những cái ấy rất tự nhiên, khơi khơi, như viết về chuyện hò hát trên sông, trên rạch, về bướm bay chim hót trong vườn. Anh không xem cái gì là bẩn thỉu, cái gì là trong sạch cao quí. Ðã chấp nhận được cái xấu lẫn cái tốt, cái ác lẫn cái thiện, chấp nhận đồng hóa ta với người, cởi mở vui vẻ… thì nghiệt ngã làm chi với chính thân xác của mình? Dù cho cái thân xác ấy có những lúc nhiễu sự đòi hỏi lắm trò..”

Có phải Hồ Trường An là người đồng giới tính? Trong cuộc phỏng vấn của nhà văn Lưu Diệu Vân trên trang mạng Da Màu, Hồ Trường An đã trả lời rất thành thực về giới tính của mình. Ông tâm sự:

“Cô Vân, tôi chấp nhận cuộc phỏng vấn này là một lời tự thú trong buổi tàn thu của cuộc đời. Tôi đã vào tuổi thất tuần rồi, cô ơi! Mỗi đêm, trước khi đi ngủ tôi luôn luôn tự hỏi: sáng mai mình có thức dậy được không đây? Hay là mình phải làm một chuyến đi tàu suốt vào giấc ngủ miên viễn? Vậy tại sao mình lại giấu diếm cái bí mật trong cuộc sống tình cảm lẫn tình dục của mình? Chấp nhận cuộc phỏng vấn của cô, tôi muốn cho lớp thế hệ bọn « gay » sau tôi một vài kiến thức hay một vài kinh nghiệm nho nhỏ nào chăng?

Vào những năm đầu của thập niên 80, tiết lộ giới tính và khuynh hướng tình dục của mình là một hành động can đảm. Hồi đầu thập niên 60, tôi chỉ tiết lộ thân phận mình cho chị Thụy Vũ của tôi cùng một số bạn thân. Bắt đầu năm 1980 tôi có người yêu là dân Pháp chính gốc, tôi ngang nhiên sống chung với đương sự tới nay kể ra cũng đã 30 năm. Một phần là tôi tức giận tên Thi Vũ Võ Văn Ái (nhà báo/ nhà thơ) nó nỡ đem tâm sự của tôi đi bán rao tùm lum tà la. Cho nên từ đó, khi đi dự các cuộc tiếp tân nào trong giới văn nghệ sĩ kiều bào ở Paris tôi cũng dắt người bạn lòng của tôi theo. Ðương sự nhỏ hơn tôi 9 tuổi nhưng cái tác của hắn lớn hơn tôi khá nhiều.”

Tác phẩm Hợp Lưu có phải là tác phẩm viết về những người đồng tính? Ông viết: “Năm 1983, tôi tung ra quyển Hợp Lưu trong đó có nhân vật gay tên Quế phản ảnh đôi chút tâm trạng của tôi. Trước tôi vào năm 1967, bạn tôi tên Ðỗ Quế Lâm có viết tiểu thuyết tự truyện có tựa là “Vết Hằn Rướm Máu” do chính chị Thụy Vũ tôi viết lời tựa. Sau đó ở hải ngoại vào năm 1979 thằng bạn khác của tôi tên Lucien Trọng, một kỹ sư thủy lâm có viết quyển “L’Enfer Rouge, Mon Amour” do Seuil xuất bản. Sau đó nó dịch ra “Hỏa Ngục Ðỏ, Mối Tình Tôi” kể lại mối tình của nó với một chàng trai bụi đời tên Hải trong thời gian hai đứa bị Cộng Sản giam cầm. Ðúng như cô Vân nghĩ, hình như những cây bút gay như Ðỗ Quế Lâm và Lucien Trọng không dám diễn tả huỵch tẹt như Hồ Trường An, không mô tả cuộc làm tình tỉ mỉ và tới nơi tới chốn như Hồ Trường An. Tôi diễn tả chuyện giao hợp giữa cậu trai Việt và anh chàng gay quý tộc Pháp khá táo bạo và khá đậm đà. Chính nữ ca sĩ Quỳnh Giao thuở thập niên 1980 bảo rằng đây là quyển sách mà Quỳnh Giao thích. Song song cũng có nhiều độc giả chửi tôi khá nặng. Họ gọi điện thoại xài xể anh Mai Thảo vốn là người chủ trương tờ tập san văn chương Văn tại sao có thể đăng từng kỳ những chương sách dơ dáy nhớp nhúa của quyển Hợp Lưu?”

Không những Hồ Trường An ngoài viết truyện làm thơ còn viết nhận định về văn học và những ký sự phác họa chân dung các tác giả trong văn học Việt Nam rất sinh động đầy chất sống thực. Ông đã phác họa những chân dung văn học như một cách thế làm sống lại một thời kỳ văn học đã qua nhưng để lại nhiều giai thoại nhiều kỷ niệm. Thí dụ như đã viết Giai Thoại Hồng để kể cho những người không biết tò mò đọc và tìm kiếm một cách thích thú những điều sẽ biết về những nhà văn nữ thí dụ như cách ăn quà vặt và đấu láo với nhà thơ Hoàng Hương Trang hay tổ ấm tình yêu một thời của nữ thi sĩ Tuệ Mai và “ông đạo” Phạm Thiên Thư hay phong cách nho phong sang cả của nhà thơ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội và nhà văn Ðông Hồ. Dù là người ở trong văn giới hay không nhưng cảm giác làm người khách lạ sẽ có khi giở những trang sách. Một thế giới có nhiều mới lạ.

Tâm tư của ông thế nào khi viết ký sự văn học Giai Thoại Hồng?

Ông viết: “Trong lứa tuổi mùa thu cuộc đời tôi sẽ vẽ từng tấm chân dung các nhà văn nhà thơ nữ kèm theo những cuộc hôn nhân, những giai thoại của họ. Ðó là những điều mà tự thuở hoa niên tươi thắm của tôi thêm phì nhiêu, trái tim tôi chan hòa những cảm hứng trong mát kỳ diệu.

Theo ngón tay lật, từng trang hai quyển album phơi bày những tấm ảnh của nhiều nhà văn nữ. Tôi thấy rồi, qua khóe mắt qua nụ cười qua nét môi họ những giai thoại đẹp của họ đã được tôi đưa lên một vài trang sách báo, đã gợi óc tò mò cho độc giả và đã đóng góp vào tư liệu, tài liệu văn học dù nhỏ nhoi ít ỏi vẫn là một đóng góp chân thành vào các giai đoạn văn chương nào phải buổi bình thời này”

Năm nay , 2011, nhà văn Hồ Trường An có xuất bản một tác phẩm mới:Ðó là tác phẩm nhan đề Núi Cao Vực Thẳm do nhà xuất bản Tiếng Quê Hương của nhà văn Uyên Thao và Trần Phong Vũ chủ trương.

Nội dung là viết về tác giả và tác phẩm của 9 khuôn mặt văn học: Nguyễn Ngọc Bích, Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan, Thụy Khuê, Vũ Tiến Lập, Võ Phiến, Ðặng Phùng Quân, Trương Anh Thụy và Thanh Tâm Tuyền.

Nhà phê bình Uyên Thao trong bài tựa viết:

“Từ đây, khoảng trống đáng buồn trong sinh hoạt văn học nghệ thuật và cuộc sống Việt Nam càng như mỗi lúc một càng mở lớn hơn để sẽ mang thêm về nhiều nỗi đau đớn theo ngày tháng. Khi viết tác phẩm Núi Cao Vực Thẳm có thể chính Hồ Trường An không hề nghĩ về khoảng trống bi thảm trên của sinh hoạt văn học nghệ thuật cũng như thực tế đời sống Việt Nam. Hồ Trường An chỉ đến với một số tác giả đã hoặc đang góp mặt trong sinh hoạt văn học nghệ thuật Việt Nam, chính xác hơn là chỉ dừng lại với một số tác phẩm của 9 tác giả Việt Nam và ghi lại những cảm xúc cùng phát kiến khởi từ các tác phẩm đối diện. Hồ Trường An không phác họa chân dung cho những tác giả được nhắc tới không làm công việc của nhà phê bình văn học hay của người ghi chép văn học sử kể cả khi tán thưởng hay bất bình vớiđiều bắt gặp nơi một tác phẩm nào đó. Sẽ không lầm khi nói rằng Hồ Trường An chỉ diễn tả cảm nghĩ của người thưởng ngoạn và đôi khi bước xa một chút bày tỏ nhận định hoàn toàn chủ quan đối với tác giả qua tác phẩm đang đối diện..”

Riêng cảm nghĩ của tôi. Tôi nghĩ mỗi một người đọc sẽ soi bóng chính mình qua những trang sách đang giở. Ðọc được những lời chủ quan mà thành thực của tác giả, tôi dễ dàng có những liên tưởng xa hơn khởi đi từ trang sách…

Nguyễn Mạnh Trinh

 Ðọc Hồ Trường An

[Thiên đường tìm lại]

Ngủ. chìm khuôn mặt. trẻ thơ
cơn mộng thắm đâu giữa mùa xanh non
đánh thức mắt môi
chín ròn
trái. xui cắn ngập bờ son điệp trùng
diễmdiễm
ngày êm tơ nhung
hồng tươi bông nhũ
ngập ngừng. cánh. nâng
vườn ngọ
hoa cỏ phật phần
rướn sâu chồi biếc
tràn ân sủng
đời
mộng nằm
khuôn rập đưa thoi
nhịp nghiêng hư hảo
ngọa đồi trăng
mê.

8/2002

[Lục Bát Hoàng Xuân Sơn
Thư Ấn Quán 2004]

 
Hồ trường trăng vẫn xanh

[gởi An]

và ký ức mở ra
lòng bát ngát cõi trăng xanh
dòng sông đêm vườn hương dìu dặt
như thinh. như ru
những hạt sương lá ướt mặt thềm
ngây say triệu chấm sao trên trời hát kinh ngọc nữ
bản đàn chùng xuống thẳm sâu
người và đêm trôi về một xứ

cát đá
bàn tay thổi nhiệm mầu
những móng sắc linh thần cào sướt
nức nở hoan cầm giọt châu
sống lại hết một mùa thương tưởng
gió choàng vai lên dịu hiền
ồ tiếng hát xanh như nguyệt
nguồn yêu thương đã trở về
trở
về

bức tranh đầy tuổi
nhớ
cuộc di hành tháng ngày mông lung
hiện ra khung đời rực rỡ
đêm bội hương
trầm mặc vô cùng

[THƠ QUỲNH,
T.Vấn&Bạn Hữu 2017
Văn Học Mới 2018]

Hoàng Xuân Sơn

                                    Bà Già Trầu Cảm Khái
              Hồ Trường An – trích trong tập truyện « GẢ THIẾP VỀ VƯỜN »

Mèn ơi, lẩm rẩm tui ở Xóm Gà được ba năm rồi đó chị Tám. Thời buổi giặc giã, dân quê kéo nhau ra thành phố mỗi lúc một đông. Xóm Gà bởi đó mà nhà cửa mọc thêm nhiều.

Thú thiệt với chị Tám, cũng bởi tui thương hai đứa cháu nên tui đành đoạn bỏ nhà bỏ cửa đi theo tụi nó. Ở đây, đêm đêm tui nhớ xóm quê, vườn nhà, nhớ mấy cây cau Bà Ðiểm, mấy nọc trầu vàng mà ứa nước mắt. Thiệt tình, trầu cau do mình chăm nom, bón gốc, tưới mát hằng ngày mình ăn mới ngon. Ðằng nầy cứ mỗi tuần, tui lặn lội ra chợ Bà Chiểu để mua trầu cau vôi thuốc. Tui mất cái thú đêm nằm trong buồng lắng chừng mùi hương cau từ cửa sổ lọt vào tận lá mùng. Tui hết còn dịp tự tay ra sân hái lá trầu xếp từng ốp vào khay, tui đâu còn được bổ cau từng miếng bày trong những cái sàng rồi đợi nắng tốt đem phơi hoặc vào những ngày mưa dầm, quạt than cho đỏ sấy cau, để dành ăn lai rai.

Như chị biết, thằng con trai tui năm 45 bỏ nhà theo Việt Minh, rồi tới năm 53 nó đành đoạn theo « mấy ổng » đi tập kết. Con dâu tui nổi sùng giao hai đứa con nó cho tui rồi bỏ lên Lèo lấy chồng khác. Tui lo làm vườn, làm rẫy nuôi hai con cháu còn cha mẹ đầy đủ mà hoá ra côi cút kia. Nhờ trời thương Phật độ, tụi nó mạnh cùi cụi, lớn mau như thổi.

Con chị Ngọc Hạnh thôi học sớm để đi làm sở Mỹ. Chỉ có con em Ngọc Hiền thì còn đi học năm thứ nhứt đại học Sư phạm. Chèn ơi, Mỹ đang rục rịch muốn rút về nước nên con Ngọc Hạnh lo lắm. Nó lo kiếm thằng chồng Mỹ để nương dựa. Nó nói:

– Thằng Ðít (Dick) muốn cưới con. Con qua Mỹ rồi sẽ lo giấy tờ rước nội và con Hiền qua luôn.

Mẹt mẻ ông bà ông vải, tiên nhơn tổ đường ơi! Mỗi tiếng nói của nó là một phát súng cà nông nã vào đầu tui làm tui xây xẩm tối tăm mặt mũi. Chị nghĩ coi, hồi nó mới đẻ, má nó đi buôn bán giao nó cho tui. Tui nuôi cháu bằng sữa Con Chim, sữa bột chớ tui đâu có nuôi nó bằng máu hoè mà nó ngu dại đòi lấy cái thứ râu rìa, mắt mèo, mũi lõ đó! Tui rống lên khóc. Con Ngọc Hiền cũng khóc theo. Xời ơi, con Ngọc Hạnh mọc lông mọc cánh rồi, đủ vi đủ kỳ rồi nên nó muốn bay bổng, lội xa ra mái nhà của nội nó. Tui biết lỗ tai nó điếc rồi, đâu có để lời than van khóc lóc của tui lọt vô…

Vậy mà rồi tui cũng đến nhà thờ Tin Lành để dự đám cưới con cháu nội bất hiếu của tui. Tên thằng cháu rể Phiên bang Rít-sa (Richard) gì đó, vậy mà sao bạn bè cùng con vợ nó lại Ðít hổng biết! Con Ngọc Hạnh cũng đổi tên MỹOăn-đa (Wanda) nghe kỳ hết sức.

Con Oăn-đa Ngọc Hạnh tùng phu về xứ Huê kỳ để lại cho bà nội nó 20 lượng vàng làm vốn nuôi em. Tui nai lưng bán sinh tố, lưng mỏi, mình rêm mà nào dám bỏ phế việc bán buôn.

Con Ngọc Hiền lớn lên coi bộ có duyên và mướt hơn con chị của nó. Nó lên năm thứ ba rồi sanh sứa theo bọn sinh viên phản chiến trong trường, nay đi họp mai đi quay truyền đơn biểu ngữ, có khi gần tới giờ giới nghiêm mới chịu về nhà. Tui lui cui hâm cơm canh cho nó ăn rồi rút vô bưồng, cứ nghĩ tới đường kia nỗi nọ mà ứa nước mắt.

Con Ngọc Hiền coi bộ nghiêm trang, cười không hở răng vậy mà có cặp mắt mời trai chị Tám à! Chòm xóm nói nó trinh không ra trinh, dâm không ra dâm, chém chết cung mạng nó không có sao Ðào Hoa thì cũng có sao Hồng Loan chiếu chi đây nên tui lo lắm chị Tám! Lo nó giống như con Ngọc Hạnh, lấy một tên Phiên tặc to lớn dình dàng thì chết tui.

Nhắc tới con Ngọc Hạnh tui càng thêm thương, thêm buồn không cầm được nước mắt. Dẫu cỏn nỡ bỏ bà nội và em để theo thằng chồng Phiên tặc về nước, dẫu nó chê tên cha mẹ đặt cho, lấy tên Mỹ mẽo chăng nữa, nhưng nó gởi tiền, gởi quà về cho tui đều đều. Chèn ơi, mỗi bức thơ gởi về Xóm Gà là nó than thở nhớ nhà, nó rống nó kêu chỗ nó ở nào là mùa đông tuyết ngập tới gối, mùa hè thì nóng như cái lò bát quái luyện linh đơn và ẩm ướt làm cho da thịt nó nhơn nhớt như bôi keo. Nó chụp hình màu gởi về. Tui dụi mắt mấy lượt, vái trời mình thấy lộn, để khi nhìn lại sẽ thấy con cháu nội cưng của mình bận áo dài. Nhưng mà không. Con nầy đâu còn là Ngọc Hạnh nữa, nó là Oăn-đa rồi mà.

° ° °

Chị Tám, tui coi bộ thời cuộc găng dữ đa chị. Ỏ ngoại ô thì bom đạm tơi bời, pháo kích ầm ĩ; ở thành thị thì biểu tình tùm lum. Ðó đây, truyền đơn bươm bướm phơi xác đầy đường, lâu lâu đạn cay ứ nghẹt từng góc phố góc đường. Con Ngọc Hiền vắng nhà hà rầm. Tui già cả, quê mùa bù trất chuyện thời cuộc nên cứ lo thủ phận mần ăn.

Một buổi chiều nọ, con Ngọc Hiền thỏ thẻ:

– Nội à, có một anh sinh viên trường quân y để ý thương con. Mai sau, ảnh ra làm bác sĩ, vinh diệu vô cùng..

Tui mừng quýnh, nghĩ rằng nhờ phước đức ông bà, nhờ mồ mả tổ tiên nên có người đàng hoàng tử tế đòi cưới nó. Thằng sinh viên trường quân y kia là dân Bắc kỳ di cư, mặt mày coi phải thế thanh niên, ăn nói mềm mỏng, nhỏ nhẹ, hễ mở miệng ra là thưa cụ, đóng miệng lại là kính cụ, thấy thương hết sức! Tui mới hỏi con cháu nội:

– Mầy gặp nó ở đâu? Dịp nào?

Con Ngọc Hiền cười chúm chím, cặp mắt ướt rượt coi giống mấy con đào thủ vai Phàn Lê Huê, Mộc Quế Anh, Ðoàn Hồng Ngọc…thứ gái được vua chúa, cha mẹ, bà thầy thánh mẫu nuôi cho nên vai nên vóc rồi trở mặt phủi ơn để theo trai nước cừu địch…Sao tui ghét mấy con lủng đó quá trời!

Gạn hỏi hoài tui mới rõ con cháu nội tui trời biển lắm đó chị Tám! Té ra phản chiến gì nó! Họp hành, xuống đường, dự đêm không ngủ là nó cốt tìm dịp kiếm chồng. Con nầy khôn trật đời! Tuy tui có bần dùn về kiểu kiếm chồng dị hụ đó, nhưng nghĩ tới thằng cháu rể mai sau làm bác sĩ quân y là tui mát dạ mát gan. Rồi tui đâm ra hối hận. Trước kia, khi thấy cỏn cùng lũ bạn gái dượt mấy bản phản chiến là tui tức mình tức mẩy, nóng phổi, ngứa gan. Có lần tụi nó xúm lại đờn địch rầm rĩ rồi cất giọng eo éo:

Máu ai đây?

Xác của ai?

Giòng máu này là bạn?

Thây ma nào là thù?

Ô hay chỉ là người,

Cùng tiếng nói Việt Nam…

Chu choa ơi, tụi nó hát tới hát lui, dượt đi dượt lại làm mụ già trầu nầy bắt thuộc lòng. Tui ghét quá, phang mạnh: « Máu của con nào thì con đó biết. Mỗi tháng bây biết đều đều, khéo làm bộ hỏi nhau rằng máu ai đây? » khiến tụi nó mắc cỡ, xẻn lẻn giải tán…

Thôi từ đây tui cũng nhẹ thở. Rồi đây con Ngọc Hiền sẽ làm bác sĩ phu nhơn. Tui ra sức o bế thằng hổ bôn tiểu tặc Bắc kỳ. Tui nấu suông đặc ngừ tôm quết nhuyễn đỏ ối. Tui đổ bánh xèo, nhưn bánh đầy tôm thịt, nấm rơm. Tui nấu canh chua cá bông lau với khóm, tui lựa cá rô mề để kho tộ, tui nấu cơm gạo nanh chồn, thơm ngát xóm trên lừng xóm dưới…Tiểu tướng Bắc kỳ chắc lưỡi hít hà khen ngợi làm tui mát bụng, lá gan nở bự như cái quạt, xả thân mẹo dậu kho nấu chiên xào cho thẳng.

Sau đám hỏi, con Ngọc Hiền chí thú học hành nên tốt nghiệp đại học Sư phạm, đi dạy tại một trường trung học bên Phú Lâm. Có nghề nghiệp trong tay, được một ý trung nhơn tốt mã, con cháu nội tui yêu đời lắm nên cứ chót chét véo von tối ngày. Sáng sáng nó theo bài hát mở đầu chương trình gia binh phát thanh, rống lên: « Mừng cho đôi uyên ương, sống vui vầy trăm năm hạnh phúc… » Hay quá! Chẳng những con Ngọc Hiền hát ra tiếng mà tui đây cũng hát thầm để chúc cho con Oăn-đa Ngọc Hạnh lỡ lấy thằng Ðít thì lấy luôn, đừng lạng quạng mà gặp cảnh ba chìm bảy nổi; cho con Ngọc Hiền sẽ được thằng chồng Bắc kỳ tưng tiu, không ép vợ ăn rau muống, không mời vợ xực mắm tôm mà chỉ khuyên vợ chơi năm ba chân hụi. Có vậy nếp nhà mới không bại xuội, vợ chồng mới thuận thảo đề huề.

Vậy mà gần tới ngày đám cưới, không hiểu mắc mớ gì mà con Ngọc Hiền cứ ong ỏng ca: « Giờ thì cũng yêu mà yêu với chồng… » hoặc « Thôi hết rồi, em đã về vui với người, ta xa nhau rồi » khiến tui phải la:

– Con nhà tử tế thì phải hát bản vui tươi, lời nhạc có đạo lý, lẽ đâu tối ngày mầy lại nghêu ngao mấy bài ôn dịch nghe mà xuội bại tứ chi, bủn rủn tâm trí đó!

Rồi đó tui nhận được thơ của con Oăn-đa than thở kêu nhớ nhà, chung quanh không có kẻ đồng chủng. Linh tính của tui sao mà nhạy, coi vèo con quỉ đó hết mê Ðít mê Khu rồi chị ơi! Nó muốn nhảy lăng ba vi bộ gì đây!

Thơ trước vừa nằm trong ngăn tủ kéo chưa đầy một tháng thì thơ sau tới, con Oăn-đa báo tin nó vừa kết hôn với thằng Mỹ khác, lớn tuổi hơn thằng Ðít nhưng là bác sĩ có phòng mạch. Thì ra, khi viết thơ trước, cỏn đã lôi thằng Ðít ra toà xé giấy hôn thú từ bốn tháng trước. Thằng chồng mới của nó tên là Uy-li-âm mà nó biểu kêu là Biêu cho gọn. Thiệt tui xẩu mình con cháu lớn nầy quá trời quá đất. Nó hết dại nầy sang dại khác. A thần phù lấy Mỹ là đã trét tro trét bùn lên mặt tui. Lỡ lấy rồi còn không chịu ăn đời ở kiếp với chồng lại ôm cầm sang thuyền khác làm tui thêm nhục.

Tấm hình chụp hôm con Oăn-đa Ngọc Hạnh tái hôn ngó mà ớn óc. Nó bận áo voan, ôm bó bông hường liếc qua thằng chồng mới tóc vàng như rơm khô, mắt xanh lè như mắt mèo. Chèn ơi, bởi cặp mắt với nụ cười đó mà đờn ông chịu khiếp phục để nó vo tròn bóp mép đó đa!

Hồi trước, khi thằng con trai tui dắt con vợ nó ôm bụng chửa chình ình về trình diện tui, thấy cặp mắt con đó là tui bủn rủn, bàng hoàng rồi. Gái mà có cặp mắt đó đâu có đợi đàng trai cầm trầu cầm cau cười hỏi. Nó thấy trai là xáp vô bày bát quái trận hoặc mê hồn trận để chim trai. Nó vác bụng chửa về nhà chồng dẫu không cưới hỏi mà không hề ngại ngùng, hỗ thẹn. Con Ngọc Hạnh với con Ngọc Hiền lựa nét lẵng của mẹ tụi nó mà giống. Con Ngọc Hạnh lựa hai, giống má nó cả cặp mắt lẫn nụ cười; con Ngọc Hiền đỡ hơn, chỉ giống má nó ở cặp mắt. Thiệt tình, con chị đi trước nêu toàn gương xấu nên tui chỉ còn kỳ vọng ở con em.

° ° °

Chị Tám, chèn đét ơi, ai mà dè chị em mình có ngày sống trên đất Mỹ rộng minh mông nầy? Chị ở Tây Nam, tui theo lũ cháu ở Ðông Bắc. Tui đâu có dè tụi Cộng sản nuốt trộng miền Nam rùm rụp vậy! Vợ chồng con Ngọc Hiền bắt đủ mọi đường dây để lánh nạn quỉ đỏ, đuơng thèm lo lắng cho tui. Bửa 30 tháng 4, tui ra bến tàu kiếm tụi nó, lòng chết điếng. Rồi tui bị lớp sóng người đẩy văng tuốt lên cầu tàu. Tui la, tui khóc, muốn tháo lộn trở lại mà không được. Tàu rời bến, tui hét lên chết giấc.

Khi tới đảo Gam (Guam), tui bật ngửa ra, gặp con Ngọc Hiền có mặt ở đó trong lớp người di tản. Thì ra trong lúc quính quáng, nó chợt nhớ tới thằng mèo cũ vốn là sĩ quan hải quân làm trong phòng tâm lý chiến ở căn cứ Bạch Ðằng, nên xin tháp tùng theo, nỡ bỏ chồng lại.

Nó ỏn ẻn hứa hẹn:

– Qua Mỹ, con sẽ cố sức vận động để đem chồng con qua.

Miệng nói nhỏ nhẹ mà cặp mắt ướt rượt của nó rà qua thằng hải quân! Thằng nầy cao lớn, trắng trẻo mắt sáng mày thanh, ria mép tỉa mỏn, coi bộ sáng hơn thằng cháu rể Bắc kỳ của tui. Chị Tám ơi, cặp mắt ướt rượt kia đã dắt con mẹ tụi nó đi xa, qua tuốt bên Lèo, đẩy con Ngọc Hạnh mới chưa đầy bốn năm từ vòng tay thằng Ðít tới thằng Biêu. Rồi cũng cặp mắt đó theo thời cuộc, đẩy con Ngọc Hiền vào cảnh thay chồng, quên nghĩa tào khang.

Trời ơi, ngay trên đảo, con Ngọc Hiền đã bỏ bê tui, đánh đôi đánh đọ với đủ thứ đàn ông, vầy cuộc đờn ca hát xướng. Con cháu nội tui đó, tuy giọng nó không chát không chua nhưng lên cao thì tét, xuống trầm thì nghẹt, vậy mà mơ làm ca sĩ. Nó hăm he hễ đặt chơn tới Mỹ là đi tìm thầy luyện giọng. Cũng trong thời gian hai bà cháu ở đảo, con Ngọc Hạnh lo làm giấy để rước bà nội và em về thủ đô Hoa Thịnh Ðốn.

Thiệt tình tui tưởng dù có đánh đôi đánh đọ hát xướng với bọn đờn ông, con Ngọc Hiền vẫn là của riêng của thằng hải quân nọ. Ai dè một bữa nọ, nó đem một tên mập mạp rậm râu sâu mắt tới giới thiệu:

– Thưa nội, anh Hát đây trước kia là giám đốc trung tâm băng nhạc Sơn Ca và cũng là nhạc sĩ. Ảnh muốn cưới con…

Tui bợ ngợ:

– Còn thằng chồng mầy kẹt bên nhà thì sao?

Nó cười gằn, mắt đổ hung quang:

– Hôm nay con xin thú thiệt với nội. Thằng chồng Bắc kỳ của con, trước ngày mất nước một tuần nó đã tò vè được con ông chủ tàu đánh cá ở Phú Quốc. Thằng con trai ổng cũng là sĩ quan hải quân tại đó. Chồng con chịu đi theo gia đình ông ta, bỏ con ở lại.

Nó trình cho tui coi bức thư tạ lỗi vợ của thằng cháu nội rể trời đánh kia.

Khi tên rậm râu sâu mắt đi khỏi, tôi mới hỏi:

– Còn ông quan ba hải quân thì sao đây?

Ngọc Hiền cười cười:

– Thì vẫn là bạn bè. Ảnh có vợ rồi. Vợ ảnh quốc tịch Pháp. Từ hai năm rồi bả qua Pháp để trị bịnh suy nhược thần kinh. Bả có viết thơ nói sẽ làm giấy bảo lãnh ảnh qua Pháp.

Hứ! bạn bè gì kỳ cục vậy? Từ hôm qua đảo tới lúc dẫn tên cựu giám đốc trung tâm băng nhạc tới trình diện tui, con Ngọc Hiền ở miết trong lều tên đại úy hải quân. À, thì ra nó đền ơn đáp nghĩa ân nhân và trả đũa thằng chồng bạc bẽo của nó bằng cách đó! Tui khờ khạo lắm chị Tám à. Thời cuộc dồn dập xảy tới tui trở tay không kịp. Trên đảo thiếu thốn tiện nghi, vừa nhớ nước nhớ nhà lại vừa khốn đốn thói đi ngang về tắt của con cháu đàng điếm khiến tui tê điếng, không biết tính sao nữa. Những ngày đầu tui thèm trầu cau muốn khóc, riết rồi cũng quen. Ðêm đêm dưới mái lều, tui trằn trọc. Ðời bà già đã gần 70 bỏ xứ ra đi, còn hy vọng gì? Bỏ làng quê một lần, bỏ xứ thêm một lần nữa, tấm lòng đã hao hớt hơn phân nửa. Chong mắt nhìn hai con cháu ăn ở trái luân thường đạo lý, tui không hiểu mình còn dựa điều gì mà sống đây? Ánh trăng mờ sương bên ngoài lọt kẽ lều đến chỗ tui nằm, đưa tui vào giấc chiêm bao có những cây cau phơi bẹ xạm nắng, những nọc trầu lá ửng lấp lánh dưới trăng. Từ vườn cau, vườn trầu, tui gặp lại biết bao nhiêu khuôn mặt bà con chòm xóm ở quê nhà. Tui thấy lại những chiếc lu, khạp bể liệng dưới gốc cây da che mát miếu thổ địa. Tui thấy cảnh chợ quê, duới bến chợ ghe lúa, ghe khoai, ghe mắm đậu lển nghển. Ðặc biệt nhứt là chiếc ghe chở đồ gốm như lu hũ, cà ràng, hoả lò, nồi ơ, chén dĩa…

° ° °

Con Ngọc Hạnh bảo lãnh bà nội và em về thủ đô Hoa Thạnh Ðốn. Nó dọn cho tụi tui một căn ở dưới từng trệt, lúc đầu tui cứ gọi là tầng địa huyệt. Từng đó cũng đầy đủ tiện nghi, có cầu tiêu nhà tắm, có chỗ phơi quần áo. Nó còn mua cho tui ba cái lồng chim, mỗi lồng nhốt bốn con cùng giống, véo von cho vui nhà.

Tui quên cho chị hay, bữa đón tui và con Ngọc Hiền ở sân bay, con Ngọc Hạnh có mang theo hai thằng cả chồng mới lẫn chồng cũ. Ðít, Biêu có vẻ thuận thảo lắm. Con Ngọc Hạnh đứng giữa hai thằng Mỹ, vóc nó nhỏ thó khác nào con gà tre đứng giữa hai con gà cồ. Con quỉ sống nầy bày cảnh gia đình ông Táo sao chớ! Thằng Ðít cứ xà quần theo con Ngọc Hiền, còn cỏn thì như nhồng lột lưỡi, nói thôi tía lia.

Mỗi ngày con Ngọc Hiền và tui lụm cụm leo ba bực thang để lên nhà bếp nấu ăn cho vợ chồng thằng Biêu. Nhưng tui phải làm theo chỉ thị của con Ngọc Hạnh là không được kho thịt cá vì mùi nước mắm sẽ thấm vào thảm, vào màn cửa. Thằng Biêu mê chả giò, tôm lăn bột chiên, gỏi gà, cà ri…Nó kêu tui bằng « gờ-răng-ni » (granny) coi bộ cũng tử tế. Tui tuy 68 tuổi rồi nhưng nhờ vận động nhiều nên tay chơn cứng cáp, làm bếp còn sõi lắm. Qua xứ nầy, coi bộ con Ngọc Hiền khó làm bà, bởi đó tui khuyên nó tập làm bếp. Nó nhún vai, mắt ngó lên tấm hình con ca sĩ Mỹ tóc chải như lông nhím mà cặp mắt ướt rượt. Tui sợ quá chị Tám ơi! Cái thằng cựu giám đốc hãng băng nhạc ở Cali cứ gọi điện thoại cho con Ngọc Hiền đều đều. Tui sợ con nầy bỏ chị bỏ bà qua Cali để làm ca sĩ hết sức.

Quên, tui chưa kể với chị, từ hôm có con Ngọc Hiền, thằng Ðít mỗi tuần đều lái xe cả 50 mai (miles) đến thăm con em vợ cũ. Cỏn coi bộ cũng ưa thằng cựu anh rể. Con Ngọc Hạnh thì không nói không rằng nhưng có vẻ khuyến khích hai đứa. Do đó mà con Ngọc Hiền vắng nhà hà rầm. Tui lo quá, cứ than thở hoài. Con Ngọc Hạnh cười:

– Kệ nó nội ơi! Nó lớn rồi. Ở cái xứ nầy, con cái trưởng thành là tự chọn bạn chọn bồ, chọn chồng, chọn vợ. Thằng Ðít coi cũng xứng với con Hiền. Nó tử tế, dễ thương. Nó mà cưới con Hiền thì con mừng lắm.

Tui trợn mắt:

– Nó tử tế, vậy sao mầy lộn nài bẻ ống bỏ nớ?

Nó có vẻ buồn buồn:

– Tại vì con không làm tròn bổn phận chăn gối với nó. Chuyện gối chăn lắt léo lắm. Con đành trả tự do cho nó. Con vẫn thương yêu nó như thương yêu thằng Biêu, có điều là thằng Biêu dịu dàng, kiên nhẫn, hạp với con hơn. Lại nữa…

Thôi, thôi, nó càng nói tui càng hổng hiểu gì ráo! Tui già cả đầu óc đã mù mịt, giờ càng đen đậm đen đặc như đêm ba mươi. Chuyện gối chăn giữa vợ chồng với nhau mà con nầy cũng đem ra nói. Chồng mình không ưng bụng về chuyện đó thì phải tìm cách làm đẹp lòng chồng, có lý đâu lại bỏ chồng để lấy chồng khác? Chị Hai tui hồi xưa, sau hai lần sanh nở khó khăn, liền cưới vợ bé cho chồng. Thời buổi nầy, đờn ông lấy vợ bé thì kỳ cục lắm nhưng nếu mình không làm đẹp lòng chồng là mình phạm lỗi rồi. Bỏ chồng để lấy chồng khác thì chỉ có mấy con Hạ Cơ, Tuyên Khương, Võ Chiếu mới làm nổi chuyện đó.

Nằm đêm nghĩ lại, tui thấy mình tuy vậy cũng còn có phước hơn mấy ông già bà cả di tản qua đây bị con cái bỏ bê không thèm ngó ngàng tới lui hoặc bị bỏ vô nhà dưỡng lão. Hai con Ngọc của tui sớm xa cha mẹ nên đeo dính bà nội từ nhỏ. Qua đây tụi nó có bè có lũ riêng nên không đeo theo tui như chầu xưa nữa nhưng vẫn chịu khó đưa tui đi mua trầu, mua cau, mua dầu cù-là Trung cộng, thuốc Bắc loại cao đơn huờn tán; chở tui đi giao thiệp với ông già bà cả người mình trong viện dưỡng lão. Duy có điều con Hạnh không cho tui kho cá kho thịt hay chưng mắm.

Tại nhà dưỡng lão, tui gặp một bà người Huế nói tiếng Nam sành sỏi. Nghe đâu bả là cháu nội của quan đại thần hồi trào vua Ðồng Khánh. Chồng trước của bả là hoàng thân, vốn là thày dạy của thái tử Bảo Long. Ông hoàng chết, bả tái giá với ông nhạc sĩ dòng dõi quan quyền gì đó ngoài Bắc. Hồi xưa bả là ca sĩ nổi tiếng tên là Minh Loan, sau đó nghe đâu bị suyễn nên mất giọng và chức đệ nhứt nữ danh ca của bả mới chuyền qua cô ca sĩ được thiên hạ kêu là « tiếng hát trường cữu ». Giờ đây bả tuy già mà lưng thẳng như cây cau, dáng dấp thon mảnh, đi nhẹ nhàng và vùn vụt như gió. Gặp bả, tui thẹn phận mình quê mùa, chữ trét chưa đầu lá mít vậy mà bả chịu khó nghe tui kể chuyện cà kê dê ngỗng, cười từng chập. Bả kêu tui bằng chị, xưng em. Rồi đó mỗi tuần bả tự lái xe tới thăm tui, chở tui đi mua đồ, đi chơi. Nhận thấy bả thành thiệt, không làm phách, tui mến bả, làm món ngon mời bả.

Bà Minh Loan có tám đứa con, đứa nào cũng ca hay đờn giỏi nhưng không ai theo nghề ca hát hết, chỉ lo làm ăn bồi đắp gia đình. Còn con Ngọc Hiền của tui thì giọng hát ngang ngang mà sanh sứa mơ làm ca sĩ, hễ ban tổ chức buổi trình diễn văn nghệ nào mời là nó nhảy lên sân khấu liền một khi làm tui khổ tâm hết sức!

Con Ngọc Hiền đi tới đâu là có thằng Ðít phò tá tới đó. Nó săn đón kỹ quá, riết rồi con Ngọc Hiền ở miết nhà anh rể cũ. Tuy có buồn bực, tui cũng vái trời cho nó lấy thằng Ðít phứt cho rồi. Lấy Ðít là nó còn ở đây, đôi ba bữa tui còn thấy mặt nó, làm món ngon vật lạ cho nó ăn.

Ðều đều bà Minh Loan vẫn lui tới thăm viếng, an ủi tui. Bả nói tụi trẻ thời nay không giống tụi mình, thôi cứ để tụi nó sống theo ý, dẫu có vấp ngã thì tụi nó lại đứng dậy, làm lại cuộc đời dễ dàng. Mà cũng lạ, tại sao bả với tui, người học thức, kẻ quê dốt mà lại hạp nhau? Bả chở tui về nhà cậu con trai bả, đãi tui một bữa cơm có cá lụn vụn kho tiêu và canh cải nấu tôm khô ngon thần sầu. Tụi Mỹ đời nào chịu húp canh nấu tôm khô, bởi đó ở nhà con Ngọc Hạnh, tui đâu được ăn món nầy.

Chiều thứ sáu tuần đó, vợ chồng con Ngọc Hạnh đi nghỉ mát ở xa, hẹn tối chúa nhật mới về. Một bà trong viện dưỡng lão có cho tui một nửa hũ mắm sặt. Bà Minh Loan bèn đưa tui ra chợ Việt Nam mua rau thơm, giá sống, cà tím, nấm, cá hồi, tôm đông lạnh về làm món mắm và rau. Hai chị em cùng hai bà bạn già khác thưởng thức món ăn quê nhà vô cùng hả hê, khoái lạc.

Ai dè sau bữa ăn đó tui gặp nạn. Thằng Biêu vừa vô nhà là la rùm lên. Con Ngọc Hạnh hơ hải hỏi:

– Có phải nội kho mắm không? Thằng Biêu nó nói có con chuột hay con gì đó chết sình nên mùi thúi bay tùm lum đây nè….

Nghe qua tự sự, thằngBiêu đem quần áo ra ở khách sạn. Tui và con Ngọc Hạnh xịt đủ thứ dầu chanh, dầu cam, dầu sả mà mùi mắm quái ác vẫn lẩn quần trong nhà. Túng thế, tui điện thoại gọi bà Minh Loan. Bả bảo:

– Chị cứ lấy nhang thơm của chà và đốt vài nén là tẩy hết mùi. Thôi được, em có nén nhang bạch đàn đây, để em đem lại.

Mùi mắm bay đi, thằng Biêu trở về. Bà Minh Loan có gặp thằng Phiên tặc đó để giải thích. Nó đặt tay lên vai tui xin lỗi nhưng từ đó tui hết dám nghĩ tới mắm kho, mắm chưng, hết dám mơ tưởng tới thịt kho, cá kho gì nữa.

Bà Minh Loan mê bài bạc nên bả leo lên máy bay đi Cali ở với cô con gái út để lãnh tiền cấp dưỡng gấp đôi. Ở đó người Việt đông, bả sẽ mở lớp dạy ca sĩ, luyện giọng, làm một cái gì có ích hơn là đánh bạc. Hôm tiễn bả ra phi trường, mấy tay đánh bạc và tui khóc mùi. Bả hứa sẽ trở về nhưng tui biết bả về là cũng chỉ về thăm thôi rồi trở lại Cali. Nghĩ vậy mà tui ôm bả khóc ngất.

Cái ngày tui lo sợ con Ngọc Hiền bỏ bà nội đi Cali đã tới rồi, chị Tám! ThằngÐít đi trước, nó đi sau, cách nhau một tháng. Tui lấy làm lạ hỏi con Ngọc Hạnh:

– Em mầy qua bển làm vợ thằng Hát hay làm vợ thằng Ðít?

– Nó có định làm vợ ai đâu? Thằng nào cũng là bạn nó thôi nội à!

– Bạn cách nào? Tao thấy…

Ngọc Hạnh nhăn nhó

– Ối, chuyện tụi trẻ…khó nói lắm. Nội để ý làm gì cho mệt! Ít tháng nữa nội có cháu cố, xin nội cưng nó như đã từng cưng tụi con.

Cỏn có bầu rồi chị Tám à. Cái bụng nó tròn như trái dưa hấu xẻ đôi úp lên. Nghĩ tới lúc được bồng cháu cố mà tui sướng run.

° ° °

Giấc mơ ca sĩ của con Ngọc Hiền lẩm rẩm vậy mà thành đó chị Tám! Nó gửi hình, gởi tấm chương trình về cho tui và cho chị nó hà rầm. Trong hình nó nhuộm tóc vàng như trét cà-ri rồi không biết nó thoa vuốt cách nào mà từng tép tóc nó chĩa ra như lông nhím. Nó còn thoa son môi màu tím như màu cà dái dê, đánh phông mắt đỏ hoét, đeo vòng chuỗi nặng cả ký lô, mặc áo hở ngực hở vai …coi lạ hoắc. Ca sĩ Giên Ngọc Hiền đó đa! Nó biểu hát nhạc trẻ thì phải có tên Tây tà mới hạp.

Con Ngọc Hiền có vẻ yêu đời. Nó ở chung với thằng Ðít nhưng đi lưu diễn với thằng Hát, nghe đâu được hoan nghinh lắm. Mới đây nó theo phái đoàn lưu diễn của thằng Hát trở về Hoa Thạnh Ðốn trình diễn, nghe đâu là chương trình nhạc trẻ một trăm phần trăm, tụi nhỏ ưa lắm. Tui dẫu già cả, quê dốt nhưng cũng mua giấy để coi con Giên tui hát hỏng ra sao.

Chèn ơi, chị Tám! Không hiểu mồ mả ông nội của hai con Ngọc có bị trâu dẫm, bò đạp, heo chó phóng uế hay không mà mả bị động khiến lũ cháu gái mất nết hư thân. Con Giên tuy không dám loã thể trên sân khấu nhưng nó chế ra cái áo giống như cái áo lá, để chừa một khoảng bụng lòi cái lỗ rún thật sâu đựng cỡ một muổng cà phê nước mắm. Cái quần của nó thiệt lạ đời: xì-líp không ra xì-líp, quần cụt không ra quần cụt. Quần bằng nhung đen, thêu con dơi bằng kim tuyến ngay chỗ giữa cặp đùi. Quên nữa, cái áo hở bụng của nó cũng bằng nhung đen, ôm tròn cặp vú, thêu từng vòng tròn ở chỗ lồi của vú. Mèn ơi, áo quần mà thêu kiểu đó có khác nào réo gọi khán giả rằng: « Mấy người hãy coi đây! ». Ngộ hén! Ca sĩ trình diễn là để mời khán giả thưởng thức giọng hát chớ có lý đâu mời họ nhìn và tưởng tượng mấy thứ bửu bối của đờn bà nằm dưới con dơi và những vòng tròn thêu kim tuyến đó!

Con Giên vừa ỏng ẹo bước ra, lũ choai choai thôi huýt sáo, rít tu hít từng tràng dài. Tui nhục nhã biết để đâu cho hết, chị Tám! Khi hát nó ưa xoay lưng lắc lắc cái mông thiếu điều dện vô mặt khán giả. Rồi khi quay mặt lại là nó nẩy người lên, chàng hảng chê hê coi thiệt là tục tĩu, vô phép tắc. Vậy mà lũ trẻ coi bộ thích lắm, hoan nghinh như sấm. Tui và bà bạn già bỏ ra về, ở coi cho hết chương trình càng thêm nhục! Tới chỗ bán băng nhạc, tui tò mò nhìn vô. Tui bị quáng mắt hay thông manh đó chăng? Cái băng nhạc có cái nhãn in hình cô nữ ca sĩ trần truồng nguyên con là ai vậy? Ðầu óc tui đảo lộn, tui ngã quị xuống như cây chuối bị đốn. Có tiếng nói văng vẳng:

– Ca sĩ Giên Ngọc Hiền đó đa bà con. Cổ là cháu nội bà Năm Xóm Gà chớ ai!

                  Hồ Biểu Chánh, ánh hoàng hôn cựu trào qua
                    truyện dài « Tơ Hồng Vương Vấn »

     *** Hồ Trường An – trích trong tập bút khảo « QUÊ NAM MỘT CÕI » ***

Nhắc tới Hồ Biểu Chánh, chúng ta nghĩ tới một tiểu thuyết gia theo khuynh hướng « văn dĩ tải đạo », lấy việc răn đời làm gốc. Nhưng đây cũng là kẻ viết theo khuynh hướng tâm lý ái tình, tuy nhiên đó là thứ tâm lý đóng khung trong lễ giáo, chết cứng và hóa thạch trong luân lý Khổng Mạnh, không thể vượt thoát ra một khung trời cao rộng gồm thiên hình vạn trạng nhân sinh quan phóng khoáng hơn và cởi mở hơn.

Hồ Biểu Chánh, bậc tiền bối của các cây bút Nam Kỳ chúng ta khởi nghiệp văn chuơng vào những năm cuối của thập niện 20 (của thế kỷ 20). Đuờng lối viết lách của tiên sinh trước sao sau vậy, qua tới giữa thập niên 50 vẫn không thay đổi một mảy lông sợi tóc nào trong vấn đề nhân sinh quan, lý tưởng, trong cuộc sống phồn tạp và tiến bộ về văn hóa, tư tưởng, trong đường lối giáo dục của mọi tầng lớp hậu sinh của cụ.

Chúng ta phải tự hỏi, sau bao nhiêu vận nước nổi trôi, trải qua bao nhiêu thời đại, bao nhiêu thế hệ, vậy mà văn chương của Hồ Biểu Chánh vẫn còn được nhiều lớp độc giả hậu sinh chiếu cố? Có phải chăng tài hoa của cụ vượt dòng đào thải của thời gian? Có phải nó là tiếng đồng vọng lảnh lót và vang xa của cái thời đại mà cụ đã sống, đã cầm bút? Thật khó mà trả lời. Như chúng ta cũng thừa biết cái cấu trúc và cách dựng truyện của Hồ tiền bối cẩu thả, cách diễn tả của cụ thật bộc trực nếu không bảo là luông tuồng. Cụ ít khi viết văn, ít khi tả cảnh tả người chu đáo, thường là vài nét khái quát. Cũng như nhà văn Lê văn Trương, cụ hay thuyết lý, ưa trình bày cái nhân sinh quan của mình. Nhưng nhân sinh quan của cụ lâu lâu mới le lói một vài nét đặc thù của mình. Tuy nhiên, khi đọc tiểu thuyết của cụ, cớ sao người thưởng ngoạn bị cụ thôi miên hồi nào không hay. Cái chân tình, cái nhiệt thành của tình ý cụ lẫn cái nồng nàn của của bút pháp cụ quyến rũ người đọc một cách dị kỳ; cái thô vụng của cụ trở thành đậm đà tuyệt vời, cái bộc trực, cái xí xọn trong những lời đối thoại của từng nhân vật trở nên duyên dáng mặn mà khó tả.

Cái ngôn ngữ dí dỏm, chót chét trong văn phong của Hồ Biểu Chánh thường làm cho chúng ta bật cười một cách thống khoái, dù cụ có cằn nhằn chì chiết nhân tình thế thái đi nữa. Chúng ta cảm nhận ngay sự thành khẩn của cụ. Chúng ta vụt cảm thấy tận đáy sâu của ngôn ngữ cụ, tận cái thiết tha của tình ý cụ có một hấp lực kỳ đặc, không dễ gì tìm gặp ở bút pháp kẻ khác:

Thợ trời thiệt là khéo léo, hóa sanh muôn loài, không bỏ sót loài nào, đã sanh con voi to, mà còn sanh con muỗi nhỏ, đã sanh con cọp để giết người, mà còn sanh bò heo để nuôi người. Mà thợ trời cũng thiệt trớ trêu, mỗi loài lại sanh nhiều thứ, hình dáng, màu sắc tánh chất đều không giống nhau, sanh rắn độc mà cũng sanh rắn hiền, sanh hoa thơm mà cũng sanh hoa thúi. Sanh loài người, Tạo hóa cho có mặt, có tay, có chưn, có gan, có ruột như nhau, mà cắc cớ sơn cho nhiều màu da, người thì trắng, kẻ thì vàng, người thì đen, kẻ thì đỏ. Mà dầu đồng một màu da với nhau đi nữa, tâm tánh cũng bất đồng, kẻ hiền người dữ, kẻ ngay người gian, kẻ dại người khôn, kẻ sáng nguời tối. Có một điểm, loài người dù đen, đỏ, trắng, vàng, dầu dữ, hiền, khôn, dại, phần nhiều đều giống nhau. Ấy là thói say mê tiền bạc, say mê đến nỗi không kể tội lỗi, không biết thúi hôi, không sợ chê khen, không màng phải quấy, áp nhau bu lại mà giựt dành, nếu giựt cho được rồi chết cũng vui lòng, mà nếu giựt không được lại phải chết cũng không sợ.

(Tơ Hồng Vương Vấn, các trang 148, 149)

Viết theo văn dĩ tải đạo, bên Pháp đã có Delly, bên Anh đã có nữ sĩ Barbarra Cartland; họ ăn khách kinh khủng. Delly là bút hiệu của bà Jeanne Petitjean de La Rosière (sanh tại Avignon năm 1875, chết tại Versailles năm 1947) và ông Fréderic Petitjean de La Rosière (sanh tại Vannes năm 1875 chết tại Versailles năm 1949). Cả hai sáng tác lối 30 tác phẩm. Còn Barbarra Cartland viết lối 400 quyển tiểu thuyết. Nhưng đọc tác phẩm của họ, độc giả chỉ tìm được dăm ba tiếng đồng hồ để giải trí, rồi quên luôn những thú vị của mình đã trang trải trên những trang sách. Cặp Delly thường lấy tinh thần Bác Ái và Bao Dung của đạo Thiên Chúa làm nền tảng của câu chuyện, để đánh bóng thêm cho các nhân vật hiền lương mà Cộng Sản gọi là các nhân vật chánh diện thêm phần lộng lẫy. Nhưng đa số tác phẩm của Hồ Biểu Chánh thì không như thế. Ngoài chuyện tôn vinh quan niệm tích ác phùng ác, tích thiện phùng thiện, chúng còn có nhiều điều gì khác làm độc giả sống lại một đoạn đời quá khứ của mình hay giúp độc giả mường tượng cách sống của những lớp người thuộc những thế hệ trước thế hệ mình.


« Tơ Hồng Vương Vấn » là một cuốn tiểu thuyết thấm nhuần đạo Phật lấy chuyện luân hồi quả báo làm căn bản để triển khai cái sở trường văn dĩ tải đạo của Hồ Biểu Chánh. Vai chánh là cậu học sinh Phan Vĩnh Xuân sinh vào thời Nho mạt nơi chợ Giồng Ông Huê (Gò Công). Cậu là họ trò của ông Giáo Huân, một thầy đồ Nho khả kính. Cậu được sư phụ mình cho biết vận nước biến suy, dù phải chuyển qua Tây học để gọi là kiếm cơm nuôi mẹ, dù gì thì dù cũng phải giữ tấm lòng chính trực, liêm khiết. Nước mất nhà tan, ham chi hư danh quyền tước để hãnh diện với thiên hạ. Bạn học của cậu là cô Lý Thị Tư, được thầy ban cho cái biệt danh Cúc Hương, vốn là gái chánh trực, lại thông minh, xinh đẹp. Vĩnh Xuân và Cúc Hương yêu nhau, lén lút tư ước với nhau. Cả hai hẹn hò gặp nhau ở nhà chị Hai Tỷ, một phụ nữ Việt kết hôn với tài phú Sấm, người Trung Hoa. Ngờ đâu cha mẹ Cúc Hương tham giàu ép buộc Cúc Hương lấy chàng công tử bột xuất thân gia đình giàu có ở hương thôn. Cúc Hương quyết tâm bỏ sinh mệnh để giữ tròn đạo nghĩa. Truớc ngày vu quy, cô giao 50 đồng bạc cho Hai Tỷ, bảo rằng với số tiền này , cộng với tiền trợ cấp của chánh phủ, Vĩnh Xuân có thể ăn học trong vòng 3 năm cho đến khi thành tài. Cô cũng gửi tấm lụa có viết chữ nho « Xả Thân Nhi Thủ Nghĩa » (bỏ thân để giữ tròn đạo nghĩa) cho chàng để chàng nhìn bút tích mà nhớ tới cô. Cô cũng không quên gửi một xấp lãnh và một xấp xuyến cho bà Hương văn Thanh , mẹ của Vĩnh Xuân may quần áo, gọi là quà tặng của cô dâu …hụt. Cô dặn Hai Tỷ phải khuyên Vĩnh Xuân chí thú ăn học, để cô được toại nguyện. Rồi cô uống nha phiến pha trộn với dấm thanh để tự tử.

Vĩnh Xuân tuy đau khổ nhưng nhờ lời khuyên của ông Giáo Huân và Hai Tỷ nên theo lời dặn của Cúc Hương chí thú ăn học, đậu bằng Thành Chung, rồi thi vô ngành ký lục cũng đậu luôn. Chàng về nhà vào ngày 25 tháng chạp tức là ngày 23 tháng Janvier. Bữa sau chàng đi viếng mộ Cúc Hương thì vào quá 12 giờ khuya, chàng nằm chiêm bao thấy Cúc Hương từ giã chàng đi đầu thai và cho chàng biết kiếp sau nàng sẽ được tái ngộ cùng chàng, để kết hôn với chàng.

Vĩnh Xuân được thuyên chuyển qua Mỹ Tho làm việc ở Tòa Bố(tức là Tòa Hành Chánh về sau). Chàng kết thân với ông Kinh Lịch Lương, đuợc ông dạy đàn, dạy làm thơ để rồi cả hai trở thành đôi bạn vong niên thân thiết. Chàng từng thố lộ với bà Kinh như sau:

– Thưa bà, vì nghèo cực nên cực chẳng đã tôi phải theo tân học đặng làm việc lãnh lương nuôi mẹ. Tôi muốn ngồi yên trong một góc bàn mà biên chép, chờ cuối tháng lãnh lương ăn vậy. Tôi thưa thiệt với ông bà, tôi không ham danh lợi, ham lợi, nhứt là danh không chánh đáng và thứ lợi không hạp nữa. (trang 187)

Bà Kinh rất thuơng mến Vĩnh Xuân cố tình làm mai cho chàng cưới cô Cẩm Nhung, con gái út của Bà Chủ Thiệu ở Chợ Cũ (bên kia Cầu Quây). Vi sợ mẹ buồn nên chàng phải cưới Cẩm Nhung, một cô gái xuất thân từ gia đình giàu có, lại có bóng sắc chói chang. Đây là một cuộc hôn nhân miễn cưỡng vì chàng không sao quên được Cúc Hương. Còn Cẩm Nhung không quen làm vợ và làm dâu trong một gia đnh thanh bạch mà cách ăn ở sinh sống thiếu tiện nghi, nên cô đâm ra thất vọng. Lại nữa, gặp ông chồng thiếu nồng nàn, tình tứ nên cô thường về ở bên nhà mẹ, rồi sanh tâm ngoại tình, có thai với tình nhân. Vĩnh Xuân không muốn làm cho gia đình bên vợ mang tiếng xấu vì dầu sao Cẩm Nhung cũng đã sanh cho chàng một đứa con trai. Cho nên chàng khuyên Ba Khai, người anh trưỏng của vợ buộc Cẩm Nhung đút đơn vô tòa án xin ly dị, như thế cái tội ngoại tình của nàng sẽ được giấu nhẹm. Bà Chủ Thiệu và Ba Khai cảm cái đức quân tử của chàng nên âm thầm giúp đỡ chàng, vẫn xem chàng như con rể trong gia đình họ. Chàng vẫn gọi bà Chủ Thiệu bằng má trước sao sau vậy. Bà Chủ Thiệu và Ba Khai âm thầm giúp đỡ cách sống cho chàng được tiện nghi. Họ trừng phạt Cẩm Nhung, cấm không cho nàng ra khỏi nhà, cấm không cho nàng léo hánh lên nhà trên (tức là trung đường), cấm không cho nàng mặc quần hàng áo lụa, phải mặc vải bô thô xấu.

Nhờ giỏi tiếng Pháp, tại Tòa Bố chỉ một thời gian ngắn Vĩnh Xuân làm thông ngôn cho quan Phó Tham Biện người Pháp, rồi làm thông ngôn cho quan Chánh Tham Biện (về sau gọi là Tỉnh Trưởng) cũng người Pháp. Rồi chàng thi đậu trong cuộc thi tuyển tri huyện. Trong bữa tiệc ăn mừng Vĩnh Xuân thành công trên đường hoạn lộ do bà Chủ Thiệu khoản đãi, Vĩnh Xuân xin bà và Ba Khai rộng dung hình phạt cho Cẩm Nhung. Chàng nhận lỗi rằng chính cái cách cư xử dung túng nhưng thiếu nhiệt tình của mình đối với vợ đã xô đẩy Cẩm Nhung vào con đường quấy.

Sau đó ít lâu, Vĩnh Xuân được vinh thăng tri phủ phải qua Cần Thơ nhận nhiệm sở mới. Mọi việc sắp đặt chỗ ở mới cho quan huyện Vĩnh Xuân do chính Ba Khai đảm nhiệm. Trước khi qau Cần Thơ, bà Hương Văn Thanh và Vĩnh Tân (con của Vĩnh Xuân)có đến Chợ Cũ từ giã bà Chủ Thiệu. Tại đây, Cẩm Nhung ra mặt nhìn con của mình. Thấy nàng dâu cũ của mình hương phai phấn lợt vì bao năm bị gia pháp trừng phạt lại thấy cô bi lụy thảm thiết, bà Hương Văn Thanh an ủi Cẩm Nhung hứa sẽ dạy dỗ Vĩnh Tân không quên công sinh thành của mẹ và hứa hễ có dịp là cho Vĩnh Tân về Chợ Cũ thăm mẹ và bên ngoại.

Năm đó quan Phủ Vĩnh Xuân lúc đó đã 40 tuổi, trong buổi nhàn du tình cờ ông gặp cô Hưởng, con gái ông Hương Nhì Tồn từ hình dung tiếng nói đến dáng đi cử chỉ đều giống hệt Cúc Hương. Ông dò la biết được cô Hưởng sanh vào lối 3 giờ khuya, đúng là hai giờ sau lúc nửa đêm Cúc Hương từ giã ông để đi đầu thai. Tin chắc cô Hưởng là hậu kiếp của Cúc Hương nên ông xin cưới cô. Và muốn cho chắc ăn điều nhận nhận xét của mình, sau đám cưới chàng đưa vợ về quê hương của mình để xem nàng có nhớ được gì không? Quả nhiên vừa tới Chợ Giồng thì người vợ trẻ của quan Phủ Vĩnh Xuân nhớ hết những người thân trong quá khứ trong đó có vợ chồng ông Giáo Huân và chị Hai Tỷ.

Trong truyện dài « Tơ Hồng Vương Vấn », người xấu (mà bọn Cộng Sản gọi là nhân vật phản diện) chỉ có vợ chồng Hai Mỹ (song thân của Cúc Hương). Họ vô tình giết con gái mình vì họ chuộng thói tham phú phụ bần. Còn ngoài ra người tốt thì đông đảo hùng hậu. Ngoài mẹ con của bà Hương Văn Thanh, còn có Cúc Hương, vợ chồng ông Kinh Lịch Lương, bà Chủ Thiệu, Ba Khai, bà Giáo Huân, chị Hai Tỷ đều là những kẻ mến đức chuộng tài. Họ mở tấm lòng hào hiệp đối đãi với Vĩnh Xuân. Còn ông Giáo Huân thì ra công rèn luyện đức dục cho Vĩnh Xuân, vun quén thiên lương và đức độ của chàng được mãi mãi sáng rực rỡ như gương. Cẩm Nhung cũng không phải là người xấu. Nếu cô sống vào thập niên 60 trở về sau thì cô sẽ đuợc người đời không cho cô là tội nhân mà là một nạn nhân của nền luân lý cổ quá cay nghiệt khắc khe. Luân lý ấy dìm cô vào mặc cảm tội lỗi làm cô nghĩ rằng mình có tội nặng, chứ thật ra chẳng những tội cô quá nhẹ mà cô còn đáng cho chúng ta ai hoài thương xót. Rất may, dù bị ảnh hưởng luân lý của Nho Giáo, nhưng Vĩnh Xuân cảm thông được nỗi éo le của vợ nên xin mẹ vợ và anh vợ nương tay trừng phạt cho vợ.

Chuyện duyên nợ theo vòng luân hồi quả báo không phải chỉ có Hồ Biểu Chánh tiên sinh là kẻ tiền phong xướng ra trong văn chương. Vào thuở tiền chiến, trong hai quyển « Kho Vàng Sầm Sơn » và « Đồng Tiền Vạn Lịch », nhà văn Tchya đã viết cuộc tình của Nguyễn Anh Tề, con trai của Nguyễn Hữu Chỉnh, và Quận Chúa Võ An Trinh, con gái Võ văn Nhậm vào thời Tây Sơn dựng nghiệp. Cả hai trắc trở việc hôn nhân nên cùng sống thác với tình, hẹn kiếp sau sẽ thực hành cuộc tình duyên dang dở. Câu chuyện đó được gói ghém trong quyển « Kho Vàng Sầm Sơn ». Khi qua quyển « Đồng Tiền Vạn Lich » thì Nguyễn Anh Tế thác sinh vao dòng dõi Nguyễn Hữu Chỉnh trở thành Nguyễn Hữu Tề, còn Quận Chúa Võ An Trinh đầu thai vào dòng họ Võ Văn Nhậm trở thành Võ Ái Trinh. Sau bao phen xung đột để chiếm đồng tiền Vạn Lịch mà họ cho rằng đó là cái chìa khóa mở kho vàng mà Nguyễn Anh Tề và Võ An Trinh chôn giấu ở Sầm Sơn. Nhưng họ chỉ tổ hoài công thôi. Họ không tìm được kho tàng mà tìm được dấu vết tình yêu giữa đôi bên với nhau từ thuở tiền kiếp.

Nữ sĩ ngươi Anh Elizabeth Goudge có viết trong quyển « Tiếng Gọi Của Quá Khứ » (« L’Appel du Passé ») cặp tình nhân dang dở thời tiền kiếp chết đi. Qua kiếp tái sinh chàng vẽ bức họa phong cảnh lâu đài mà cả hai đã từng sống. Nhờ vậy, hậu thân của nàng được phục hồi ký ức, nhớ lại cố nhân và cuộc sống xa xưa bên kia nẻo luân hồi để tìm đến chàng. Tin hay không tin thuyết luân hồi và thuyết thác sinh, nhưng nó cũng đã đóng góp cho văn nghiệp nữ sĩ Elizabeth Goudge một tác phẩm diễm lệ và cực kỳ thơ mộng. Nó đã giúp cho Tchya và Hồ Biểu Chánh thuyết phục một số độc giả suy nghĩ về cái thần bí của bánh xe luân hồi di chuyển không ngừng nghỉ trên vạn pháp và trên các hiện hữu.

***

Hồ Biểu Chánh viết tiểu thuyết theo lối thuyết thoại (la narration). Như đã nói, cụ kể chuyện tuồn tuột, ngon ơ, ít khi dùng óc quan sát để tả cảnh vật, tả ngoại hình các nhân vật. Thường là những nét phác thảo sơ sài, khái quát.

Đây là cảnh đi đò dọc từ chợ Mỹ Tho qua chợ Giồng Ông Huê (thuộc tỉnh Gò Công):

Đò lui. Hành khách chỉ có bốn người nên rộng rãi ai cũng nằm được. Gặp nước xuôi lại có gió xuôi bởi vậy ra khỏi vàm rồi trạo phu trương buồm mà chạy, khỏi chèo. Mặt trời vừa trịch bóng, đò đã tới Vàm Giồng, gặp nước lớn đi vô vàm, đi xuôi nữa. Chủ đò đoán trước bữa nay về tới chợ Giồng sớm lắm, chừng nửa buổi chiều.

Vĩnh Xuân nghe nói vậy bèn ngồi dậy. Bây giờ đò vô rạch Vàm Giồng, hai bên cây cối tập rạp, án gió không bọc buồm lên được. Trạo phu hạ buồm rồi gay chèo mà chèo, nhờ nước xuôi nên ghe đi lẹ lắm. (trang 93)

Đây là cảnh quan phủ Vĩnh Xuân đi chơi chợ Bình Thủy tình cờ gặp cô Hưởng (hậu thân của Cúc Hương) nên ông heo dõi cô thiếu nữ kia đến cầu Rạch Cam:

… Vĩnh Xuân vẫn theo coi nhà cô ở chỗ nào. Đi chừng một trăm thước thì tới một thớt vườn không lớn nhưng sạch sẽ dựa lộ, có hàng rào bằng cây trà, trong sân có trồng hoa, rồi sau sân ấy có một nhà lá ba căn xông, vách ván, cửa ván, nền cao, hai bên nhà dừa với mận trồng sum suê, còn phía sau thì cau chuối tịch mịch. (trang 406)

Những bối cảnh do tác giả dựng lên để lót nền cho cuộc tình sử giữa Vĩnh Xuân vá Cúc Hương cũng không được miêu tả chu đáo. Vẫn là nghệ thuật thuyết thoại theo lối văn chương trong các quyển địa dư, trong các quyển địa phương chí. Nhưng chính ở những dòng kể chuyện ấy, độc giả cũng có thể mường tượng những nét tạo hình ẩn trong cuộc bút trình của tác giả:

Rạch Vàm Giồng bên Cửa Tiểu, nhờ có kinh đào đi ngang qua chợ Giồng rồi thông với rạch Gò Công bên sông Bạo Ngược là sông Vàm Cỏ, bởi vậy địa thế giúp cho chợ Giồng biến thành một thị trường lúa gạo trong hạt Gò Công. Ở đây có nhiều người cất vựa trử lúa, trử gạo, từ ngoài đồng đem vô bán. Họ mua để bán lại cho những lúa gạo chở lên Chợ Lớn mà bán ngay cho mấy nhà máy hoặc cho mấy tàu khậu làm trung gian cho nhà máy.

Hồi đó, hễ đến mùa gặt lúa, thì chợ Giồng phồn thạnh lắm. Dưới kinh, ghe mua lúa đậu chật. Còn trên bờ, từ nửa buổi chiều cho tới canh một, ở ngoài đồng họ gánh gạo vô bán kể đến máy trăm người, mỗi xóm đi chung một tốp, lại có năm ba xe bò chở lúa đem vô nữa. Chợ lúa gạo nầy buổi chiều nhóm tại dốc cầu sắt. Đờn bà con gái dọn ngồi bên đường mà bán dầu lửa, nước mắm, hộp quẹt, trà tàu, cá khô, bánh trái, thúng rỗ, nón guốc, nia đệm, nghĩa là bán đủ thứ cần dùng ở chốn thôn quê. (trang 37)

Hồ Biểu Chánh ưa bàn luận nhân tình thế thái theo một bình diện phẳng, tức là dựa vào cái chung chung của cuộc sống rồi triển khai rộng ra, ít khi đào sâu vào những gì mà cụ tư duy.

Tự căn bản, « Tơ Hồng Vương Ván » chỉ là một pho diễm tình trà trộn bóng dáng tâm linh huyền hoặc. Cái giá trị văn chương của nó chẳng có bao nhiêu, nhưng bối cảnh lịch sử của nó làm chúng ta phải lưu ý. Đó là giai đoạn giao thoa giữa nền Nho mạt và văn hóa Tây phương sau khi Pháp thuộc-địa-hóa đất Nam Kỳ và đặt nền Bảo Hộ lên Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

Hồ Biêu Chánh là con bậc thâm nho. Lúc nhỏ, cụ theo Nho học, nhưng sau đó cụ chuyển qua Tây học, rồi ra làm việc cho chánh phủ Thuộc địa. Do đó, cụ bị các bậc cựu nho eo sèo mai mỉa. Chính cụ cũng áy náy và ngờ ngợ hành xử và cuộc mưu sinh của mình có điều gì không ổn. Chính ở quyển « Tơ Hồng Vương Vấn » cụ mới có thể giải bày tâm sự và những điều khoắc khoải của mình:

Thế cuộc vần xoay, hết suy tới thạnh, nhơn quần tấn hóa, đổi cựu ra tân. Đó là định luật dĩ nhiên, dầu muốn dầu không ai ai cũng phải chịu, không làm sao sửa được.

Nhớ lại mà coi sau khi đánh phá đại đồn Chí Hòa rồi, binh đội Pháp lần lần xâm chiếm tất cả sáu tỉnh của đất Gia Định. Từ hạng nông phu cho tới học thức thảy đều tức tửi mà quay đầu về Phú Xuân, thì triều đình dường như im lìm bỏ xụi; còn chong mắt ngó vào đám anh hùng nghĩa sĩ thì các cụ Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Dương, Thủ Khoa Huân lần lượt thất bại tiêu tan.

Đứng trước ngả ba đường như vậy đó, phải đi ngả nào? Nếu cương quyết giữ nền nếp cũ thì lấy chi mà nương náu, còn nếu đổi thái độ cho xuôi dòng thì lỗi với tổ tiên, mà thẹn cùng cây cỏ. Trong lúc dân trí phân vân như vậy, nhà cầm quyền Pháp khôn ngoan, nên chăm lo gây thiện cảm với nhân dân. Người ta biết thâu phục đất đai thì dễ, nhứt là gặp xứ không có binh đội tổ chức hoàn bị; còn như thâu phục nhơn tâm là điều khó khăn, phải hay đổi văn hóa, phải un đúc tâm hồn, mấy viẹc đó phải dầy công phu, phải nhiều thế kỷ thì mới làm nên được. (các trang 7, 8)

Xin nghe cuộc đối đáp giữa quan Phủ Vĩnh Xuân và thầy Cai Tổng, tại một khách sạn tỉnh Cần Thơ:

– …Tôi nghe nói thuở xưa quan thanh liêm đi phó nhậm chỉ có một cây đờn cầm với một con hạc thế mà tới đâu cũng bố đức cho dân lạc nghiệp an cư. Đời nay không có hạc thì quan lớn đi phó nhậm với một cây đờn, tôi tưởng cũng đủ rưới âm đức cho nhơn dân xứ Cần Thơ nhuần gội.

– Thầy Cai đem tôi mà sánh với quan đời xưa sao được. Nước đã mất chủ quyền, dân đã thành tôi mọi. Tôi làm quan, song cũng là tay sai của người ta, lịnh trên dạy phải làm sao tôi phải làm như vậy. Tôi cũng như anh đầu bếp nấu canh. Chủ nhà đưa mắm muối biểu nêm cho thiệt mặn. Tôi tráo trở làm cho lạt bớt đặng để ăn. Đó cũng đã đủ nát trí khôn rồi. Khỏi bị quấy rầy, bị quở phạt ấy là may, mong gì làm cho ngươi ăn khen canh ngon ngọt được. (trang 393)

Cúc Hương và Vĩnh Xuân tuy học theo đàng cựu dở dang nhưng cũng đã từng học các quyển « Minh Tâm Bửu Giám », Ấu Học Tầm Nguyên », « Tứ Thơ Thể Chú », « Đại Học », « Trung Dung », « Luận Ngữ »… Vĩnh Xuân có thể giải nghĩa rành rọt sách Mạnh Tử cho Cúc Hương nghe. Nhưng vì nhà nghèo, nếu đeo đuổi theo cái học của thời mạt điệp của ngành Nho học thì làm sao chàng kiếm tiền nuôi mẹ khi mẹ già yếu? Chàng chuyển sang Tân học. Vào thuở đó tại tỉnh Gò Công tình trạng Tân học ở bậc tiểu học như sau:

Trong khoảng đó, người ta nhận thấy tại Châu Thành Gò Công nhà nước có một trường sơ đẳng học, gồm năm lớp có một quan Đốc học người Pháp với năm giáo viên người Việt. Từ lớp nhứt đến lớp tư thì dạy Pháp văn nhiều hơn Việt văn, còn lớp năm là lớp chót thì giao cho một thầy nho biết chữ Quốc ngữ dạy trẻ đồng ấu học vần xuôi, vần ngược, rồi tập đọc, tập viêt quốc văn.

Học trò cả thảy chừng một trăm rưỡi, lớp chót được lối năm mươi trò, còn mấy lớp trên chung vài ba chục, tới lớp nhứt chỉ còn mười đến mười lăm là nhiều. Lại học trò toàn là con trai, chớ không có con gái, cha mẹ ở tại chợ, hoặc trong mấy xóm làng xung quanh cách chợ lối vài ba ngàn thước.

Muốn lấy thêm học trò đông, lại cũng muốn Pháp ngữ được thông dụng trong mấy làng xa, Tham Biện mới mở tại bốn chợ trong bốn tổng, mỗi chợ một làng dạy Pháp văn gọi là « Trường tổng » gồm hai lớp: lớp nhỏ dạy cho biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ, rồi lên lớp lớn bắt đầu dạy Pháp văn. Trong lúc nói đây, trong hạt có bốn trường tổng đặt tại bốn chợ: Rạch Giá (Đồng Sơn), Giồng Ông Huê (Vĩnh Lợi), Cửa Khâu (Tăng Hòa) và chợ Tổng Châu (Tân Niên Tây)…(các trang 10, 11)

***

Trong sự nghiệp văn chương nguy nga đồ sộ của Hồ Biểu Chánh, bút giả HTA chọn quyển « Tơ Hồng Vương Vấn » thay vi những quyển tiểu thuyết nổi tiếng lừng lẫy khác của cụ như « Nặng Gánh Cang Thường » (phóng tác theo vở bi kịch « Le Cid » của Corneille), « Ngọn Cỏ Gió Đùa » (phóng tác theo quyển « Le Misérables » của Victor Hugo), (phóng tác theo quyển « Chút Phận Linh Đinh » của Hector Malot), »Cay Đắng Mùi Đời » (phóng tác theo cuốn « Sans Famille » cũng của Hector Malot), « Kẻ Thất Chí » (phóng tác theo quyển (« Crime et Châtiment » của Dostoievski)… Bút giả nhận thấy « Tơ Hồng Vương Vấn » ngoài chuyện gay cấn éo le đã từng thôi miên và mê hoặc độc giả mà còn phản ảnh được một giai đoạn lịch sử, một chuyển biến gần như lột xác về phương diện văn hóa.

Tác giả đã xắn ra một mẩu đời của mình để đưa vào tác phẩm. Tác giả lại còn xắn tim óc của mình để rải vào tác phẩm. Cái văn dĩ tải đạo của cụ có thể đã lỗi thời. Nhưng người thưởng thức có đầu óc sáng suốt, có tinh thần tìm hiểu chuyện quá vãng theo kiểu « ôn cố nhi tri tân » sẽ chấp nhận mọi cách giải bày tâm sự, hoài bảo, khuynh hướng, lý tưởng của cụ. Ngoài ra song song với tấm lòng thành khẩn của cụ, người ta còn bắt gặp cái tinh thần tồn cổ một cách khả ái của cụ, chứ họ không kinh hãi cái nệ cổ đi đến mức cuồng tính một cách ngoan cố của các bậc hủ nho khác.

Trong quyển « Le Pavillon des Femmes » (« Ngôi Nhà Lầu Phụ Nữ »), nữ sĩ Pearl S. Buck có bàn về quyển « Kim Bình Mai ». Đại ý rằng nếu ai thích tìm thú nhục cảm thì « Kim Bình Mai » là quyển dâm thư đúng nghĩa. Nhưng nếu ai muốn tìm xã hội tham nhũng thối nát dưới triều đại Nam Tống do Hoàng Đế Tống Cao Tôn trị vì thì quyển truờng giang tiểu thuyết này cũng sẽ đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của đương sự. Như thế, tùy theo mục đích thưởng ngoạn của kẻ đọc sách. Riêng về quyển « Tơ Hồng Vương Vấn » của Hồ Biểu Chánh, nếu ai muốn tìm thú giải trí theo thị hiếu bình dân thì đây là quyển diễm tình hấp dẫn. Còn nếu ai muốn biết xã hội Việt Nam vào buổi giao thời thì đây là quyển sách bồi bổ kiến thức cho đương sự. Có điều đáng chú ý là vào thời Pháp thuộc, Hồ tiền bối của chúng ta không dám bộc bạch tâm trạng kẻ sĩ của mình qua nhân vật Vĩnh Xuân vì cụ sợ chánh quyền Thực dân gây trở ngại cho bước tiến thủ trên hoạn lộ của cụ. Phải đợi tới thuở bình minh của nền Đệ Nhất Cộng Hòa, cụ mới dám bộc bạch mọi nỗi niềm u ẩn của mình.

******

MỜI XEM TẬP TRUYỆN: « TƠ HỒNG VƯƠNG VẤN » (PDF)

******

 Hồ Trường An Ra Mắt Sách ‘Quê Nam Một Cõi’

San Jose (Trần Củng Sơn) – Chiều chủ nhật ngày 4-11-07, hơn hai trăm khách yêu thơ văn của thung lũng hoa vàng đã ngồi kín hội trường VIVO để gặp gỡ nhà văn Hồ Trường An  đến từ Pháp quốc nhân dịp buổi ra mắt cuốn bút khảo Quê Nam Một Cõi của ông.

Tên thật là Nguyễn Viết Quang, sinh năm 1938 tại Vĩnh Long, Hồ Trường An đã từng cộng tác các báo ở Sài Gòn trước năm 1975 và khi ra hải ngọai tiếp tục sáng tác hăng say với mấy chục tác phẩm gồm truyện dài Phấn Bướm (1986), Lớp Sóng Phế Hưng (1988), Đàn Trăng Quạt Bướm (2005), tập truyện như Chuyện Ma Đất Tân Bồi (1998), Quà Ngon Đất Nam (2003), bút khảo như Theo Chân Những Tiếng Hát (1998), Chân Dung 10 Nhà Văn Nữ ( 2002), thơ như Thiên Đường Tìm Lại (2002), Vườn Cau Quê Ngọai (2003).

Cuốn bút khảo Quê Nam Một Cõi  viết về những nhà văn gốc Nam Bộ từ Hồ Biểu Chánh, Phi Vân, Sơn Nam, Xuân Vũ, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Phương Triều, Lê Xuyên, Anh Vân, Song Thi, Tiểu Thu, Dư Thị Diễm Buồn, Hòang Xuyên Anh, Ngọc An, Vũ Nam.

Trước buổi ra mắt sách, một số chương trình phát thanh tại San Jose đã phỏng vấn Hồ Trường An về sinh họat viết văn của ông, tạo không khí văn chương hào hứng dành cho một tác giả gốc miền Nam được coi là một trong những  người có sách xuất bản nhiều nhất hải ngọai.

Nhà văn nữ Ngọc An và Hòang Xuyên Anh đã đứng ra tổ chức buổi ra mắt sách qui tụ đông đảo người tham dự. Có thêm Vũ Nam đến từ Đức Quốc, Anh Vân từ Nam Cali.

Nhà văn Diệu Tần đã đọc bài nhận xét về tác giả và tác phẩm dài 4 trang giấy. Khách đến mong chờ nghe nhà văn Hồ Trường An kể chuyện  duyên dáng như cách ông đã diễn tả trong những tác phẩm, nhưng ông chỉ tâm tình vài phút ngắn, cám ơn mọi người.

Đây cũng là nét đặc biệt của một buổi ra mắt sách,  một tác giả nổi danh, viết nhiều nhưng lại nói ít.

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cũng đến để gặp nhà văn Hồ Trường An.

Bút khảo Quê Nam Một Cõi do nhà xuất bản Hoa Ô Môi xuất bản năm 2007, không ghi giá bán.

                                                      Ra mắt sách ở San Jose – 2007

                                            Hồ Trường An, Anh Vân, Vũ Nam, Tiểu Thu …

                                                      Ra mắt sách ở Sacramento – 2007

   Sương Mai, Dư thị Diễm Buồn, Tiểu Thu, Nguyễn Phan Ngọc An, Hoàng Ngọc Liên, Hồ Trường An và Anh Vân

                          Quỳnh Giao, Tiếng Ca Mở Nẻo Lam Kiều
                     *** Hồ Trường An, trích trong « Theo Chân Những Tiếng Hát » ***

Tôi biết tiếng hát Quỳnh Giao từ khi tôi vào trường Cao Tiểu Vĩnh Long (Collège de Vinh-Long) vào năm 1950. Lúc đó cô chỉ là một cô ngọc nữ xinh tươi với cái tên là Công Tằng Tôn Nữ Đoan Trang, lấy cái tên Đoan Trang của mình làm nghệ danh. Cô hát chung với ông anh Bửu Minh của mình (lấy nghệ danh là Anh Minh). Cả hai là con chung của nữ danh ca Minh Trang và hoàng thân Nguyễn Phước Ưng Quả. Ông Ưng Quả là thầy dạy của Thái tử Bảo Long, một bậc trí thức nổi bật trong hoàng tộc thuở đó, đã từng viết nhiều tờ báo tiếng Pháp do người Pháp chủ trương.

Quỳnh Giao là hậu duệ của ngài Tuy Lý Vương Miên Trinh. Vương cùng ông anh khác mẹ là ngài Tùng Thiện Vương nổi tiếng về thi ca. Dòng dõi của vương, về bên nữ có vài bà tôn nữ giỏi thơ văn như Công Tằng Tôn Nữ Tri Túc (bút hiệu là Cỏ May, Cỏ Tháng Giêng), Công Tằng Tôn Nữ Tri Thức (bút hiệu là Hoàng Du Thụy), Công Huyền Tôn Nữ Nha Trang (bút hiệu là Thanh Nhung). Riêng Công Tằng Tôn Nữ Đoan Trang khi đến tuổi cài trâm lại lấy nghệ danh là Quỳnh Giao. Và khi ra hải ngoại, cô bắt đầu cầm bút viết phê bình văn chương, viết những bài tưởng niệm các nhạc sĩ vừa qua đời hay vinh danh các nhạc sĩ còn tại thế.


Tôi đã say mê cô ngọc nữ Đoan Trang cùng cậu kim đồng Anh Minh song ca bài “Dưới Nắng Hồng” của Dương Thiệu Tước. Eo ơi, cả hai mới sáu bảy tuổi chứ mấy, khi hát mà còn ngân nga rựa ràng nào khác cặp song ca Bích Chiêu & Tuấn Ngọc vốn là hai chị em ruột (chị gái và em trai). Và khi Đoan Trang lớn lên để trở thành cô xuân kiều xinh tươi thì tôi quên hẳn cô vì lúc đó cô theo đuổi việc sách đèn và học môn dương cầm tại trường Quốc Gia Âm Nhạc. Đến khi cô trở thành thiếu nữ đoan trang thùy mị với nghệ danh Quỳnh Giao thì tôi được nghe cô hát trên đài Sài Gòn và đài Quân Đội, khi thì song ca với Mai Hương, khi thì tam ca với Mai Hương và Như Thủy (em gái Nhật Trường), và sau hết tam ca với Mai Hương và Phương Nga. Làm sao tôi quên được Mai Hương, Quỳnh Giao và Như Thủy tam ca bản “Hồ Lãng Bạc” của Xuân Tùng; ở điệp khúc cả ba ca thật xôn xao như sóng lớp lớp bủa vào mạn thuyền, nghe đã hết sức!

Vào năm 1971, tôi mới được diện kiến Quỳnh Giao tại đài Sài Gòn. Cô có dắt cháu Dương Ngọc Bảo Cơ (con gái duy nhất của cô) theo. Cô bé bước đi lẫm chẫm xinh xắn như một quả tim. Còn Quỳnh Giao thì giữ dáng dấp một cô thiếu nữ 16. Chiếc áo dài của cô bằng lụa tằm hơi dầy nhưng mềm mại ửng màu nguyệt bạch, cách tô chuốc son phấn quá phơn phớt, quá gượng nhẹ của cô làm tôi tưởng chừng đó là một nữ sinh viên hơn là một ca sĩ. Tuy nhiên ở chỗ giáp nhau ở cổ áo, cô có cài chiếc trâm nhỏ hình tròn cỡ cúc áo có nạm chuỗi hột lấp lánh. Trong cuộc phỏng vấn cô, tôi tán gẫu với cô nhiều hơn là đặt câu hỏi. Tuy nhiên khi bài phỏng vấn đăng trên tuần san Minh Tinh, cô rất hài lòng. Và cô mời tôi đến tư thất cô cho biết. Thuở đó cặp uyên ương DNH & Quỳnh Giao ở chung với dì cô là bà quả phụ Đỗ Thế Phiệt (giáo sư trường Quốc Gia Âm Nhạc). Tuy là sống dưới mái nhà với bà Đỗ, nhưng cả hai có giang sơn biệt lập với chỗ ở của bà. Cho nên những khi tôi đến viếng cô thì không bao giờ tôi gặp bà.

Miền Nam thất thủ; trước ngày 30/4/75 vài hôm, gia đình Quỳnh Giao di tản qua đảo Guam rồi định cư trên tiểu bang Virginia. Còn tôi, phải đợi đến hai năm sau mới định cư trên đất Pháp. Bên kia Đại Tây Dương, Quỳnh Giao dạy tư gia môn dương cầm. Trên đất Pháp, tôi làm báo, viết báo. Và mãi tới năm 1983, tôi bắt đầu viết văn trở lại. Tới năm 1986, nhờ nhà thơ nữ Vi Khuê cũng ở Virginia mà Quỳnh Giao và tôi nối lại giao du. Vào năm 1989, tôi qua bên Washington D.C. ra mắt quyển “Giai Thoại Hồng”, có ở chơi nhà vợ chồng cô một ngày một đêm. Thuở đó cô còn chung sống với anh DNH ở thành phố Annandale. Rồi sau đó, chín năm sau, tức là vào năm 1999, tôi trở qua Washington D.C. ra mắt quyển “Theo Chân Những Tiếng Hát” thì cô không còn ở Annandale nữa; cô đã ly dị anh H. từ lâu, hình như vào năm 1990 thì phải và đã thiên cư qua bên California.

Vào một sáng giữa thu lành lạnh, nhưng nắng đẹp tuyệt vời như bạc lỏng, Quỳnh Giao lái xe đến nhà bạn của tôi tức là Tiến sĩ Phạm Văn Hải (khi viết văn ký bút hiệu Hải Vân Phạm Văn Hải) ở trong vùng thơ mộng nhất của thành phố Falls Church để đưa tôi đi ăn trưa tại tiệm mì Kim Sơn. Chúng tôi có nhiều chuyện để kể cho nhau nghe, chuyện ca giới lẫn chuyện văn giới, chuyện những văn nghệ sĩ còn kẹt ở quê nhà cho nên chẳng ai ăn hết tô mì. Sau đó, cô đưa tôi về tư thất cô nằm trong khu tráng lệ của thành phố Fairfax. Nhà cô sạch bóng, cách chưng dọn thật trang nhã. Tại phòng khách có treo tấm ảnh phóng đại của cô chụp chung với người bạn lòng của cô. Đó là anh Nguyễn Xuân Nghĩa, một chính khách và cũng là một học giả.

Cách xa nhau 9 năm, trong khoảng thời gian ấy, chúng tôi thư từ qua lại chỉ có vài lần. Nhưng khi thực hiện được dĩa nhạc nào, Quỳnh Giao cũng nhớ gửi tặng tôi. Gặp lại cô ở Virginia, tôi thấy cô đẹp dễ sợ. Trước đó, nhan sắc cô chỉ dễ coi mà thôi. Cô trội hơn các ca sĩ khác ở vẻ cao sang thanh thoát của một tôn nữ, ở kiến thức văn chương nghệ thuật theo truyền thống “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”. Nhưng bước vào tuổi ngũ tuần, cô hiện thân là một trung niên mỹ phụ. Thần thái cô sáng rực lên. Gương mặt với cặp má hơi thỏn của cô thuở nào thì giờ đây lại đầy đặn thêm ra. Cặp lưỡng quyền tuy thế vẫn không mất, vẫn còn rõ nét để tạo cho cô một vẻ duyên dáng nồng mặn. Bởi vì không có lưỡng quyền rõ nét, khuôn mặt người đàn bà sẽ trơ trẻn và phèn phẹt như tảng bánh đúc thế nào ấy! Cặp mắt cô được tô viền đen, sáng rờn rợn, sáng uy nghiêm…

Trong lúc chuyện vãn về ca nhạc, Quỳnh Giao không dùng những danh từ chuyên biệt dành cho âm nhạc, mà dùng những ngôn từ rất là “bà già trầu” đã được tôi nạm lác đác trong quyển “Theo Chân Những Tiếng Hát” của tôi. Không hiểu có phải cô muốn làm đẹp lòng tôi mà nói những tiếng quê mùa? Hoặc là cô thấy ngôn ngữ chuyên biệt dành cho âm nhạc trở thành những pho cẩm thạch vô hồn khi bàn chuyện với một tác giả ưa viết truyện miệt vườn như tôi? Hay là trong lúc nói chuyện với người bạn cố tri, cô thấy ngôn ngữ “bà già trầu miền Nam” lại gợi cảm hơn?

Hồi còn ở quê nhà, trên Tivi tôi chưa thấy ai hát bản “Xuân Và Tuổi Trẻ” của La Hối (do Thế Lữ phổ lời) tươi vui rạng rỡ như Quỳnh Giao, dù khi diễn tả bài này cô không nhún nhẩy, không phô trương mắt liếc miệng cười. Hát mà lẳng nhức lẳng nhối, điệu đà, ỏn ẻn như mấy cô vợ bé nũng nịu với chồng là không có cô. Ở ngay tiếng hát cô, khán thính giả đã thấy mùa xuân tươi sáng và tuổi trẻ hạnh phúc ở trong đó rồi. Còn bản “Giòng Sông Xanh” của Johann Strauss (do Phạm Duy phổ lời Việt) nữa chi. Cô hát sao mà nhẹ nhàng, thênh thang, trơn ngọt, ngân bằng nguyên âm (vocaliser) thật sướng tai! Từng chuỗi ngân dài như dải lụa rập rờn trong gió tuôn ra không chút nắn nót.

Thuở đó, Quỳnh Giao hơi gầy, hơi kiều nhược, nhưng giọng cô lại khá mạnh. Mỗi sáng cô uống một cốc nước cam vắt pha mật ong để cho trơn cổ mát họng trước khi tự luyện giọng bằng cách vocaliser từ thấp lên cao, từ cao xuống thấp những vần a, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư… Đó là lối luyện chân truyền của các ca sĩ Tây Phương.

Quỳnh Giao hát cực kỳ điêu luyện, ai cũng biết. Quỳnh Giao tốt nghiệp môn dương cầm trường Quốc Gia Âm Nhạc, có ngón đàn tươi và sành điệu, chắc chẳng ai quên. Nhưng mấy ai biết được sự thủy chung và ý tình thắm thiết của cô đối với ca hát? Ca hát là tôn giáo của cô, là mục đích mà cô đeo đuổi hơn ba phần tư cuộc đời, dù khách sành điệu của cô quá ít, dù kẻ biết được cái chân giá trị của giọng hát cô chẳng được bao người đi nữa.

Ở ngoài đời, Quỳnh Giao có cung cách thật cao sang, cho nên cô giữ gìn tiếng hát cô quý phái theo. Cô không bao giờ vừa hát vừa nhỏng nhẻo với khán giả, hoặc làm như hổn hển say nhừ lạc thú ái ân như mấy bà sủng phi ỏn ẻn mê hoặc đức vua hiếu sắc hiếu dâm, như mấy cô kỹ nữ nịch ái các khách làng chơi khờ khạo. Cô đưa tình cảm vào giọng hát có chừng mực. Người chưa sành điệu khó cảm thông nổi giọng hát của cô vì đối với họ nó hơi làn lạt, chưa đủ ngọt say sưa như mật ong, mà cũng không đắng đậm như mật gấu. Tuy nhiên cô không hát quá chân phương như Mộc Lan hay như Anh Ngọc. Tình cảm trong giọng hát của cô phơn phớt và dịu nhẹ. Cô cũng dùng nét láy thật mềm để trang sức cho giọng hát mình thêm nét gợi cảm, để nữ tính cô được bộc lộ một phần nào. Hình như cho tới bây giờ, Quỳnh Giao vẫn giữ giọng thiếu nữ non mềm và tươi mươn mướt, một giọng trong ngần và trắng lóa như pha lê. Từ khi ra hải ngoại, khi hát ở những chỗ hơi trầm, tiếng cô hơi khào khào một chút, thật gợi cảm như giọng thiếu phụ. Tuy nhiên, rồi đâu cũng vào đó, tiếng hát cô cũng trở về cái giọng thánh thiện và trinh khiết gợi nên hình ảnh thiên thần cánh trắng.

Giọng Quỳnh Giao thuộc loại kim (soprano). Khi hát ở những chỗ ngang ngang thì nó quá dịu mềm làm cho chúng ta nghĩ tới hình ảnh các cô khuê nữ kiều nhược. Khi lên cao, giọng cô tuy không xé lụa như giọng Ánh Tuyết, tuy không lảnh lót chuông ngân như giọng Thùy Nhiên năm nào, nhưng vẫn chắc, vẫn dẻo, vẫn thoải mái và thống khoái. Cô lại còn ưa chuyền hơi, từ tiếng chót câu đầu cô ngân nga thật dài rồi bắt qua tiếng đầu của câu sau với một làn hơi óng ả vóc nhung tơ và dồi như nước sông mùa lũ, nghe mà cảm thấy đã cái lỗ tai biết dường nào!

Từ năm 1986 cho tới bây giờ, ngoài hai băng nhạc “Hát Cho Kỷ Niệm 1” và “Hát Cho Kỷ Niệm 2”, Quỳnh Giao thực hiện cho riêng mình những dĩa nhạc “Khúc Nguyệt Quỳnh”, “Tiếng Chuông Chiều Thu”, “Chiều Về Trên Sông”, “Ngàn Thu Áo Tím”, “Hành Trình Phạm Duy”. Lại còn dĩa nhạc “Tìm Nhau Bốn Mùa” mà cô hát chung với Kim Tước và Mai Hương nữa chi!

Quỳnh Giao thường hát những bài chọn lọc, có phẩm chất cao. Cô không chiều theo thị hiếu của khán thính giả tạp nhạp. Cô nhắm vào khách sành điệu ít oi, dù nghìn người chỉ có một người đi nữa. Cô hát những bản có nhiều chỗ lên cao để cô có thể biểu diễn giọng kim cao vút và sáng nguy nga, sáng lồng lộng của mình như “Chiều Về Trên Sông” của Phạm Duy, “Tiếng Dương Cầm” và “Mưa Trên Phím Ngà” của Văn Phụng, “Hẹn Một Ngày Về” của Lê Hữu Mục, “Tiếng Thời Gian” của Lâm Tuyền, “Hoài Cảm” và “Thu Vàng” của Cung Tiến. Bản “Sao Đêm” của Lê Trọng Nguyễn và bản “Đường Chiều Lá Rụng” của Phạm Duy tuy không có chỗ lên quá cao nhưng vẫn là hai bản khó hát, các ca sĩ có kỹ thuật non kém sẽ hát tuột giọng, đâm hơi, lạc giọng… Nhưng vốn có kỹ thuật thâm hậu, Quỳnh Giao hát rất đúng giọng, không sai một bán cung, rất điệu nghệ, càng nghe càng khoái.

Càng lớn tuổi, cô càng luyện giọng siêng chăm hơn nên làn hơi cô thêm mạnh, chuỗi ngân càng đẹp tuyệt vời. Rõ ràng là đây là rượu bồ đào càng để lâu càng nồng ngát say sưa.

Từ căn bản, giọng hát của Quỳnh Giao trong như nước ngọt mát rỉ rả trong lòng giếng trên chùa đồi Mai mà nhà văn Nguyễn Tuân đã nói tới trong truyện ngắn « Những Cái Ấm Đất » (trong tập truyện « Vang Bóng Một Thời »). Nước ấy ngon khác nào nước mưa sa giữa trời được hứng bằng chiếc bồn Xích Bích tráng men mà nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội đã tả trong quyển tiểu thuyết dã sử « Nàng Ái Cơ Trong Chậu Úp ». Hai thứ nước ấy dùng pha trà, chưng yến, chưng sâm rất ngon; nhưng khi múc từ giếng từ bồn ra uống liền thì nước trôi tới đâu mát mẻ khỏe khoắn tới đó, làm ẩm khách liên tưởng tới cam lộ trong tịnh bình của Quan Thê Âm Bồ Tát.

Ngoài âm sắc trong veo như vừa kể, tiếng hát đó tràn tới ta như nắng mai thật sáng đẹp, thật tươi vàng như hổ phách vào ngày Nguyên Đán hay những ngày cận Tết. Nắng đó như giát thủy tinh lên lá cây bóng mượt, như rắc pha lê lên mặt ao đầm gợn sóng lăn tăn … Những tấm lụa đào phơi trong nắng sẽ hắt ánh hồng rực rỡ lên đôi má trắng mịn của cô gái đến gần lụa làm người ngắm tưởng chừng như cô đang say rượu hợp cẩn. Những bông hoa hải đường, hồng nhung, thiên lý, hoa ti-gôn, hoa đậu ván, hoa mướp, hoa cải sẽ thắm sắc và xôn xao màu hơn.

Tiếng hát cao vút không gợn đục bởi tình cảm sướt mướt của Quỳnh Giao một khi cất lên như đưa tâm hồn khán thính giả đến tận nẻo Lam Kiều in trên mây xanh nổi chập chùng mây trắng để họ bước vào cõi tiên. Ở đó, sẽ có những nàng tiên như trong cổ tích Việt Nam như Giáng Hương, Giáng Kiều, Liễu Hạnh hay những nàng tiên như trong thần thoại của Trung Hoa như Hằng Nga, Vân Anh, Thái Loan, Lộng Ngọc đón đợi chúng ta bằng những tiếng hát lót nền cho tiếng hát của Quỳnh Giao.

    THEO CHÂN NỮ SĨ VI KHUÊ ÐI TRÊNLỚP SÓNG

       PHẾ HƯNG CỦA VĂN CHƯƠNG HẢI NGOẠI
                               Hồ Trường AnGIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG 2006

 » Bắt đầu từ năm 1985, văn đàn Việt Nam ở hải ngoại mới được phái đẹp tham gia tích cực và đóng góp nhiều văn phẩm thi phẩm có giá trị. Nhưng trước đó, từ năm 1975 cho tới 1981, văn đàn vốn quạnh quẽ tiêu điều, trân cầm vắng bóng, thụy điểu biệt tăm, bướm đẹp chưa chui ra khỏi ổ kén. Các cây bút phái mạnh đã từng vang danh nổi tiếng trong nước một khi ra hải ngoại ở bước đầu định cư vì phải lo vấn đề cơm áo nên họ ngại cầm bút, huống hồ là bậc nữ lưu phải vừa kiếm sống vừa lo việc nội trợ tề gia?

Vào tháng 7 năm 1982, tạp san Văn do Mai Thảo chủ trương đã thắp thêm hào quang cho hai chị Tuệ Nga và Vi Khuê. Ðó là hai nhà thơ nữ mà trước năm 1975 đã từng đóng góp cho thi đàn miền Nam, mỗi người một pho phương cảo sáng giá qua hình thức tập thơ: “Suối” của Tuệ Nga và “Giọt Lệ” của Vi Khuê. Trên đất nước quê hương, mạch sáng tác của họ hãy còn thưa thớt rỉ rả. Riêng về chị Vi Khuê, theo tôi được biết, vào thời điểm trước 1975, chị quá bận rộn chức vụ hiệu trưởng trường Trung Học Tư Thục Ðệ Nhị Cấp Văn Khoa tại Ðà Lạt, sau khi đã từ dịch khỏi ngành Thông Tin Văn Hóa của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa với 20 năm công vụ thâm niên. Ðó có nghĩa là, trong chặng đường thanh xuân của Vi Khuê, chị đã luôn luôn bận rộn với công việc mưu sinh xây dựng trên hai ngành văn hóa và giáo dục. Cho nên dù muốn dù không, chị không thể đem hết tâm cơ để dấn thân vào cuộc bút trình và vào công việc tạo dựng sự nghiệp văn chương cho mình. Chính văn chương mới là địa hạt thích hợp với khả năng, sở trường và hoài bão của chị. Như từ 1980 đến nay, độc giả kiều bào chúng ta há không chứng kiến cái lâu đài văn chương của chị nếu không nguy nga thì cũng tráng lệ hay sao? Nhắc lại thời điểm trước cái mốc lịch sử, lúc ấy cơn bão thời cuộc đang lộng hành, đất nước đang oằn oại trong khói lửa đạn bom. Nhưng khi Chị Vi Khuê từ thành phố Ðà Lạt ra đi giữa lúc Miền Nam Việt đang hấp hối thì cùng một lúc đó chị Tuệ Nga theo làn sóng di tản qua đảo Guam. Sau khi tìm đất nước Hợp Chúng Quốc để định cư, cả hai cầm bút trở lại. Mạch sáng tác của họ trở thành phồn thịnh, kho tàng cảm hứng của họ trở nên phong phú và khởi sắc tuyệt vời. Từ đó cho tới nay, Tuệ Nga vẫn miệt mài làm thơ, cho xuất bản khá nhiều thi tập. Còn Vi Khuê, thi sĩ, vẫn không bỏ thơ một khi đã khám phá ở chính mình cái khả năng sáng tác văn xuôi dồi dào chẳng kém. Hai thể loại văn chương của chị song hành với nhau, cùng đưa tên tuổi chị lên đỉnh cao sơn Olympia huy hoàng ánh sáng. Thơ Tuệ Nga theo đường lối bán cổ điển đẹp như gấm thêu hoa, nối gót Vũ Hoàng Chương, Ðông Hồ, Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội. Thơ Vi Khuê vượt thời gian, gợi nên hình ảnh rực rỡ trong lăng kính vạn hoa, được hình thành qua nhiều thể loại, thích ứng với sự biến hóa không ngừng nghỉ của bộ môn nghệ thuật sáng tác cao quý nhất này.

Về văn xuôi, Chị Vi Khuê viết truyện ngắn và biên khảo và thoại kịch, bi lẫn hài. Ðã vậy, chị sắm vai bà Táo mỗi năm một lần đọc sớ dài đến mấy trăm câu do chính tay chị soạn để trình lên Thượng Ðế thật vui nhộn. Tuy nhiên chị chưa viết truyện dài. Ðề tài trong các truyện ngắn của chị gồm cuộc sống nhục nhằn của đồng bào ở quê nhà đang bị bao vây bởi bức màn tre và cuộc sống lạc phương hướng của kiều bào khắp bốn phương trời hải ngoại. Bằng lối văn trong sáng như dòng suối chảy thánh thót trên lớp cát vàng óng mịn, chị vẽ ra nhiều thảm trạng thương tâm. Chị viết văn không bằng ngọn lửa hận thù theo làn sóng thời thượng. Chị biết tự chủ lấy ngòi bút của mình, viết văn bằng một thái độ ung dung điềm đạm, bằng ánh sáng thiên lương soi rọi tỏ rạng cảnh thiên bạch nhật. Cho nên văn chương của chị có nồng độ truyền cảm không gay gắt nhưng rất thấm thía. Chị đi theo bước chân của Nữ Sĩ Pearl S. Buck (Hoa Kỳ) và Eleen Chang (Trương Ái Linh, Trung Hoa), không bù lu bù loa khi diễn tả cảnh thương tâm, không hằn học chì chiết khi nói đến cảnh trái tai gai mắt. Chị viết viết văn bằng sự thăng bằng và hòa điệu giữa lý trí và tình cảm; đôi mắt dò xét rất thông minh của chị nhìn sâu vào từng lớp sóng phế hưng của lịch sử, vào từng thời cuộc tráo trở, vào từng tấn bi kịch của đời sống, vào từng cái tế nhị phức tạp của nội giới con người.

Trong truyện ngắn, Vi Khuê biến kiến thức về chính trị thành hình sương bóng khói giăng bàng bạc khắp tác phẩm. Chị không tương vào đó một cách cẩu thả vụng về dăm ba tài liệu chính trị khô cứng vô hồn.

Thi ca của Vi Khuê đủ thể loại: thơ lục bát, thơ thất ngôn bát cú, thơ tứ tuyệt, thơ tám chữ, thơ tự do, thơ gồm nhiều đoạn (strophes) mà mỗi đoạn gồm 4 câu bảy chữ, thơ lục bát mà từng cặp được xắn từng mảnh rời và khi đọc qua chúng ta tưởng đâu đó là thơ tự do. Ðề tài trong thi ca của chị rất phong phú: tâm linh, tôn giáo, tâm tình đượm nhuần Thiền phong Thiền vị, hiện tình đất nước, nỗi buồn lưu vong, những thảm trạng của nhân loại, tình yêu pha trộn nhiều nhân sinh quan rất mới và rất cập nhật. Còn trường phái thi ca của chị thì sao? Hình như chị làm thơ tùy hứng: khi thì trường phái cổ điển, khi thì trường phái lãng mạn, khi thì trường phái hiện thực, hoặc trường phái ấn tượng, hay trường phái siêu thực… Nhưng nhờ thần trí sáng tạo dồi dào và nhờ trái tim mẫn cảm, chị làm loại thơ nào cũng chói chan thần trí sáng tạo. Ðến đỗi hai loại thơ lỗi thời là thơ cổ điển và thơ lãng mạn (qua đề tài tình yêu), chị vẫn áp dụng triệt để sự canh tân. Cho nên thơ theo hai trường phái ấy dưới ngòi bút của chị có nhiều ngữ pháp mới, nhiều ngôn từ sáng tạo rất kỳ thú, nhiều cánh cửa đẩy thơ lọt ra khỏi sào huyệt quen thuộc bé nhỏ, đưa thơ vượt qua khuôn khổ nhàm chán để bay vào khung trời mênh mông tình ý viễn thâm.

Về thi ca, Vi Khuê biến những tư tưởng tâm linh, kiến thức về tôn giáo, nhân sinh quan thành những chất liệu rất thơ. Chị không nhồi nhét vào đó những câu kinh bài kệ, những đoạn trong loại sách Học Làm Người của Nguyễn Hiến Lê một cách bừa bãi và lộ liễu, chẳng những để tránh cho thơ khỏi méo mó tật nguyền mà còn làm thơ thêm sâu sắc về triết lý sống.

Chị Vi Khuê sáng tác thơ và truyện ngắn dồi dào như rải mưa hoặc ướp sương cho khu vườn cây cỏ xanh tươi, cho chồi non lộc biếc nhú mầm, cho nhánh non cành già tươi ngăn ngắt.

Từ năm 1987 cho tới trở về sau, văn chương nữ lưu như trăm hoa thịnh phóng với nghìn tía muôn hồng chen chúc; nhưng trong vàng vẫn có chen lộn chì thau, hay trong ngọc vẫn có trà trộn sỏi đá. Rồi văn chương đương đại và văn chương hậu hiện đại lần lượt xuất hiện, được quý bà quý cô tưng bừng chào đón và phấn khởi tham gia. Nhưng chị Vi Khuê vẫn không thay đổi đường lối sáng tác mà chị đã từng vạch nên một chân trời in 7 sắc cầu vồng lộng lẫy. Chị không chấp nhận thời trang, không quen các cuộc phiêu lưu liều lĩnh trong văn chương một khi chị đã có một cương vị sáng chói trên văn thi đàn… »

                                                           MỜI ĐỌC: TOÀN BÀI VIẾT (PDF)

Bài xướng
TRẮNG NHƯ KHÔNG
Mênh mang sương tuyết phủ chiều đông
Phơ phất tơ buông nhẹ cánh hồng
Cây lạnh đơm đầy hoa lá bạc
Vườn thưa ôm kín gối chăn bông
Bao la trời đất tình cao khiết
Gần gũi đá vàng nghĩa thủy chung
Ðường dẫu vương bay dăm hạt bụi
Tuyết sương bôi xóa trắng như không


NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG

Bài họa 1
MỘNG CŨNG KHÔNG
Ðã thấy in trên tuyết chớm đông
Vết chân chim nhạn, móng chim hồng
Ðón tin xuân luống mòn tim đá
Khơi lửa lò chưa ấm đệm bông
Nguồn sống, tay cuồng vùi tắt mạch
Tiệc đời, rượu đắng rót đầy chung
Còn chi chờ nữa đời lưu lạc?
Hạnh phúc chưa về, mộng cũng không.


HỒ TRƯỜNG AN

Bài họa 2
SẮC KHÔNG
Lưu đầy ra khỏi đất phương đông
Thăm thẳm chiều trôi nhớ Lạc Hồng
Hóa kiếp nghìn trùng thân lận đận
Ðổi đời muôn dặm phận lông bông
Công danh bạc thếch phần lương đống
Phú quí đen sì miếng đỉnh chung
Cát bụi trở về theo cát bụi
Vô thường sắc sắc với không không


PHAN KHÂM

Bài họa 3
BIẾT CÓ KHÔNG
Nghe lạnh theo về bỗng chớm Ðông
Vườn bên sót lại đóa hoa hồng
Vẫn thừa nhiều lắm chờ mong cũ
Nào thiếu gì đâu nệm gối bông
Tuy cảnh đã đành là cảnh khác
Nhưng sầu âu cũng mối sầu chung
Cuộc đời ngắn ngủi phù du quá
Tâm sự ngàn xưa biết có không?


HUỆ THU

           Nhà văn Hồ Trường An – Sống Theo Cái Đức
                                    ** Lưu Diệu Vân thực hiện **
 
Nhà văn Hồ Trường An tên thật là Nguyễn Viết Quang. Sinh ngày 11 tháng 11, 1938 tại Vĩnh Long. Ông định cư tại Pháp vào năm 1977 và hiện đang sống ở thành phố Troyes. Ông đã cộng tác với nhiều tạp chí văn chương trong và ngoài nước và là tác giả 60 tác phẩm gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận và bút ký. Ông vẫn tiếp tục sáng tác hăng say và hiện là một trong số ít tác giả lưu vong có số sách xuất bản kỷ lục tại hải ngoại. Ông tạo được một chỗ đứng riêng biệt trong dòng văn chương việt qua lối viết gần gũi và đề tài chân quê chất phác.
 Hôm nay, ngoài cương vị người viết, nhà văn còn sẽ đến với chúng ta qua một vai trò mới khá thú vị – nhà xã hội học bất đắc dĩ – cũng bằng giọng văn thân thiết, gần gũi và sự chân thật đặc trưng của Hồ Trường An.


 ****

Một số văn thi sĩ đến thăm nhà Hồ Trường An và người bạn tình Bernard Destrez


LDV: Giới tính là một đề tài khá nhạy cảm và đòi hỏi sự bộc bạch hết sức can đảm từ phía người chia sẻ. Không thiếu những nhà văn Việt viết nhiều về đề tài giới tính, nhưng hầu như ít ai thích nói về nó một cách cởi mở trong những trang viết có tính cách cá nhân, trừ Hồ Trường An. Dũng khí quan trọng như thế nào đối với một người viết?
 
HTA: Cô Vân, tôi chấp nhận cuộc phỏng vấn này là môt lời tự thú trong buổi tàn thu cuộc đời. Tôi đã vào tuổi thất tuần rồi, cô ơi! Mỗi đêm, trước khi đi ngủ tôi luôn tự hỏi: sáng mai, mình có thức dậy được không đây? Hay là mình phải làm một chuyến đi tàu suốt vào giấc ngủ miên viễn? Vậy tại sao mình lại giấu diếm cái bí mật trong cuộc sống tình cảm lẫn tình dục của mình? Chấp nhận cuộc phỏng vấn của cô, tôi muốn cho lớp thế hệ bọn gay sau tôi một vài kiến thức hay một vài kinh nghiệm nhỏ nhoi nào chăng?
Vào những năm đầu của thập niên 80, tiết lộ giới tính và khuynh hướng tình dục của mình mới là hành động can đảm. Hồi đầu thập niên 60, tôi chỉ tiết lộ thân phận mình cho chị Thụy Vũ của tôi cùng một số bạn thân. Bắt đầu năm 1980 tôi có người yêu là dân Pháp chánh gốc, tôi ngang nhiên sống chung với đương sự, tới nay kể ra cũng gần 30 năm. Một phần là tôi tức giận tên Thi Vũ Võ Văn Ái (nhà báo/nhà thơ), nó nỡ đem tâm sự của tôi đi bán rao tùm lum tà la. Cho nên từ đó, khi đi dự các cuộc tiếp tân nào trong giới văn nghệ sĩ kiều bào ở Paris, tôi cũng dắt người bạn lòng của tôi theo. Đương sự nhỏ hơn tôi 9 tuổi, nhưng cái tác của hắn lớn hơn tôi khá nhiều.
Năm 1983, tôi tung ra quyển Hợp Lưu trong đó có nhân vật gay tên Quế, phản ảnh đôi chút tâm trạng của tôi. Trước tôi, vào năm 1967, bạn tôi tên Đỗ Quế Lâm có viết tiểu thuyết tự truyện tựa là ‘‘Vết Hằn Rướm Máu’’ do chính chị Thụy Vũ tôi viết lời tựa. Sau đó, ở hải ngoại, vào năm 1979, thằng bạn khác của tôi tên Lucien Trọng, một kỷ sư thủy lâm có viết quyển L’Enfer Rouge, Mon Amour do Seuil xuất bản. Sau đó nó dịch ra tiếng việt Hỏa Ngục Đỏ, Mối Tình Tôi kể lại mối tình của nó với một chàng trai bụi đời tên Hải trong thời gian hai đứa bị Cộng Sản giam cầm. Đúng như cô Vân nghĩ, hình như những cây bút gay như Đổ Quế Lâm lẫn Lucien Trọng không dám diễn tả huỵch tẹt như HTA, không mô tả cuộc làm tình tỉ mỉ và tới nơi tới chốn như HTA. Tôi diễn tả chuyện giao hợp giữa cậu trai việt và anh chàng gay quí tộc Pháp khá táo bạo và khá đậm đà. Chính nữ ca sĩ Quỳnh Giao thuở thập niên 80 bảo rằng đây là quyển sách mà Quỳnh Giao thích. Song song, cũng có rất nhiều độc giả chửi tôi khá nặng. Họ gọi điện thoại xài xể luôn anh Mai Thảo vốn là người chủ trương tờ tạp san văn chương Văn, tại sao có thể đăng từng kỳ những chương “dơ dáy nhớp nhúa” của quyển Hợp Lưu?
Còn chị hỏi tôi cái dũng khí của người viết văn thì tôi khó trả lời. Thiệt ra, tôi chẳng có một chút dũng khí nào. Sở dĩ tôi dám phô bày chơn tướng mình ra vì tôi tức giận kẻ lẻo mép thối mồm. Đã là một tên gay xấu xí mà dám viết truyện qua cái tôi của mình, một nhân vật đẹp trai như Phan An, Tống Ngọc, chẳng những được bọn gay tôn thờ mà còn được phụ nữ mê sa trầm lụy. Cũng đừng vì mình không kiếm được bồ đực để thương yêu giao hợp rồi lên giọng kích bác kẻ đồng tính luyến ái may mắn hơn mình, khuyên họ phải dẹp bỏ thói ‘‘xấu ấy’’ để trở thành kẻ bình thường. Đã là gay rồi thì trở thành kẻ biết yêu người khác phái tính sao được? Văn chương cần sự thành thật của nhà văn dị tính luyến ái đã đành mà còn của một nhà văn gay.

LDV: Đó là thế giới văn chương, còn trong cuộc sống hiện thực, ông đã từng chứng kiến những người đồng tính luyến ái bị ngược đãi quá mức. Họ có nên thỏa hiệp để tránh việc bị đánh giá thấp?
 
HTA: Còn ở ngoài đời, hai chàng gay không nên âu yếm ở chốn công cộng vì đa số người chứng kiến vốn không quen cảnh hôn hít trái cựa như vậy, họ sẽ bị dị ứng và chướng mắt ngay. Cũng đừng phùng xòe bộ đi tướng đứng oai phong lẫm liệt một cách phường tuồng mà bị thiên hạ quở rằng các chàng gay đang đóng vai dũng tướng Địch Luông, Địch Hổ trong tuồng Hồ Quảng hay tuồng hát bội. Cũng đừng ẻo lả thục nữ quá thì chẳng có tên gay nào khác tìm đến xáp cục với mình. Gay nào mà chẳng mê mẫu người có phong độ đàn ông tính? Cũng đừng gạ gẫm ve vãn nhưng kẻ dị tính luyến ái mà chuốc lấy sự bêu rếu, sự lăng nhục của hạng người này.
Tôi thường nghĩ đồng tính luyến ái là do trời sanh ra, do cái ác nghiệp từ tiền kiếp hiện hành ở kiếp này. Bản tính mình như thế nào thì mình sống theo bản tính ấy, can gì phải giấu diếm? Đau khổ nhứt cho những kẻ vì bảo vệ nghề nghiệp trong các công sở, vì đã lỡ tạo lập gia đình, nên có cuộc sống song đôi. Họ lén lút ăn nằm với bọn gay bán tình và luôn nơm nớp lo sợ chuyện bí mật của mình bị tiết lộ. Đồng tính luyến ái là cái bản tính tự nhiên của một số người. Bắt những chàng gay sống như người bình thường, cưới vợ để sanh con đẻ cái là bắt họ chống lại thiên nhiên.
Cái tức giận của tôi đối với một tên bạn Võ Văn Ái thèo lẻo ác ôn làm tôi bạo dạn, trở nên thách thức với những kẻ có đầu óc hẹp hòi. Cho nên tôi từ bỏ cuộc sống song đôi, chỉ sống theo cuộc sống bọn gay… cho gọn. Tôi không muốn giả dối, không giấu diếm cái sở thích yêu người đồng phái tính của mình làm chi cho phiền phức. Phải đơn giản hóa cuộc sống, phải sống tràn đầy và nguyên vẹn cuộc đời riêng biệt của mình với tấm lòng thành khẩn thì may ra mới tìm được hạnh phúc.

                                         MỜI XEM  TOÀN BÀI (PDF)

                      Văn hải ngoại sau 1975: Hồ Trường An qua Trần Vũ
                          Troyes, Cơn Mưa Sáng
                             Đến với Hồ Trường An một sáng tháng 3-1989

« … Sĩ Liêm chân chất bình dị, hay đùa giỡn, đưa một ngón tay lên vẽ vòng tròn quầng thâm quanh mắt. Từ lúc quen nhau, Liêm chỉ rình rập cơ hội xỏ tôi là “tên bồ đội”, vì tôi viết truyện Đồng Cỏ Miên đăng trên Làng Văn năm trước, kể chuyện một đám học sinh miền Nam bị bắt đi nghĩa vụ bên Kampuchia tìm cách đào ngũ, nhưng tất cả đều chết hết. Tôi còn nhớ đã viết “Đất Thái, tệ hơn một lối thoát cay đắng.” Vì đã nhớ đến những bạn trung học của mình ít may mắn, không tiền vượt biên, đã chết dấm dúi ở một xó rừng nào khi tính vượt tuyến sang Thái Lan.
— Ê cha, mình đi Hồ Trường An chưa? 7 giờ rồi!
Sĩ Liêm nhắc, cả ba đã hẹn gặp Hồ Trường An sau Tết. Liêm là cháu ruột gọi Hồ Trường An bằng cậu. Người bạn văn nghệ đầu tiên của tôi là một người Nam dễ vui, dễ sống. Liêm đứng ra làm “môi giới” cho tôi với anh Khôi đến gần với thế giới của Phấn Bướm. Khi ấy Hồ Trường An nổi như cồn với hai truyện dài Hợp Lưu và Phấn Bướm. Rồi các tập Lúa Tiêu Ruộng Biền, Ngát Hương Mật Ong liên tiếp xuất bản. Gặp Hồ Trường An là gặp thế giới Miệt Vườn lạ lùng, nhưng chúng tôi muốn gặp.
— Ê, khóa cửa! Sĩ Liêm nhắc.
Lúc đóng cửa vặn hai vòng khóa, tôi cảm giác mình đang đóng tủ sách đô thị để về quê.
Quốc lộ 104 nối qua xa lộ A5 xuyên qua các thị trấn cổ để đến thành Troyes hãy còn mù sương. Con đường hừng đông sáng mờ, vắng tênh, đây đó những vũng tuyết đang tan chảy thành những lạch nước. Các đống rơm rạ sùm sụp như những ông địa mập khoát áo choàng. Liêm lái xe chậm vì bận “ứng khẩu” làm chung bài thơ với anh Khôi, dành tặng Hồ Trường An. Cả hai mộng thi sĩ nên ưa thơ, tôi chỉ làm được có cái tựa “Troyes, Cơn mưa sáng.” Đi một quãng, mưa nặng hạt, những giọt nước trời rơi lộp bộp như điệu nhạc của thinh không.

Trường An Cổ Nguyệt Đường
 
Cánh cửa căn chung cư lầu một mở ra. Nhưng người đàn ông đứng ở ngưỡng cửa đón bọn tôi không phải là Lăng trong truyện dài Hợp Lưu. Không phải nhân vật nam được tượng hình vào độ tuổi sung mãn với thân hình lực lưỡng, dồi dào sinh lực trong vui thú của tình yêu lẫn tình dục. Cũng không phải nhân vật chính trong Trường Hợp Của Nhường. Người đàn ông đang dang tay kéo bọn tôi vào nhà, không mấy rám nắng hay phong trần như trong bức ảnh chân dung chụp nghệ thuật mà Mai Thảo chọn đăng kèm truyện ngắn Buổi Tối trên Văn tục bản số 12 tháng 6 năm 1983. Ở nhân dáng người đàn ông, tác giả của truyện ngắn Bèo Bọt đăng trên Văn Học năm 1986, vẽ dân dã xuề xòa nhiều hơn là nét thoát tục được phô diễn và miêu tả ở nhân vật cậu Ba Chí Thành.
Sáng ấy, hình như tôi có hơi thất vọng một phút ở ngưỡng cửa nhà Hồ Trường An, vì không đối chiếu được nhân vật với tác giả. Hồ Trường An dĩ nhiên không biết và không bận tâm cho phút “băn khoăn tiểu thuyết” đó. Ông vui vẻ vỗ vai Sĩ Liêm, bắt tay anh Khôi và kéo tôi vào nhà. Bốn cái ly được “xào” mau chóng trên mặt bàn. Lúc dung tích rượu Suze vàng óng dâng đầy ly, ngửng lên bắt gặp hình ảnh Hồ Trường An bình thản rót rượu, tôi nhận ra mình đã lẫn lộn giữa con người, tiểu thuyết với đời sống thật. Thế giới của hư cấu phải khác với hiện thực … »

 Trần Vũ

                                                       MỜI XEM TOÀN BÀI (PDF)

 phác họa hồ trường an

không cụng ly nâng chén
không bắt tay gác chân
vẫn có vài kỷ niệm
nhớ lại còn bâng khuâng
 
dưới tên Đào Huy Đán
ông gợi ý, mở đường
cho tôi trải tâm sự
có hơi hám văn chương
 
ông hỏi nhiều câu lắm
may, tôi không hụt hơi
nhờ bốc sự thật bỏ
lên dòng chữ vậy thôi
 
ông nhắc vài tên bạn
cùng khóa lính với ông
ông sau tôi hai khóa
đời hơn tôi ba năm
 
ông cũng kể nhiều chuyện
cà kê Bà Già Trầu
tôi nghe vui để bụng
khoan khoái thở, nhẹ đầu
 
ông đang rất lừng lẫy
một cây viết đắt hàng
làm giàu nhà xuất bản
riêng ông danh tiếng vang
 
với một chục truyện ngắn
hai mươi hai truyện dài
thơ, bút ký văn học
vài chục cuốn sánh vai
 
viết nhiều nhưng không loãng
nhờ văn phong miền Nam
duyên dáng lẫn dí dỏm
thâm trầm cùng nhẹ nhàng
 
dông dài đầy quyến rũ
huê dạng đậm ngọt ngào
trang sách như dải lụa
cuốn hút người đọc vào
 
ông phê bình nhận định
cũng tinh tế vững vàng
một đôi khi tỉ mỉ
rất ư Hồ Trường An
 
riêng tôi ông ưu ái
chơi một bài đọc thơ
riêng góc cạnh sông núi
với nhiều ý bất ngờ
 
ông cũng rất hào sảng
nghe tôi cần có em
làm đối tượng vớ vẩn
ông làm chim xanh liền
 
tôi được ngay sau đó
người tình có chân dung
tận bên trời Pháp quốc
giàu lãng mạn quá chừng
 
cuộc tình tôi có chữ
cuộc tình tôi có thơ
tương tự đám mây nổi
trôi theo gió giang hồ
 
ông có lần gọi hỏi
rằng tôi có mỏi lưng
tôi cười: bạn đoán thử
ông hí hửng bảo: đừng!
 
hôm nay, đã lâu lắm
không liên lạc với ông
nghe nói ông không khỏe
bỗng dưng nghĩ viễn vông
 
nhân đây chúc sức khỏe
bạn hiền Nguyễn Viết Quang
vẽ ông tôi lúng túng
khó, dễ cùng hoang mang
 
hôm nào tôi qua Pháp
tìm ông nói dóc chơi
mang lời Lê Vĩnh Thọ
nhắn thăm ông, lâu rồi
 
ông nhớ dành mấy quyển
chân dung các cô nương
ông Theo Chân Tiếng Hát
cho tôi gối đầu giường
 
những Chân Trời Lam Ngọc
và những Giai Thoại Hồng
cùng Chiếc Quạt Tôn Nữ
nghe đã khoái trong lòng
 
tôi vẫn nhớ lời dặn
ông ghé Mỹ gọi qua
tôi chỉ cho ngọn chữ
là được quyền đào hoa
 
chợt nhớ ông ghê gớm
lật ra Chuyện Quê Nam
không cần đọc một chữ
cũng gặp Hồ Trường An
 
Luân Hoán

   Thế Giới Tiểu Thuyết của Hồ Trường An – Nguyễn Vy Khanh

« … Nếu nhìn kỹ, toàn bộ tác phẩm của Hồ Trường An có thể nói có nhiều phần cái thế giới của cái giống thứ hai (deuxième sexe), có nữ tính, ẻo lả, màu hồng; ở những không khí, tâm lý dịu dàng hoặc sôi xục ở bên trong, ở cái hồn nhiên, thật thà dễ tin người, ở những đam mê đắm đuối không thể thắng, ngừng, ở những món ăn, cách ăn cách mặc, ở y phục, ở những dáng điệu, bộ tướng, bộ đi, ở cái không khí đào hát, cải lương, đời như kịch tính, ở cách đặt tên nhân vật, v.v. Tóm, của màu mè, của mùi và lẳng! Khi tả những tiếng hát, có thể “quỉ khốc thần sầu”, có thể vô danh, Hồ Trường An tỏ ra không khác gì một bác sĩ chuyên viên chăm sóc dây gân hay thanh đới, thanh âm của người ca sĩ! Nếu truyện và thơ Trân Sa toát một “nam-tính” thì toàn thể tác phẩm của Hồ Trường An mang một “nữ-tính” rõ rệt, bao trùm – ít ra là một không gian lạ lẫm, hấp dẫn người đọc vốn quen thứ văn chương cổ điển, nhà trường, nhẹ nhàng!

Hồ Trường An có thể viết nhanh và ít khi xem lại như ông từng cho biết, nên trong một vài tiểu thuyết đã sai thời gian tính, như khi để một bà già đầu thập niên 1950 lý luận ăn nói như sau 1970. Cả về y phục, kiểu cách, … vì chi tiết, mỹ hóa, kỹ xảo quá có thể khiến người đọc đâm nghi ngờ đọc tiểu thuyết hơn là chuyện phong tục miệt vườn! Dĩ nhiên, đã là truyện, là tiểu thuyết… và với ngọn bút của ông thì phải hiểu đây là “thế giới văn chương” của Hồ Trường An – kể cả khi ông phóng tác Chiếc Quạt Tôn Nữ (2002) theo cốt chuyện phim The Fan / Chiếc quạt, chuyện của phu nhân Windermere. Nhưng cũng nhờ trí nhớ tốt, trong cả chi tiết, do đó không lạ khi ông là người thành công nhất ở hải ngoại viết về cuộc đời sự nghiệp các danh ca, đào cải lương, tài tử phim ảnh, hoặc giới văn nghệ sĩ, báo chí, v.v. với Cõi Ký Ức Trăng Xanh, Chân Trời Lam Ngọc, Giai Thoại Hồng, Theo Chân Những Tiếng Hát , …! Và rõ rệt là ông chịu ảnh hưởng truyện bình dân Tàu như Phấn-Trang Lầu, … và truyện “nghĩa hiệp”, “ái tình tiểu thuyết” như của Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu, Phú Đức, … Cả một truyền thừa nhiều biền ngẫu, nhạc tính! Dĩ nhiên Hồ Trường An cũng không thể tránh đưa chuyện tu hành và giáo lý, tư tưởng nhà Phật vào truyện và tiểu thuyết của ông, như trong tập truyện Đêm Xanh Huyền Hoặc. » Nguyễn Vy Khanh
11-2019

                                 (BÀI VIẾT TRONG VĂN HỌC MỚI SỐ 5 – ấn hành tháng 12, 2019)    

                                                        MỜI XEM  TOÀN BÀI (PDF)


                            Hình Ảnh Người Mẹ
                                                  Hồ Trường An

Má của Hạnh chết lúc Hạnh lên ba tuổi. Tới năm bảy tuổi Hạnh không sao mường tượng nổi hình ảnh mẹ mình vì tấm di ảnh của mẹ trên bàn thờ quá lu mờ. Hạnh sống với ba và ông Bảy Liệu, người tớ già trung thành của ba. Ba vốn ít nói, ông Bảy Liệu lại càng ít nói hơn. Tuy cả hai chăm sóc Hạnh khá châu đáo, nhưng ít khi bồng ẵm, nựng nịu Hạnh. Từ sáu tuổi, Hạnh được cắp sách đến trường tiểu học Thiềng Ðức vốn là ngôi đình làng, ngay bên cạnh nhà.

Vì sống cô đơn bên cạnh hai người lầm lì, Hạnh cũng lây tánh ít nói. Hạnh hiền lành nhưng hay nổi cộc. Lũ bạn không ưa Hạnh nhưng không đứa nào dám ăn hiếp Hạnh vì Hạnh học giỏi, Hạnh trả đũa đích đáng đứa nào chọc phá Hạnh, do đó Hạnh không có bạn. Sự cô đơn làm cho Hạnh càng thêm lầm lì, khắc khổ. Hạnh không biết làm gì hơn là chúi mũi vào bài vở nhà trường.

Từ lúc Hạnh lên bảy tuổi, ba Hạnh cho Hạnh ở buồng riêng. Phòng của ba quét nước vôi trộn a dao màu thiên thanh, rèm màn thêu đục lỗ màu trắng tinh khiết. Gương lớn treo ở đầu giường và trên tấm vách áp chơn giường. Hễ ai nằm trong giường sẽ thấy bóng mình hiện chập chờn trong hệ thống gương soi đối diện nhau.

Một đêm nọ ba đi chơi về trễ, Hạnh ngủ từ lúc 9 giờ tối như thường lệ. Nửa đêm, Hạnh thức giấc vì có tiếng cười rúc rích ở buồng ba. Tiếng người đờn bà nhỏng nhẻo :

– Ðồ quỉ gì đâu á! Hai tấm kiếng soi rõ cảnh hai đứa mình như coi hát bóng vậy!

Tiếng ba năn nỉ :

– Ðừng có giỡn hớt. Ðể cho thằng con anh ngủ.

Vậy là ở buồng ba có một người đờn bà lạ. Từ hồi hiểu biết cho tới giờ, Hạnh mới thấy có một người đờn bà trong nhà. Ngôi nhà gồm ba thế hệ : một già, một tráng niên, một đứa nhỏ ở ba căn buồng riêng biệt nhau. Buồng ba và buồng Hạnh ở từng trệt, buồng ông Bảy Liệu ở trên gác. Buồng nào cũng tươm tất, sạch sẽ. Căn gác rộng, cửa sổ lớn. Vì có bóng hai cây vú sữa che kín nóc nhà nên căn gác mát mẻ. Dù vậy, căn nhà từ bao lâu nay dường như thiếu sinh khí. Cây cao bóng mát thâm u, vách tường rào vây bọc kín đáo, lạnh lùng. Hàng ba cũng rợp bóng cây nhãn, cây mận, cây sa-bô-chê. Ánh sáng ít khi lọt vào trung đường. Cái hoang vắng thê lương của ngôi nhà lọt vào tâm hồn Hạnh quá sâu đậm, đóng băng luôn ở đó, cho nên khi tiếp xúc với cái ồn ào của sân trường, lớp học, Hạnh cảm thấy mình không thể hoà nhập. Vào giờ ra chơi, Hạnh lặng lẽ đứng ở góc sân trường hay ở chỗ khuất lánh. Lũ bạn không chơi với Hạnh không phải vì tụi nó ghét Hạnh mà vì chúng không tìm thấy ở Hạnh điểm nào hấp dẫn, lôi cuốn để chúng dây dưa tiếp xúc.

Từ 10 tuổi, Hạnh đã bắt đầu đọc truyện cổ tích, đọc truyện thơ. Truyện Phạm Công Cúc Hoa làm Hạnh bần thần dã dượi. Nhứt là ở đoạn hai đứa trẻ mồ côi là Nghi Xuân, Tấn Lực bị bà dì ghẻ đuổi ra khỏi nhà, lang thang đi tìm cha là Phạm Công đang trấn đóng ở một thị trấn xa. Tụi nó vào một đêm tối trời tới bên mộ mẹ, mệt quá ngủ thiếp đi. Cúc Hoa hiện hồn về bắt chí cho Nghi Xuân, rửa mặt chải đầu cho Tấn Lực, chỉ đường về nơi Phạm Công trấn đóng để cho cha con đoàn viên… Ðó là một buổi tối, bên ngoài mưa gió đầy trời. Tại phòng khách, ánh đèn nê-ông rọi sáng một cảnh sum họp tẻ ngắt. Ba ngồi tính toán sổ sách ở bàn làm việc. Hạnh ngồi trên ghế xích đu đọc sách. Còn ông Bảy Liệu lo lau chùi chiếc xe đạp hiệu Urago mới mua của ba cho thiệt bóng loáng.

Lúc đọc tới đoạn gà bắt đầu gáy sáng, Cúc Hoa từ giã hai con để về chốn Dạ Ðài, Hạnh không nén được xúc động, ngọn trào lòng từ đáy tim, từ góc sâu thẳm của tâm hồn Hạnh trào ra khiến Hạnh hực lên một tiếng khô khốc, rồi cơn khóc ào tới, lay động toàn thân Hạnh, nước mắt tuôn như suối.

Ba sửng sốt buông viết chạy tới bên Hạnh. Thấy quyển Phạm Công Cúc Hoa nằm trên nền gạch ba chợt hiểu, ôm chầm lấy Hạnh, vỗ về :

– Hạnh! Nín đi con|

Ðêm đó, Hạnh được ngủ chung với ba. Trong giấc ngủ chập chờn, lụn vụn, Hạnh mơ màng thấy ba thỉnh thoảng đặt môi lên tóc, lên trán Hạnh. Ðó là đêm duy nhứt ba tỏ ra thương yêu Hạnh. Nhưng ba chẳng nói câu nào ngọt ngào, thân ái để sưởi ấm thêm tâm hồn con mình.

Và từ đó cho tới khi có sự xuất hiện của người đờn bà lạ trong nhà, Hạnh đã bao lần muốn hỏi xin ba kể cho Hạnh nghe những chuyện thuộc về mẹ Hạnh. Nhưng nét mặt lầm lì của ba làm Hạnh khiếp sợ, không dám thốt ra tiếng nào mỗi khi Hạnh đối diện ba.

Bên kia buồng, tiếng người đờn bà lại cất lên :

– Hình thằng con anh đây hả? Chèn ơi, nó giống anh quá! Ðể em làm mẹ nó, săn sóc nó cho tiện.

Tiếng ba vui vẻ :

– Cứ nói bậy đi! Con vợ anh hiện hồn về vặn cổ em cho coi.

Người đờn bà véo von : :

– Em hổng sợ đâu! Chị Ba đầu thai từ lâu rồi!

Giọng ngưòi đờn bà nhún nhẩy, linh hoạt, đượm âm sắc nhõng nhẽo nghe thiệt gợi cảm. Nhưng còn nhỏ Hạnh không để ý lắm, thiếp dần trong giấc ngủ thoải mái cho đến khi ánh ban mai trắng xoá lòn qua khe cửa lá sách.

Ngoài phòng sách có tiếng ba huýt sáo một điệu nhạc cũng nhún nhẩy và vui tươi như tiếng cười của người đờn bà đêm qua. Hạnh bưóc xuống giường, rời phòng ngủ đi xuống bàn ăn. Ở đó bữa ăn sáng gồm có cháo trắng, củ cải mặn, trứng muối, thịt kho rim, cà phê đã dọn sẵn.

Khi ba kéo ghế ngồi vào bàn thì người đờn bà từ ngoài vườn bước vào, tay ôm một bó bông lớn gồm có bông huệ, bông sao nhái, bông cẩm nhung. Chị ta nhìn cái độc bình bằng sứ tráng men nâu vàng, miệng phóng thanh inh ỏi :

– Chèn ơi, hổng dè anh đã bày bình sẵn cho em. Nè, anh coi bó bông em hái trong vườn : bông huệ còn búp dễ thương hông? Nè, bông cẩm nhung ở đây tốt thiệt, cánh bông lớn, nhánh lá dài sọc thiệt đẹp! Ðể em bày một bình bông thiệt chiến, thiệt bảnh cho anh thưởng thức.

Và chưa kịp cắm bông vào độc bình, chị ta nhìn qua Hạnh lăng líu :

– Thằng Hạnh đây hả anh Ba? Cặp mắt nó giống cặp mắt chị Ba quá chừng chừng! Mắt nầy là mắt nhung đó đa. Thằng nầy giống tía nhiều hơn giống má. Cặp mắt nầy mai sau luyện nhỡn kiếm, ngó cô nào là thấy hết những gì bị quần áo che kín.

Ba cười cúc cúc :

– Ăn nói tầm ruồng hoài!

Người đờn bà tới gần vuốt tóc Hạnh, kéo Hạnh sát vào người mình. Hạnh cứ để yên cho chị ta bày tỏ niềm thương mến. Mùi dầu thơm, mùi son phấn của chị ta làm Hạnh choáng ngợp. Chị ta có cái mũi hơi ngắn, cặp mắt hơi nhỏ, cái miệng cá chim chúm chím nên cặp môi có vẻ nũng nịu. Chị mặc chiếc áo túi bằng lụa tím, phơi hai cánh tay no nưỡng và trắng phau. Chiếc quần sa-teng lóng mướt càng làm cho bàn chân chị thêm trắng, gót son quí phái của chị thêm phần xinh đẹp. Miệng chị tía lia :

– Thằng nhỏ dễ thương quá, anh Ba! Anh cho em đi. Em cho nó học trường Tây. Hay thôi, anh cưới em để em làm má nó cho gọn.

Bàn tay của chị đờn bà là bàn tay búp măng, ngón mũi viết suôn suôn, mu bàn tay mềm mại, cườm tay thon và óng ả, móng tay chuốt khéo bôi vẹc-ni màu đỏ như huyết bồ câu. Chị ta vuốt ve, mơn man vai Hạnh, tái diễn cử chỉ trìu mến của ba trong đêm Hạnh đươc ngủ chung với ba. Niềm ấm áp như len lỏi vô mọi ngõ ngách trong tim Hạnh, làm mắt Hạnh rưng rưng lệ. Ba nhìn sững Hạnh. Chắc ba không thể ngờ ẩn trong vẻ lầm lì, lạnh lẽo của Hạnh là một trái tim nhạy và đa cảm. Ba không nói gì, rút khăn mù-soa ra lau nước mắt cho Hạnh. Nhưng người đờn bà thì cười hăng hắc, bảo Hạnh :

– Chắc con thấy cô, con nhớ má con chớ gì? Thôi, ngồi xuống đây ăn lót lòng đi, rồi cô dắt con đi chợ, mua đồ chơi cho con.

Rồi chị ta chắc lưõi rên rỉ :

– Em đẻ lần thứ nhứt một con a huờn, lần thứ nhì một con tỉ tất, lần thứ ba một con thị tì, rồi nín đẻ luôn. Em thèm con trai quá anh ơi! Chưa bốn mươi tuổi mà em đã sượng ngắt!

Hạnh kêu người đờn bà đó là cô Lucie. Về sau Hạnh mới biết cô ta vốn là bạn lối xóm của mẹ Hạnh. Vì cô chửa hoang nên bỏ xóm bỏ làng lên Sài gòn. Cô có ba đứa con gái, mỗi đứa một cha. Ðứa con thứ ba là đầm lai vì cô hiện giờ làm vợ thằng Tây chủ hãng la-de BGI già ngắt.

Cô Lucie hứa dẫn Hạnh đi chợ mua đồ chơi mà cô lại quên. Nhưng trong tuần lễ cô ở chơi nhà Hạnh, cô trổ tài nấu nướng nhiều món lạ cho cha con Hạnh và ông Bảy Liệu thưởng thức. Cô cười giỡn, đía dóc, giễu cợt huyên thuyên, nhưng khi vô buồng ba Hạnh là cô im thin thít. Lúc đó là nhằm mùa bãi trường nên Hạnh được ở nhà quanh quẩn theo cô Lucie. Bàn tay mềm mại của cô là bàn tay hay vuốt ve. Gặp con mèo tam thể cô cũng ôm trên tay nựng nịu hồi lâu mới đuổi : “A lê, đi chỗ khác chơi!”. Con gà con đi lẫm đẫm ngoài sân, cô cũng tóm cho được để ve vuốt vài cái. Hễ thấy Hạnh đứng buồn hiu hiu bên gốc cây nhãn là cô kêu Hạnh lại, tay cô sửa lại cổ áo cho Hạnh, sửa lại đường ngôi trên tóc Hạnh. Có bận cô nhúng khăn lông vào nước mát rượi để lau mặt cho Hạnh, nhìn sâu vào mắt Hạnh, cười:

– Con mà biết ăn nói bải buôi, mai sau con sẽ đắt mèo.

Và cô vuốt ve Hạnh thật lâu, miệng lẩm bẩm:

– Tội nghiệp quá! Con mà thiếu mẹ…

Cô bỏ lửng câu nói, cười che lấp xúc động.

Hạnh còn nhỏ nên khi thấy bà nào cô nào đeo nhiều nữ trang, ăn mặc màu mè hực hỡ, tô son giồi phấn choáng lộn thì Hạnh nghĩ rằng đương sư đẹp đẽ mỹ miều. Cô Lucie đối với Hạnh là một bà tiên từ trong cổ tích bay ra, chẳng những có dung nhan thập phần kiều diễm mà còn có đôi bàn tay cho Hạnh tình mẫu tử nhiệm mầu.

Một tuần lễ có sự hiện diện của cô Lucie, căn nhà đầy ắp tiếng nói cười. Hạnh vốn nhút nhát, dù thèm được cô Lucie âu yếm, tâng tiu nhưng Hạnh không biết diễn tả niềm thương mến của mình đối với cô cách nào. Hạnh chỉ biết quanh quẩn theo cô. Có hôm, trong lúc lau mặt chải đầu cho Hạnh, cô bảo ba:

– Thằng nầy giống anh ở tánh nhút nhát, anh có nhận thấy không? Cái hồi đó đó, anh vừa đi coi mắt chị Ba xong, nhưng chính con Lucie nầy trổ phép thần thông làm cho anh từ cậu trai tân biến thành đờn ông thành thạo.

Và cô cười hăng hắc. Mặt ba đỏ rần như miếng dưa hấu. Và ba chỉ biết mắng yêu:

– Mắc dịch gì đâu! Cứ ăn nói ẩu tả hoài!

Rồi một buổi sáng, khi thức dậy, Hạnh nhận thấy bên ngoài phòng ngủ của mình vắng bặt tiếng cười nói của cô Lucie. Linh tánh báo cho Hạnh biết có chuyện chẳng lành. Hạnh tuột xuống giường chạy ra phòng khách rồi vào phòng ăn. Ba đang ngồi trước liễn cháo bốc khói, nhấm nháp cà phê. Không có cô Lucie ở đó. Hạnh run giọng hỏi:

– Cô Lucie đâu ba?

Ba điềm nhiên:

– Cổ đã về Sài gòn hồi sáng sớm.

Và ba bước lại tủ buýp-phê, lấy con chó bằng len nhồi bông gòn ra đưa cho Hạnh:

– Cô Lucie gởi tặng con món quà nầy.

Hạnh ôm con chó bằng len vào lòng, khóc như mưa. Ba nhìn Hạnh rồi ôm chặt Hạnh vào lòng, vỗ về:

– Ðùng khóc, Hạnh. Con khóc làm ba đau lòng lắm!

Phải có niềm cảm hoài thiệt sâu đậm, thấm thía ba mới có thể bày tỏ tình cảm của mình. Ông ôm chặt Hạnh, vuốt tóc Hạnh và không nói thêm một lời nào nữa. Tối hôm đó, ba cho phép Hạnh được ngủ chung. Hạnh cứ ôm chặt ba. Và nửa đêm, chợt thức giấc, Hạnh nhớ cô Lucie, khóc tấm tức. Liên tiếp ba bốn ngày sau Hạnh mới nguôi ngoai. Nhưng từ đó Hạnh thờ ơ uể oải. Ngôi nhà trước khi cô Lucie tới viếng vốn đã tẻ lạnh, hoang vắng. Nhưng thà cô đừng đến! Giờ đây, khi cô bỏ đi, với Hạnh, nó tẻ lạnh hoang vắng ba bốn lần hơn. Chiều chiều Hạnh đứng dưới gốc nhãn, tay ôm con chó nhồi bông vuốt ve, tái diễn cái cử chỉ cô Lucie đã bày tỏ niềm âu yếm thương yêu với Hạnh.

Ba thương yêu Hạnh, chỉ biết mua sắm quần áo, giày vớ, đồ chơi mắc tiền cho Hạnh. Nhưng bởi cái nhút nhát tích lũy tiềm ẩn từ thuở nào, ba không bày tỏ được tình phụ tử để đưa Hạnh vào thế giới ấm áp, nồng nàn hơn. Ông Bảy Liệu cũng thương yêu Hạnh, nhưng ông chỉ biết săn sóc miếng ăn, tấm áo cho Hạnh. Tâm hồn ông đơn giản quá mức, không thể hiểu được cái ngắt ngoéo trong nội tâm của một đứa trẻ mồ côi. Ông không hề vuốt ve hay nói một câu ngọt bùi với Hạnh. Giọng ông dấm dẳn, nói ra câu nào là như doạ dẫm, truyền lịnh câu đó. Thế nhưng mỗi khi Hạnh đau ốm, ông túc trực bên giường bịnh của Hạnh sáng đêm, tận tụy lo lắng tuy nét mặt ông trước sau vẫn như bọc một lớp thép mỏng nguội ngắt.

Thế rồi ba lại đem về phòng ngủ treo gương của ba một người đờn bà khác. Ba biểu Hạnh gọi đương sự bằng dì Khánh, bởi vì dì là em bà con xa của má Hạnh. Sau nầy Hạnh mới rõ dì là gái quê bị Tây ruồng bố, dấn thân vào cuộc đời làm gái bao cho mấy tên Huê kiều, Pháp kiều. Về sau dì sống nghề mãi dâm bán chánh thức, nghĩa là vừa làm chủ chứa, vừa rước khách tìm hoa.

Dì Khánh khi tới viếng nhà Hạnh không có vẻ gì là một gái buôn hương. Dì không xài son phấn, chỉ tỉa cặp chơn mày cong vòng và mỏng lét. Dì mặc áo trắng, quần trắng, đeo nữ trang kiểu rất thanh nhã. Dì ốm yếu, xanh xao, có vẻ trầm lặng.

Ngày đầu tiên dì Khánh tới nhà Hạnh, thoạt nhìn tấm ảnh phóng đại khổ 18 x 24 của má trên bàn thờ, dì chắc lưỡi:

– Tấm hình nầy không giống chị Ba chút nào. Nước thuốc thì mờ như phủ bụi phủ sương, lại tróc lem nhem. Chị Ba ở ngoài đâu có vậy!

Ba buồn rầu:

– Bao nhiêu hình ảnh của vợ tui cháy sạch hồi ở Lộc Hoà. Bả chết rồi, tui kiếm lung tung mới được một tấm bốn sáu, đem chụp lại rồi rọi lớn ra.

Dì Khánh đăm đăm nhìn Hạnh, ứa nước mắt, rồi bảo ba:

– Anh cũng nên kiếm con nhà tử tế để chắp nối. Cháu Hạnh cần có bà mẹ chăm sóc.

Ba lắc đầu:

– Tui sợ con tui lâm cảnh mẹ ghẻ con chồng lắm dì Bảy à! Mấy đời bánh đúc có xương dì ơi!

Dì Khánh vẫn thích vuốt ve Hạnh. Bàn tay dì không đẹp, tuy thon mảnh nhưng lòng bàn tay như gừng khô. Dì ít nói, hễ nói ra là giọng chậm rãi, tiếng nói êm và nhẹ. Dì Khánh không phải là người huyên náo như cô Lucie. Dì thâm trầm, ôn nhu, cử động chậm rã, gượng nhẹ. Vậy mà trong những ngày tới viếng cha con Hạnh, dì làm lụng, xếp đặt mọi việc trong ngoài không hở tay. Dì khuyên lơn Hạnh đủ điều, giọng lúc nào cũng êm đềm thấm thía:

– Ba con thương yêu con lắm vì trên đời nầy chỉ có con là nguồn an ủi duy nhứt của ảnh. Má con cũng vậy, trong những ngày nằm trên giường bịnh chờ chết, chỉ không đành nhắm mắt, sợ bỏ con ở lại bơ vơ không ai săn sóc. Ba con đã hứa là sẽ cố gắng nuôi con tới lúc nên người mới nghĩ tới chuyện làm lại cuộc đời với người đờn bà khác. Con phải thương yêu ba con, phải siêng năng học hành để đừng phụ lòng ba con lo lắng…

Hạnh ngần ngại hỏi:

– Má con có đẹp không dì?

Dì Khánh buồn rầu:

– Dì cũng chẳng rõ má con có đẹp không. Nhưng con cứ nghĩ rằng má con thương yêu ba con và con như Cúc Hoa thương chồng thương con của bà ta vậy. Cặp mắt con giống hệt cặp mắt của má con. Tội nghiệp lắm, lúc chỉ chết, dì vuốt mắt chỉ mấy lần mà chỉ vẫn mở trừng trừng. Dì phải cầm tay con, lúc đó con mới ba tuổi, đè lên mí mắt chỉ, mí mắt mới khép kín lại.

Dì mủi lòng quá ôm Hạnh, nước mắt ròng ròng. Hạnh làm sao nhớ nổi cảnh lâm chung của mẹ mình, nhưng Hạnh vẫn khóc theo dì, cơn khóc thường có tính truyền nhiễm. Tuy nhiên, lòng Hạnh ấm áp và tươi sáng hẵn lên vì qua lời kể của dì Khánh, Hạnh có thể mường tượng đôi chút về mẹ mình. Trong trí tưởng tượng của Hạnh, má là hình ảnh của một nữ thánh hay bà tiên tốt bụng trong cổ tích Tây phương, đã giúp những đứa con côi thoát nạn do bọn phù thủy, chằn tinh hoặc mẹ ghẻ gây ra.

Dì Khánh lại nói:

– Má con thương yêu ba con lắm. Hồi thời giặc năm 1948, ba con vô khu 8, má con ở ngoài thành, nhịn ăn nhịn mặc để có tiền mua thuốc men và tiền gởi vô cho ba con. Chỉ cứ ăn cá mòi, ba khía, mắm mốc với cơm gạo hẩm. Ít lâu sau chỉ bị phù thũng, chơn cẵng sưng lên, đi tiểu ra máu. Dì phải đưa chỉ vô nhà thương điều trị và mua thức ăn bổ dưỡng cùng thuốc men để bịnh chỉ mau thuyên giảm.

Dì Khánh lục lọi giày vớ, áo quần của Hạnh ra khâu vá, sửa chửa tươm tất. Vào một buổi xế, trời mưa rả rích, Hạnh nằm chơi ở bộ ngựa gõ rồi ngủ quên, dì lấy tấm mền len đáp cho Hạnh. Lúc áp mặt mình gần mặt Hạnh, dì mắng yêu:

– Thằng nầy làm biếng nhớt thây, không chịu vô giường mà ngủ.

Dì đặt đôi môi mềm mại và ấm áp lên trán Hạnh. Từ đó dì lộ vẻ buồn. Một hôm thấy dì thả dài người trên ghế phô-tơi có vẻ nghĩ ngợi xa xôi, Hạnh e dè bước lại gần, bặm gan nói nhỏ:

– Dì ơi, dì ở luôn đây đi dì.

Dì kéo Hạnh lại gần, nước mắt rưng rưng:

– Dì cũng muốn lắm, nhưng làm sao được? Lớn lên rồi con sẽ hiểu.

Rồi cái ngày dì từ giã ra đi cũng phải tới. Hạnh không thể khóc được. Vũ trụ như sụp đổ dưới chân Hạnh. Nước mắt Hạnh như đã khô cạn từ cuộc sinh ly đầu tiên với cô Lucie. Nhưng trong trái tim Hạnh, vết thương sâu đậm thêm. Khối băng giá trong tâm hồn Hạnh lớn hơn, cứng chắc hơn.

° ° °

Tuổi thơ của Hạnh cô đơn quá! Thời mới lớn của Hạnh thêm sẫm buồn và u uất bởi cái chết của ông Bảy Liệu. Ðã bao năm nay, dù ông hiện diện trong đời Hạnh như cái bóng âm thầm tẻ ngắt, ông vẫn là điểm tựa vững chãi cho Hạnh. Khi ông trút hơi thở cuối cùng, Hạnh vụt hiểu rằng cái thế giới tình cảm của Hạnh có thêm một lỗ hổng lớn. Toàn thân Hạnh lạnh ngắt, Hạnh ôm chặt lấy ba khóc như mưa. Bao nhiêu sự tận tụy của ông Bảy Liệu vụt hiện rõ trong ký ức Hạnh. Năm đó Hạnh mới mười bốn tuổi. Ba chỉ ôm chặt Hạnh, không khóc. Hạnh hiểu rằng chính ba cũng đang cảm thấy mất điểm tựa. Cái ôm chặt kia không phải là cử chỉ che chở nữa. Nó là sự bấu víu của ba vào Hạnh dù Hạnh chỉ là cậu trai mới vừa bể tiếng.

Thi thể ông Bảy Liệu được đặt ở bộ ván ngựa, cái mền xám trùm kín. Lúc đó mới hai giờ sáng. Hạnh về buồng nằm khóc rấm rứt. Ba ngồi canh xác người lão bộc trung thành. Thỉnh thoảng, ba giở tấm mền ra nhìn mặt người lão bộc. Và chỉ khi tiếng khóc trong phòng Hạnh im bặt một lúc lâu, ba mới hực lên khóc và nói một câu duy nhứt:

– Ông Bảy ơi, từ lâu tui đã coi ông như người cha thứ hai.

Phải đợi ông Bảy Liệu thành cái xác lạnh ngắt, ba mới dám nó lên tiếng nói trung thực của lòng mình. Lúc ông Bảy còn sanh tiền, ba tỏ vẻ xa cách với ông. Niềm thương mến của ba chỉ bộc lộ ở cách cư xử rộng rãi, ở sự tin cậy tuyệt đối vào ông. Khi ông đau ốm, ba không hề tiếc tiền đưa ông lên nhà thương Thuận Kiều ở Chợ Lớn. Giữa ba và ông Bảy Liệu có sự thông hiểu nhau sâu xa. Dù cả hai không hề trao nhau một câu thân ái , nhưng trong im lặng, họ đọc được niềm thương mến của nhau. Có vậy ông Bảy Liệu mới gởi thân suốt đời ở nhà Hạnh. Có vậy ba mới dám giao tất cả chìa khóa cho ông.

Ông Bảy Liệu chết đi để lại cho Hạnh cặp vòng vàng chạm trổ tinh xảo và một số tiền khá lớn, dặn ba để dành cho Hạnh cưới vợ. Từ trước tới giờ, ba trả lương cho ông sòng phẳng, nhưng ông không tiêu xài gì nhiều.

Ba và Hạnh để tang cho ông Bảy Liệu suốt một năm trời với miếng vải đen ghim trên áo trắng. Trong hai tháng đầu sau đám tang ông Bảy, cha con Hạnh phải xoay trở khó khăn mới giữ được nếp nhà sạch sẽ tươm tất.

Sự hiện diện của ông Bảy Liệu trước kia dù khiêm tốn, mờ nhạt, nhưng ngoài nhu cầu công việc săn sóc nhà cửa, đã giữ một vai trò tối quan trọng trong đời sống tinh thần của cha con Hạnh. Dù rằng sau đó, y theo lời trối của ông Bảy Liệu, ba Hạnh tìm xuống Tam Bình rước vợ chồng bà Tám Ðịnh, em gái ông Bảy, về coi sóc việc nhà, nhưng ba vẫn thở vắn than dài, và Hạnh vẫn cảm thấy trống vắng, thiếu thốn. Hạnh nhớ ánh đèn chong ở căn bếp vào lúc đêm khuya, trong ánh đèn ấy, suốt cả đời ông Bảy mài miệt lau chùi quét dọn căn bếp hoặc sắc thuốc, chưng yến, chưng ếch bắc thảo cho ba Hạnh. Sáng sáng vào đầu canh năm thức giấc, Hạnh đã thấy ánh lửa ở căn bếp xuyên qua những kẽ hở của vách ván lòn vào buồng. Những lúc đó, Hạnh lờ mờ cảm thấy sảng khoái an ổn. Không phải vì Hạnh nghĩ tới những buổi điểm tâm ngon lành, những bữa ăn thịnh soạn do ông Bảy Liệu nấu nướng. Hạnh chỉ cảm nhận ánh lửa đó sưởi ấm tâm hồn mình, mà ánh lửa đó là hiện thân của ông Bảy. Cũng vậy, mỗi khi theo ba đi xem hát bóng về khuya, Hạnh luôn thấy ánh lửa từ căn bếp đỏ rực xuyên qua mắt cáo, qua kẽ lá lăn tăn của cây táo tàu trồng bên mái bếp như toả sáng tâm hồn Hạnh. Tuy ông Bảy Liệu không hay nói, nhưng ánh lửa kia, cái bóng âm thầm, tận tụy, cần mẫn của ông đã nói tất cả sự đùm bọc che chở của ông với cha con Hạnh. Khi ông qua đời, Hạnh mới nhận thấy ngày ông còn sanh tiền, cuộc sống trong ngôi nhà nầy dù có tẻ lạnh, nhưng vững vàng và an ổn biết bao? Tại sao Hạnh đòi hỏi ở ông những cử chỉ vuốt ve thân ái và gìọng cười ấm áp nắng xuân của cô Lucie? Tại sao Hạnh đòi hỏi ở ông đôi mắt biết diễn tả tình cảm, giọng thủ thỉ tâm tình rất thấm thía của dì Khánh? Ông là người dốt nát, và qua lời kể của bà Tám Ðịnh thì vì từ nhỏ ông sớm chịu cảnh mồ côi, phải đi ở đợ nên ông luôn luôn thủ thế, không dám bộc lộ tình cảm.

Trước khi về ở đợ với ông bà nội của Hạnh, ông Bảy Liệu đã chịu đòn vọt, chửi mắng trong gia đình của vài người chủ khác. Và khi về ở với ông bà nội Hạnh, tuy ông khỏi bị hành hạ nhưng vẫn phải nai lưng làm việc đầu tắt mặt tối. Ðời ông nào có gì vui! Khi ở với cha con Hạnh, tuy vẫn làm lụng nhưng ông được định liệu, sắp xếp mọi việc. Tâm hồn ông dù vậy vẫn còn bị bưng bít bởi tấm màn vô thức đen sẫm nên ánh sáng lạc quan từ bên ngoài cuộc đời không thể lọt vào. Con chó khi mừng biết vẫy đuôi, khi giận dữ biết sủa, khi đau ốm biết tru. Con mèo lúc sướng biết rên rù rù, lúc đau biết la eo éo, lúc cô đơn đi tìm bạn biết meo meo. Còn ông Bảy Liệu thì không. Càng nghĩ, Hạnh càng thương xót ông. Phải có một biến cố khốc liệt nào đó mới khiến con người ông có vẻ hoá đá như vậy! Nhưng đó chỉ là mặt ngoài. Trong tâm hồn ông còn có tấm lòng biết ơn đối với ba, còn có tình thương mến đối với hai cha con Hạnh. Hạnh làm sao quên được những lúc Hạnh đau nặng, ông Bảy Liệu luôn ngồi túc trực bên giường để khi thì lấy khăn chậm mồ hôi; khi thì cho Hạnh uống thuốc; khi thì đút cơm, đút cháo…Vào những canh khuya chợt tỉnh cơn mê sảng, Hạnh vẫn thấy ông ngồi canh bịnh, không ngủ mà cũng không hút thuốc, mắt đăm đăm nhìn Hạnh. Hỡi ơi, đôi mắt sao mà vô hồn, dửng dưng, rất hoà hợp với sắc mặt ông nguội ngắt! Tại sao đôi mắt ấy không là cửa sổ của tâm hồn? Tại sao khuôn mặt ấy không là tấm gương của nội giới ông? Và chỉ đến lúc ông chết, Hạnh mới cảm nhận qua một trực giác thâm sâu, tâm hồn ông vẫn phong phú nguồn suối thương yêu, nội giới ông lúc nào cũng xán lạn niềm thiết tha gắn bó với gia đình Hạnh.

Má chết lúc Hạnh còn nhỏ. Hạnh không làm sao mường tượng nổi chân dung má qua tấm di ảnh chưng trên bàn thờ. Hạnh cũng không sao nhận định trọn vẹn tâm hồn và nếp sống của má qua lời kể loáng thoáng sơ sài của dì Khánh. Nhưng giờ đây, Hạnh có thể muờng tượng tấm lòng yêu thương tận tụy của má qua sự tận tụy gắn bó của ông Bảy Liệu. Hạnh còn thấy má hiện hữu ở cử chỉ vuốt ve trìu mến và giọng cười ấm áp của cô Lucie, ở đôi mắt cảm thông và giọng nói thiết tha của dì Khánh. Cả hai cũng như ông Bảy Liệu đã gợi cho Hạnh đôi chút hình ảnh người mẹ, dù rằng khi lớn lên Hạnh mới rõ cô Lucie đến viếng cha con Hạnh cốt để lén ông chồng già ngoại tình với ba trên chiếc giường có lót gương ở hai đầu; dù rằng dì Khánh tìm đến ba là để trốn nợ, trốn luôn mụ vợ lớn của lão tình nhân của dì thường dắt toán nặc nô đến nhà dì làm dữ. Nhưng mà nhằm nhò chi! Con người họ dù có sa đoạ cho thế mấy, thân thế họ dù có dữ dằn điếm nhục cho thế mấy, nhưng khi bước vào ngưỡng cửa gia đình Hạnh, cả hai hiện thân trọn vẹn tâm hồn người mẹ, thể hiện tròn nguyên tấm lòng mẫu tử. Cho đến khi trưởng thành, nghĩ về cô Lucie, Hạnh cảm thấy tâm hồn mình ấm áp biết bao, và nghĩ về dì Khánh, Hạnh cảm thấy trái tim mình mát rượi là dường nào!

Sau dì Khánh, thỉnh thoảng ba có đem về nhà một vài người đờn bà khác. Có kẻ ưa giở chứng, có kẻ kỳ cục, có người hay cáu kỉnh, quạu quọ…Nhưng khi bước ra khỏi nhà nầy, Hạnh quên tuốt hết. Hạnh chỉ giữ lại hình ảnh những người đờn bà nhu mì, hiền dịu, tử tế. Họ đã thể hiện một vài nét lý tưởng của người mẹ để khi lớn lên, Hạnh vẫn thích gợi lại để tìm chút niềm tin.

° ° °

Bà Tám Ðịnh, trái với ông anh lầm lì của mình, là một mẫu người cởi mở, hời hợt, miệng tía lia không lành da non. Giọng cười của bà hăng hắc, vì quá thân mật đâm ra suồng sã.

Vừa đặt chân vào nhà cha con Hạnh, bà quở liền:

– Nhà nầy toà cao lẫm lớn, hồn ma bóng quế ẩn núp đó đây. Phải mua bùa bát quái và nhánh xương rồng treo trước cửa, phải trồng hai cây dâu tằm ăn để đuổi tà ma. Thầy Ba để đó tui lo cho!

Bà dạo từ trên lầu xuống từng trệt, từ cổng trước đến cổng sau, từ cái ao bên trái qua lẫm lúa bên mặt. Tới đâu bà phàn nàn đó:

– Gác mà để trống trải quá, ông bà mình kiêng cữ lắm. Ai lại thờ Phật ở trung đường, chỉ nên thờ Quan Thánh Ðế Quân cởi ngựa Xích Thố, có Châu Xương cầm thanh long đao, có Quan Bình cầm hộp ấn đứng hầu. Phật và Bồ tát thì ở xa, chỉ có thánh linh như Ðế Quân mới chịu ở gần mình. Ở miệt tui, nhà nào cũng có trang thờ Mẹ Sanh Mẹ Ðộ trên cao, trang thờ ông Ðịa, thờ Thần Tài ở dưới đất. Còn ngoài vườn nên lập cái miễu nhỏ thờ Thổ Ðịa. Thầy Ba tin đi, hễ thầy nghe lời tui thì đất đai viên trạch an vui, vững vàng; mà tía con thầy còn tấn tài tấn lợi, khương ninh suốt đời.

Từ khi ông Bảy Liệu chết đi, ba muốn dời bàn thờ đức Di Ðà Tam Tôn lên gác cho được yên tĩnh nên chấp thuận lời bà Tám Ðịnh. Ba cho bà thờ đức Quan Thánh Ðế Quân ở trung đường. Bức tranh của Ðế Quân do ba mua ở Chợ Lớn về, màu mè vừa phải, bàn thờ không bày chơn đèn, lư hương bằng đồng mà chỉ bày cái bồn cắm nhang bằng đồng đen và chiếc đèn pha lê. Ba cương quyết không thờ Mẹ Sanh Mẹ Ðộ, Thần Tài ở trong nhà; không thờ Thổ Ðịa ở ngoài vườn; không trồng dâu tằm ăn trong sân, không treo bùa bát quái, nhánh xương rồng trước cửa. Sở dĩ ba chấp thuận việc thờ đức Quan Thánh vì ba có làm ăn với bang Quảng Ðông ở tỉnh nhà nên muốn dùng việc thờ phượng danh tướng nước Tàu để lấy lòng tin.

Bà Tám Ðịnh bảo ba:

– Cô Ba qua đời từ lâu, sao thầy Ba không chịu kiếm cô nào còn son trẻ để chấp nối? Thôi để tui trổ tài làm mai cho. Ở xứ tui có cô Năm Mỹ Châu, cô Sáu Mỹ Ngọc con ông Hội đồng Bá đẹp như tiên sa phụng lộn, làm bánh xuất sắc, may vá thêu thùa khéo nhứt trần đời. Lạì còn có cô Hai Lài con ông Hương cả Huỡn cũng đẹp, cũng nết na gia giáo. Thầy Ba mà ừ một tiếng là vợ chồng tui đưa thầy đi Tam Bình liền.

Và bà liếc qua Hạnh:

– Còn cậu Hạnh nầy mai sau sẽ bảnh trai còn hơn kép Năm Châu đóng vai Lữ Bố, sẽ khôi ngô nào kém kép Bảy Nhiêu đóng vai vua Tống Nhơn Tôn. Cậu mà ăn học thành tài thì cưới tiểu thơ, quận chúa dễ ợt…

Ba và Hạnh từ hồi nào tới giờ không quen nghe lời cợt nhả ồn ào, chưa từng nghe tiếng cười suồng sã huyên náo dưới mái nhà nầy, huống hồ là phải nghe những câu có tính cách xâm phạm vô đời tư của mình. Mặt ba lúc đó cứng như đóng một lớp nước đá, còn Hạnh thì bàng hoàng nhìn bà Tám Ðịnh như nhìn một quái vật.

Chồng bà Tám Ðịnh ăn nói chừng mực hơn. Ông ta giỏi làm vườn nên thường lúc thúc ngoài vườn. Bà Tám Ðịnh từ hôm chạm phải phản ứng cứng rắn và lạt lẽo của cha con Hạnh thì đâm ra nhột. Cái hứng của bà tắt tức tưởi. Tuy nhiên bà vẫn siêng năng làm lụng việc nhà. Tài làm bếp của bà được hai cha con Hạnh chiếu cố tận tình. Ba cho dọn căn chái bên mặt rất rộng để làm buồng ngủ cho hai vợ chồng bà. Ba mua cho họ một cái radio, cho luôn họ chồng dĩa hát và giàn máy từ lâu không xài để họ giải trí.

Bà Tám Ðịnh vốn không con, nay gặp Hạnh, tình mẫu tử tràn ngập lòng bà. Nhưng giữa đôi bên chỉ là sự liên hệ chủ tớ, bà đâu dám xem Hạnh như con mình. Tuy nhiên đó là sự nhắc nhở của lý trí. Trong tiềm thức bà, mỗi khi đứng trước mặt Hạnh, tình thương mến không những chỉ bộc lộ ở cách săn sóc miếng ăn manh áo mà còn ở những cử chỉ vồn vã quá đáng, những câu thăm hỏi vào chỗ ngoắt ngoéo riêng tư của Hạnh khiến Hạnh bực mình. Từ bao lâu quen với sự ít nói của ba, thái độ lầm lì của ông Bảy Liệu, Hạnh đâm ra có dị ứng với cử chỉ và thái độ quá thân mật của một người đờn bà quê mùa mà khi vừa đặt chân vào ngưỡng cửa nhà nầy, Hạnh đã nghe tiếng vọng trong đầu óc: “Ðây là đầy tớ! Ðây là mụ già coi sóc việc nhà!” Bởi thành kiến đó, Hạnh không cho phép bà Tám Ðịnh đi xa hơn cái vị trí tôi tớ trong nhà.

Mỗi tối nếu không có việc gì làm, bà Tám Ðịnh thường quanh quẩn ở trung đường để xem Hạnh học bài , lóng nghe Hạnh đọc từng câu. Có những đêm Hạnh thức khuya, thấy bà còn quanh quẩn ở trung đường, Hạnh phải nhắc nhở:

– Kìa bà Tám, khuya quá rồi, sao bà chưa trở về chái lá?

Bà cười hề hề:

– Ðược mà, tui thức coi cậu học cũng vui vậy! Cậu muốn ăn chè đậu hay cháo cá để tui múc?

Thực tình Hạnh cảm động lắm, nhưng trong cái xúc động do tấm lòng biết ơn đó, Hạnh vẫn bực tức ngấm ngầm. Từ bao lâu, Hạnh quen với sự hờ hững gần như bỏ rơi của ba và ông Bảy Liệu. Nay bà Tám cứ chàng ràng bên cạnh làm Hạnh hơi ngượng và phải cáu vì cảm thấy mình bị dò xét. Bà Tám dò xét để làm gì? Hạnh không nhận thức rõ, nhưng thấy có người Hạnh không yêu mến chú ý đến nhứt cử nhứt động của Hạnh thì Hạnh nhột nhạt khó chịu quá đi thôi! Có lần Hạnh nói như gắt:

– Khi tui học mà bà chàng ràng làm sao tui học được?

Nói xong câu đó, Hạnh hối hận lắm, nhưng không có can đảm đến xin lổi bà. Hạnh đã thấy mặt bà tái đi, không phải giận dữ vì tự ái tổn thương mà là vì áy náy, ân hận.

Tuy không còn chàng ràng ở trung đường để xem Hạnh học bài, nhưng bà Tám Ðịnh vẫn tìm cách lắng nghe Hạnh đọc bài. Có nhiều câu bà hiểu được để đem khoe với chồng:

– Trái đất quay chung quanh mặt trời, mặt trăng quay chung quanh trái đất. Ngộ thiệt! Dân thông thái thấy mọi chuyện trặc trẹo nên họ tìm được đủ thứ trặc trẹo như đèn điện không có lửa mà vẫn sáng.

Trong khi thuật với chồng, bà vuốt ve hơi lâu và hơi kỹ chiếc áo của Hạnh mà bà vừa ủi xon, chưa kịp xếp lại.

Hạnh từ nhỏ có tánh cẩn thận. Những đồ chơi cũ, Hạnh không vứt đi mà bỏ vào chiếc rương cây khóa lại. Ðó là những đồng xu lá bài, những viên bi thủy tinh, chiếc xe hơi bằng thiếc, những con gà bằng đất khoét đít có đệm lưỡi gà bằng thiếc thổi toe toe, con rùa, con chim, con thỏ bằng sành tráng men, nạng giàn thun bắn chim…Bà Tám Ðịnh sành soạn những món đồ chơi đó, lau chùi bụi bặm, những con gà bằng đất được chồng bà Tám sơn phết màu tươi mới để xếp vô hai chiếc khay lớn, đem chưng trong tủ kiếng ở nhà kho, lâu lâu bà lau chùi từng món, ấp ủ nó trong lòng bàn tay khá lâu trước khi đặt trở lại vào khay. Bà không săn sóc nhiều những món ngoạn khí mà ông Bảy đã mua sắm cho Hạnh lúc Hạnh mới lớn. Chỉ có đồ chơi của Hạnh lúc còn ấu thơ mới làm mắt bà âu yếm mơ màng trong lúc vuốt ve vừa nhìn ngắm tấm hình Hạnh hồi lên bốn lên năm.

Từ khi bà Tám Ðịnh không xà quần theo Hạnh, Hạnh mới tìm được một khoảng cách dễ chịu, và khi nghĩ tới bà, Hạnh mới cảm thấy niềm thương mến dịu dàng, thân mật. Bà không phải là mẫu người để Hạnh quấn quít như cô Lucie hay dì Khánh. Ðồng thời Hạnh chưa tìm thấy ở bà Tám Ðịnh vai trò nào trong cuộc sống tình cảm của mình, chưa gợi cho Hạnh hình ảnh một người mẹ.

° ° °

Từ khi ông Bảy Liệu chết đi, lúc Hạnh đau ốm đến độ mê sảng thì chính ba túc trực bên giường Hạnh . Tuy chưa hoàn toàn trưởng thành nhưng Hạnh đã biết nhột nhạt mắc cỡ khi có sự đụng chạm với người khác phái.

Dịp bãi trường năm đó, Hạnh trèo lên cây táo tàu hái trái lỡ xẩy chân té, bể xương chậu và lọi chân trái. Chở lên bịnh viện Nguyễn văn Học Sài gòn thì Hạnh đã mê man, thừa chết thiếu sống. Bọng đái Hạnh bị rách, phải nằm nhà thương suốt hai tháng. Mông và đùi trái băng bột. Về nhà Hạnh nằm dưỡng thương thêm sáu tháng nữa. Dĩ nhiên cơm nưóc, quần áo cho Hạnh là do bà Tám Ðịnh đảm nhiệm, nhưng tắm rửa, lo việc tiêu tiểu cho Hạnh thì ông Tám và ba nhận lãnh. Ông Tám vụng về, thường làm Hạnh đau nên ba phải lo hết. Ban ngày ba lo việc mưu sinh, chiều về ba săn sóc cho Hạnh. Hai bàn tay ba cứng cáp gân guốc là vậy nhưng khi cởi quần áo tắm rửa cho Hạnh, hai bàn tay đó gượng nhẹ, thận trọng âu yếm biết bao! Lúc đó ánh mắt ba tràn ngập thương xót, nhưng miệng ba tươi cười. Ba kể chuyện này chuyện nọ cho Hạnh nghe. Cái chết của ông Bảy Liệu và tai nạn xảy đến cho Hạnh đã đưa ba lại gần Hạnh. Ba không hề rước người đờn bà nào về buồng mình và đem dẹp hệ thống gương treo trên vách tường. Nhiều đêm thức giấc, Hạnh nghĩ ngợi và khóc vì sung sướng. Ở ba, Hạnh đã tìm được một phần hình ảnh dịu dàng tận tụy của người mẹ.

Bà Tám Ðịnh là mẫu người yêu chồng, chiều chuộng chồng. Bà thường than thở với ba hoặc lối xóm:

– Chồng tui thương tui lắm. Ðáng lẻ gặp con vợ sượng ngắt, không chửa đẻ như tui, ảnh bỏ từ lâu rồi. Ảnh cũng không hề chịu cưới vợ bé để kiếm chút con. Ảnh nói với tui rằng dòng dõi ảnh là dòng kẻ thì đi ở đợ, người làm ruộng mướn, có vẻ vang chi đó để ảnh kiếm con nối dõi tông đường.

Thỉnh thoảng bà Tám Ðịnh sắm sửa mâm rượu cho chồng. Nói là mâm rượu cho oai chớ chỉ có một dĩa cốc, khế bổ từng miếng, một dĩa mắm ruốc giã tỏi ớt, một dĩa tép muỗi xào với mỡ xắt hột lựu. Ðôi khi bà dọn thêm dĩa mít luộc xé tơi trộn rau răm, đậu phọng. Không bao giờ bà lấy cá, thịt trong thức ăn hàng ngày của cha con Hạnh làm món nhậu cho chồng. Nhưng mâm rượu đối với ông chồng cũng sang trọng lắm rồi. Bà thường ngồi coi chồng nhậu nhẹt, lâu lâu vì nể chồng bà uống một ngụm rượu đế, cắn một miếng khế xắt mỏng quệt mắm ruốc. Cả hai thường nhắc chuyện dưới quê, nhứt là nhắc tới mấy đứa nhỏ trong xóm cũ của họ. Giọng nhắc có vẻ âu yếm ngậm ngùi làm lòng Hạnh mềm đi khi Hạnh nghe lóm câu chuyện kể lể của cặp vợ chồng đó. Và Hạnh không ngờ lòng thèm khát đứa con, tình mẫu tử không có đối tượng để vung vãi của bà Tám dần dà đã làm cho Hạnh yêu mến bà.

Trong đời Hạnh có hai việc khiến Hạnh ân hận: một là không có dịp bày tỏ lòng thương mến và biết ơn của mình với bà Tám Ðịnh khi Hạnh đã trưởng thành, đã đậu tú tài. Hai là Hạnh chưa kịp đền ơn nuôi dưỡng cho ba. Cả hai qua đời sớm quá.

Hạnh còn nhớ sau khi xem kết quả kỳ thi vấn đáp ở Sài gòn, biết mình đậu hạng bình, Hạnh không đánh điện tín cho ba vội. Hạnh đi xe đò về Vĩnh Long. Lúc đó bà Tám Ðịnh đau dây dưa nhưng vẫn rán săn sóc việc nhà. Ðược tin mừng, bà chắp tay lại ngước đầu lên cao:

– Tạ ơn Trời Phật. Trời Phật không phụ lòng thầy Ba nên cậu Hạnh có ngày làm vẻ vang cho thầy như ngày hôm nay đây.

Hôm đó bà Tám cạo đầu. Ba rủ vợ chồng bà cùng Hạnh đi Bông-ga-lô ăn cơm Tây. Bà lắc đầu:

– Tui đã vái hễ cậu Hạnh thi đậu tú tài là tui cạo đầu, ăn chay một tháng.

Khi về, ba mua một chục cam Cái Bè cho bà. Nhưng bà Tám không có dịp ăn chay. Hôm sau bà nửa tỉnh nửa mê, nằm thiêm thiếp trên giường bịnh, chỉ húp nước cháo. Ba đích thân đưa bà đi bác sĩ, mời các thầy đông y đến chẩn mạch và hốt thuốc. Hạnh không còn lòng dạ nào ra khỏi nhà. Hạnh cạo gió, giác ống thông hơi và đích thân sắc thuốc cho bà Tám. Ba không thể ngăn cản.. Một hôm thấy Hạnh giặt một mớ khăn lông để ông chồng lau mình cho bà, ba Hạnh chỉ bảo nhỏ:

– Con phải trả ơn bà Tám ngay từ bây giờ. Bả không qua khỏi con trăng nầy đâu!

Ba quay lên nhà trên, không nhận thấy nước mắt Hạnh đã ướt đẫm má.

Một hôm, trời xế chiều. Bên ngoài cơn dông thổi qua. Dưới mái chái lá, bà Tám Ðịnh bắt đầu mê sảng nó láp dáp:

– Tại ông ráo trọi! Ông không nghe lời tui cưới vợ bé hoặc xin con nuôi. Con vợ bé ông thì cũng là con tui. Giờ đây tui chết, ai lắt nút áo cho tui, ai phò giá triện, ai rinh quan tài tui đây? Tui nghĩ tới cảnh ông bơ vơ trên chốn dương trần thì tui nhắm mắt sao đành!

Ông chồng khóc tối tăm mặt mũi. Ðầu canh hai, bà Tám Ðịnh chợt tỉnh. Ông chồng kê tô thuốc gần miệng bà:

– Bà uống thuốc đi. Chiều nào cậu Hạnh cũng sắc thuốc cho bà đó. Bà rán mạnh giỏi để thầy Ba và cậu Hạnh vui lòng.

Hạnh muốn nói với bà những lời thân thiết, nhưng vì nhút nhát và vì nghẹn ngào nên Hạnh chỉ lấy quạt phe phẩy cho bà, dùng khăn lông chậm mồ hôi cho bà. Bà Tám Ðịnh uống thuốc xong, bảo chồng:

– Thầy Ba và cậu Hạnh tử tế lắm. Khi tôi chết rồi, ông nên săn sóc thầy và cậu. Ðược vậy vong linh anh Bảy tui cũng thoả mãn.

Bà lại mê đi. Ba và Hạnh không còn lòng dạ nào rời mái bếp. Ðến cuối canh ba, bà Tám Ðịnh hấp hối. Trước khi chết, bà mở mắt ngước nhìn Hạnh, cặp mắt dại hẳn đi. Bà kêu lớn:

– Con ơi!

Khi chôn cất xong bà Tám Ðịnh, chính ba và Hạnh phải săn sóc chồng bà. Ông thờ thẫn như kẻ mất hồn, ngoan ngoãn như một đứa trẻ. Ông thường nhìn vào khoảng không khóc thầm lặng hoặc cười vu vơ. Hạnh có linh cảm ông ta sẽ chết theo vợ vào một ngày không xa. Quả vậy, ông chồng bà Tám Ðịnh không đau bịnh chi hết. Người ông khô riết rồi chừng ba tháng sau ông nằm liệt, thỏm mỏm dần như ngọn đèn cạn dầu.

Từ khi bà Tám Ðịnh chết, Hạnh ở luôn tại Vĩnh Long để hủ hỉ với ba vì Hạnh yếu phổi cần phải tịnh dưỡng. Hạnh săn sóc chồng bà Tám, dọn dẹp quét tước chái lá cho ông. Lúc đó ba mướn hai mẹ con cô Hai Thời coi sóc việc nhà. Cô Hai là cháu gọi ông Bảy Liệu bằng cậu, gọi bà Tám Ðịnh bằng dì. Cô Hai Thời trạc tuổi tứ tuần, dáng người thon mảnh, nhặm lẹ, lúc nào cũng sạch sẽ, chải chuốt. Khuôn mặt cô trẻ hơn số tuổi cô đang mang nhờ những nét cong mềm. Con gái cô tên là Kim Quế, tuổi hai mươi, vóc cao lớn, mặt vuông, cằm cương quyết, trán cao. Bù lại, Kim Quế có nụ cười rộng và tươi, mắt ướt, nét mày thanh. Mỗi khi nàng cười thì nụ cười chẳng những tươi rạng mà còn bát ngát tình ý, sóng mắt nàng thêm ướt, thêm tình tứ.

Cô Hai Thời hồi mười bảy tuổi ở đợ cho ông dược sĩ Huỳnh Thanh Cảnh. Ông ta dụ dỗ cô, bơm cho cô một cái bầu. Bà vợ lớn biết được, đánh đập cô. Và cô phải bồng con về Tam Bình nương náu. Tuy nhiên ông Cảnh vẫn lén lút cấp dưỡng cô. Cô không lấy chồng nhưng tằng tịu với nhiều nhân vật thuộc giai cấp trung lưu. Kim Quế được mẹ cho học tới bực trung học, ghi đậu bằng Brevet. Khi hai mẹ con cô Hai Thời về ở với cha con Hạnh thì Kim Quế xin đi dạy trường Tân Giai cách nhà hai cây số, ăn lương công nhựt.

Má con cô Hai Thời đã cùng Hạnh săn sóc ông chồng bà Tám Ðịnh rất chu đáo trong những ngày cuối cùng của đời ông. Ông cũng được an táng trong miếng đất hương hoả của gia đình Hạnh, nằm song song với mộ bà Tám Ðịnh và mộ ông Bảy Liệu giữa vùng trồng trắc bách diệp.

Năm sau Hạnh thi đậu vào đại học Sư Phạm ban Hán Việt. Chàng phải rời nhà lên Sài gòn lưu học. Trong hai tháng sau cùng còn ở tại quê nhà, Hạnh đã thấy cô Hai Thời thường vào buồng ba ngủ đêm. Kim Quế như đã ngấm ngầm thoả thuận sự dan díu đó nên tỏ ra thân mật với ba hơn.

Ngày Hạnh lên Sài gòn tiếp tục việc học thì ba bận việc không thể tiễn đưa Hạnh tại bến xe đò. Chỉ có hai má con cô Hai Thời. Trong tiệm nước, cả ba ngồi ăn hủ tiếu uống cà phê chờ giờ xe khởi hành. Hạnh bảo cô Hai Thời:

– Ba cháu hi sinh cho cháu quá nhiều. Cháu không có dịp săn sóc ba, nhưng cháu rất mừng đã có cô. Xin cô thương yêu ba cháu, săn sóc ba nhiều hơn lúc cháu có mặt ở nhà thì cháu đội ơn cô lắm.

Cô Hai Thời gật đầu, mặt và vành tai đỏ rần vì ngượng nhưng nụ cười cô thiệt rạng rỡ.

° ° °

Bảy năm sau, Hạnh được thuyên chuyển về dạy học ở Vĩnh Long. Ba đã qua đời truớc đó hơn một năm. Chàng đã cưới Kim Quế trước khi ra trường.

Cuộc hôn nhơn của Hạnh do ba sắp đặt. Bên nội lẫn bên ngoại chàng ồn ào phản đối. Dưới mắt mọi người, rõ ràng cô Hai Thời, một thứ đờn bà hư hỏng, nhào vô gia đình chàng để chiếm đoạt gia tài.

Hạnh rất thông cảm và biết ơn ba. Ba đã lựa Kim Quế cho chàng trước khi mời hai mẹ con cô Hai Thời về sống chung. Ba đã biết sở thích, ẩn tình của cậu con trai mình, đa cảm đa sầu, mong mỏi tìm một điểm tựa tinh thần và khao khát tìm một người đàn bà phảng phất hình ảnh người mẹ. Trước đó, ngoài mái nhà của hai cha con, ba đã gặp cô Hai Thời, đã tằng tịu với cô, đã có dịp tìm hiểu Kim Quế. Do đó ba tìm cách mời hai mẹ con về nhà.

Cuộc hôn nhơn giũa Hạnh và Kim Quế do ba và cô Hai Thời sắp đặt. Về phần Kim Quế, nàng đã yêu Hạnh từ lúc đặt chơn về nhà chàng. Riêng Hạnh, phải sau một năm chung sống với vợ, chàng mới lần hồi tìm được ở vợ những điểm mà chàng khao khát. Tình yêu dù đến với chàng sau cuộc hôn nhơn, nhưng thắm thiết dần, vững chãi dần. Khi tạm thời lìa Vĩnh Long lên Sài gòn theo chồng, Kim Quế may thuê rồi xin làm thơ ký cho một hãng xuất nhập cảng để có thêm tiền cung phụng cho chàng. Nàng ham hoạt động như cái chong chóng và vững vàng như cái nền lót đá hoa cương. Khi Hạnh lao vào lãnh vực viết văn viết báo thì nàng tìm cách giao thiệp với văn giới và sưu tầm những bài vở nói tới văn tài của chàng. Chàng ham đánh quần vợt thì nàng hăng hái cầm vợt. Nàng đóng đủ vai trò khi làm vợ Hạnh: người mẹ, người vú em, người nữ y tá, người vợ, người tình…Sự vững vàng, tình yêu thương của Kim Quế khiến Hạnh dần dần gột rửa được vẻ lầm lì, nhút nhát. Chàng lạc quan hơn, tin yêu cuộc đòi hơn.

Cái chết của ba làm cô Hai Thời ngơ ngẩn, mất hồn suốt một thời gian dài. Chính Kim Quế tận tình săn sóc mẹ. Hạnh nhận thấy vợ mình thật tràn trề sinh lực, dồi dào cảm hứng. Cái sinh lực đó thúc đẩy nàng giúp đở chăm nom kẻ yếu đuối, bất hạnh. Nàng yêu Hạnh cũng chính ở tính tình đa cảm, yếu đuối của chàng. Nhờ có Kim Quế, Hạnh mới chợt nhận ra: không phải chỉ có kẻ yếu đuối mới cần nhờ tới kẻ mạnh, mà chính nhờ những kẻ yếư đuối, người mạnh mới có cơ hội chứng tỏ tiềm năng quí báu của mình.

Hạnh làm sao quên được lời trối trăn của ba trong lúc lâm chung:

– Khi con đã cưới vợ rồi ba mới nhẹ gánh lo nhứt đời ba. Ba đã gạt thành kiến của người đời, đạp nhầu dư luận để cưới Kim Quế cho con. Mười cô con gái xuất thân chốn nhà lành hoặc quyền môn nhập lại chưa chắc đã hơn vợ con. Nó là hình ảnh mẹ con thuở trước đó.


Hồ Trường An

    Đọc Cuốn Giai Thoại Văn Chương của Hồ Trường An
                             NGUYỄN LÂNHồ Trường An, một tên tuổi trong làng văn không ai là không biết. Vì có một văn phong khác người, Hồ Trường An có một chỗ đứng đặc biệt trên văn đàn mà chưa một ai dám chen chân.

Khi giới thiệu cuốn Giai Thoại Hồng của họ Hồ, nhà văn Võ Đình đã viết: “Hồ Trường An là một mụ phù thủy đòn phép cao cuờng, đưa độc giả vào cõi hỏa mù”.

Hồ Trường An viết rất nhiều, rất sung mãn với đủ thể loại: truyện dài, truyện ngắn, thơ, ký sự, bút khảo… Với tôi, họ Hồ có một bút pháp độc nhất vô nhị, đầy màu sắc, một lối diễn tả hoa hòe hoa sói, đậm đà, rất ngọt ngào mà cũng rất mặn mòi hương quê. Lối viết của anh chân chất, đượm mùi địa phương mà lại quyến rũ. Đã một lần chót đọc là ta cứ đi tìm bài của anh để tiếp tục … và tiếp tục đọc!

Văn Hồ Trường An cho ta một cái khoái cảm, nhiều khi đến nổi da gà. Không phải là cái nổi da gà ghê rợn như đọc truyện U Tình của Nguyễn Lân, mà là cái sướng khoái như được ăn một bát cơm gạo đỏ ngọt ngào với những món mắm miền Nam đệm thêm nhiều loại rau thơm ngoài vườn, như được nghe Bà Già Trầu kể những chuyện cà kê dê ngỗng gãi đúng chỗ ngứa.

Trong tập Giai Thoại Văn Chương, Hồ Trường An giới thiệu 8 văn nhân thi sĩ hải ngoại: Việt Bằng, Dư Thị Diễm Buồn, Nguyễn Thị Ngọc Dung, Phan Khâm, Vi Khuê, Vũ Nam, Trần Bích San, và TiểuThu.
Trong tập bút khảo này, Hồ Trường An dẫn dắt người đọc tới tìm gặp mỗi văn nhân thi sĩ. Sau khi biết dung mạo mỗi vị, Hồ Trưòng An tìm cách khai thác để độc giả biết những gì liên quan tới đời sống của mỗi người.

Khi chúng ta đọc một truyện, xem một bài thơ, yêu thích bản văn, vần thơ làchúng ta tò mò muốn biết văn nhân, thi sĩ đó ra sao, cuộc sống thế nào… những sở thích và cả những mối tình của người mà mình ưa chuộng. Hồ Trường An đã giải đáp thắc mắc của độc giả. Hơn thế nữa, công biên khảo của anh còn giúp ích cho những ai muốn khảo cứu về văn học sử nuớc nhà. Lối “khai thác” của Hồ Trường An rất tinh vi, rất khéo léo, tài tình mà linh động khiến các văn nhân thi sĩ phải “rút ruột tơ tằm”, phải “thổ lộ tâm can”.

Trong 8 nhà văn, nhà thơ trên, vì thời giờ có hạn, tôi chỉ xin lướt qua 3 vị hiện tại có mặt nơi đây. Nhũng giai thoại về những nhà văn, nhà thơ mà chúng ta mến yêu này rất nhiều, xin quí khán thính giả tìm đọc Giai Thoại Văn Chương.

Người đầu tiên, Nữ Sĩ Nguyễn Thị Ngọc Dung

NTND, nhà văn, nhà thơ, Chủ Nhiệm Tam Cá Nguyệt San Cỏ Thơm đã cho ra đời 2 tác phẩm hồi ký tình cảm rất gần gũi với độc giả, đó là Phượng Vẫn Nở Bên Trời Hà Nội và Sài Gòn Nắng Nhớ Mưa Thương. Hồ Trường An đã để ý tới chị từ 2 cuốn sách này. Thế là anh đi tìm nữ sĩ ND.

Điểm đặc biệt của Hồ Trường An là anh sành sõi về cách điểm trang và cách chưng diện của giới quần thoa. Hãy nghe nhà văn tả nữ sĩ ND: “Chị có cặp mắt hơi nhỏ, nhưng cái nhìn long lanh và bao la vời vợi. Nụ cười chị tươi sáng dưới lớp son màu hồng đào. Hàm răng chị ngắn gọn, đều đặn như hạt lựu và bóng lộn như hạt trân châu”. Theo anh, nữ sĩ ND có khiếu thẩm mỹ về trang phục: “Chị ăn mặc trang điểm không gượng nhẹ mà cũng chẳng mạnh tay, cốt lấy cái sáng mát và tươi thắm cho nhân diện, vóc dáng của mình”.

Đến khi trò chuyện với nữ sĩ ND rồi, anh Hồ Trường An nói: “Chị duyên dáng, lúc nào cũng cười điềm đạm. Nhìn chị, tôi cảm nhận ngay đây là một ý chí to lớn và cứng rắn trong một thể xác nhỏ nhắn mảnh mai. Tiềm lực và ý chí của chị như những hòn than ngún lửa hoài hoài dưới lớp tro mỏng chỉ chờ dịp thuận tiện là khêu bừng bừng ngọn lửa thắp sáng”.

Về văn tài của nữ sĩ, anh nhận xét: “Nhờ óc quan sát tinh nhuệ, nhờ niềm rung cảm sâu sắc nên lối viết bút ký của chị rất tươi, rất hứng khởi. Chị viết văn bằng kinh nghiệm sống chứ không bằng tài liệu chết chóc và khô cứng. Chị không nhồi nhét những vấn đề lớn lao như tôn giáo, xã hội, chính trị, luôn cả thời sự nóng hổi hay các khoa học nhân văn khác vào văn chương. Chị chân thành và khiêm tốn, biết gì viết nấy, không làm dáng trí thức”.

Qua cuộc phỏng vấn, nữ sĩ ND đã thổ lộ nhiều điều. Chị có quân bằng về lý trí và tình cảm dù ở chị có những đam mê, đam mê tất yếu của nguời nghệ sĩ vì ngoài mê viết, chị còn ham vẽ và hát. ND chân thật nói tới cái “tôi” một cách tự nhiên. Một giai thoại lý thú: nữ sĩ ND đã biết rung cảm trước người khác phái khi tuổi mới cặp kê:
“… có hai ông nhà văn trẻ, chừng 21 tuổi, đến thăm ND mới 15. Chàng thứ nhất beau như Robert Taylor, là cựu học sinh Chu Văn An, mới từ Hà Nội vào Sài Gòn. Chàng thứ hai là cựu học sinh Ngô Quyền, Hải Phòng, vừa mãn khóa Trường Sĩ Quan Thủ Đức. Chàng này có vẻ phong trần, nói chuyện dí dỏm có duyên, dáng dấp Roy Roger của những phim cao-bồi Mỹ. Đôi bạn nhà văn này đã để lại những kỷ niệm sâu đậm trong đời NTND”. Buổi sơ ngộ đó đã khiến cô bé ND lúng túng môi miệng, cuống quýt tay chân, tim nhảy loạn xa như mỗi khi phải lên bàn thầy giáo trả bài!

Nữ sĩ ND đi du lịch nhiều, thấy nhiều. Đó là vốn liếng trong văn chương của chị. Nữ sĩ tâm sự: “Tôi phải tìm thấy một ý nghĩa tốt đẹp, một tâm hồn cao thượng ở một nhân vật nào đó tôi mới hứng khởi dựng thành truyện”.

Theo dõi buổi hàn huyên tâm sự giữa nữ sĩ ND với anh Hồ Trường An mới thấy ND là một người có tư tưởng hướng thượng, một người can đảm, dám sống, giầu nghị lực. Trải qua bao sóng gió trong cuộc đời, chị vẫn vững tâm, vẫn dấn bước…và giờ đây vẫn tiếp tục lèo lái con thuyền Cỏ Thơm trên sóng to gió cả.

Người thứ hai, nhà thơ Phan Khâm

Hồ Trường An hội ngộ với thi sĩ PK qua xướng họa thơ thất ngôn bát cú trong thi tập Hoài Cảm cùng nhiều thi nhân khác. Khi thi tập Bên Dòng Thạch Hãn ra đời, PK tặng cuốn thơ này cho HTA. Nhìn hình nhà thơ, HTA phác họa:
“Anh hơi vóc nhỏ, nhưng khuôn mặt kết hợp bằng những nét hùng tráng: cằm vuông, chân mày võ tướng hình Thanh Long Đao (nói theo Kim Dung là Lãnh Nguyệt Bảo Đao), cặp mắt sắc, cái nhìn soi bói, nụ cười khinh bạc. Điểm trội nhất trên khuôn măt anh là vừng trán cao, sáng nhuận làm người ngắm nghĩ đến một chân trời mênh mông. Chân trời hàm nhuận biết bao tráng khí, biết bao hoài bão sắt son…”.

Theo HTA: « PK đã tạo được cho anh một thứ thơ không giống thơ của ai. Anh không ngại những ngôn từ vụng dại hay cấu trúc thiếu tinh vi miễn sao thơ anh sáng trưng thần trí sáng tạo tuyệt vời của mình. Do đó, cái vụng dại, thiếu tinh vi trở thành cái ý nhị kỳ diệu, cái duyên dáng bất ngờ:
Con đường cột cây số hăm hai
Dâu bể tang thương tiếng thở dài
Chôn chặt trăm năm tình lủi thủi
Con đường cột cây số hăm hai
”.

Thật là lẩn thẩn. Thật là luẩn quẩn. Nhưng đầy chất thơ!
Nhưng những câu thơ ẩn dụ của thi sĩ lại rất đa tình, rất khêu gợi và vô cùng hấp dẫn:
Căng tròn hai quả táo
Em bảo của trời cho
Đứng dưới triền mộng ảo
Ngước lên nhìn đủ no
« 

hay:
Đường tơ tình tự bướm bay
Nhủ lòng như nhũ hoa đấy tương tư
”.

Bên cạnh nhà thơ, hình bóng của người hôn phối, chị Phi Hồng mềm mại uyển chuyển với giọng ngâm Huế ngọt ngào. Hình bóng chị Phi Hồng làm tôn vẻ cứng cỏi của anh Phan Khâm. Giọng nhỏ nhẹ của chi càng tương phản với giọng trầm hùng của anh. Sự tương phản đó làm hai nhân vật cùng nổi lên như đôi kiếm thư hùng hỗ trợ cho nhau, quyện vào nhau chặt chẽ.

Qua những lời tâm tình với HTA, Thi sĩ PK là người rất tha thiết với quê hương Quảng Trị, vùng đất nghèo đá đôũ mồ hôi, nơi có dòng sông Thạch Hãn (nguồn cảm hứng của PK), nơi có những câu ca dao câu hò đầy tình tự dân tộc, nơi sản sinh ra những danh nhân, nơi có những địa linh (nhà thờ La Vang, làng Cam Lộ), nơi có những di tích lịch sử (cổ thành Quảng Trị, đại lộ kinh hoàng).

Thi sĩ mê thơ từ thuở còn trẻ. Anh làm thơ ca tụng nét đẹp của trường xưa, vẻ ngây thơ của thiếu nữ, vẻ đẹp của quê nhà. Rời đất nước, PK làm thơ tưởng nhớ tới Quảng Trị, tới Sài Gòn đã mất. Theo HTA, kỹ thuật làm thơ già dặn nhất của PK là thơ Đường Luật xướng họa.
Về quan niệm thi ca, PK có một quan niệm rất đáng yêu: “Thi ca là con suối trong xanh tươi mát mùa xuân, là hoa sen nở hồng mùa hạ, là bông cúc vàng thắm mùa thu, là ánh nến bên giọt rượu nồng sưởi ấm mùa đông… Mạch nguồn thi ca của tư tưởng Việt như mạch máu tuần hoàn chảy về tim, như đàn cá hồi biết tìm về biển mẹ, đưa tất cả những nơi xa xôi bạt ngàn về một điểm hội tụ: nguồn cội Việt Nam”.

Người thứ ba, Nữ Sĩ Vi Khuê

Chị Vi Khuê là một nhà thơ, một nhà văn, một nhà giáo dục.
Biên khảo gia HTA rất kính trọng nữ sĩ Vi Khuê. Suốt bài viết về nhà văn nhà thơ nữ này, HTA đều danh xưng chữ Chị ( chú ý chữ C hoa). Mà cũng phải, nữ sĩ Vi Khuê có một bề dầy văn chương đáng nể ở hải ngoại. Chị là một cây bút đàn chị, viết mạnh mẽ, sung mãn, nguồn cảm hứng dồi dào. Chị làm thơ, viết truyện ngắn, kịch, biên khảo, đủ loại. Mỗi loại đủ thể điệu.
Trong thơ, nữ sĩ đi vào địa hạt tâm linh, tâm tình đượm mùi thiền, tôn giáo. Nữ sĩ còn nghiền ngẫm những thảm trạng nhân loại. Nhưng nữ sĩ không quên tình đất nước, tình gia đình, và đương nhiên… tình yêu đôi lứa.
HTA viết về nữ sĩ VK như sau: Chị đã xây một lâu đài chữ nghĩa không nguy nga thì cũng tráng lệ. Ngòi viết của chị một khi đặt trên trang bản thảo là tung hoành như sư tử hí cầu và chạy thoăn thoắt như thuyền buồm rẽ sóng lướt ra khơi. Thơ VK đã vạch nên một chân trời bẩy sắc cầu vồng lộng lẫy.

Thơ đã vậy, còn văn thì sao? HTA viết: « Lối văn trong sáng như dòng suối chảy thánh thót trên lớp cát vàng óng mịn. Chị viết văn bằng một thái độ ung dung điềm đạm, bằng ánh sáng thiên lương. Chị viết văn bằng sự thăng bằng hòa điệu giữa lý trí và tình cảm. Đôi mắt dò xét thông minh của chị nhìn sâu vào từng lớp sóng phế hưng của lịch sử, vào từng thời cuộc tráo trở, vào từng tấn bi kịch của đời sống, vào từng cái tế nhị phức tạp của con người. »

Cuộc bút đàm giữa HTA và VK đã giải đáp những thắc mắc của độc giả muốn đi sâu vào cuộc đời nữ sĩ. Trả lời những câu hỏi, chị VK vẻ rất tự tin với niềm tự hào của một người giầu kiến thức về văn chương, văn học sử nước nhà và ngoại quốc.
Chị là người đọc nhiều, biết nhiều không những văn chương Việt mà còn cả rừng văn hải ngoại. Chị còn chú trọng đến giải Nobel và mong muốn một ngày nao có một tên Việt Nam trong đó.
Theo thiển ý, nhà văn nào càng đọc nhiều, càng biết nhiều thì càng dễ cảm xúc với sự việc và càng hứng khởi trên bản văn, để dòng tư tưởng tuôn xối xả.

Được hỏi về quan niệm sáng tác, nữ sĩ VK cho biết: « Tôi viết, trước hết là vì mình, để tự giải tỏa những ẩn ức, suy tư, đớn đau, khắc khoải. Nhưng, ẩn ức, suy tư, đớn đau, khắc khoải của tôi sở dĩ có là vì người khác, vì những người tôi yêu, tôi thương, vì những điều làm tôi ray rứt, băn khoăn, vì xã hội trong đó tôi sống, vì quê hương như một mối ràng buộc không thể dứt rời. Nữ sĩ tiếp: tôi là ngưòi không chấp nhận quan niệm văn nghệ phụng sự nghệ thuật thuần túy. »

Về nhân sinh quan, nữ sĩ cho biết: « Đời là bể khổ, cho nên thái độ của tôi đối với cuộc đời là thái độ xót thương, xót thương vô hạn. Tâm hồn đa cảm và lòng mở rộng thế mà nữ sĩ lúc nào cũng cảm thấy cô đơn. Chị viết tiếp: tôi cảm thấy cô đơn như bạn bè tôi, người Việt Nam vẫn thường, mỗi người cảm thấy mình cô đơn, vì chúng tôi sống trong một xã hội bị phân hóa cùng cực, bởi nhiều khuynh hướng đối lập. Con người thì hiền hậu, nhu hòa, nhiều tình cảm, nhưng cảnh ngộ chiến tranh thì đưa đẩy đến nghi kỵ, chia rẽ, hận thù. Cho nên ngồi giữa chốn đông ngưòi mà cảm thấy hoang vu »


Dưới đây là bài thơ “Hoang Vu”, mênh mông dễ sợ:
Qua đèo nay, nhớ trấn xưa
Hoang vu đồi hạ, đôi bờ cỏ may
Từ bên ấy sang bên này
Con sông vẽ một nét mày bắc ngang
Em về bên ấy sao đang
Tôi thương cổ thụ hai hàng lệ xưa
Cồn hoang dã, bến lau thưa
Trơ thân cỏ dại nằm chờ nước sông 
Cửa trời đã khép đôi khung
Suy tư bước nhỏ ngại ngùng chân em
Dòng ơi, sông nước êm đềm
Trả hoang vu, lại cho mình hoang vu
”.

Một bài thơ tuyệt vời từ ý tưởng, lời thơ cho đến âm điệu như ru hồn người đọc vào cõi… hoang vu, cô đơn cùng cực.
Chị VK rành rất nhiều thể thơ, thơ mới cũng như thơ cổ, Đường thi. Qua cuộc bút đàm với HTA, chị còn cho ta biết nhiều giai thoại lý thú của nhà thơ nổi tiếng Vương Bột.

Chị VK chỉ thích viết truyện ngắn. Chị nói: một truyện ngắn hay, cũng như một truyện dài hay, một tác phẩm nói chung là có sức tác động của nó trên tình cảm, trên tư tưởng của ngưòi đọc, đến độ có thể làm thay đổi phần lớn nếp suy tư, thái độ sống, có khi cả nhân sinh quan, vũ trụ quan của người đọc nữa.
Với những vấn đề lớn, vấn đề hệ trọng mà ít nhà văn nữ quan tâm thì VK lại trầm mình trong những thắm mắc siêu hình, những suy tư triết học, những vấn đề nhức nhối của đất nước, quê hương…
Nữ sĩ VK như muốn dang đôi tay bé nhỏ của chị để ôm gọn vũ trụ!

Xin trang trọng giới thiệu tới quí vị một cuốn sách hay của nhà văn Hồ Trường An. Ai muốn tò mò tìm hiểu, ai muốn biên soạn 8 văn nhân thi sĩ hiện đại trên, tại hải ngoại, không thể bỏ qua cuốn sách này.

Xin thành thật cảm ơn quí vị.

NGUYỄN LÂN
(bài nói chuyện về Giai Thoại Văn Chương của tác giả Hồ Trường An ngày Ra Mắt Sách tại Tòa Soạn Cỏ Thơm – 7/2006)

RMS GTVC - 00.jpg
RMS GTVC - X - 08.jpg
RMS GTVC - 06.jpg

                          ĐẠO CA – thơ Hồ Trường An
Tiếng dội

Ghé hỏi nhà sư đang đốn củi
Nghe gì tiếng búa dội vào cây?
Sư moi kinh sách nằm trong đảy
Tiếng dội sườn non tắt mất rồi!


 Sáng tối
Gửi Vĩnh Hảo

Ta mơ ánh sáng bừng tâm thức
Sư tắt ngọn đèn thét :  »Hiểu chưa ? »…
Sáng tối ta còn phân biệt mãi
Nên đành đêm quạnh đứng bơ vơ.


Ánh trăng
Nghĩ về Omar Khayyam qua một bài thơ của ông

Bước tới ồn ào, lui lặng lẽ
Ta về đình núi nhập vào trăng
Theo trăng, ta đến phòng hoa chúc
Và rọi sáng lòa trên nghĩa trang
.

Trắng đen
Gửi Ngô Nguyên Dũng

Ta vào đời với cõi lòng thanh vắng
Không thẹn thùng phơi thân xác trần truồng
Nhưng một sớm biết nhận màu đen trắng
Dựng nơi ta này địa ngục thiên đường.


Bông hồng

Cảnh giới xa xăm thôi loạn tưởng
Giã từ sách vở, xếp nghìn pho
Từ khi thiêu rụi Tàng Kinh Các
Tay nhặt bông hồng nở dưới tro



Thăng hoa


Ánh sáng nhiệm mầu tuôn  khắp lối
Phút giây kỳ diệu, anh ôm em
Hóa thân vụt biến hai thành một
Vượt cõi địa cầu đến cõi riêng


Chiếc bóng

Lăn theo vòng bánh luân hồi
Bồi hồi thoáng gặp bóng người bản lai
Bao năm đuổi bắt miệt mài
Tỉnh ra bóng trải ngậm ngùi vách xa.


Xuống núi

Nhà sư mài miệt theo công án
Chỉ thấy quanh mình đêm tha ma
Rời khỏi thiền sàng đi xuống núi
Gặp mùa xuân sáng cõi bao la.


Bức màn


Ta có trong nhau từ vạn kiếp
Xưa giờ anh chẳng nhận ra em
Bởi tâm anh phù màn đen tối
Càng kiếm em càng xa em thêm


Tâm
Gửi Vũ Tiến Lập

Tìm em suốt một đời dài
Chân trởi góc bể, khắp nơi mịt mùng
Chừng khi bỏ cuộc ung dung
Mới hay em sẵn sáng bừng ở ta.


Nghiệp
Tặng Đoàn Yên Linh

Trên cánh đồng gương rộng
Sáng ngời ánh tuyết băng
Ta mệt nhoài trốn bóng
Bóng theo từng bước chân

Ta dùng hơi lửa nóng
Đốt hình hài tan hoang
Một vết mờ lạnh cóng                                        
Ô kìa trên mặt gương !


Giọt lệ


Yêu mến cuộc đời muôn mặt ấy
Mắt em ngời ngấn lệ hân hoan
Trong cơn giao cảm anh vừa thấy
Giọt lệ mặn nồng chứa đại dương


Đuổi bắt


Ta sinh từ chớm mầm mê vọng
Đuổi bóng quên mình bao kiếp xưa
Bóng chính là ta, ta chính bóng
Tuy hai mà một tự xưa giờ.


Hiện hữu

Phải chăng khoảnh khắc đợt chuông rung
Vọng chuỗi thời gian xa mịt mùng
Kìa hạt cát này, viên sỏi ấy
Chập chờn ẩn hiện bóng Vô Cùng.


Đề ảnh một người
Gửi Như Chi

Hai mặt một người, người hai mặt
Mặt này bên đạo, mặt bên đời
Đây là dương bản, đây âm bản
Ảnh chụp trên phim vẫn một người.


Cổ Nguyệt Trường Miên Nữ (*)

Tôi đấy, cô nàng say giấc ngủ
Giữa trăng sơ cổ chẳng ai hay
Tỉnh ra, thế kỷ trôi qua mất
Gào rống trong sương một tiếng dài


(*) Chiết tự Hồ Trường An

http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1410&Itemid=36

Trần Quốc Bảo: Vĩnh Biệt Nghệ Sĩ NGỌC PHU, người MC nổi tiếng nhất của miền Nam VN trước 75.

Vĩnh Biệt Nghệ Sĩ NGỌC PHU, người MC nổi tiếng nhất của miền Nam VN trước 75.
(trích bài viết Trần Quốc Bảo)
Trước 1975, MC Ngọc Phu là người đứng ở nhiều sân khấu lớn miền Nam. Người yêu nghệ thuật nhớ đến Ông qua nhiều tài năng: đóng phim, ảo thuật, đạo diễn.. và nhất là vai trò người dẫn chương trình có giọng nói miền Nam sang trọng nhưng gần gũi. Chuyện tình cảm của Ông, cũng giống như nhiều nghệ sĩ tài hoa khác, nếu ghi xuống, phải viết thành nhiều chương, nhiều tập khác nhau. Vài số tới, người viết hy vọng sẽ bắt đầu ghi lại những trang hồi ký cuộc đời và tình yêu của Ông, gồm những mảnh tình có thật. Từ mối tình đầu tiên với người con gái Pháp tên Jane 16 tuổi. Cuộc tình hai người sản sinh 2 đứa con, nhưng chiến cuộc 1954 đã buộc Jane và 2 con Ruphie (sanh năm 1953) và Sophia (1954) về lại Pháp, để lại người chồng Ngọc Phu ở lại vì không có giấy hôn thú. Đây là thời gian Ông sống ở Đà Lạt, thành phố đã buồn, tình huống của Người còn bi đát hơn cả đất và trời. Ngọc Phu, người con trai 19 tuổi lúc bấy giờ chỉ biết lãng quên nỗi đau bằng cách đến với âm nhạc. Năm 1954, Ông cộng tác với Đài Phát Thanh Đà Lạt, lúc ấy Trưởng Ban Văn Nghệ của Đài là nhạc sĩ Lữ Liên. Cứ mỗi 6g chiều, các ca sĩ lại vào Đài radio để thu và phát thanh trực tiếp. Chuyện đã qua 60 năm, mà Ông vẫn còn nhớ giọng ca Bích Chiêu, lúc đó mới 12 tuổi mà đã rộn ràng phong phú, và Ông vẫn còn nhớ chuyện Tuấn Ngọc mỗi khi vào Đài, là nhân viên phải bắc thêm một chiếc ghế cho cậu bé đứng ngang tầm với micro.
Trong những trang hồi ký ấy, Trần Quốc Bảo sẽ nhắc lại về một chuyện tình khác cũng rất đẹp của Anh cùng với một người phụ nữ Nhật Bản, đó là khoảng thời gian 1962, Ông có dịp đi cùng Đoàn Văn Nghệ Việt Nam cùng với phái đoàn nghệ sĩ Hoàng Thi Thơ, để rồi sau đó, mối tình một đêm này để lại giọt máu Việt – Nhật mang tên Akira Yoko. Sau 1975, cô gái Yoko có nhờ Tòa Đại Sứ Nhật đi tìm lại cha mình.
Riêng trong số này, người viết chỉ đóng khung vào trang chính thức, đó là mối tình đẹp của Anh và ca sĩ Tuyết Trâm. Đó là năm 1961, chàng ca sĩ kiêm MC đang cộng tác ở Bồng Lai nhận được một tấm giấy yêu cầu anh hát ca khúc Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa. Qua ngày hôm sau cũng thế. Đến ngày thứ ba, Ngọc Phu vẫn tiếp tục nhận được mảnh giấy yêu cầu do nhân viên chạy lên giao. Ngay hôm đó, anh tìm hiểu cho ra lẽ, mới biết người yêu cầu cũng là một ca sĩ đang hát tại phòng trà Đức Quỳnh và Tứ Hải với cái tên Tuyết Trâm. Đó cũng là những sân khấu có nhiều tài danh cộng tác lúc ấy như Thanh Thúy, Mỹ Hòa, Linh Phương..
Với lòng cảm mến dành cho nhau, cả hai thường xuyên đi ăn tối sau giờ hát. Một tháng sau, lúc ăn khuya xong, ca sĩ Tuyết Trâm nói: “Anh không Mẹ, tôi không Cha, tụi mình kết hợp để sống không cô đơn”. Chỉ một câu nói, 4 ngày sau, hai người chính thức lấy nhau.
Năm 1963, cả hai có đứa con trai đầu, đặt tên Trần Minh Xuân (hiện đang ở chung với Anh tại thành phố Garden Grove). Sanh con xong, ca sĩ Tuyết Trâm quyết định bỏ hát để ở nhà lo công việc gia đình. Đứa con gái thứ nhì, tên Thủy Tiên, đã mất cách nay 6, 7 năm. Cô con gái thứ ba tên Mỹ Nga, hiện ở thành phố Sun Valley, có chồng và 2 con. Và sau cùng, là cậu con trai út tên Trần Hoàng Ngọc Cương (Peter Tran).
Tuy đã có cháu ngoại, nhưng MC Ngọc Phu vẫn luôn ước ao bồng ẵm một đứa cháu nội và niềm mong muốn đó đã thành sự thật. Ngày 21 tháng 9 năm 2012, vợ chồng cậu con trai trưởng của Anh đã có 1 bé gái, có tên Hannah. Cháu chưa đầy một tuổi mà đã biết đi và có thể trả lời đúng rất nhiều những câu hỏi của Ông nội đã dậy. Hiện nay, MC Ngọc Phu không còn xuất hiện nhiều ở những quán café vì bằng lái xe của Ông đã hết hạn, trong những lúc trói chân ấy, Ông tìm được niềm vui khi bồng ẵm cô cháu nội yêu dấu của mình.
Trần Quốc Bảo ghi những giòng này, như một lời tiễn biệt đầy nhớ thương về một người nghệ sĩ đa tài của Saigon năm xưa.194

THANH HIỆP : Nghệ sĩ đồng nghiệp thương tiếc NSƯT Nguyễn Chánh Tín

Nghệ sĩ đồng nghiệp thương tiếc NSƯT Nguyễn Chánh Tín

04-01-2020 – 10:19 AM | Văn nghệChia sẻ

(NLĐO) – Nhiều người trong giới văn nghệ sĩ đã bày tỏ sự thương tiếc khi hay tin NSƯT Nguyễn Chánh Tín đột ngột qua đời sáng 4-1 mà gia đình nghi ngờ do bị đột quỵ.

Nghệ sĩ đồng nghiệp thương tiếc NSƯT Nguyễn Chánh Tín - Ảnh 1.

NSƯT Nguyễn Chánh Tín

NSƯT Nguyễn Chánh Tín là một ngôi sao trong làng nghệ thuật Việt Nam. Ông thành công ở lĩnh vực điện ảnh lẫn sân khấu kịch nói. Đặc biệt, với vai Nguyễn Thành Luân trong « Ván bài lật ngửa », ông đã khắc đậm dấu ấn đẹp của một đời nghệ sĩ trong tim khán giả.

Nghệ sĩ Tú Trinh xúc động: « Vĩnh biệt người nghệ sĩ là thần tượng của biết bao trái tim yêu điện ảnh Việt Nam qua nhiều nhân vật đi vào huyền thoại của bộ môn nghệ thuật thứ bảy. Tôi có kỷ niệm với anh khi diễn trong vở kịch « Tình nghệ sĩ » tại Nhà hát Hòa Bình, anh hóa thân vào vai người nhạc sĩ mù. Khán giả yêu mến anh qua nhiều vở kịch khi anh công tác tại Đoàn Kịch nói Bông Hồng và nhiều lần anh về cộng tác với Đoàn Kịch nói Kim Cương, diễn vai thầy giáo Hoàng trong vở « Lá sầu riêng ». Vĩnh biệt anh, người đồng nghiệp đáng quý của chúng tôi! ».

Nghệ sĩ đồng nghiệp thương tiếc NSƯT Nguyễn Chánh Tín - Ảnh 2.

NSƯT Nguyễn Chánh Tín

Nghệ sĩ Kiều Phượng Loan bồi hồi kể lại giai đoạn chị diễn vở « Nila » – một tác phẩm sân khấu của Nga, được đạo diễn Đoàn Bá dàn dựng cho Đoàn Kịch nói Bông Hồng. « Tôi thích cách làm việc của anh – nghiêm túc trên sân khấu và có nhiều sáng tạo trong diễn xuất. Chính dáng vẻ nam tính, lời thoại trầm ấm, anh tỏa sáng và có sức hút mãnh liệt trên sân khấu lẫn màn bạc. Anh là một nghệ sĩ đa tài » – bà nhìn nhận.

NSƯT – ca sĩ Hồng Vân đã khóc khi hay tin NSƯT Nguyễn Chánh Tín đột ngột qua đời. Bà thổ lộ: « Ngày đầu năm vĩnh biệt một ngôi sao huyền thoại của điện ảnh Việt Nam, tôi buồn quá. Nguyễn Chánh Tín còn là một ca sĩ, chuyên hát nhạc Pháp lời Việt, cùng vợ là ca sĩ Bích Trâm  một thời được yêu mến. Xin chia buồn cùng gia đình chị Bích Trâm về sự mất mát quá lớn này ».

Nghệ sĩ đồng nghiệp thương tiếc NSƯT Nguyễn Chánh Tín - Ảnh 3.

NSƯT Nguyễn Chánh Tín và vợ

« NSƯT Nguyễn Chánh Tín là tên tuổi lớn của điện ảnh cũng như sân khấu cả nước. Ông vừa tài năng vừa tâm huyết với nghề. Ông mất đi khiến nhiều người vô cùng đau buồn. Với tôi, ông là một người thầy để lại nhiều khuôn mẫu đẹp trong diễn xuất với bầu nhiệt huyết sáng tạo cho nền điện ảnh nước nhà » – đạo diễn – NSƯT Phương Điền chia sẻ.

Hay tin đồng nghiệp qua đời, NSND Kim Cương không khỏi bất ngờ, cảm giác trống rỗng. « Khi chuẩn bị tổ chức chương trình « Nghệ sĩ tri âm », trao quà Tết cho nghệ sĩ có nhiều công lao đóng góp cho văn hóa nghệ thuật và nghệ sĩ nghèo, tôi lại bất ngờ nhận được tin Nguyễn Chánh Tín ra đi. Cách đây mấy ngày, tôi và Tín còn nói chuyện điện thoại, hẹn ngày 8-1 sẽ gặp nhau. Tôi lại xa « thầy giáo Hoàng » trong vở « Lá sầu riêng » rồi. Sau nghệ sĩ Vân Hùng thì Nguyễn Chánh Tín đã từng diễn vai này rất thành công trên sân khấu kịch nói Kim Cương » – kỳ nữ xúc động.

Nghệ sĩ đồng nghiệp thương tiếc NSƯT Nguyễn Chánh Tín - Ảnh 4.

NSƯT Nguyễn Chánh Tín

Nhiều nghệ sĩ gạo cội trong và ngoài nước – là những bạn diễn từng trực tiếp làm việc chung với NSƯT Nguyễn Chánh Tín qua các phim như: « Ván bài lật ngửa », « Tình đất Củ Chi », « Con mèo nhung », « Khi đàn ông có bầu », « Suối oan hồn »… – đều bày tỏ sự thương tiếc. Ca sĩ Thanh Lan buồn bã: « Vĩnh biệt anh, người nghệ sĩ đã có nhiều cống hiến cho nghệ thuật ». Nghệ sĩ Phượng Liên xúc động: « Thật buồn khi chia biệt nghệ sĩ Nguyễn Chánh Tín ». Nghệ sĩ Hồng Đào tâm sự: « Anh là một bầu trời ước mơ của tôi khi nghĩ về điện ảnh, bởi vai diễn của anh lúc nào cũng để lại ấn tượng sâu sắc ». NSND Hồng Vân bộc bạch: « Anh đã ra đi trong sự thương tiếc của công chúng và đồng nghiệp. Anh là một người anh lớn trong nghệ thuật mà tôi quý trọng ».

Nghệ sĩ đồng nghiệp thương tiếc NSƯT Nguyễn Chánh Tín - Ảnh 5.

NSƯT Nguyễn Chánh TínBài: Thanh Hiệp (ảnh do gia đình cung cấp) Xem nhiều

Tin liên quan

https://nld.com.vn/van-nghe/nghe-si-dong-nghiep-thuong-tiec-nsut-nguyen-chanh-tin-20200104094305842.htm

MINH KHUÊ tông hop: NSƯT Nguyễn Chánh Tín với vai diễn để đời Nguyễn Thành Luân

NSƯT Nguyễn Chánh Tín với vai diễn để đời Nguyễn Thành Luân

04-01-2020 – 11:34 AM | Văn nghệChia sẻ

(NLĐO) – Nhắc đến NSƯT Nguyễn Chánh Tín, khó ai có thể quên được vai diễn Nguyễn Thành Luân trong loạt phim « Ván bài lật ngửa ». Đây được xem là vai diễn để đời, tạo nên danh tiếng vang dội cho tài tử này.

NSƯT Nguyễn Chánh Tín sinh năm 1952 tại Bạc Liêu, trong gia đình có truyền thống võ học. Có năng khiếu với nghệ thuật từ sớm, NSƯT Chánh Tín đam mê ca hát và từng được xem như « hiện tượng âm nhạc ». 

Sau khi tốt nghiệp Trường Mạc Đĩnh Chi năm 1972, Nguyễn Chánh Tín tiếp tục học trường luật và hát tại các phòng trà ca nhạc nổi tiếng ở Sài Gòn. Ông được yêu mến bởi giọng hát ngọt ngào, ngoại hình điển trai.

NSƯT Nguyễn Chánh Tín với vai diễn để đời Nguyễn Thành Luân - Ảnh 1.

NSƯT Nguyễn Chánh Tín

Từ ca hát, Nguyễn Chánh Tín lấn sân sang phim ảnh, tham gia các phim « Đời chưa trang điểm », « Vĩnh biệt tình hè »… Tiếp nối mối duyên điện ảnh, ông tham gia liên tiếp các phim: « Tình đất Củ Chi », « Con mèo nhung », « Hạnh phúc ở quanh đây ».

Từ năm 1982, tên tuổi Nguyễn Chánh Tín nổi như cồn khi ông đóng vai đại tá Nguyễn Thành Luân trong loạt phim « Ván bài lật ngửa » của đạo diễn Lê Hoàng Hoa. Vai diễn này giúp NSƯT Nguyễn Chánh Tín tỏa sáng. Ông ghi dấu ấn bởi lối diễn xuất của mình. Nhiều khán giả say mê hình ảnh của ông trên phim, đặc biệt là nữ giới.

NSƯT Nguyễn Chánh Tín với vai diễn để đời Nguyễn Thành Luân - Ảnh 2.

NSƯT Nguyễn Chánh Tín trong phim « Ván bài lật ngửa »

NSƯT Nguyễn Chánh Tín với vai diễn để đời Nguyễn Thành Luân - Ảnh 3.

Ông tạo dấu ấn với diễn xuất và ngoại hình điển trai

NSƯT Nguyễn Chánh Tín với vai diễn để đời Nguyễn Thành Luân - Ảnh 4.

NSƯT Nguyễn Chánh Tín tạo dựng tên tuổi với « Ván bài lật ngửa »

NSƯT Nguyễn Chánh Tín với vai diễn để đời Nguyễn Thành Luân - Ảnh 5.

Ông sau đó tham gia nhiều phim khác

« Ván bài lật ngửa » rất thành công với nhiều giải thưởng như: Giải đặc biệt tại Liên hoan Phim Việt Nam lần 6, giải Bông sen bạc tại Liên hoan Phim Việt Nam lần 7. Với vai diễn Nguyễn Thành Luân, Nguyễn Chánh Tín đã đoạt giải nam diễn viên chính xuất sắc tại Liên hoan Phim Việt Nam lần thứ 7.

Sau vai diễn để đời Nguyễn Thành Luân, Nguyễn Chánh Tín tham gia hơn 20 phim khác nhưng không có vai nào ghi dấu ấn đậm nét như trong « Ván bài lật ngửa ». Những phim về sau có sự góp mặt của Nguyễn Chánh Tín là: « Điệp khúc hy vọng », « Ngôi nhà oan khốc », « Chiếc mặt nạ da người », « Bến sông trăng », « Suối oan hồn »… Những phim gần nhất Nguyễn Chánh Tín tham gia là: « Em chưa 18 », « Hoàng tử ơi anh ở đâu ».

NSƯT Nguyễn Chánh Tín

Ngoài vai trò ca sĩ, diễn viên, NSƯT Nguyễn Chánh Tín còn là nhà sản xuất phim. Ông lập hãng phim Chánh Phương năm 2007 và tác phẩm nổi bật nhất từng sản xuất là « Dòng máu anh hùng » có sự góp sức của các người cháu: Charlie Nguyễn, Johnny Trí Nguyễn…

« Dòng máu anh hùng » thành công về mặt chuyên môn nhưng số tiền đầu tư lên đến 1,5 triệu USD thời đó cộng với nạn băng đĩa lậu tràn lan khiến nhà sản xuất thua lỗ nặng. Hãng phim rơi vào cảnh nợ nần và NSƯT Nguyễn Chánh Tín lao đao. Ông từng chia sẻ cùng báo chí là đã trải qua 3 lần phá sản. 

Sau những khó khăn, ở tuổi xế chiều, NSƯT Nguyễn Chánh Tín ổn định cuộc sống. Ông tham gia nhiều chương trình truyền hình, thỉnh thoảng đóng phim.

NSƯT Nguyễn Chánh Tín với vai diễn để đời Nguyễn Thành Luân - Ảnh 7.

Sau này, NSƯT Nguyễn Chánh Tín tham gia nhiều chương trình truyền hình

NSƯT Nguyễn Chánh Tín đột ngột trút hơi thở cuối cùng lúc 5 giờ ngày 4-1 tại nhà riêng ở quận 7, TP HCM; hưởng thọ 68 tuổi.

Tang lễ của NSƯT Chánh Tín sẽ được tổ chức tại nhà riêng – lô C1, chung cư Belleza, đường Phạm Hữu Lầu, phường Phú Mỹ, quận 7, TP HCM.Minh Khuê (tổng hợp). Ảnh: NSX CC Xem nhiều

Tin liên quan

https://nld.com.vn/van-nghe/nsut-nguyen-chanh-tin-voi-vai-dien-de-doi-nguyen-thanh-luan-20200104100008829.htm

GIA BẢO: Con gái nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý: Cha tôi đi rất nhanh, thanh thản

Quan tâm 427/12/2019    14:37 GMT+7

Sáng 27/12, nhiều nhạc sĩ như Trần Hiếu, Trần Long Ẩn, Thế Hiển… viếng nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý. 

Một năm thay đổi của Trương Nam Thành khi cưới đại gia hơn 15 tuổiFan nữ đổ rạp, tới tấp hỏi thông tin tìm mua Bảo ‘Hoa hồng trên ngực trái’Cha của Jack: ‘Con than sống không nổi, muốn về quê bán trà sữa’

Đúng 10 giờ, xe đưa linh cữu nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đến quàn tại Nhà Tang Lễ TP. HCM ở quận 3, TP. HCM. 
Con cháu cố nhạc sĩ nhiều người ở Hà Nội, vừa hay tin đã đặt máy bay để vào TP. HCM nên chưa kịp có mặt sáng nay. Đến Nhà tang lễ thành phố có ông Nguyễn Văn Phúc (sinh năm 1935), em trai nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý. Ông là nguyên Hiệu phó trường Sân khấu Điện ảnh TP. HCM, từng đóng phim Dù gió có thổi.
Tiếp chuyện chúng tôi là bà Thanh Mai, vợ ông Phúc. « Bác đi rất nhẹ nhàng », bà nói. Hay tin anh chồng mất, cả nhà đã có mặt ở Nhà tang lễ từ sớm. Bà Mai cho biết, gia đình cố nhạc sĩ có 5 anh chị em (gồm 2 nữ, 3 nam), trong đó anh chị cả nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đều mất khi tuổi rất cao, như người chị cả mất năm 99 tuổi.
« Hai anh em chúng tôi không sống với nhau nhiều. Năm 1945, anh ấy đi Việt Minh, hết chiến tranh lại làm công tác văn nghệ. Tôi ở nhà với mẹ, đến năm 1954 mới đi làm. Anh ấy là anh thứ 3 trong 5 anh chị em, đẹp trai nhất nhà », ông Phúc nói.
Linh cữu nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý. Rất nhiều nhạc sĩ như Trương Tuyết Mai, Vĩnh Lai, Phạm Minh Tuấn, Trần Hữu Bích, Thế Hiển,… đã đến viếng ông. Nhạc sĩ Trần Long Ẩn, chủ tịch Hội Âm nhạc TP. HCM dẫn đoàn đến viếng sau buổi họp ở hội.
Chị Thương, cháu người vợ thứ hai của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, là người chăm sóc ông trong ngôi nhà nhỏ ở phường Đa Kao, Quận 1, TP. HCM suốt 30 năm nay cho đến khi ông mất. Cạnh chị là chắt nội của ông. « Cuối đời, bác chỉ ước gặp con gái nhưng không kịp. Bác mất do tuổi già chứ không phải bệnh, nói ông lao phổi là không đúng », chị kể. Chị cũng đính chính, cuộc sống cuối đời ông không quá túng thiếu. Cố nhạc sĩ có lương hưu hơn 6 triệu/tháng, chính quyền Hà Tĩnh gửi ông 5 triệu/tháng, chưa kể các khoản tiền nhỏ khác.
Chị Thương cũng nói, khoảng 3 ngày cuối đời, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý bị xổ ruột, đi ngoài liên tục. Thông thường, khi chị cho ông uống thuốc sẽ bớt đi ngoài nhưng lần này không hiệu quả. Vì cố nhạc sĩ hễ ăn là ói ra nên chị cho ông uống sữa, tình trạng kéo dài 1 ngày thì ông mất. Chị kể: « Ông đi nhẹ nhàng lắm, không trăn trối gì, tôi kêu « Dượng ơi » mà ông nhắm mắt lại, thế là đi luôn ». Tết mấy năm nay, chị Thương có đưa ông về Bảo Lộc đón Tết để ông tận hưởng không khí lạnh. Vậy mà ông đã đi trước khi năm mới sang.
Chia buồn của nhà thơ, nhà văn Lưu Trọng Văn, con trai cố thi sĩ Lưu Trọng Lư.
Một lời chia buồn khác được viết cẩn thận. Sinh thời, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý được mọi người yêu quý vì tính cách và nể phục sự nghiệp âm nhạc đồ sộ.
Chị Thái Linh (65 tuổi), con gái thứ 2 cố nhạc sĩ, cũng chính là em bé đi vào âm nhạc nước nhà qua ca khúc « Mẹ yêu con ». Chị mặc áo tang đón tiếp các khách viếng vì chị gái Như Mỹ ở Hà Nội chưa về kịp. « Hôm qua, ông đi vào ngày rất đẹp, ông đi rất nhanh, thanh thản, chúng tôi mừng cho ông », chị nói. Theo chị, gia đình cũng muốn phát nhạc của ông sáng tác cho ông vui, nhưng quy định Nhà tang lễ Thành phố không đồng ý nên thôi. Bên Hội Âm nhạc TP định an táng ông ở Nghĩa trang TP nhưng cố nhạc sĩ đã ký hợp đồng để yên nghỉ ở Nghĩa trang hoa viên Bình Dương khoảng 5 – 6 năm trước.
« Ông rất cưng tôi. Hồi nhỏ, hai bố con ngủ trong căn nhà tập thể ở số 96 Phố Huế, hễ đi toilet tôi đều phải gọi ông vì phía sau nhà tối lắm, sợ lắm. Tôi bây giờ 65 tuổi trông thế này thôi chứ hồi em bé tròn trĩnh đáng yêu lắm. Ông viết bài « Mẹ yêu con » cho tôi, bài hát mà hễ nghe ở bất cứ đâu, tôi cũng có thể khóc ngay. Tôi nhớ khoảng năm 1972, tôi tốt nghiệp THPT, sắp đi Nga học thì xuất hiện một đơn tố cáo nặc danh khiến việc đi học trì hoãn 1 năm, đó là lần đầu tôi thấy ông khóc. Cả đời ông vắt kiệt sức cho âm nhạc rồi, tôi muốn ông được yên, sớm siêu thoát », chị tâm sự.
Cụ Nguyễn Văn Phúc tay bắt mặt mừng NSND Trần Hiếu – ca sĩ thể hiện thành công nhiều ca khúc bất hủ của anh trai mình. 
Nghệ sĩ Trần Hiếu nói, anh kém nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý một con giáp nhưng thân thiết như anh em, bạn bè. Ông rất yêu tính cách của đàn anh vì « trước sau như một, không như người ta cứ lúc thế này khi thế khác ». Thời trẻ, hai anh em thường xuyên gặp nhau, nếu Trần Hiếu viết nhạc thì cụ Tý là người nghe đầu tiên. Ngược lại, cụ Tý viết nhạc thì anh luôn được hát trước.
Về tình hình của mình, NSND Trần Hiếu nói, ông vẫn khỏe mạnh bình thường. Quyền Linh đến thăm đúng lúc ông bị ốm, mà tuổi già bị bệnh vặt là chuyện bình thường. Cuộc sống ông không quá khó khăn hay thiếu thốn như mọi người nghĩ. Vợ chồng Trần Hiếu sống trong căn hộ chung cư 49m2 ở Hà Nội khoảng 10 năm nay rất tốt. « Chắc người trẻ thương chúng tôi chứ người già chúng tôi quen vậy rồi », ông cười. 

Bài và ảnh: Gia Bảo

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý qua đời ở tuổi 94

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý qua đời ở tuổi 94

Gia đình nhạc sĩ « Mẹ yêu con » xác nhận tin ông qua đời chiều 26/12, hưởng thọ 9

https://vietnamnet.vn/vn/giai-tri/nhac/dam-tang-nhac-si-nguyen-van-ty-604091.html

ĐinhThu Hiền: Ca khúc về phụ nữ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý được khán giả yêu thích

Văn hóa – Giải trí

Ca khúc về phụ nữ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý được khán giả yêu thích

Đinh Thu Hiền 27/12/2019 – 10:25 AM Chia sẻ

Các ca khúc « Dáng đứng Bến Tre », « Mẹ yêu con », « Dư âm » với ca từ ngọt ngào, yêu thương phụ nữ của cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã được nhiều thế hệ khán giả yêu thích

Nữ nhạc sĩ Lê Kim Lệ, Hội âm nhạc TPHCM cho biết, với ‘Dáng đứng Bến Tre », khán thính giả nghe đã thuộc làu từng từ: « Ai đứng như bóng dừa/Tóc dài bay trong gió/Có phải người còn đó là con gái của Bến Tre… ». Hay với « Mẹ yêu con »: « Mẹ thương con có hay chăng/Thương từ khi thai nghén trong lòng… » ông viết tặng người vợ thân yêu và cô con gái sắp chào đời của mình với giai điệu âu yếm yêu thương đặc biệt. Và riêng với « Dư âm », thì nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã trở thành « nốt nhạc » đẹp trong sự hâm mộ của chị em phụ nữ.

Ca khúc về phụ nữ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý được khán giả yêu thích - Ảnh 1.
Từ trái qua phải: nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, nhạc sĩ Lê Kim Lệ, nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu. Ảnh tư liệu do nhạc sĩ Lê Kim Lệ cung cấp

« Những người sinh ra trong thập niên 50-60 thế kỷ trước ai cũng biết và yêu thích nằm lòng ca khúc Dư âm. Với cung Rê trưởng, điệu Blue trữ tình, ca khúc Dư âm trở thành bản tình ca ngọt ngào viết cho người phụ nữ trong mộng, với cái nhìn mê đắm, trân trọng, đầy xúc cảm của tác giả. « Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ/Không gian trầm lắng như âu yếm ru ai trong giấc mơ/Mái tóc nhẹ rung, trăng vờn làn sóng/Yêu ai anh nắn cung đàn đầy vơi đôi mắt xa vời… », nhạc sĩ Lê Kim Lệ chia sẻ.

Bên cạnh đó, khán thính giả cũng có những rung cảm chung cùng cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý với các bài hát viết về phụ nữ: « Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa », « Cô nuôi dạy trẻ »… với ngôn từ bình dị nhưng lại rất tài hoa. « Tôi nợ nhiều ân tình với phụ nữ. Tôi luôn yêu thương và trân trọng họ, vì sự hy sinh thầm lặng mà họ đã dành cho những người bên cạnh mình. Chính vì vậy, tôi luôn chọn ca từ với sự yêu quý và nâng niu nhất », nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý từng trả lời phỏng vấn Báo PNVN về cảm xúc của mình khi viết các bài nhạc dành cho phụ nữ.

Trong cuộc sống đời thường, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý cũng « nặng lòng » vì những người phụ nữ. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương chính là người đã mai mối em gái của ông cho nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý. Vợ chồng nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý có 2 cô con gái khá thành đạt. Tuy nhiên, do hoàn cảnh gia đình, vợ nhạc sĩ phải sang nước ngoài chăm sóc con gái sau sinh, khiến cuộc sống gắn kết vợ chồng không được như ngày trước. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý sống cùng mẹ con cô cháu dâu, cho tới tận khi nhắm mắt lìa đời.

https://phunuvietnam.vn/ca-khuc-ve-phu-nu-cua-nhac-si-nguyen-van-ty-duoc-khan-gia-yeu-thich-20191227100850432.htm?fbclid=IwAR37utH0w3JUm-zVLY72LHdBxlhYLlqaUafZebb6qRZf0kfpsQU8zAlcvy0

Thanh Hiệp: Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý qua đời ở tuổi 94

26-12-2019 – 10:26 PM | Văn nghệChia sẻ

(NLĐO)- Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý nổi tiếng với những sáng tác như « Dư âm », « Mẹ yêu con », « Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa », « Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh », « Người đi xây hồ Kẻ Gỗ », « Dáng đứng Bến Tre »…

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý (sinh ngày 5 tháng 3 năm 1925, tại Nghệ An) đã qua đời vào tối 26-12 tại nhà riêng trên đường Trần Khắc Chân (quận 1, TP HCM) sau thời gian chống chọi với rất nhiều căn bệnh của tuổi già, hưởng thọ 94 tuổi.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý qua đời ở tuổi 94 - Ảnh 1.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý trong chương trình “Nghệ sĩ tri âm” lần thứ 3 do NSND Kim Cương tổ chức

Là một trong năm nhạc sĩ đầu tiên, cùng Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Văn Cao, thành lập nên Hội nhạc sĩ Việt Nam, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý nổi tiếng với những sáng tác như « Dư âm », « Mẹ yêu con », « Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa », « Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh », « Người đi xây hồ Kẻ Gỗ », « Dáng đứng Bến Tre »… 

Có sự nghiệp thành công, nhưng ở tuổi xế chiều, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý rơi vào cảnh ốm đau, bệnh tật. 

Lễ nhập quan vào lúc 8 giờ ngày 27-12 và di quan ngày 29-12. Hội Âm nhạc TP HCM đang chuẩn bị tang lễ, có thể quàn tại Nhà Tang lễ TP HCM.
Tin – ảnh: Thanh Hiệp

https://nld.com.vn/van-nghe/nhac-si-nguyen-van-ty-qua-doi-o-tuoi-94-20191226222635564.htm