Auteur : tranquanghai130544

TÂM AN / NGƯỜI VIỆT : Du khách nườm nượp ghé phố ẩm thực chợ Tết Phước Lộc Thọ, CALIFORNIA , MỸ, 18.01.2020

Du khách nườm nượp ghé phố ẩm thực chợ Tết Phước Lộc Thọ

Tâm An/Người Việt January 18, 2020

Một gian hàng ở khu ẩm thực của hội chợ Tết tại thương xá Phước Lộc Thọ bày đủ các đồ ăn vặt ở hội chợ, bán chạy nhất là món bánh tráng nướng. (Hình: Tâm An/Người Việt)

WESTMINSTER, California (NV) – Cứ đến gần ngày Tết cổ truyền là khu thương xá Phước Lộc Thọ trên đường Bolsa, thành phố Westminster, lại trở nên tấp nập vì không chỉ có chợ hoa Tết mà còn có phố ẩm thực với khoảng chục gian hàng, bán đủ các loại đồ ăn vặt “thuần Việt” ngay bên cạnh chợ hoa.

So với hội chợ mùa Hè, hội chợ Tết có quy mô lớn hơn, chia ra một khu chuyên bán hoa Tết, một khu chuyên ẩm thực nằm ở kế bên. Các món ăn chủ yếu là đồ hấp và nướng, vừa nhanh gọn, tiện lợi lại nóng hổi hợp với cái se lạnh của mùa Đông. Tuyệt nhiên không có gian hàng nào bán những món ăn phải ngồi tại bàn, lỉnh kỉnh chén tô, như bún bò Huế, bún riêu mà hội chợ mùa Hè thường có.

Mặc dù không phải ngày cuối tuần, thế nhưng vào giờ cao điểm 7-8 giờ tối, khách vẫn đông nườm nượp, với đủ lứa tuổi, từ trẻ nhỏ, thanh niên, sinh viên, học sinh tới người cao niên.

Anh Luận Nguyễn, cư dân Westminster, chia sẻ: “Người Việt mình tha phương nên có được hội chợ Tết như thế này, bà con tới đây đông. Ngoài ra hội chợ có nhiều món ăn ngon, vừa ăn vừa hưởng không khí Tết, tôi thấy rất vui.”

Tuy thực đơn của mỗi gian hàng đều có từ 5-10 món ăn nhưng thường tiệm nào cũng có 1-2 món “tủ,” tức là món mà khách hàng thích nhất và không trùng với các gian hàng khác.

Món chuối nếp nướng lá dứa cũng được nhiều người ưa thích. (Hình: Tâm An/Người Việt)

“Gian hàng của tôi có mặt từ năm đầu tiên tổ chức hôi chợ tới giờ. So với mọi năm, Tết năm nay có vẻ đông vui hơn. Chúng tôi có rất nhiều món như bánh kẹp, bánh tráng trộn, bánh mì nướng muối ớt, chè khoai môn, dừa thốt nốt, bắp xào. Nhưng món bán chạy nhất là bánh kẹp có giá $4/cái,” bà chủ gian hàng Lynda Sandwiches chia sẻ.

Bánh kẹp làm từ bột mì và lá dứa, ở giữa còn có nhân dừa, nhìn gần giống như bánh Waffle hay bán ở chợ Mỹ. Bánh nướng xong nóng hổi, ăn vừa giòn vừa thơm.

Có cả bánh chưng, bánh tét, nem chua, là những món ăn đặc trưng ngày Tết. (Hình: Tâm An/Người Việt)

Ở một gian hàng khác, tên Đệ Nhất Bánh Tráng, với thực đơn rất nhiều loại bánh tráng như bánh tráng nướng, bánh tráng kẹo mạch nha, bánh tráng trộn, bắp xào trứng, gỏi đu đủ Thái Lan. Thế nhưng món mà khách hàng thường xuyên đứng xếp hàng chờ đó là món bánh tráng nướng. Đây là món ăn mới xuất hiện khoảng 10 năm trở lại đây, bắt đầu từ vùng cao nguyên Đà Lạt Việt Nam, còn có tên vui vui là “pizza Đà Lạt.” Khi được đưa sang Mỹ thì món này đã được nâng cao cả về số lượng và phẩm chất: Bánh tráng to hơn đặt lên lò than hồng, quét trứng gà lên, rắc hành tươi, tương ớt, sa tế, gia vị đậm đà, rồi rải thịt heo nạc xay nhỏ, cuối cùng là rắc con ruốc khô lên. Chờ cho mùi bánh tráng cháy cạnh màu vàng, mùi thịt, hành, sa tế quyện vào với mùi con ruốc khô thơm nức mũi là lúc bánh chín. Cái bánh được gấp lại làm đôi như bánh xèo. Khi ăn được cắt làm bốn miếng, nhìn thật hấp dẫn.

“Cái bánh này tôi thấy nó rất lạ và ngon. Gia đình chúng tôi ra đây là để thưởng thức mấy món ăn lạ như thế này và cũng là để hưởng cái không khí Tết,” anh Duy Phạm, cư dân Westminster, chia sẻ.

“Chỉ khi có khách mua thì chúng tôi mới nướng, vì món này phải ăn nóng mới ngon, cho nên khách phải đợi lâu. Nay là ngày thường nên chúng tôi chỉ cần một lò, cuối tuần chúng tôi phải tăng lên hai lò mà nướng không kịp bán,” một chị phụ nướng bánh tráng tâm sự.

Hào nướng kiểu mới, không nướng bằng bếp than củi mà bằng “đèn khò” vừa nhanh vừa vệ sinh. (Hình: Tâm An/Người Việt)

Anh Vat Tea, cư dân Garden Grove, cùng vợ và con nhỏ tham dự hội chợ Tết, sau khi mua đồ ăn và chụp hình gia đình để làm kỷ niệm, nói: “Tôi là người Cambodia nhưng tôi có rất nhiều bạn bè là người Việt, vợ tôi cũng là người Việt. Tôi rất thích không khí Tết Việt ở đây.”

“Dân tộc tôi cũng có Tết cổ truyền vào khoảng Tháng Tư, chúng tôi thường tập trung đông người Cambodia nhất là ở thành phố Long Beach. Ở đó cũng có hội chợ ẩm thực tương tự như thế này, nhưng không thể đông vui bằng khu Little Saigon,” anh nói tiếp.

“Tôi thích hầu hết các món ăn của Việt Nam, chẳng hạn như bánh xèo, bún bò Huế, phở, nem cuốn,” vợ anh, chị Lynda Phạm, tiếp lời: “Năm nào chúng tôi cũng tới đây để thưởng thức không khí Tết. Chúng tôi thường chọn đi vào ngày thường để tránh đông nghẹt người vào ngày cuối tuần.”

Gia đình anh Duy Phạm, cư dân Westminster, đi chợ Tết để thưởng thức món lạ, món ngon và hưởng cái không khí Tết. (Hình: Tâm An/Người Việt)

Gian hàng Hồng Phát nằm ở giữa chợ, với thực đơn vô cùng phong phú: Bắp xào, bò lá lốt, chim cút $10, ruột heo chiên giòn $10, lưỡi bò, lưỡi vịt $10, thịt nướng $3, bánh khoai môn nướng, bánh nếp nướng. Ngoài ra còn hột vịt lộn, hột vịt muối, bánh ú vịt muối, bánh tét, nem chua.

Phúc Ân, chàng thanh niên đứng bán thịt nướng xiên, cho biết: “Món thịt nướng này tụi em bán chạy nhất, mỗi tối bán được khoảng 300-400 xiên thịt. Ngoài ra món bắp nướng mỡ hành cũng được nhiều người thích.”

Đối với những khách thích đồ chay thì ghé gian hàng Minh Thuyền, vốn do các sư và các Phật tử làm, ở đó chỉ bán đồ chay: bánh tiêu, chuối chiên, chả giò, trong đó món được nhiều người thích nhất là bánh tiêu.

Phố ẩm thực còn có chiếc xe nước mía tươi quen thuộc. Nước mía ở đây có đủ vị, từ vị chanh, tắc đến vị sầu riêng. Xe nước mía này có mặt tại hầu hết các phiên chợ ở Phước Lộc Thọ từ chợ mùa Hè sang chợ Tết, nên dường như đã quá quen thân với thực khách người Việt.

Càng về tối, khu ẩm thực của hội chợ Tết tại thương xá Phước Lộc Thọ lại đón hàng ngàn lượt khách tới thưởng thức các món ăn thuần Việt. (Hình: Tâm An/Người Việt)

Về hải sản, có gian hàng Mực Nướng với những con mực to như bàn tay. David Miller, chàng sinh viên năm thứ hai trường Fullerton College, đi cùng bạn gái gốc Việt, trầm trồ khen ngợi không ngớt món này và món nước mía. Anh nói: “Tôi chưa bao giờ thấy món mực nướng ở đâu tươi ngon như thế này, nhất là nước mía, đây là lần đầu tiên tôi được uống nước mía sầu riêng.”

Giá mỗi món mực khoảng $10. Ngoài mực, còn các món hải sản khác như hào nướng, sò nướng với giá từ $6 đến $10. Điểm đặc biệt nhất ở tiệm này là món bánh ống lá dứa – một món đặc sản của tỉnh Sóc Trăng, miền Tây Nam Bộ. Món này rất ít khi thấy bán ở Mỹ nhưng đã in sâu vào tâm trí nhiều người – những ai đã từng lớn lên ở miền Nam.

Hội chợ tiếp tục mở từ 5 giờ chiều tới 10 giờ đêm, liên tục mỗi đêm từ nay tới ngày 23 Tháng Giêng, tức 29 Tết, tại khu Phước Lộc Thọ, 9200 Bolsa Ave., Westminster, CA 92683. (Tâm An)

—–
Liên lạc tác giả: pham.taman@nguoi-viet.com

https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/littlesaigon-phong-su/du-khach-nuom-nuop-ghe-pho-am-thuc-cho-tet-phuoc-loc-tho/?utm_source=Ng%C6%B0%E1%BB%9Di+Vi%E1%BB%87t+Newsletter&utm_campaign=38a912b6b6-&utm_medium=email&utm_term=0_cf5f0a479c-38a912b6b6-157443129

Đỗ Duy Ngọc: Ăn Ở Hà Nội .

Ăn Ở Hà Nội – Đỗ Duy Ngọc.

Hà Nội có nhiều món ngon, chuyện ấy ít người cãi. Nhưng món ăn ngon Hà Nội tập trung ở Phố cổ, mà nhà ở Phố cồ thì bé tẻo teo, thế nên hàng quán bày bán đầy vỉa hè, muốn ăn thì ngồi ngay đường đi, ghế thấp lè tè, toàn ghế nhựa. Món ăn cũng bày tràn ra đường mặc cho bụi đường và vi trùng ồ ạt, mà Hà Nội nổi tiếng là thành phố ô nhiễm bậc nhất cho nên thức ăn cũng thế thôi. Ra Hà Nội tìm món ăn ngon của một thời trong văn của Thạch Lam, của Vũ Bằng và cả ông Nguyễn Tuân, những người được cho là sành ăn, thế nhưng khi thấy mọi người chen chúc ở vỉa hè và món ăn bày tràn cả lề đường thì ngại ngùng. Cũng có một số quán bán trong nhà, nhưng chật chội và bẩn, muỗng đũa nhầy nhụa cả mỡ. Căn nhà ám khói và tràn giấy lau bay như bướm, trắng cả sàn. Chủ tiệm và người phục vụ có lẽ đắt khách quá nên chẳng cần lịch sự với khách, trả lời cứ nhấm nha nhấm nhẳng. Chủ và tớ nhễ nhại mồ hôi cứ thế mà bưng bê. Đặc biệt đi ăn ở quán ăn Hà Nội tuyệt đối đừng bao giờ đi vệ sinh, bởi đã vào đấy đi ra thì không thể ăn tiếp được vì nhà vệ sinh quá xá bẩn, bẩn tới phát khiếp.

Một lần vào Phở Thìn ở Phố Lò Đúc, ngồi một lát chẳng thấy ai hỏi mà quán thì nóng hầm hập, người chen chúc, bàn ăn là một dãy dài, ngồi chung chạ nhau. Đợi một hồi thấy chả có ai hỏi dù đã ra dấu nhiều lần với người phục vụ, nhưng các cậu ấy cứ tảng lờ. Ông khách ngồi chung bàn thấy thế mới bảo: Ra ngoài kia gọi phở và trả tiền thì nó mới bưng vào. À ra thế. Gọi mấy bát phở, bảo chín, gầu, cậu phục vụ lắc đầu: Ở đây chỉ có một món tái lăn, một bát 60 ngàn. Tô phở bưng vào, thử một muỗng nước lèo, đầy bột ngọt, thế là chỉ ăn được một vệt. Nhìn lui, một cặp vợ chồng trẻ và đứa con đang đứng chờ ngay sau lưng, đành đứng dậy, ở đây không bán nước uống, thôi thì để miệng nham nháp bột ngọt mà đi ra.

Người ta bảo Phở Bát Đàn ngon, tui lại không thích quán đó, dù có ngon, bởi cái kiểu cầm tô xếp hàng và thái độ khinh khi khách của tên lùn múc phở là tui không chịu được. Lại nghe Phở Dư, Phở Sướng, Phở Hàng Da… ăn cũng được lắm, thuê xe đi ngang lại không dám vào vì quán nào cũng chen chúc, chỗ nào cũng chật chội. Không ăn phở thì ăn bánh cuốn, nghe bảo ở Hàng Gà có bánh cuốn ngon, chợt nhớ cô bạn nhắn bảo ở phố Hàng Cót có quán bánh cuốn ăn được lắm, hí hửng lộn về, gọi một dĩa, thất vọng. Chạy qua Thanh Vân ở Hàng Gà, quán sạch sẽ, có quầy thu tiền ở cửa. Được giới thiệu combo gồm dĩa bánh cuốn và hai miếng chả cắt xéo giá 60.000. Gọi ngay rồi cũng đành bỏ vì không ngon, có lẽ khẩu vị của tui khác chăng? Tui bị cái tật là cảm thấy không ngon là bỏ, không ăn. Thà nhịn đói chứ không chịu ăn dở.

Đành kêu cuốc xe trở về khách sạn. Đi ngang hàng quán bún, miến, cháo, gà, vịt, ngan, bún thang, bún ốc, chân gà, lòng lợn, cua, ốc, giò, nộm, chả cá… đẩy phố, nhưng thấy quán chiếm chật vỉa hè đành nhịn mà đi.

Một tối đi ăn bún chả gần khách sạn đang ở, đương nhiên là ngồi vỉa hè, đang ăn chợt thấy trước mặt, chị giúp việc rửa tô bằng cách nhúng vào một xô nước lợn cợn bún và rau, rồi cầm một cái khăn đã ngã màu theo tháng năm lau quanh, sắp thành chồng. Nhìn thế, tui nhợn, không ăn tiếp được.

Buổi sáng thức sớm, anh bạn người Hà Nội đem xe chở đi về làng Ước Lễ, nơi còn có cái cổng làng chụp hình. Anh bảo ghé Lý Thường Kiệt mua mấy gói xôi xéo ăn sáng, theo anh, đây là nơi bán xôi ngon nhất Hà thành. Tới nơi, thấy xôi, hành phi, giò chả để ngay dưới đất trên lối đi của người đi bộ, không sạp, không bàn ghế là đã thấy oải. Có ngon cũng thành dở.

Hà Nội vẫn có nhiều nhà hàng lịch sự và vệ sinh, nhưng người Hà Nội bảo rằng các món ăn ở đó không ngon, không đúng chất Hà Nội. Ăn ở các nơi đó là chưa thưởng thức được món ăn Hà Nội và chứng tỏ là không biết ăn.

Có lẽ Hà Nội là nơi có nhiều quán lề đường nhất và cũng có lẽ đó là phong cách ẩm thực của người Hà Nội. Tui ra Hà Nội rất nhiều lần từ thập niên 90 đến nay, nhận thấy cung cách mua bán hàng ăn ở Hà Nội không đổi mà ngày càng xô bồ và nhếch nhác hơn.

Đây là ý kiến và cách nhìn của một cá nhân, có thể chưa bao quát hết nhưng cũng là nhận định của một người phương xa yêu Hà Nội viết vội về ăn ở Hà Nội.

Đỗ Duy Ngọc.

Những bài ca Vọng cổ của nhóm văn nghệ Huynh Đệ Quê Mẹ, bài số 15 , Hoa Phượng ca

Những bài ca Vọng cổ của nhóm văn nghệ Huynh Đệ Quê Mẹ, bài số 15 , Hoa Phượng ca

85 vues•Première diffusée il y a 17 heures 3 0 Partager EnregistrerPhạm Văn Môn 987 abonnés Bài ca « Dứt đường tơ » do Hoa Phượng trình bày cùng dàn nhạc Thanh Nhàn đờn Violon, Công Dẫn đờn Guitar VN và Huỳnh Tuấn đờn Guitar VN.

Phạm Thảo Nguyên: Nguồn gốc hai nhân vật trong văn trào phúng Việt LÝ TOÉT, XàXỆ

                 Nguồn gốc hai nhân vật trong văn trào phúng Việt                                          LÝ TOÉT, XÃ XỆ                                          Phạm Thảo Nguyên Họa sĩ Đông Sơn vẽ ra Lý Toét vào đầu thập niên 1930, và tờ báo đầu tiên đăng tranh Lý Toét, là Phong Hóa. Đó là hai điểm chính, về cụ Lý được dân chúng yêu chuộng đặc biệt từ gần tám chục năm nay. Tìm đọc lại báo Ngày Nay Xuân 1940, cũ, mới biết Nhất Linh có giải thích rõ ràng chi tiết về lý lịch của cụ, trong bài viết “Lịch sử Lý Toét…”, Báo Xuân Ngày Nay 1940, tóm tắt như sau : tên Lý Toét ra đời trước, rồi hình người Lý Toét mới ra đời sau. Năm 1930, trong báo Tứ Dân, người đẻ ra “tên Lý Toét” lại là Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu (chuyên viên thơ trào phúng của Tự Lực Văn Đoàn), từ “đẻ ra” sáng tác bởi Nhất Linh. Họa sĩ Đông Sơn và bà Phụ Nữ Thời Đàm đẻ ra “hình Lý Toét” sau. Sự tích là : Đông Sơn một hôm đang xem báo Phụ Nữ, vẽ nghịch một ngườì nhà quê, thấy hay hay nên xé ra vứt vào ô kéo, chưa biết để làm gì. “Quý vị ơi ! Nhìn hình dưới đây đi ! Nó đấy, chính nó đấy, mảnh giấy nhật trình có chân dung “thủy tổ” của tất cả các Lý Toét sau này đấy !”:  H1                          Đúng là không có bà Phụ Nữ Thời Đàm thì không có Lý Toét, Nhất Linh nói chí lý thật ! Trên bức hình đó Lý Toét trẻ hơn sau này nhiều, đã được mặc áo dài khăn đóng, như mọi cụ già thời đó. Lại có đủ cả râu ria, búi tóc, cụ xách thêm đôi dép da gia định và cắp cái ô đen : Cá tính được định hình. Cụ thường xách dép lên, đi đất, vì ngại chóng hỏng đôi dép cũ. Cái ô cũng ít khi mở ra, cụ để dành đánh chó và đeo lên vai cho oai. Nhưng chúng cũng làm khổ cụ, vì cứ bị tụi trộm nhỏ nhít đặt vào tầm ngắm, quấy phá luôn luôn. Nào dép, nào ô, nào khăn cứ bị trộm rình !


Chắc các bạn còn nhớ: Bắt đầu từ Phong Hóa số 14, ra ngày 2 tháng 9-1932 chủ bút mới là Nguyễn Tường Tam. Cùng các em là Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long và các bạn như Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, Khái Hưng Trần Khánh Giư… mới phụ trách tờ Phong Hóa. Ngay trong số 14 này, ta bắt gặp Đông Sơn đưa hình cụ (chưa có tên) về Hà Nội trên một chuyến xe đò đông như nêm cối (hình dưới). Các bạn có nhìn thấy cụ ngồi trên mui xe ngay trên đầu tài xế đó không ? Họa sĩ Đông Sơn thật hóm, giấu kỹ chẳng cho ai biết tin gì cả ! Nhưng lòi đuôi ! Tuy nhiên, rất có thể chính ông cũng không biết là mình đã cho cụ về thành hôm đó, trên chiếc xe đò đó! (Mà này, nhỡ ông vẽ mà không biết là có cụ trốn trên mui đó thì oan cho ông nhỉ !?)

timgocgaclytoet_2

 Nhất Linh còn kể là Lý Toét ra mắt độc giả ngay từ số Phong Hóa 14, nhưng còn ngơ ngác vì chưa có tên. Sau đó Đông Sơn dính thêm cái tên Lý Toét vào hình vẽ, thế là Phong Hóa có trong tay một nhân vật hý họa hoàn chỉnh. Lý Toét nom thật có duyên : timgocgaclytoet_3

Nguyễn văn Lý Toét là người Việt Nam. Lần đầu tiên Tứ Ly đem Lý Toét-tên (không có hình), lên báo Phong Hóa trong số 35, trong bài viết “Cuộc Chợ Phiên của Phong Hóa tổ chức”. Lúc đó, Lý Toét-hình, không tên, chỉ dùng để trang trí cho mục Vui Cười mà thôi :

timgocgaclytoet_4

 Tới số 48, năm 1933, Phong Hóa có tranh “Lý Toét ra tỉnh” thứ nhất. Đó là lần đầu cụ Lý có đủ tên+hình, cùng cái dáng lom khom hay đặt câu hỏi lạ lùng : timgocgaclytoet_5

 Thế rồi tới Phong Hóa số 59, bức vẽ “Lý Toét ra tỉnh” thứ hai, do Đông Sơn vẽ dưới đây, (ký tên chữ nho) chiếm ngay trang bìa : timgocgaclytoet_6

Lý Toét lẩm bẩm : Quái ! người ta chôn ai mà đào dài vậy ??

Đông Sơn Nhất Linh biết rằng nhân vật này sẽ chinh phục độc giả toàn quốc ! Quả như vậy, Lý Toét đã làm mưa làm gió trên văn đàn nước ta trong suốt thập niên 1930. Trước hết, về cá nhân Lý Toét, tính chất tổng quát được mọi người cùng chấp nhận bất thành văn, là:Lý Toét là một ông già nhà quê, có chức phận trong làng, chức Lý trưởng, nên được goi là Lý, mắt bị bệnh đau-mắt-hột từ bé, thành ra nó cứ kèm nhèm, như viền vải tây đỏ, ta gọi là mắt toét. Nhập hai chữ Lý và Toét vào nhau thành tên luôn, chứ Lý Toét không phải là tên cúng cơm, bố mẹ đặt cho. Lý Toét nghèo, sống ở thôn quê, chưa từng được thấy những thứ văn minh ngoài phố do người Pháp mang lại. Lý biết đọc chữ quốc ngữ, biết ít chữ nôm, chữ nho, nhưng không hiểu tiếng Pháp, nên có nhiều phen không thông về chữ nghĩa, nhầm chữ nọ sang chữ kia tí chút. Vì nghèo nên Lý Toét tham ăn, lại nghiện rượu, nên ích kỷ, chỉ muốn mình được phần to, thêm nữa, không hiểu gì về vệ sinh, ăn ở dơ bẩn, nên cả tin, sợ hãi đủ mọi thứ. Lý Toét rât mê tín, thờ đủ mọi loại thần thánh, từ con cóc sành trên bể nước ngoài vườn hoa, đến con hổ sống trong chuồng Vườn Bách Thú…Vợ con ở quê rất lếch thếch. Lý Toét có một cô con gái lớn tên là Ba Vành, cô này xưa bỏ nhà ra đi, rồi lấy tây. Thỉnh thoảng cụ Lý có xuống vùng mỏ thăm con gái, báo Xuân Phong Hóa, số 85 tường thuật thế. Cô có con, thỉnh thoảng con bị sài đẹn cũng mang vào bệnh viện chữa, làm cụ Lý đi tìm thăm thật khốn khổ. Phong Hóa có tranh chân dung của cô, cô mặc áo tân thời, nom cũng đẹp ra phết (khi trước còn ở dưới quê thì vẫn vận áo tứ thân).

 H7-8

 Nhân vật ảo Lý Toét với đầy đủ tính cách như vậy, được họa sĩ Đông Sơn sáng tác ra. Nhưng cha đẻ của Lý Toét đã rất hào phóng không giữ tác phẩm cho riêng mình, mà rủ tất cả mọi người cùng tham dự vẽ Lý Toét ! Do đó, cùng với Đông Sơn Nhất Linh, các họa sĩ của Phong Hóa nhẩy vào vẽ Lý Toét với đầy hứng thú trong các tranh vui của báo Phong Hóa. Thế là : Cuộc Vui “Vẽ Lý Toét” bắt đầu !Mỗi họa sĩ anh tài của Phong Hóa vẽ ra một Lý Toét dung mạo khác hẳn nhau, nhưng cùng tính cách, vẫn nhận ra được. Độc giả có thể ngắm các Lý Toét khác nhau trong hình trên của các họa sĩ Đông Sơn, Nhất Sách, Tô Tử tức Ái Mỹ Tô Ngọc Vân, Lemur tức Nguyễn Cát Tường, Bloc tức Trần Bình Lộc, Ngym tức Ngạc Mai tức Trần Quang Trân, Trần An…. Nhân vật Lý Toét với rất nhiều tranh chân dung đó, đã nổi lên vững vàng thân ái như một vì sao mới mọc trong lòng độc giả báo Phong Hóa. Sau này có thêm danh họa Nguyễn Gia Trí (lúc đó mới ra trường) tức Rigt, tức Gtri, cùng nhiều người khác, kể cả Lê Ta Thế Lữ cùng vẽ chân dung Lý Toét (vẽ chữ số thành hình cụ Lý).Nhưng ngắm tranh Lý Toét lâu, ta thấy cụ có vẻ hơi … cô độc, thiếu bạn. Và việc phải đến, đã đến: Xã Xệ xuất hiện. Nhất Linh gọi đó là do tự nhiên phải thế. Xã Xệ là một nhân vật bằng vai phải lứa với Lý Toét. Xã Xệ béo ịt, thấp lè tè, đầu trọc lông lốc, còn độc một sơi tóc quăn xoắn ốc trên đỉnh. Hình ảnh Xã Xệ hoàn toàn đối chọi với Lý Toét gầy đét và cao lênh khênh. Xã ra đời để đấu láo với Lý, cãi chầy cãi cối với Lý, chung buồn chung vui với Lý… Ngớ ngẩn, lẩn thẩn sống cuộc đời mới của dân nô lệ mất nước, dưới sự bảo hộ của mẫu quốc Phờ Lăng Xa cùng Lý.

 Cha đẻ của Xã Xệ là họa sĩ Bút Sơn, từ Saigon gửi tranh vẽ ra Hànội. Tôi nghĩ vị này là một độc giả yêu quý Phong Hóa, nên tạo ra nhân vật Xã Xệ đối kháng với Lý Toét. Ông lấy hiệu Bút Sơn để nhái Đông Sơn. Nhưng Nhất Linh đến tận khi mất, vẫn chưa biết tên thật của Bút Sơn. Trên tờ di cảo “Đời làm báo” ghi tất cả tên và bút hiệu các cộng sự viên, trong cũng như ngoài Tự Lực Văn Đoàn, Nhất Linh có hàng chữ sau :Bút Sơn ở Saigon (Người đẻ ra Xã Xệ), tên thật chưa biết. Xin ông Bút Sơn (nếu ông còn sống) hoặc các bạn, cho biết tên thật.

Hiện nay chúng tôi được biết tên thật họa sĩ Bút Sơn là Lê Minh Đức. “Theo nhà báo nhà thơ trào phúng Tú Kềnhviết trên Báo Bình Minh Xuân Mậu Thân 1968 xuất bản ở Saigon thì : Vào năm 1936 báo Phong Hóa, nhóm Tự Lực Văn Đoàn, ở Hànội, có tổ chức cuộc thi vẽ tranh hài hước, họa sĩ chuyên vẽ tranh hài hước Bút Sơn Lê Minh Đức ở Saigòn vẽ một bức tranh gửi ra Bắc dự thi” (1).

Thật ra, lần đầu tiên Xã Xệ xuất hiện trong tranh Bút Sơn là ngày 16 tháng 3 năm 1934, trên báo Phong Hóa số 89. Xã Xệ đã được đón tiếp thật nồng hậu. Xã cùng Lý lên ngay trang bìa của báo. Dưới đây là bức tranh trên Phong Hóa, Xã Xệ ra mắt toàn dân An Nam, cõi Đông Pháp, với lối lý luận hạng nhất :

timgocgaclytoet_9

Lý Toét : Thế này là nhất cử lưỡng tiện. 
Cân một lần hai đứa rồi chia hai ra thì cũng được chứ lị!
 Vậy là báo Phong Hóa đã tạo dựng được cặp đôi hý họa Lý Toét, Xã Xệ, mang rất nhiều “đặc tính dân tộc”, đi vào lịch sử văn học Việt Nam :timgocgaclytoet_10



Tranh Lý Toét Xã Xệ không của riêng ai, thật là thú vị. Mỗi bức tranh có khi là một tấm, có khi là một loạt nhiều tấm như phim hoạt họa, với lời chú giải ngắn gọn hoặc vài câu thoại, chính là một câu chuyện nhỏ, nhiều khi rất thâm trầm, nhiều khi mộc mạc…. Ai có một vài ý nghĩ chủ đạo là có thể vẽ ra một tranh hay, nếu không biết vẽ thì viết thành truyện cười Lý Toét cũng không kém phần dí dỏm.

Trong khi đó, nhờ những cuộc thi tranh khôi hài của Phong Hóa, nhiều họa sĩ bên ngoài tòa soạn đã tới vẽ cho Phong Hóa như NG9, HKB, DLAN, Trần An, 2TTG, Mạnh Quỳnh…. và rất nhiều người không chuyên cũng vẽ. Thêm nữa, các họa sĩ còn mang hình ảnh Lý Toét Xã Xệ phổ biến, nhân rộng ra khắp các báo thời bấy giờ, từ ngoài Bắc tới trong Trung, trong Nam. Họa sĩ thích vẽ, người thường thích kể chuyện, báo nào có Lý Xã thì có nhiều người đọc. Đến nỗi cặp đôi này đã trở thành những nhân vật để quảng cáo ! Có những bài quảng cáo thuốc, quảng cáo rượu của Lý Toét … đăng ngay trên Phong Hóa, Ngày Nay rất nhiều lần.

Để cạnh tranh, báo Thanh Niên số #2, ra ngày 27-1-34 cho ra đời “Xã Dù” một anh em họ hàng với Lý Toét. Nhưng tiếng tăm của Xã Dù quá lu mờ, nay không ai còn biết, nhớ đến (bài Cuộc Điểm Báo, Phong Hóa số 84).Như vậy là Đông Sơn Nhất Linh đã dựng ra được một phong trào có vô số họa sĩ trong, ngoài tòa báo, cùng độc giả “dấn thân”, đua nhau sáng tác ra vô số tranh Lý Toét Xã Xệ kể chuyện vui đùa !Còn gì thú vị hơn !Từ đó, Lý Toét Xã Xệ xuất hiện đều đặn trên báo Phong Hóa và Ngày Nay, qua những truyện vui lý sự cù nhầy. Thỉnh thoảng Lý Toét có bài viết riêng như “Điều thỉnh cầu của Lý Toét” (Phong Hóa số 68), bài thơ Vợ Lý Toét Khuyên Chồng, trong mục Dòng Nước Ngược, thơ trào phúng của Tú Mỡ, rồi Lý Toét Trả Lời, Lý Sự Cùn viết… Lâu lâu báo có đăng Lý Toét Phú, Xã Xệ Phú, Ván Cờ Lý Toét, cả Văn Tế Lý Toét (của Đỗ Đức Thu, làm trước, phòng khi…) …Nhưng nhiều nhất, được chú ý nhất, vẫn là những bức tranh Lý Toét Xã Xệ, với những cảnh trông thấy, gặp thấy trên tỉnh. Có nhiều kỳ báo Phong Hóa, Ngày Nay có cả năm, bảy tranh Lý Xã trên cùng một số báo. Tranh nào cũng kể những chuyện ngây ngô, những suy nghĩ, suy luận chéo cẳng ngỗng, những hiểu lầm về ngôn ngữ tây ta tầu… Những câu chuyện vui vu vơ, vô tội này, ngày một lan rộng, ngày một thu hút. Những tính tình xấu xí, gàn bướng, cù nhầy, đáng cười… của người đời được diễn tả, phô bầy dưới hình thức khôi hài rất duyên, rất khéo… Trong đó, Lý, Xã rất “nghệ”, với những phản ứng không giống ai, diễn tả được biết bao khía cạnh khác nhau của cuộc sống…. Quý vị độc giả đừng tưởng hai cụ nhà quê này luôn luôn khù khờ, trái lại, có khi rất láu đấy! Và trong nhiều tranh các cụ lý luận hay đáo để! mời các bạn xem tranh Lý toét trả lời quan tòa tây:Khi Lý Toét phải ra tòa trả lời tội gửi thư với tem đã đóng dấu. Cụ Lý trả lời : “Lần nào nhận thư của con gái, là cô Ba Vành, gửi về cũng thấy tem đã đóng dấu”.Đúng quá chứ !timgocgaclytoet_11


Cặp bài trùng Lý Xã của Phong Hóa Ngày Nay dần dần trở nên vô cùng nổi tiếng, được sự ủng hộ triệt để của quốc dân, từ trẻ con tới người lớn. Người coi tranh, mê tranh mỗi ngày một nhiều, tạo ra một hiện tượng xã hội chưa từng có. Năm 1933, Georges Mignon, trong Nụ Cười Tân Á, khen ngợi Lý Toét của Phong Hóa (2). Và năm 2007, tại Mỹ có bài nghiên cứu của George Dutton: Lý Toét in the City (3),.. Còn ở Việt Nam thì tới ngày nay vẫn có lai rai bài viết, khảo cứu, kịch, chèo… về Lý Toét.Ròng rã từ 1932 tới cuối năm 1940, tranh Lý Toét là những cú đâm xầm vào đời sống văn minh mới, do “mẫu quốc” mang tới, của hai cụ nhà quê cổ hủ “đẫm đặc dân tộc tính”… Đó cũng là lúc dân ta đang gặp phải cái “chạm trán tóe lửa” của hai nền văn hóa Đông Tây. Như bà văn sĩ Pearl Buck (giải thưởng Nobel về văn chương 1938) trong truyện ngắn « Bà Mẹ Già”, Huyền Hà dịch, Ngày Nay số 200, 1940, kể chuyện bên Tầu: Cô con dâu đi du học về, trong bữa cơm đại gia đình, đã : “hét inh lên vì sợ, khi thấy bà cụ mẹ chồng đưa đôi đũa đã liếm nghiêm chỉnh thật sạch trước, chọc vào đĩa thức ăn chung của cả nhà”.

 Đồng thời trong những bức tranh nhỏ Lý Xã, các ý tưởng được đào sâu dần, nói lên được nhiều điều muốn nói. Người đọc ngày một thấm thía về thân phận người dân nhược tiểu mất nước, khi đa số dân chúng còn chưa được giáo dục, vô kỷ luật, hay sợ hãi, mê tín, và cam chịu tủi nhục dưới ách nô lệ của Pháp. Những bức tranh hý họa nhẹ nhàng hóm hỉnh đó phơi bầy dần dần những thói hư tật xấu của dân ta. Có người cho rằng báo PH NN đã bôi xấu người nhà quê ! Không ! ta phải hiểu rằng nếu dân ta còn nghèo đói, vô học, sống khổ sở như thế, chịu bao nhiêu bóc lột đè nén như thế, thì lẽ dĩ nhiên hủ lậu mê tín phải sinh ra tham lam, ích kỷ, …Nhưng tới đó thì chúng ta phải tự hỏi : “Phải làm gì đây ?”Đó là chủ ý của Tự Lực Văn Đoàn: dùng văn chương, báo chí để vận động cải tạo xã hội.

Trong bài Trả lời Tân Xã Hội, Hoàng Đạo viết trên Ngày Nay số 30, năm 1936: “Ông sẽ phải công nhận như chúng tôi, là dân chúng – hầu hết là dân quê – chỉ biết mình khổ cực, đói rét, chứ chưa biết đường tự bênh vực lấy mình. Vậy công việc tối quan trọng của ta, của chúng tôi, của ông, là làm thế nào cho họ hiểu hết quyền lợi nghĩa vụ của họ. Công cuộc to tát không phải một ngày mà nên: công cuộc ấy có thành cũng nhờ một phần lớn ở sự tự do báo chí và tự do kết đoàn” (4).

 Thực vậy, muốn dân chúng hiểu nghĩa vụ và quyền lợi của họ, thì việc đầu tiên là phải thu hút dân chúng bằng báo chí, phải tìm cách làm dân muốn nghe, thích nghe ta nói. Vậy trước hết, hãy xét lại chính mình. Hẳn trước khi thành người thành thị, ai chẳng có gốc gác nhà quê, không là ta, thì bố mẹ ông bà…ta, đã từng ngớ ngẩn “nhà quê lên tỉnh” như thế. Mà người Việt nào cũng có quê, như Nguyễn Trãi quê Nhị Khê, Nguyễn Du quê Tiên Điền, Hồ Xuân Hương quê Nghi Tàm, Cao Bá Quát quê Phú Thị… Mồ mả các cụ tổ tiên chúng ta đều còn ngay ở giữa những cách đồng lúa lầy lội đó, chứ đâu ? Mà cũng những nơi nhà quê đó, có kho tàng vốn cổ ai cũng say mê, đó là những tranh khôi hài, các chuyện cười, chuyện diễu, chuyện tiếu lâm, phóng đại, nói khoác… Chuyện được truyền khẩu từ ngàn xưa, từ các bác dân quê như Ba Giai, Tú Xuất ngoài Bắc, tới bác Ba Phi trong Nam, cùng các vị trí thức không theo lề lối quan trường như các Trạng, Trạng Quỳnh, Trạng Lợn,… rất nhiều. Những chuyện đối đáp với sứ Tầu của các vị thiền sư từ hơn nghìn năm trước, hay giai thoại những câu đối đáp giữa Chiêu Hổ, Hồ Xuân Hương ai mà chẳng mê. Và các tranh cổ ngộ nghĩnh được bán trong những phiên chợ quê, chợ Tết, như Đám cưới chuột, Vinh quy, Đánh ghen, Hứng dừa … của làng Đông Hồ, ai mà chẳng thích ?

Ta hãy ngắm lại hai tấm tranh Đông Hồ dưới đây :



H12H13Đám cưới chuột“ Đánh ghen

Trong khi đó, người đầu đàn của Tự Lực văn đoàn Nhất Linh Đông Sơn là một họa sĩ. Các thành viên khác như Thế Lữ, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam… cũng có thú vẽ tranh không phải thường. (Nếu bạn đọc tinh ý thỉnh thoảng có thể bắt gặp trong Phong Hóa hoặc Ngày Nay những bức vẽ rất đẹp ký tên Khái Hưng, Tứ Ly, … Đặc biệt, Ngày Nay số 198, xuân 1940, có in tranh vẽ của nhiều thành viên Tự Lực Văn Đoàn: Khái Hưng, Tú Mỡ, Thế Lữ, Hoàng Đạo, Thạch Lam). …  Với tinh thần mỹ thuật từ bản chất của ban biên tập như thế, hai báo Phong Hóa, Ngày Nay sử dụng tranh ảnh trang trí rất nhiều, luôn luôn có họa sĩ nhà nghề làm việc minh họa. Những họa sĩ lớp mới này được học rất bài bản, họ học được kỹ thuật hội họa Tây phương tại trường Mỹ Thuật Đông Dương tại Hànội (Khóa đầu của trường tốt nghiệp năm 1930). Vì vậy, họ sử dụng rất thông thạo kỹ thuật hý họa kiểu tây phương, để đùa rỡn các ông dân biểu, các quan thượng thư …với mục đích sửa lưng các ông, xin các ông nhớ đến dân đến nước, và làm cho công chúng hiểu đời sống chính trị hơn… Những năm sau có thêm Bang Bạnh và Ba Ếch trong thể giới hoạt kê đó, giúp các họa sĩ tạo được nhiều màu sắc, nhiều khía cạnh sâu xa hơn trước. Tuy nhiên, hai nhân vật này không được yêu thích bằng Lý Xã.Cũng với lý tưởng làm thay đổi bộ mặt xã hội, dân sinh, TLVĐ và các họa sĩ, kiến trúc sư đã giới thiệu cách sống mới hợp vệ sinh, kiểu nhà mới Ánh Sáng và nhất là việc sáng tác áo dài kiểu mới Lemur cho phụ nữ, một thành công vang dội, tới ngày nay “áo dài”còn chịu nhiều ảnh hưởng.Trong khi đó Tứ Ly Hoàng Đạo viết hàng loạt bài trên Phong Hóa Ngày Nay như Trước Vành Móng Ngựa, Bùn Lầy Nước Đọng, Công Dân Giáo Dục, Có Cứng Mới Đứng Đầu Gió (ký tên Tường Vân),… kể chuyện trong tòa án, giải nghĩa nhiệm vụ công dân, chỉ dẫn cho dân chúng về pháp luật, để họ hiểu và biết cách sống, cách cư sử cho khỏi bị ép buộc vô lý, và cũng để tờ báo mưu tính những cải cách về xã hội.(Trong bài viết ngắn này, chúng tôi không nói tới sự nghiệp văn chương lừng lẫy của các văn hào, thi bá, thành viên Tự Lực Văn Đoàn, mà chỉ xin nhắc thêm rằng các tiểu thuyết, thơ mới, kịch nói… của các vị, đã làm say mê bao thế hệ người Việt, đã thay đổi cách viết, cách sử dụng chữ Việt, văn chương Việt, đã trợ giúp rất nhiều cho công việc cải tạo xã hội về mọi mặt).Ngắm lại những bức tranh Lý Toét thật lý thú, báo Phong Hóa Ngày Nay có khá nhiều: gần 1000 tấm. Hai khía cạnh mỹ thuật và khôi hài, đã trộn vào nhau rất ăn ý. Chúng là một sáng tạo tài tình gồm cả đông lẫn tây, cả xưa lẫn nay, trong suốt một thập niên đã nở rộ đến không ngờ: Phong Hóa và Ngày Nay càng ngày càng càng đông người đọc, đã trở thành một tờ báo không đối thủ trong làng báo lúc đó, mà cũng có lẽ cả lịch sử báo chí Việt Nam xưa nay. Có lần tờ báo Xuân Phong Hóa đã phải xuất bản lần thứ hai, vì nhu cầu bạn đọc. Trong tinh thần phản đối Khổng giáo lỗi thời hành hạ con người, đả phá thái độ phong kiến quan lại cũ, chế diễu lòng mê tín ngu muội, tố cáo sưu cao thuế nặng của tờ báo, những tấm tranh bé nhỏ đã đụng được tới rất nhiều vấn đề, rất nhiều hủ tục, thói xấu, đã phá bớt “những ý kiến cổ hủ, nó làm mờ mịt khối óc người ta” Riêng những vấn đề xã hội, chính trị thực sự, chỉ được nói đến một cách rất nhẹ nhàng, chúng được giấu rất kỹ để tránh kiểm duyệt rất khắt khe của thực dân Pháp…. Tuy vậy, ngày 31 tháng 5 năm 1935, Phong Hóa đã bị Thống sứ Bắc Kỳ đình bản ba tháng. (Tới nay, không ai biết tại sao báo bị đóng cửa. Có người cho là do loạt bài “Thần thoại tân thời” Hậu Tây Du Ký nói động đến Phạm Quỳnh, Nguyễn Tiến Lãng cuả triều đinh Huế… có người cho là do bài phóng sự sắc bén về Hoàng Trọng Phu… đều do Hoàng Đạo viết. Tất cả chỉ là phỏng đoán, theo cuốn Tiếng Cười của Tú Mỡ, (Vu Gia, cuốn Hoàng Đạo, nhà báo, nhà văn, (6)). Theo Martina Nguyễn Thục Nhi : “Do cả hai điều trên”, trong hồ sơ của phòng nhì Pháp : Việc đóng cửa ba tháng báo Phong Hóa là do báo này đã chế giễu các quan lại An Nam.


Ngày 5-6-1936, Phong Hóa số 190 đăng một tranh Lý Toét vẽ nhái theo chuyện “Tam anh chiến Lã Bố” của Tam Quốc Chí, rất đẹp, không có chữ ký họa sĩ. Ngắm nét bút đặc biệt sống động, ta có thể nhận ra họa sĩ vẽ tranh là Tô Tử tức Tô Ngọc Vân, một trong những họa sĩ chính của Phong Hóa thời đó. Theo thông lệ, các tranh khôi hài thường được mang ra bàn luận trong giờ làm việc chung của cả tòa soạn. Một bức tranh nhiều ẩn ý sâu xa, mà không ký tên tác giả chắc là do sự góp ý của nhiều thành viên tòa soạn. timgocgaclytoet_14

Theo sách Tam Quốc Chí, vào đầu công nguyên ba nước Ngụy, Thục, Ngô chia nhau nước Tầu, tranh giành quyền lực, gây chiến tranh dài cả trăm năm. Trong một trận đánh quyết liệt, tam anh, Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi, nước Thục, cùng nhau vây đánh Lã Bố, nước Ngụy. Lã Bố tuy là đại tướng nổi tiếng vô địch, nhưng mãnh hổ nan địch quần hồ, đã thua. Truyện này rất phổ thông ở Việt Nam, trước đây gần như ai cũng biết. Trong các buổi diễn tuồng cổ, màn này thường được trình bầy rất sôi nổi, các diễn viên hóa trang kiểu xưa, mặt mày tô màu xanh đỏ rực rỡ, áo mũ tuồng lộng lẫy xênh xang, biểu diễn múa võ cao cường, trong tiếng chiêng trống rộn ràng, và nhiều khi cả tiếng la hét cổ vũ của người xem.Bức tranh này vẽ : “ba con chó cắn bố Lý Toét”, có con trai Lý Toét đứng ngoài xem, dơ tay múa chân reo hò : “A ha! Tam anh chiến nhất Bố !”Thật là một câu dùng điển Tam Quốc “Tam anh chiến Lã Bố” để ví tuyệt hay. Tuyệt hay, vì hai câu có cấu trúc hoàn toàn giống nhau, diễn tả hai trận đánh hoàn toàn khác nhau. Do cách dùng hai nghĩa của chữ “Bố”: Bố là tên của đại tướng nước Tầu : Lã Bố, mà “bố” cũng là bố của đứa con đang đứng ngoài dơ chân muá tay reo hò. Đọc câu điển Tam Quốc, ta chỉ cần thay chữ “Lã” bằng chữ “nhất” là biến thành câu ví, câu reo của con Lý Toét : Chuyện chiến đấu hào hùng trong sử Tầu biến thành chuyện Lý Toét la ó chống chọi với ba con chó dữ. Nó làm người xem tranh cảm được ngay, và cũng đau nhói lòng ngay, vì thấy đứa con trai reo hò vui thích trước sự nguy khốn của bố mình. Đó là :- Con vô cảm, vô ý thức hay còn quá trẻ dại không biết rằng bố đang lâm nguy bởi ba con chó dữ tấn công ? Cùng lúc, nó nhắc người xem tranh.Lý Toét có mặt trên Phong Hóa từ số đầu tới nay, Lý Toét tượng trưng cho Phong Hóa :- Độc giả có biết rằng báo Phong Hóa đang trong cơn khốn khó, có cơ nguy bị Pháp đóng cửa, rút giấy phép vĩnh viễn bất cứ lúc nào ? (như rất nhiều báo thời đó, không được giải thích tại sao)Lý Toét, nhân vật thấm đẫm đặc tính dân tộc, những xấu tốt của vốn cổ, tượng trưng cho đất nước lúc này :- Quốc dân có biết rằng đất nước mất chủ quyền, đang bốn bề thọ địch ? (‘Địch” là thực dân Pháp, là sự ngu tối, dốt nát của đại đa số dân chúng, là sự chia rẽ của các đảng phái trong nước, nguy cơ nội chiến…)Trong cảnh tình như thế, bố Lý Toét làm sao sống nổi ! Than ôi ! Đó cũng là tiếng kêu cứu của Phong Hóa ! Trùng hợp làm sao, đúng lúc đó thực dân kiểm duyệt đóng cửa báo. Báo Phong Hóa bị chết ngay sau số 190 này (05/06/1936) !May thay, báo Ngày Nay hãy còn giấy phép, (Ngày Nay là báo dự phòng của TLVĐ, do Nguyễn Tường Cẩm, anh ruột Nguyễn Tường Tam, một công chức, đứng tên, NN số 1 ra ngày 30/01/1935) nên Tự Lực Văn Đoàn còn hoạt động thêm được mấy năm nữa. Lý Toét còn tiếp tục sống, tiếp tục kể chuyện đời trên báo.Phải đến thời Mặt Trận Bình Dân cầm quyền ở Pháp, những lời mong cầu tự do, bỏ kiểm duyệt, bớt thuế… mới được viết ra một cách công khai. Những tưởng Mặt Trận Bình Dân thuộc tả phái, sẽ nới lỏng chế độ bảo hộ. Mà không! Tất cả những lời hứa chỉ là bánh vẽ, báo chí vẫn chịu chế độ cũ, bởi vì bên Pháp vẫn còn Bộ Thuộc Địa, thực hành chủ trương khai thác thuộc địa, phục vụ Mẫu Quốc. Sau này, dù trong thế chiến thứ II, dù năm 1939 Paris đã bị Đức Quốc Xã chiếm đóng, chế độ Bảo Hộ ở Bắc Kỳ vẫn rất khắt khe : Báo Ngày Nay bị đóng cửa vĩnh viễn năm 1940, người viết báo bị bắt bỏ tù (Hoàng Đạo, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí… bị giam, bị tra tấn dã man…từ 1941 tới 1943, tại Vụ Bản, Hoà Bình (5)). Trong bức tranh Mẫu Quốc (nước mẹ), dưới đây, Ngày Nay số 110, 1936, nhân Uỷ Ban điều tra do Pháp gửi sang việt Nam sắp làm xong công việc. Hy vọng của quốc dân là : Chắc sẽ có kết quả tốt ? Họa sĩ Rigt Nguyễn Gia Trí viết một câu chửi đổng:– Ồ, trông mong… nước mẹ gì ! timgocgaclytoet_15 Thế rồi tới giữa năm 1940, báo Ngày Nay cũng bị đóng cửa rút giấy phép.Sau một vài cố gắng cuả Khái Hưng, Thạch Lam ra báo, sách… đều chết yểu, các thành viên phân tán, văn đoàn Tự Lực tan đàn sẻ nghé: Người chết vì bệnh, người bị Pháp bắt bỏ tù, an trí, người trốn sang Tầu làm cách mạng, người đi xa lánh nạn, người quay sang kịch… Chỉ còn nhà xuất bản Đời Nay sống lay lắt, in sách bán… Tới tháng 4-1945 còn xuất bản cuốn thơ Hoa Niên của Tế Hanh, (Tế Hanh cùng Anh Thơ được giải thưởng thơ của TLVĐ năm 1939, năm cuối còn có phát thưởng, trước khi báo NN đóng cửa). Tôi không biết Hoa Niên có phải là cuốn sách cuối của Đời Nay hay không.Và cuối cùng, tới tháng 5-1945 báo Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới ra đời, Hoàng Đạo phụ trách mục “Kiểm diểm chính trường Việt Nam” (Hồ Hữu Tường, Nguyễn Tường Long, nhà chính trị, Tạp chi Văn, số 107) Báo ra được 16 số là hết. Tới giữa năm 1946, nhà in được mang bán, chia tiền cho các thành viên.Từ đó tới nay, chúng ta chưa bao giờ thấy lại một văn đoàn, một nhóm văn nghệ sĩ tài năng như thế, chung sức làm được một kho tàng văn hóa thành công như thế nữa. Tất cả chỉ còn là bóng con chim nhạn bay qua ngang trời…Tôi còn nhớ khi còn rất nhỏ, được biết hai nhân vật huyền thoại Lý Xã qua một bài hát do các chị dạy truyền khẩu, trước khi đi học chữ, để có thể đọc được tiểu thuyết của TLVĐ (mà phải đọc lén, vì gia đình tôi cấm con gái đọc tiểu thuyết). Đó là bài hát sau đây, tuy tôi thuộc nằm lòng nhưng không biết tác giả là ai, phải hay không phải là người của Văn Đoàn Tự Lực :Ông Lý Toét mà cắp cái ô
Đi ra phố gặp lúc mưa to
Có bác Xã Xệ mà muốn đi nhờ
Tay thì vời vời miệng thét bô bô;
– Này bác Lý, thủng nhĩ hay sao ?
Gọi như thế mà chẳng coi sao
Giá có cút rượu thì đến chơi liền
Đi nhờ một tí mặt cứ vênh vênh !
– Này bác Xã thật rõ lôi thôi
Còn non nước còn bác với tôi,


[Message clipped]  View entire message

Những bài ca Vọng cổ của nhóm văn nghệ Huynh Đệ Quê Mẹ, bài số 11 Trung Hậu ca

Những bài ca Vọng cổ của nhóm văn nghệ Huynh Đệ Quê Mẹ, bài số 11 Trung Hậu ca

210 vues•Sortie le 10 janv. 2020 15 0 Partager EnregistrerPhạm Văn Môn 978 abonnés Những bài ca Vọng cổ của nhóm văn nghệ Huynh Đệ Quê Mẹ, bài số 11 (tân cổ giao duyên): Trung Hậu ca cùng dàn nhạc Công Dẫn đờn Guitare VN, Thanh Nhàn đờn Violon , Hùynh Tuấn đờn Kìm vàThanh Dũng đờn Organ.

Những bản hòa tấu của nhóm văn nghệ Huynh Đệ Quê Mẹ, bản số 2, Út Tỵ Công Dẫn Huỳnh Tuấn

Những bản hòa tấu của nhóm văn nghệ Huynh Đệ Quê Mẹ, bản số 2, Út Tỵ Công Dẫn Huỳnh Tuấn

29 vues•Sortie le 11 janv. 2020 14 0 Partager EnregistrerPhạm Văn Môn 975 abonnés Bản số 2, hòa tấu Vọng cổ câu 1-2-3 giọng (dây) hò nhứt, do Út Tỵ , Công Dẫn và Huỳnh Tuấn trình tấu.

Những bản hòa tấu của nhóm văn nghệ Huynh Đệ Quê Mẹ, bản số 1, song tấu Công Dẫn Mỹ Ngọc Chi

Những bản hòa tấu của nhóm văn nghệ Huynh Đệ Quê Mẹ, bản số 1, song tấu Công Dẫn Mỹ Ngọc Chi

453 vues•Sortie le 11 janv. 2020 13 0 Partager EnregistrerPhạm Văn Môn 968 abonnés Ngoài những bài ca, nhóm văn nghệ Huynh đệ Quê Mẹ còn có một số bản hòa tấu vọng cổ, xin giới thiệu đến quí vị. Bản số 1, song tấu Vọng cổ câu 1-2-3 hò nhứt, do Công Dẫn và Mỹ Ngọc Chi trình tấu.

Những bài ca Vọng cổ của nhóm văn nghệ Huynh Đệ Quê Mẹ, bài số 13 Nhơn Hậu ca

Những bài ca Vọng cổ của nhóm văn nghệ Huynh Đệ Quê Mẹ, bài số 13 Nhơn Hậu ca

35 vues•Première diffusée il y a 3 heures 5 0 Partager EnregistrerPhạm Văn Môn 961 abonnés Bài ca Vọng cổ « Đồi tím hoa Sim » với giọng ca Nhơn Hậu cùng dàn nhạc Thanh Nhàn đờn Violon, Công Dẫn đờn Guitar VN và Huỳnh Tuấn đờn Kìm.

Những bài ca Vọng cổ của nhóm văn nghệ Huynh Đệ Quê Mẹ, bài số 12 Mỹ Hằng ca

Những bài ca Vọng cổ của nhóm văn nghệ Huynh Đệ Quê Mẹ, bài số 12 Mỹ Hằng ca

87 vues•Sortie le 10 janv. 2020 9 0 Partager EnregistrerPhạm Văn Môn 954 abonnés Những bài ca Vọng cổ của nhóm văn nghệ Huynh Đệ Quê Mẹ, bài số 11 : Mỹ Hằng ca cùng dàn nhạc Công Dẫn đờn Guitare VN, Văn Út đờn Violon, Hoàng Kha đờn Bầu Hùynh và Tuấn đờn Kìm

Những bản hòa tấu của nhóm văn nghệ Huynh Đệ Quê Mẹ, bản số 3, Minh Nhường Công Dẫn Huỳnh Tuấn

Những bản hòa tấu của nhóm văn nghệ Huynh Đệ Quê Mẹ, bản số 3, Minh Nhường Công Dẫn Huỳnh Tuấn

160 vues•Première diffusée il y a 10 heures 6 0 Partager EnregistrerPhạm Văn Môn 949 abonnés Bản số 3, hòa tấu Vọng cổ câu 4-5-6 giọng (dây) hò nhứt, do cố nhạc sĩ Minh Nhường, Công Dẫn và Huỳnh Tuấn trình tấu.