Catégorie : Ca Sĩ Việt Nam

Bộ sưu tập những hình ảnh đẹp Ngày ấy và Bây giờ của những nữ danh ca Sài Gòn

Bộ sưu tập những hình ảnh đẹp Ngày ấy và Bây giờ của những nữ danh ca Sài Gòn

0 SHARES 2.1k VIEWS

Sau khi định cư ở nước ngoài, phần lớn các ca sĩ đều có lần trở về Việt Nam phục vụ những khán giả mến mộ âm nhạc và cũng không ít người quay trở về quê hương ở hẳn để phục vụ cho khán giả mến mộ.

Mời quý vị cùng nhìn lại những hình ảnh về nữ danh ca иổi tiếng Sài Gòn nhất miền Nam trước 1975 ngày ấy và bây giờ.

Bài viết hay

Tuyển tập những ca khúc hay được thể hiện bởi danh ca Anh Khoa (Trước 1975)

Elvis Phương phát hành album ‘Em dấu yêu’ kỷ niệm 60 năm ca hát

Tuấn Vũ: Tôi sốc khi bị lừa và mất tất cả trong một đêm

Tuấn Vũ chia sẻ từng bị khán giả nhầm thành Trường Vũ khi đi biểu diễn

1. Thái Thanh

Bà tên thật là Phạm Thị Băиg Thanh sinh năm 1934 tại Hà Nội. Năm 1985 bà cùng gia đình sang mỹ định cư, tại đây ba tiếp tục biểu diễn và ghi âm CD

Những năm 1950, Thái Thanh иổi tiếng bậc nhất Sài Gòn với nhạc tiền cнιếɴ, quê hương và nhạc tình của các nhạc sĩ đương thời. Giọng ca của bà được phát liên tục ở các chương trình văи nghệ của các đài phát thành, truyền hình.

Danh ca Thái Thanh
Danh ca Thái Thanh ngày ấy và bây giờ

Những năm 1970, Thái Thanh được xem như là chủ lực, trụ cột của vũ trường “Đêm màu hồng”. Bà cũng là một thành viên của ban Hợp ca Thăиg Long иổi tiếng với các thành viên như Thái Hằng, Hoài Bắc, Hoài Trung, Khánh Ngọc, Phạm Duy. Tới năm 2002 bà giải nghệ. Nữ danh ca Thái Thanh, sau một thời gian dài nằm вệин, đã qua đời hồi 11h50 ngày 17-3 tại Orange County, Nam California, Mỹ, hưởng thọ 86 tuổi.

2. Khánh Ngọc

Khánh Ngọc thành danh những năm 1950 cho đến đầu thập niên 60 với những bàn tình ca nước ngoài được phổ lời Việt. Khánh Ngọc đi hát từ năm 12 tuổi tại Sài Gòn, năm 13-14 tuổi bà được mời hát tại các đại nhạc hội Sài Gòn ở các tỉnh miền Trung.

Bà cũng là thành viên của ban Hợp ca Thăиg Long, ngoài tài năиg ca hát bà còn иổi tiếng với tài năиg diễn xuất và có đống góp lớn trong nền điện ảnh Việt Nam thời đó. Sau cuộc ly hôn đầy sóng gió với Nhạc sĩ Phạm Đình Chương bà bị khán giả tẩy chay, không còn chấp nhận nên bà quyết định sang Mỹ học thêm và đinh cư tại đó.

Danh ca Khánh Ngọc
Danh ca Khánh Ngọc

Sau này bà kết hôn với một du học sinh Việt Nam, và từ bỏ con đường nghệ thuật để lui về hậu phương chăm sóc gia đình ba người con. Hiện Khánh Ngọc đang sống cùng gia đình ở Los Angeles, Mỹ. Đôi khi khán giả sẽ bắt gặp nữ ca sĩ góp mặt trong các chương trình từ thiện tại hải ngoại.

3. Bạch Yến

Năm 1957, Bạch Yến иổi danh ở các sân khấu Sài Gòn khi bà là người đầu tiên thể hiện ca khúc “Đêm Đông” của nhạc sĩ Nguyễn Văи Thương từ Tango sang điệu Slow Rock.

Bà tên thật là Quách Thị Bạch Yến, sinh năm 1942 tại Sóc Trăиg. Bà đi hát từ những năm 14 tuổi với các ca khúc nhạc Pháp lời Việt và đến năm 15 tuổi bà thành danh. Đến năm 1961, ba xuất ngoại qua Mỹ hoạt động âm nhạc Pháp cho đến năm 1978 bà kết hôn cùng con trai cố giao sư Trần Văи Khê ở tuổi 36 và sống định cư tại Pháp.

Danh ca Bạch Yến
Danh ca Bạch Yến

Năm 2009, nữ danh ca trở về Việt Nam và biểu diễn tại phòng trà Văи Nghệ(nay là Tiếng Xưa). Kể từ đó bà thương xuyên về nước hát tại nhiều phòng trà và sự kiện âm nhạc để phục vụ khán giả mến mộ trong nước. Năm 2014, Bạch Yến cùng lúc xuất hiện tại chương trình “Tình khúc vượt thời gian”, đồng thời tổ chức liveshow mang tên “Đêm Đông” – bài hát tạo nên tên tuổi của bà.

4. Lệ Thu

Lệ Thu là danh ca иổi tiếng vào những năm 1960 – 1970 với các sáng tác của nhạc sĩ Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Trịnh Công Sơn và nhạc sĩ Trường Sa. Bà tên thật là Bùi Thị Oanh, sinh năm 1943 tại Hải Phòng. Năm 1979 Lệ Thu sang Mỹ định cư và từ đó đến nay bà vẫn tích cực hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc.

Năm 2007, Lệ Thu trở về nước tổ chức Liveshow tại TP. HCM để phục vụ khán giả trong nước. Kể từ đó bà liên tục trở về nước biểu diễn tại các phòng trà và tổ chức thêm 2 liveshow vào năm 2008 và 2014.

Danh ca Lệ Thu
Danh ca Lệ Thu

Cuối năm 2015, ca sĩ tại ngộ khán giả Việt Nam trong đêm nhạc vinh danh các ca khúc của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên diễn ra tại Hà Nội và đồng thời làm giám khảo chương trình “Solo cùng Bolero”.

5. Khánh Ly

Danh ca Khánh Ly tên thật là Nguyễn Thị Mai sinh năm 1945 tại Hà Nội. Năm 1962 bà bắt đầu sự nghiệp ca hát tại Sài Gòn tại phòng trà Anh Vũ. Từ năm 1967, Khánh Ly иổi tiếng với biệt danh “Nữ hoàng chân đất” gắn khi biểu diễn cùng Trịnh Công Sơn trong những đêm nhạc ngoài trời.

Cô иổi tiếng là người thể hiện rất thành công các tác phẩm của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn để cho đến nay không ai có thể thay thế được. Cô được mời sang Nhật, Mỹ, Pháp để biểu diễn phục vụ khán giả hải ngoại. Sau năm 1975 cô cùng các con sang Mỹ định cư và kết hôn cùng nhà báo Hoàng Đan. Khánh Ly tiếp tục cộng tác và biểu diễn tại nhiều trung tâm hải ngoại.

Danh ca Khánh Ly
Danh ca Khánh Ly

Đến năm 2012, bà được cấp phép cho biểu diễn trong nước. Đến năm 2014 bà tổ chức liveshow lần đầu tiên tại quê hương và từ đó trở đi bà liên tục trở về nước biểu diễn phục vụ khán giả yêu mến. Bà cũng góp mặt trong chuỗi đêm nhạc kỷ niệm 15 năm ngày mất của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn – người góp phần đưa tên tuổi của bà ngày càng đi cao hơn.

6. Phương Dung

Danh ca Phương Dung sinh năm 1946 tại Gò Công tỉnh Tiền Giang. Năm 17 tuổi bà иổi tiếng với ca khúc “Nỗi buồn gác trọ” của tác giả Mạnh Phát & Hoài Linh và bài hát này đưa tên tuổi bà đi xa hơn. Bà tiếp tục thể hiện thành công các tình khúc Bolero như “Những đồi hoa sim”, “Tạ từ trong đêm”, “Sương lạnh chiều đông”…

Năm 1974, Bà cùng gia đình sang Australia định cư và tiếp tục ca hát. Phương Dung nhiều lần về Việt Nam nhưng đến những năm 2009 bà mới có cơ hội tái ngộ khán giả TP HCM tại phòng trà Văи Nghệ cùng chương trình “Nụ cười và thời trang”.

Danh ca Phương Dung
Danh ca Phương Dung

Từ đó đến nay, bà dành nhiều thời gian ở Việt Nam hơn để biểu diễn phục vụ khán giả trong nước, ngoài ra bà cũng tích cực tham gia các hoạt động từ thiện. Phương Dung còn иổi tiếng với vai trò giám khảo cuộc thi “Solo cùng Bolero” được tổ chức gần đây.

7. Thanh Lan

Thanh Lan được coi là ca sĩ tiêu biểu cho phong trào nhạc trẻ Sài Gòn những năm 1970 khi trình bày thành công nhiều tình khúc nhạc Pháp và được khán giả mến mộ. Bà cũng thành danh trong điện ảnh và sân khấu kịch.

Thanh Lan ngày ấy và bây giờ
Thanh Lan ngày ấy và bây giờ

Nữ ca sĩ sinh năm 1948 từng góp mặt trong nhiều bộ phim иổi tiếng như “Ván bài lật ngửa”, “Tình không biên giới”, “Cao nguyên F.101″…

Năm 1993, Thanh Lan sang Mỹ định cư và tiếp tục hoạt động ca hát cho đến nay.

8. Giao Linh

“Nữ hoàng sầu muộn” là cái tên được khán giả mến mộ gọi danh ca Giao Linh để nói về giọng ca và phong biểu diễn trầm lắng và buồn lạ của bà. Theo một số nhạc sĩ thời đó, giọng hát Giao Linh đã tạo nên tên tuổi của những ca khúc “Lòng mẹ”, “Thầm kín”, “Mười năm tái ngộ”…

Giao Linh tên thật là Đỗ Thị Sinh sinh năm 1949 người gốc Sài Gòn. Năm 1982, bà sang Canada đoàn tụ cùng gia đình. Tại đây, bà thành lập trung tâm băиg nhạc Giao Linh, kết hợp cùng với ca sĩ Tuấn Vũ ra mắt nhiều đĩa CD ăи khách như “Đôi mắt người xưa”, “Giọng ca dĩ vãng”…

Danh ca Giao Linh
Danh ca Giao Linh

Năm 2000, Giao Linh quay trở về quê hương và định cư biểu diễn tại đây. Năm 2014, Giao Linh cùng Phương Dung kết hợp tổ chức Liveshow để phục vụ khán giả trong nước. Hiện nay bà vẫn tích cực hoạt động nghệ thuật tại phòng trà, đi hát từ thiện và hát trong chương trình “Sol vàng”.

9. Hương Lan

Danh ca Hương Lan
Danh ca Hương Lan

Hương Lan tên thật là Trần Thị Ngọc Ánh, sinh năm 1956 tại Sài Gòn, là con gái ruột của nghệ sĩ cải lương Hữu Phước. Cô khởi nghiệp ca hát bằng thể loại vọng cổ. Năm 1966, Hương Lan chuyển sang tân nhạc dưới sự dìu dắt của nhạc sĩ Trúc Phương. Năm 1972, cô kết hôn với nghệ sĩ Chí Tâm rồi cùng gia đình sang Pháp định cư vào năm 1978. Năm 1982, nữ ca sĩ ly hôn chồng. Hai năm sau, cô lần đầu xuất hiện trong một chương trình âm nhạc của một trung tâm âm nhạc lớn ở hải ngoại và sau đó trở thành một trong số các ca sĩ trụ cột của trung tâm này. Năm 1996, Hương Lan được cấp phép biểu diễn tại Việt Nam. Tháng 5/2009, cô tổ chức liveshow trong nước với tên “Ơn đời một khúc dân ca”. Từ đó đến nay, nghệ sĩ thường xuyên về nước biểu diễn. Năm 2013, Hương Lan cùng người chồng sau kỷ niệm 25 năm ngày cưới tại TP HCM.

10. Băиg Châu

Ca sĩ Băиg Châu sinh năm 1950, ngoài sở hữu giọng hát ngọt ngào, cô còn là một trong những ca sĩ có nhan sắc khả ái nhất trong giới ca sĩ Sài Gòn trước 1975. Ca sĩ Băиg Châu tên thật là Nguyễn Thị Xuân Mai, cô sinh ngày 1/8/1950 ở Bà Rịa, sau đó về Trà Ôn, lớn lên ở miền đất Trà Ôn, Cần Thơ.

Danh ca Băng Châu
Danh ca Băиg Châu

Sau năm 1975, ca sĩ Băиg Châu tiếp tục sinh hoạt âm nhạc, đóng phim, đến tháng 9 năm 1979 thì cô sang Mỹ định cư, cộng tác với nhiều trung tâm băиg đĩa hải ngoại như Thúy Nga, Phượng Hoàng band, Thanh Lan band. Ngoài ca hát, Băиg Châu còn là một MC, xướng ngôn viên truyền hình và truyền thanh.

https://gocxua.net/ban-tron-am-nhac/ngay-ay-va-bay-gio-cua-nhung-nu-danh-ca-sai-gon.html?fbclid=IwAR22CXwTwvKwSYj3r51iKDQ7_FIwRW1BgiIyk8xs_uoxQdQB-AbtoT_j2p0

NHỚ VỀ DANH CA MAI HƯƠNG (1941-2020) – Biên soạn: Phan Anh Dũng

                              ** TRANG ĐANG ĐƯỢC THỰC HIỆN, XIN VUI LÒNG THỨ LỖI **                                SẼ TIẾP TỤC BỔ TÚC VỚI TÀI LIỆU TỪ THÂN HỮU KHẮP NƠI
Tối Chủ Nhật 11/29/2020 nhận được email của anh Dương Ngọc Hoán báo tin buồn là danh ca Mai Hương (MH) đã qua đời lúc 3 giờ trưa cùng ngày, hưởng thọ 79 tuổi. (Anh Dương Ngọc Hoán, cựu nhân viên Đài phát thanh Quân Đội Sài Gòn, là người thân quen với gia đình MH). Anh Hoán vừa gởi cho tôi tấm ảnh chụp với vợ chồng chị MH (1) tháng 9, 2019 khi anh qua thăm Cali. Xem hình này và youtube từ Jimmy Show cũng vào tháng 9, 2019 thì chị MH có vẻ khỏe mạnh, trả lời mạch lạc và nhớ rõ nhiều chi tiết.

Lạ nhất là tuần trước tôi vừa gởi cho anh Hoán một hình chị Mai Hương ôm đàn violon do ảnh viện Đống Đa chụp (2),  nhà xuất bản Diên Hồng chọn hình này cho trang trong của bản nhạc rời « Thương Đời Hoa » – sáng tác của nhạc sĩ Lê Dinh ấn hành năm 1960. Sau đó, một người bạn cũng gởi youtube chị MH hát « Định Mệnh Buồn« , một ca khúc ít phổ biến của người chú ruột là nhạc sĩ Phạm Đình Chương.

Tôi nhớ lại một số kỷ niệm với chị Mai Hương:* Qua giới thiệu của anh Hoán khoảng năm 2004, thỉnh thoảng tôi có nói chuyện điện thoại hay email cho chị MH. Chị nói chuyện nhẹ nhàng, dễ mến, vui vẻ và không ngại chia sẻ những câu hỏi liên quan đến bản nhạc hay đến các ca nhạc sĩ thời trước 1975. Nhờ đó mà tôi biết lúc mới di cư năm 1954 gia đình chị có ở chung với gia đình bố mẹ của danh ca Thái Thanh trong hẻm 121 đường Ngô Tùng Châu (gần ngã sáu Phù Đổng Sài Gòn/ nhà thờ Huyện Sĩ/ trường trung học Nguyễn Bá Tòng). Nhà của ông bà bố mẹ tôi cũng ở trong hẻm này.
* Chị Mai Hương còn nhớ rất nhiều nhạc xưa, nên khi tìm không ra bài nhạc tôi thường hỏi chị như bài « Ngàn Năm Mây Bay » của nhạc sĩ Nguyễn Hiền. Khi có dịp về Việt Nam, chị đến thăm nhạc sĩ Hoàng Giác và được ông tặng một tập nhạc trong đó có những ca khúc ông viết sau 1954. Nhờ đó mà tôi đã thực hiện trang « Mơ Hoa và dòng nhạc của NS Hoàng Giác » được đầy đủ hơn.
* Chiều 15 tháng 5 năm 2005 – nhóm Cỏ Thơm đến tham dự một chương trình nhạc thính phòng ở Annandale, Virginia có tên « Mai Hương, kỷ niệm 50 Năm Hát Cho Người » (3,4,5,6). Ngoài MH còn có mặt 2 ca sĩ Tuấn Ngọc, Thu Phương và ban nhạc The Nights với các con của cố nhạc sĩ Nhật Bằng.
* Mẹ tôi rất yêu quý giọng ca và tính tình đằm thắm của MH nên cũng đến dự chương trình trên. Sau đó, chị MH có gởi tặng CD và viết thư chúc thọ bà 80 tuổi (7).
* Tâm Hảo và tôi có dịp gặp lại chị Mai Hương ngày 17 tháng 10 năm 2010 (8,9). Chị MH đã bay từ California sang tham dự và hát vài nhạc phẩm trong buổi ra mắt sách « Những Cánh Hoa Dại Màu Vàng » của nhà văn Hồng Thủy.
Khi ca sĩ Quỳnh Giao qua đời năm 2014, gia đình chị có gởi cho tôi một số ảnh, trong đó có bức ảnh hiếm quý rất rõ và đẹp (10) gồm các ca sĩ Thái Thanh, Châu Hà, Hà Thanh, Mộc Lan, Quỳnh Giao, Mai Hương và Như Thủy (em của NS Trần Thiện Thanh). Thoáng ngậm ngùi  khi các giọng ca điêu luyện hàng đầu thời trước 75 không còn nữa! Giờ đây chỉ còn bà Châu Hà, hiện ở Virginia, sức khỏe kém đi nhiều, đã không còn hát từ lâu và ca sĩ Kim Tước, hiện ở Nam California, sức khỏe còn tốt và vẫn hát khi có dịp.

Xin thành thật chia buồn với anh Trương Dục và toàn tang quyến. Cầu mong linh hồn bà PHẠM THỊ MAI HƯƠNG sớm về nước Chúa.Phan Anh Dũng (Rockville, Maryland USA – 2 tháng 12, 2020)                   (1)                                   Mai Hương, Trương Dục, Dương Ngọc Hoán 9/2019
                                                      (2)                               Ảnh Mai Hương trong bản nhạc « Thương Đời Hoa » của NS Lê Dinh
(3)                                 (4)                                         Mai Hương, Tuấn Ngọc, Thu Phương 2005
(5)                       Giáng Tiêu, Dương Ngọc Hoán, Trương Dục, Đặng Văn Hiền, Phan Anh Dũng
                        (6)                                          Mai Hương, Tâm Hảo, Phan Anh Dũng
(7)                                   (8)                     Mai Hương hát trong buổi ra mắt sách của nhà văn Hồng Thủy – Virginia 2010
(9)  Minh Trân, Hiếu Thuận, Bích Định, Mai Hương, Thanh Quỳ, Bích Huyền, Ngọc Dung, Tâm Hảo, Anh Dũng -2010
(10)
                                                                             Mai Hương & Trương Dục cùng con cháu
                          Mai Hương, Một Ánh Sao Rơi!
                                                ** Vương Trùng Dương **

Cách đây hai thập niên, vào thời điểm nầy, Lâm Tường Dũ bàn với tôi thực hiện Giai Phẩm Xuân cho tờ Thế Giới Nghệ Thuật. Với nhạc sĩ thì dựa vào các nhạc phẩm sáng tác về Xuân nhưng với ca sĩ thì mông lung nên dựa vào bức tranh tứ quý: mai, lan, cúc, trúc để viết. Tôi chọn 4 ca sĩ khởi đầu với chữ Mai: Mai Hương, Mai Hân, Mai Ngọc Khánh & Mai Lệ Huyền. Lâm Tường Dũ chọn 4 chữ Lan cuối cùng: Thanh Lan, Ngọc Lan, Ý Lan & Hương Lan.
Ngọc Lan sinh ở Nha Trang, qua đời năm 2001, nay đến Mai Hương sinh ở Đà Nẵng từ trần vào chiều Chủ Nhật 29/11/2020 tại Nam California. Tôi thích và thiện cảm với hai ca sĩ nầy từ tiếng hát đến nhân cách sống và gắn liền với nơi chốn cố hương và quê vợ.
Mai Hương là một trong những ca sĩ duy nhất không bị scandal nào trong tình yêu và nghiệp dĩ. Ca sĩ có công việc vững chắc ở Bank of America. Là con chiên rất ngoan đạo Tin Lành, Chủ Nhật nào cũng đi lễ ở nhà thờ Vietnamese United Methodist ở Anaheim, tuy xa nhà nhưng có đông cộng đồng người Việt. Thứ Sáu, 11 tháng 12, nhà thờ làm Lễ Dâng Xác Trương Mai Hương (lấy họ chồng) – tôi là Phật Tử thuần thành nhưng trong văn học nghệ thuật với những khuôn mặt chân chính đều bày tỏ lòng cảm mến.
Trong mùa dịch Covid-19 đang cô lập mọi người, rất tiếc có hai ca sĩ được mọi người ái mộ đã vĩnh biệt cõi trần, ca sĩ Thái Thanh qua đời 17 tháng 3, 2020 và lần nầy đến ca sĩ Mai Hương, những người ái mộ không đến để tiễn đưa lần cuối!
Về tiểu sử Mai Hương đã được đề cập khá nhiều nên ghi tổng quát:                   
Mai Hương nguyên danh Phạm Thị Mai Hương, gốc Hà Nội, sinh năm 1941 tại Đà Nẵng. Xuất thân trong một gia đình nghệ sĩ, cha mẹ MH là Phạm Đình Sỹ và nữ kịch sĩ Kiều Hạnh, diễn viên đoàn kịch Sao Vàng của Thế Lữ, được Bộ Thông Tin VNCH đã trao tặng danh hiệu nữ kịch sĩ xuất sắc nhất năm 1956. Ông Phạm Đình Sỹ là anh trai của các ca sĩ Thái Hằng (vợ nhạc sĩ Phạm Duy), ca sĩ Thái Thanh, ca sĩ Hoài Trung Phạm Đình Viêm và nhạc sĩ Hoài Bắc Phạm Đình Chương.
Năm 1951, gia đình ông Phạm Đình Sỹ mới trở về Hà Nội, cuối năm 1952 di cư vào Sài Gòn sống cho đến năm 1975. Năm 1953, mới 12 tuổi đã tham dự thi cuộc tuyển lựa ca sĩ của đài phát thanh Pháp Á tại rạp Norodom, với ca khúc Xuân & Tuổi Trẻ (nhạc La Hối, lời Thế Lữ) được trúng tuyển. Mai Hương cộng tác với chương trình nhi đồng của nữ ca sĩ Minh Trang trên đài Phát Thanh Sài Gòn, thời gian cộng tác với các chương trình thiếu nhi, khi trao lại cho kịch sĩ Kiều Hạnh đổi tên là ban Tuổi Xanh. Khi Đài Phát Thanh Pháp Á, sau đổi tên thành Đài Phát Thanh Quốc Gia rồi Đài Phát Thanh Sài Gòn), Ban Tuổi Xanh tiếp tục cộng tác với đài phát thanh hàng tuần.
Ban Tuổi Xanh đã quy tụ những tiếng hát Bích Chiêu, Mai Hương, Bạch Tuyết, Quỳnh Giao, Tuấn Ngọc, Hoàng Oanh, Phương Hoài Tâm, Xuân Thu… và  Bạch Tuyết (sinh năm 1943, em gái Mai Hương vừa qua đời cách nay 3 tháng, trùng tên đào cải lương Bạch Tuyết). Mai Hương & em gái Bạch Tuyết
Mai Hương theo học trường Quốc Gia Âm Nhạc (cùng thời điểm theo tại trường trung học Nguyễn Bá Tòng) được khoảng ba năm về violin, ký âm pháp, đàn tranh và hợp xướng. Sau đó vì bận thi tú tài 1 nên phải bỏ dở.
Khi Mai Hương tham gia trong ban nhạc của Võ Đức Tuyết và Hoàng Lang cùng với những ca sĩ nổi danh của nền tân nhạc lúc đó là Anh Ngọc, Duy Trác, Nhật Bằng, Kim Tước, Mộc Lan, Châu Hà…Và, Mai Hương lần lượt xuất hiện trong nhiều ban ca nhạc khác, như Tiếng Nhạc Tâm Tình của Anh Ngọc, ban Phương Hoa của Vũ Thành, ban Hương Quê của Hoàng Trọng… Và nổi tiếng nhất với Ban Tiếng Tơ Đồng của Hoàng Trọng năm 1967 (Ông hoàng của dòng nhạc Tango, tôi đã viết bài Hoàng Trọng, Ngàn Thu Áo Tím trong quyển Văn Nhân & Tình Sử). Ban nhạc quy tụ những ca sĩ lừng danh, thường trình bày những ca khúc tiền chiến và những ca khúc nổi tiếng của các nhạc sĩ nổi tiếng ổ Sài Gòn. Mai Hương trong tam ca của Ban Tiếng Tơ Đồng (Kim Tước, Quỳnh Giao), theo dòng thời gian từ trong nước, ở Hoa Kỳ. Tiếng hát Mai Hương thường xuyên ngoài Đài Phát Thanh Sài Gòn còn có  Đài Tiếng Nói Quân Đội, Đài Tiếng Nói Tự Do và Đài Truyền Hình Việt Nam trên băng tần số 9 ở Sài Gòn.               
                  Lập gia đình với người bạn đời Trương Dục, tuy không ở trong giới nghệ sĩ năm 1961 nhưng là người cảm thông và khích lệ. Ngày 22 tháng 4 năm 1975, Mai Hương cùng chồng Trương Dục, phục vụ tại Nha Hàng Không Dân Sự, và bốn người con rời Việt Nam tạm trú tại trại Pendleton ở Nam California. Lần đầu tiên Mai Hương được mời đi trình diễn ở thành phố New Orleans.                            Năm 1980, Mai Hương phát hành băng nhạc đầu tiên tại hải ngoại mang tên Giấc Mơ Hồi Hương (Ca khúc nổi tiếng cũa Vũ Thành). Và từ đó thu âm, có nhiều CD như Nhặt Cánh Sao Rơi, Serenade, Vàng Phai Mấy Lá… Tổng cộng khoảng 10 CD với tiếng hát của Mai Hương, trong số đó có CD Tìm Nhau Bốn Mùa hát chung với Kim Tước và Quỳnh Giao. Năm 1989 Mai Hương sống ở Rowland Heights, Nam California và làm việc cho ngân hàng Bank Of America. Sau 22 năm với công việc, năm 2000 Mai Hương về hưu và thỉnh thoảng xuất hiện trong các chương trình tưởng nhớ nhạc sĩ qua đời… Tiếng hát của Mai Hương là tiếng hát của hoài vọng, nhớ thương của cung thương ngày cũ.
Mỗi ca sĩ thường có những ca khúc để đời. Với giọng soprano, nhẹ nhàng, dịu dàng, thiết tha, bay bổng, cao vuốt và điêu luyện… thích hợp với những ca khúc bán cổ điển. Mai Hương đã thực hiện trong CD như: Giấc Mơ Hồi Hương, Bóng Ngày Qua, Đi Chơi Chùa Hương, Mai Hương & Những Tuyệt Phẩm Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Tình Khúc Dương Thiệu Tước, Khúc Nhạc Ly Hương, Nhạc Tiền Chiến, Nhặt Cánh Sao Rơi, Vàng Phai Mấy Lá, Như Ngọn Buồn Rơi, Sérénade, Lỡ Chuyến Đò, Tình Khúc Văn Cao với Quỳnh Giao… Với hàng trăm ca khúc đó cũng hình dung được những bài hát do Mai Hương trình bày.
Trong cuộc phỏng vấn của Nghiêm Xuân Cường thực hiện, ca sĩ Mai Hương đã chia sẻ:
… Từ năm 1972 đến 1975 một số người bỏ đài, không còn hứng khởi hát hò như xưa. Trong số đó có chị Kim Tước ra Nha Trang, chị Hà Thanh ra Huế. Các anh Thanh Vũ, Trần Ngọc (nhạc sĩ Tuấn Khanh) chú Anh Ngọc không hát nữa. Cô Thái Thanh cũng vậy. Trong đài bấy giờ chỉ còn tôi, Hoàng Oanh, cô Mộc Lan, chị Thể Tần và Phượng Bằng, Phương Nga. Quỳnh Giao thì không đi hát đều đặn như trước mà bận dậy đàn nhiều hơn. Ngày 22 tháng 4 năm 1975 chúng tôi rời bỏ quê hương đi lánh nạn xứ người…

Với tâm niệm của người ca sĩ: “Tôi muốn làm công việc giới thiệu này để nhắc nhở cho những người yêu nhạc rằng kho tàng âm nhạc Việt Nam rất phong phú bằng cách ghi âm lại những bài hát ấy để lưu lại một cái gì cho người, cho mình. Tôi cũng muốn ghi lại giọng ca của mình trong lúc còn có thể hát được vì có ai trẻ mãi với thời gian. Những bản nhạc mà tôi đã chọn để hát cho khoảng hơn 10 CDs cho các trung tâm Diễm Xưa, Tú Quỳnh, Mai Ngọc Khánh… cũng không ngoài mục đích kể trên”.
Với nhạc sĩ Vũ Thành ngoài ca khúc Giấc Mơ Hồi Hương, tôi thích tình khúc Nhặt Cánh Sao Rơi với tiếng hát Mai Hương cũng là chủ đề của CD.
Giờ đây, anh Trương Dục ngậm ngùi thương tiếc hình ảnh người vợ hiền Mai Hương ra người thiên cổ với nỗi lòng trong ca khúc « Nhặt Cánh Sao Rơi »:
“Người năm trước còn nhớ chăng đêm nào
Đầu xanh tóc tình lứa đôi dạt dào
Bạn ngồi bên tôi tay nắm tay tim nghẹn ngào
Lặng nhìn trời xanh thẳm đẹp muôn ánh sao
… Nhưng đêm nay sao trời vẫn sáng
Ngân hà đôi hướng có riêng mình tôi
Lắng buồn đoái nhìn ngàn sao thờ ơ
Áng mây buông lững lờ
Bới trong tro tàn tìm ánh sao xưa”. Trước đây, thỉnh thoảng tôi gặp anh Trương Dục ở quán cà phê trong khu Catinat Plaza ở Little Saigon, sau này chưa có dịp gặp nhau.
Tưởng nhớ người quá cố, ca sĩ Mai Hương, gởi đến anh lời chia buồn và tựa đề bài viết: Mai Hương, Một Ánh Sao Rơi trong gia đình anh và mọi người ở trong nước và hải ngoại đã một thời yêu thích tiếng hát theo năm tháng.


Vương Trùng Dương – Little Saigon, Nov 30, 2020Sự ra đi của chị Mai Hương là một tin buồn cho giới yêu nhạc VN trong và ngoài nước!

 Thương tiếc chị Mai Hương, một giọng ca ngọt ngào, đôn hậu!
Văn Tấn Phước – Paris
 Một kỷ niệm kinh hoàng với ca sĩ Mai Hương
                           VỤ NỔ Ở PHÒNG TRÀ TỰ DO NĂM 1971

Tôi yêu tiếng hát Mai Hương từ thời mới lớn. Tiếng hát cao vút và trong như pha lê. Lúc đó tuy chưa quen Mai Hương vậy mà tôi đã cảm thấy rất gần gũi với Mai Hương. Tôi không hề có cảm giác xa cách giữa một thính giả và một ca sĩ nhà nghề. Tiếng hát Mai Hương, dáng dấp Mai Hương, với tôi thân quen như một người bạn. Một người bạn quen biết rất lâu với nhiều tình cảm đậm đà quý mến. Có lẽ tại vì chúng tôi cùng tuổi với nhau. Có lẽ tại vì Mai Hương lúc nào cũng đơn giản. Ngay cả khi đứng trên sân khấu, trông Mai Hương cũng đơn sơ giản dị như một cô nữ sinh trên sân khấu nhà trường. Mai Hương không điệu đà, không làm dáng, không tỏ ra mình là ca sĩ nổi tiếng. Tôi thích cái vẻ e lệ dịu dàng của Mai Hương, và nụ cười với chiếc răng khểnh duyên ơi là duyên.

Bây giờ tôi xin vào đề câu chuyện kinh hoàng của hai chúng tôi. Tôi lập gia đình rất sớm nên phải theo ông chồng nhà binh di chuyển đi các nơi. Tôi phải rời xa Sài Gòn một thời gian khá dài. Tôi rất buồn vì nhớ bạn bè, nhớ cái không khí văn nghệ của Sài Gòn. Nhớ những khuôn mặt, những giọng hát của các ca sĩ mà tôi yêu mến.

Năm 1971 nhà tôi được thuyên chuyển về lại Sài Gòn. Tôi mừng rỡ quá vì sẽ được gặp lại bao nhiêu là người thân. Tôi hồ hởi về trước lo sửa sang nhà cửa, luôn tiện đưa con gái út (cháu Uyển Diễm vừa tròn 5 tuổi) về Sài Gòn để người bạn thân của chúng tôi, anh nha sĩ Cân chữa răng cho cháu.

Về tới Sài Gòn được hai hôm thì nhóm bạn thân rủ tôi đi phòng trà Tự Do nghe nhạc. Các bạn quảng cáo là có Khánh Ly, Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Anh Tú và ban nhạc Blue Jet. Đặc biệt có cả Mai Hương nữa (Mai Hương rất khi ít khi hát ở phòng trà). Nghe nói vậy là tôi đồng ý đi liền dù phải mang theo cả cháu Uyển Diễm vì cháu không chịu rời mẹ.

Nhóm bạn tôi có cả thẩy 16 người. Chúng tôi chọn một dẫy ghế dài ngay trước sân khấu. Chương trình ca nhạc hôm đó mở đầu với những bài hát thật hay, tôi ngồi ngây người ra nghe. Sau Tuấn Ngọc là Mai Hương. Tôi đang say sưa uống từng lời ca của Mai Hương qua nhạc phẩm “Love Story” lời Việt của nhạc sĩ Phạm Duy thì cháu gái kêu lạnh. Tôi bế cháu lên lòng và ôm chặt cho cháu đỡ lạnh vì cháu mặc váy ngắn mà phòng trà họ để máy lạnh hơi nhiều. Bỗng nhiên một tiếng nổ long trời lở đất. Tôi tưởng như mình đang nằm mơ.

Bụi tro mầu xám lẫn trong khói bay mù mịt trước mặt. Mai Hương nằm té xỉu ngay trên sân khấu. Tiếng người la hét, rồi người ta chen chúc nhau để thoát ra ngoài. Mùi thuốc nổ khét lẹt xung quanh. Tôi ngồi bất động bàng hoàng như không tin ở mắt mình với những cảnh vật kinh hoàng truước mặt. Ba người bạn trong nhóm của tôi nằm chết dưới sàn ngay cạnh chỗ tôi. Anh nha sĩ Cân chưa kịp chữa răng cho cháu Uyển Diễm thì đã ra người thiên cổ. Xác anh chị Sang nằm sóng sượt bất động. Đầu anh Sang gối lên chiếc giầy mầu bạc óng ánh của tôi. Chị Cân bị thương mất một con mắt và vỡ một bên quai hàm máu ra đầy khắp mặt. Anh Hiệp cũng trong nhóm tôi bị sức ép của mìn nổ làm một bên lỗ tai bị rỉ máu. Chi Mô bị thương nhẹ ở chân. Xác chết nằm la liệt dưới sàn. Sợ hãi làm tôi cảm thấy toàn thân lạnh run như người lên cơn sốt rét. Cháu Uyển Diễm khóc òa lên vì sợ. Tôi ôm con trong tay, lấy hết sức bình sinh rút chân ra khỏi chiếc giầy mà ông bạn thân của tôi đang nằm gối đầu yên nghỉ giấc ngàn thu. Tôi tưởng như mình đi không vững. Tôi cố lết ra khỏi phòng trà.

Gần cửa ra vào chiếc màn nhung mầu đỏ thắm vẫn còn đang cháy. Bên trong và bên ngoài phòng trà tiếng la hét, tiếng còi xe chữa lửa, xe cứu thương, tiếng người khóc, tiếng người gọi nhau và những ngọn lửa còn âm ỉ cháy bên cạnh những đám khói mờ mịt tạo thành một cảnh tượng hãi hùng náo loạn. Người bạn đi cùng chở tôi về nhà. Bước qua chiếc gương của cái tủ đứng trong phòng ngủ tôi hết hồn sững lại. Trong gương là hình ảnh người đàn bà mặt mũi, tóc tai, quần áo, đều màu xám. Bụi tro của mìn claymore, phủ kín người tôi từ đầu tới chân khiến mái tóc đen và chiếc áo đầm hàng ren đen bóng của tôi cũng biến thành mầu xám tro. Một chiếc bông tai của tôi văng đi hồi nào, chỉ còn lại chiếc kia toòng teng lủng lẳng bên tai trái trông thật khôi hài. Tôi bỏ cả giầy, quên cả bóp để lại phòng trà.

Như một phép lạ, hai mẹ con tôi không hề hấn một chút nào. Sau khi tắm rửa thay quần áo, hai mẹ con tôi chui vào chăn nằm ôm nhau, lúc đó tôi mới bắt đầu khóc. Khóc vì sợ, khóc vì nghĩ đến những người bạn mà mới buổi chiều tối chúng tôi còn ngồi ăn uống vui vẻ với nhau. Sau đó kéo nhau đi phòng trà nghe nhạc. Chỉ mấy tiếng đồng hồ sau tất cả đã biến đổi hoàn toàn. Tôi sẽ chẳng bao giờ còn được nhìn thấy những người bạn thân yêu đó nữa. Rồi còn những người bạn bị thương. Chị Cân mà tôi vẫn thân mật gọi tên chị là Mỹ, mới mấy tiếng đồng hồ trước đây chị là người đàn bà hạnh phúc nhất đời. Chị có đầy đủ điều kiện mà mọi người đều mơ ước: sắc đẹp, danh vọng, tiền và tình yêu nồng thắm của anh Cân. Bây giờ chị là người bất hạnh nhất. Chồng chết và khuôn mặt xinh đẹp của chị đã bị tàn phá bởi những mảnh mìn độc ác.

Chưa kể những đau đớn về thể xác mà chị phải chịu trong thời kỳ dưỡng thương. Rồi còn Mai Hương, người ca sĩ mà tôi rất yêu mến đang nằm sóng soài trên sân khấu, không biết tình mạng sẽ ra sao. Rồi Khánh Ly và gia đình anh em Tuấn Ngọc. Rồi còn bao nhiêu khán thính giả của phòng trà Tự Do có mặt đêm nay nữa. Bao nhiêu gia đình mất đi những người thân yêu. Bao nhiêu người sẽ biến thành người tàn tật?

Hôm sau tôi đi đến nhà xác thăm những người bạn vừa mới ra đi tức tưởi đêm hôm trước. Cảnh tượng ở đây còn làm tôi kinh khiếp hơn. Xác người nằm la liệt. Không hiểu vì không đủ chỗ trong phòng lạnh để chứa xác chết hay sao mà người ta để người chết nằm cả xuống sàn, ra cả ngoài hàng hiên. Mỗi xác người được đặt cạnh một cây nước đá thật lớn (qúy vị còn nhớ loại nước đá thật to ở Sài Gòn ngày xưa chứ?).

Nghe nói số người chết lên đến hơn 60 người và số bị thương gần 200 người. Rời nhà xác tôi vừa đi vừa khóc như một người điên. Tôi chạy qua nhà thương thăm Mỹ. Chị nằm đó với lớp băng trắng quấn che gần hết khuôn mặt. Nước mắt tôi lại chẩy. Tôi nhìn bạn lòng xót xa vô cùng. Không biết Mỹ đã biết tin người chồng thân yêu, ông anh ruột và bà chị dâu đã vĩnh biệt Mỹ rồi không? Nước mắt tôi cứ tuôn trào như một giòng suối nhỏ không sao ngăn lại được. Về đến nhà thì hai mắt tôi sưng húp như hai quả bàng nhỏ.

Tôi vớ tờ báo đọc vội vàng, sau khi biết tin Mai Hương và các ca sĩ không ai bị thương nặng hay chết cả tôi mới vui được một chút. Tôi định dấu nhẹm không cho chồng tôi biết vụ tôi đi nghe nhạc ở phòng trà buổi tối, mà dám cả gan mang cả con gái mới 5 tuổi đi theo. Nhưng báo chí đã loan tin tùm lum hết, chẳng biết ở đâu mà họ mò ra cả tên tuổi của tôi. Cho nên chỉ mấy tiếng đồng hồ sau, tôi đã bị ông chồng vừ Vũng Tầu gọi về “ca cải lương” cho tôi nghe mệt nghỉ. Tôi bị chồng la là phải, nghĩ lại tôi mới thấy tôi liều. Ham nghe Mai Hương, Tuấn Ngọc, Khánh Ly quá (lúc đó Khánh Hà, Anh Tú còn quá trẻ nên chưa nổi tiếng mấy) đến nỗi mang cả con bé đi theo. Nghĩ lại tôi thấy mình quá may mắn. Nếu hôm đó cháu Uyển Diễm không mặc váy ngắn, không bị lạnh, và tôi không vừa bế cháu vào lòng, ôm chặt cho nó đỡ lạnh. Nếu cháu vẫn ngồi trên ghế một mình, thì sức nổ mạnh của trái mìn claymore chắc chắn đã làm cháu chết hoặc bị thương rồi. Và như vậy tôi sẽ phải ân hận suốt đời.

Mai Hương và tôi có duyên nợ với nhau, nên từ ngày lưu lạc qua đất Mỹ, hai chúng tôi lại có cơ hội gặp gỡ và trở nên thân thiết. Sau này nhắc lại vụ nổ ở phòng trà Tự Do, hỏi thăm Mai Hương tôi mới biết, tối hôm đó Mai Hương đã bị cái bóng đèn trên trần sân khấu rơi trúng đầu, lày cháy một ít lông mi ở bên mắt trái và bị thương nhẹ ở khóe mắt. Có thể vì sợ quá nên Mai Hương ngất đi một lúc. Tỉnh dậy Mai Hương nghe tiếng Khánh Ly gọi ầm ĩ “Chị Mai Hương đâu, chi Mai hương có sao không?”. Phòng trà vẫn tối mờ mờ vì hệ thống điện bị hư nhiều chỗ, nên Khánh Ly không nhìn thấy Mai Hương nằm xỉu trên sân khấu. Mai Hương tỉnh dậy thì anh Dục chồng Mai Hương cũng vừa đi tới. Áo chemise của anh ướt đẫm máu làm Mai Hương lo sợ tưởng anh bị thương.

Anh cho biết đó là máu của người ngồi bên cạnh bị thương bắn vào áo anh. Anh Dục dìu Mai Hương ra về. Trên đường ra cửa, Mai Hương thấy xác của nữ tài tử Thúy Ngọc vợ của nhạc sĩ Lê Văn Thiện nằm sóng xoài. Ba người cháu của Mai Hương từ Nha Trang vào chơi, đi nghe nhạc cũng bị thương nhẹ. Ra tới ngoài đường, anh Dục và Mai Hương hốt hoảng khi nhìn thấy cái mui vải của chiếc xe hơi La ĐàLạt của hai vợ chồng đang bốc cháy vì anh Dục đậu ngay góc đường gần sát phòng trà. Có một điều cho đến bây giờ Mai Hương vẫn không hiểu được là tại sao hôm đó trong ví của Mai Hương lại có mảnh vỡ của đáy ly rượu nằm gọn bên trong, dù cái ví vẫn đóng kín.

Ở đời có rất nhiều điều không thể hiểu và không cắt nghĩa được. Chẳng hạn như cả nhóm bạn chúng tôi ngồi sát cạnh nhau, cùng một dẫy ghế. Vậy mà kẻ sống, người chết, kẻ bị thương, người bình yên vô sự. Có phải Thượng Đế đã dành sẵn cho mỗi người một số mệnh rồi không? Những người chết chưa chắc đã xui xẻo, bởi vì họ chết thật nhanh, không cảm thấy đau đớn. Chết trong lúc đang thưởng thức những dòng nhạc thật hay cũng sướng lắm chứ.

Sau này tôi nghe nói Việt Cộng đặt mìn ở phòng trà Tự Do chủ tâm để giết ông tướng McNamara của Mỹ, vì tưởng tối hôm đó ông ta sẽ đến thăm phòng trà Tự Do. Không ngờ phút chót ông ta đổi ý, lại đi một nơi khác.

Sau vụ nổ ở phòng trà Tự Do, tôi đã tự nhủ lòng: Ngày nào cũng có thể là ngày cuối cùng trong cuộc đời, bởi vậy hãy sửa soạn sẵn sàng. Cố gắng làm những điều lành, điều tốt, để bất cứ lúc nào Thượng Đế gọi là thơ thới ra đi. Không có gì phải ân hận hay lo sợ.

Tôi và Mai Hương thường nói đùa với nhau “mạng chúng mình lớn lắm, mìn claymore mà còn phải né cơ mà”.

Hồng Thủy (Maryland, USA)                                                   
                                                 Một Số Hình Ảnh                                               Kim Tước, Quỳnh Giao, Từ Công Phụng, Mai Hương, Ngọc Hà                                                  Ca sĩ: Anh Ngọc, Mai Hương, Kim Tước, Quỳnh Giao, Hà Thanh                              
                                                       Ca sĩ: Anh Dũng (Cali), Kim Tước, Quỳnh Giao, Mai Hương – Buổi nhạc « Chiều Nhớ » – 2006 ở Virginia                                                  Ban Tiếng Tơ Đồng Hải Ngoại – Quỳnh Giao, Mai Hương, Kim Tước (1991)                    Mai Hương, Kim Tước, Quỳnh Giao, Hoài Trung, Anh Ngọc & Hoài Bắc (1991)
                 Từ trái: Kim Tước, Thái Thảo, Bích Liên, Duy Quang, Phạm Duy, Quỳnh Giao, Mai Hương …                                                                                                                                  Quỳnh Giao, Mai Hương & Đoàn Chính                                                 Đồng Ca « Ngày Mai Trời Lại Sáng » 
                      Từ trái: Thanh Hùng, Trương Minh Cường, Vũ Trung Hiền, Xuân Thu, 
                  Quỳnh Châu, Quỳnh Giao, Mai Hương, Bà Lê Trọng Nguyễn, Phạm Anh Dũng                                                                                             Mai Hương & Văn Cao – 1993                                                                                     Mai Hương thoải mái bên chú Phạm Đình Chương
                                                                                            Hoài Bắc-Phạm Đình Chương, Hoài Trung-Phạm Đình Viêm, Mai Hương                                                                                      Mai Hương & Quỳnh Giao – New York City
          Mai Hương – Nửa Thế Kỷ Gắn Bó Với Nghệ Thuật
                                ** Nghiêm Xuân Cường thực hiện **
 
Trong các kỷ niệm của tôi về thuở niên thiếu, phải nói thời gian êm đẹp nhất là những năm tôi học từ lớp Đệ Ngũ đến Đệ Tam. Tôi nhớ lại những tháng năm ấy như một giòng sông êm đềm trôi mãi trong ký ức bởi lẽ ở tuổi mười bốn, mười lăm, tôi đã bắt đầu biết nghĩ và chớm yêu thơ nhạc nhưng vẫn chưa có gì phải lo nghĩ về thi cử hay về cuộc chiến. Những năm cuối thập niên 60, Sài Gòn vẫn còn huởng không khí tương đối yên bình. Nhiều kỷ niệm vẫn còn in sâu trong trí tôi cho đến ngày hôm nay là những buổi tối mấy chị em chúng tôi quây quần bên chiếc máy thu thanh trong căn gác nhỏ, chờ đón những chương trình nhạc mà tất cả chúng tôi đều ưa thích. Tiếng Nhạc Tâm Tình do Anh Ngọc phụ trách, Tiếng Tơ Đồng của cố nhạc sĩ Hoàng Trọng, Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn là ba chương trình mà không có tuần nào chị em chúng tôi bỏ qua. Hơn ba mươi năm sau, ngồi cách xa quê hương hơn nửa vòng trái đất, tôi vẫn còn nhớ lại những giây phút thật xa nhưng cũng thật ngọt ngào mà dễ thương ấy. Đó là một ốc đảo yên bình tràn đầy âm nhạc và tình tự quê hương khi bên ngoài cuộc chiến đang ngày càng đến gần thành phố.
 
Ở trong cái thế giới âm nhạc tuyệt diệu ấy, một giọng hát nhẹ nhàng và đầy đam mê đã đến với chúng tôi như một làn gió mát, một thoáng hương hoa của buổi đầu xuân. Dịu dàng nhưng thiết tha. Đó là tiếng hát của Mai Hương. Sau này khi đã sống ở bên Mỹ tôi vẫn được nghe tiếng hát Mai Hương. Giọng hát của chị sau hơn muời lăm năm tôi không được nghe không những đã không bị thời gian làm phai nhạt, trái lại còn có phần trong và mạnh hơn. Có thể vì kỹ thuật hòa âm và thu thanh chăng? Tôi nghĩ đây chỉ là một lý do phụ thôi. Lý do chính là Mai Hương luôn luôn hát với cả tấm lòng yêu âm nhạc, một tình yêu mà chị đã có từ những ngày còn thật bé vì vốn dĩ sinh trưởng trong một đại gia đình văn nghệ sĩ. Nghe từng bài của Mai Hương hát trong các CD của chị chúng ta nhận thấy cái trau chuốt, từ sự chọn lựa các bài hát trong các đĩa nhạc, cho đến sự trân trọng của chị qua từng nốt nhạc. Sống ở xa quê hương chúng ta có cách hay nhất làm dịu nỗi nhớ quê nhà bằng sự thưởng thức các tác phẩm văn chương hoặc thơ, nhạc. Mỗi chúng ta ra đi mang theo trong ký ức ít nhiều hình ảnh của quê hương: những khúc nhạc hay, một cổng trường vôi trắng hay một khuôn mặt dễ yêu nào đó… Riêng tôi, mỗi lần nghe lại tiếng hát Mai Hương là như thấy lại cả một trời kỷ niệm. Quê hương và nỗi nhớ tưởng chừng đã quên nhưng vẫn còn y nguyên bên mình. Chính ở trong nỗi nhớ đó chúng ta càng cảm nhận tầm mức quan trọng của những văn nghệ sĩ đã trọn đời gắn bó với các bộ môn nghệ thuật Việt Nam. Bởi lẽ qua tiếng nhạc lời ca, qua ký ức và những kinh nghiệm sống và trình diễn nghệ thuật của họ là tiềm tàng những hình ảnh thân thương của quê nhà mà tất cả chúng ta hằng yêu mến. Để thấy rõ thêm về điều này, chúng ta hãy nghe Mai Hương tâm sự về gần 50 năm gắn bó với âm nhạc Việt Nam của chị trong bài nói chuyện sau đây.
 
Nghiêm Xuân Cường (NXC): Xin chị cho độc giả được biết đôi nét về chị. Chị đi hát từ năm nào và có những kỷ niệm đặc biệt gì về những ngày đầu tiên đi hát?
Mai Hương (M.H.): Tên thật là Phạm Thị Mai Hương, tôi chào đời tại Đà Nẵng năm 1941. Thân phụ của tôi là ông Phạm Đình Sỹ, (người anh cả của ban Hợp Ca Thăng Long gồm có Hoài Bắc, Hoài Trung, Thái Hằng và Thái Thanh) và thân mẫu là nữ kịch sĩ Kiều Hạnh, đã từng tham dự và thủ diễn trong nhiều vở kịch lớn (như Lôi Vũ, Trong Bóng Hậu Trường) cũng như trong nhiều phim ảnh (Sóng Tình, Chúng Tôi Muốn Sống…) Thời thơ ấu tôi sống ở nhiều nơi: Huế, Thượng Du Bắc Việt, Hà Nội, rồi đến năm 1952 cùng gia đình chuyển vào Sài Gòn và sống tại đây đến năm 1975. Lúc còn nhỏ, ở tuổi 12,13 tôi không nghĩ là sau này mình lại là một ca sĩ chuyên nghiệp. Lúc ấy bố mẹ bảo sao thì mình nghe vậỵ Thế là các cụ ghi tên cho tôi và bảo đi thi hát ở rạp Norodom (sau này gọi là rạp Thống Nhất) do Đài Phát Thanh Pháp Á tổ chức. Cũng vì có khiếu và thích hát ngay từ bé nên tôi hớn hở đi thi ngay. Qua các kỳ sát hạch, tứ kết, bán kết, tôi được vào chung kết vào cuối năm 1953. Lúc ấy tôi được người cô ruột là ca sĩ Thái Thanh tập cho bài Xuân Và Tuổi Trẻ (nhạc La Hối, lời Thế Lữ) để dự thi chung kết. Bài này điệu valse, tông Rê trưởng, cao và khó hát đối với một cô bé 12 tuổi. Tôi còn nhớ mỗi lần thi hát, ban tổ chức phải bắc một cái ghế để tôi đứng cho vừa với cái micro vừa cao lại vừa to che hết cả mặt mũi!Qua khỏi lứa tuổi nhi đồng, bắt đầu hát với những ban người lớn thì tôi rất sợ. Nhiều người đã nổi tiếng và đã hát lâu năm trên các đài phát thanh. Đó là những người mà tôi phải gọi bằng cô chú, như chú Anh Ngọc, Ngọc Long, các cô Thái Thanh, Châu Hà, Mộc Lan, các anh chị Kim Tước, Duy Trác… Toàn những người hát giỏi, tôi lo sợ không biết mình có thể « cầm cự » nổi không. May nhờ có mấy năm tôi được theo học tại trường Quốc Gia Âm Nhạc, nên cũng không đến nỗi nào! Đó là cảm tưởng của những ngày đầu đi hát của tôi.
 
NXC: Chị có kỷ niệm gì về những lần đi lưu diễn?
M.H.: Thật ra tôi là ca sĩ hát ở đài nên rất ít đi lưu diễn. Tôi nhớ mãi một chuyến đi trình diễn ở Đà Lạt năm 1960 với một ban đại hòa tấu và hợp xướng dưới sự điều khiển của một nhạc trưởng người Đức, tên là Otto Soelner. Toàn ban có đến gần 100 người, cả ca sĩ và nhạc sĩ của Đài Phát Thanh Sài Gòn và nhạc sinh trường Quốc Gia Âm Nhạc. Tôi và Quỳnh Giao là hai người trẻ nhất, tôi thì 19 tuổi, còn Quỳnh Giao thì mới 14. Lúc bấy giờ Việt Nam còn rất thanh bình nên đoàn chúng tôi đi bằng xe lửa từ Sài Gòn lên Đà Lạt và ở tại khách sạn Đà Lạt Palace. Chúng tôi trình diễn trường ca Con Đường Cái Quan của Phạm Duy. Đây là một tuyệt phẩm được thai nghén từ 1954, tức là khoảng thời gian chia cắt đất nước. Bốn năm sau, tức là khoảng 1958-1959 trường ca Con Đường Cái Quan được hoàn tất. Trước khi CĐCQ được trình diễn lần đầu tại Đà Lạt năm 1960 chúng tôi đã trình bầy tại Đài Phát Thanh Sài Gòn.
 
NXC: Xin chị cho biết về những tháng năm dưới mái trường QGAN
M.H.: Tôi theo học tại trường QGAN vài năm, từ năm 1958, song song với việc học chữ tại trường trung học Nguyễn Bá Tòng. Các giáo sư nhạc của tôi có lẽ đã qua đời cả rồi. Ông Nguyễn Cầu môn Ký Âm Pháp, ông Nguyễn Hữu Ba môn đàn tranh đều là bạn của Ba Me tôi. Ông Nguyễn Cầu mất tại Maryland cách đây vài năm, ông Nguyễn Hữu Ba mất tại Việt Nam cũng đã lâu. Thầy Hải Linh, dậy môn hợp xướng, mất tại Quân Cam nên tôi được may mắn dự đám tang của thầy.Các thầy Phạm Gia Nhiêu (violon), thầy Hai Biểu (đàn thập lục) đã mấy chục năm rồi không gặp nên tôi không biết đuợc tin tức của hai thầy. Các giáo sư của tôi ông nào cũng hiền lành và thật dễ thương. Tôi quý các ông vô cùng.
 
NXC: Thời kỳ phôi thai của Đài Phát Thanh Sài gòn có lẽ là từ những năm 1954-1960. Chị nhớ gì về những ngày tháng đó?

MH: Đối với tôi những năm đẹp nhất ở Đài Phát Thanh Quốc Gia (mà sau này đổi thành Đài Phát Thanh Sài Gòn), và các Đài Tiếng Nói Quân Đội, Đài Tiếng Nói Tự Do, bắt đầu từ năm 1954 cho đến Tết Mậu Thân 1968. Những năm này thành phố Sài Gòn thật yên bình. Trở lại năm di cư 1954-55, một số ca nhạc sĩ từ Bắc vào Nam, tôi có thêm một bạn ca sĩ nhi đồng là Mai Hân, hiện đang phụ trách chương trình phát thanh của đài Little Sàigon vùng San José, bắc Cali. Các ca nhạc sĩ lớn tuổi hơn thì chúng ta có các nhạc sĩ Văn Phụng, Nhật Bằng, Đan Thọ, Vũ Thành, Hoàng Trọng, Xuân Tiên, Xuân Lôi, Y Vân…, các ca sĩ Châu Hà, Ánh Tuyết (nổi tiếng với bài Giấc Mơ Hồi Hương của Vũ Thành), Mai Ngân, Vũ Huyến, Duy Trác… Các nhà văn/thơ Mai Thảo, Thái Thủy, Đinh Hùng, Quách Đàm, Thanh Nam, Nguyễn Đình Toàn…và còn nhiều người nữa mà tôi không thể nhớ hết.
 
NXC: Chị có những kỷ niệm gì về về những thập niên 1960, 1970?
M.H.: Khoảng năm 1963, Đài Phát Thanh Sài Gòn đón nhận một con chim họa mi xứ Thần Kinh. Đó là chị Hà Thanh, giọng ca số một ở Huế, một giọng ca cao vút và trong sáng. Trước khi chị Hà Thanh vào Nam, tôi đã được nghe nói đến tên chị rồi. Thế rồi các ca sĩ nhi đồng nhỏ tuổi hơn tôi như Quỳnh Giao, Hoàng Oanh cũng bắt đầu góp mặt trong các chương trình tân nhạc của các đài phát thanh. Riêng Hoàng Oanh có biệt tài về ngâm thơ ngoài lãnh vực ca hát nên cô góp giọng rất nhiều trong các chương trình thơ nhạc như Tao Đàn, Thi Nhạc Giao Duyên của cố thi sĩ Đinh Hùng. Đối với chúng tôi, những năm họat động ở trên các đài phát thanh là những năm đẹp nhất, đáng nhớ nhất. Tất cả các ca nhạc sĩ già, trẻ, lớn bé đều xem nhau như anh chị em trong một đại gia đình, yêu thương, kính trọng nhau, không có sự chèn ép hoặc ganh tị trong đài. Nói về các chương trình tân nhạc thì gồm toàn những bài bản giá trị, được các nhạc sĩ trưởng ban soạn cho ban nhạc và ca sĩ rất công phu. Hoà âm được viết cho từng nhạc cụ và từng bè của mỗi ca sĩ riêng biệt. Mỗi người nhìn vào phần của mình mà ráp với nhau. Ở đài chúng tôi thường hát theo hòa âm của các nhạc sĩ Vũ Thành, Nghiêm Phú Phi, Văn Phụng, Nhật Bằng, Y Vân…
Nhưng từ năm 1968 trở đi không khí đài phát thanh mất vui nhiều lắm. Sau biến cố Tết Mậu Thân, Sài Gòn không còn vẻ thanh bình của những năm trước đó. Chúng tôi phải hát thêm loại nhạc « chiến dịch », nghĩa là khi được tin quân đội ta đánh thắng những trận nào, tin tức đưa về, là các anh nhạc sĩ Lê Dinh, Nhật Bằng, Minh Nhật, Trầm Tử Thiêng, phải sáng tác ngay một bài hát mới và đưa vào phòng vi âm cho chúng tôi thâu « ké » để kịp phát thanh ngay mừng chiến thắng vì lúc ấy chúng tôi đang thâu cho các chương trình tân nhạc. Rồi đến « Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 », khắp miền dồn dập những trận đánh lớn, nhỏ. Các bài hát chiến dịch tiếp tục được sáng tác và chúng tôi vẫn thâu thanh. Có nhiều hôm vừa ăn cơm tối xong, được điện thoại trên đài gọi đi thu thanh gấp. Tôi và Quỳnh Giao vừa lên đến nơi thì anh Minh Nhật dúi vào tay một bài hát mới toanh, bảo thu ngay bây giờ để phát thanh liền. Thế là chúng tôi mở to con mắt ra để mà nhìn, mà đọc, mà hát. Không có thì giờ để tập vì phải về nhà trước giờ giới nghiêm. Tôi chưa về đến nhà thì bài hát mình vừa thâu đã được phát ra rồi. Tôi vừa bước chân vào nhà, me tôi đã nói: « Me vừa nghe con hát trên đài. » Ba Me tôi ở cách chúng tôi có vài căn nên hay qua chơi với các cháu.
Từ năm 1972 đến 1975 một số người bỏ đài, không còn hứng khởi hát hò như xưa. Trong số đó có chị Kim Tước ra Nha Trang, chị Hà Thanh ra Huế. Các anh Thanh Vũ, Trần Ngọc (nhạc sĩ Tuấn Khanh), chú Anh Ngọc không hát nữa. Cô Thái Thanh cũng vậy. Trong đài bấy giờ chỉ còn tôi, Hoàng Oanh, cô Mộc Lan, chị Thể Tần và Phượng Bằng, Phương Nga. Quỳnh Giao thì không đi hát đều đặn như trước mà bận dậy đàn nhiều hơn. Ngày 22 tháng 4-1975 chúng tôi rời bỏ quê hương đi lánh nạn xứ người. Gia đình tôi gặp gia đình Quỳnh Giao trong trại tỵ nạn ở Guam. Chúng tôi vui mừng, cảm động đuợc gặp nhau mà nước mắt ròng ròng. Cũng tại nơi này chúng tôi gặp gia đình anh chị Lưu Trung Khảo là hàng xóm sát vách của mình ở đường Bùi Thị Xuân. Lại khóc.
 
NXC: Chị có thích hát loại nhạc nào hơn không?
M.H.: Nói về sở thích loại nhạc mình hát thì tôi thích loại nhạc cũ, thể điệu êm dịu vì tôi thấy hợp với giọng của mình. Nhưng đã là ca sĩ ở đài phát thanh rồi thì mình không có quyền lựa chọn bài mình thích mà hát. Tất cả các chương trình thâu thanh đều do các người trưởng ban làm chương trình, bảo ca sĩ hát bài nào thì mình hát bài ấy. Cho nên chúng tôi hát đủ các thể điệu, từ Boston, Slow, Rumba, Cha Cha Cha, Boléro, Tango Swing, Marche… Nếu là nhạc dân ca, cũng phải hát đủ cả ba miền, cả dân ca miền Thượng nữa. Ngoài những bài đơn ca, ca sĩ còn hát song ca, tam ca, tứ ca, hợp ca, đơn ca phụ họa. Khi thì mình hát solo người khác phụ họa, hoặc ngược lại. Vì vậy mới có ban Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng mà người ta thường ví với các ban của Ed Sullivan hoặc Lawrence Welk của Hoa Kỳ, cũng với hình thức như vậy!
Nói về tam ca, thì tôi cảm thấy hát hợp nhất với chị Kim Tước và Quỳnh Giao. Vì vậy khi ra hải ngoại chúng tôi tìm đến nhau lập ra ban Tam Ca « Tiếng Tơ Đồng » để nhớ đến nhạc sĩ Hoàng Trọng còn kẹt lại ở Việt Nam. Đến năm 1992, nhạc sĩ Hoàng Trọng qua Mỹ đoàn tụ với các con, ban tam ca chúng tôi đuợc đổi thành « Tơ Vàng ». Sau khi ông qua đời, chúng tôi dùng lại tên « Tiếng Tơ Đồng » để tưởng nhớ đến ông, và vẫn hoạt động đến bây giờ. Mỗi khi có một đêm tổ chức âm nhạc thì chúng tôi lại có dịp hát chung với nhau.
 
NXC: Mỗi lần hát chung như vậy các chị có phải tập dượt trước nhiều không?
M.H.: Mỗi người chúng tôi đều vững nhạc lý rồi nên không cần tập dượt cho mấy nhưng tất nhiên là khi hát với ban nhạc thì phải tập với ban nhạc chứ.
 
NXC: Có những sinh hoạt nghệ thuật nào ở hải ngoại mà chị cho là đáng kể?
M.H.: Tôi không theo dõi sinh hoạt âm nhạc hải ngoại sau 1975 vì quá bận rộn với công việc sở làm và gia đình nên chắc chắn không thể biết hết được, chỉ có thể nói về các sinh hoạt mà mình có tham dự. Tôi nhớ là vào năm 1977 nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, nay đã quá cố, hướng dẫn một đoàn văn nghệ gồm các bộ môn ca, vũ, nhạc, kịch sang Pháp trình diễn. Đây là chuyến trình diễn đầu tiên tại nước ngoài sau năm 1975 của tôi. Mấy năm sau nhạc sĩ Cung Tiến tổ chức một đêm âm nhạc « Bốn Mươi Năm Phạm Đình Chương » tại Minnesota, rồi anh Lê Văn của đài VOA cũng tổ chức « Bốn Mươi Lăm Năm Âm Nhạc Phạm Đình Chương » tại Washington, D.C. Đến năm 1987 cũng anh Lê Văn hướng dẫn một phái đoàn văn nghệ đi trình diễn ở các nước Âu Châu như Pháp, Đức, Thụy Sĩ. Khoảng năm 1990, một « Đêm Nhạc Cung Tiến » đuợc tổ chức ở San Jose, California với giàn nhạc giao hưởng của San Jose. Sau đó « Đêm Nhạc Cung Tiến » được tổ chức ở Disney Hotel tại Anaheim, CA với giàn nhạc đại hoà tấu của Orange County.
Cũng khoảng thời gian này, có sự xuất hiện của ban đại hoà tấu và hợp xướng Ngàn Khơi với thành phần ca sĩ và nhạc sĩ ngót 100 người. Ban Ngàn Khơi do hai chị em chị Nguyễn Thị Nhuận (bác sĩ) và Nguyễn Thị Ngọc Sương (nha sĩ) sáng lập. Đây là một ca đoàn lớn và một ban nhạc lớn mà phần phụ soạn hòa âm do các nhạc trưởng Lê Văn Khoa và Trần Chúc đảm nhiệm. Phần nhạc và phần hát tập luyện rất công phu mà tất cả các ca, nhạc sĩ đều hết lòng làm việc. Đây là một công trình văn hóa rất đáng khen.
Gần đây nhất phải kể đến một đêm « Tình Ca Ngô Thụy Miên Qua Bốn Thập Niên » vào tháng 9 năm 2000 tại Quận Cam do hai người bạn thân của anh Ngô Thụy Miên là Phạm Duy Quang và Nguyễn Cửu Tuấn tổ chức để vinh danh người nhạc sĩ với thật nhiều bản nhạc tình bất hủ này. Buổi tổ chức quá chu đáo, thành công mỹ mãn và được giới thưởng ngoạn đón nhận thật nồng nhiệt. Thế rồi vào tháng 2, 2001 cũng các bạn trong nhóm này tổ chức hai buổi « Nhạc Thính Phòng Và Các Nhạc Phẩm Tiền Chiến » tại San Jose và Quận Cam đều được đón nhận rất nồng nhiệt. Theo tôi, có lẽ những đêm âm nhạc kể trên là đáng ghi nhớ nhất.
 
NXC: Chị có so sánh gì về nhạc Việt và nhạc ngoại quốc?
M.H.: Nói chung thì những bản nhạc của Tây phương nhất là nhạc phổ thông (pop music) đều có lời ca rất đơn giản, đôi lúc còn có nét ngây ngô. Trái lại, nhạc Việt, nhất là những bản nhạc tiền chiến thì lời ca thật là công phu, nhiều lúc phần lời cũng quan trọng không kém phần nhạc, thí dụ điển hình nhất là những bản nhạc của Đoàn Chuẩn lời Từ Linh, hoặc các bài của Văn Cao, Phạm Duy… Thêm vào đó, mỗi chúng ta đều có ít nhiều kỷ niệm với một hay nhiều bản nhạc thành ra khi nghe những bài ấy thì giòng nhạc lại gợi cho chúng ta bao nhiêu là kỷ niệm thân yêu về gia đình, bạn bè, quê hương, thân phận… Vì thế, nếu chúng ta đã lớn lên với âm nhạc Việt Nam thì nó đã trở thành một phần đời của mình rồi, nhạc ngoại quốc dù hay đến đâu cũng không thể nào cho mình cái rung cảm như khi nghe nhạc Việt.
 
NXC: Có một điều mà ít người biết đến là chị cũng hát thánh ca khá nhiều. Cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng có lần nói:  » Mai Hương là người ca sĩ có giọng ca thật điêu luyện và được đánh giá là người hát thánh ca hay nhất.  » Chị có thể nói qua về các sinh hoạt này không?
M.H.: Lúc còn nhỏ, tôi được cha mẹ cho đi học tại các trường Công Giáo, trường tiểu học Thánh Linh của các sơ và sau đó là trung học Nguyễn Bá Tòng của các cha. Khi học ở trường Thánh Linh tôi đã tham dự vào các sinh hoạt của trường trong các dịp lễ lớn như Giáng Sinh và Phục Sinh. Lúc ở trung học Nguyễn Bá Tòng tôi được hân hạnh hát trong ban nhạc Hương Quê do nhạc trưởng Hải Linh, bấy giờ mới ở Pháp về, hướng dẫn. Sau này khi qua Mỹ, tôi cũng có dịp cộng tác với các chương trình thánh ca của Đài Phát Thanh Viễn Đông (Far East Broadcasting Corporation, FEBC) do ông Nguyễn Hữu Ái phụ trách. Một điều làm tôi rất được khích lệ là các anh chị em trong đài FEBC nhận được khá nhiều thơ do thính giả của đài gởi về từ những nơi thật xa xôi hẻo lánh như các tỉnh miền Trung, miền Nam nói là họ có nghe những bài ca do tôi hát với lời ca thật rõ ràng, và những bài ca đó đã truyền đạt thật thấm thía cho họ những lời giảng dậy của Chúa.
 
NXC: Một số các nhạc sĩ lão thành và tên tuổi của nền âm nhạc Việt Nam lần luợt từ giã chúng ta. Gần đây nhất, ngày 15 tháng 10 vừa qua, nhạc sĩ Ngọc Bích (tác giả của nhiều nhạc phẩm bất hủ Mộng Chiều Xuân, Trở Về Bến Mơ, Khúc Nhạc Chiều Mơ…) vừa từ trần. Chị nhớ gì về người nhạc sĩ lão thành này?
M.H.: Năm 1952 gia đình tôi dọn vào Nam vì Ba tôi là công chức bị thuyên chuyển đi nhiều nơi. Gia đình tôi lúc bấy giờ sống rất thanh bạch vì chỉ có mình thân phụ tôi đi làm nuôi vợ và ba con. Hàng xóm của chúng tôi bấy giờ là nhạc sĩ Ngọc Bích. Năm 1953, ông Ngọc Bích và vợ là ca sĩ Lệ Nga được một người con trai tên là Kim Ngọc. Me tôi vẫn hay sang giúp bà Lệ Nga tắm cho cậu con trai. Một chi tiết ít người biết đến là nhạc sĩ Ngọc Bích còn là một ca sĩ và khi đi hát thì ông dùng tên Kim Ngọc. Ông cũng sáng tác dưới một tên khác là Thái Thu một bản nhạc điệu Swing cũng rất là dễ thương tên là Hương Tình: « Ngồi bên em dưới trăng mơ màng. Lòng ngây ngất nhịp mấy cung đàn… » Khoảng năm 1954, ông lập ra ban hợp ca Hồng Hà gồm có ông, các ca sĩ Ánh Tuyết và Thùy Dương. Ban này hoạt động chỉ được một thời gian ngắn. Năm 1956 ông làm trưởng ban cho một ban nhạc của Đài Phát Thanh Quân Đội, tôi và hai chị em Mai Ngân, Mai Hân được mời cộng tác với ông trong một thời gian ngắn. Tuy đã biết sinh ly tử biệt là định luật bất di bất dịch của trời đất, nhưng mỗi một mất mát là một lần làm tôi không khỏi ngậm ngùi và càng thấy cần thiết việc giới thiệu những bản nhạc hay mà giới yêu nhạc ít biết đến.
 
NXC: Chị có dự tính gì cho tương lai ?
M.H.: Dự tính gì cho tương lai ư? Tôi không có dự tính gì to tát hơn là vui với các con và các cháu nội ngoại. Tôi và nhà tôi, anh Trương Dục vừa kỷ niệm bốn mươi năm ngày thành hôn. Chúng tôi được 2 trai, 2 gái; cháu lớn nhất 38 tuổi, nhỏ nhất 27 tuổi. Tôi rất mãn nguyện vì mình đã làm tròn bổn phận với gia đình: dựng vợ gả chồng cho 4 đứa con; các con tôi đều tốt nghiệp đại học và có công ăn việc làm tốt đẹp, lại có thêm những đứa cháu nội, ngoại thông minh và dễ thương. Quả thật tôi không thể đòi hỏi gì hơn nữa. Tôi cảm thấy hài lòng với những gì mình có, và không phủ nhận là mình đã gặp được nhiều may mắn. Bây giờ tôi có nhiều thì giờ hơn để có thể làm những mình muốn làm và thích. Sau 22 năm làm cho Bank of America, tôi vừa xin nghỉ việc vào tháng giêng năm 2000 vì cảm thấy mệt mỏi và chán công việc. Tôi đang cố gắng sưu tầm các bài hát cũ rất có giá trị của các nhạc sĩ tên tuổi mà lâu nay hầu như bị bỏ quên. Đó là những bài hát quá hay từ nét nhạc đến lời ca mà sao ít người biết đến!!? Tôi muốn làm công việc giới thiệu này để nhắc nhở cho những người yêu nhạc rằng kho tàng âm nhạc Việt Nam rất phong phú bằng cách ghi âm lại những bài hát ấy để lưu lại một cái gì cho người, cho mình. Tôi cũng muốn ghi lại giọng ca của mình trong lúc còn có thể hát được vì có ai trẻ mãi với thời gian. Những bản nhạc mà tôi đã chọn để hát cho khoảng hơn 10 CDs cho các trung tâm Diễm Xưa, Tú Quỳnh, Mai Ngọc Khánh… cũng không ngoài mục đích kể trên.
 
NXC: Xin cảm ơn chị Mai Hương đã dành cho những người yêu nhạc một cuộc nói chuyện thật thích thú và mong sẽ tiếp tục được đón nghe những CD nhiều giá trị nghệ thuật của chị.
 
oOoTrong tất cả các bộ môn nghệ thuật, tôi nghĩ văn chương và âm nhạc là hai thứ thân thuộc với tâm hồn chúng ta nhất. Trời bắt đầu trở thu chúng ta lại càng cảm thấy sự cần thiết phải gần gũi với những đoạn văn, thơ, nhạc để giữ lại phần nào cái Việt Nam tính trong cuộc sống tha hương của mình. Mấy ai trong chúng ta lại không thấy lòng se lại trong buổi đầu thu, nhìn các em bé cắp sách đến trường và lòng nhớ đến một đoạn văn thật trong sáng của Thanh Tịnh: « Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nao những kỷ niệm đầu tiên của buổi tựu trường … » Một buổi chiều thu nhiều lá vàng rơi gợi lại cho ta những hình ảnh về thu, tuyệt vời như trong thơ Bích Khê « Ô hay, buồn vương cây ngô đồng. Vàng rơi, vàng rơi, thu mênh mông…  » và lòng liên tưởng đến « Buồn Tàn Thu » của Văn Cao »Ai lướt đi ngoài sương gió. Không dừng chân đến em bẽ bàng…  » Mùa thu mênh mông lại trở về trên đất khách, càng nhớ nhà, chúng ta lại càng trân trọng chút di sản văn hóa của quê hương còn đọng lại trong trí nhớ. Ngậm ngùi và đáng tiếc xiết bao nếu một hoặc hai thế hệ nữa con cháu chúng ta không còn biết đến nguồn gốc hay văn hóa của mình, và những người nhạc sĩ, thi văn sĩ còn sống hay đã khuất cũng sẽ cùng một tâm trạng như văn hào Nguyễn Du « Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ thùy nhân khấp Tố Như » (tạm dịch: Không biết rồi ba trăm năm nữa, Thiên hạ ai người khóc Tố Như).
Điểm lại những CD mà Mai Hương đã thực hiện tại hải ngoại chúng ta thấy đây là những ca khúc thật chọn lọc, tiêu biểu cho một thời vàng son của nhạc Việt. Bước vào thế giới của những ca khúc đó chúng ta tưởng tượng mình đang đi vào một thời đại khác khi ngôn ngữ và âm nhạc thật xúc tích, lời và nhạc như quyện vào nhau. Đối tượng của những bài hát này cũng không ngoài tình yêu, nhưng tình yêu ở đây không chỉ giới hạn trong tình yêu lứa đôi mà còn là tình yêu đất nước, tình yêu thiên nhiên. Qua CD mới nhất của chị có tên là Lỡ Chuyến Đò phát hành vào tháng 7-2001, hãy để tiếng hát nhẹ nhàng và trong sáng của Mai Hương đưa chúng ta trở về quá khứ thật êm đềm qua giòng nhạc của nhạc sĩ Anh Việt, tác giả của những bản nhạc trữ tình khác như Bến Cũ (1946), Thơ Ngây (1951)… Lỡ Chuyến Đò (1947) diễn tả nỗi phân vân của người trai thời loạn, bên nợ nước, bên tình riêng « …Chiều vàng lại đem nhớ tiếc thương Đây người sang với con đò xưa. Và chiều chiều thôn nữ thôn nữ vấn vương. Duyên tình xưa êm thắm còn đâu. Người nghệ sĩ lăn lóc gió sương. Tơ đàn say đắm quên sầu thương. Dành tình này cho kẻ khổ đau. Quên tình xưa thôn nữ chờ mong …  » Tiếp đến, ta hãy lắng nghe giọng ca của Mai Hương, nhẹ nhàng, trong vút và bay bổng trong ca khúc Hương Quê của Nhật Bằng và Huỳnh Hiếu « Chiều nay nắng êm đềm sau lũy tre. Trên trời xanh bầy chim bay trở về. Tiếng tiêu mục đồng hát trên đê. Sáo vi vu chìm lắng đê mê. Xa xa xa đoàn nông phu vác cuốc cùng đàn trâu đi trên đường về đâu... » Như chiếc đũa thần huyện diệu của nàng tiên Âm Nhạc, giọng hát trìu mến và đầy đam mê của chị đưa chúng ta tiếp tục trong chuyến đi ngược giòng thời gian trở lại quê hương trong một trời yên bình không tưởng « Lùa theo gió êm đềm bao tiếng tiêu. Chuông chùa ngân chìm lắng trong sương chiều. Khói lam bên đồi phất phơ baỵ. Bóng đêm chìm lặng giấc mơ say...  » Lòng người tha hương như say sưa theo tiếng hát và giòng nhạc. Ngắm trăng thu xứ người, chúng ta không khỏi nhớ đến ánh trăng huyền diệu của thuở ấu thơ, được mô tả tài tình qua nhạc và lời của cố nhạc sĩ Văn Phụng trong Hình Ảnh Một Đêm Trăng : « Khi ấu thơ, ngồi trong bóng trăng nhìn theo áng mây đưa. Nghe má ba kể trong ánh trăng Cuội đang sống say sưa. Rồi thôn xóm bừng lên tiếng reo hòa theo khúc ca ngân. Tiếng ngây thơ bầy em múa ca, mời trăng thu xuống trần...  » và lòng khách tha hương không khỏi xót xa vì « Thu đã đem nguồn vui tới đây, điểm tô ánh trăng mơ. Nhưng thấy đâu mùa trăng ấu thơ, mùa trăng lúc ngây thơ. Mầu trăng sáng cùng muôn khúc ca ngày xưa đã trôi qua. Ánh trăng xưa lòng tôi vẫn ghi, thời gian chưa xóa mờ « .
Trong một buổi chiều thu giá lạnh của Bắc Mỹ, lòng người tha hương như được sưởi ấm khi nghe lại giọng ca quen thuộc, thân thương của Mai Hương qua những bản nhạc tưởng chừng không bao giờ được nghe lại như Tạ Từ (khoảng 1946) của Tô Vũ. Lời và nhạc như vọng về từ một cõi xa xưa mơ hồ nào đó « Rồi đây khi mùa dứt chiến chinh, gió dâng khúc đàn thanh bình. Ta đi tìm thơ muôn phương gót in núi rừng thâm u, và lướt trên muôn trùng sóng. Lời anh thầm ước khi nao, dưới trăng giữa mùa hoa đào. Trong ánh dư âm còn vang tiếng đồng. Lầu chiều còn luyến ánh hồng, lầu xây trong không, sóng gió rót chia ly. Phồn hoa em chia tay ra đi, đưa chân dừng bước bên cầu, giã từ mấy câu. …Tình anh như thông đầu non. Vời cao trông mây buồn đứng. Muôn kiếp cô liêu, ngàn năm còn reo.  » Bản nhạc đem cho tôi nhiều cảm xúc nhất là một bài cũng rất hợp với giọng của chị: nhẹ nhàng, không chải chuốt nhưng tràn đầy thiết tha. Tôi đã có những giây phút tuyệt vời khi nghe lại Khúc Nhạc Chiều Mơ của nhạc sĩ Ngọc Bích, người vừa từ giã chúng ta cách chúng ta vài tuần trước đây, « Chiều nay nhớ về phía xa mờ. Ngoài khơi sóng dạt dào ước mơ. Phút say sưa lời nguyền hoà với tiếng tơ. Chờ ngày mai gió reo lời thơ. Về đâu hỡi bầy lũ chim rừng. Ngừng đây nhắn dùm lời nhớ thương. Nhớ đêm nao ôm đàn lòng thổn thức vấn vương. Nhạc sầu mơ khúc ca hồi hương… Còn đâu những đêm dưới trăng mờ. Còn đâu những lời nguyền ước xưa. Nét môi ngây thơ dịu dàng làn tóc gió đưa. Lòng ta xao xuyến trong chiều mơ. .. » Những tình cảm được ghi lại bởi người nhạc sĩ tài hoa mấy chục năm trướcvẫn có một sức quyến rũ kỳ lạ với người nghe. Người nhạc sĩ tuy đã khuất, nhưng tinh hoa của những ca khúc của ông sẽ mãi mãi còn với thời gian. Sau bao nhiêu năm tôi mới được nghe lại những giòng nhạc thật thiết tha và hợp với tâm trạng xa quê hương của mình, quả thật đó là một hạnh phúc không nhỏ. Những bản nhạc bất hủ khác trong CD như Nhạc Sĩ Với Cây Đàn (Nguyễn Văn Khánh), Cô Hàng Hoa (Thẩm Oánh), Bến Nước Tình Quê (nhạc Mạnh Phát, lời Mộng Bảo), Lỡ Cung Đàn (Hoàng Giác) Ước Hẹn Chiều Thu (Dương Thiệu Tước), đều gây cho người nghe cảm giác lâng lâng khi tìm lại được một quãng đời đánh mất. « 
Dư âm tiếng hát đã lắng, giòng nhạc đã dứt, nhưng người nghe còn vương vấn mãi trong tâm tưởng một hình ảnh của quê hương Việt Nam những ngày chưa khói lửa chiến tranh. Xin cảm ơn tất cả những nhạc sĩ tài hoa, và những người làm nghệ thuật nói chung, đã đem đến cho đời những bông hoa đầy hương sắc. Và cảm ơn Mai Hương, vì qua giọng hát điêu luyện của mình, chị đã nhắc lại cho chúng ta những nét đẹp tuyệt vời của nhạc Việt Nam. Tiếng hát của Mai Hương luôn đem đến cho người yêu nhạc những giây phút thật ấm lòng, và nếu ngày nào còn người Việt ly hương với nỗi sầu ưu quốc, ngày ấy tiếng hát của chị, như tiếng mẹ ru ta vào đời khi còn thơ dại, sẽ theo chúng ta trên các nẻo đời, sẽ mãi mãi bay cao « như thông đầu non. Vời cao trông mây buồn đứng. Muôn kiếp cô liêu, ngàn năm còn reo. « 
 
Nghiêm Xuân Cường thực hiện                                   PHỎNG VẤN CA SĨ MAI HƯƠNG & PHU QUÂN TRƯƠNG DỤCThe Jimmy Show – 2019                 
      “Tiếng hát quay tơ” Mai Hương, nửa thế kỷ tình tự ca
                                    Cát Linh, phóng viên RFA / 2016-09-03
                                                          NGHE CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH (MP3)
“Cành hoa tim tím bé xinh xinh báo xuân nồng
Vườn đào phong kín cánh mong manh hé hoa lòng
Hà Nội chờ đón tết, hoa chen người đi, liễu rũ mà chi
Đêm tân xuân Hồ Gươm như say mê
Chuông reo ngân, Ngọc Sơn sao uy nghi
Đường phố lóa ánh đèn, một người anh thương nhớ, chờ em…
” (Gửi người em gái, Đoàn Chuẩn & Từ Linh)

    Năm 2008, cách đây 8 năm, ở Montréal, Canada, tôi đã hát từ biệt khán giả. Bên Mỹ này thì tôi cứ âm thầm giải nghệ, vì mình không xuất hiện trên sân khấu nữa thì người ta cũng hiểu.
    -Ca sĩ Mai Hương

Gửi người em gái của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn – Từ Linh là bài hát được ca sĩ Mai Hương trình bày để từ biệt khán thính giả trên sân khấu Montreal, Canada năm 2008, sau hơn 50 năm, từ ngày bà bước lên sân khấu lần đầu tiên năm 12 tuổi.

“Năm 2008, cách đây 8 năm, ở Montreal, Canada, tôi đã hát từ biệt khán giả. Bên Mỹ này thì tôi cứ âm thầm giải nghệ, vì mình không xuất hiện trên sân khấu nữa thì người ta cũng hiểu. Thời gian phụng sự nghệ thuật đã đủ dài.”

Rất nhiều người đã đề nghị bà có một buổi diễn cuối cùng để từ biệt sân khấu, nhưng bà từ chối. Và đêm diễn ở Montreal, Canada vào dịp 30 tháng Tư năm 2008 đã được xem là buổi diễn cuối cùng.
Từ năm 12 tuổiCâu chuyện về cuộc đời nghệ sĩ của ca sĩ Mai Hương bắt đầu từ cuộc tuyển lựa tài tử của Đài phát thanh Pháp Á. Bà ghi danh dự thi với sự khuyến khích của thân mẫu là kịch sĩ Kiều Hạnh, thân phụ là Phạm Đình Sỹ, và người cô là danh ca Thái Thanh.“Năm 1952, 53 gì đó, tôi mới 11, 12 tuổi thôi, ở Hà Nội vào Sài Gòn. Tôi lúc đó được cô ruột là cô Thái Thanh khuyến khích ghi tên vào chương trình thi tuyển lựa tài tử dưới thời ông giám đốc đài phát thanh Pháp Á, chương trình Tiếng Việt là ông Hoàng Cao Tăng, hát bài Chú Cuội của Phạm Duy. Vào đến chung kết mà qua 4 thời kỳ như vậy là cũng không phải dễ. Qua thời kỳ thi tuyển, tôi trúng tuyển ngay. Tuần tự như vậy vào chung kết, cô Thái Thanh tập cho bài Xuân và Tuổi Trẻ của nhạc sĩ La Hối, lời Thế Lữ. Tất cả mọi người ngồi ban giám khảo nói rằng một con bé 12 tuổi hát bài ấy là quá khó, thế là chấm đậu luôn.”Từ cuộc thi tuyển lựa tài tử năm đó, một chương trình riêng cho thiếu nhi gọi là Thiếu sinh nhi đồng được thành lập gồm ba giọng hát là Mai Hương, Bửu Minh (Anh Minh) và Đào Nguyệt Ánh. Ban nhạc nhi đồng ấy lớn lên theo thời gian và trở thành ban nhạc Tuổi Xanh.

“Đến lúc độ 16, 17 tuổi thì mình hát cũng khá rồi, thế là các ông ấy (trưởng ban Đài phát thanh Sài Gòn) cho lên hát ban người lớn. Từ đó tôi bắt đầu được coi là một trong những ca sĩ thường trực của đài phát thanh. Rồi sinh hoạt của tôi ngày càng mở rộng thêm. Các ông trưởng ban lúc đó là Hoàng Trọng, Văn Phụng, Y Vân…”

“Bàng hoàng giờ phút từ ly
Tuy lòng đau nhưng cố quên thê nhi
Tần ngần chàng bước chân đi
Ði tới nơi xa xăm bao hình mơ
…” (Phút chia ly – Hoàng Trọng/Nguyễn Túc)
Đến tiếng hát ở Đài phát thanh Sài Gòn

                          Những ca khúc bà trình diễn ở Đài phát thanh Sài Gòn mang nhiều giá trị của thời gian và đòi hỏi sự thấu hiểu nhạc lý vững vàng.

“Năm Mậu Thân, năm Mùa hè đỏ lửa 72, tôi với cô Quỳnh Giao là hai người hát tương đối nhanh và đọc được các nốt nhạc. Các nhạc sĩ làm cho đài phát thanh Sài Gòn có các loại nhạc gọi là nhạc chiến dịch, nghĩa là các trận đánh của quân đội cộng hoà mình đi đến đâu thắng trận thì các nhạc sĩ phải sáng tác ngay để đi sát với thời cuộc. Cho nên phải có ngay ca sĩ để hát. Nhiều khi tôi đang ở nhà thì một trong những người sĩ quan của đài phát thanh quân đội nói rằng phải mời Mai Hương và Quỳnh Giao hát bài này ngay lập tức.

Nếu gọi là một ca sĩ mà không có nhạc lý vững chắc thì ai có thể tập cho mình? Lên đến đài thì ông trưởng ban hoặc nhạc sĩ đưa bài hát đi sát thời cuộc, mắt nhìn nốt nhạc, mắt nhìn lời, hát và thâu ngay lập tức.”

Tháng Tư năm 1975, như hàng triệu người Việt Nam khác, bà cùng với gia đình rời Việt Nam. Từ đó, tiếng hát của Đài phát thanh Sài Gòn bắt đầu cất cao ở xứ người.

Mai Hương bắt đầu đi hát cho những buổi đại nhạc hội hoặc trình diễn ở những chương trình rất chọn lọc như Cung Tiến, Vũ Thành, Lê Văn Khoa, Ngàn Khơi, ban đại hợp tấu và hợp xướng Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng.

Những nhạc phẩm bà thể hiện mang những nét rất riêng, rất Mai Hương. Tiếng hát thiên phú là đã đành, một lý do khác là do bà rất chọn lọc ca khúc để trình bày.

    Khi tôi hát, tôi tự chọn những bản nhạc của những nhạc sĩ tiền chiến mà rất ít người hát để làm kỷ niệm, lưu lại những tác giả, tác phẩm.
    – Ca sĩ Mai Hương

“Những bài Mai Hương hát thì ít những ca sĩ khác họ hát. Cho nên khi mình muốn lưu lại một cái gì đó thì mình không hát những bài hát mà những ca sĩ khác đã hát, đã thâu nhiều rồi. Cho nên khi tôi hát, tôi tự chọn những bản nhạc của những nhạc sĩ tiền chiến mà rất ít người hát để làm kỷ niệm, lưu lại những tác giả, tác phẩm.”

Dòng nhạc bà chọn chắc chắn phải phù hợp với chất giọng và những quãng cao rất đặc biệt, rất quyến rũ của bà. Nghe Mai Hương hát một một nhạc khúc về quê hương, có thể nhìn thấy một miền quê yêu dấu đang nhẹ nhàng hiện dần lên trước mắt, gợi cho người tha phương một nỗi nhớ dạt dào.

Nghe bà hát một ca khúc xuân, có thể thấy như nắng xuân đang rộn rã hòa vào da thịt. Mùa thu qua tiếng hát của bà là một bức tranh vàng lá cùng với cái se lạnh của mùa đông.

Nghe bước chân người sương gió
Xa dần như tiếng thu đang tàn
Ôi người gió sương em mơ thương ai bao lần
Và chờ tin hồng đến
Đếm mùa thu chết
Nghe mùa đang rớt rơi theo lá vàng
…” (Buồn tàn thu – Văn Cao)

“Khi muốn trình bày một bản nhạc nào đó không phải chỉ nhìn lời hát cho qua đi. Mình phải gửi gắm tình cảm, tâm trạng của mình vào bài hát. Khi khán giả, thính giả nghe được thì họ rất cảm thông với các lời và cũng cảm thông với người ca sĩ là nhịp cầu nối giữa nhạc sĩ và người nghe. Không phải mình hát cho qua ngày qua buổi.”

Đúng như tấm lòng của người ca sĩ hơn nửa thế kỷ mang những bản tình ca đến cho cuộc đời, người nghe qua bao thế hệ vẫn nhớ mãi hình ảnh dịu dàng, gần gũi của bà khi bước lên sân khấu.

“Tiếng hát quay tơ” nồng nàn của nữ ca sĩ Mai Hương để lại cho nền âm nhạc Việt Nam những sợi thương, sợi nhớ về hình ảnh đất nước những ngày khói lửa chiến tranh, cũng như một quê hương xa ngàn dặm đã thuộc về quá khứ.  
        MAI HƯƠNG: Tiếng Ca Gợi Nét Thêu Trên Lụa
Hình như đấng hóa công hà tiện, không ban cho Mai Hương sắc và thanh vừa phải để giúp cô bước vào nghệ thuật trình diễn bằng những bước chân khua động, bằng hào quang rực rỡ. Tiếng cô lu mờ bạc nhược. Nhưng Mai Hương biết luyện giọng để trở thành một ca sĩ thượng thặng với kỹ thuật ca hát ra già dặn. Mai Hương có kỹ thuật ca hát và nội công thâm hậu hơn cả Thái Thanh. Tiếng hát cô cực kỳ điêu luyện.

Cô tuy có giọng yếu và lu hơn giọng Thái Thanh, nhưng khi cô lên cao giọng cô không chua, không bén ngót, không xon xỏn, không gợi nên thứ ánh sáng hỗn láo chiếu trên tấm gương như giọng Thái Thanh. Chuỗi ngân của cô vừa đều đặn vừa gợn sóng lăn tăn có thể kéo dài theo trường độ của một nốt nhạc dài.

              Tiếng hát ấy mềm mại, không nẩy âm vang, không loé hào quang và không có làn hơi dũng mãnh và dồi dào. Nữ giáo sư âm nhạc dân tộc Quỳnh Hạnh thường bảo: « Hát như Mai Hương mới gọi là hát hay. » Vào năm 1961, anh Nguyễn Văn A, giáo sư trường quốc gia âm nhạc dặn tôi: « Mai sau, bạn có viết về ca hát, nên lấy các giọng Mộc Lan, Châu Hà, Kim Tước, Mai Hương và Tuyết Hằng làm chuẩn. »

Mai Hương thường hát những bản lọt ra ngòai âm vực của giọng hát mình. Khi lên nốt quá cao, cô chuyền qua giọng óc mà thính giả không nhận ra lúc cô chuyển giọng. Giọng thật của cô đã mỏng sẵn rồi nên khi chuyền qua giọng óc mỏng dính, thính giả vẫn không nhận rõ sự khác biệt của hai giọng. Nhưng cái hay của Mai Hương là khi hát bằng giọng óc, cô không nhốt giọng quá sâu trong cuống họng như Thái Thanh nên giọng óc của cô vẫn ngọt, tuy không lảnh lót du dương. Khi xuống khá trầm, cô hát vẫn trót lọt như thường, nhưng tiếng không rền, không có dư vang và không kéo một chuỗi ngân dài. Thường là một chuỗi ngân đều đặn với năm ba hột khít khao mà thôi.

Nhờ biết dàn trải làn hơi đâu vào đó nên Mai Hương không bao giờ hụt hơi khi lên cao hoặc xuống thấp, ngay ở những chỗ hóc búa mà giọng cô vẫn lướt qua một cách ngon lành, một cách tỉnh bơ, không chỗ nào trục trặc thô tháp, không chỗ nào vỡ gãy vụng về.

Nghe Mai Hương hát, chúng ta có thể liên tưởng đến buổi bình minh bên bờ biển trông ra mây phương Đông rực rỡ màu hồng. Bãi cát màu nâu vàng ấm áp loáng thoáng những cây thùy dương màu bích ngọc.

Thủy triều vừa dâng cao, từng đợt sóng mềm mại âu yếm hôn lên bãi cát, rồi mực nước tràn lên cát biến màu vàng nâu của cát thành màu đường mía thẫm hơn, phản chiếu ánh nắng chuyển qua màu vàng diệp.

Tiếng hát Mai Hương được vẽ bằng những lớp sóng mềm mại ấy, vọng vào tai khách ngắm cảnh lời rì rào của sóng hòa theo tiếng thuỳ dương vi vút bất tuyệt…HỒ TRƯỜNG AN (Trích trong « Chân Dung Những Tiếng Hát »)
                                                                              Toàn bộ CD « GIẤC MƠ HỒI HƯƠNG »
                                                Toàn bộ CD « SERENADE »                                                                                              Toàn bộ CD « NHƯ NGỌN BUỒN RƠI »                                         Toàn bộ CD « NHẶT CÁNH SAO RƠI »                                                                       Mai Hương hát live LỠ CHUYẾN ĐÒ – ngày ra mắt CD                              
Ban Tuổi Xanh năm xưa                                        *** Ca sĩ Quỳnh Giao ***
Mới đây, người viết nhận được tấm hình ban Tuổi Xanh do Phạm Duy Ðức gửi tặng.

Ðức là con trai út của cặp nghệ sĩ Thái Hằng-Phạm Duy, gửi với lời nhắn là giúp Ðức tìm ra tên từng người trong hình. Thoạt kỳ thủy, chỉ nhận ra hai bác Phạm Ðình Sĩ và Kiều Hạnh, còn trong bầy nhi đồng thì nhận ra ngay chính mình ngày bé mà thôi.

Sau vài phút xem kỹ thì nhận ra hầu hết mọi người: Chị Bích Chiêu, chị Mai Hương, chị Mai Hân và chị Bạch Tuyết trong hàng “người lớn,” vì đã trên 12 tuổi rồi. Ðến hàng “nhi đồng” thật sự gồm những đứa vắt mũi chưa sạch mới lên bẩy lên tám là Tuấn Ngọc, Quốc Thắng, Kim Chi, và người viết bài, thời ấy còn giữ tên thật là Ðoan Trang…

Một vài người khác thì mình đã quên mặt nhưng trong ký ức vẫn nhớ rõ tên như các chị Lê Phi, Lê Út… Nhưng không hiểu sao lại thiếu mặt Anh Minh, anh ruột của người viết hồi đó là một giọng chủ chốt trong ban Tuổi Xanh!

Nhìn hình rồi miên man nhớ đến rất nhiều kỷ niệm.

Thời kỳ đó là đầu thập niên 50. Thân mẫu của người viết là danh ca Minh Trang thành lập ra ban Thiếu Sinh Nhi Ðồng đầu tiên, nơi hoạt động chính yếu là đài phát thanh.

Trong ban có Lê Phi, Lê Út, Mai Hương, Bạch Tuyết, Bích Chiêu, Kim Chi, Quốc Thắng, Tuấn Ngọc, Anh Minh và Ðoan Trang. Nhạc sĩ duy nhất trong ban là tay pianist Hoàng Linh, chừng 18 tuổi. Anh là học trò của nhạc sĩ Võ Ðức Tuyết.

Thế rồi năm 1954, gia đình cặp nghệ sĩ Phạm Ðình Sĩ-Kiều Hạnh di cư vào Nam, thân mẫu người viết bèn nhường Ban nhi đồng cho hai bác.

Cặp nghệ sĩ đổi tên ban là “Tuổi Xanh” cho thích hợp với các con bấy giờ đã trên 10 tuổi rồi, hết còn là nhi đồng. Rồi ban Tuổi Xanh có thêm Mai Hân, Tuấn Tùng… Ðấy là lớp “Tuổi Xanh” đầu tiên. Về sau là các mầm non xuất sắc khác, như Hoàng Oanh, Phương Tâm (tức Phương Hoài Tâm), Phương Mai, Xuân Thu, Tý Hon, Quỳnh Mai (tức Vân Quỳnh) và Quỳnh Như (tức Vân Hòa) là hai cô em gái của người viết.

Chắc quý độc giả cũng thắc mắc không biết các nhi đồng ngày xưa khi lớn lên hoạt động và sinh hoạt ra sao?

Xưa nay, “thần đồng” thường là các ngôi sao tắt biến khi trở thành người lớn. Như Shirley Temple giã từ màn bạc rất sớm và trở thành bà đại sứ Shirley Temple Black (Black là tên ông chồng). Như Hayley Mills con gái John Mills đóng phim rất cừ mà về sau không xuất hiện nữa.

Ðó cũng là trường hợp của các “thần đồng” Quốc Thắng hay Kim Chi của Việt Nam, lúc bé nổi tiếng như cồn. Quốc Thắng hình như học ngành y, trở thành bác sĩ. Kim Chi cháu của nhạc sĩ Thẩm Oánh khi nhỏ rất thân với người viết mà sau này mất hẳn liên lạc, không biết chị làm nghề gì, sống ở đâu.

Còn lại những người vẫn theo đuổi nghệ thuật thì trước hết phải kể đến Bích Chiêu, người chị lớn của gia đình nghệ sĩ Lữ Liên. Giã từ tuổi ấu thơ, Bích Chiêu mang giọng hát nũng nịu và man dại gieo rắc các phòng trà và và hộp đêm ở Sài Gòn. Chị trở thành thần tượng của nhiều khán thính giả. Dù chuyên hát nhạc ngoại quốc, Bích Chiêu vẫn thành công qua những ca khúc trữ tình Việt Nam.

Bài hát mang dấu ấn riêng của Bích Chiêu là “Nỗi Lòng” của Nguyễn Văn Khánh. Có lẽ cho đến giờ chưa thấy ai hát bài này lơi lả và khêu gợi như giọng hát Bích Chiêu. Cách kéo câu của chị là một tuyệt chiêu mà sau này, cô em gái Khánh Hà cũng tận dụng và thành công như bà chị.

Tuấn Ngọc cũng trở thành một nam danh ca sáng giá. Như bà chị Bích Chiêu, anh khởi đầu sự nghiệp bằng nhạc ngoại quốc, hát cho các club Mỹ. Nhưng chính là khi anh hát nhạc Việt ở hải ngoại mới trở thành thần tượng của thính giả khắp nơi. Cũng như những người con trong gia đình Lữ Liên, Tuấn Ngọc tạo cho mình một nét riêng trong cách hát, cách nhả chữ “lừng khừng,” hay cách lên một nốt cao đầy sung mãn khiến những người yêu nhạc mê thích. Chỉ cần thấy hiện tượng “bắt chước” Tuấn Ngọc trong các tài năng mới, chúng ta biết anh được sự ái mộ rộng rãi của mọi người.

Chị Mai Hương bắt đầu hát ban “người lớn” khi 18 tuổi, và là một trong những giọng ca chủ lực của hầu hết các ban trên các đài phát thanh, nhờ giọng hát ngọt ngào cộng với kiến thức về nhạc lý vững vàng.

Chị Bạch Tuyết học dược và trở thành dược sĩ. Chị Mai Hân ít hát hơn, và về sau trở thành một xướng ngôn viên chuyên nghiệp.

Có một người hát hay vô cùng khi còn nhi đồng. Theo thiển ý của người viết thì hát hay nhất trong tất cả là Tuyết Phương. Sau khi ngưng hát, Quỳnh Giao có thoáng gặp chị trong trường Gia Long khi hai đứa học cùng trường mà không cùng lớp. Cùng lớp thì có cô bạn Hoàng Oanh, về sau nổi tiếng ngâm thơ hay và là một trong những giọng hát được thu vào đĩa nhựa nhiều nhất trước 1975.

Nhân đây Quỳnh Giao cũng phải nhắc lại việc cộng tác với các đài phát thanh ngày xưa. Khi hát với các ban trên đài phát thanh, kỹ thuật thu thanh và bài vở đòi hỏi ca sĩ phải vững nhạc lý. Các nhạc trưởng đưa bài là phải cầm xem và hát ngay, cả bài đơn ca lẫn hợp ca hay phụ họa. Trong một buổi thu thanh, ca sĩ phải chu toàn nhiều nhiệm vụ: khi thì đơn ca, khi thì song ca hay tam ca, kể cả trình bày các bài hợp ca và hát phụ họa cho người khác. Trong một chương trình phát thanh mà thời ấy trong đài vẫn gọi là “émission” thì ca sĩ phái hát cỡ năm sáu bài khác nhau, cũ và mới, quen hay lạ. Rất khác với kiểu trình bày trong phòng trà cho khán giả.

Nhìn tấm hình, như nhìn cả tuổi thơ hiện về. Bỗng thấy lòng mình chùng xuống vì thời gian trôi qua mau quá, như vó câu qua cửa sổ, và nhớ ngôi nhà số 3 đường Phan Ðình Phùng tha thiết…

Ðó là đài phát thanh mà cũng là một gia đình lớn của nhiều thế hệ nghệ sĩ, từ tuổi xanh nhóc tì cho đến lão thành.QUỲNH GIAO
                                                                                         Mời nghe toàn bộ: « Tình Khúc Văn Cao »  do Mai Hương & Quỳnh Giao trình bày                         Toàn bộ CD « Tìm Nhau Bốn Mùa » với tiếng hát Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao  & Duy Trác         Thiên Thai (Văn Cao) – Anh Ngọc – Mai Hương – Kim Tước – Quỳnh Giao             & The Quintet Of Mozart Institute Of Music in Houston.Texas – Clear Lake University 1992                                                                                                  Mai Hương hát: NHƠ THU HÀ NỘI (mp3)                      Mai Hương, Kim Tước, Mộc Lan hát KIẾP NGHÈO của Lam Phương                                     (Ban Tiếng Tơ Đồng của NS Hoàng Trọng)                                                                                  Mai Hương hát GÁI XUÂN của Từ Vũ – thơ: Nguyễn Bính                                (Ban Tiếng Nhạc Tâm Tình của Anh Ngọc)
                                   Một Số Hình Ảnh                                                               Nhật Bằng, Kim Tước, Thái Thanh, Mai Hương, Nhật Trường
          Hàng trước từ trái: Thanh Vũ, Quỳnh Giao, Nhật Trường /Hàng sau: Như Thủy, Bạch Tuyết, Mai Hương
                                            
 http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1441&Itemid=47

MAI HƯƠNG – Những Tình khúc Xưa Cực Hay Qua Tiếng Hát Danh Ca Mai Hương

MAI HƯƠNG – Những Tình khúc Xưa Cực Hay Qua Tiếng Hát Danh Ca Mai Hương

11 518 vues•12 août 20191165PartagerEnregistrerDiễm Xưa Productions ► Diễm Xưa Productions (Trung tâm Diễm Xưa của nữ ca sĩ Thái Xuân) sẽ là kênh chính thức của các bản nhạc tình ca sang trọng, tình khúc vượt thời gian, nhạc hải ngoại lãng mạn của các danh ca hải ngoại bất hủ để đời. Bấm vào nút theo dõi ( subscribe ) để được cập nhật những video mới nhất của kênh nhé. ► Nhấn vào nút Đăng Ký ( Subscribe) và Nhấn Chuông để được thông báo ngay khi có video mới! ——————- ► Powered by DIEM XUA Productions Trung tâm sản xuất và phát hành băng nhạc Diễm Xưa P.O. Box 26217 Santa Ana, CA 92799 Tel: (714) 540-7537 Vui lòng không sao chép dưới mọi hình thức! #diemxua, #tinhcasangtrong, #tinhkhuc

nhacxua.vn biên soạn: Cuộc đời và sự nghiệp của danh ca Mai Hương (1941-2020)

VietHai Tran

Cuộc đời và sự nghiệp của danh ca Mai Hương (1941-2020)Tin Bàn Tròn Âm Nhạchttps://www.youtube.com/watch?v=UOCcGHZuDNUMai Hương là một trong những nữ ca sĩ xuất sắc nhất của tân nhạc Việt Nam kể từ thập niên 1950. Giọng hát phảng phất nét sang cả với một âm vực đặc biệt của bà gắn liền với dòng nhạc tiền chiến và trữ tình mang tính chất thính phòng có giá trị trường tồn với thời gian, những ca khúc của Phạm Duy, Văn Cao, Hoàng Trọng, Văn Phụng, hoặc là của người chú ruột Phạm Đình Chương.Click link để nghe Mai Hương háthttps://kontumquetoi.com/…/nguoi-nhat-cach-sao-roi-ca…/Ca sĩ Mai Hương tên thật là Phạm Thị Mai Hương, được sinh ra trong một đại gia đình nghệ sĩ có nhiều đóng góp nhất cho nền nghệ thuật Việt Nam. Cha của bà là Phạm Đình Sỹ, dù là một công chức nhưng yêu thích nghe thuật và đã vợ là Kiều Hạnh phụ trách, trông nom ban Tuổi Xanh nổi tiếng Sài Gòn thập niên 1950-1960. Ông Phạm Đình Sỹ cũng là anh ruột của những tên tuổi huyền thoại trong ban hợp ca Thăng Long, đó là Hoài Trung – Phạm Đình Viêm, Hoài Bắc – nhạc sĩ Phạm Đình Chương và 2 đệ nhất danh ca lá Thái Hằng – Thái Thanh.Đại gia đình nhà họ Phạm, bao gồm vợ chồng nhạc sĩ Phạm Duy – Thái Hằng, vợ chồng ông Phạm Đình Sỹ – Kiều Hạnh (cha mẹ của Mai Hương), cùng với Hoài Bắc Phạm Đình Chương và Hoài Trung Phạm Đình ViêmMẹ của Mai Hương là nữ kịch sĩ kỳ cựu Kiều Hạnh, quê gốc ở Hà Nội, từng được Bộ trưởng bộ Thông tin VNCH đã trao tặng danh hiệu Nữ kịch sĩ xuất sắc nhất về Thoại kịch vào năm 1956.Ông Phạm Đình Sỹ là công chức thuộc ngành thuế nên được hoán đổi công tác nhiều nơi. Tại Đà Nẵng ông gặp và cưới bà Kiều Hạnh, 2 chị em Mai Hương và Bạch Tuyết lần lượt được sinh ra ở Đà Nẵng vào năm 1941 và 1943. Sau đó ông Sỹ chuyển công tác ra Huế công tác được một thời gian ngắn thì cách mạng bùng nổ, cả gia đình trở lên miền thượng du phía Việt, vùng Cao – Bắc – Lạng. Năm 1947, tại Lạng Sơn, ca sĩ Mai Hương có thêm người em trai tên là Phạm Lang Sơn.Đến năm 1951, gia đình ông Phạm Đình Sỹ mới trở về Hà Nội, cuối năm 1952 di cư vào Sài Gòn sống cho đến năm 1975.Tại Sài Gòn, ca sĩ Mai Hương theo học tiểu học ở trường đạo Thánh Linh tư thục, sau khi trường Nguyễn Bá Tòng được thành lập thì Mai Hương chuyển sang học khóa đầu tiên vào năm đệ lục. Đây đều là 2 trường đạo, nhưng Mai Hương cho biết bà không có đạo mà chỉ theo đạo thờ ông bà.Ông Phạm Đình Sỹ tiếp tục là công chức ở Sài Gòn, còn bà Kiều Hạnh là gương mặt thường xuyên trên các sân khấu kịch, tham gia ban kịch vô tuyến Quốc gia trên đài phát thanh Pháp Á.Tuy có mẹ là nữ kịch sĩ nổi tiếng, nhưng ca sĩ Mai Hương không theo nghề của mẹ, mà lại ảnh hưởng nhiều hơn từ cô chú ruột và có năng khiếu về tân nhạc từ nhỏ. Khoảng năm 1954, Mai Hương được cô là danh ca Thái Thanh khuyến khích tham gia cuộc thi tuyển lựa ca sĩ của đài phát thanh Pháp Á tổ chức. “Lúc đó tôi được cô ruột là cô Thái Thanh khuyến khích ghi tên vào chương trình thi tuyển lựa tài tử dưới thời ông giám đốc đài phát thanh Pháp Á chương trình Tiếng Việt là ông Hoàng Cao Tăng, hát bài Chú Cuội của Phạm Duy. Vào đến chung kết mà qua 4 thời kỳ như vậy là cũng không phải dễ. Qua thời kỳ thi tuyển, tôi trúng tuyển ngay. Tuần tự như vậy vào chung kết, cô Thái Thanh tập cho bài Xuân và Tuổi Trẻ của nhạc sĩ La Hối, lời Thế Lữ. Tất cả mọi người ngồi ban giám khảo nói rằng một con bé 12 tuổi hát bài ấy là quá khó, thế là chấm đậu luôn.” (Mai Hương chia sẻ trên đài RFA)Cũng trong thời gian đó, đài Pháp Á thành lập Thiếu sinh nhi đồng được danh ca Minh Trang phụ trách. Lúc ấy Minh Trang vừa hát, vừa là xướng ngôn viên tiếng Pháp cho đài Pháp Á bận rộn không có nhiều thời gian, nên ngỏ ý nhờ vợ chồng bà Kiều Hạnh phụ trách giúp. Từ ban thiếu nhi tên là Thiếu sinh nhi đồng, ban đầu có vài thành viên ít ỏi là Mai Hương, Đào Nguyệt Ánh, Anh Minh (con trai của Minh Trang), sau khi được Kiều Hạnh phụ trách thì ban này đổi thành ban Tuổi Xanh để mở rộng hơn độ tuổi, nhận thêm nhiều thành viên nổi tiếng, như là chị em Bích Chiêu, Tuấn Ngọc vừa xuống từ Đà Lạt, sau đó có thêm những thành viên mượn từ ban Việt Nhi là Hoàng Oanh, Phương Hoài Tâm,… và Quốc Dũng (sau này là nhạc sĩ).Vì Mai Hương là thế hệ đầu tiên của Ban Tuổi Xanh, lại lớn tuổi nhất nên phụ mẹ hướng dẫn, luyện hát cho các em mỗi khi chuẩn bị lên hát ở các đài phát thanh, truyền hình.Hai chị em Mai Hương – Bạch TuyếtCó 2 nhạc sĩ đã giúp bà Kiều Hạnh phần ban nhạc mỗi khi thu thanh, đó là Võ Đức Tuyết và Hoàng Lang, là những người có ban nhạc riêng, thường phụ trách nhạc trên đài phát thanh. Hai ông nhạc sĩ biết Mai Hương từ nhỏ, sớm nhận ra tài năng của cô gái mới 15-16 tuổi nên giới thiệu sang hát cùng ban người lớn trên đài phát thanh. Nhờ tham gia các ban nhạc của Võ Đức Tuyết và Hoàng Lang cùng với những tên tuổi thượng thặng của nền tân nhạc lúc đó là Anh Ngọc, Duy Trác, Nhật Bằng, Kim Tước, Mộc Lan, Châu Hà…, ca sĩ Mai Hương bắt đầu được biết đến nhiều hơn, được các trưởng ban nhạc để ý đến, lần lượt xuất hiện trong nhiều ban khác, như Tiếng Nhạc Tâm Tình của Anh Ngọc, ban Phương Hoa của Vũ Thành, ban Hương Quê của Hoàng Trọng…Mai Hương cùng các danh ca khác đang hát trên đài phát thanh: Thái Thanh, Kim Tước, Anh Ngọc, Nhật TrườngSong song với thời gian cộng tác với các chương trình ca nhạc nhi đồng, rồi các ban người lớn, ngoài việc học ở trường Nguyễn Bá Tòng thì Mai Hương theo trường Quốc Gia Âm Nhạc được khoảng 3 năm, dưới sự hướng dẫn của những giáo sư tên tuổi: học violon với thầy Nhiên, ký âm pháp với thầy Nguyễn Cầu, đàn tranh với thầy Nguyễn Hữu Ba và hợp xướng với thầy Hải Linh. Vì bận thi tú tài 1 nên phải bỏ dở dang việc học nhạc ở trường Quốc Gia Âm Nhạc, tuy nhiên Mai Hương cũng đã lĩnh hội được căn bản vững vàng về nhạc lý để dễ dàng hát cùng các ban nhạc trên đài phát thanh.Mai Hương được hầu hết đồng nghiệp nhận xét là nắm rất vững nhạc lý, nên khi vào hát trong đài phát thanh ngay từ khi còn rất trẻ, bà có thể cầm tờ nhạc lên là có thế hát ngay được và phối hợp rất ăn ý với ban nhạc, chứ không cần phải tập dượt trước như nhiều ca sĩ khác.Dù là một giọng ca nổi tiếng và được đánh giá cao, nhưng khi còn ở Việt Nam, bà ít khi xuất hiện trước khán giả, hầu như không đi hát ở vũ trường, vì theo bà, muốn nghe nhạc với lời hay ý đẹp, không nên nghe lúc khiêu vũ để tập trung vào tinh thần của nhạc phẩm. Chỉ có lần duy nhất Mai Hương hát ở phòng trà, đó là vì nể lời mời của Khánh Ly vào năm 1970, bà ký hợp đồng 6 tháng để hát ở phòng trà Tự Do.Tên tuổi Mai Hương được biết đến nhiều chủ yếu là từ các chương trình phát thanh và truyền hình. Ngoài đài phát thanh Pháp Á và Đài Phát Thanh Sài Gòn, bà còn hát trên những đài Quân Đội và Tiếng Nói Tự Do, đài Truyền Hình Việt Nam, cộng tác với hầu hết những chương trình ca nhạc nổi tiếng vào thời đó với các trưởng ban như Nghiêm Phú Phi, Nguyễn Quí Lãm, Võ Đức Tuyết, Y Vân, Hoàng Trọng, Vũ Thành…Mai Hương từng tâm sự: “Khán thính giả của tôi đại đa số là người lớn tuổi. Đó là điều dĩ nhiên vì giọng hát của mình là giọng hát cũ, bài hát mình cũng là bài hát cũ thì đương nhiên đối tượng của mình cũng phải là lớp khán giả đó, lớn tuổi và yêu loại nhạc tiền chiến”.Ca sĩ Mai Hương lập gia đình với một công chức tùng sự tại Nha Hàng Không Dân Sự. Bà từng cho biết là chỉ quen biết chồng (ông Trương Dục) được 3 tháng trước khi tổ chức lễ thành hôn tại nhà hàng Đồng Khánh vào ngày 17 tháng 9 năm 1961.Nhà anh chị của ông Trương Dục trong cùng một con hẻm với nhà Mai Hương trên đường Bùi Thị Xuân ở Quận 1 – Sài Gòn, họ chỉ thấy mặt chứ chưa hề nói chuyện với nhau bao giờ. Mai Hương cho biết cuộc hôn nhân của bà đều đến từ sự xếp đặt của gia đình mà không phải đến từ tình yêu thật sự.Nhưng sau tròn 60 năm chung sống, Mai Hương đã hoàn toàn tìm được hạnh phúc trọn vẹn bên chồng và 4 người con, gồm 1 trai và 3 gái. Không có ai trong số 4 người con của họ đi theo con đường của mẹ.Mai Hương cùng 2 người chú ruột: Hoài Trung và Hoài BắcMai Hương cùng chồng và 4 con rời Việt Nam vào ngày 22 tháng 4 năm 1975. Sau một tuần ở đảo Guam, cả gia đình sang thẳng Nam California, tạm trú tại trại Pendleton một thời gian ngắn trước khi bắt đầu một cuộc sống mới trên xứ người. Chỉ một năm sau, Mai Hương đã được mời đi hát ở thành phố New Orleans.Cũng trong năm 1976, Mai Hương đã được mời hát tại thành phố Seattle với những nhạc phẩm gắn liền với cô trước 1975 là “Giòng Sông Xanh” và “Giấc Mơ Hồi Hương”…Vào năm 1980, băng nhạc đầu tiên của Mai Hương được phát hành tại hải ngoại mang tựa đề “Giấc Mơ Hồi Hương” do Trung Tâm Trường Hải thực hiện, một thời gian sau thì băng nhạc này được trung tâm Tú Quỳnh đưa vào CD, cho đến nay vẫn được nhiều người đặt mua. Tổng cộng đã có tất cả trên 10 CD với tiếng hát của Mai Hương đã được phát hành, trong số đó có CD “Tìm Nhau Bốn Mùa” được bà hát chung với Kim Tước và Quỳnh Giao, là 2 người bạn thân từng hát chung với nhau trên rất nhiều chương trình phát thanh và truyền hình tại Sài Gòn.Ngoài ra CD mang tựa đề “Tìm Nhau Bốn Mùa” này còn có sự cộng tác đặc biệt của nam ca sĩ Duy Trác. Đa số những nhạc phẩm Mai Hương trình bầy trong những CD này là những nhạc phẩm tiền chiến. Bà chia sẻ: “Tôi cảm thấy cái giọng của tôi thích hợp với nhạc tiền chiến, tôi lại yêu thích nhạc tiền chiến và các nhạc sĩ tiền chiến thành ra mình cảm thấy hợp thì mình hay hát”.Đó cũng là thời gian mà Mai Hương – Kim Tước – Quỳnh Giao đã hợp lại thành ban Tam ca Tiếng Tơ Đồng hải ngoại, gợi nhớ lại ban Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng nổi tiếng trước 1975.Vào những năm cuối đời, cuộc sống êm đềm của Mai Hương cứ thế trôi qua trong những ngày hạnh phúc bên cạnh người bạn trăm năm trên vùng đồi Rowland Heights thơ mộng, là nơi bà tìm được sự thanh thảnh cho tâm hồn với những sinh hoạt bình thường của một ngày trong cuộc sống.Đại gia đình ca sĩ Mai HươngSau 60 năm sống hạnh phúc bên nhau, đôi vợ chồng Mai Hương – Trương Dục có thể được coi là một trong những cặp vợ chồng nghệ sĩ sống bền bỉ với nhau nhất. Một ngày cuối tháng 11 năm 2020, Mai Hương đã giã từ người thân để ra đi ở tuổi 79.

nhacxua.vn biên soạn


Ca Sĩ Cao Thái sống với hiện tại


CA SI CAO THA1

                                                   

                                                                « Ma vie »

                                                                 Mexico

https://www.youtube.com/watch?v=fa0n1YxCRIA

                                                  Lời Cuối Cho Em – Ngày ấy

https://www.youtube.com/watch?v=2_4KtM9RaHY

                                                  Lời Cuối Cho Em – Bây giờ

Ca được trên 10 thứ tiếng

Dù đã ở tuổi bát tuần, nhưng ông vẫn còn nhanh nhẹn, giọng ca vẫn khỏe. Giọng tenor đặc biệt với bản nhạc đã gắn liền với tên tuổi ông, hẳn giới thưởng ngoạn không thể nào quên một ca sĩ đã để lại nhiều ấn tượng qua phong cách trình diễn thoải mái, thái độ thân mật, gần gũi với thính giả và nhất là tính vui vẻ, yêu đời của ông : Cao Thái.

Sinh ngày 12 tháng 9 năm 1930 trong một gia đình khá giả, là con thứ sáu trong 9 người con của hai họ Cao-Bùi. Cao Thái Nghiệp Vincent thừa hưởng giọng hát từ người Mẹ là bà Bùi Kim Tiền, một thiếu nữ xinh đẹp, tài giỏi của sông nước Bến Tre.

Nhờ gia đình khá giả, ông đi du học ở Pháp năm 1950 về ngành kỹ sư công chánh, nhưng có lẽ tiếng đàn hát từ những hộp đêm trên đường phố Paris đã quyến rũ ông nhiều hơn lời thầy trên bục giảng nên ông đã lén gia đình bỏ học, đi hát trong những quán bar. Ông dự thi nhiều cuộc thi tuyển, cuộc thi nào ông cũng đứng nhất mà đỉnh điểm là giải nhất Casino de Deauville năm 1954, đánh dấu một bước ngoặc trong cuộc đời : cậu sinh viên Cao Thái Nghiệp đã chính thức trở thành ca sĩ Cao Thái.

Được Huy chương Văn hóa Pháp năm 1987, với hơn 50 năm ca hát, ca sĩ Cao Thái nổi tiếng trên sân khấu quốc tế, nhưng ngược lại, giới trẻ VN lại ít biết đến ông. Có lẽ bởi ông thường trình diễn trên các sân khấu do người nước ngoài tổ chức. Ông thường hát nhạc ngoại quốc, loại nhạc vui, sôi động. Nhắc đến Cao Thái, người ta không thể không nhắc đến bản nhạc đã song hành với tên tuổi ông : bản Mexico mà ông đã tự luyến láy, giữ giọng ngân dài để tạo nên nét đặc thù riêng của Cao Thái trong bản nhạc này mà cho đến nay chưa ai thay thế được. Ở tuổi 82, Vẫn cung cách dí dỏm, thân mật, ông kể lại cơ hội tình cờ đã đưa ông và bản nhạc này gắn bó với nhau để trở thành biệt danh « Cao Thái Mexico »  hi ông trở về Sài Gòn lần đầu tiên năm 1959:

Đúng ra là vầy, hồi đó anh cũng không hát bài đó bên Tây nữa, anh hát mấy bài khác. Khi về Việt Nam, anh hát mấy bài như Mississippi. Bữa đầu anh hát cho ông dược sĩ gì đó tổ chức ở rạp Olympic, mới lần thứ nhất anh về thì có đứa con gái của ông đờn cho anh hát, anh ở bên Tây về, thì anh hát 1 cách tự nhiên, cười giỡn… đối với VN là lạ , anh hát kiểu bên Tây mà, rất “à laise” (thoải mái).

Nhiều người nói “anh Thái anh biết bài Mexico không ? ở đây có Đức Huỳnh hát người ta thích lắm.” A, bài Mexico hả ? được, muốn hát tôi hát, cái rồi anh hát……Mexiiiiiiiiicoooooooo….mình kéo đó ! Bữa đó anh thấy khán giả khoái nên anh kéo hơi dài một chút. Khán giả vỗ tay, anh biết rồi! khán giả thích kéo dài. Anh kéo thêm cái nữa…vỗ tay, vỗ tay….kéo 3,4 lần vẫn còn vỗ tay, từ đó anh nổi tiếng với bài đó luôn!

Ca sĩ Cao Thái đã thu hút giới trẻ VN lúc bấy giờ làm quen với nhạc ngoại quốc bằng phong cách trình diễn thoải mái, chọn những bản nhạc vui nhộn và nhất là biệt tài ca được trên 10 thứ tiếng của ông đã đem lại một sinh khí mới trong giới thưởng ngoạn âm nhạc thời đó. Đó cũng là cách để ông gây cảm tình với khán giả khi ông đi trình diễn ở một quốc gia nào đó. Ông nói: Ca sĩ Cao Thái tại Paris tháng 9/2012. RFA files Ca sĩ Cao Thái tại Paris tháng 9/2012. RFA files Cứ mỗi 1 xứ mình học 1 hoặc 2 bài thôi, mình đi tới đâu trình diễn thì mình ca bài của tiếng xứ đó, gây cảm tình liền, mình hát họ khoái quá xá…

Và rất tự nhiên, ông hát 2 đoạn nhạc bằng tiếng Thái và tiếng Nhật Bản.

Thừa hưởng sự nhân ái từ gia đình, ca sĩ Cao Thái – anh của sư cô Chân Không Cao Ngọc Phượng – trong thập niên 80 cũng đã đi khắp các trại tị nạn ở Thái Lan, Mã Lai, Hồng Kông để mang quà cho người tị nạn và giúp người tị nạn mang thư về cho thân nhân, ông kể lại một chuyện mà ông không thể nào quên trong giai đoạn này:

Người ta viết thơ xin cầu cứu, tụi nó chặn thơ lấy cò (tem) nó vất mấy cái thơ, nó gỡ cò nên không có thơ nào tới, nên có anh qua họ mừng quá, họ nhét thơ cho anh, vì có anh thì họ không cần gửi cò, thư mà nặng phải để cò nhiều lắm. Nó chận lại gỡ cò bán lấy tiền. Tội nghiệp dân tị nạn…

Và dĩ nhiên, ca sĩ Cao Thái cũng lại đem niềm vui đến cho người dân trên đảo bằng những ca khúc vui nhộn, dí dỏm để họ tạm quên nỗi buồn của đời tị nạn:

Chiều này trời sao đẹp thay, vậy mà sao tôi chẳng thấy có ai. Mặt thon, người xinh lại có nụ cười làm tôi si tình, làm ấm cho tinh thần tôi, làm mát cho tinh thần tôi, làm chói cho tinh thần tôi, làm sáng cho tinh thần tôi…Người đẹp ơi đừng nên cười tôi, và ngày nay nàng nên ngắm tôi, rồi chẳng may chẳng ai nhìn cô thì cô…..mà nên ngó tôi, làm ấm cho tinh thần tôi, làm mát cho tinh thần tôi, làm chói cho tinh thần tôi, làm sáng cho tinh thần tôi, làm ấm, ấm…làm mát mát, làm chói chói, làm sáng sáng….

Tài đoán ngày tháng

Ca hát là sự nghiệp chính, nhưng ca sĩ Cao Thái còn có một biệt tài đoán được ngày thứ mấy trong một thời gian kỷ lục. Chỉ cần nói ngày tháng năm, ông sẽ đoán được đó là ngày thứ mấy trong tích tắc. Năm 1976, ông đã phát minh là loại lịch vạn niên này, cách đoán ngày nhanh chóng một cách chính xác được ông dùng trong các buổi trình diễn hay gặp gỡ bạn bè như một trò chơi để giúp vui chứ không phải để kiếm tiền. Ngược lại, ông đã đưa ra giải thưởng “Cuộc hẹn thế kỷ” hứa tặng 1 vé du lịch vòng quanh thế giới cho bất cứ ai nếu ông đoán sai ngày mà người đó đưa ra. Giải thưởng này, cho tới nay chưa có ai nhận. Ca sĩ Cao Thái kể:

….Ngày mai kỷ niệm 10 năm tờ báo Viễn Đông, anh đến giúp dùm tụi em. Ca sĩ 1,2 người ca… Anh nói: Bây giờ tới phiên tôi thì…hôm nay tôi không được khỏe lắm, ca thì anh nhạc sĩ này không biết mấy bài của tôi đâu. Quý vị đừng lo, tôi có cách giúp vui quý vị, tôi có phát minh ra cách tính nhanh lắm. Tôi đưa quý vị hai cuốn sổ trăm năm, quý vị nói thử, tôi trả lời, thấy trả lời trúng hết, trúng hết. Họ lấy làm lạ. Anh mới hứng, nói là: Quý vị đừng cho tôi khoe, tại vì tôi phát minh nên tôi chắc chắn đến như vậy. Bây giờ tôi mời vài ba vị lại đây, nếu trật tôi mời đi vòng quanh thế giới chơi. Mấy người bạn nói: sao anh nói vậy, rủi trật thì sao ?

Mỗi lần tôi vô nghĩa địa tôi thấy uổng cuộc đời của mấy người đẹp, tôi nhìn thất, ủa? cô này sinh chúa nhật mà chết cũng chúa nhật ! còn cô này sinh thứ hai, chết cũng thứ hai ! cô này sinh thứ tư mà chết thứ bảy, mình thấy liền vậy đó. Một ngày cả mấy trăm năm, cả ngàn năm, tôi nhìn là tôi biết thứ mấy!”

Ca sĩ Cao Thái trò chuyện cùng phóng viên Tường An hôm 29/8/2012. RFA Files Ca sĩ Cao Thái trò chuyện cùng phóng viên Tường An hôm 29/8/2012. RFA Files Kể từ năm 2008, ông về VN, ở đó gần 5 năm, trong khoảng thời gian này, ông theo các nhóm xã hội đi đến các làng nghèo khổ, tật nguyền để giúp vui. Dùng tiếng ca và Thiền học để gửi gấm đến người dân nghèo phương pháp dùng chánh niệm để sống vui trong sự thiếu thốn về vật chất nhưng làm giàu đời sống tinh thần bằng sự ý thức từng giây phút trong hơi thở, trong bước đi. Theo ông, đừng bận tâm về quá khứ hay lo lắng về tương lai mà phải ý thức từng giây phút của hiện tại. Vì tương lai chỉ có thể tốt đẹp nếu biết đầu tư vào hiện tại.

Nghe chỗ nào nghèo quá thì họ đem bác sĩ, dược sĩ tới để trị bệnh, có quà nữa, 200 quà, 300 quà, 400 quà thì phát… Anh lại, anh nói, khoan phát quà… để tôi giúp vui một chút. Đức Phật có dạy, quá khứ đã qua rồi, còn tương lai chưa tới mà mình đừng có kẹt vô quá khứ hay bận tâm vô tương lai vì tương lai nào cũng làm bằng hiện tại. Hiện tại mà không làm việc làm sao có tương lai.

Hiện tại mà quý vị không trồng xoài, sầu riêng, thì làm sao quý vị có xoài, sầu riêng. Thì người ta cũng vậy, sống phải biết sống giờ phút hiện tại, sống cho xứng đáng. Nếu giờ phút hiện tại, mình không biết sống thì có khi suốt cuộc đời mình 80-90 tuổi mà cũng không biết sống 1 giây phút nào hết. Sống liền cho hiện tại, Sống ngày thẳng theo nhà Phật dạy là plein de consience (tỉnh thức) Cái đầu mình ở đây mình biết mình đang làm gì. Phần đông ở đây họ nghèo không hà! Thành ra anh đọc bài thơ của anh đặt:

“ Giận ai giận dữ làm chi,

Uống ly nước lạnh tức thì bớt ngay

Rồi đây mình thấy không sai,

Người mà mình giận, chẳng ai ngoài mình”

Nếu quý vị giận thì nhớ bài thơ của tôi, giận là lỗ chứ không lời”

Tuy nhiên Cao Thái sẽ không là Cao Thái nếu chỉ tặng quà hay giảng về đạo mà không đem đến nụ cười cho mọi người. Lúc này, những bài hát vui của ông cũng đã mang âm hưởng Thiền học. Không thể giúp hết mọi người về vật chất, nhưng ông mang đến cho họ nụ cười và niềm tin vui sống:

Ha..ha…ha…sanh tử không làm gì ta…Ta không sanh, không chết, không bệnh không già…Ta thênh thang, ta là chân nhân giải thoát…hahaha…sanh tử không làm gì ta…hahaha…..Rồi…anh cười..nói: bây giờ tôi đếm 2,3 nha, quý vị cười với tôi nha…chổ này cười mà chỗ kia chưa cười thì không được. 2,3 phải cười một lượt mới được… Anh cười cái họ cười luôn. Quý vị mà cười như vậy, tử thần có đi ngang muốn bắt ai cũng nói, thôi đi chơi chỗ khác, mấy người này không ai sợ chết hết”

Khi được hỏi ở tuổi 82, Ca sĩ Cao Thái còn dự định gì không ? trong căn phòng nhỏ ngập tràn những hình ảnh một thời vang bóng, ông trầm ngâm:

Ở tuổi này thì anh không còn dự định gì, có điều anh muốn truyền lại cái lịch (vạn niên) đó . Anh mới dự định thôi, anh sẽ chỉ những người nào có tâm đạo. Bởi vì anh nghĩ đó cũng là 1 nghề tay trái. Khi nào giỏi có thể kiếm tiền dễ dàng. Nhưng anh dặn: nếu học tôi kiếm được tiền thì để một phần giúp đỡ những người nghèo, vậy thôi. Ý anh muốn vậy, mộng anh là vậy!


https://www-rfa-org.cdn.
__._,_.___

Attachment(s) from Kim Vo | View attachments on the web

1 of 1 Photo(s)

Trúc Linh : Ca sĩ Kim Anh: ‘Vinh quang tột cùng, đau khổ cũng tột cùng’

Kim Anh cho biết CD « Mùa Thu Lá Bay » thu âm năm 1982 đã đưa chị lên đỉnh vinh quang. (Hình: Facebook Kim Anh)

Trúc Linh/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Khi nhắc đến ca sĩ Kim Anh người ta nhớ ngay đến bài hát “Mùa Thu Lá Bay,” nhạc phẩm từng làm nên tên tuổi của nữ ca sĩ này.

Những năm 1983 – 1985, Kim Anh được xem là “bà hoàng” tại các sân khấu ca nhạc hải ngoại. Nhưng theo nữ ca sĩ, cuộc đời chị lại là “vinh quang tột cùng và cũng đau khổ tột cùng, chứ không có khoảng giữa”.

Giọng ca trời phú đưa chị lên đỉnh vinh quang nhưng điều gì đã đẩy chị vào “tột cùng đau khổ”?

Lên ngôi “bà hoàng” nhờ “Mùa Thu Lá Bay” 

Kim Anh đi hát và nổi tiếng từ những năm 1975, nhưng thời đó chị chỉ hát tiếng Anh và tiếng Hoa, vì chị là người gốc Hoa, không giỏi tiếng Việt. Năm 1982, vì muốn thực hiện ước nguyện của ba là thu âm một bài hát tiếng Việt tặng ba, mà chị bắt buộc phải thu đến 11 bài.

“Lúc đó công nghệ chưa phát triển, không thể ‘cắt’ CD nên ca sĩ nào cũng bắt buộc phải thu 12 bài mới đủ cuốn CD. Kim Anh lúc đó đâu biết hát tiếng Việt nên nhờ người phiên âm dùm rồi học thuộc lòng. Kim Anh có than với anh Elvis Phương là 12 bài nhiều quá, Kim Anh không học được hết. Anh Phương bảo không hát được thì kể chuyện hay nói gì đó cho đủ thời gian, chứ không thể cắt CD. Cuối cùng đến ngày thu, Kim Anh học được 11 bài, phần còn lại của CD là dẫn chuyện”, ca sĩ Kim Anh kể lại.

Theo lời chị, CD lúc đó không thể in vài trăm đĩa mà bắt buộc phải in 1,000 bản. Chị không biết làm gì cho hết nên gửi bưu điện tặng Hội Đồng Hương ở khắp các tiểu bang khác trên nước Mỹ. Nhưng gửi khắp nơi mà vẫn còn dư 600 CD nên chị đích thân đi “chào hàng” ở một vài cửa hàng băng đĩa ở San Jose, nơi chị sống lúc bấy giờ.

Không ngờ CD của chị được người yêu nhạc khắp nơi đón nhận nồng nhiệt. Từ đó, tên tuổi chị vụt lên thành “sao”.

Ca sĩ Kim Anh của ngày trẻ, trước khi bị tai nạn xe năm 1972. (Hình: Facebook Kim Anh)

“Từ năm 1983 đến 1985, có thể nói là thời hoàng kim của Kim Anh. Tiền tài, danh vọng cứ ào ào đến. Kiếm được rất nhiều tiền nhưng xài hết, bởi tính tình quá rộng rãi, tiệc tùng, ăn xài gì với người thân, bạn bè Kim Anh cũng bao hết. Một phần nữa là ma túy và rượu. Kim Anh nghiện ma túy, càng lúc càng nặng ‘đô’. Rượu cũng vậy. Người ta đi hát vài năm là mua được nhà, còn Kim Anh, thậm chí còn thiếu nợ tiền rượu”, chị nhớ lại.

Tiền tài, danh vọng, hào quang của ánh đèn sân khấu khiến Kim Anh ngập chìm trong tiệc tùng, ma túy, rượu. Lúc bấy giờ, con trai lớn của chị được 13 tuổi. Nhiều lúc nghĩ đến con, chị muốn tránh xa những cám dỗ này, đặc biệt là ma túy nhưng chị không làm được, bởi quá nhiều sự mời gọi, mà theo cách nói của chị là “mỡ đưa đến miệng, làm sao mèo từ chối”.

Tai nạn xe dẫn đến con đường nghiện ngập

Trở lại năm 1978, lúc bấy giờ Kim Anh chưa phải là tên tuổi “ăn khách” trong cộng đồng người Việt ở Mỹ. Trong một đêm tuyết rơi dày đặc của mùa đông năm 1978 ở New York, trên đường đi trình diễn về, chị bị tai nạn “thảm khốc”. Kim Anh và hai người nữa trên xe đều bị thương nghiêm trọng. Chị bị gãy tay, chân, lưng, mặt mũi biến dạng, lưỡi dập nát, hàng trăm mảnh vỡ kính xe cắt vào mặt, đâm vào mắt…

Tai nạn năm đó khiến cuộc đời Kim Anh gắn với bệnh viện và xe lăn hơn 4 năm, với những cơn đau hành hạ thể thể xác khủng khiếp ngày đêm. Từ đó, chị làm quen với ma túy. Cũng như những người nghiện ma túy khác, ban đầu chỉ là một liều rất nhỏ, nhưng rồi “đô” tăng dần theo thời gian.

Ca sĩ Kim Anh nói, chị phục hồi sau tai nạn tưởng chừng đã chết hoặc tàn phế suốt đời là một điều kỳ diệu. (Hình: Facebook Kim Anh)

Thương tích dẫu phục hồi nhưng khuôn mặt chị không thể trở về như trước kia, giọng nói cũng ngọng nghịu. Thế nhưng một điều kỳ lạ là giọng hát vẫn còn vẹn nguyên. Trong thời gian vẫn còn phải điều trị, tập vật lý trị liệu và vẫn còn ngồi xe lăn, Kim Anh cho biết chị bướng bỉnh, không chịu nghe lời bác sĩ, đi hát. Có lần khi đang hát, những vết may ở cằm bị rách, lại vào bệnh viện.

Cứ thế cho đến khoảng năm 1982, chị mới tạm gọi là phục hồi. Năm này Kim Anh phát hành CD “Mùa Thu Lá Bay” và tên tuổi chị vụt nổi tiếng. Lúc đó, các danh ca cùng thời chưa định ở Mỹ nên một mình Kim Anh gần như thống lĩnh hết các sân khấu ca nhạc của người Việt ở California lúc bấy giờ.

“Đến năm 1985, Kim Anh nghiện ma túy nặng. Lúc này con trai lớn đã được 13 tuổi. Một ngày Kim Anh nhận ra mình không thể chết để con lại bơ vơ trong cuộc đời này, mà nếu có chết, cũng phải chết sao cho đẹp đẽ chứ không phải hình ảnh khủng khiếp của người chết vì ma túy, nên Kim Anh quyết tâm cai nghiện”, giọng chị chùng xuống.

Trong một lần sang Pháp trình diễn, Kim Anh quyết định ở lại để trốn khỏi bạn bè, môi trường quen thuộc mà chị được coi như “bà hoàng” ở Mỹ. May mắn chị được người quen cho ở nhờ trong một ngôi nhà dành cho người trong coi nghĩa trang, nằm sâu trong khuôn viên nghĩa trang, hoàn toàn tách biệt với cuộc sống bên ngoài.

“Kim Anh quyết tâm cai nghiện cho bằng được nên ngày đầu tiên đến căn nhà đó, Kim Anh đem cả thau ma túy đổ vào toilet mà khóc như mưa. Số ma túy đó, một ít được mang theo từ Mỹ, số còn lại được người quen ở Pháp cho. Người ta cai ma túy là giảm liều từ từ, rồi mới ngưng hẳn, còn Kim Anh đột ngột ngưng luôn. Mỗi khi lên cơn khủng khiếp lắm. Kim Anh không nhớ được hết nhưng bà chủ ngôi nhà ấy kể lại, nhiều lần tưởng chừng như Kim Anh sẽ chết. Bà chủ rất thương và giúp đỡ Kim Anh rất nhiều”, ca sĩ Kim Anh kể lại.

Nhờ tách biệt với cuộc sống bên ngoài, không gặp gỡ bạn bè hay bất kỳ ai khác và với quyết tâm làm lại đời mình, sau một thời gian tự chiến đấu với bản thân, với những lúc lên cơn vật vã tưởng chừng sẽ chết, ca sĩ Kim Anh cuối cùng đã cai nghiện thành công.

Người bên cạnh giúp đỡ Kim Anh trong suốt thời gian cai nghiện, giúp những lúc lên cơn, Kim Anh đập phá, cào cấu, hủy hoại cơ thể mình, chính là bà chủ căn nhà ấy.

Ở “ẩn” cai ma túy, gặp người đàn ông thứ hai

Nhân duyên cho chị gặp người phụ nữ tốt bụng ấy, ở trong căn nhà ấy, dẫn đến nhân duyên chị gặp con trai của bà ấy. Khi chị mang thai, vợ chồng người phụ nữ ấy (cho đến bây giờ chị vẫn quen gọi là “bà chủ”) tổ chức tiệc linh đình, mời gần hết người Việt sống ở quận 13 đến dự và tuyên bố Kim Anh là con dâu của gia đình.

Nhưng rồi sau đó, chỉ vì một câu nói của người con trai của bà chủ, tỏ ý nghi ngờ cái thai trong bụng Kim Anh vì “nghệ sĩ thường đa tình”, ngay ngày hôm sau, Kim Anh bỏ hết, mua vé máy bay về Mỹ.

Ca sĩ Kim Anh của ngày hôm nay có cuộc sống bình dị, hay đi chùa và giúp người khác. (Hình: Trúc Linh/Người Việt)

Ngày chị sinh con, bà chủ bay sang Mỹ chăm sóc chị. Đó là năm 1987. Khi cháu bé được 5 tháng, bà sang xin đưa cháu về Pháp. Rất đau lòng nhưng vì ơn nghĩa và vì bà chủ tha thiết mong có cháu trai, nên chị đồng ý.

Thế nhưng, con trai nhớ mẹ, suốt ngày cứ khóc đòi mẹ. Được khoảng 5 tháng, ‘bà chủ’ mang cháu nội sang trả lại cho Kim Anh. Từ đó, mẹ con chị cùng với con trai lớn ở với nhau cho đến khi các cháu lớn, đi học, đi làm rồi ở riêng.

Khi trở lại Mỹ năm 1987, Kim Anh vẫn đi hát đều đặn, vẫn tụ tập bạn bè, vẫn uống rượu nhưng tuyệt đối tránh xa ma túy. Có những buổi tiệc, bạn bè chơi ma túy, chị chỉ uống rượu hoặc bỏ về.

Chị nói, ma túy cai được nhưng rượu thì không. Mà thật ra chị cũng chưa từng thử bỏ rượu. Nhiều người nói uống rượu có hại cho sức khỏe nhưng chị thấy cho đến giờ sức khỏe của chị vẫn rất tốt. Đi khám tổng quát, bác sĩ cũng nói vậy.

Hai con trai giờ đã lớn, ở riêng, ca sĩ Kim Anh có cuộc sống bình yên với bạn bè. Chị hay đi hát ở chùa, chẳng những ở Little Saigon mà còn ở những tiểu bang khác, thậm chí bay về Việt Nam và cả ở Châu Âu.

Kim Anh cho hay, cuộc đời đã cho mình quá nhiều rồi, từng ở trên đỉnh vinh quang, từng nhận được quá nhiều thứ quý báu, không phải chỉ là giá trị vật chất mà còn giá trị về tinh thần.

“Kim Anh cho rằng nhờ ơn trên che chở nên Kim Anh mới phục hồi được gần như nguyên vẹn, không bị mất giọng hát, mặc dù hơi khó khăn khi nói chuyện, sau tai nạn hồi năm 1978 tưởng chừng đã chết hoặc nếu không thì cũng tàn phế suốt đời. Ngay cả chuyện cai nghiện ma túy thành công cũng vậy, ơn trên đã ban cho Kim Anh sức mạnh.’

Giọng ca “Mùa Thu Lá Bay” bộc bạch: “Bởi vậy, giờ đây Kim Anh không có ước mong gì cao sang, chỉ mong một cuộc đời bình yên, giản dị, thỉnh thoảng đi hát, đi chùa, giúp đỡ những người khó khăn trong khả năng của mình”. (Trúc Linh)


Liên lạc tác giả: nguyen.truclinh@nguoi-viet.com

https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/ca-si-kim-anh-vinh-quang-tot-cung-dau-kho-cung-tot-cung/?utm_source=Ng%C6%B0%E1%BB%9Di+Vi%E1%BB%87t+Newsletter&utm_campaign=dc8c730555-&utm_medium=email&utm_term=0_cf5f0a479c-dc8c730555-157443129