Catégorie : CỔ NHẠC VIỆT NAM

Biệt tài tí hon | tập 1: Cẩm Ly khen nức nở cô bé 7 tuổi hát dân ca « ngọt như mía lùi »

Biệt tài tí hon | tập 1: Cẩm Ly khen nức nở cô bé 7 tuổi hát dân ca « ngọt như mía lùi »

Ajoutée le 1 janv. 2017

Biệt tài tí hon tập 1, Nghi Đình « hiện tượng dân ca » 7 tuổi khiến khán giả « nổi da gà » với giọng hát « ngọt hơn mía lùi » qua bài hát Bún riêu cua đồng. Ca sĩ Cẩm Ly cũng như danh hài Trần Thành đã khen cô bé không ngớt lời.

Biệt tài tí hon phát sóng vào lúc 20h00 chủ nhật hàng tuần trên VTV3, bắt đầu từ 01/01/2017

Biệt tài tí hon chương trình tìm kiếm và giới thiệu tài năng nhí từ 3 đến 7 tuổi, trên mọi lĩnh vực, lớn nhất Việt Nam.

Theo dõi kênh Fanpage để cập nhật những hình ảnh mới nhất: https://www.facebook.com/biettaitihon

HÁT CỬA ĐÌNH (NGUYỄN XUÂN DIỆN)

HÁT CỬA ĐÌNH (NGUYỄN XUÂN DIỆN) PDF 打印 E-mail
周五, 2012年 10月 12日 11:06
500 năm về trước, tại đình làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm (Hà Nội) đã diễn ra lễ hội đầu xuân cầu phúc trong không khí đại lễ trang nghiêm, hào hùng. Trong ngày hội lớn đó 8 giáp trong làng cùng nhau thưởng đào ở đình làng. Các cô đào hát những bài thơ ca ngợi thành hoàng làng và cầu phúc cho dân làng. Lê Đức Mao đã thay mặt 8 giáp viết 9 bài văn để các giáp đọc và khen thưởng cho các cô đào.

 

Đó là tư liệu sớm nhất để khẳng định ca trù đã có mặt trong văn hóa Việt Nam từ thế kỷ XV. Từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX, hát cửa đình là một sinh hoạt không thể thiếu trong mỗi dịp tế thần Thành hoàng làng, trở thành một nét đẹp của văn hóa Việt Nam. Những cuộc hát cửa đình này đều do các giáo phường đảm nhiệm

Image

Bức chạm tiên gảy đàn Đáy ở đình Lỗ Hạnh, huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang

Ở thế kỷ XV ca trù đã là một bộ môn hoàn chỉnh về lối chơi (qua phát hiện tư liệu sớm nhất về ca trù Việt Nam)

Trước đây nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ca trù có từ thời Lý – Trần -Hồ, thế kỷ XI, XII khi căn cứ vào các bức chạm khắc ở các chùa Phật Tích (Bắc Ninh), Thái Lạc (Hưng Yên) và mấy chữ ả đào, đào nương trong các sách cổ Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử tiêu án, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Công dư tiệp ký.

Gần đây với các tài liệu khảo cổ học, mỹ thuật học và nhất là tài liệu bằng chữ Hán Nôm xác thực và tin cậy, chúng ta chỉ mới có tài liệu về ca trù sớm nhất là khoảng thế kỷ XV. Căn cứ về khảo cổ học là các bức chạm khắc đàn đáy – một cây đàn 3 dây đặc biệt chỉ dùng riêng trong ca trù, tìm thấy ở các ngôi đình làng, chùa làng ở Bắc bộ thế kỷ XVI. Tư liệu chữ viết là bài Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn của Tiến sĩ Lê Đức Mao (1462- 1529) trong sách Lê tộc gia phả (A.1855) soạn trước năm 1505, tức là khoảng cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI. Đây chính là tư liệu sớm nhất mang hai chữ Ca trù. Đây cũng là Bài thơ cổ nhất hiện biết có hai chữ Ca trù lần đầu tiên có mặt trong văn học viết.

Bài thơ cho chúng ta thông tin quan trọng: ngôi đình Đông Ngạc, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội có trước năm 1500 và hát cửa đình đã có trước năm 1500. Bài thơ cho ta mường tượng ra không khí đại lễ trang nghiêm, hào hùng của lễ hội đầu xuân cầu phúc của làng Đông Ngạc hồi cuối thế kỷ XV. Trong ngày hội lớn của làng Đông Ngạc bấy giờ có ít nhất là 8 giáp, đã cùng nhau thưởng đào ở đình làng. Các cô đào hát những bài thơ ca ngợi thành hoàng làng và cầu phúc cho dân làng.

Trong bài thơ này, chữ « ca trù » xuất hiện hai lần: Thọ bôi kể chục, ca trù điểm trăm và Mừng nay tiệc ca trù thị yến. Ở câu thơ thứ nhất, chữ « ca trù » cho thấy đây là lối hát dùng thẻ (trù) để thưởng cho người hát người đàn (đào và kép). Mỗi khi thấy hay, người cầm chầu gõ một tiếng « chát » vào tang trống để thưởng và khi đó sẽ thả một thẻ tre (mỗi thẻ tương ứng một số tiền) vào chiếc chậu thau (để tiếng ném thẻ vào chậu thau sẽ báo cho đào kép biết là làng thưởng khiến cho họ hát càng hay hơn nữa). Ở câu thơ thứ hai cho thấy tiệc ca trù được mở để thờ thần.

Hát thờ ở cửa đình Đông Ngạc cho thấy cái trống chầu đã có vai trò riêng: để thưởng và để phạt (để khen và để chê), điều này nói lên rằng việc thưởng thức ca nhạc đã đạt được đến một chuẩn mực, một trình độ đáng kể. Chính việc khen chê như vậy (khen gọi là thưởng đào, hoặc thướng đào) đã góp phần nâng cao các thành tố trong cuộc biểu diễn lên một trình độ mới. Tiếng hát, tiếng phách của đào nương, tiếng đàn đáy của kép và lời thơ đã có cái tiêu chuẩn để đánh giá. Trải qua nhiều thế kỷ, tục hát thờ thần ở đình Đông Ngạc vẫn được duy trì và tạo thêm nhiều yếu tố văn hóa đặc sắc, trong đó có lệ thưởng đào thị yến đã trở thành một nét đẹp về sự trân trọng của cộng đồng đối với nghệ thuật và nghệ sỹ.

Image

Bức chạm nhạc công đàn Đáy ở đình Đại Phùng, huyện Đan Phượng, Hà Nội.

Thế kỷ XVI – Ca trù gắn với ngôi đình làng ở Bắc bộ

Thế kỷ XVI sự phát triển và phổ biến của ca trù được ghi nhận bằng các bức chạm khắc dân gian tại các đình làng. Các bức chạm đình Lỗ Hạnh (huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang) và đình Tây Đằng (xã Tây Đằng, huyện Ba Vì, Hà Nội) đều có các bức chạm hoặc tượng hình người cầm đàn đáy. Đình Tây Đằng có tượng tròn hình người đứng cầm đàn đáy. Đình Lỗ Hạnh có bức chạm tiên nữ ngồi trên mình con hươu cầm đàn đáy và một bức chạm khác có cả đám nhạc công đang hòa nhạc trong đó có 1 người đàn ông ngồi cầm đàn đáy. Hình ảnh này cho thấy ca trù đã có mặt trong những sinh hoạt văn hóa dân gian tại các làng quê và có mặt trong điêu khắc đình làng.

Ở chùa Cói (Thần Tiên tự), xã Hợp Thịnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc cũng có bức chạm người phụ nữ gảy đàn đáy. Tiếc rằng hiện vật đã bị cháy cùng với ngôi chùa, và chúng ta chỉ còn lại bức ảnh chụp bức chạm này. Đây là tư liệu mỹ thuật về đàn đáy duy nhất hiện biết tìm thấy ở một ngôi chùa.

Qua những hình chạm người cầm đàn đáy ở các đình, đền, có thể thấy rằng: dàn đáy đã trở nên phổ biến ở thế kỷ XVI, ở đồng bằng Bắc bộ. Đàn đáy mới đầu được sử dụng trong các cuộc hoà nhạc, cùng với các nhạc khí khác trong một đám đông (có khi có cả người múa), mà người đàn có thể là nam, có thể là nữ với tư thế là đứng hoặc ngồi. Về sau ca quán thính phòng ra đời, đàn đáy là loại đàn duy nhất trong cuộc hát.

Thế kỷ XVII và XVIII nghi lễ hát cửa đình rất thịnh trong các làng quê

Tiếp tục dòng chảy của của điêu khắc đình làng từ thế kỷ trước, sang đến thế kỷ XVII và XVIII chúng ta vẫn bắt gặp sự ghi nhận của dân gian đối với cây đàn đáy. Điều này càng chứng tỏ cây đàn đáy đã có một chỗ đứng trong đời sống và phong tục dân gian, và hoạt động diễn xướng ca trù đã trở thành một nét sinh hoạt phổ biến tại các đình làng dân gian.

Những ngôi đình có niên đại thế kỷ XVII như đình Đại Phùng (xã Đại Phùng, huyện Đan Phượng, Hà Nội), đình Hoàng Xá (xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, Hà Nội), đình Xốm (xã Hùng Lô, huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ) hiện còn giữ các bức chạm những người đang sử dụng đàn đáy. Đặc biệt ở đình Đại Phùng đặc tả hộc đàn ở mặt sau hộp đàn đáy, còn bức chạm ở đình Xốm miêu tả cả đám nhạc công đang hòa nhạc.

Image

Đình làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội.

Hai ngôi đền có niên đại thế kỷ XVIII là đền Tam Lang (xã Ích Hậu, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) và đền Lê Khôi (huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh) cũng cho các cứ liệu rất cụ thể về đàn đáy, phách và sinh hoạt diễn xướng ca trù ở thế kỷ XVIII. Các bức chạm này có nét điêu khắc tinh tế hơn chứ không còn vẻ mộc mạc thô phác của các bức chạm trước đó. Điều này thể hiện rõ nhất là những đặc tả về trang phục và vũ điệu mềm mại của các nghệ sĩ dân gian. Các nghệ sĩ đã mang trang phục của nghi lễ hát thờ, với chiếc mũ trên đầu, hoặc búi tóc gọn ghẽ và khá kiểu cách, và những bộ trang phục của những vũ công chuyên nghiệp. Đây cũng là tư liệu rất quý, làm cơ sở cho việc phục hồi các nghi thức hát thờ tại các đình đền trong dân gian.

Về các nhạc cụ và trình diễn các nhạc cụ, các bức chạm này không những miêu tả một cảnh hòa nhạc vui vẻ, với sự góp mặt của đàn đáy và cỗ phách, của sáo, trống cơm, chũm chọe. Điều này cho biết trong sinh hoạt ca trù tại các cuộc vui mang tính cộng đồng như thế, ngoài đàn đáy và phách, sự góp mặt của các nhạc cụ khác càng làm cho không khí thêm rộn ràng và ca trù trong lúc này không chỉ có ba thứ nhạc cụ là trống chầu, đàn đáy và phách như ca trù về sau.

Như vậy, qua các ngôi đình có các bức chạm các cảnh sinh hoạt ca trù và việc sử dụng cây đàn đáy, chúng ta biết ca trù có mặt ở các tỉnh Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Tây, Hà Tĩnh.

Nguồn tư liệu văn bia cũng cho biết giáo phường ca trù đã phục vụ hát thờ ở khắp vùng đồng bằng châu thổ Bắc bộ. Đó là các tỉnh Hà Tây (cũ), Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Hải Dương, Nam Định. Tỉnh có nhiều bia nhất là Hà Tây cũ (33 bia), trong đó các huyện có nhiều bia là Quốc Oai (10 bia), Phúc Thọ (8 bia), Thạch Thất và Đan Phượng (mỗi huyện 6 bia). Trong các huyện của các tỉnh thì huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều bia nhất, với 19 bia. Hà Nội có 11 bia, chủ yếu ở ngoại thành và đều thuộc thế kỷ XVIII. Các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Nam Định mỗi tỉnh 1 bia. Những tỉnh thành khác, tuy không có các văn bia ghi nhận nhưng thực tế, sinh hoạt ca trù đã có mặt ở hầu khắp các làng quê mỗi dịp tế thần. Các bản hương ước, tục lệ của các làng quê có ghi nhận về những ngày tiệc lớn trong làng đều có hát thờ ở cửa đình, nhiều khi là kéo dài vài ba ngày thậm chí cả nửa tháng trời.

Hát cửa đình là hát thờ nên các bài bản đều có quy định khá thống nhất, trở thành một lệ tục. Mỗi giáo phường được quy định được phép hát ở các cửa đình mà mình được Ty giáo phường phân chia. Hàng năm, cứ đến ngày tế lễ ở các làng này là các giáo phường lại xách đàn phách đến hát hầu trước cửa đình theo lệ. Đi hát như vậy gọi là hát lệ.

Các ả đào đứng trước điện, tay cầm lá phách hát các bài hát thờ như Thét nhạc, Bắc phản, Hát Giai, Độc phú…trong tiếng hòa âm của các nhạc khí. Giáo phường được mời đến hát nhất định sẽ hỏi cho bằng được tên huý của các Thánh thờ trong đình để khi hát đến những chữ ấy thì tránh đi. Các cô đầu hát đến những câu có chữ ấy thì hát thật nhỏ, và tránh đi; ví như chữ Hiển thì đọc là Hởn, chữ Lã thì đọc là Lữ. Nếu cô đầu không nhớ ra, cứ thế hát thẳng không kiêng thì người cầm chầu sẽ gõ liên hồi vào tang trống và cho ngừng cuộc hát. Bấy giờ người quản giáp của giáo phường phải đến nói khó với các cụ trong làng để xin cho làm lễ tạ với thánh và xin các cụ chiếu cố cho. Khi ấy, người đào nương sẽ biện cơi trầu , đến trước điện làm lễ tạ lỗi với Thánh và các quan viên.

Trong làng, người được làng tín nhiệm cầm chầu phải là người am hiểu về âm luật, biết thưởng thức ca trù và là đại diện cho cả làng để khen chê đào nương, bình luận và tán thưởng về các ngón đàn, các luyến láy của giọng ca. Thưởng phải công minh thì làng mới phục, vì nếu thưởng « rộng rãi » thì làng tốn tiền, thưởng mà « hẹp » thì đào nương chê là ky bo, chê là không biết nghe hát nghe đàn. Có khi, người cầm chầu mà không biết thưởng thức, không biết khen ngợi những câu hát công phu, những tiếng phách cao siêu, những tiếng đàn bén quyện mà đào kép công phu rèn tập, gặp phải cô đào đanh đá, cô ta sẽ hát một câu khiến người cầm chầu phải xấu hổ mà bỏ roi chầu không dám cầm chầu nữa. Làng tôi ở Đường Lâm, năm xưa đã xảy ra chuyện ấy, khiến cho cô đào phải hát rằng: « Nào những ông nghè ông cống ở đâu/ Để cho ông lão móm ngồi câu con trạch vàng ». Ông lão móm ấy đã phải bỏ cuộc. Vì thế dân gian vẫn bảo: « Ở đời có bốn thứ ngu/ Làm mai, Lãnh nợ, Gác cu, Cầm chầu ».

Lại có chuyện nực cười mà một đào nương già (hiện còn sống) đã kể lại với chúng tôi rằng: Bà đi hát ở một làng kia, khi hát, các thẻ tre thả xuống rất nhiều làm cho đào kép rất phấn chấn, bà đã nhẩm đếm được đến hàng trăm thẻ. Thế nhưng cuối cuộc hát, khi làng đếm thẻ để trả tiền cho giáo phường thì chỉ thấy có vài chục thẻ! Lại có chuyện khi người cầm chầu thưởng tiếng « chát » vào tang trống, nhưng chú nhỏ ngồi bên cạnh lại buồn ngủ quên cả việc ném thẻ khiến cho đào kép không vui, nên hát qua loa cho xong chuyện mà về.

Đã nửa thiên niên kỷ trôi qua, hát cửa đình là một sinh hoạt văn hóa tinh thần rất độc đáo của người Việt trên khắp châu thổ Bắc bộ và Bắc Trung bộ. Vẻ đẹp của ca trù là vẻ đẹp của sự hoà quyện giữa văn chương và âm nhạc vừa hoang sơ mộc mạc mà khúc triết tinh tế, dân gian mà bác học. Đó là « chút hương hỏa của tổ tiên » để lại cho cháu con hôm nay.

Nguồn: vietimes.com.vn

http://www.hcmup.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=12253&lang=zh&site=30

Hòa tấu CỔ NHẠC MIỀN NAM chọn lọc

Hòa tấu CỔ NHẠC MIỀN NAM chọn lọc

Published on Nov 13, 2014

Xin trân trọng cảm ơn các Danh cầm: Văn Vỹ, Bảy Bá, Năm Cơ, Chín Trích, Văn Giỏi, Hoàng Phúc,Minh Quyền, Hoàng Kha v.v… Đã để lại cho đời những bản đờn quá tuyệt!
Văn Gần xin được sưu tầm và đăng tải để qúy vị cùng các bạn yêu thích CỔ NHẠC MIỀN NAM thưởng thức.

Nhạc sĩ DÂN HUYỀN : Thao Giang – Từ học trò đến thầy giáo

nhac si Thao Giang m.jpg

Thứ 2, 20:09, 19/11/2012

(VOV) – 9 năm làm học trò, 13 năm làm thầy giáo, nhạc sĩ Thao Giang đã để lại dấu ấn đẹp ở Học viện Âm nhạc.

Những năm 60,70 của thế kỷ trước chúng tôi đã cùng với Thao Giang thực hiện nhiều buổi thu thanh các tiết mục độc tấu và hòa tấu âm nhạc dân tộc tại 58 phố Quán Sứ để giới thiệu trên sóng phát thanh quốc gia. Năm 2000, nhạc sĩ Thao Giang đã cùng chúng tôi làm chung một “chương trình dân ca và nhạc cổ truyền” dự thi và đoạt giải của Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam. Mỗi lần gặp nhau chúng tôi đều có dịp ôn lại những buổi thu thanh đầy kỷ niệm ấy. Nhớ nhất là chuyện sau khi Đài TNVN phát bài ”Kể chuyện ngày mùa” một thính giả gửi thư về đề nghị Đài cho biết địa chỉ của bác nghệ nhân Thao Giang! Chuyển lá thư cho Giang, anh chàng mới hơn 20 tuổi ấy đã được nâng lên thành bậc bác. Anh cười vui mà rằng: “Tiếng đàn của em làm gì đã được điêu luyện như nghệ nhân. Còn lâu mới đạt được”.

thao giang - tu hoc tro den thay giao hinh 1
Nhạc sĩ Thao Giang đang thả hồn mình vào từng giai điệu xẩm (Ảnh: Báo Ảnh Việt Nam)

Năm 1958, cậu bé Thao Giang, quê ở Mỹ Hưng, Thanh Oai (Hà Tây cũ) lên 10 tuổi, vào học sơ cấp âm nhạc. Thao Giang cần cù chịu khó, vượt qua được những khó khăn và cả những lời chế giễu để quyết tâm sử dụng tốt cây đàn Nhị mà mình yêu thích. Nỗi mặc cảm tự ti không làm giảm lòng yêu Nhị cũng như sự phấn đấu học tập của anh. Các điểm thi chuyên môn đều từ khá đến tốt. Nhất là từ khi lên trung cấp, được học bác Vũ Tuấn Đức, năng khiếu của Thao Giang ngày càng phát triển, tư tưởng tự ti về nhạc cụ cũng bớt dần. Bác Đức tận tình chỉ bảo Thao Giang, chú ý rèn nhiều cho anh về kỹ thuật cơ bản, đồng thời động viên anh học thêm sáng tác – lý luận. Bác tâm sự với anh: “Phải biết tự hào về cây Nhị cha ông ta để lại, ai chế nhạo kệ họ!”

Năm 1965, trường nhạc sơ tán lên Bắc Giang. Sống với bà con nông dân, Thao Giang mới thấy rõ người dân yêu nhạc cụ cổ truyền biết chừng nào! Những buổi chiều ngồi trên thềm nhà tập Nhị, bà con xúm quanh đông đảo nghe anh tập hàng giờ, rất say sưa. Được nuôi dưỡng trong bầu không khí ấy, Thao Giang cảm thấy rõ hơn bao giờ hết mối quan hệ gắn bó giữa nghệ thuật với đời sống. Anh thấy cần sáng tác một cái gì đó phản ánh được sinh hoạt của nhân dân lao động để có thể diễn tấu bằng tiếng Nhị. Dù khả năng trình độ có hạn, Thao Giang bắt đầu công việc đó bằng một tác phẩm biến tấu bài “Mừng hội cướp bông” từ một làn điệu chèo quen thuộc. Sau thành công bước đầu ấy Thao Giang đã tin hơn và hào hứng viết thêm một số bài khác.

Năm 1967 thi tốt nghiệp trung cấp, Thao Giang biên soạn và biểu diễn bài “Lý chiều chiều” mạnh dạn tự soạn bè đệm, mặc dù lý thuyết về sáng tác lúc đó anh chưa vững. Anh đã đạt điểm cao nhất và được hội đồng chấm thi khen ngợi. Sau đó Thao Giang được giữ lại ở trường làm công tác giảng dạy.

Với nhiệm vụ đào tạo, nhưng Thao Giang vẫn rất mê biểu diễn và sáng tác. Một trong những bài được anh sáng tác và biểu diễn thành công nhất là bài “Kể chuyện ngày mùa”. Bài nhạc dựa trên âm điệu tiết tấu bài nhạc Chèo nổi tiếng “Con gà rừng”, nhưng anh đã khéo nâng cao phát triển và biến nó thành những âm thanh rộn ràng sinh động giàu màu sắc, phản ánh không khí tấp nập khẩn trương và tươi vui trong những ngày gặt hái từng bừng ở một làng quê.

Bài “Kể chuyện ngày mùa” đã cho thấy ngôn ngữ của Nhị quả là phong phú hâp dẫn. Thường mỗi lần đi biểu diễn phục vụ bộ đội và nông dân, Thao Giang phải biểu diễn lại theo yêu cầu của khán giả. Sau khi tiết mục này phát trên Đài TNVN, Thao Giang nhận được khá nhiều thư thính giả yêu cầu gửi cho họ bản nhạc đó để tập. Cùng với bài “Xe chỉ luồn kim”, nó đã được dư luận đánh giá là bài tiêu biểu cho trình độ Nhị hiện thời. Nhưng Thao Giang không chủ quan, luôn nhớ lời bác Đức, người thầy mà anh kính mến: “Phải dè chừng ảnh hưởng của phong cách chơi Violon, đừng để người nghe nhầm lẫn âm thanh giữa hai nhạc khí ấy!”.

 Anh gặp Tạ Bôn, Bích Ngọc, những nghệ sĩ Violon nổi tiếng, cả Bùi Gia Tường, nghệ sỹ chơi đàn Senlo để tham khảo ý kiến. Anh còn xin tiếp tục học một số nghệ nhân như các bác Đinh Lạn, Trần Kinh để cố nắm bắt được phong cách cổ truyền. Cứ thế Thao Giang quyết tâm vươn lên, đến năm 1979, anh được đặc cách tốt nghiệp Đại học.

Sau 5 năm thực tập trên đại học tại Cộng hòa Ấn Độ, trình độ Thao Giang được nâng lên trong giảng dạy và cả trong tiếng đàn điêu luyện của mình. Ngoài việc hoàn thành giáo trình cho lớp trung học 11 năm về đàn Nhị và đàn Hồ, anh còn cố gắng nâng cao phương pháp biến tấu và chú ý đến việc cải tiến nhạc cụ. Nắm vững phương châm dân tộc và hiện đại, ngay từ những năm đầu giảng dạy và biểu diễn, anh đã nhận thấy cây Nhị của ta bị hạn chế vì dây cước chỉ có thể đánh được âm vực ngắn (một quãng 8) âm thanh thường cao hơn âm chuẩn. Anh thử thay dây sắt nhưng vẫn không hơn được bao nhiêu. Sau khi tham khảo đàn Nhị của Triều Tiên, Trung Quốc, anh đề nghị mở rộng hộp cộng hưởng và quy định lại hệ thống lên dây cho thật chuẩn. Âm vực do đó đã được mở rộng hơn, nhưng Thao Giang vẫn chưa hài lòng về mặt da, anh đã đặt thêm một miếng đệm phía dưới da cho tiếng đàn khỏi sạn và tiếng đàn nghe tốt hơn hẳn.

 Nghe bản nhạc Kể chuyện ngày mùa của Nhạc sĩ Thao Giang

Những công trình cải tiến đàn Nhị của Thao Giang đã được báo cáo trước hội nghị sáng kiến, phát minh cấp nhà nước. Ngoài bài “Kể chuyện ngày mùa” viết cho đàn Nhị, anh còn có “Hương rừng” viết cho đàn Tam thập lục, “Ao cá Bác Hồ” viết cho đàn Tranh, “Du thuyền trên sông Hương” viết cho đàn Bầu, “Đường xa vui những tiếng đàn”viết cho đàn Tỳ bà…

9 năm làm học trò, 13 năm làm thầy giáo, nhạc sĩ Thao Giang đã để lại dấu ấn đẹp nơi mái trường Học viện Âm nhạc.

Vài năm gần đây, vào tối thứ bảy hàng tuần trên phố đi bộ Hàng Đào – Đồng Xuân, tiếng trống phách, tiếng nhị cùng với tiếng hát Xẩm lại rộn ràng giữa trung tâm Thủ đô; thu hút không ít người Hà Nội và khách nước ngoài đến thưởng thức. Người ta thấy nhạc sĩ Thao Giang trong vai nghệ nhân kéo Nhị, nhưng ít người biết rằng anh còn là Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển âm nhạc nghệ thuât của Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Anh cùng với nhạc sĩ Minh Khang và các nghệ nhân, nghệ sĩ khác góp phần bảo tồn và phát huy vốn âm nhạc cổ truyền của dân tộc trong thời đại mới. Cây Nhị đã đưa anh đến với đỉnh cao của nghệ thuật, với sự khâm phục của nhiều lớp học trò thân yêu như Thế Dân, Đình Nghi, Sĩ Toán, Văn Hà… Cây Nhị cũng đã cùng anh đi biểu diễn nhiều nước trên thế giới.

Những biên tập viên âm nhạc trẻ hiện nay ở Đài TNVN rất vui lại cùng với thầy giáo Thao Giang tiếp tục giới thiệu hát Xẩm với thính giả cả nước và bà con Việt Nam đang sống xa Tổ quốc./.

CTV Nhạc sĩ Dân Huyền/VOV online

VŨ KIM ANH : Tháng 10 nhớ về một Nữ NNDG làm rạng danh ĐCTT VN : BẠCH HUỆ

Tháng 10 nhớ về một Nữ NNDG làm rạng danh ĐCTT VN

bach-hue

bach-hue-2.jpg

Mis à jour : il y a 19 minutes
Cũng T10 vào năm 2013, Một nữ nghệ nhân dân gian Đờn ca tài tử đã ra đi để lại bao tâm huyết còn dang dở. Tháng 10/2016 Nhớ về Cô với lòng yêu kính nên giới thiệu lại một bài hát mà Cô đã hát trong một hội thảo QT vào 2010 khi Tp HCM đang cùng với các địa phương làm hồ sơ để Unesco công nhận ĐCTT NB VN là Di sản văn hóa phi vật thể TG; Đệm đàn cho Cô hát là những tái tử đờn nổi tiếng của VN

Cố Nghệ nhân dân gian Bạch Huệ: Một đời thủy chung với đờn ca tài tử
Gắn bó với đờn ca tài tử từ thủa niên thiếu và nổi tiếng một thời, cho đến tận ngày cuối cùng của cuộc đời, nghệ nhân Bạch Huệ vẫn dành hết tâm sức cho bộ môn nghệ thuật độc đáo này của vùng đất Nam Bộ. Một đời dành cho nghệ thuật, không dành được tài sản gì cho riêng mình lúc cuối đời, điểm kết thúc cho cuộc hành trình miệt mài rong ruổi chốn nhân gian của bà là hoa viên nghĩa trang Bình Dương, một “ngôi nhà” chung và cũng là chốn hương khói từ nghĩa cử của ban quản lý nghĩa trang dành cho người nghệ sĩ họ kính trọng, yêu mến.
Sinh thời, lúc tuổi đã cao, không khỏe trong người nhưng bà vẫn là một trong số ít các lão nghệ sĩ vẫn năng nổ và gắn bó với nghề. Ngoài công việc truyền nghề cho học viên của các câu lạc bộ trong và ngoài thành phố, bà vẫn đảm đương vai trò giám khảo của khá nhiều cuộc thi về đờn ca tài tử, vọng cổ. Không chỉ có uy tín với người trong nghề, với những người yêu thích và am hiểu, nghiên cứu về nghệ thuật dân tộc, Bạch Huệ là nghệ danh khó có thể thay thế trong đờn ca tài tử.
Cố Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Khê lúc sinh thời kể rằng, bà là một trong những gương mặt thực sự gắn bó và “nghiêm túc” với đờn ca tài tử nhất từ trước đến nay mà ông biết. Bạch Huệ là con gái nghệ sĩ Sáu Tửng, một trong những “tay đàn” nổi tiếng trước đây. Từ lúc Bạch Huệ 13, 14 tuổi đã ca rất hay. Khi bà nên danh, Giáo sư Trần Văn Khê đã ở Pháp nhưng thấy danh tiếng đã lan cả sang Pháp.
Thực tế, sự nghiêm túc với nghề của nghệ nhân Bạch Huệ nổi tiếng đến mức không ai không… lắc đầu và thán phục. Nhiều lần theo chân bà đến các buổi biểu diễn, truyền dạy học trò, cứ mỗi lần nghe nhạc công đánh thiếu, đánh sai một nốt nhạc hay người ca lỡ trật nhịp, chúng tôi lại thấy gương mặt bà khổ sở như người đang ăn cơm ngon lành cắn phải hạt sạn lớn kèm theo điệp khúc ca thán: bây giờ đám trẻ ca hư hết… Nhưng, ca thán thì cứ ca thán, truyền dạy thì vẫn cứ nhiệt tình truyền dạy. Đôi lần, bắt gặp bà hơ hải thuê xe ôm đến điểm diễn, tiền xe đi về gấp đôi thù lao được trả, nhiều người buột miệng bảo bà vơ việc làm gì cho nó khổ. Bà rầu rầu bảo: Lỡ mê ca rồi. Ăn cơm tổ đãi phải đền ơn tổ. Thấy đám trẻ thờ ơ với đờn ca tài tử, nhiều người ham ca mà ca trật hết, bà cầm lòng không đặng…

Cũng chính vì “cầm lòng không đặng” mà cho đến lúc cuối đời, bị ngã gẫy chân, chưa lành hẳn bà đã cặm cụi đi tham gia khá nhiều hoạt động. Nghệ nhân Hoàng Tấn, chủ nhiệm câu lạc bộ đờn ca tài tử TP HCM và cũng là đơn vị tổ chức truyền nghề cho hàng vạn học viên tại thành phố và các tỉnh lân cận cho biết: Sau giải phóng, Bạch Huệ bắt đầu tham gia công tác giảng dạy trong Trường Nghệ thuật sân khấu và tham gia hoạt động với các đơn vị văn hóa nghệ thuật. Ngay Nhạc viện, kể cả Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang cũng mời đến giảng dạy.
Tuổi cao, sức yếu, nhưng cứ 4 giờ sáng ngày cuối tuần là Bạch Huệ đã chuẩn bị sẵn sàng để tập hợp mọi người đến các điểm mở lớp dạy đờn ca tài tử, bất kể đó là điểm dạy nằm ở các quận, huyện ngoại thành hay tận Bình Phước, Bình Dương. Hiện nay, có cả trăm câu lạc bộ đờn ca tài tử đang hoạt động khá thường xuyên. Để phong trào đờn ca tài tử được duy trì như hiện nay tại TP HCM, phải thừa nhận rằng có sự đóng góp rất tích cực của nghệ nhân Bạch Huệ.
Ngay trong ngày bà trút hơi thở cuối cùng, theo lịch sắp sẵn thì nữ nghệ nhân vẫn đang đảm nhận “nhiệm vụ” làm thành viên ban giám khảo của một cuộc thi đình đám trên đài phát thanh thành phố. Một trong những nhiệm vụ không ai buộc bà phải làm nhưng bà luôn buộc mình phải thực hiện. Bởi, nói theo cách của chính nghệ nhân Bạch Huệ lúc sinh thời thì đó là vì bà lo “đờn ca tài tử mai một”, lo “đám trẻ ca trật hết trơn, không giữ được cái chất của đờn ca tài tử” của cha ông nữa…

VŨ KIM ANH
5:18

TRAN QUANG HAI attended a Ca Trù concert at phố hàng Buồm, Hanoi, September 2015

TRAN QUANG HAI attended a Ca Trù concert at phố hàng Buồm, Hanoi, September 2015

TRẦN QUANG HẢI dự buổi trình diễn Ca trù tại phố Hàng Buồm , Hanoi, tháng 9, 2015

tqh 2.jpgtqh 1.jpg

Trần Quang Hải ăn tối cơm bụi

TQH 3.jpg

Trần Quang Hải

tqh-4

Ca nương Đặng Hường

tqh-5

tqh-6

Phạm thị Huệ

tqh-7

Phạm Thị Huệ & Trần Quang Hải

tqh-8

tqh-9

Trần Quang Hải với Phạm Thị Huệ và các ca nương