Catégorie : CA TRÙ

Hát cửa đình ở Quảng Ninh

Hát cửa đình ở Quảng Ninh

Ajoutée le 18 sept. 2018

Hát của đình là nghệ thuật hát thờ Thành hoàng ở các đình làng người Việt thuở xưa. Nghệ thuật trình diễn trong hát thờ Thành hoàng là hát Ả Đào, còn gọi là hát Nhà tơ. Về sau khi các đình làng tổ chức thi Ả đào thì từ Hát ả đào gọi là Ca trù (hát có thưởng trù, trù là thẻ). Năm 2011 tôi có được xem các nghệ nhân ở Quảng Ninh trình diễn một số bài hát cửa đình của Quản Ninh do Chi hôi Văng nghệ dân gian tỉnh Quảng Ninh tổ chức. Về sau, nghe kĩ những bài hát này và nhận thấy đây đúng là những điệu hát Nhà tơ thường được hát trong hội đình còn tồn tại ở Quảng Ninh đến ngày nay.

Đặng Hoành Loan : ĐÀO KÉP NHÍ CA TRÙ

ĐÀO KÉP NHÍ CA TRÙ

Trong Liên hoa Ca trù toàn quốc 2014 , VIM (Viện Âm Nhạc) – Hà Nội – 2014, có rất nhiều đào kép nhí tham gia. Các đào kép nhí này do nghệ nhân của các CLB Ca trù Lỗ Khê, Hưng Yên và Nguyễn Thị Chúc đào tạo. Các cháu biểu diễn rất tự tin và cũng tỏ ra rất có « bản lĩnh nghề nghiệp ». Cháu Nguyễn Thị Hương Trà , sinh 2010, CLB Ca trù Nguyễn Thị Chúc, hát Bắc Phản. Cháu Bùi Thị Hằng, sinh 2005, CLB Ca trù Nguyễn Thị Chúc, hát bài Hát Nói bài Đào Hồng Đào Tuyết. Các nghệ sỹ múa nhi đồng và bé Đặng Văn Hải, sinh 2006, CLB Ca trù Nguyễn Thị Chúc, cầm chầu và múa Bỏ bộ. Cháu Nguyễn Thục Trinh, sinh 2009, CLB Ca trù Lỗ Khê, Hà Nội, hát Bỏ bộ. Cháu Dương Tiến Lâm, sinh 2009, CLB Ca trù Hưng Yên, cầm chầu bài Ả phiền 36 giọng.
Sự tham gia của các đào, kép nhí trong liên hoan Ca trù 2004, nhắc nhỏ chúng ta : Không phải người thời nay không yêu Ca trù mà là người thời nay không dạy cho các em hát Ca tù để các em yêu Ca trù. Trách nhiệm ấy thuộc về ai ? Câu hỏi dành cho các nhà lãnh đạo và quan lí văn hóa nước nhà.
ĐHL

Đào, kép nhí Ca trù
5 ảnh
Trong hình ảnh có thể có: 8 người, bao gồm Kiều Nhung, mọi người đang cười, mọi người đang đứng
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, trẻ em
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang ngồi và trẻ em
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang ngồi và trẻ em
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng, trẻ em và cận cảnh

Anh Bằng & Hoàng Nam : Cảm Nghĩ Về Nhạc Dân Gian

Tôi ra đời ở làng Điền Hộ, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Khi lên 10 tuổi, tôi phải xa gia đình để đi học ở một trường dòng tu Công Giáo tên là Tiểu Chủng Viện Ba Làng. Trong các môn học thì như duyên tiền định, tôi yêu mến, thích thú môn âm nhạc. Khi tôi nghe tiếng nhạc hay tiếng đàn, tim tôi mê mẫn dạt dào. Điều linh tính đó đưa tôi đến gần âm nhạc hơn khi tôi khôn lớn.

Nhạc là một phạm vi bao la, bát ngát trong nếp nhân sinh. Trong bài viết này tôi chỉ muốn nói về âm nhạc dân gian, mà trong đó nhạc dân gian Bắc phần có ca trù, hay hát ả đào, và Quan họ Bắc Ninh. Tôi còn nhớ những năm khi quê hương miền Bắc loạn lạc, toàn dân chống thực dân Pháp, tôi tản cư về thành lánh bom đạn. Tôi có quen hai chị em thiếu nữ người Bắc Ninh, hai cô có làn hơi phong phú, hát ả đào, ngân giọng ca trù rất hay. Tôi đã gần gủi với nhạc dân gian, và từ đó tìm hiểu thêm về một góc đẹp văn hóa quê hương.

cam nghi nhac dan gian 1

 

Huyện Nga Sơn, cảnh đẹp ven biển.

 

Việt Nam là một quốc gia đa sắc tộc với một nền văn minh lâu đời, có một nền âm nhạc dân gian đa dạng như Việt Nam phải nói là thật phong phú. Những tiết tấu, âm điệu đặc trưng của dân ca phần lớn phát nguồn từ những câu đồng dao dù bình dị đơn giản, hay những câu ca dao thâm thúy khúc chiết và loại thơ vần như lục bát, thơ được gạn lọc, bổ sung qua nhiều giai đoạn thời gian rồi trở nên những thể loại ca hát dân gian khác nhau của từng địa phương, từng vùng đất nước, từng miền phương ngữ. Ví dụ như hát vi giao duyên của miền trung du bắc phần. Hát Chầu văn là hình thức hát nhạc thờ cúng, có tính chất tôn giáo linh thiêng, các thầy cúng chuyên nghiệp đánh đàn nguyệt, có giọng hát điêu luyện phụ họa thuộc nhiều điệu hát, và pha vào đấy là tiếng trống vỗ. Độc đáo phải kể về lối hát Quan họ Bắc Ninh, một lối hát rất phong phú về âm nhạc. Rồi lối hát Ả đào, một hình thức rất đặc biệt của nhạc dân gian Bắc phần. Về thành phần cho lối hát Ả đào gồm có một người hát hay đào nương, hai tay gõ phách, một nhạc công đàn đáy, một trống chầu dùng để người nghe hay quan viên thưởng ngoạn những âm giai, những giọng hát hay.

 

Mới đây anh bạn Việt Hải ngỏ ý là tôi hãy phổ nhạc một bài dân ca Quan họ, tôi bảo tôi chỉ phổ theo lối dân ca quê hương mà thôi. Vì dân ca Quan họ cần những quy tắc về điệu hát và nhạc cụ chuyên môn, nó không phải phạm trù chuyên môn của tôi. Bài hát Quan họ Việt Hải bàn luận là bài hát nổi tiếng mà nhiều người biết đến là Người Ở Đừng Về, đây là tên một bài hát dân ca Quan họ Bắc Ninh do Xuân Tứ cãi biên từ bài Quan họ cổ điển Chuông Vàng Gác Cửa Tam Quan và bài hát được viết xuất xứ từ một bài thơ dân gian. Bài hát thường được cất lên vào lúc hội tàn, nhất là khi từ giã nhau. Trong ý thơ chan chứa lời hò hẹn, nhằn nhủ khi ta nghe câu ca “Người ơi! Người ở đừng về”.

 

Người ơi người ở đừng về

Người về em vẫn khóc thầm

Đôi bên vạt áo ướt đầm như mưa

Người ơi người ở đừng về

Người về em vẫn trông theo,

Trông nước nước chảy, trông bèo bèo trôi

Người ơi người ở đừng về

Người về em nhắn tái hồi

Yêu em xin chớ đứng ngồi với ai

 

Việt Nam là quốc gia mà nền kinh tế và xã hội được phát triển từ nông thôn, do đó nếp dân sinh ở các xóm làng miền quê, tình yêu trai gái được ghi nhận qua nhiều trong vần thơ hay các câu đồng dao. Sự lãng mạn của trai gái bị nếp lễ giáo nho phong ràng buộc, hãy nghe tiếp đoạn cuối:

 

Mình về, ta chẳng cho về,

Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ

Câu thơ ba chữ rành rành:

Chữ Trung, chữ Hiếu, chữ Tình là ba.

Chữ Trung thì để phần cha,

Chữ Hiếu phần mẹ, đôi ta chữ Tình.

 

Những bài dân ca Quan họ khác thịnh hành là: Ngồi tựa song đào, Tương phùng tương ngộ, Bèo dạt mây trôi, Ngồi tựa mạn thuyền, Đêm qua nhớ bạn,…

Sau đây xin đính kèm bản nhạc mà bài Người Ở Đừng Về mà tôi phổ thành nhạc như sau, dẫn ý lời trìch từ bài thơ nêu trên.

 

Mình Ơi Em Chẳng Cho Về

 

Người ơi người ở đừng về

Người về em vẫn tỉ tê (mà) khóc thầm

Người về em đứng em nằm

Đôi bên vạt áo ướt đầm (mà) như mưa

 

Người ơi người ở đừng về

Người về em vẫn kè kè (mà) trông theo

Người ơi em vẫn trông theo

Trong nước nước chảy trông bèo (mà) bèo trôi

 

Mình ơi!

Mình ơi đừng ở đừng có về nghe

Mình về em nhắc lời thề (mà) nhớ thương

Nhớ thương nhớ thương em vẫn nhớ thương

Yêu em xin chớ chung giường (mà) với ai

 

Mình ơi em chẳng cho về

Em níu vạt áo em đề (mà) bài thơ

Chữ Trung xin để phần cha

Chữ Hiếu phần mẹ, đôi ta (là) chữ Tình

 

Tình tình tình ơi hỡi tình ơi

Tình tình tình ơi hỡi là tình

Tình tình tình ơi hỡi tình ơi

Tình tình tình ơi hỡi là tình

 

(Anh Bằng).

 

cam nghi 2.jpg

 

Nhạc sĩ Lê Dinh và nhạc sĩ Anh Bằng

 

Như lời giao kết viết chung với nhạc sĩ Anh Bằng, tôi (Hoàng Nam) sẽ nối tiếp bài viết này.

Qua phần trình bày trên của nhạc sĩ Anh Bằng đi sơ qua một số bài thơ mà lời dùng cho các bài hát dân ca Quan họ thịnh hành mà quần chúng quen biết, ông cũng rất vui khi bàn bạc với nhạc sĩ Lê Dinh và tôi về chủ đề này, ông rất thích bài thơ lãng mạn « Người ở đừng về ». Tôi vốn biết ông có tài phổ nhạc từ thơ rất nhanh, một khi nguồn cảm hứng đến ông ghi nhận ý nhạc trong nhấp nhấy. Ông cho biết khi làm bài hát Chuyện Hoa Sim, khi viết xong được mấy câu bỗng ông lăn đùng ra ngủ, sáng sớm hôm sau thức dậy ông hý hoáy vội tiếp ra giấy khi ý nhạc tuôn ra như suối. Tôi đồng ý khi nguồn cảm tác đến hay có hứng khởi sẽ rất quan trọng cho giới văn nghệ sĩ trong lãnh vực chuyên môn của họ.

Với bài Người Ở Đừng Về khi chúng tôi bàn bạc về nhạc dân ca, và dùng nó như một mẫu mực khi nhìn vào kho tàng nhạc Quan họ, nó mang nét tình yêu trai gái trao ước lời lãng mạn, dễ thương trong nỗi dịu dàng nào đó. Bài Mình Ơi Em Chẳng Cho Về của Anh Bằng theo dòng suối chảy mượt mà trong ý thơ và duyên dáng theo tiếng nhạc quê hương. Đây là mộ kỷ niệm vui giữa hai nhạc sĩ Anh Bằng và Lê Dinh, và tôi được may mắn đóng góp nét tổng quát về nét thơ dân ca qua bài viết này.

 

Được biết trước năm 75, khi nhạc sĩ Anh Bằng phục vụ tại hai Đài Phát Thanh Sài Gòn hoặc Đài Phái Thanh Quân Đội, ông nhận lãnh viết gấp, mà trong từ ngữ chúng tôi dùng là viết marathon với thời gian, những ca khúc đáp ứng cho nhu cầu của những chiến dịch đặc biệt, như Phượng Hoàng, ông ngồi trong xe và nắn nót vỗ về ý nghĩ trong ba mươi phút phù du có xong bài hát cho nhu cầu thời chiến, nhạc phải hay để ca sĩ vui mà hát. Đó là cái tài năng của nhạc sĩ Anh Bằng.

Nhạc phổ từ thơ là một phạm vi Anh Bằng có sở trường từ thiên khiếu. Bài Mình Ơi Em Chẳng Cho Về dùng lời lục bát, ông khéo léo đưa vào âm điệu đặc thù của quê hương Việt Nam, chắc hẵn  trong trái tim của ông theo ý tôi, xuất từ vùng Thanh Hóa, cái nôi của văn hóa thi ca âm nhạc, và quê hương của ông đã tạo ra người nhạc sĩ thủy chung với dòng nhạc đậm đà với thi vị quê hương đất nước, trong cái chất tình tự bàng bạc với dân tộc không kém.

 

Đó là phần Anh Bằng trích thơ dân gian dể phổ nhạc. Bây giờ tôi xin tiếp tục đề tài Quan họ mà Anh Bằng đã đề xướng trong phần ông viết.

 

Theo Bách khoa Tự điển Wikipedia thí nguồn gốc « Quan họ » được diễn nghĩa đen về mặt từ nguyên ngữ của « quan » và của « họ ». Điều này dẫn đến những ý kiến giải thích về Quan họ xuất phát từ « âm nhạc cung đình » (nhạc của tầng lớp quan lại trong triều đình), hay gắn liền với sự tích một ông quan khi đi qua vùng Kinh Bắc đã ngây ngất bởi tiếng hát của liền anh liền chị ở đó và đã dừng bước để thưởng thức « họ » vui ca. Tuy nhiên, cách giải thích này đã vô tình bỏ qua những yếu tố của không gian sinh hoạt văn hóa Quan họ như hình thức sinh hoạt xã hội, những nghi thức các phường kết họ khiến anh hai, chị hai để rồi suốt đời chỉ là bạn, không thể kết duyên vợ chồng, cách diễn xướng, hay lối sử dụng từ ngữ đối đáp với nhau về ý nghĩa và thanh điệu trong sinh hoạt văn hóa đối đáp dân gian.

Lại có một số quan điểm cho rằng Quan họ bắt nguồn từ những nghi lễ tôn giáo dân gian, chứ không phải Quan họ có nguồn gốc từ âm nhạc cung đình, hoặc có quan điểm nhận định diễn tiến của hình thức sinh hoạt văn hóa « chơi Quan họ » bắt nguồn từ nghi lễ tôn giáo dân gian qua cung đình rồi trở lại với dân gian.

Một nhận định khác dựa trên phân tích theo nghĩa từ ngữ, trong các làn điệu và không gian diễn xướng lại cho rằng Quan họ là « sự liên quan » đến một nhóm những người yêu quan họ ở vùng Kinh Bắc.

 

cam nghi 3.jpg

Hát Quan họ

 

Xét về yếu tố nhân văn, « hát Quan họ » là một lãnh vực văn hóa truyền thống có giá trị cao quý của người Việt. Quan họ truyền thống đã phát triển và được lưu truyền tại ở 49 làng Quan họ gốc ở xứ Kinh Bắc. Vùng bình nguyên rộng lớn của hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, mà gồm nhiều làng quan họ quy tụ trên phạm vi đất Bắc Ninh, và chỉ có vài làng nằm trên đất Bắc Giang. Do đó, người ta vẫn thường ví đó là vùng Kinh Bắc, hoặc giả cho là Bắc Ninh là quê hương của các làng Quan họ truyền thống, là chiếc nôi sinh ra và nuôi dưỡng các làng Quan họ. Người dân Kinh Bắc hãnh diện về nguồn gốc văn hóa Quan họ truyền thống, như là hình thức tổ chức sinh hoạt văn hóa âm nhạc dân gian tiêu biểu của Bắc phần nói chung, với những quy luật nghiêm khắt khi đòi hỏi liền anh liền chị phải am tường tiêu chuẩn, tuân theo luật lệ âm nhạc Quan họ. Vì vậy cho nên người dân Kinh Bắc thích thú khi thưởng lãm thú vui về luật Quan họ.

 

Trong luật Quan họ gồm lối người trình diễn nam hay nữ mặc trang phục Quan họ đúng cách như nét đẹp của văn hóa Kinh Bắc. Trang phục Quan họ còn gọi là trang phục liền anh liền chị. Trang phục nam dành cho các liền anh Quan họ thường mặc áo dài vải màu tươi sáng, may năm thân, cổ đứng, viền tà, gấu to, dài quá đầu gối, và bên trong mặc áo cánh. Còn áo dài bên ngoài được may bằng lương, the, đoạn, màu đen. Theo lối cũ trước đây, người nam thường vấn tóc búi tó bằng khăn nhiễu. Sau này họ cãi biến đi khi cắt tóc ngắn, rẽ ngôi nên dùng loại khăn xếp may sẵn bán ở các cửa tiệm cho thuận tiện.

Về trang phục nữ Quan họ còn gọi là trang phục liền chị chung quy gồm các thành phần như trong cùng là một chiếc yếm có màu « mạnh » dễ bắt mắt, xậm như đỏ (xưa gọi là yếm thắm),vàng thư (hoa hiên), xanh da trời (thiên thanh), hồng nhạt (cánh sen),… Có hai loại yếm như yếm cổ xẻ (dùng cho trung niên) và yếm cổ viền (dùng cho thiếu nữ). Bên ngoài yếm là một chiếc áo cánh màu trắng, vàng, ngà,… là những màu nhẹ, hay nhạt. Bên ngoài cùng là những lượt áo dài năm thân, cách phối trí màu cũng tương tự như ở bộ trang phục nam nhưng màu sắc tươi hơn.

 

Quan họ truyền thống không có nhạc đệm và chủ yếu là hát đôi giữa liền anh và liền chị vào dịp lễ hội xuân thu nhị kỳ ở các làng quê. Trong quan họ truyền thống, đôi liền anh đối đáp với đôi liền chị được gọi là hát hội, hát canh, hay hát nhóm, hay hát rủ bọn. Cả nhóm liền anh đối đáp cùng cả nhóm liền chị được gọi là Hát đối đáp. Có nhiều lối hát như: Hát đối đáp, Hát canh, Hát hội, Hát thờ, Hát cầu đảo, Hát chúc mừng,…

 

cam nghi 4.jpg

Hát ả đào

 

Bây giờ chúng ta xét qua một loại hát khác là Hát ả đào, hay còn gọi là Ca trù.

Nếu như Kinh Bắc là đất của văn hóa Quan họ, thì xứ Đoài là một trong những cái nôi của văn hóa Ả đào, hay Ca trù cửa đình. Nơi có nhiều nhà hát cô đầu nhất là ở Xứ Đoài, và Xứ Đoài gồm có Phú Thọ, Vĩnh Phúc ở phía bắc, Hà Tây ở phía nam, tiếp giáp Thăng Long (Hà Nội). Phú Thọ – Vĩnh Phúc là vùng trung du, nơi quy tụ của ba dòng sông lớn tại Bắc phần là sông Hồng, sông Lô và sông Đà chụm về đây, nơi có kinh đô Phong Châu của vua thủy tổ Hùng Vương, nơi có nguồn gốc tổ tiên của Việt tộc. Do đó nền văn hóa xứ Đoài trải dài từ vùng trung du đến đồng bằng Bắc bộ.

 

Lịch sử phát triển của nghệ thuật ca trù đã trải qua các thời kỳ rất phức tạp, thuở ban sơ của buổi khai mở ngành này, nó là ban nữ nhạc trong cung đình của nhà vua với tính cách giúp vui cho hoàng gia thưởng lãm, nên được xem như một loại nghệ thuật « cung đình ». Với lối hát tiêu khiển, vui chơi để phục vụ cho nhu cầu thưởng ngoạn của một số quan lại, cùng nho sĩ thì nó là một hình thức nhạc thính phòng. Với lối hát cửa đình hay hát trước hương án của các vị thành hoàng ở bên trong nhà và hát bên ngoài sân hội với đông đảo quần chúng tham dự, do dó nghệ thuật ca trù được xem như vừa mang tính chất thính phòng, lại vừa mang tính chất đại chúng. Ca trù được ghi nhận ra đời vào thề kỷ 15, trải qua nhiều giai đoạn đổi thay và cãi tiến, đến giai đoạn phát triển hưng thịnh nhất lên hàng nghệ thuật của nó là vào thế kỷ 19. Các quan lại trí thức, các nho sĩ thường mời ả đào về tư dinh của mình để hát những bài thơ của các thi sĩ nổi tiếng hoặc thơ của chính mình sáng tác. Nghệ thuật ca trù cần 3 người: một ả đào vừa hát vừa gõ phách, một kép đánh đàn đáy và chính chủ nhân vừa làm khán giả, vừa là người cầm chầu tức đánh trống. Người cầm chầu vừa điểm trống theo câu hát vừa là người thưởng, phạt, khen, chê, thông qua hiệu lệnh của tiếng trống. Chỉ cần 3 người cũng đã tạo nên một buổi trình diễn ca trù tiêu biểu.

 

Thể thức ca trù là một nghệ thuật phối hợp giữa âm nhạc và thi ca, mỗi buổi hát ca trù là một cuộc trình diễn nghệ thuật mà trong đó cả diễn viên và khán giả đều là nghệ sĩ thưởng ngoạn cái nghệ thuật do chính mình đóng góp. Khi cả hai bên diễn viên và khán giả đều tích cực tham gia vào cuộc trình diễn, thì họ tìm được một sự đồng điệu trong nghệ thuật. Ca trù đã trở thành thú chơi tao nhã của các bậc phong lưu, nho sĩ vào thời hưng thịnh xưa và chính nó tiêu biểu cho hình thức âm nhạc thính phòng độc đáo của người thưởng ngoạn Việt Nam. Một khi ca trù thoát ra khỏi những vương cung hoàng phủ thì nó nghiễm nhiên trở nên một nghệ thuật tiêu khiển cho đa số quần chúng, để nó phục vụ khối lượng lớn của đám đông rồi trở thành loại âm nhạc dân gian của dân tộc. Chính sự phổ biến sâu rộng ra ngoài môi trường quảng đại quần chúng, nên ca trù được các danh sĩ tài hoa rành âm luật thi ca đa dạng hóa, cãi tiến để bổ sung nhiều lối hát, làm cho ca trù ngày càng thêm phong phú.

 

Luận bàn về tên gọi thì “Ca trù” bắt nguồn từ cái “trù”, tức là cái thỏi bằng tre ghi chữ nho. Mỗi trù tương ứng với một số tiền nhất định nào đó. Mỗi khi ca đoạn nào hay, đào hát lại được khán giả tưởng thưởng cho một vài cái trù.

Còn với tên “Ả đào”, được hiểu chữ « ả » có nghĩa là một cô nương, và chữ « đào » có nghĩa là một cành đào biểu tượng cho nét đẹp của người nữ, danh từ « Hát ả đào » cũng có thể hiểu là ngành ca hát của cô gái sống bằng nghề này. Sau nữa, nói về danh từ « Cô đầu » thì có người cho rằng nguyên thủy là « Cô đào », dần dà người ta quen nói trại đi thành « Cô đầu ». Theo sách biên khảo về ca trù của các tác giả Đỗ Trọng Đoàn và Đỗ Trọng Huề thì hai ông cho là chữ « đầu » ám chỉ tiền hoa hồng hay tiền đầu mà đào nương phải trả cho người thầy dạy. « Cô đầu » lại cũng được dùng để ám chỉ những người hát chuyên nghiệp thâm niên dẫn đầu có nhiều học viên.

 

Do vậy, dù là « Ca trù » hay « Hát ả đào », hoặc « Hát Cô đầu » vẫn chỉ là một ý tưởng mà thôi. Nó là lối hát nói, là một lối hát quan trọng của thú vui chơi, thưởng ngoạn âm nhạc ngày trước, vì nó đánh dấu giai đoạn đưa thi ca vào âm nhạc, nó khuyến khích sự ra đời một thể thơ mới, đặc biệt trong văn học Việt Nam. Nhiều bài hát nói nổi tiếng của các thi nhân danh tiếng như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Tản Đà,… những tác giả cho nhiều bài thơ mẫu mực cho thế hệ sau lấy làm tài liệu học tập. Thơ của họ là những tác phẩm có giá trị cao quý đóng góp cho nghệ thuật ca trù và cho văn học Việt Nam vào thế kỷ 19, cũng là mầm mống cho thể loại thơ mới, hay thơ tự do về sau này.

Những bài tuyệt tác của ca trù được biết như: Hồng hồng tuyết tuyết (thơ Dương Khuê), Tự tình (thơ Cao Bá Quát), Bắc phản (thơ Nguyễn Du), Tỳ bà hành (thơ Bạch Cư Dị), Kể chuyện (thơ Bà Huyện Thanh Quan), Hương Sơn phong cảnh (thơ Chu Mạnh Trinh), Hỏi gió, Gặp xuân (thơ Tản Đà), Hồ Tây (thơ Nguyễn Khuyến),…

 

Khi tôi nghe nữ sĩ Bạch Hạc bên Houston trình bày bài ca trù nổi tiếng của nhà thơ Dương Khuê qua tác phẩm “Hồng Hồng Tuyết Tuyết”, tôi cảm nhận một sự say mê thích thú. GS Doãn Quốc Sỹ và nhà thơ Vũ Hối đều chia sẻ một quan điểm tương đồng về thú thưởng ngoạn ca trù.

 

Sau đây chúng ta hãy xét về bài ca trù “Hồng Hồng Tuyết Tuyết”,

 

(Phần mưỡu)

 

« Ngày xưa Tuyết muốn lấy ông

Ông chê Tuyết bé, Tuyết không biết gì

Bây giờ Tuyết đã đến thì

Ông muốn lấy Tuyết, Tuyết chê ông già.

 

Nước nước biếc, non non xanh

Sớm tình tình sớm, trưa tình tình trưa

Nhớ ai tháng đợi năm chờ

Nhớ người độ ấy bây giờ là đây.

 

(Phần Nói)

 

Hồng Hồng, Tuyết Tuyết

Mới ngày nào còn chưa biết chi chi

Mười lăm năm thấm thoát có xa gì

Ngoảnh mặt lại đã đến kỳ tơ liễu.

Ngã lãng du thời quân thượng thiếu

Quân kim hứa giá ngã thành ông.

Cười cười nói nói sượng sùng

Mà bạch phát với hồng nhan chừng ái ngại

Riêng một thú Thanh sơn đi lại

Khéo ngây ngây dại dại với tình

Đàn ai một tiếng Dương tranh ».

 

Bài hát trên tác giả ngụ ý nói ả đào Hồng Tuyết không ngoài ý nghĩa là mượn tên ám chỉ tên một cô gái trong nghề ca trù, mà còn muốn nói lên một đào nương ngay từ khi còn bé tí như một bông hoa xinh đẹp, ngây thơ và trong trắng. Đào nương được quý trọng từ thuở tấm bé đó đã được học đánh phách. Đứa bé còn vô tư, chưa biết gì về ý niệm ái tình. Nhưng 15 năm sau bé gái ấy đã đến giai đoạn dậy thì khách lãng du thuở xưa ngỏ lời tự sự của một ông già ham vui là người vốn ăn chơi ái tình lãng mạn từ khi em còn bé tí, nay khách đã già nhưng vẫn còn tính ăn chơi ong bướm như xưa. Từ ngữ được xử dụng trong bài hát « Bạch phát » mang ý nghĩa là tóc bạc, ám chỉ khách nay đã già nua rồi. Ý thơ cho biết khách ăn chơi nay gặp lại cô bé, nàng đã khôn lớn xinh đẹp, tuổi tác quá chênh lệch nên gặp nhau vẫn cười nói ngượng ngùng. Còn « Thú Thanh sơn đi lại », ám chỉ nơi hồng lâu tập trung nhiều cô đầu thuộc khu vực Hà Đông – Hà Tây ngày nay. Các câu mưỡu tức câu tóm tắt đại ý trong bài.

 

Như phần trên đã đề cập, nguồn gốc ngành ca trù cho thấy rằng nó có xuất xứ từ nơi cung đình, vì vậy cái gốc là hát cửa đình thường gồm 3 phần tế tự, thơ ca và múa biểu diễn. Ca trù được biến thiên, phổ cập hóa cho mọi người trong quần chúng thưởng ngoạn. Qua bài hát dẫn dụ tiêu biểu trên của nhà thơ Dương Khuê, bài ca được soạn từ lời thơ thật uyên thâm, trữ tình và ý tưởng phong phú. Điều đó đã nói lên nét đẹp của ca trù.

 

cam nghi 5

Nguyên Vũ, Thúy Anh, Anh Bằng, Lệ Hoa và Hoàng Nam.

 

 

Bài viết « Cảm Nghĩ Về Nhạc Dân Gian » của Anh Bằng và Hoàng Nam chỉ lướt phớt qua hai loại nhạc dân gian Bắc phần mà chúng tôi lấy làm thích thú. Qua loại dân ca Quan họ Bắc Ninh được dẫn chứng từ bài hát thịnh hành « Người ở đừng về », rồi nhạc sĩ Anh Bằng lấy ý phổ ra thành bài tình ca quê hương, vói tên Mình Ơi Em Chẳng Cho Về. Với loại nhạc dân ca Bắc phần khác là về hát ả đào hay ca trù được trình bày về nguồn gốc và dẫn dụ bài ca tiêu biển “Hồng Hồng Tuyết Tuyết”, cho thấy nét độc đáo của ca trù về sự phối hợp đa dạng, nhịp nhàng giữa thi ca và âm nhạc, và nhiều khi kèm theo hoạt cảnh vũ nữa.

 

Những điệu nhạc dân gian này phản ảnh những tình tự văn hoá đáng yêu của dân tộc Việt Nam. Tiếng ca Quan họ hay tiếng hát ả đào đi vào nhạc dân gian, đi vào vào nhạc của quần chúng, có vườn hoa âm nhạc của lịch sử đất nước, bởi vì một dân tộc có bề dầy về văn hóa không thể thiếu khía cạnh âm nhạc tiêu biểu cho dân tộc đó. Chúng tôi xin chấm dứt ở đây với điều hiển nhiên này.

 

Anh Bằng – Hoàng Nam

 

Tài liệu Tham khảo:

– Tự điển Bách khoa Wikipedia-

– Chim Việt Cành Nam Online

– Trần Quang Hải Website

http://www.ninh-hoa.com/dacsan-2010/DS2010_VHai-ABang-CamNghiVeNhacDanGian.htm

 

Ngâm Đại Thạch, ca nương Lê Thị Phùng (CLB Ca trù Diễn Châu, Nghệ An)

Ngâm Đại Thạch, ca nương Lê Thị Phùng (CLB Ca trù Diễn Châu, Nghệ An)

Ajoutée le 6 oct. 2018

Thuở xưa xứ nghệ gọi Ca trù là Hát Nhà trò. Nhà trò lại có hai tổ chức là Nhà trò Đại hàng và Nhà trò Tiểu hàng. Nhà trò Đại hàng có đẳng cấp nghề nghiệp cao hơn Nhà trò Tiểu hàng, ví như chuyên nghiệp và nghiệp dư vậy. Giáo phường Nhà trò tổng Lữ (nay là làng Yên Lí, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An) thuộc đẳng cấp Nhà trò Đại hàng. Tiết mục ngâm Đại Thạch, kép đàn Phạm Tài Khoản, cầm chầu Nguyễn Minh Tiến cùng các vũ công của CLB Ca trù Diễn Châu biểu diễn.

Ca nương Lương Hải Phượng hát Thét Nhạc.

Ca nương Lương Hải Phượng hát Thét Nhạc.

Published on Sep 30, 2018

Cùng với Thu Hằng, Lương Hải Phượng là giọng ca trẻ nhiều tiềm năng của CLB Ca trù HVNDG Hải Phòng. Năm 2014 ca nương Lương Hải Phượng, kép đàn Hoàng Khoa đã biểu diễn rất thành công bản Thét Nhạc trong liên hoan Ca trù toàn quốc, được khán giả đánh giá cao.

 

Đặng Hoành Loan : CHUYỆN TRÒ VỚI CHỨNG NHÂN CUỐI CÙNG…

CHUYỆN TRÒ VỚI CHỨNG NHÂN CUỐI CÙNG…

Ngày 28/3/2006 điền dã nghiên cứu Ca trù tại Thôn Đông Dương, Xã Quảng Phương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, chúng tôi đã tới nhà cụ Phạm Thị Thứu, chứng nhân cuối cùng của Ca trù Quảng Bình để tìm hiểu về Ca trù nơi đây.
Ngôi nhà cụ ở là ngôi nhà nhỏ 3 gian, giống nhiều ngôi nhà mà chúng tôi bắt gặp ở vùng này. Năm ấy, cụ tròn 86 tuổi (sinh năm 1920), những vẫn còn rất minh mẫn, tuy nhiên tai thì không còn tốt nữa. Sau đôi lời giao đãi, chúng tôi hỏi chuyện cụ nhiều điều về Ca trù ở Quảng Bình. Cụ suy nghĩ giây lát rồi nói :
« Tôi học ca trù từ nhỏ, bố tôi học của ông nội tôi. Nghe đâu thời ấy các cụ tôi vào đây là ở đây đã có Ca trù rồi. Ngày xưa chúng tôi đi hát đình, hát đám khao vọng. Khi hát thì đánh sênh chứ không đánh phách như ở Hà Nội đâu. Bố tôi ngày xưa là kép đàn, tôi đi hát theo bố tôi. Hát thì nhiều điệu lắm, những điệu ấy tôi đã truyền cho các cháu trong câu lạc bộ ở đây hết rồi. Xưa tôi đi hát thì chỉ mặc áo thao (áo dài) mầu tím hoặc mầu nâu, quần lụa đen, đầu quấn khăn nhiễu, chẳng có áo dài đẹp như bây giờ. Hát dứt đêm thì được ăn tiền công, hoặc tiền thướng trù của các ông chánh, ông lí. Lúc bấy giờ đi hát chẳng giàu có gì, chỉ đủ sống nuôi con thôi. Hát Ca trù ở đây có hát Mở, Hát Khế, Hát nói, Hát Thiên Thai, Hát Gửi thư nhiều điệu lắm, giờ già quá rồi tôi không nhớ hết được ».
ĐHL

chung nhan 1.jpg

CHUNG NHAN 2.jpg

CHUNG NHAN 3.jpg

Những Làn Điệu Dân Ca: Hát Văn, Hát Xẩm, Hát Ca Trù Việt Nam Hay Nhất 217

Những Làn Điệu Dân Ca: Hát Văn, Hát Xẩm, Hát Ca Trù Việt Nam Hay Nhất 217

Ajoutée le 21 mars 2017

Những Làn Điệu Dân Ca: Hát Văn, Hát Xẩm, Hát Ca Trù Việt Nam Hay Nhất 217 Những Bài Hát Chèo Hay:https://goo.gl/fZxN7j Những Khúc Ca Tuồng Hay Nhất: https://goo.gl/37VeLH Tuyển Chọn Bài Hát Văn Hay: https://goo.gl/8ojzgT Tuyển Tập Những Bài Xẩm Hay Nhất: https://goo.gl/fvSN09 Tuyển Tập Nhạc Quan Họ Bắc Ninh: https://goo.gl/f46VoG Tổng Hợp Video Dạy Hát:https://goo.gl/ty6ajx ►Đăng kí theo dõi kênh: https://goo.gl/f8cbMG ►Website: http://www.maivanlang.com ►Facebook:https://www.facebook.com/lang.mai.1?f…

Đặng Hoành Loan: NGUYỄN THỊ CHÚC, ĐÀO NƯƠNG MỘT ĐỜI NGUYÊN VEN VỚI CA TRÙ

nguyen thi chuc ca tru.jpg

NGUYỄN THỊ CHÚC,
ĐÀO NƯƠNG MỘT ĐỜI NGUYÊN VEN VỚI CA TRÙ

Nguyễn Thị Chúc sinh năm 1930 tại làng Ngãi Cầu, xã An Khánh, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (sau này là tỉnh Hà Tây và nay là Hà Nội). Cụ thân sinh ra bà là kép đàn Nguyễn Bá Phương, mẹ là đào nương Trương Thị Mai. Suốt 5 năm, từ năm 10 tuổi đến năm 15 tuổi bà không phải làm việc gì ngoài việc học Ca trù do cha mẹ truyền dạy. Bước sang tuổi 16 (năm 1946) bà được giáo phường chính thức cho phép theo cha mẹ hành nghề bằng một lễ tốt nghiệp gọi là Lễ trao xiêm y. Đi hát được 3 năm, bà rời quê hương xuống Hải Phòng hát cho nhà hát Cô đầu của bà Mâu, một nhà hát nổi tiếng Hải Phòng thời bấy giờ. Một năm sau, tức năm bà 20 tuổi thì bà lấy chồng và từ đó lỗi nghiệp cầm ca.
Tôi gặp bà lần đầu ở Bích Câu đạo quán, khi bà tham gia CLB Ca trù Hà Nội của nghệ sĩ Bạch Vân. Lần ấy nghe giọng hát và tay phách của bà đã khiến tôi ngỡ ngàng về tài nghệ đánh phách. Tiếng phách của bà khi nhặt khi khoan, khi mau khi thưa, khi trong khi đục rất huyền diệu. Năm 2005 tôi gặp lại bà trong « Liên hoan ca trù toàn quốc » tổ chức tại Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Giọng hát của bà vang lên trong liên hoan đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người hâm mộ.
Nay bà đã mất, người nghệ sĩ Ca trù đích thực, một đời nguyên vẹn với Ca trù đã mất. Người đào nương cuối cùng của giáo phường Ca trù Ngãi Cầu thuở xưa đã mất. Liệu còn có ai có thể có được giọng hát và tay phách Ca trù kinh điển như bà.

Wikipedia, the free encyclopedia: Ca trù

Ca trù

From Wikipedia, the free encyclopedia

Jump to navigation Jump to search

Ca trù.jpg

Ca trù (Vietnamese: [kaː tʂû], 歌籌, « tally card songs ») also known as hát ả đào or hát nói, is an ancient genre of chamber music featuring female vocalists, with origins in northern Vietnam.[1] For much of its history, it was associated with a geisha-like form of entertainment, which combined entertaining wealthy people as well as performing religious songs for the royal court.[2][3]

Ca trù is inscribed on the list of Intangible Cultural Heritage in need of Urgent Safeguarding in 2009.[2]

Contents

History

There are different myths and theories related to ca trù’s conception. One story states that a woman named Ả Đào created the genre, having charmed the enemy with her voice (thus explaining one of the genre’s alternate names: Hát ả Đào). Another theory points to a woman named Đào Thị, a talented musician who was beloved by the Lý Dynasty imperial court. This theory also claims that ever since the time of Đào Thị, in admiration of her, women who held a profession as singers (such as ca trù singers) were referred to as Đào nương (« nương » here refers roughly to « maiden » or « lady »). The latter is true although this term is no longer widely used in modern Vietnam.[4]

What is known for sure is that ca trù started off like many of Vietnam’s arts as being a form of entertainment for the royal court. Officially ca tru count the age of their profession since The Later Le dynasty (Vietnamese: Nhà Hậu Lê, 1010—1225), at that time musicians called Vietnamese: hát khuôn performed only on religious court ceremonies.[5] It was only later on that it branched out into being performed at small inns. Indeed, it was mainly scholars and other members of the elite who enjoyed the genre, which was somewhat inaccessible to the masses (who enjoyed the Hát chèo opera genre much more).

In the 15th century ca tru spread through Northern Vietnam. The artists might be called to celebrate a son’s birth, or to celebrate the signing of a contract. Ca tru were outside of the caste system, so they could entertain the most noble clients.[6]

Three drawings of Cô đầu performing ca trù in the early 20th century.

In the 20th century, ca trù nearly died out. When the Communists came to power after the 1945 August Revolution, Ca Trù was systematically suppressed, becoming associated with prostitution and the degradation of women.[7] Consequently, before 1976 there existed only two ca tru: Vietnamese: Nguyễn Xuân Khoát[5] and Vietnamese: Quách Thị Hồ.[8] Later they both started to revive the tradition of ca tru. In actuality, men were allowed many wives in the past and having extramarital affairs was nothing shocking. Thus, it was commonly known that many famous ca trù singers did indeed have affairs with important men, but it was just something to be accepted as a part of society back then, and not a part of the profession itself.

As of 2009, extensive efforts are being made to invigorate the genre, including many festivals and events where several types of ca trù (among other related arts) are performed. Vietnam has also completed documents to have ca trù recognized by UNESCO as an Intangible Cultural Heritage.

By 2011 there were 140 ca tru from 23 clubs.[9]

Music

Ca trù, like many ancient and highly developed arts, has many forms. However, the most widely known and widely performed type of ca trù involves only three performers: the female vocalist, lute player and a spectator (who also takes part in the performance). Sometimes dance is also performed at the same time.[10]

The female singer provides the vocals whilst playing her phách (small wooden sticks beaten on a small bamboo bar to serve as percussion).

She is accompanied by a man who plays the đàn đáy, a long-necked, 3-string lute used almost exclusively for the ca trù genre.[11]

Last is the spectator (often a scholar or connoisseur of the art) who strikes a trống chầu (praise drum) in praise (or disapproval) of the singer’s performance, usually with every passage of the song. The way in which he strikes the drum shows whether he likes or dislikes the performance,[2] but he always does it according to the beat provided by the vocalists’ phách percussion.

The number of ca tru melodies is 56, they are called Vietnamese: thể cách.[10]

New observers to the art often comment on how strikingly odd the vocal technique sounds, but it is the vocals themselves that are essential in defining ca trù.

Ca trù inns

Ca trù literally translates as « tally card songs. » This refers to the bamboo cards men bought when they visited ca trù inns, where this music was most often performed in the past. Men would give the bamboo cards they purchased to the woman of choice after her performance, and she would collect money based upon how many cards she was given.

Scholar-bureaucrats and other members of the elite most enjoyed this genre. They often visited these inns to be entertained by the talented young women, who did not only sing, but with their knowledge of poetry and the arts could strike up a witty conversation along with serving food and drink.

Besides these inns, ca trù was also commonly performed in communal houses or private homes.[7]

Ca trù in modern Vietnamese media

Along with efforts made to preserve the genre, ca trù has been appearing in much of recent Vietnamese pop culture, including movies such as the award-winning film Mê thảo: thời vắng bóng, or its mention during popular entertainment shows such as Paris by Night. It has even been used in Vietnamese pop music, where many artists have attempted to successfully synthesize ca trù (or aspects of it) with pop or other modern genres.

Bich Cau Dao Quan Club, founded in 1992, now has 90 members, 30 or 40 of whom gather on a given Saturday evenings. The oldest artist is 88 years old. According to the director, 50-year-old Bach Van, who trains younger singers and introduces them to classical songs: « It is very difficult to find young singers who wish to learn this art form. It is also difficult to find good teachers who can convey both the enthusiasm and the technical knowledge. »[citation needed] Bach herself studied ca trù for ten years before the Hanoi Office of Culture appointed her the club’s director.

Notable performers

Notable contemporary ca trù performers include

  • Ca tru hat khuon Pho Thi Kim Duc : NSUT Pho Thi Kim Duc (voice, born 1931), NSND Nguyen Xuan Hoach (« dan day »), Dam Quang Minh (drum). This team is the best performers in Vietnam and over the world. NSUT Pho Thi Kim Duc did introduced « ca tru » to world friends in nearly 30 countries all over the world. Her voice is considered to be the best voice nowaday.
  • Ca tru Thang Long: Nguyễn Thị Chúc (voice; born 1930), Nguyễn Phú Đẹ (đàn đáy, born 1923), Phạm Thị Huệ (the first female ca trù singer in Vietnam who learned to play the đàn đáy) and her daughter Nguyễn Huệ Phương (voice, born 1999), her students Nguyễn Thu Thủy (đàn đáy, born 1986) and Nguyễn Thùy Chi (voice, born 1992)
  • Ca tru Thai Ha: Nguyễn Văn Mùi (the director , based in Hanoi; drum) and his daughters Nguyễn Thúy Hòa (voice; born 1974), Nguyễn Thị Hà Vy (voice), and his sons Nguyễn Mạnh Tiến (đàn đáy; born 1970) and Nguyễn Manh Khuê (đàn đáy; born 1962). Nguyễn Văn Mùi’s granddaughters, Nguyễn Kieu Anh and Nguyễn Thu Thao (both born 1994) are also ca trù vocalists. Nguyễn Thúy Hòa was taught by Ms. Quach Thi Ho, a renowned performer who began recording in 1955.

Galleries

Bibliography

  • Norton, Barley. « Singing the Past: Vietnamese Ca Tru, Memory, and Mode. » Asian Music, vol. 36, no. 2 (Summer/Fall 2005).

Films

  • Mê Thảo, Thời Vang Bóng. Directed by Việt Linh.

See also

Notes

 

 

  1. Terry E. Miller, Sean Williams (2008). The Garland handbook of Southeast Asian music, p.262. ISBN 9780415960755. « This lute is the only stringed instrument used to accompany ca trù singing. »

External links

Video

Tìm hiểu nghệ thuật hát ca Trù (12/04/2017) | Nét Đẹp Dân Gian

Tìm hiểu nghệ thuật hát ca Trù (12/04/2017) | Nét Đẹp Dân Gian

Ajoutée le 14 mai 2017

[Nét Đẹp Dân Gian] – Tìm hiểu nghệ thuật hát ca Trù (12/04/2017) Subscibe kênh để xem video mới nhất: https://goo.gl/E1qxMN —– Nét Đẹp Dân Gian – Chương trình truyền hình thực tế khám phá nét đẹp văn hóa dân gian truyền thống lâu đời, độc đáo và đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam: làng nghề truyền thống, phong tục tập quán, kiến trúc di sản, ẩm thực, du lịch & con người Việt Nam,… Net Dep Dan Gian – The Vietnam travel youtube channel inspires you to explore Vietnam culture and traditions, traditional music/food/dress,…