Auteur : tranquanghai130544

Liên Hoan Em Yêu Đàn Tranh lần 2 – 2019/ BẢNG B// NHỊP SỐNG TV

Liên Hoan Em Yêu Đàn Tranh lần 2 – 2019/ BẢNG B// NHỊP SỐNG TV

Nhịp sống TV (Life TV)
Ajoutée le 6 sept. 2019



Liên hoan « Em yêu đàn tranh » lần 2 năm 2019 dành cho các em thiếu nhi từ 6 đến 15 tuổi do Cung Văn hóa Lao động TP.HCM phối hợp với CLB Tiếng hát quê hương tổ chứC. – Kính gửi đến quý khán giả tuyển chọn một số phần thi ở Bảng B (11-15 tuổi)! « Cảm ơn các bạn đã ủng hộ và đón xem video của Nhịp Sống TV Nhấn like và Subcribe để theo dõi Clip mới nhất của kênh Nhịp Sống TV nhé: ♫ Web :https://nhipsongquehuong.com/ ♫ Facebook : facebook.com/nhipsongquehuong24h ♫ Đóng góp phụ đề: ————————– Liên hệ hỗ trợ, hợp tác: ►Email: trananhtuan064388@gmail.com/ sonnghiavnp@gmail.com Liên Hoan Em Yêu Đàn Tranh lần 2 – 2019/ BẢNG B// NHỊP SỐNG TV

Liên Hoan Em Yêu Đàn Tranh lần 2 năm 2019/ BẢNG A// NHỊP SỐNG TV

Liên Hoan Em Yêu Đàn Tranh lần 2 năm 2019/ BẢNG A// NHỊP SỐNG TV

Nhịp sống TV (Life TV)
Sortie le 1 sept. 2019



Liên hoan « Em yêu đàn tranh » lần 2 năm 2019 dành cho các em thiếu nhi từ 6 đến 15 tuổi do Cung Văn hóa Lao động TP.HCM phối hợp với CLB Tiếng hát quê hương tổ chứC. – Kính gửi đến quý khán giả phần thi ở Bảng A (6-10 tuổi)! « Cảm ơn các bạn đã ủng hộ và đón xem video của Nhịp Sống TV Nhấn like và Subcribe để theo dõi Clip mới nhất của kênh Nhịp Sống TV nhé: ♫ Web :https://nhipsongquehuong.com/ ♫ Facebook : ♫ Đóng góp phụ đề: ————————– Liên hệ hỗ trợ, hợp tác: ►Email: trananhtuan064388@gmail.com/ sonnghiavnp@gmail.com Liên Hoan Em Yêu Đàn Tranh lần 2 năm 2019/ BẢNG A// NHỊP SỐNG TV

BACH YEN & TRAN QUANG HAI , VIETNAM / DREAMS AND REALITY, concert at MUSEO DI ARTE ORIENTALE CHIOSSONE – ORE 21:00, FESTIVAL MUSICALE DEL MEDITERRANEO, GENOVA, ITALY, 14.09.2019

SABATO 14 SETTEMBRE 2019  DREAMS AND REALITY

BACH YEN & TRAN QUANG HAI , VIETNAM

MUSEO DI ARTE ORIENTALE CHIOSSONE – ORE 21:00

INFO: info@echoart.it

BACH YEN & TRAN QUANG HAI

Il viaggio della cantante BACH YEN, il cui nome significa « RONDINE BIANCA » , initzia nei locali di Saigon cantando in Vietnamita, in Francese, inglese, espagnolo, italiano ed ebraico. Nel 1965 la su vita professionale per 12 anni si posta in America e si chiude dopo aver cantato nella colonna sonora del film « The Green Berets » di John Wayne.

Via a Parigi, dove incontra TRAN QUANG HAI, maestro di instrumenti tradizionali vietnamiti, poliinstrumentista tra i massimi esperti di techniche vocali del mondo.

Insienne esegnono centa naia di recital e pubblicano sette album e cd.

TRAN QUANG HAI vienne de una famiglia di artisti de cinque generazioni e dal specializza al Centre of Studies for Oriental Music di Parigi e dove ha ottenuto la Legion d’Honneur per i suoi studi. Dal 1966 ha tenuto oltre 3.500 concerts e insegnato in 70 paesi. E’ stato maestro, tra gli altri, di Demetrio Stratos.

The journey of the singer BACH YEN, whose name means « RONDINE BIANCA », starts in the Saigon venues singing in Vietnamese, in French, English, Spanish, Italian and Hebrew. In 1965, her professional life for 12 years moved to America and ended after singing in the soundtrack to John Wayne’s « The Green Berets ».

Off to Paris, where she meets TRAN QUANG HAI, master of traditional Vietnamese instruments, instrumentalist among the greatest experts in vocal techniques in the world.

They have full of recitals and publish seven albums and CDs.

TRAN QUANG HAI came from a family of artists from five generations and was the specialist at the Center of Studies for Oriental Music in Paris and where he obtained the Legion d’Honneur for his studies. Since 1966 it has held over 3,500 concerts and taught in 70 countries. He was a teacher, among others, of Demetrio Stratos.

Somdet Phra Kanitthathiraj Department of HRH Princess Maha Chakri Sirindhorn HRH Princess Maha Chakri Sirindhorn Went to the 45th World Music Council International Conference/ HRH Princess Maha Chakri Sirindhorn of Thailand attended the 45th International Council for Traditional Music World Conference Opening Ceremony on Thursday 11th July 2019 at Chulalongkorn University.

สมเด็จพระกนิษฐาธิราชเจ้า กรมสมเด็จพระเทพรัตนราชสุดาฯ  สยามบรมราชกุมารีเสด็จฯ ไปในการประชุมวิชาการนานาชาติสภาดนตรีโลก ครั้งที่ 45

11 กรกฎาคม 2019 ภาพข่าว

เมื่อวันพฤหัสบดีที่ 11 กรกฎาคม 2562  เวลา 10.00  น. ณ หอประชุมจุฬาฯ สมเด็จพระกนิษฐาธิราชเจ้า กรมสมเด็จพระเทพรัตนราชสุดาฯ สยามบรมราชกุมารี เสด็จพระราชดำเนินไปในการประชุมวิชาการนานาชาติสภาดนตรีโลก (International Council for Traditional Music : ICTM) ครั้งที่ 45  โดยมี  ศ.ดร.พิรงรอง รามสูต รองอธิการบดีจุฬาฯ ทูลเกล้าฯ ถวายสูจิบัตร  ศ.ดร.บุษกร บิณฑสันต์ คณบดีคณะศิลปกรรมศาสตร์ จุฬาฯ ทูลเกล้าฯ ถวายของที่ระลึก ศ.ดร.บัณฑิต เอื้ออาภรณ์ อธิการบดีจุฬาฯ กราบบังคมทูลรายงาน

ในโอกาสนี้ ทอดพระเนตรการแสดงโขน ตอน พระรามรบทศกัณฑ์ และทรงฟังการนำเสนอเรื่อง “70 Years of ICTM” โดย Prof.Salwa Castelo-Branco, President of International Council of Traditional Music การนำเสนอเรื่อง “The Journey of 45th ICTM World Conference in Bangkok Thailand”  โดย ศ.ดร.บุษกร บิณฑสันต์ คณบดีคณะศิลปกรรมศาสตร์ จุฬาฯ และการแสดงปาฐกาเรื่อง “Transborder of Theories and Paradigm in Ethnomusicological Studies of Folk Music : Vision of Mohlum in Mainland Southeast Asia” โดย ผศ.เจริญชัย ชนไพโรจน์ วิทยาลัยดุริยางคศิลป์ มหาวิทยาลัยมหาสารคาม จากนั้นทอดพระเนตรการแสดงขับลำกลอน โดยหมอลำราตรีศรีวิไล บงสิทธิพร และหมอแคนโยธิกาศรีวิไล บงสิทธิพร และการฟ้อนเต้ย โดยนิสิตภาควิชานาฏยศิลป์ คณะศิลปกรรมศาสตร์ จุฬาฯ

จากนั้น สมเด็จพระกนิษฐาธิราชเจ้า กรมสมเด็จพระเทพรัตนราชสุดาฯ สยามบรมราชกุมารี เสด็จพระราชดำเนินไปยังอาคารมหาจุฬาลงกรณ์ ทรงวางพวงมาลัยถวายราชสักการะพระบรมฉายาลักษณ์พระบาทสมเด็จพระจุลจอมเกล้าเจ้าอยู่หัว และพระบาทสมเด็จพระมงกุฎเกล้าเจ้าอยู่หัว และเสด็จไปยังห้อง 114 ทรงฉายพระฉายาลักษณ์ร่วมกับคณะกรรมการจัดงาน

การประชุมวิชาการนานาชาติสภาดนตรีโลก จัดขึ้นโดยคณะศิลปกรรมศาสตร์ จุฬาฯ ร่วมกับสภาดนตรีโลก ระหว่างวันที่ 11 – 17 กรกฏาคม 2562 ณ หอประชุมจุฬาฯ คณะศิลปกรรมศาสตร์ หอแสดงดนตรี อาคารศิลปวัฒนธรรม และอาคารบรมราชกุมารี ทั้งนี้จุฬาลงกรณ์มหาวิทยาลัยนับเป็นมหาวิทยาลัยแห่งแรกในภูมิภาคเอเชียตะวันออกเฉียงใต้ ที่ได้รับเกียรติเป็นเจ้าภาพการจัดประชุมวิชาการสภาดนตรีโลก

https://www.chula.ac.th/news/21131/?fbclid=IwAR37l3ZSzrCR2Aozc1QWq2uAttWu8oXVLeEZLifs3Sf0Jve9B8BNP7IW0WE

News on Chula Website
HRH Princess Maha Chakri Sirindhorn of Thailand attended the 45th International Council for Traditional Music World Conference Opening Ceremony on Thursday 11th July 2019 at Chulalongkorn University.
https://www.chula.ac.th/news/21131/

Hà Tùng Long: Trình UNESCO vinh danh hát Then là di sản văn hoá nhân loại

Chia sẻ

Dân trí Văn phòng Chính phủ mới có văn bản về việc gửi Hồ sơ quốc gia “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” trình UNESCO xét ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Theo đó, Bộ VHTT&DL sẽ gửi hồ sơ “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” tới UNESCO trước ngày 31/3, để được dự xét trong năm 2018.

Từ bao đời nay, Then đã trở thành sinh hoạt văn hóa tâm linh của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở vùng núi phía Bắc Việt Nam. Theo các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian, loại hình nghệ thuật hát Then chỉ có ở 5 tỉnh là Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang.

Từ bao đời nay, Then đã trở thành sinh hoạt văn hóa tâm linh của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở vùng núi phía Bắc Việt Nam. Ảnh: TL.
Từ bao đời nay, Then đã trở thành sinh hoạt văn hóa tâm linh của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở vùng núi phía Bắc Việt Nam. Ảnh: TL.

Then là một loại hình nghệ thuật tổng hợp chứa nhiều thành tố ngữ văn, âm nhạc, mỹ thuật, múa, diễn xướng dân gian và có giá trị về lịch sử, văn hóa, xã hội. Đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái thường sử dụng hát Then vào những dịp trọng đại như hội làng, cầu đảo của từng gia đình, dòng họ vào dịp năm mới…

Theo các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian, hát Then xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI vào thời nhà Mạc chạy lên Cao Bằng và xây dựng thành quách ở đó.

Theo truyền thuyết, trong số quan lại của nhà Mạc có hai vị tên là Đế Phụng và Đế Đáng rất yêu âm nhạc và thích ca hát, họ đã chế tạo ra tính tẩu và lập ra hai tốp hát để phục vụ cung đình. Về sau dân chúng thấy hay nên bắt chước và được lưu truyền trong dân gian. Theo thời gian, hát Then – đàn tính được lan rộng ra các tỉnh miền núi phía Bắc và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái.

PGS.TS Nguyễn Bình Định – Viện trưởng Viện Âm nhạc, đơn vị đảm nhiệm lập hồ sơ di sản cho biết, trong việc xây dựng hồ sơ, UNESCO yêu cầu phía tham gia phải là người dân, cộng đồng. Vì thế, trong hồ sơ di sản Then có nhiều tỉnh tham gia thì điều cần thiết là tính liên kết cộng đồng. Nhưng từ trước đến nay, chưa có loại hình nghệ thuật nào của bà con các dân tộc vùng núi phía Bắc được công nhận danh hiệu di sản của UNESCO nên quá trình xây dựng gặp rất nhiều khó khăn.

Theo PGS Nguyễn Bình Định, với kinh nghiệm trước đây từng làm hồ sơ cho Ca trù, Đờn ca tài tử, Hát bài chòi… thì việc xây dựng hồ sơ cho Then có những thuận lợi là các thầy Then ở địa phương vẫn còn nhiều, các nghi lễ tín ngưỡng vẫn còn được thực hiện và một phần không kém quan trọng là hiện vật, sách Then bằng tiếng Tày – Hán vẫn còn được gìn giữ nhiều trong những gia đình có truyền thống làm thầy Then. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, nghi lễ Then không được thực hiện vì lý do mê tín đã rơi vào tình trạng trầm lắng, phải phục dựng lại.

Do vậy việc làm hồ sơ cho Then cũng gặp phải không ít khó khăn. Then tồn tại và phát triển ở địa bàn các tỉnh vùng núi phía Bắc, cho nên việc đi lại của các chuyên gia cũng không dễ dàng.

Trong hành trình hoàn thiện Hồ sơ cho “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” việc dịch lời các bài Then cũng là một trở ngại lớn. Đơn cử như người biết tiếng Tày cũng chưa chắc dịch được các bài hát hát Then. Bởi nhiều bài là tiếng cổ, cộng với phải hiểu biết, có kiến thức về tín ngưỡng, tâm linh, dân tộc thì mới dịch được.

“Vì thế, khi làm hồ sơ, chúng tôi đã yêu cầu mỗi tỉnh phải cung cấp một chuyên gia hiểu biết về Then dịch lời rồi mới chọn lọc đưa vào hồ sơ. Chúng tôi từng làm một lễ cấp sắc ở Bắc Cạn, phải dịch lời mất hai tháng mới xong”, PGS.TS Nguyễn Bình Định cho hay.

GS.TSKH Tô Ngọc Thanh nhận định: “Then là một không gian văn hóa dân tộc, một tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đa dạng, vừa phản ánh, miêu tả, vừa gửi gắm, nhắn nhủ những ngọt bùi, đắng cay của cuộc sống ông cha”.

Theo GS Tô Ngọc Thanh, nếu gạt bỏ những yếu tố mê tín đối với việc chữa bệnh thì Then là một không gian văn hóa dân tộc, một tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đa dạng. Ảnh: TL.
Theo GS Tô Ngọc Thanh, nếu gạt bỏ những yếu tố mê tín đối với việc chữa bệnh thì Then là một không gian văn hóa dân tộc, một tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đa dạng. Ảnh: TL.

Theo GS Tô Ngọc Thanh, trong việc nhìn nhận giá trị của thực hành Then cần có sự phân biệt rạch ròi giữa Then cổ và Then mới, giữa Then nghi lễ và Then văn nghệ, nhất là không thể dựa vào Then mới, Then văn nghệ với các lời đã được cải biên để bảo tồn Then cổ, Then nghi lễ.

“Nếu gạt bỏ những yếu tố mê tín đối với việc chữa bệnh mà ngày nay thực tế cũng không còn mấy ai tin thì Then là một không gian văn hóa dân tộc, một tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đa dạng, vừa phản ánh, vừa mô tả, vừa gửi gắm nhắn nhủ những đắng cay của cuộc sống của ông cha. Có thể tìm thấy trong Then không chỉ các thể thơ dân tộc, mà còn cả những biện pháp tu từ, ẩn dụ của nghệ thuật ngôn từ; những làn điệu của tầng dân ca, dân nhạc cổ xưa nhất, những điệu múa đã song hành với Then không biết bao nhiêu năm tháng”, GS Tô Ngọc Thanh nhấn mạnh.

Không những vậy, trong nhiều năm trở lại đây việc cải biên, phát triển các làn điệu Then rất được các nhạc sĩ người dân tộc thiểu số hết sức quan tâm. Những sáng tác đưa Then từ không gian nghi lễ đến không gian sân khấu, đem lại nhiều hứng thú cho không ít khán, thính giả.

Cùng với giá trị trong dân gian, kết hợp các Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái được tổ chức thường xuyên, nhằm nỗ lực thực hành Then trong cộng đồng, di sản Then của Việt Nam đang có nhiều cơ hội để trở thành di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Hà Tùng Long

https://dantri.com.vn/van-hoa/trinh-unesco-vinh-danh-hat-then-la-di-san-van-hoa-nhan-loai-20170327102051965.htm

JOHN CLEWLEY : A Global Meeting for Music Buffs / 45th ICTM world conference in Bangkok, Thailand , from 11-17 july 2019

Life Arts & Entertainment

A global meeting for music buffs

Inside the 45th International Council for Traditional Music, held recently in Bangkok published : 30 Jul 2019 at 04:00 newspaper section: Life writer: John Clewley

45th International Council for Traditional Music. John Clewley

The 45th International Council for Traditional Music (ICTM) was held at Chulalongkorn University earlier this month. The premier global meeting for ethnomusicologists was held in Southeast Asia for the first time in its history. As the secretary-general of the ICTM Prof Ursuka Hemetek said: « This is a special occasion for us to be in Southeast Asia for the first time. »

HRH Princess Maha Chakri Sirindhorn graciously presided over the opening ceremony, which featured a keynote address from Dr Jarernchai Chonpairot on molam music and a khon, or traditional masked dance, performance by dancers from the Department of Fine Arts, Ministry of Culture.

The opening welcome reception featured a molam band, All-Thidsa from Maha Sarakham, which has risen to fame as the house band of the Jim Thompson Molam Bus Project (the band recently completed its first overseas tour). The band’s upbeat style was clearly hugely popular with ethnomusicologists, who danced away the evening in front of the stage.

Molam band All-Thidsa at the event’s welcome reception. John Clewley

WorldBeat was present throughout the event, joining the more than 1,000 participants, including academics, dancers, musicians and even some journalists, at lectures, presentations, workshops (popular ones included Prof Jarenchai’s khaen workshop, Prof Tran Quang Hai’s spoon workshop and one on Zulu dance from South Africa), lunchtime and evening concerts.

The event brought back fond memories of my teaching days in the Faculty of Arts, way back in the 1980s when Chamlong Srimuang was Bangkok governor, many taxis and Chula classrooms had no air-conditioning and the BTS had yet to be built. It was during my time at the university that I discovered molam and pleng luk thung music. At the time, I got some of my scholarship students from Isan to translate the lyrics and was often asked by my Thai colleagues why I was listening to « folk music » when the Fine Arts department and classical dance were just next door to the Department of English Language and Literature.

Prof Tran Quang Hai’s spoon workshop. Photos: John Clewley

So, you can imagine my surprise when molam was not only performed for the welcome reception but also featured as the topic for the event’s keynote address. I would never have thought that possible but as Prof Bussakorn Binson, Dean of the Faculty of Fine and Applied Arts, explained to me, things are opening up and it was time for a more open-minded approach to academic studies. I couldn’t agree more.

The ICTM is held every two years and the organisers drew on more than 5,000 members across 129 countries. Obviously, with the event being held in Southeast Asia for the first time, studies on Asian music were a focal point for the event. I attended some fascinating presentations on Thai music — the session moderated by Dr James Mitchell on the early years of the Thai recording industry and Jit Gavee’s presentation on brass bands and early Thai cinema were informative and a lot of fun. Further sessions I enjoyed included all the ones on Indonesian music and Japanese minyo (folk).

John Clewley

The ICTM’s themes included transborder flows and movements; music, dance and sustainable development; the globalisation and localisation of ethnomusicology and ethnochoreology; music and dance as expressive communication; and new research.

The council offered the opportunity not just to participate in workshops and roundtable discussions, it was also a terrific venue for making important connections, and during the weeklong proceedings I was able to meet and talk to music experts from the Americas, Europe, Africa and Asia. For a humble hack, this was a rare treat.

And none more so than getting to know someone who appeared to be even more enthusiastic than I am about discovering new music: Paris-based multi-instrumentalist Prof Tran Quang Hai. I found him in front of the Fine Arts Building showing his mastery of a pair metal dessert spoons to bemused Thai classical music students who had been playing outside the building. We were amazed at the dexterity and skill he showed. I helped to translate what he was saying to the students who told me that they had never seen a human being produce such rhythms from a pair of spoons. I forgot to ask the professor what the technical term would be for these instruments — metallophones?

45th International Council for Traditional Music. John Clewley

Prof Tran and I had several long conversations about the spoons; I told him that in the North of England spoon playing in workingmen’s clubs and local pubs was popular a long time ago (with a bass drum provided by a metal tray bashing out time on the head) and that I can play some simple rhythms on one (my father, an accomplished pianist, can actually play them quite well). He urged me to become his student and learn online with him and it is certainly a temptation — perhaps we could introduce the spoons to a molam band. Check out the professor on the internet and you’ll see just how good he is.

Prof. TRAN QUANG HAI showed his spoons techniques to Thai musicians.

You can find out more on the event on the event Facebook page 45th ICTM World Conference 2019 – Thailand and there is a recording of Prof Jarernchai’s keynote address and the opening ceremony on the Thai PBS website. More information on the ICTM is at ictmusic.org.

John Clewley can be contacted at clewley.john@gmail.com.

https://www.bangkokpost.com/life/arts-and-entertainment/1721191/a-global-meeting-for-music-buffs?fbclid=IwAR1Mb9cvv

Giáo dục Âm nhạc truyền thống cho học sinh – GS. Trần Văn Khê | ĐTMN 130315

Write

Giáo dục Âm nhạc truyền thống cho học sinh – GS. Trần Văn Khê | ĐTMN 130315

MCVMedia

Ajoutée le 21 oct. 2015

ĐTMN Ngày: 13/03/2015 Giáo dục Âm nhạc truyền thống cho học sinh – GS. Trần Văn Khê | ĐTMN 130315 ĐỐI THOẠI MỖI NGÀY là chương trình Đối thoại truyền hình, đề cập đến các vấn đề đang được dư luận quan tâm và có ảnh hưởng đến đời sống kinh tế – văn hóa – xã hội với lợi ích thiết thực của người dân. Phát sóng: 6h20 hàng ngày trên HTV9. Fanpage: https://www.facebook.com/doithoaimoingay Xem thêm trong playlist: https://www.youtube.com/playlist?list… . Dailymotion: http://www.dailymotion.com/MCVMedia http://www.dailymotion.com/MCVTV Giáo dục Âm nhạc truyền thống cho học sinh – GS. Trần Văn Khê | ĐTMN 130315

Theo TRẦN VĂN CHI : TRẦN VĂN TRẠCH Người khai sinh ĐẠI NHẠC HỘI TẾT Nói đến Trần Văn Trạch là người ta nhớ đến bài hát XỔ SỐ KIẾN THIẾT QUỐC GIA của ông (Quái kiệt Trần văn Trạch)

XỔ SỐ KIẾN THIẾT QUỐC GIA – Trần Văn Trạch (Pre 75)
https://www.youtube.com/watch?v=aPsmZmcBGn8&feature=youtu.be

TRẦN VĂN TRẠCH Người khai sinh ĐẠI NHẠC HỘI TẾT
Nói đến Trần Văn Trạch là người ta nhớ đến bài hát XỔ SỐ KIẾN THIẾT QUỐC GIA của ông (Quái kiệt Trần văn Trạch)

Trần Văn Trạch (1924-1994) thuộc gia đình bốn đời nhạc sĩ, hai bên nội ngoại đều có người trong giới nhạc truyền thống dân tộc. Nếu Trần Văn Khê là người anh hai (theo cách gọi trong gia đình miền Nam) mà tên tuổi lẫy lừng trong nền nhạc cỗ truyền thống dân tộc, thì cậu ba Trần Văn Trạch, tung hoành trên vòm trời nghệ thuật nhạc mới suốt nửa thế kỷ trước, tạo ấn tượng khó phai trong lòng người ngưỡng mộ cho tới nay.

Và biệt danh “quái kiệt” tới nay hình như chỉ dành riêng cho Trần Văn Trạch là vậy.

Trần Văn Trạch sanh năm Giáp Tý, 1924, tại làng Vĩnh Kim tỉnh Mỹ Tho nay là tỉnh Tiền Giang. Lúc nhỏ tên là Trần Quang Trạch, nhưng không biết thủ bộ ở làng Vĩnh Kim nghĩ thế nào mà viết tên anh là Trần Quan Trạch (không có G ). Trạch lại trùng tên bà cụ láng giềng nên ở nhà gọi tránh là Khê Em. Và tới nay người ta không biết cơ duyên nào đưa đẩy cái tên Trần Văn Trạch đến với anh, thay vì Trần Quan Trạch?

Gia đình anh có ba anh em.Trần Văn Khê là anh hai, Trạch thứ ba, cô em gái út là Trần Ngọc Sương là ca sĩ có tiếng vào thập niên 50 trước sống ở Canada.

Theo gia phả, cố nội của Trần Văn Trạch là ông Trần Quang Thọ trước kia trong ban nhạc cung đình Huế vào Nam lập nghiệp sanh ra Trần Quang Diệm, cũng gọi là Năm Diệm nối nghiệp cầm ca, là ông nội của Trạch.

Trần Văn Chiều tức Bảy Triều, ba của Trạch, là người chế ra cách lên dây “Tố lan” mà trong ca nhạc tài tử cải lương miền Nam ai cũng biết.

Nên mới nói Trần Văn Trạch thuộc gia đình bốn đời nhạc sĩ, sống gắn bó với câu ca tiếng đờn, trong suốt thế kỷ qua.

Dầu sống trong thời kỳ mà dư luận vốn có thành kiến “Nam đa kỳ, tắc suy; Nữ đa kỳ, tắc dâm” nhưng người cô thứ ba của Trạch tên Trần Ngọc Viện, gọi là cô Ba Viện, chơi đờn tỳ bà rất giỏi. Hồi trẻ Cô Ba lên Sài Gòn dạy nữ công gia chánh cho học sinh trường Áo Tím nữ học đường, sau về Mỹ Tho lập gánh hát cải lương lấy tên là Ðồng Nữ Ban năm 1927 với vở tuồng nổi tiếng là “Giọt lệ chung tình”, mà đào kép toàn là con gái nông thôn do một tay cô đào tạo.

Trần Văn Trạch thuở nhỏ có khiếu nhạc, chơi đờn kìm và tỳ bà theo ngón của cha, ca vọng cổ cũng mùi. Lớn lên trong cái nôi cải lương miền Nam là Mỹ Tho, nơi có gánh hát cải lương đầu tiên vào năm 1917 của thầy Năm Tú hát tại Chợ Cũ Mỹ Tho. Thế nhưng Trần Văn Trạch lại ham học đàn mandoline với Trần Văn Khê và học đờn violon với Nguyễn Mỹ Ca, người anh cô cậu. Trạch đã biết chơi thành thạo những bài nhạc Tây thịnh hành thuở đó như là J’ai deux amouers, Marinela…

Ðang học tại College de MyTho, đến năm 1942 Trạch bỏ ngang đi ra mở lò gốm làm chén! Và bởi bản tánh nghệ sĩ nên bị thất bại nên phải “dẹp tiệm”, bỏ xứ lên Sài Gòn lập nghiệp mới!

“Quái kiệt” Trần Văn Trạch

Trần Văn Trạch lên Sài Gòn vào năm 1945, lúc đầu vào hát cho các phòng trà phục vụ quân đội Pháp với vai trò hoạt náo, ca múa (dacing) những bản nhạc Tây. Trong thời gian này anh sống với người vợ đầm và có một đứa con và vì thế anh mấy lần bị Việt Minh bắt với tội danh “Việt gian”!

Trần Văn Khê vận động, nhờ người bảo lãnh, Trạch được tha nên anh gia nhập vào “Ban nhạc quân đội” Việt Minh cùng Trần Văn Khê đi lưu diễn khắp miền Tây và có lần họ gặp nhạc sĩ Lệ Thương ở Bến Tre, Mỹ Tho.

Sau đó độ khoảng năm 46-47 Trạch rời “kháng chiến” về Sài Gòn, cùng em gái là Trần Ngọc Sương mở quán nước giải khát tại khu Bàn Bờ bán cho lính Pháp. Tracco, tên Tây của Trạch do các bạn bè đặt cho anh là vào lúc này, bởi thỉnh thoảng anh hát những bài nhạc Tây nhằm câu khách.

Nhạc sĩ Lê Thương lúc năm 45 về Bến Tre, có thời gian bị Pháp bắt ở Mỹ Tho, sau được thả, về Sài Gòn trong phong trào hồi cư bấy giờ. Không rõ cơ duyên nào đưa đẩy khiến Lê Thương phát hiện cái khả năng hài tiềm ẩn trong con người nghệ sĩ phiêu bồng lãng tử Trần Văn Trạch?

Nhạc sĩ Lê Thương bèn viết bài ca thử nghiệm đầu tiên cho Trạch. Ðó là bài “Hòa bình 48” hát nhái tiếng súng, đại bác, máy bay liệng bom; rồi bài ca” Liên Hiệp Quốc” hát bằng tiếng Pháp-Anh-Nga-Tàu; bài “Làng báo Sài Gòn” phê bình các nhà báo nói láo ăn tiền, chạy theo Tây!

Nhờ những bài hát mang chất châm biếm hài của nhạc sĩ Lê Thương mà Trần Văn Trạch chuyển hướng. Anh tự sáng tác những bài hát hài để tự diễn. Bài hát anh sáng tác đầu tay năm 1951 là bài “Anh xích lô” mang chất hài vui, nhịp điệu nhanh và lôi cuốn.

Với giọng ca trầm hơi thổ, mang nét mộc mạc miền Nam (như Út Trà Ôn), cộng thêm phong thái biểu diễn mới lạ, vui nhộn, độc đáo… nên Trần Văn Trạch làm khán khán giả say mê cuồng nhiệt.

Anh được khán giả, báo chí phong tặng danh hiệu “quái kiệt”. Và tên tuổi quái kiệt Trần Văn Trạch xuất hiện như là một hiện tượng lạ trong nền nghệ thuật Việt Nam suốt gần nửa thế kỷ qua.

Trần văn Trạch viết và biểu diễn thành công tiếp những bài mà nhắc lại thế hệ thanh niên tuổi 60, 70 ai cũng biết, đã từng nghe và mê mệt.

Ðó là: Chuyến xe lửa mùng 5 (1952), Cái tê-lê-phôn, Anh chàng thất nghiệp, Cây viết máy, Cái đồng hồ tay, Ðừng có lo…

Trong lãnh vực hài kết hợp hoạt náo, qua các bài Tân nhạc, kết hợp múa theo vũ điệu Tây phương, với kiểu ăn mặc, đầu tóc lạ mắt… quái kiệt Trần Văn Trạch trở thành nghệ sĩ “hài trí thức” duy nhứt trong thời đại của anh.

Trần Văn Trạch còn là người tiên phong khai sanh ra loại hình Ca-Vũ-Nhạc-Kịch-Xiệc-Ảo thuật tổng hợp trên sân khấu mà chính anh là bầu sô. Cái tên “Ðại Nhạc Hội” của anh đặt ra trở thành loại hình sân khấu mới, hấp dẫn, vui tươi không thể thiếu trong dịp Tết cho tới nay ở trong và ngoài nước!

Rồi một hôm tại rạp hát bóng Nam Việt, Trần Văn Trạch đầu tiên lăn-xê chương trình ca nhạc mở màn trước khi chiếu phim, rất ăn khách. Thuở đó gọi tên là “Chương trình văn nghệ phụ diễn”, loại hình sân khấu này nay vẫn còn được ưa chuộng trong các cuộc thi tuyển lựa tài năng, tuyển lựa hoa hậu, giới thiệu sách, nói chuyện văn học…

Trần Văn Trạch là người đầu tiên hát với sound track, nhạc thâu trước sẵn.

Năm 1960, hôm đó trên sân khấu Ðại Nhạc Hội giới thiệu bài hát mới “Chiều mưa biên giới” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông, lần đầu tiên quái kiệt Trần Văn Trạch xuất hiện trên sân khấu, ca không có ban nhạc sống, gây ngạc nhiên và thích thú cho khán giả.

Nhờ nghệ thuật thâu sẵn nên hòa âm và âm thanh hoàn hảo, kết hợp ca diễn ăn ý, nghệ sĩ Trần Văn Trạch hát bài “Chiều mưa biên giới” linh hoạt nên anh được khán giả nhiệt liệt hoan hô. Kiểu hát này ngày nay rất phổ biến.

Quái kiệt Trần Văn Trạch còn được biết tới trong lãnh vực phim ảnh. Anh tham gia đóng những phim “Lòng nhân đạo” năm 1955, “Giọt máu rơi” năm 1956; làm đạo diễn phim “Thoại Khanh Châu Tuấn” năm 1956, phim “Trương Chi Mỵ Nương”, năm 1956.

Trong lãnh vực phát thanh, anh là người sớm có mặt trên làn sóng của Ðài phát thanh Pháp-Á từ đầu với ban nhạc Sầm Giang của anh. Hầu hết ca sĩ nổi tiếng thời đó như Minh Diệu, Tâm Vấn, Bạch Yến, Duy Trác, Ngọc Sương, Ngọc Hà, Linh Sơn; với các nhạc sĩ Võ Ðức Thu, Khánh Băng, Nghiêm Phú Phi cùng các ban Tùng Lâm, ban Thăng Long… đều được anh mời cộng tác.

Quái kiệt Trần Văn Trạch người nghệ sĩ tạo được ấn tượng riêng cho cá nhơn và là người tạo ra nhiều loại hình trình diễn, loại hình tổ chức mới cho nền nghệ thuật ca nhạc, sân khâu Việt Nam.

Cái còn và cái mất của người nghệ sĩ
“Trên đường ra phi trường Tân Sơn Nhứt tôi nhìn thấy vài quầy bán vé số kiến thiết để một băng tang trên đó ghi một dòng chữ ‘Trần Văn Trạch đã từ trần’, để tưởng nhớ một quái kiệt trong làng tân nhạc miền Nam lừng danh với bài hát “Xổ số kiến thiết quốc gia” trước đây. Trần Văn Trạch mất ngày 10 Tháng Tư năm 1994 tai bịnh viện Tenon Quận 20 Paris, nước Pháp, hưởng thọ 70 tuổi, vì bịnh ung thư gan!” (theo Hồi Ký Trần Văn Khê, nhà xuất bản Trẻ, 2001)

Năm 1977 Trần Văn Trạch sang Pháp định cư như bao người Việt Nam thời bấy giờ! Tại Pháp Anh phụ trách chương trình văn nghệ cho một nhà hàng, rồi xoay sở vào làm cho văn phòng luật sư của người Việt Nam. Ðoàn tụ với vợ con năm 1980, rồi vợ chồng góp nhặt vốn mở nhà hàng bán thức ăn Việt Nam trong siêu thị Pháp với sự giúp đỡ của thân nhân và bằng hữu.

Không biết do bạn bè rủ rê hay do “cái nghiệp” đưa đẫy Trần Văn Trạch qua Mỹ. Tại Mỹ với những bài “Xổ số kiến thiết quốc gia”, “Chuyến xe lửa mùng năm”, “Cái tê-lê-phôn”… làm cho anh được sống lại và đồng hương của anh như được sống lại với bao kỷ niêm vô cùng đẹp ngày xưa!!!

Năm 1994 trong buổi tập dợt mừng thọ 70 tuổi, anh bị đột ngụy, được bạn bè đưa về Pháp để diều tri.

Anh vĩnh viễn ra đi ngày mùng 10 Tháng Tư năm 1994!

Cuộc đời nghệ sĩ Trần Văn Trạch gắng chặt với cái tên Sầm Giang nơi anh sanh ra, có phải tại vì Sầm Giang là Rạch Gầm, con sông gợi hứng cho anh sáng tác?

Anh không để lại chiến công nên không có tượng đồng bia đá. Anh chỉ để lại tiếng khóc và niềm tiếc thương của bao người ái mộ.

Như câu nói của danh nhân nào đó: “Khi mới chào đời, ta cất tiếng khóc trong khi mọi người thân chung quanh tươi cười. Ta hãy sống như thế nào để khi từ giã vĩnh viễn cõi đời, mọi người khóc còn mình thì mỉm cười ra đi.”
Ðó chính là cái còn và cái mất của Trần Văn Trạch cũng như bao nghệ sĩ tài danh vậy.

tancogiaoduyen (Theo Trần văn Chi – NV) – Nn sưu tầm

WIKIPEDIA : Nhạc cụ người dân tộc thiểu số Việt Nam

Nhạc cụ người dân tộc thiểu số Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Buớc tưới chuyển hướngBước tới tìm kiếm

Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. Mời bạn giúp hoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ.
Wikimedia Commons có thư viện hình ảnh và phương tiện truyền tải về Nhạc cụ người dân tộc thiểu số Việt Nam
Mục lục 1 Alal 2 Aráp 3 Bẳng bu 4 Bro 5 Chênh Kial 6 Chul 7 Cồng, chiêng 8 Cò ke 9 Đàn đá 10 Đao đao 11 Đinh Đuk 12 Đuk đik 13 Goong 14 Goong đe 15 Hơgơr Prong 16 Kèn lá 17 Kềnh H’Mông (khèn Mèo) 18 Khèn bè 19 Khinh khung 20 K’lông pút 21 Knăh ring 22 K’ny (Kaní) 23 M’linh 24 M’nhum 25 Môi 26 Pi cổng 27 Pí đôi 28 Pí lè 29 Pí một lao 30 Pí pặp 31 Pí phướng 32 Pơ nưng Yun 33 Púa 34 Rang leh 35 Rang rai 36 Sáo H’Mông (sáo Mèo) 37 Ta in 38 Ta lư 39 Ta pòl 40 Tính tẩu 41 Tol alao 42 Tông đing 43 Tơ đjếp 44 Tơ nốt 45 T’rum 46 T’rưng 47 Vang 48 Tham khảo

Alal

Bài chi tiết: Alal

Alal là tên gọi theo tiếng Ba Na, dùng để chỉ nhạc cụ hơi có lưỡi gà rung tự do, khá phổ biến trong cộng đồng người Ba Na và một số dân tộc khác tại Việt Nam.

Aráp

Bài chi tiết: Aráp

Aráp là một bộ chiêng quý của người Bâhnar và Giơ Rai ở Việt Nam. Nhiều dân tộc ở Tây nguyên cũng sử dụng bộ chiêng này với tên gọi khác nhau. Người Ca dong gọi là h’leng goong, người Rơ măm gọi là guông t’gạt, người Stră gọi là guông chiêng…

Bẳng bu

Bài chi tiết: Bẳng bu

Bẳng bu là nhạc cụ hơi làm bằng tre phổ biến ở nhiều dân tộc vùng Tây Bắc, Việt Nam. Cái tên của nó xuất phát từ tiếng Thái. Nhạc cụ này dành riêng cho nữ giới, thường được dùng trong các nghi lễ mang đậm tính phồn thực, cầu mong cuộc sống bình yên và mùa màng bội thu.

Bro

Bài chi tiết: Bro

Bro là nhạc dây phổ biến trong một số dân tộc Tây Nguyên ở Việt Nam. Người Bâhnar, xê Đăng, giơ Rai và Giẻ Triêng thường sử dụng nhạc cụ này.

Chênh Kial

Bài chi tiết: Chênh Kial

Chênh Kial là nhạc cụ tự thân vang khi va đập. Cái tên của nó xuất phát từ tiếng Bâhnar tin rằng trong mỗi ống của chênh kial có những vị thần trẻ con reo vui khi gió thổi. Những vị thần này là con của thần gió nên khi gặp gió các thần rất vui mừng. Người treo chênh kial lên đầu hồi nhà Rông để cầu đừng ngưng gió vì nếu không có gió trời sẽ đổ mưa không sớm thì muộn.

Chul

Bài chi tiết: Chul

Chul là loại sáo phổ biến trong vài cộng đồng dân tộc ở Tây Nguyên, nhất là người Ba Na và Giơ Rai. Đây là loại sáo dành cho nam giới. Các chàng trai sử dụng sáo này để tỏ tình với các cô gái.

Cồng, chiêng

Bài chi tiết: Cồng, chiêng

Cồng, chiêngnhạc cụ dân tộc thuộc bộ gõ, được làm bằng đồng thau, hình tròn như chiếc nón quai thao, đường kính từ 20 cm (loại nhỏ) cho đến 60 cm (loại to), ở giữa có hoặc không có núm. Người Gia Rai, Ê Đê và Hrê gọi cả cồng lẫn chiêng là « chinh », còn người Triêng gọi cồng là « chênh goong » (loại có núm), gọi chiêng là « chênh hân » (không núm). Nhìn chung, còn khá nhiều cách gọi và phân biệt giữa hai nhạc cụ có núm và không núm này.

Cò ke

Cò ke là nhạc cụ có cung kéo của dân tộc Mường. Nó có cần đàn làm bằng một đoạn tay tre uốn thẳng, cắm xuyên qua một đoạn tre rỗng suốt 2 đầu. Đầu trên của cần đàn có lỗ để cắm trục chỉnh dây. Phía trước của đoạn ống được bịt bằng một mảnh mo măng tre hoặc một tấm da ếch, da trăn hay da rắn, giúp ống trở thành bộ phận tăng âm.

Cò ke có 2 dây đàn bằng xơ dứa hoặc tằm se, vuốt lá khoai. Người ta chỉnh 2 dây cách nhau 1 quãng bốn hoặc năm. Cung kéo là một miếng cật nứa được kéo cong lại bằng một túm xơ dừa hay lông đuôi ngựa. Cung kéo này nằm rời khỏi dây đàn, không bôi nhựa thông nhằm tăng thêm độ ma xát. Trước khi chơi nhạc cụ này, người ta nhúng túm xơ dừa hoặc lông đuôi ngựa vào nước. Trong lúc diễn, nếu thấy túm xơ dừa hay lông đuôi ngựa bị khô, họ nhổ nước bọt vào để làm ướt trở lại.

Âm thanh của cò ke không chuẩn vì dây mắc khá cao so với cần đàn, ngoài ra nó không có bộ phận chỉnh độ cao dây buông như ở đàn nhị.

Đàn đá

Bài chi tiết: Đàn đá

Đàn đá là một nhạc cụ gõ cổ nhất của Việt Nam[cần dẫn nguồn]. Đàn được làm bằng các thanh đá với kích thước dài, ngắn, dày, mỏng khác nhau.

Đao đao

Bài chi tiết: Đao đao

Đao đao là nhạc cụ của cộng đồng dân tộc Khơ Mú sống tại Việt Nam.

Đinh Đuk

Bài chi tiết: Đinh Đuk

Đinh Đuk là nhạc cụ hơi của vài dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Nhìn chung, người Bâhnar gọi nhạc cụ này là đinh tuk; riêng người Bâhnar ở vùng Măng Giang gọi là « hi hơ », người Giơ Rai gọi là « đinh dương ».

Đuk đik

Bài chi tiết: Đuk đik

Đuk đik là nhạc cụ của người Giẻ Triêng. Nó là 1 ống tre dài 64 cm, đường kính 8 cm với đầu này có mấu kín, còn đầu kia được vát bớt để làm tay cầm và tạo âm theo cao độ mà người thiết kế mong muốn.

Goong

Bài chi tiết: Goong

Goong là loại đàn dây phổ biến trong một số dân tộc sống ở tỉnh Kom Tum và Gia Lai. Nó còn được gọi là Tinh Ninh (Ting Ning) hay Teng Neng (cách gọi của người Bâhnar vùng Măng Giang và An Khê – Gia Lai) hoặc Puội Brol như người Giẻ Triêng ở huyện Đák Giây, Kom Tum gọi.

Goong đe

Bài chi tiết: Goong đe

Goong đe là nhạc cụ có cấu tạo giống như đàn goong, phổ biến ở tỉnh Gia Lai, thường do người Bâhnar sử dụng.

Hơgơr Prong

Bài chi tiết: Hơgơr Prong

Hơgơr Prong là loại trống rất lớn, không định âm của các dân tộc ở Tây Nguyên. Người Bâhnar gọi nó là hơgơr tăk hoặc p’nưng, người Giơ Rai gọi là hơgơr prong hoặc hơge m’nâng, còn người Êđê gọi đơn giản là hơgơr. Tuy nhiên, loại trống này còn có một cái tên tượng thanh phổ biến là « đùng » (nhiều dân tộc gọi).

Kèn lá

Bài chi tiết: Kèn lá

Kèn lá là nhạc cụ rất đơn giản, phổ biến trong các cộng đồng dân tộc ở Tây Nguyên. Người ta chỉ cần lấy 1 chiếc lá cây, cắt phần cuống, gấp đôi theo sống lá để có 1 chiếc kèn đơn sơ.

Kềnh H’Mông (khèn Mèo)

Bài chi tiết: Kềnh H’Mông

Kềnh là nhạc cụ thổi hơi của nhiều dân tộc anh em ở Việt Nam, người kinh gọi là khèn, vì thế kềnh H’Mông còn được gọi là khèn Mèo.

Khèn bè

Bài chi tiết: Khèn bè

Khèn là cách gọi loại kềnh của một số dân tộc của Đông Nam Á. Loại ở đây giống như chiếc bè nên gọi là khèn bè. Ở Việt Nam, người Giẻ Triêng gọi là Đinh Duar còn người Xơ Đăng gọi là Đinh Khén, người Vân Kiều gọi là Khên.Riêng người Ta Ôi gọi là Khèn

Khinh khung

Bài chi tiết: Khinh khung

Khinh khung là nhạc cụ thời tiền sử, vận hành bằng sức nước. Ở Việt Nam người Bâhnar gọi nhạc cụ này là khinh khung, còn người Giarai gọi là Goong klơng klơi.

K’lông pút

Bài chi tiết: K’lông put

K’lông put là nhạc cụ của một số dân tộc anh em ở Việt Nam. Người Giơ Rai gọi nó là Đinh pút, còn người Bâhnar ở vùng An Khê gọi là Đinh Pơl. Tuy nhiên cái tên K’lông pút đã trở nên quen thuộc với mọi người, dù ở trong hay ngoài nước.

Knăh ring

Bài chi tiết: Knăh ring

Knăh ring là bộ chiêng 6 chiếc, sử dụng phổ biến trong cộng đồng dân tộc Giơrai và Bâhnar ở Việt Nam.

K’ny (Kaní)

Bài chi tiết: K’ny

K’ny là nhạc cụ dây có cung vĩ của nhiều dân tộc sống ở vùng Bắc Tây Nguyên, Việt Nam, phổ biến rộng rãi trong cộng đồng Bahnar, Giơ Rai, Xê Đăng và Rơ Ngao…

M’linh

Bài chi tiết: M’linh

M’linh là nhạc cụ tự thân vang khi lắc chúng. Nhạc cụ này là những cái chuông đồng nhỏ phổ biến trong cộng đồng dân tộc Dao và Mường.

M’nhum

Bài chi tiết: M’nhum

M’nhum là bộ chiêng của người Giơ Rai ở Việt Nam. Nó dùng để đánh khi uống rượu. Cái tên của nó đã nói lên điều này (M’nhum là « uống rượu » trong tiếng Giơ Rai).

Môi

Bài chi tiết: Đàn môi

Đàn môi là từ người kinh ở Việt Nam gọi. Nó phổ biến hầu hết trong các cộng đồng dân tộc ở Việt Nam với nhiều tên gọi khác nhau. Trên thế giới nhiều nước cũng có đàn môi với tên gọi khác và chất liệu làm đàn cũng khác so với loại đàn môi ở Việt Nam.

Pi cổng

Bài chi tiết: Pi cổng

Pi cổng là nhạc cụ hơi của nhiều dân tộc ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Pi cổng là tên gọi theo tiếng Thái.

Pí đôi

Bài chi tiết: Pí đôi

Pí đôi là tên gọi theo tiếng Thái. Nhạc cụ này phổ biến trong cộng đồng người Thái đang sinh sống ở Việt nam.

Pí lè

Bài chi tiết: Pí lè

Pí lè là tên gọi theo tiếng Thái – Tày để chỉ nhạc cụ hơi có dăm kép.

Pí một lao

Bài chi tiết: Pí một lao

Pí một lao là nhạc cụ hơi phổ biến ở vùng Tây Bắc, Việt Nam. Tên nhạc cụ này xuất phát từ tiếng Thái, nhưng ngoài người Thái còn có người Kháng, người La Ha và Kha Mú sử dụng nhạc cụ này.

Pí pặp

Bài chi tiết: Pí pặp

Pí pặp là nhạc cụ hơi phổ biến ở cộng đồng người Thái, Việt Nam. Nó là một ống nứa dài từ 30 đến 40 cm, đường kính nho hơn hoặc bằng 1 cm.

Pí phướng

Bài chi tiết: Pí phướng

Pí phướng là nhạc cụ hơi của nhiều dân tộc ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Cái tên nhạc cụ này xuất phát từ tiếng Thái.

Pơ nưng Yun

Bài chi tiết: Pơ nưng Yun

Đây là loại trống vừa của người Bâhnar sinh sống ở Việt Nam. Người Gia Rai gọi nó là hơgơr ching arăp, người Mnâm gọi là hơgơr cân, người Hà Lang gọi là hơgơr tuôn, còn người Rơ năm gọi là Hơ huôl. Nhiều dân tộc Tây Nguyên còn gọi nó bằng 1 từ tượng thanh là « đơng ».

Púa

Bài chi tiết: Púa

Púa là nhạc cụ hơi, xuất phát từ tiếng H’Mông. Người H’Mông và Lôlô sống tại Việt Nam sử dụng phổ biến nhạc cụ này.

Rang leh

Bài chi tiết: Rang leh

Rang leh là nhạc cụ môi hơi phổ biến rộng rãi trong các cộng đồng dân tộc ở vùng Tây Nguyên, Việt Nam. Người Stră gọi nó là rôông gui, người Ca dong gọi là pôper, người Giơ Rai gọi là rang leh, còn người Việt gọi là đàn môi (xem mục đàn môi).

Rang rai

Bài chi tiết: Rang rai

Rang rai là một loại chũm chọe phổ biến trong nhiều cộng đồng dân tộc anh em ở Việt Nam, đặc biệt là người Bâhnar và Giơ Rai thường sử dụng nhạc cụ này.

Sáo H’Mông (sáo Mèo)

Bài chi tiết: Sáo H’Mông

Đây là nhạc cụ của người H’Mông ở miền Bắc Việt Nam. Nó thường được sử dụng để giải trí sau giờ phút lao động mệt nhọc.dung de tan nhung co gai trong cac le hoi cua nguoi mong.

Ta in

Bài chi tiết: Ta in

Ta in là nhạc cụ dây của dân tộc Hà Nhì, tỉnh Lai Châu Lào Cai, Việt Nam. Nó có cần đàn bằng gỗ rắn, bộ phận tăng âm bằng gỗ, hình chữ nhật có 4 cạnh vuốt tròn.

Ta lư

Bài chi tiết: Ta lư

Ta lư là nhạc cụ dây, phổ biến rộng rãi trong cộng đồng dân tộc Vân Kiều ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Việt Nam.

Ta pòl

Bài chi tiết: Ta pòl

Ta pòl là nhạc cụ của ngưởi Bâhnar, nhưng phổ biến trong nhiều cộng đồng dân tộc ở Tây Nguyên, Việt Nam. Người Giarai gọi nó là đinh bút hoặc đinh pơng, người Rơ Năm gọi là pang bôông, còn người Brâu gọi là đinh pu. Ngoài ra nó còn nhiều tên gọi khác tùy theo ngôn ngữ của những dân tộc Tây Nguyên.

Tính tẩu

Bài chi tiết: Tính tẩu

Tính tẩu là nhạc cụ khảy dây được dùng phổ biến ở một số dân tộc miền núi tại Việt Nam như Thái, Tày … Ở vài vùng thuộc Trung Quốc, Lào, và Thái Lan người ta nhận thấy cũng có nhạc cụ này.

Tol alao

Bài chi tiết: Tol alao

Tol alao là một loại đàn cổ sơ của người Bâhnar sinh sống ở Việt Nam. Nhạc cụ này cũng được người Ca dong sử dụng và gọi là tol alao như người Bâhnar. Đây là loại đàn dành riêng cho nữ giới. Các cô gái thường đánh cho các chàng trai thưởng thức.

Tông đing

Bài chi tiết: Tông đing

Tông đing là nhạc cụ gõ của dân tộc Bâhnar sinh sống ở Việt Nam. Người Giơ Rai cũng thường sử dụng nhạc cụ này với tên gọi là Teh ding. Người Ca dong gọi là Goong teng leng (teng leng là đánh ở trên).

Tơ đjếp

Bài chi tiết: Tơ đjếp

Tơ đjếp là nhạc cụ hơi có lưỡi gà rung tự do, phổ biến ở một số dân tộc vùng Tây Nguyên Việt Nam.

Tơ nốt

Bài chi tiết: Tơ nốt

Tơ nốt là nhạc cụ hơi của người Bâhnar có quan hệ mật thiết với các nhạc cụ săn bắn. Nó là nhạc cụ mang tính chiến đấu. Ngày xưa người ta dùng nó để báo tin cho cộng đồng biết đang có việc quan trọng. Ngày nay nhiều dân ở Tây Nguyên sử dụng nhạc cụ này.

T’rum

Bài chi tiết: T’rum

T’rum là bộ cồng 3 chiếc có núm của người Giơ rai sống ở Tây Nam Pleiku, Việt Nam. Mỗi chiếc có kích cỡ và tên gọi khác nhau.

T’rưng

Bài chi tiết: T’rưng

Đàn t’rưng là loại nhạc cụ gõ phổ biến ở vùng Tây Nguyên, đặc biệt là đối với dân tộc Giơ Rai và Bâhnar. Cái tên « t’rưng » xuất phát từ tiếng Giơ Rai, lâu ngày trở nên quen thuộc với mọi người.

Vang

Bài chi tiết: Vang

Vang là 3 bộ chiêng ba chiếc dành riêng cho Vua Lửa (Pơtau Pui) trong cộng đồng dân tộc Giơ Rai và vài dân tộc khác ở Việt Nam.

[ẩn]xtsCác nhạc cụ dân tộc Việt Nam AlalArápBẳng buBroCảnhChênh kialChiêng treChulChũm chọeCồng chiêngCò keĐàn bầuĐàn đáĐao đaoĐàn đáyĐàn hồĐàn môiĐàn nhịĐàn tamĐàn tranhĐàn tứĐàn tỳ bàĐàn nguyệtĐàn sếnĐing nămĐinh đukĐing ktútĐuk đikGoongGoong đeGuitar phím lõmHơgơr prongKèn bầuKèn láKềnh H’MôngKhèn bèKhinh khungK’lông pútKnăh ringK’nyM’linhM’nhumPháchPi cổngPí đôi / Pí pặpPí lèPí một laoPí phướngPơ nưng yunPúaRang lehRang raiSáo H’MôngSáo trúcSênh tiềnSong langTa inTa lưTa pòlTiêuTính tẩuThanh laTol alaoTông đingTơ đjếpTơ nốtTam thập lụcTrống cáiTrống cơmTrống đếTrống đồngTrống ParanưngT’rumT’rưngTù vàTỳ bàVang

Tham khảo

Thể loại:

https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%A1c_c%E1%BB%A5_ng%C6%B0%E1%BB%9Di_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c_thi%E1%BB%83u_s%E1%BB%91_Vi%E1%BB%87t_Nam