Auteur : tranquanghai130544

THANH HIEP : Sẽ trao tặng học bổng, Giải thưởng Trần Văn Khê trong năm 2022

Sẽ trao tặng học bổng, Giải thưởng Trần Văn Khê trong năm 2022

21-12-2021 – 09:54 | Văn nghệ Chia sẻ https://www.facebook.com/plugins/like.php?action=like&app_id=889975511027097&channel=https%3A%2F%2Fs-static.ak.facebook.com%2Fconnect%2Fxd_arbiter%2F7r8gQb8MIqE.js%3Fversion%3D41%23cb%3Dfb663b77cdf4c8%26domain%3Dnld.com.vn%26origin%3Dhttps%253A%252F%252Fnld.com.vn%252Ff2a9ee6d12f3ac8%26relation%3Dparent.parent&href=https%3A%2F%2Fnld.com.vn%2Fnews-20211220213343198.htm&layout=button_count&locale=en_US&sdk=joey&share=false&show_faces=false

Quỹ Học bổng Trần Văn Khê vừa quyết định tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cố GS-TS Trần Văn Khê vào 9 giờ ngày 23-12 tại Trường ĐH Văn Lang (TP HCM).

Đây là sự kiện mong đợi của những người thân trong gia đình, học trò của GS-TS Trần Văn Khê và công chúng ngưỡng mộ ông – vị giáo sư đã cống hiến cả đời cho âm nhạc dân tộc và tích cực đưa văn hóa – nghệ thuật Việt Nam ra thế giới.

Từ Pháp, GS-TS Trần Quang Hải (con trai GS-TS Trần Văn Khê) cho biết do ảnh hưởng của dịch bệnh, ông không thể về nước tham dự buổi lễ, cũng như Quỹ Học bổng Trần Văn Khê không thể tổ chức sự kiện ra mắt và xét trao học bổng, giải thưởng năm đầu tiên theo kế hoạch công bố đúng dịp ngày sinh cố GS Trần Văn Khê (24.7.1921 – 24.7.2021). 

« Nhưng tôi tin sự kiện này sẽ để lại dấu ấn đẹp, cho thấy quyết tâm của những người thực hiện đã vượt qua các trở ngại để ra mắt quỹ, đồng thời vinh danh cha của tôi nhân 100 năm ngày sinh của ông. Tôi và gia đình rất cảm kích và biết ơn sự kiện này » – GS-TS Trần Quang Hải cho biết.

Sẽ trao tặng học bổng, Giải thưởng Trần Văn Khê trong năm 2022 - Ảnh 1.

Cố GS-TS Trần Văn Khê đã dành trọn đời nghiên cứu, phát triển âm nhạc truyền thống Việt Nam. (Ảnh do ban tổ chức cung cấp)

Cũng trong dịp này, Nhóm thân hữu Trần Văn Khê sẽ phối hợp với Nhà Xuất bản Tổng hợp TP HCM ấn hành 2 cuốn sách « Trần Văn Khê – Đường đến dân tộc nhạc học » và « Trần Văn Khê – Trăm năm Tâm và Nghiệp ». Sách sẽ được bán để gây Quỹ Học bổng Trần Văn Khê. Việc trao tặng học bổng và Giải thưởng Trần Văn Khê sẽ được thực hiện trong năm 2022 với sự xem xét của Hội đồng Nghệ thuật do quỹ ra quyết định thành lập.javascript:if(typeof(admSspPageRg)!=’undefined’){admSspPageRg.draw(2011351);}else{parent.admSspPageRg.draw(2011351);} https://api.dable.io/widgets/id/6XggQDXN/users/56827781.1640086098894?from=https%3A%2F%2Fnld.com.vn%2Fvan-nghe%2Fse-trao-tang-hoc-bong-giai-thuong-tran-van-khe-trong-nam-2022-20211220213343198.htm&url=https%3A%2F%2Fnld.com.vn%2Fvan-nghe%2Fse-trao-tang-hoc-bong-giai-thuong-tran-van-khe-trong-nam-2022-20211220213343198.htm&ref=https%3A%2F%2Fnld.com.vn%2Fvan-nghe.htm&cid=56827781.1640086098894&uid=56827781.1640086098894&site=nld.com.vn&id=dablewidget_6XggQDXN&category1=V%C4%83n%20ngh%E1%BB%87&ad_params=%7B%7D&item_id=20211220213343198&item_pub_date=2021-12-21T09%3A54%3A00%2B07%3A00&pixel_ratio=1&client_width=520&lang=fr&is_top_win=1&top_win_accessible=1

Quỹ Học bổng Trần Văn Khê hoạt động theo nguyên tắc không vì lợi nhuận, tự nguyện, tự tạo vốn, tự trang trải kinh phí và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật bằng tài sản của quỹ. Mục đích của quỹ là thông qua các hoạt động hỗ trợ, tài trợ, xét trao giải thưởng và học bổng thường niên của quỹ góp phần cổ vũ việc gìn giữ, phát huy các giá trị âm nhạc truyền thống Việt Nam theo di nguyện của cố GS Trần Văn Khê, phù hợp với đường lối văn hóa của nhà nước Việt Nam.

NSND Kim Cương khẳng định Quỹ Học bổng Trần Văn Khê được thành lập đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố GS-TS Trần Văn Khê là một sự kiện rất ý nghĩa. 

« Ông đã dành trọn đời theo đuổi việc nghiên cứu và phát huy sâu rộng ra thế giới giá trị quý báu của âm nhạc truyền thống Việt Nam. Từ sự đánh giá đó, nhiều bộ môn văn hóa – nghệ thuật dân tộc của Việt Nam với sự góp sức trực tiếp và gián tiếp của ông đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới… Trong sự nghiệp hoạt động âm nhạc dài hơn 60 năm của mình, cố GS Trần Văn Khê đã được nhận nhiều sự vinh danh cao quý. Ông là tấm gương lớn đối với các thế hệ trẻ đang nỗ lực gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc nước nhà » – NSND Kim Cương nói.

T.Hiệp

https://nld.com.vn/van-nghe/se-trao-tang-hoc-bong-giai-thuong-tran-van-khe-trong-nam-2022-20211220213343198.htm

V102 | 10/12/2021| TRẦN Quang Hải & Bạch Yến – Nhạc cụ và Nhạc truyền thống VN

TV102 | 10/12/2021| TRẦN Quang Hải & Bạch Yến – Nhạc cụ và Nhạc truyền thống VN

7 viewsDec 11, 20211DislikeShareSaveAlain Dũng NGUYEN 342 subscribers

Un concert de musique traditionnelle du Vietnam et de présentation de quelques instruments de musique par TRAN QUANG HAI & BACH YEN au Conservatoire à rayonnement departemental de Fresnes le 10 DECEMBRE 2021.

merci à Alain Dung d’avoir filmé ce concert .

THANH HIỆP : GS-TS Trần Quang Hải: Tiếp nối con đường của cha là trọng trách thiêng liêng

https://nld.com.vn/van-nghe/gs-ts-tran-quang-hai-tiep-noi-con-duong-cua-cha-la-trong-trach-thieng-lieng-20210724202354939.htm?fbclid=IwAR3GsRkHK9YEV8PzUz1d-sw7NIfIbxp9A9XdoBvKyNJEQTFyOu0xAbxtZZQ

GS-TS Trần Quang Hải: Tiếp nối con đường của cha là trọng trách thiêng liêng

25-07-2021 – 09:10 | Văn nghệ Chia sẻ

Con trai cố GS-TS Trần Văn Khê đã lựa chọn con đường đưa âm nhạc dân tộc ra thế giới như đúng di nguyện của cha mình

.Phóng viên: Vào đúng kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cha mình, cố GS-TS Trần Văn Khê (24.7.1921 – 24.7.2021), ông có suy nghĩ gì?

– GS-TS TRẦN QUANG HẢI: Tôi xúc động khi đọc và xem những bài viết của các bạn trẻ hưởng ứng nhiệt tình cuộc thi « Tìm hiểu về GS-TS Trần Văn Khê » được tổ chức trong lúc TP HCM giãn cách xã hội. Họ là những tác giả trẻ đã lan tỏa trong cộng đồng tình yêu âm nhạc dân tộc, văn hóa cội nguồn đến công chúng để cùng gìn giữ, nâng niu tâm hồn Việt trước sự tấn công mạnh mẽ của nhiều loại hình giải trí trong thời đại hội nhập hiện nay. Tôi tin dưới suối vàng, ba tôi cũng sẽ mỉm cười không phải vì được vinh danh mà vì nhìn thấy di nguyện của ông đã được hậu thế vận hành đúng quỹ đạo.

GS-TS Trần Quang Hải: Tiếp nối con đường của cha là trọng trách thiêng liêng - Ảnh 1.

GS-TS Trần Quang Hải và cố GS-TS Trần Văn Khê trong chương trình giới thiệu về âm nhạc dân tộc tại TP HCM .Ảnh: THANH HIỆP

.Hơn 40 năm làm việc, nghiên cứu ở Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học tại Bảo tàng Con người ở Paris (Pháp) và tham gia giảng dạy tại nhiều trường đại học trên thế giới, ông đã có những đóng góp lớn trong việc giới thiệu, quảng bá âm nhạc Việt Nam ra nhiều nước trên thế giới. Phải chăng đó là con đường mà ông đang tiếp nối cha mình?

– Tôi may mắn được sinh ra trong gia đình có nhiều đời hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, âm nhạc, lại là con trai trưởng nên sớm được cha định hướng đi theo con đường nghiên cứu âm nhạc cổ truyền của dân tộc. Tốt nghiệp Khoa Violin Trường Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn, tôi sang Pháp tiếp tục học nâng cao về violin, sau đó đổi sang học các loại nhạc cụ dân tộc và lấy bằng tiến sĩ âm nhạc dân tộc của người Việt tại Pháp. Trong thời gian làm việc, định cư ở Pháp, tôi tham gia hoạt động trong nhiều tổ chức âm nhạc, đặc biệt là Trung tâm Nghiên cứu khoa học Pháp và Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, nơi cha tôi từng công tác. Định mệnh đã đưa tôi theo con đường của cha từ rất lâu, tôi xem đó là trọng trách thiêng liêng và quyết tâm noi theo.

.Ông là người sáng tạo nghệ thuật gõ muỗng độc đáo, người truyền dạy cho mọi người cách chơi đàn môi của dân tộc Mông. Phải chăng ông muốn có một hướng đi khác với cha mình, người giới thiệu các nhạc cụ dân tộc Việt?

– Trong quá trình học tập, nghiên cứu, tôi có điều kiện đưa âm nhạc dân tộc của Việt Nam đến với công chúng hơn 70 nước trên thế giới; đặc biệt là môn nghệ thuật gõ muỗng và đàn môi của dân tộc Mông. Cha tôi lúc sinh thời đã rất tự hào về sự khác biệt mà tôi đã chọn. Bởi, từ những chiếc muỗng bình thường vốn được làm ra để phục vụ nhu cầu ẩm thực, qua bàn tay tài nghệ và cách xử lý nhạc học, đã mang đến cho người xem những cung bậc sinh động. Còn đàn môi là một loại nhạc cụ độc đáo có mặt ở 30 nước trên thế giới chứ không riêng Việt Nam. Ở châu Âu, đàn môi rất thông dụng với nhiều tên gọi khác nhau. Ở Anh người ta gọi đàn môi là jew’s harp, Pháp là guimbarde, ở Đức và Áo được gọi là maultrommeln… Đàn môi có nhiều hình dáng và chất liệu khác nhau nhưng đều có 2 bộ phận chính là khung cố định và « lưỡi gà » di động. Đàn môi ở các nước châu Mỹ được làm bằng thép, sắt, đồng hoặc nhôm, kiểu dáng giống nhau. Còn tại châu Á, tùy theo truyền thống và bản sắc từng dân tộc mà đàn môi ở mỗi nước có độ dài ngắn khác nhau với tên gọi rất đa dạng: mukkuri (Nhật Bản), genggong (Indonesia), kubing (Philippines). Ở Việt Nam, đàn môi là một trong những nhạc cụ được đồng bào các dân tộc thiểu số ưa chuộng. Tôi đã làm điều cha mình không làm nhưng cùng chung một tư tưởng, đó là góp phần quảng bá âm nhạc dân tộc ra thế giới.

.Ông có bao giờ ngại bị so sánh với cha mình, cố thoát khỏi cái bóng quá lớn của cha?

– Cha tôi là GS-TS chuyên về nhạc Việt Nam và nhạc Á châu. Trên con đường hấp thụ tất cả tinh hoa và sự giáo dục của cha dành cho tôi, ông luôn khuyên tôi không dừng lại ở đó mà cần đi xa hơn về nhạc thế giới bao gồm Phi châu, Úc châu, Mỹ châu… Do vậy, ngoài âm nhạc truyền thống, tôi đã bước vào thế giới của những người trẻ với các thể loại nhạc techno, hip hop… Tôi đã trình diễn hơn 3.500 buổi tại 70 quốc gia trên thế giới để quảng bá những nhạc cụ độc đáo của dân tộc Việt Nam. Đó là cách mà tôi dấn thân nhưng không phải thoát khỏi cái bóng của cha mình mà đồng hành cùng cha trong sứ mệnh thiêng liêng.

.Kỷ niệm nào khó quên nhất trong đời ông khi nhớ về GS-TS Trần Văn Khê?

– Ngày tôi bày tỏ ý định quay về nước, cùng cha tôi tiếp nối con đường giữ vững truyền thống của Việt Nam thông qua âm nhạc dân tộc, cha tôi đã ôm tôi thật chặt, hai cha con rơi những giọt nước mắt của hạnh phúc và sẻ chia. Tôi hiểu cha đã mong điều này từ lâu lắm rồi. Và chính ông đã nói với giáo sư violin khuyên tôi nên trở về với âm nhạc dân tộc. Suốt 10 năm đi học, tôi đã khám phá rất nhiều thú vị về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Tôi đi theo con đường của cha không phải do ông áp đặt hay bắt buộc. Ông chỉ truyền dạy cho tôi kiến thức, đam mê và cho tôi lựa chọn con đường để đi.

Tôi chưa hề bế tắc, tuyệt vọng nhưng tôi đã khóc trong ngày ba tôi mất, ông đi mang theo một tâm nguyện sẽ thành lập quỹ Trần Văn Khê và một không gian văn hóa để các học trò, giới trẻ yêu âm nhạc dân tộc tìm đến sinh hoạt. Cho đến phút cuối trong đời, cha tôi vẫn muốn được cống hiến.

.Được biết, ông đang bị ung thư và từng ngày trôi qua, ông đối diện với nó như thế nào?

– Tôi bị ung thư máu, vẫn kiên trì xạ trị chiếu điện và theo dõi bệnh thường xuyên. Nhưng, hễ làm được điều gì tốt đẹp cho âm nhạc dân tộc, trao truyền cho thế hệ trẻ những kiến thức mà tôi có thì tôi vẫn sẵn lòng. Điều tôi quý trọng cho đến thời điểm này là không có sự lai căng nào tồn tại trong đại gia tộc, vẫn giữ 2 chữ « thuần Việt » như cha tôi hằng trân quý. 

. Điều khiến ông trăn trở nhất về việc bảo tồn, gìn giữ âm nhạc dân tộc hiện nay là gì?

– Để gìn giữ và phát triển âm nhạc cổ truyền dân tộc, điều cấp thiết nhất là cần có giáo trình chuẩn mực về đào tạo tại Việt Nam. Khi đã đi vào chuẩn, làm thành một chiến lược sẽ có nhiều người tiếp nối, giảng dạy, theo nghề. Trong tình hình dịch bệnh còn phức tạp nên tổ chức những hội thảo trực tuyến, phác họa chương trình giáo dục âm nhạc trong nhà trường thông qua hình thức sân khấu học đường online. Nhà nước cũng cần quan tâm đến việc giáo dục âm nhạc từ nội thành đến vùng sâu, vùng xa, để ngay từ lúc các em học sinh cấp I, cấp II đã có một kiến thức căn bản về âm nhạc Việt Nam. Đến cấp III và vào đại học, các em được học thêm về nhạc cổ điển Tây phương và các nước láng giềng. Và quan trọng hơn là được học miễn phí, nhà nước phải tạo mọi điều kiện để thầy và trò cùng nâng niu âm nhạc dân tộc. Bên cạnh đó, các đài truyền hình nên thực hiện những chương trình giáo dục âm nhạc, định hướng âm nhạc, giới thiệu những nét tinh hoa, độc đáo, tiêu biểu của âm nhạc dân tộc và các quốc gia trên thế giới.

Thanh Hiệp thực hiện

NGUYỄN TRANG : Những ân tình trong kiếp cầm ca

Ca sĩ Bạch Yến: Những ân tình trong kiếp cầm ca

20:12 03/09/2019 Ca sĩ Túy Hồng, người vợ cũ của nhạc sĩ Lam Phương, sau này vẫn hay nói với Bạch Yến rằng: “Chị biết không, ổng viết nhiều bài nhạc tình về chị lắm”. Bạch Yến lắc đầu cười, coi đó như một lời đùa. Nhưng trong thâm tâm, bà mơ hồ nhận ra những câu hát của tác giả “Duyên kiếp” ám ảnh hình bóng bà – mối tình đầu đầy trong sáng nhưng xước xát cả đời người…

Yêu nhau từ thuở còn thơ

 Trong một chương trình âm nhạc, nhạc sĩ Lam Phương không ngần ngại mà tâm sự trước hàng vạn khán giả rằng: “Tôi sáng tác nhiều bài vì nhớ tới một người bạn gái. Người đó là ca sĩ Bạch Yến”.

Thuở hoa niên, chị mới 11, Lam Phương 15 tuổi. Biết nhau từ cái ngày chị đoạt huy chương vàng cuộc thi tiếng hát thiếu nhi do Đài phát thanh Pháp Á tổ chức. Sau đó, Bạch Yến được mời về thu âm cho Đài hằng tuần. Lam Phương cùng chúng bạn hay quanh quẩn ở nhà đài để tập tành sáng tác, hát với nhau những lời ca chưa khô vết mực. 

Lam Phương để ý đến cô bé xinh xinh có giọng hát trong trẻo, véo von. Anh em gặp nhau lại chuyện trò ríu ra ríu rít như bầy sẻ non. Anh dẫn cô bé về nhà mình chơi, gặp cha, gặp mẹ. 

Chẳng lần vuốt tóc, cầm tay. Vậy mà một ngày, Lam Phương đến nhà Bạch Yến, khoanh tay thưa với mẹ cô rằng: “Thưa bác, cháu xin được hỏi cưới Bạch Yến làm vợ”. Bà mẹ trợn trừng sửng sốt, tưởng cậu chàng nói chơi chơi. Bạch Yến còn quá nhỏ để làm vợ người ta. 

Biết ý định của Lam Phương là thật lòng, giọng bà mẹ lạnh tanh: “Khi nào cậu đậu tú tài, tui mới tính chuyện con nhỏ. Cậu về đi”. Bạch Yến khi đó không biết yêu đương là gì, chỉ thích và mến mộ người anh trai nhiệt tình, tốt bụng.

Hai năm sau cô bịn rịn chia tay Lam Phương, từ giã căn nhà tranh xiêu vẹo ở Sài Gòn để rong ruổi dọc miền Nam Bắc đỡ đần mẹ khi cha đi biền biệt không về. Đoàn môtô bay của người chú giúp mấy mẹ con có cơm ăn qua ngày. Thỉnh thoảng Lam Phương lại bắt xe đò đi thăm nàng hôn thê bé nhỏ.

Dù tuổi cao nhưng ca sĩ Bạch Yến luôn “cháy” hết mình trên sân khấu.

Trong một lần biểu diễn, Bạch Yến bị ngã, gãy xương sườn, đoàn môtô bay phải đóng cửa. Bạch Yến trở về quê xưa, mong chóng gặp lại người thương. Nhưng năm tháng thoi đưa khiến lòng người chẳng còn như cũ. Coi như đường duyên không có ông Tơ, bà Nguyệt dẫn lối, dệt phận. 

Từ đó trái tim Bạch Yến dường như đóng cửa trước bao lời tán tỉnh, theo đuổi của bao “cây si” vây quanh mãi cho đến năm 36 tuổi. Nhưng nỗi lòng người nhạc sĩ vẫn nhìn theo người thương bé bỏng nay đây mai đó đem tiếng hát cho người. Ngày Bạch Yến sang Pháp, ông viết “Kiếp tha hương”: « Thương cho thân gái đường xa/ mang vào kiếp không nhà/ trời đông thiếu chăn êm… ».

Sau này, khi hôn nhân không như mong đợi, dõi bóng hình người con gái ngày nào, Lam Phương luôn đau đáu trăn trở trong từng câu hát. Như khi Bạch Yến bắt đầu sự nghiệp biểu diễn ở xứ người, thỉnh thoảng mới về Việt Nam, ông viết “Tình bơ vơ” xót xa: “Ngày mình yêu/ Anh đâu hay tình ta gian dối/ Để bước phong trần tha hương/ Em khóc cho đời viễn xứ/ Về làm chi rồi em lặng lẽ ra đi…”. 

Chuyện tình ngày thơ và dự cảm ngày người thương lên xe hoa ở xứ lạ dường như thấp thoáng trong câu hát: “Rồi từ đó vì cách xa, duyên tình thêm nhạt nhòa/ Rồi từ đó chốn phong ba em làm dâu nhà người/ Âm thầm anh tiếc thương đời, đau buồn em khóc chia phôi/ Anh về gom góp kỷ niệm tìm vui (Thành phố buồn). Và còn nhiều khúc hát mà Lam Phương dành cho mối tình đầu, như: “Tình chết theo mùa đông”, “Cho em quên tuổi ngọc”…

Đến tận bây giờ, nhắc chuyện xưa, Bạch Yến vẫn trân trọng, nâng niu, yêu mến người nhạc sĩ tài hoa nhưng lận đận đường tình. Dẫu gì, phút cuối, trái tim bà đã reo vui trong tổ ấm nhỏ, còn Lam Phương thì… 

Ca sĩ Bạch Yến bảo rằng bà không ngại khi nhắc đến chuyện Lam Phương. Bởi nhạc sĩ, GS Trần Quang Hải – chồng bà, hiểu rằng tất cả chỉ là quá khứ, ông tôn trọng góc riêng của mỗi người. Thế nên thỉnh thoảng Lam Phương lại lặn lội từ Mỹ ghé thăm vợ chồng Bạch Yến ở Paris, để rồi ngỡ ngàng mà thốt lên: “Hạnh phúc của hai người tôi rất ao ước nhưng mãi mãi không bao giờ có được”.

Ca sĩ Bạch Yến.

Cưới nhau sau 24 giờ gặp gỡ

Trong một lần giao lưu âm nhạc ở Pháp, GS Trần Văn Khê chỉ về phía cậu thanh niên gầy ốm, đen đúa đứng khúm núm phía cuối dãy ghế khán giả, nói nhỏ với Bạch Yến: “Tôi có thằng con trai từ Việt Nam mới qua, nó đứng đằng kia kìa”. Lúc đó, Bạch Yến không có ấn tượng gì lắm với Trần Quang Hải. 

Còn với Trần Quang Hải thì Bạch Yến là thần tượng. Không thần tượng sao được khi thập niên 60 của thế kỉ trước, Bạch Yến đã là cái tên được đông đảo người hâm mộ, là ngôi sao Việt Nam hát tiếng Tây đầu tiên đặt chân đến nơi hội tụ của những minh tinh nổi tiếng nước Mỹ. Bà có thể hát được tiếng Pháp, Anh, Do Thái, Tây Ban Nha… 

Bà còn là ca sĩ duy nhất hát trong chương trình truyền hình The Ed Sullivan show (chương trình ăn khách nhất của Mỹ trong khoảng thời gian 1950-1970), hòa giọng cùng các ca sĩ nổi tiếng của Mỹ thời đó như Bob Hope, Bing Crosby, Pat Boone, Mike Douglas… Với những thành tựu đó, Bạch Yến được xem là một trong 10 ca sĩ có ảnh hưởng lớn nhất của nền tân nhạc Việt Nam.

Bẵng đi rất nhiều năm sau đó, bôn ba ở xứ người, Bạch Yến không gặp lại Trần Quang Hải. Đất nước thống nhất, gia đình bặt tăm tin tức khiến Bạch Yến hoang mang. Cũng chính cú sốc này khiến bà mắc bệnh, không thể sinh con. Mang nỗi buồn lữ thứ, bà đứng ngẩn ngơ trước cửa nhà hát Pháp. 

Giờ biểu diễn sắp bắt đầu nhưng có thứ gì thôi thúc bà chờ đợi. Bỗng một gương mặt rất quen ôm chầm lấy bà, hôn vào má. Đón bó hoa từ tay gương mặt quen, bà ngạc nhiên hỏi: “Ủa, anh biết tôi là ai không mà ôm hôn?”. 

Người đàn ông cười: “Ca sĩ Bạch Yến chớ ai”. Bạch Yến đỏ lựng cả má, bà vắt óc vẫn không biết gương mặt quen này mình đã gặp ở đâu, tên là gì. “Không nhận ra tôi hả, tôi là con trai của GS Trần Văn Khê nè”. 

Đến lúc này bà càng mở to mắt. Vì người đàn ông đứng trước mặt không còn vẻ gầy gò, đen đúa như ngày nào. Ông trông phong độ, hồng hào, đi cạnh là cô con gái nhỏ của người vợ đã ly dị. Bấy giờ, tên tuổi ông đã nổi danh với tư cách là một giáo sư nghiên cứu âm nhạc dân tộc. Vậy là gần 20 năm xa cách, hai người mới có duyên hội ngộ trên xứ lạ.

Vợ chồng ca sĩ Bạch Yến – nhạc sĩ, GS Trần Quang Hải luôn sát cánh với nhau khi quảng bá âm nhạc dân tộc ra thế giới.

Vị giáo sư ngỏ lời mời nữ danh ca đi ăn tối. Bên ánh nến lãng mạn, hai người nói đủ chuyện trên trời, dưới đất, vui quá Trần Quang Hải khoát tay: “Hay là hai đứa mình lấy nhau đi”. Bạch Yến tưởng ông giỡn, cũng nháy mắt: “Ok”. Hai tuần sau, 400 thiệp cưới được phát ra khiến Bạch Yến hốt hoảng kéo tay Trần Quang Hải: “Bộ anh định làm thiệt hả?”. Ông cười khà khà. Bà tặc lưỡi, thôi thì ném lao thì phải theo lao. 

Năm 1978, đám cưới diễn ra trong sự ngạc nhiên của họ hàng, bạn bè. Ngay trong đám cưới, Trần Quang Hải đã hào hứng sáng tác bài “Tân hôn dạ khúc”. Nhớ lại, Bạch Yến cười: “Ảnh nói anh không có hột xoàn, chỉ có bài hát này làm quà cho em thôi. Ai ngờ, khi tôi thể hiện bài hát đó, khán giả yêu mến, coi như nó cũng là bài tủ của mình”.

Không có con nên Bạch Yến dồn hết tình yêu thương của mình cho con chồng. Xa quê hương và gia đình từ nhỏ nên Bạch Yến luôn hướng về cội nguồn, khát khao hơi ấm gia đình. Có thể nói bà là người truyền cho con chồng tình yêu quê Việt khi dạy cho cô bé nói tiếng Việt, làm các món ăn dân tộc như canh chua, thịt kho trứng, muối dưa… 

Ngày con gái đi lấy chồng, bà là người khóc nhiều nhất, mẹ con bịn rịn khiến chẳng ai nghĩ họ là mẹ ghẻ, con chồng. Yêu Trần Quang Hải, Bạch Yến bước vào lĩnh vực âm nhạc dân tộc –  lĩnh vực vô cùng khó khăn, lạ lẫm với một ca sĩ chuyên trị tân nhạc, nhạc ngoại quốc như bà. Phải mất 15 năm, Bạch Yến mới có thể lướt đàn tranh, ngân nga khúc dân ca, cùng chồng đi khắp hơn 70 nước để quảng bá âm nhạc dân tộc.

Bây giờ, dù đã bước vào tuổi 77, nhưng trên sân khấu cũng như ngoài đời, bà luôn hoạt bát, hóm hỉnh pha trò vừa sang trọng, vừa gần gũi. Mỗi khi đi xa một mình, tham quan những đâu, ăn món gì, gặp gỡ những ai, bà cũng chụp hình gửi qua mạng cho chồng. 

NGUYỄN TRANG

https://cand.com.vn/Nhan-vat-hot/Ca-si-Bach-Yen-Nhung-an-tinh-trong-kiep-cam-ca-i534704/

Đặng Hoành Loan tiểu sử (1943 -)

Đặng Hoành Loan

Đặng Hoành LoanSubmitted by quantri on 02/09/2016 – 01:24

Đặng Hoành Loan

Chuyên ngành nghiên cứu – lý luận

Ông có bút danh Đặng Nguyễn, sinh ngày 22 tháng 12 năm 1943 tại thị xã Hà Đông. Quê ở Chương Mỹ, Hà Tây. Nguyên Phó Viện trưởng Viện Âm nhạc kiêm Trưởng ban biên tập tạp chí Thông báo khoa học Viện Âm nhạc. Ông đã nghỉ hưu, hiện ở quận Cầu Giấy, Hà Nội.

Hơn 40 năm hoạt động âm nhạc, ông là một trong những nhạc sĩ năng động, sáng tạo trên nhiều lĩnh vực: biểu diễn, sáng tác, chỉ huy, nghiên cứu, lý luận âm nhạc và cả quản lý. Từ 1959-1963, ông học và tốt nghiệp Khoa Nhạc cụ dân tộc Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam). Từ năm 1964-1975, ông chỉ huy Dàn nhạc Đoàn Ca Kịch Liên khu V. Từ năm 1976, ông là cán bộ nghiên cứu, sưu tầm Viện Âm nhạc. Đến năm 1996, ông làm Phó Viện trưởng Viện Âm nhạc kiêm Trưởng ban biên tập tạp chí
Thông báo khoa học Viện Âm nhạc.

Những công trình nghiên cứu âm nhạc tiêu biểu:

Tìm hiểu cấu trúc âm nhạc trong lớp Tuồng Võ Tam Tư

(tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 1990),

Một phác thảo về âm nhạc dân gian và cổ truyền Quảng Trị

(sách
Âm nhạc cổ truyền Quảng Trị,
Viện Nghiên cứu Âm nhạc và Sở Văn hóa Thông tin Quảng Trị, 1997),

Phát triển âm nhạc truyền thống – mục tiêu, kết quả và những tồn tại

(sáchkỷ yếu Hội thảo khoa học

Phát triển âm nhạc truyền thống – ý nghĩa văn hóa và thành tựu nghệ thuật,

Bộ Văn hóa Thông tin, 2004);
Ca trù – những điều trông thấy
(sách
Đặc khảo Ca trù Việt Nam,
Viện Âm nhạc, 2006);
Cồng chiêng Tây Nguyên – không mà có
(tạp chí Di sản văn hóa, Bộ Văn hóa Thông tin, 2007).

Ngoài lĩnh vực nghiên cứu – lý luận, ông còn tham gia nhiều hoạt động âm nhạc khác, đặc biệt là sáng tác nhạc hòa tấu và nhạc hát. Một số tác phẩm tiêu biểu:
Huyền sử chiêng đồng
(poème ballet, 1990),
Nghe kể H’Ri
(nhạc múa),
Suối đàn T’rưng hát
(hòa tấu 20 đàn T’rưng); sáng tác âm nhạc cho 5 vở kịch hát mới:

Quạ thần và pho tượng đá, Trầu Cau, Chốn quan trường, Thiên kim tình hận


Phạm Công – Cúc Hoa.
Ông đã có 2 album âm nhạc:
Chuyện tình núi và sông

Dự cảm
(Nxb. Âm nhạc, 2007).

Với những đóng góp của mình, ông đã được tặng thưởng: Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba, Bằng khen Chính phủ và Huy chương 25 năm ngành Văn hóa.

PGS Đặng Hoành Loan: Nên có một bảo tàng mang tên GS Trần Văn Khê

PGS Đặng Hoành Loan: Nên có một bảo tàng mang tên GS Trần Văn Khê

Dân trí

Theo Phó Giáo sư, nhạc sỹ Đặng Hoành Loan, với những cống hiến và đóng góp của GS Trần Văn Khê chúng ta nên có một bảo tàng, giới thiệu trưng bày những tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học nghệ thuật của ông.

Giáo sư Trần Văn Khê

Giáo sư Trần Văn Khê ra đi để lại sự tiếc thương đối với gia đình và những người yêu mến ông. Theo PGS, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, hiếm có một GS nào có tình yêu âm nhạc truyền thống như GS Trần Văn Khê.

GS Trần Văn Khê được biết đến như một bậc đại thụ, trưởng bối với nhiều đóng góp và cống hiến cho nền âm nhạc Việt Nam. Chính vì thế, thông tin về sự ra đi của GS Khê khiến cho không ít người cảm thấy đau xót, bàng hoàng. Phó Giáo sư, nhạc sỹ Đặng Hoành Loan – người từng có nhiều cơ hội được tiếp xúc, làm việc với GS Khê cũng không giấu nổi xúc động cho biết, ông cảm thấy mất mát và hụt hẫng như mất đi một người thân trong gia đình. 

Đối với nhạc sỹ Đặng Hoành Loan, GS Trần Văn Khê vừa là một người thầy, vừa là một tấm gương mẫu mực về quá trình lao động nghệ thuật, sự đam mê và cống hiến hết mình cho công việc. Theo nhạc sỹ Đặng Hoành Loan, cả cuộc đời GS Trần Văn Khê vẫn đeo đuổi chỉ một công việc: nghiên cứu, giảng dạy, quảng bá giá trị đặc sắc của âm nhạc truyền thống Việt Nam và góp phần vinh danh giá trị đó ở khắp mọi nơi trên thế giới. 

Với GS Trần Văn Khê, âm nhạc truyền  thống là một thứ quốc hồn, quốc túy. Ông không bỏ lỡ một dịp nào để đem lời ca, tiếng nhạc Việt Nam đến khắp năm châu dù đó là những lần thuyết trình trên các đài truyền thanh, truyền hình hay trong các chuyến đi tham dự hội nghị âm nhạc. Chính vì thế, nhắc đến GS Trần Văn Khê người ta nhắc đến một thư viện sống, một bách khoa toàn thư về âm nhạc truyền thống Việt Nam. Chính Giáo sư Khê là người đã có công góp sức rất lớn vào việc thẩm định Hồ sơ Nhã nhạc cung đình Huế và được giao trọng trách thẩm định hồ sơ cồng chiêng Tây Nguyên.

Ông đã chứng minh được những nét đặc sắc, độc nhất vô nhị của hai loại hình nghệ thuật này. Không lâu sau đó, Nhã nhạc cung đình Huế, cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Theo GS Đặng Hoành Loan, phải nghe GS Khê nói về cội nguồn âm nhạc dân tộc, mới cảm được hết cái tình của một người nhạc sĩ suốt đời say mê nghiên cứu, sưu tầm, phổ biến âm nhạc truyền thống Việt Nam. Ông rất bác học, tinh tế nhưng lại rất mộc mạc, giản dị và đời thường. Hiếm có một vị giáo sư nào mà vừa có thể thuyết giảng, diễn thuyết minh họa về  chèo, tuồng, cải lương, hát bài chòi, hò Huế, hò lục tỉnh… lại vừa đàn, vừa ca “mượt mà” được như ông. 

PGS, Nhạc sỹ Đặng Hoành Loan. (Ảnh: NNVN)

PGS, Nhạc sỹ Đặng Hoành Loan. (Ảnh: NNVN)

Nhạc sỹ Đặng Hoành Loan xúc động kể:  “Điều rất khó tìm ra ở một Giáo sư như ông đó là tình yêu, sự hết mình với âm nhạc Việt Nam. Trong nhiều năm liền, bác miệt mài nghiên cứu, xây dựng những bộ đĩa âm thanh của những nghệ nhân như Quách Thị Hồ, ông Năm Ngũ… để đề cử với hội nghị âm nhạc thế giới. Cũng chính ông là người trực tiếp đề xuất hỗ trợ, trợ cấp cho các nghệ nhân ưu tú với mong muốn thúc đẩy, cổ vũ sự phát triển của loại hình nghệ thuât truyền thống đối với đông đảo tầng lớp xã hội. Rất nhiều học trò của ông trên khắp thế giới cũng được “truyền lửa” và có những đóng góp lớn cho nên âm nhạc Việt Nam”.

Trước đây, khi nhạc sỹ Đặng Hoành Loan còn công tác ở Viện âm nhạc Việt Nam cũng đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình của GS Trần Văn Khê: “Hồi đó ông còn đang ở nước ngoài, nhưng hầu như lần nào về Việt Nam ông cũng đến Viện âm nhạc thăm, động viên tinh thần anh em ở đó. Tôi nhớ có lần, khi trông thấy kho tư liệu với rất nhiều băng đĩa, tài liệu cổ được chúng tôi cất giữ, bảo quản cẩn thận, ông đã nắm tay tôi xúc động và nói: Bằng mọi giá phải giữ được những thứ này, đó là tài sản vô giá mà không thể đánh đổi bằng bất cứ thứ gì”.

GS Khê làm việc miệt mài, ngay cả khi sức khỏe kém phải ngồi xe lăn. Nhạc sỹ Đặng Hoành Loan kể,  không chỉ là người đứng ra tổ chức, xây dựng các chương trình khơi lửa tình yêu âm nhạc truyền thống, ông còn dành nhiều thời gian cho các hội thảo khoa học trong nước, quốc tế. Căn nhà rộng gần 200m2 của ông tại quận Bình Thạnh được ông biến thành không gian sinh hoạt của những người yêu âm nhạc truyền thống. 

Cứ đều đặn hàng tuần nhiều thành phần, tầng lớp xã hội lại cùng gặp gỡ, trò chuyện. Họ đơn giản chỉ là sinh viên, người bán nước, hay đến cả giáo viên, kỹ sư nhưng cùng có chung niềm đam mê với các loại hình nghệ thuật truyền thống.

55 năm sống ở nước ngoài nhưng vẫn mang quốc tịch Việt Nam, một đời GS Trần Văn Khê chỉ đau đáu nỗi niềm và tình yêu dành cho âm nhạc dân tộc. Ở tuổi 94, trải qua nhiều thăng trầm; giáo sư vẫn minh mẫn, lạc quan và cho rằng đời sống của mình thế cũng là viên mãn lắm. 

Trong một lần trả lời phát biểu, khi được nói về mình ông cho biết: “Khê nghĩa là suối”, tôi ví mình như dòng suối chảy ra biển cả rồi lại ngược về nguồn, đã đậm đà vị mặn nhưng không hề bớt trong mát…” Những điều ích lợi mà ông đã làm cho dân tộc mình theo cách riêng của ông đã được quê hương xứ sở ghi nhận sau những năm dài.

Chính vì những đóng góp lớn lao và quá trình cống hiến không mệt mỏi của GS Trần Văn Khê, theo nhạc sỹ Đặng Hoành Loan, Việt Nam nên có một bảo tàng, giới thiệu trưng bày những tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học nghệ thuật của ông. Đây cũng là một cách truyền lửa tình yêu âm nhạc truyền thống cho các thế hệ sau này.

Hà Trang

https://dantri.com.vn/van-hoa/pgs-dang-hoanh-loan-nen-co-mot-bao-tang-mang-ten-gs-tran-van-khe-1435909953.htm

Sự kiện: GS Trần Văn Khê qua đời

Từ khóa:

Đáng quan tâm

Tiếng Hát Ngày Xưa: Hải Minh hát Quyết Tiến của Võ Đức Thu.

Tiếng Hát Ngày Xưa: Hải Minh hát Quyết Tiến của Võ Đức Thu.

Quyết Tiến

Tác giả: Võ Đức Thu

Quyết tiến ta giống dân Lạc Hồng
Liều thân sống tranh đấu giữ gìn non sông
Quyết tiến khi nước non nguy biến
Máu anh hùng ngàn đời nhuộm thắm non sông

Quyết tiến khi nước non reo hò
Lòng cương quyết tranh đấu giữ gìn tự do
Quyết tiến khi nước non nguy biên
Máu anh hùng rạng danh nòi giống Tiên Rồng

Vết anh hùng ngàn xưa nay còn lưu dấu
Theo sử xanh nước Việt ngàn đời hùng anh
Chí quật cường toàn dân hy sinh tranh đấu
Giống Lạc Hồng rạng danh nòi giống Tiên Rồng

ERIC BRIGHTWELL : THIÊN HƯƠNG (aka « TINY YONG »)

Thiên Hương (aka “Tiny Yong”)

~ Eric Brightwell

Tais-Tai Petite Folle
Je t'attendrai
Histoire d'amour
Il Reviendra
Huit Heurs
Tiny long hair

Thiên Hương — better known as “Tiny Yong” is a French singer associated with the yé-yé scene of the 1950s and ’60s. In fact, she was a pioneer on the scene, releasing yé-yé music before notable singers like France Gall and Jacqueline Taïeb.

She was born Tôn Nữ Thị Thiên Hương on 8 February 1944 in Phnom Penh — the capital of Cambodia since 1865 but then part of French-Indochina. Her father was a doctor and her mother a homemaker; both traced their heritage to Vietnam‘s Dương Dynasty. The family relocated to Saigon and Thiên Hương was schooled at Le Couvent des Oiseaux de Dalat, where she learned English, Spanish, and French. In 1958, the family again relocated, this time to a home on La rue Coustou in Paris‘s 18th arrondissement. There, her father continued to practice medicine and her mother opened a Vietnamese restaurant.

Monde de Suze Wong.jpg

In 1960, Thiên Hương performed in Albert Camus‘s Les Justes and Jean Cocteau‘s L’Épouse injustement soupçonnée, staged at La Théâtre de la Tomate. She next appeared in François Campaux‘s Chérie Noire. Meanwhile, her brother helped her secure a job performing Vietnamese and French “chanson à texte” at a cabaret in the 1st arrondissement called La Table du Mandarin. In December, she made her television debut on Aimée Mortimer‘s show A L’École des vedettes. The following February, she returned to the airwaves to mime “Rêve Opératoire.” In March she released her debut recording, the 7″ EP “Le Monde de Suzie Wong,” accompanied by Jacques Loussier et son orchestre, on Caravelle.

Tiny Black and White

Cambodian actress and singer Tiny Yong in Rome, Italy, to star in the film 'Parias de la gloire' ('Pariahs of Glory'), 1964. (Photo by Keystone/Hulton Archive/Getty Images)

In April, Thiên Hương performed “Si tu cherches ta jeunesse” on the music television series, Discorama, a song intended for an EP which ultimately wasn’t released. She also continued performing at La Table du Mandarin, where she was noticed by filmmaker Robert Hossein, who cast her as “L’eurasienne” in Jeu de la vérité (1961).https://www.youtube.com/embed/LI1Wb35R5Pw?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=en&autohide=2&wmode=transparent

Tiny Yong Yellow

Her second audio release was “La Prison de Bambou,” a duet with Jean-Philippe, backed by Jack Ledru et son ensemble, and released by the tiny label, Lotus in 1962. It was recorded for the 1962 Piero Pierotti film, L’avventura di un italiano in Cina, in which she also appeared as “Tai-Au.” It was released in the US, dubbed in English, as Marco Polo — and with a Les Baxter score.

In November, she returned to Discorama where she performed “L’Oiseau de paradis” — the theme to Marcel Camus‘s film of the same name. For the performance she was accompanied by Elek Bacsik (a cousin of Django Reinhardt) and Henri Salvador (a Guyanese comedian, singer, and producer who co-owned his own label Disques Salvador with his wife, Jacqueline).

In December, Thiên Hương appeared on another television program, La Tournée des Grands Ducs, this time joined by her sister Bạch Yến, with whom she duetted on “Les Fées du crépuscule.”https://player.vimeo.com/video/279329214https://www.youtube.com/embed/hMNpqtNr8OE?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=en&autohide=2&wmode=transparent

Shortly after, Thiên Hương signed a deal with Disques Salvador, where Henri and Jacqueline came up with a new nom de scène, “Tiny Yong.” The couple hoped to fashion her into a rock ‘n’ roller along the lines of Jacky Moulière. Henri Salvador also owned a club, L’Alhambra, where Thiên Hương began singing songs popularized by American girl groups. Her first recording for Disques Salvador was “Tais-Toi Petite Folle” with Christian Chevallier. The A-side was a French language cover of Helen Miller and Howard Greenfield‘s, which had been a big hit for The Shirelles just weeks earlier. The B-side was a French cover of Roy Orbison‘s “In Dreams” titled “En rêve.”

Tiny Yong – Je Ne Veux Plus T'aimer

Her next release was the 10″ album, Je Ne Veux Plus T’Aimer, the title track a cover of Goffin And King‘s “I Can’t Stay Mad at You” adapted into French by Hubert Ithier.https://www.youtube.com/embed/avdfQnbFbOc?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=en&autohide=2&wmode=transparent

For the next few years, Tiny Yong was a regularly featured performer on television, radio, film, and in print ads for companies including Bic and Odilène; all the while releasing 7″ EPs on Disques Salvador and Rigolo (the Salvador’s other label). In March 1964, she performed “Les garçons m’aiment” on the program, Âge tendre et tête de bois, for which she was introduced by Albert Raisner as “la yéyé du pays du sourire” (even though it’s Thailand which is sometimes referred to as “the land of smiles.” In April she appeared as “La chinoise ” in the Henri Decoin film, Les Parias de la gloire. She next performed on Les Raisins verts and twice on La grande farandole.https://www.youtube.com/embed/q37xBPGdr4g?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=en&autohide=2&wmode=transparenthttps://www.youtube.com/embed/h7eIzKTUtVQ?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=en&autohide=2&wmode=transparent

In 1965, she performed on Entrez dans la ronde, Pirouettes Salvador, and Tête de bois et tendres années. https://www.youtube.com/embed/rrIQnYrqfQE?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=en&autohide=2&wmode=transparenthttps://www.youtube.com/embed/CEOoVHJWec0?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=en&autohide=2&wmode=transparent

Yong’s final release on Rigolo was “Mon Futur Et Mon Passé” in 1965. A second appearance on Tête de bois et tendres années — on 27 April 1966 — proved to be her final television performance. Following a disagreement with the Salvadors, she parted ways with them.

Mon Futur.jpg

Advertisements https://c0.pubmine.com/sf/0.0.3/html/safeframe.html Report this adPrivacy

Tiny Yong Mushroom

Hương appeared as in Nicolas Gessner‘s 1967 film, La blonde de Pékin, in which still credited as “Tiny Yong” she played Yen Hay Sun.

Hương returned to Saigon, in 1968 — the year the Tet Offensive marked a major turn in the Vietnam War. There she resumed performing at cabarets before deciding to retire from public performance. In 1970, she returned to France where she appeared on an episode of Allô police titled “La pantoufle de jade.

Advertisements https://c0.pubmine.com/sf/0.0.3/html/safeframe.html Report this adPrivacy

It was also in 1970 that she opened the first of several restaurants — first in Paris, then in Saint-Germain-des-Prés, followed by Pont de Jade in Pont-sur-Yonne, and finally in Montpellier, where she resides today. She married An Nguyên Ngoc and the two had a daughter.

Naturally, Thiên Hương/Tiny Yong’s vinyl catalog is out of print but her music has been thrice compiled by Magic Records on compact disc: La Collection Sixties Des EP’s Français, Tiny Yong – L’integrale 1961/1965, and the two-disc Tiny Yong – L’Intégrale Sixties. In 2017, a duet with Trần Văn Trạch of Nguyễn Văn Đông‘s “Chiều Mưa Biên Giới” was released 57 years after it was recorded.

Bon anniversaire!


Prison de Bambou

DISCOGRAPHY

  • 1961 – Le Monde de Suzie Wong (7″, EP), Caravelle
  • 1961 – Le Monde de Suzie Wong / Pour t’aimer / Geisha / Fol amour (7″, EP), Caravelle
  • 1962 – Parfum Céleste / La Prison De Bambou / Avril A Paris / Mon Galant Viendra (with Jean Philippe), (7″, EP), Lotus
  • 1963 – Tais toi petite folle (7″, Single), Disques Salvador
  • 1963 – Je ne veux plus t’aimer (10″, Album), Disques Salvador
  • 1963 – Je ne veux plus t’aimer (7″, EP), Disques Salvador
  • 1963 – Je ne veux plus t’aimer (I Can’t Stay Mad At You) / Le Carrosse blanc (7″, Single), Disques Salvador
  • 1963 – En rêve (In Dreams) / Ma poupée (Charms) (7″, Single, Promo, Juk), Disques Salvador
  • 1963 – Je ne veux plus t’aimer / Le Carrosse blanc / Tu es seule / Un seul garçon sur la Terre (7″, EP), Disques Salvador
  • 1963 – Je ne veux plus t’aimer / Le Carrosse blanc / Ma poupée / En rêve / Tais-toi petite folle / Un seul garçon sur la Terre / Tu es seule / Syracuse (LP25), Disques Salvador
  • 1964 – Tiny Yong avec Christian Chevallier et son Orchestre Mon chien et moi / Je t’attendrai / Les garçons m’aiment / Il reviendra (7″, EP), Belter, Disques Salvador
  • 1964 – Histoire d’amour / Aime-moi / C’est fini nous deux / Tout ce qui fut l’amour (7″, EP), Rigolo, Belter
  • 1964 – Tiny (I’m Too Young) / La Nuit est à nous / Le Sauvage (He Is No Good) / Adieu Bonne Chance (Shake Hands With A Loser) (7″, EP), Rigolo
  • 1964 – Il reviendra (7″, Single), Disques Salvador
  • 1964 – Je t’attendrai / Mon chien et moi (7″, Single), Disques Salvador
  • 1964 – Un seul garçon sur la Terre (7″, EP), Belter
  • 1964 – Je t’attendrai / Les garçons m’aiment / Il reviendra / Mon chien et moi (7″, EP), Disques Salvador
  • 1965 – Huit jours par semaine / Le Tigre (7″, Single), Rigolo
  • 1965 – Mon futur et mon passé (7″, EP), Rigolo
  • 1965 – Huit jours par semaine / Tu es le roi des menteurs / Le Tigre / Je reviens pour toi (7″, EP), Rigolo
  • 1966 – Mon futur et mon passé / Le Bonheur / Je t’aime t’aime tant / Il ne me reste plus rien (7″, EP), Rigolo
  • 2017 (recorded in 1960) –  Chiều Mưa Biên Giới (7″, single), Dĩa Hát Dư Âm

daidoanket.vn: HỒ THỤY TRANG- Người giữ lửa cho âm nhạc cổ truyền Việt Nam tại Pháp

Hồ Thụy Trang- Người giữ lửa cho âm nhạc cổ truyền Việt Nam tại Pháp

h

Trong những năm gần đây, khán giả kiều bào tại Paris và vùng phụ cận cũng như bạn bè Pháp “được đi du lịch” tại Việt Nam nhiều hơn, có cơ hội khám phá văn hóa Việt Nam nhiều hơn, và đó phần nào nhờ nữ nghệ sĩ Hồ Thụy Trang và ban nhạc Tiếng

Chị Hồ Thụy Trang sinh năm 1964 tại TP Hồ Chí Minh, trong một gia đình có truyền thống yêu âm nhạc. Lên 6 tuổi, chị bắt đầu học hát và đàn tranh tại trung tâm Phượng Ca. Lên 7 tuổi, chị đã vượt qua cuộc thi vào Trường Quốc gia âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn, nay là Học viện Âm nhạc TP Hồ Chí Minh. Chị tốt nghiệp hạng ưu năm 1986 và bắt đầu sự nghiệp giảng dạy. Ngoài ra, chị còn thường xuyên tham gia các liên hoan âm nhạc trên thế giới.

Với ngón đàn điêu luyện của mình, qua những âm thanh tuyệt vời nhất của nhạc cụ truyền thống Việt Nam, chị đã góp phần không nhỏ vào quá trình giới thiệu âm nhạc Việt Nam đến các bạn bè quốc tế.

Từ năm 2003, chị chính thức định cư tại Créteil, một thành phố ngoại ô Paris, và đã qua cuộc thi khó khăn để nhận bằng Quốc gia của Bộ Văn hóa – Thông tin Pháp. Chị đã giảng dạy Âm nhạc truyền thống Việt Nam tại các thành phố Marseille, Bordeaux và Lausanne, tại Nhạc viện các thành phố ngoại ô Paris như Bussy-Saint-Georges và Lagny, Créteil và hội Tre Xanh. Chị cũng đã trình lên Bộ Giáo dục Pháp một dự án nhằm đưa Âm nhạc truyền thống Việt Nam vào giảng dạy chính thức tại trường học Pháp. Chị đã “có quyền tự hào và tự hãnh diện một chút vì mình là người Việt Nam thứ ba được chính phủ Pháp chính thức công nhận là giáo sư âm nhạc Việt Nam”.

Bắt đầu từ năm 2000, Hồ Thụy Trang và năm người bạn đã thành lập ban nhạc Tiếng Tơ Đồng tại Paris. Đây cũng là ban nhạc được chính phủ Pháp cấp giấy phép tổ chức sự kiện và được xem như một công ty biểu diễn.

Với gần 40 năm kinh nghiệm giảng dạy, chị đã đào tạo hàng ngàn tài năng trẻ. Hồ Thụy Trang không chỉ dạy cho họ những kiến thức cơ bản mà còn cả những kỹ thuật chơi bắt nguồn từ những kinh nghiệm riêng. Chị đã không chỉ đem đến cho thế giới những người yêu âm nhạc truyền thống hứng thú nghe đàn mà còn xem chị chơi với những kỹ thuật và phong cách do chị sáng tạo, khiến mỗi buổi biểu diễn như tăng thêm sức hấp dẫn đối với khán giả. Chị cũng thường xuyên biểu diễn cùng các nghệ sỹ có tên tuổi trên thế giới. Với chị, khi được biểu diễn với người nước ngoài là một vinh dự “vì nước Pháp được coi là một quốc gia đa dân tộc, mình được diễn với họ, được diễn với người Pháp, được diễn với người Mỹ, người Đức chẳng hạn thì mình được học hỏi nhiều cái mới, phong cách biểu diễn cũng như nền nhạc của họ. Đó là điều khiến mình trau dồi thêm sự hiểu biết, cũng như để có thể phát triển nền âm nhạc Việt Nam đến một hướng mới hơn”. Báo chí Pháp đã đưa tin khá nhiều về nghệ sĩ Hồ Thụy Trang và những cuộc trình diễn.

Chị là một nghệ sĩ quen thuộc trên sân khấu ở Trung tâm Văn hóa Mandapa, nằm trong quận 13 của thành phố Paris. Mùa văn hóa 2018-2019, Trung tâm đã bắt đầu tổ chức chương trình Hộ chiếu đến nước X.  Việt Nam đã vinh dự là điểm đến đầu tiên với “Hộ chiếu đến Việt Nam”. Đêm khai mạc đã vinh dự được đón ông Nguyễn Thiệp, đương kim Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Pháp, giám đốc Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Pháp và một số nhà lãnh đạo quận, Thành phố Paris. Dịp ấy, chị Trang đã cố vấn để ban tổ chức mời nhiều nghệ sĩ nhạc cổ bên Việt Nam sang biểu diễn tại Trung tâm. Cùng với hàng chục buổi trình diễn của chị và Tiếng Tơ Đồng, các nghệ sĩ Việt đã mang lại niềm hoan hỉ cho đông đảo khán giả vùng Paris.

Chương trình biểu diễn của chị đa dạng, được diễn tấu với nhiều loại nhạc cụ cổ truyền. Ngoài đàn tranh là sở trường, chị còn biểu diễn ấn tượng với đàn bầu, đàn T’rưng, đàn nguyệt, đàn nhị, bộ lắc và bộ phách… Mỗi loại lại được chị sáng tạo và đôi khi cải biên lối chơi để áp dụng vào những bản nhạc cổ điển hoặc hiện đại phương Tây. Ngoài những màn độc tấu và hòa tấu, chị và Tiếng Tơ Đồng có hai show diễn đặc biệt đặc sắc và luôn được khán giả nhiệt liệt khen ngợi, và luôn đến kín phòng, đó là “1001 tiếng Trúc tiếng Tre” và “Sắc màu Việt Nam”. Các buổi biểu diễn ấy đã đưa khán giả đi du lịch khắp chiều dài Việt Nam, họ mãn nhãn mê li trong những trang phục truyền thống, từ tà áo dài duyên dáng khuê các của các thiếu nữ, các mệnh phụ thành phố, đến các bộ váy đa sắc của đồng bào thiểu số khắp ba miền. Họ thích thú chiêm ngưỡng kiểu dáng của các loại nhạc cụ dân tộc, họ ngất ngây trước những âm thanh khi trong trẻo cao vút, lúc trầm lắng mơ màng được phát ra từ sáo, đàn bầu, đàn đá đến đàn T’rưng và cồng chiêng…https://googleads.g.doubleclick.net/pagead/ads?client=ca-pub-6730846013640716&output=html&h=280&slotname=6490713087&adk=1388410019&adf=3149789641&pi=t.ma~as.6490713087&w=336&lmt=1634052380&psa=0&format=336×280&url=http%3A%2F%2Fnuocphap.info%2Fho-thuy-trang-nguoi-giu-lua-cho-nhac-co-truyen-viet-nam-tai-phap%2F%3Ffbclid%3DIwAR2oQYuFZyi89aUskH2qf3a7pUYE7ND_sIvsnv1vba3jjsy2Ggg_rjtfrGs&flash=0&wgl=1&dt=1634052379629&bpp=4&bdt=6331&idt=1169&shv=r20211007&mjsv=m202110050101&ptt=9&saldr=aa&abxe=1&prev_fmts=728×90%2C660x165&correlator=5821522278815&frm=20&pv=1&ga_vid=1635946448.1634052381&ga_sid=1634052381&ga_hid=913796950&ga_fc=0&u_tz=120&u_his=1&u_h=900&u_w=1600&u_ah=860&u_aw=1600&u_cd=24&adx=281&ady=2096&biw=1217&bih=741&scr_x=0&scr_y=0&eid=182982000%2C182982200%2C31063104&oid=2&pvsid=1480793759071156&pem=866&ref=https%3A%2F%2Fm.facebook.com%2F&eae=0&fc=896&brdim=255%2C0%2C255%2C0%2C1600%2C0%2C1246%2C860%2C1234%2C741&vis=1&rsz=%7C%7CoeEbr%7C&abl=CS&pfx=0&fu=0&bc=23&ifi=3&uci=a!3&btvi=1&fsb=1&xpc=WzDHqhA1R9&p=http%3A//nuocphap.info&dtd=1360

Bà Bích Ngọc, một khán giả kiều bào đã rất xúc động chia sẻ cảm xúc sau một buổi trình diễn: “Đến buổi biểu diễn này, tôi thấy mình được quay trở lại với quê hương của tôi từ miền Bắc cho đến miền Nam. Đối với những người xa quê hương như chúng tôi, được dự những buổi như vậy thật là tuyệt vời, tôi không biết nói sao, chỉ biết rất là hay, rất cảm ơn tất cả những nhạc công, nhất là cô Hồ Thụy Trang, người làm ra chương trình này để chúng tôi có thể đi du lịch từ miền Bắc cho đến miền Nam Việt Nam”. Còn chị Diane Võ Ngọc, một người Pháp gốc Việt được sinh ra và lớn lên tại Pháp thì nói: “Đây là lần đầu tiên tôi đưa con gái đi xem buổi trình diễn. Đây cũng là dịp để tôi khám phá văn hóa Việt Nam. Và chúng tôi đã hết sức ấn tượng trước vẻ đẹp của các bộ trang phục, vẻ thanh tao của của các nữ vũ công. Đồng thời buổi diễn còn có các lời giải thích rõ ràng về các điệu múa khác nhau của các vùng miền Việt Nam. Đây đúng là một chuyến du lịch tuyệt vời đến quê hương nguồn cội của tôi”.

Cho đến nay, ban nhạc “Tiếng tơ đồng” ban đầu có năm người thì hiện giờ đã tăng lên gần sáu chục và với các hoạt động chính: Múa dân gian, hòa tấu nhạc cụ cổ truyền, gõ trống, ca cổ và vũ đạo cải lương.

Kể từ ngày thành lập, Tiếng Tơ Đồng thường được mời đi biểu diễn trong các sự kiện quan trọng như ngày hội Pháp ngữ năm 2013, được tổ chức tại thành phố Nice của Pháp, với sự góp mặt của 75 quốc gia và vinh dự được biểu diễn trước Tổng thống Pháp François Hollande, và nhiều Tổng thống các nước nói tiếng Pháp. Chương trình đã được phát trực tiếp trên đài truyền hình Pháp. Nhân dịp Pháp -Việt tổ chức kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước, Tiếng Tơ Đồng được các Tòa thị chính trên khắp lãnh thổ Pháp mời đi biểu diễn. Đến đâu, ban nhạc cũng được chào đón nồng nhiệt.

Ngoài trình diễn, Hồ Thụy Trang còn dạy nhạc. Chị dạy cho nhiều lứa tuổi, từ học sinh nhỏ đến người lớn, các cháu người Việt thế hệ hai hoặc ba tại Pháp, nói được hay không nói được tiếng Việt. Dạy theo nhóm hoặc dậy đơn – một thầy một trò.

Qua chị, nhiều kiều bào được sinh ra và lớn lên tại Paris đã có cơ hội làm quen với thể loại âm nhạc này. Như anh Yanne Duchatel, 48 tuổi, sinh tại Sóc Trăng (Việt Nam) đến Pháp khi mới 3 tuổi, hiện là chủ dự án trong một ngành Công nghệ tại Pháp. Anh có một con trai 11 tuổi, hai cha con đã cùng học tiếng Việt, và từ hơn hai năm nay, khi gặp chị Trang, họ đã có cơ hội học môn Đàn tranh. “Tôi đã phát hiện ra âm nhạc truyền thống Việt Nam như mọi người Pháp, qua Youtube, hoặc qua mạng Internet. Đàn tranh đã thu hút tôi qua âm thanh của nó và phong cách chơi, nhưng tôi đã không có cơ hội tiếp cận  chơi thứ nhạc cụ này, – anh nói – tôi rất thích, dẫu không có khiếu lắm, nhưng phải thừa nhận đây là loại nhạc cụ đòi hỏi kiên trì, rất khó học”.

Đa phần các học trò đều đánh giá cao cách thức truyền dạy của cô giáo Trang. Anh Yann Duchatel nói: “Cô Trang là một giáo viên rất có trình độ giảng dạy. Phương thức truyền đạt của cô rất hiệu quả. Phương thức tương tác của cô ấy trên lớp rất phù hợp với tôi. Nhưng thực sự mà nói, cô Trang rất khó tính, và đòi hỏi cao nơi học sinh, và điều ấy khiến cho việc học tập cũng trở nên khó hơn, nhưng tôi chắc chắn nhờ cô ấy mà chúng tôi học đàn được tốt hơn”.

Dạy nhạc cho các cháu nhỏ, nhưng chị cũng không ngừng khuyến khích các phụ huynh Việt cố gắng dạy và nói với con tiếng Việt. Bởi theo chị, muốn học và hát đúng các ca khúc Việt thì trước tiên phải hiểu ý nghĩa của chúng.

Chị Trang cho rằng muốn lưu truyền hay quảng bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam tại nước ngoài thì có nhiều khó khăn. Ví như nhạc cụ Việt Nam rất khó tìm tại Pháp mà đều phải mua từ Việt Nam, rồi còn phải tính đến trang phục biểu diễn. Nhưng với sự kiên nhẫn, lòng đam mê, nữ nghệ sĩ và ban nhạc Tiếng Tơ Đồng đã ít nhiều gặt hái được những thành công trên đất Pháp. Mới đây trong dịp mừng xuân Canh Tý, chị và ban nhạc đã kỷ niệm 20 năm ngày thành lập với sự cổ vũ và chúc mừng của đông đảo của bạn bè khán giả Việt, Pháp.

Nền văn hóa Việt Nam tựa một cây cổ thụ có nhiều nhánh,  trên hết chúng ta cần vun đắp cho bộ rễ thật vững chắc, cây phát triển lành mạnh, nhiều nhánh và vươn cao, Tiếng Tơ Đồng hệt như một cành nhỏ vươn xa nhưng vẫn bám chắc vào bộ gốc của mình tại quê hương Việt Nam.

Nguồn: daidoanket.vn

http://nuocphap.info/ho-thuy-trang-nguoi-giu-lua-cho-nhac-co-truyen-viet-nam-tai-phap/?fbclid=IwAR2oQYuFZyi89aUskH2qf3a7pUYE7ND_sIvsnv1vba3jjsy2Ggg_rjtfrGs