Auteur : tranquanghai130544

NGỌC LAN : CUNG TIẾN: Những Tình Khúc Lãng Mạn Về Cố Nhân

CUNG TIẾN: Những Tình Khúc Lãng Mạn Về Cố NhânViệt Hải Los Angeles:http://www.ninh-hoa.com/VietHai-CungTien…Hoài Cảm & Hương Xưa (Nhạc sĩ Cung Tiến) – Ca sĩ Lệ Thu:https://www.youtube.com/watch?v=XWv17tTFJ8U…————————————-

Phỏng vấn nhạc sĩ Cung Tiến – Tác giả của Hoài Cảm, Hương Xưa, Thu Vàng…Bài phỏng vấn của nữ ký giả Ngọc Lan với nhạc sĩ Cung Tiến cách đây gần 10 năm sau đây sẽ mang lại cho độc giả cái nhìn thú vị về cuộc đời và sự nghiệp của một trong những nhạc sĩ tài ba nhất của tân nhạc Việt thập niên 1950.Nhắc đến nhạc sĩ Cung Tiến, không thể không nhắc đến “Hoài Cảm”.

Thật khó để hình dung ra ở tuổi 14, 15 lại có một nỗi khắc khoải như vậy, về nỗi nhớ, về cố nhân. Nhạc sĩ có thể chia sẻ một chút gì về tác phẩm này?

Nhạc sĩ Cung Tiến: “Hoài Cảm” không phải là tác phẩm quan trọng lắm, bởi vì ở cái tuổi 14, 15 thì đâu có nghĩ sẽ viết một tác phẩm quan trọng đâu.Hoài Cảm là bài hát mà tôi viết ra trong tưởng tượng. Tưởng tượng ra là mình nhớ một người nào mình yêu mến thôi, chứ không có ý nghĩ sâu xa gì đằng sau cả. Ðó chỉ hoàn toàn là trí tưởng tượng trong âm nhạc cũng như trong lời ca. Lời ca bị ảnh hưởng từ những bài thơ mình học ở trường, như thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, những nhà thơ lãng mạn của Việt Nam hồi đó.Âm nhạc hay bất cứ sáng tác nghệ thuật nào, cũng là sự tưởng tượng cả. Tưởng tượng về cái này, tưởng tượng về cái kia, gây lên một mối sầu, mối buồn hay mối vui hay mối khoan thai, hoàn toàn là tưởng tượng của người sáng tác.Mặc dù nhạc sĩ nói là do trí tưởng tượng, nhưng sự tưởng tượng cũng phải xuất phát từ một nguyên nhân sâu xa nào đó, chẳng hạn như có ý kiến cho rằng ở thời điểm đó, cái đẹp, cái hay thường gắn với nỗi buồn?Hồi đó nghĩ gì mình đâu có biết, mấy chục năm rồi, đi học thì nghĩ lơ tơ mơ vậy. Tất nhiên bài đó không có một đối tượng nào cả – no object, hoàn toàn là trong tưởng tượng. Trong tưởng tượng, nhớ một người nọ, nhớ một người kia, nhớ một người yêu, nhớ một người bạn, hay là nhớ bất cứ ai. Nhớ là hồi đó tôi mới ở ngoài Bắc vào, năm 1952. Tôi đi sớm, tức là từ Hà Nội vào Sài Gòn sớm lắm. Lúc đi, nhớ tất cả những gì mà ở Hà Nội ghi vào ký ức mình, thì là có bản nhạc đó.Nhạc sĩ có từng mơ mình sẽ trở thành một nhạc sĩ trước khi trở thành một chuyên gia kinh tế không?Không. Chả bao giờ mơ làm nhạc sĩ. Có một chuyện này, hôm tôi mới vào Sài Gòn, trên đài phát thanh quốc gia có tổ chức tuyển lựa ca sĩ các thứ. Tôi cũng lên hát dự thi, nhưng tôi không nhớ hát bài gì. Khi về nhà, thấy ông bố của tôi vứt hết quần áo, sách vở của tôi ra trước cửa. Bởi vậy, mình đâu có mơ đâu, mặc dù mình có mơ cũng bị ám ảnh vì trong gia đình không muốn mình làm như vậy.Khi Cung Tiến nổi tiếng với những nhạc phẩm như “Hoài Cảm,” “Thu Vàng,” “Hương Xưa”, nhạc sĩ thích người ta biết đến trong vai trò nào? Một nhạc sĩ hay một nhà kinh tế?Tôi nhiều sở thích lắm, như văn chương, tiểu thuyết, thơ, thích hội họa, toán học và kinh tế học. Kinh tế học là ngành hồi đó tôi được học bổng đi ra ngoại quốc học.Tôi có rất nhiều sở thích nhưng âm nhạc vẫn là sở thích đầu tiên và cuối cùng trong đời của tôi.Ngoại trừ một vài ca khúc như “Hoài Cảm”, “Thu Vàng”, “Hương Xưa”, còn lại hầu hết các tác phẩm của Cung Tiến đều phổ từ thơ của Thanh Tâm Tuyền, Phạm Thiên Thư, Trần Dạ Từ, hay ý thơ của Xuân Diệu… Nhạc sĩ có thể chia sẻ gì về điều đó không?Hồi nhỏ học trung học thì tôi chỉ biết âm nhạc tôi viết là “popular song”, tức là những ca khúc phổ biến, phổ thông. Trong âm nhạc có nhiều khía cạnh, nhiều thứ, nhiều những trật tự mình phải theo, như hòa âm, đối điểm, tổ khúc, phối âm… mà hồi đó ở Việt Nam tôi chưa được học. Lúc học xong trung học, năm 1956, được học bổng sang Úc học về kinh tế. Trong thời giờ rảnh, tôi đi học thêm âm nhạc ở Nhạc Viện Sydney, từ đó tôi mới khám phá ra những khía cạnh khác của âm nhạc, không phải chỉ một melody, một làn điệu mà còn nhiều yếu tố khác tạo nên âm nhạc.Từ đó trở đi, tôi rất ý thức việc phổ thơ, phổ nhạc vào thơ, vì thơ đứng một mình đọc cũng được, nhưng nếu có nhạc đi kèm vào, phụ họa vào thì nó có một chiều kích (dimension) khác, một kích thước khác, gọi là ca khúc nghệ thuật, “art song”, tức là lấy một văn bản có giá trị như thơ viết thành nhạc và cho vào bối cảnh hòa âm hoặc là bằng piano, hoặc bằng một cái đàn ghita hoặc một ban nhạc.Nếu một người bắt đầu học kinh tế, nhạc sĩ có khuyên họ sẵn đó nên học nhạc luôn không?Không. Với tôi, kinh tế là một sở thích bắt buộc vì tôi nhận được học bổng đi học cái đó. Nhưng học kinh tế rồi mới thấy nó cũng là một nghệ thuật, nghệ thuật đoán trước người tiêu thụ muốn gì và đoán để người sản xuất làm ra cái đó, phải có sự quân bình giữa cung và cầu. Giản dị như vậy thôi. Ðó là vấn đề nghệ thuật chứ khoa học thì lại khác, hoặc là vật lý học hoặc gì khác thì nó chính xác hơn. Cái này không chính xác cho nên có những rủi ro, vì thế nó là một nghệ thuật.Thế nhưng, áp dụng nghệ thuật kinh tế vào âm nhạc thì không thể được.Xin nhạc sĩ giải thích sự giống nhau và khác nhau giữa những ca khúc sau này của nhạc sĩ so với những bài hát xưa, như “Hoài Cảm,” “Thu Vàng,” “Hương Xưa…”Ngày xưa tôi không biết xài chất liệu âm thanh của Á Ðông, như âm giai ngũ cung chẳng hạn. Nhưng về sau, khi được học nhiều về nhạc, tôi mới ý thức thêm là mình có cái kho tàng về giai điệu, làn điệu Việt Nam chưa khai thác được là âm giai ngũ cung.Vì thế, một trong những tác phẩm của tôi khác ngày xưa là bản “Hoàng Hạc Lâu”, thơ của thi sĩ Thôi Hiệu đời Ðường, được Vũ Hoàng Chương dịch sang tiếng Việt. Ðó là bản đầu tiên tôi có ý thức dùng chất liệu quý báu của âm nhạc dân tộc ta khi phổ nhạc.Trong những sáng tác không nhiều của mình, bài hát nào để lại cho nhạc sĩ nhiều kỷ niệm, nhiều cảm xúc nhất, cho đến bây giờ?Khó nói lắm. Như thể mình có 10 đứa con mà phải nói xem mình thương đứa nào nhất vậy.Có những bài ca như những đứa con lạc đi đâu mất. Ví dụ như bản Mùa Hoa Nở, tôi viết năm 1956. Khi rời Việt Nam, tôi không mang theo bất cứ một thứ gì. Tất cả tài liệu, sách vở để lại Sài Gòn hết.Tình cờ một hôm, ca sĩ Mai Hương gửi cho tôi một bản Mùa Hoa Nở. Tôi ngạc nhiên: “Ủa, đứa con này bị thất lạc đi đâu mà mặt mũi lem luốt quá!”. Về nhà tôi mới thương nó, mới sửa lại thành ra hợp xướng khúc.Nói tóm lại, không bản nào tôi hoàn toàn coi là thương hơn bản khác, bởi mỗi một thời kỳ tôi sáng tác có một kỷ niệm riêng của thời kỳ đó. Thời nhỏ đi khỏi Hà Nội là nhớ Hà Nội. Rồi từ hồi di cư vào Nam, nhớ những đoàn người từ ngoài Bắc xuống miền Nam, gây cho tôi một cảm tưởng, một xúc động khác. Rồi đến khi là sinh viên, lại một xúc động khác.Thế nhưng, có thể nói tác phẩm tôi trân quý nhất đến bây giờ là tập “Vang Vang Trời Vào Xuân”. Ca khúc đó của một người bạn thân là nhà thơ Thanh Tâm Tuyền và những bài thơ đó được sáng tác trong trại tù mà ông ta nhớ, bằng cách nào ông đưa ra ngoài để in… Những điều đó làm tôi hết sức cảm động. Tôi viết thành 12 bản rồi sau rút lại còn 10 bản. Ðó là những gì suốt đời tôi trân quý nhất về tình người, tình bằng hữu và tình cảnh đất nước chúng ta hồi đó.Xin nhạc sĩ chia sẻ với độc giả chúng tôi về cuộc sống hiện tại của ông.Tôi đã về hưu và ở Minnesota cùng vợ. Con trai tôi sống ở tiểu bang khác. Tôi có hai con chó, hàng ngày nuôi chúng, đi chơi với chúng, viết nhạc và đọc sách.——————————————————————-‘Nhạc sĩ thần đồng’ Cung Tiến17/11/2019. Hà VũVới hai sáng tác đầu tay bất hủ ‘Thu vàng’ và ‘Hoài cảm’ viết từ khi mới lên 13-14 tuổi, nhạc sĩ Cung Tiến được nhiều người ca tụng là thần đồng âm nhạc dù ông xuất thân từ một gia đình không ai có năng khiếu âm nhạc.“Cụ thân sinh tôi là một nhà thơ, một nhà cách mạng. Ông theo Việt Nam Quốc dân Đảng, không có ai dính vào âm nhạc nhất là âm nhạc mới, không có ai cả,” nhạc sĩ Cung Tiến nói với VOA.Tuy nhiên, bản thân ông đã bắt đầu sinh hoạt văn nghệ thời còn là học sinh tiểu học, đi học hát trong nhà thờ, hát trong các ca đoàn Công giáo và được giao điều khiển ban hợp ca của các trường khi lên tới trung học.“Thời trung học có tổ chức những đại hội học sinh toàn thành. Hồi kỷ niệm thành lập Việt Nam Cộng hòa năm thứ hai của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm thì có đại nhạc hội học sinh toàn thành của các trường trung học Việt Nam như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Trưng Vương, Petrus Ký, Marie Curie, thành lập Ban Hợp ca và tôi điều khiển ban hợp ca đó, vào năm 1956,” nhạc sĩ Cung Tiến tâm sự.Từ nhỏ, ông từng học thổi sáo, biết chơi đàn mandoline, đàn guitar cổ điển trước khi làm quen với đàn piano lúc qua Úc du học về âm nhạc.“Sau này qua Úc học âm nhạc đích thực rồi tôi mới học piano. Rồi tôi vào học trường âm nhạc bên Úc về tất cả các bộ môn của âm nhạc như hòa âm, đối điểm, phối trí, âm nhạc sử, tất cả những gì liên quan đến âm nhạc Tây phương tôi đều học kỹ,” ông cho biết.Các bản nhạc đầu tay của ông đã đi sâu vào lòng người hâm mộ như Thu Vàng, Hoài Cảm, Hương Xưa hoàn toàn xuất phát từ trí tưởng tượng, không dính líu đến đời thật của ông.“Hồi đi học, tôi học ban văn chương, triết học. Tôi chịu ảnh hưởng thơ lãng mạn Việt Nam hồi đó như Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử …nên lời ca mang những ý tưởng lãng mạn trong thi văn Việt Nam. Không có cái gì sâu xa gọi là kinh nghiệm của con người cả. Hoàn toàn là trí tưởng tượng,” ông nói.“Hồi đó tôi học đệ nhất, mình bắt đầu mê nhạc cổ điển Tây phương lắm. Tôi nhớ thời hoàng kim, thời xưa của Việt Nam hãy còn hòa bình, nhớ lại cảnh hòa bình xưa của Việt Nam đẹp như thế nào, so với cảnh chiến tranh, lúc đó vào khoảng năm 57-58, so sánh hai trường hợp cảnh chiến tranh hiện đại và cảnh thanh bình hồi xưa của Việt Nam mà thành lời ca của bản Hương xưa,” ông cho biết về hoàn cảnh ra đời của ca khúc Hương xưa.Ông nói ông yêu thích văn thơ Việt Nam, đọc sách, đọc thơ nhiều và tình yêu này đã thấm nhuần vào những ca từ ông sáng tác thời trẻ.Sau này, phần lớn những nhạc phẩm của nhạc sĩ Cung Tiến là những bài thơ được ông thổi vào giai điệu du dương.“Viết lời ca khi hồi còn trẻ. Sau này mình không có hứng, không có dịp để viết lời ca thường nữa. Phần lớn tôi phổ thơ của Vũ Hoàng Chương, Thanh Tâm Tuyền. Thanh Tâm Tuyền tôi phổ nhiều lắm. Ngoài tập 10 bài thơ viết trong tù cải tạo, tôi còn phổ những bản trước khi ông vào tù, khi còn ở Sài Gòn như bản Lệ đá xanh, Đêm…,” ông giải thích.Cung Tiến chưa hề về Việt Nam và từ khi sang Mỹ ông không viết bản nhạc nào về Việt Nam ngoài ‘Hoàng Hạc Lâu’, phổ thơ của Vũ Hoàng Chương dịch bài thơ của Thôi Hiệu đời Đường, tác phẩm duy nhất của ông có ‘dính líu’ với Việt Nam sau ngày miền Nam Việt Nam sụp đổ năm 1975.Sau khi đậu Tú tài hai, nhạc sĩ Cung Tiến được học bổng Colombo sang Úc học về môn kinh tế trong khoảng thời gian từ 1957 đến 1965. Dịp này, ông tham dự các lớp học về âm nhạc phương Tây tại Viện Âm nhạc Sydney.Từ năm 1970 đến 1973, ông được học bổng của Hội đồng Anh (Bristish Council) để nghiên cứu về kinh tế tại trường đại học Cambridge. Trong thời gian đó, ông trau dồi thêm về âm nhạc bằng cách tham dự các lớp về nhạc học, lịch sử âm nhạc và nhạc lý hiện đại. Cho nên về sau này, phong cách sáng tác của ông khác hẳn những bản nhạc thời học sinh mà ông gọi là ‘nhạc phổ thông’. Thay vào đó là những tác phẩm mà ông gọi là ‘ca khúc nghệ thuật.’“Về sau tôi sáng tác nhiều tác phẩm khác được chơi ở bên Mỹ rất nhiều, nhất là tập tổ khúc (Suite) Chinh Phụ Ngâm. Tổ khúc giống như một symphonie nhưng nhỏ hơn, viết cho dàn nhạc đại hòa tấu. Dựa vào những tình tứ, tình cảm trong tập thơ đó, tôi viết thành một tổ khúc ba phần. Không phải tôi phổ nhạc. Không phải tôi phổ thơ Chinh Phụ Ngâm. Tôi dựa vào tình tiết, cảnh tượng trong Chinh Phụ Ngâm mà viết thành một tổ khúc cho dàn nhạc đại hòa tấu,” ông chia sẻ.Hiện nay, nhạc sĩ Cung Tiến sáng tác rất ít để chủ yếu dành thời gian hoàn chỉnh những tác phẩm trước đây như phổ nhạc tập thơ của Tô Thùy Yên, tập ‘Ta về’, hay tập tổ khúc quan họ viết cho dàn nhạc Tây phương.Nhạc sĩ Cung Tiến từng là một viên chức cao cấp của Việt Nam Cộng hòa. Ông là một trong ba Tổng Giám đốc trụ cột của Bộ Kế hoạch trước năm 1975.(Hà Vũ)Theo Ngọc Lan (Nguoi-Viet).

ĐẶNG HỮU PHÚC : VẼ PHÚC ĐANG SAY / Kỷ niệm đúng 40 năm một bữa liên hoan (22 tháng 4/1981)

“VẼ PHÚC ĐANG SAY”Bài viết của Đặng Hữu Phúc

Kỷ niệm đúng 40 năm một bữa liên hoan (22 tháng 4/1981)

Năm 1981, Việt Nam đang ở dưới đáy của sự cùng cực. Cũng là năm mà lần đầu tiên tôi viết nhạc film để “làm ăn”, ra với cuộc đời. Đó chỉ là nhạc cho một phim Thời sự tài liệu (TSTL) có tên “Tuổi thơ và trách nhiệm” của đạo diễn Trần Thịnh, mọi người vẫn gọi ông là Thịnh râu (1932 – 1986), thực ra film TSTL chỉ cần nhạc nền, không cần thiết phải sáng tác, chọn nhạc cũng được——–

Ảnh 1Chân dung đạo diễn Trần Thịnhcủa Hoạ Sĩ Bùi Xuân PháiVẽ tối 22 tháng4/1981———Vì sao ông lại biết tôi và mời tôi viết nhạc? đó là do nhạc sỹ Văn Cao giới thiệu.——-

Ảnh 2Ảnh chụp Nhạc sỹ Văn Cao chúc mừngđêm tác giả, Recital đầu tiên củaĐặng Hữu Phúc.15/11/1978———-Nên nhớ, lúc đó là năm 1981, không dễ để cho 1 nhạc sĩ trẻ, mới ra trường được chen vai vào chốn làm ăn khi đó vốn đã rất ít việc.Dĩ nhiên là sóng gió nổi lên, đầu tiên là ngay xưởng phim TSTL phản đối (người phụ trách về âm nhạc của xưởng phim khi đó là ông Đào Việt Hưng). Nhưng đạo diễn Trần Thịnh chơi rất quyết liệt: ông đe trả lại film nếu xưởng không đồng ý cho tôi làm nhạc.Xưởng film tạm thời đồng ý, nhưng họ lại đưa ra 1 chướng ngại vật thứ hai: theo quy định phải là hội viên Hội nhạc sĩ mới được viết nhạc, và tiền thù lao, theo quy định, phải gửi về Hội nhạc sĩ, nếu không phải là hội viên thì không lĩnh được.Cái này thì đúng quy trình và tôi chịu đầu hàng rồi.——

Ảnh 3Ảnh Đạo diễn Trần Thịnh ——–Thất vọng, tôi đem chuyện này nói cho nhạc sỹ Trọng Bằng biết, lúc đó ông cũng có vai vế trong Hội nhạc sỹ, ông Trọng Bằng nói : cứ chuyển tiền về Hội theo tên ông, và ông sẽ nhận giúp tôi tiền nhuận bút.Vậy là bế tắc đã được khai thông.Cũng xin nói luôn là tiền nhuận bút cũng chả đáng bao nhiêu, nhưng thời điểm đó, chả ai có việc gì làm, không có thu nhập gì, cả xã hội lúc đó đói thực sự theo nghĩa đen.Phụ lục: một câu chuyện về nhuận bút viết nhạc cho phim khi đó, khoảng năm 1988, đạo diễn Lưu Hà nhờ tôi viết nhạc, cũng cho phim TSTL, anh nói : tôi sẽ trả nhuận bút, tiền tác giả cho anh tương đương 100 quả trứng gà (thời giá bây giờ 100 quả trứng gà x 3.000₫ = 300.000₫ = khoảng 13 usd)…Rồi mọi chuyện cũng xong xuôi, lần đầu tiên tôi được lĩnh được tiền nhuận bút, to chuyện đấy chứ! và lĩnh nhuận bút là phải khao, thời đó là vậy.Đạo diễn Trần Thịnh nói tôi làm 1 bữa liên hoan và mời : bác Văn Cao, bác Bùi Xuân Phái, nhà thơ Dương Tường, tôi mời thêm ông Trọng Bằng (đã giúp tôi lấy được nhuận bút). Tất nhiên là còn đạo diễn Trần Thịnh và tôi trong buổi liên hoan đó, tất cả 6 người.———

Ảnh 4Chân dung nhạc sỹ Văn Cao,Tranh Bùi Xuân Phái, Vẽ tối 22/4/1981———Hồi đó không có nhà hàng như bây giờ, vì vậy liên hoan chỉ có làm tại nhà.Tôi khi đó ở 1 cái chái vẩy thêm từ 1 gara oto ở 25 phố Trần Bình Trọng, vốn là một biệt thự từ thời Pháp của gia đình bác sỹ Hoàng Đình Cầu, thứ trưởng bộ Y tế lúc bấy giờ.Cái phòng này (gọi là phòng cho oai) rộng chỉ có 9,5 mét vuông, làm bằng tre nứa, mái lợp giấy dầu Liên Xô. Khi trời mưa, nhất là ban đêm, mưa lộp bộp trên mái, vì vậy gọi là cái lều thì đúng hơn.———

Ảnh 5 và ảnh 6 Phía sau là căn lều 9,5m2 bằng tre nứa, lợp giấy dầu mà tôi ở 10 nămVì không có ảnh chụp nào, nên đành đưa 2 bức ảnh này lên để minh hoạ———Xin nói thêm một chút về cái phòng này, thời đó, chả ai có phòng riêng, nhà tôi ở phố Lò Đúc, chỉ một phòng 32 m2, gồm bố mẹ và bẩy anh chị em ở. Chật chội và chung đụng, mâu thuẫn các thế hệ, nên tôi vào ở tập thể học sinh trường Âm nhạc Việt Nam, Ô chợ dừa suốt thời học sinh, dễ đến 6, 7 năm. Sau khi tốt nghiệp 1979, không được ở ký túc xá nữa. Về nhà thì không ở được, tôi đi tìm 1 chỗ ở, để có thể kê được cái piano còn hành nghề viết nhạc. Hà Nội khi đó chưa mở rộng, chỉ có khu phổ cổ từ thời Pháp, đất Hồ tây còn để hoang chưa có ai ở.Tìm một chỗ ở Hà Nội lúc đó, như mẹ tôi nói với tôi “khó như tìm đường lên trời”… Xoay sở mãi, cuối cùng tôi cũng tìm được cái chái 9,5 m2 này, với giá 2 chỉ rưỡi vàng. Lúc đó ở Hà Nội, ai có “vòm” riêng, dù là chỉ vài mét vuông, cũng là lý tưởng.Trở lại buổi liên hoan sáu người từ chiều đến tối hôm đấy…Tôi đi mua vài lạng thịt bò và mấy quả cà chua, nhờ cô Minh, con gái bác sỹ Hoàng Đình Cầu thái hộ thịt.Rồi ra phố Trần Quốc Toản mua bánh phở và nước phở của một cửa hàng bán phở, đun thì mượn cái bếp dầu, nồi niêu, bát đũa của nhà bác sỹ Hoàng Đình Cầu. Phở tự nấu ! Tất cả món ăn của bữa liên hoan chỉ có thế, đương nhiên quan trọng nhất vẫn là rượu, rượu quốc lủi, thời đó chỉ có rượu sắn Làng Vân.Nhà không có bàn ghế gì, nên rải chiếu xuống nền nhà, tất cả khách và chủ đều ngồi dưới đất, ai dựa lưng vào đâu thì tuỳ…. khoảng 5h chiều bác Phái đạp cái xe đạp cà tàng đến, đầu tiên, bác tặng tôi một bức tranh Phố Phái nhỏ.———

Ảnh 7Tranh hoạ sỹ Bùi Xuân PháiTặng cho tác giả bài viết 22/4/1981———–Bác Văn Cao được vợ bác đưa đến, rồi đạo diễn Trần Thịnh, Nhà thơ Dương Tường… ——–

Ảnh 8Chân dung Dương Tường của Bùi Xuân PháiVẽ tối 22/4/1981———Cuối cùng là ông Trọng Bằng, ông đi xe máy Peugeot 102 màu đỏ đến.Vào phòng, thấy các ông Văn Cao, Bùi Xuân Phái thì ông Trọng Bằng có vẻ ngại, vì lúc đó, các cụ là thành phần “phản động” (những tinh hoa trí thức còn sót lại) tốt nhất là nên tránh để khỏi ảnh hưởng đến sự nghiệp quan trường đang lên của ông, vì vậy ngồi một lát, nóng ruột, ông nói tôi làm trước cho ông một bát phở, ông ăn trước để về có việc (Ông chuẩn bị dẫn Đặng Thái Sơn lần đầu đi biểu diễn ở một số nước như Tây Đức, Nhật Bản… sau khi đoạt giải Chopin danh giá lần thứ X, 1980), ăn xong ông về ngay. Tôi còn nhớ cụ Phái đã ký hoạ chân dung ông bằng than và tặng ông đem về.Và cuộc vui chỉ có uống…và uống, cụ Phái vẽ luôn tay, cụ Văn Cao cũng vẽ và ngồi vào đàn piano chơi tuỳ hứng (Improviser), cụ chủ yếu chơi bằng nắm đấm, cánh tay, khuỷu tay, cùi chỏ…rất là sấm sét.——–

Ảnh 9Tranh Bùi Xuân Phái, vẽ NS Văn Cao đang chơi đàn tuỳ hứngCụ Phái đề ở góc trên là Improviser SalonTối 22/4/1981———-Các cụ vẽ một lúc thì hết giấy, đến bây giờ tôi vẫn còn tiếc vì sự chuẩn bị phương tiện cho các cụ vẽ quá sơ sài, vì ngay lúc đó, cụ Phái đã nói vậy.——-

Ảnh 10Ảnh chụp quyển sách nhạc mà cụ Phái vẽ vào.——-Vì cơn vẽ đang đà thăng hoa, cụ Phái liền vớ luôn quyển sách nhạc (Schedrin ballet Ana Karenina) và vẽ vào đó, cụ chủ yếu vẽ chân dung tất cả mọi người, đặc biệt, cụ Phái vẽ cụ Văn Cao, do quá hiểu nhau, nên chỉ cần mấy nét phác hoạ chì là đã ra ngay thần thái cụ Văn Cao.——–

Ảnh 11Chân dung NS Văn Cao với chén rượu, Tranh Bùi Xuân Phái Vẽ tối 22/4/1981———Có lúc mất điện, chuyện bình thường thời đó, rồi lại có lại, các cụ vẫn say sưa vẽ và chuyện trò rôm rả…Tôi thì uống say quá, nên ngủ luôn, tuy mình là chủ nhà, kiêm nấu nướng, nhưng chả biết tôi có làm được phở cho các cụ ăn không, các cụ ra về thế nào… bây giờ không nhớ được nữa…..——–

Ảnh 12“Tự nhiên mất điện mà tôi cứ viết trong bóng tốiVẽ Phúc đang say”Cụ Phái viết rất hồn nhiên———–Sau này, mỗi lần tôi tới thăm cụ Phái ở phố Thuốc Bắc, cụ đều ký hoạ tôi, lúc thì bằng bút sắt, lúc thì bút dạ, cụ còn tự mình chọn một bức tranh Phố Phái nhỏ, vẽ phố Đông Thái tặng tôi.Cụ Văn Cao thì tôi gặp từ 1974 và vẫn thường gặp cụ, cụ cũng vẽ chân dung tôi bằng bút dạ. Nhà cụ ở phố Yết Kiêu, cũng gần cái lều của tôi.Tôi nhớ một buổi tối, cụ đến căn lều của tôi (cụ đi đâu cũng có bác gái đưa đi, đón về), rồi trong lúc ngồi chơi, mưa to, sấm chớp đùng đùng, hai bác cháu cùng đối ẩm.Lúc đó cuộc thi chọn quốc ca mới (1981) đang ở giai đoạn chung kết, cụ trầm ngâm nói với tôi “Bác sẽ ra đi cùng với bài quốc ca”….

Hôm nay, 40 năm đã ở phía sau, nhìn lại những bức ký hoạ này, cảm thấy như giọng nói các cụ vẫn đâu đây. Thời gian đúng là như bóng câu qua cửa, nhanh như chớp mắt.Đạo diễn Trần Thịnh mất khi mới 54 tuổi (1932-1986)Bác Văn Cao, Bác Bùi Xuân Phái cũng đã quy tiên. Các bác cùng thế hệ với cha tôi, một thế hệ đau đớn, đói nghèo, bị o ép về tinh thần.Người xưa nói “Bĩ cực, thái lai” nhưng Bĩ cực của cả một dân tộc kể “Từ ấy” đã kéo dài đến hết cả một đời người, cả mấy thế hệ.Cuộc sống bây giờ thay đổi nhiều, tranh cụ Phái bây giờ đắt giá nhưng đời các cụ chả được hưởng, nhìn lại thế hệ các cụ bị đoạ đầy, khổ sở, ngẫm lại ta không khỏi ngậm ngùi.——————————————————

(*) Tư liệu tham khảo thêm: thời điểm 1981, các cụ: Văn Cao 58 tuổi (1923-1995), Bùi Xuân Phái 61 tuổi (1920-1988), Dương Tường 49 tuổi, Trần Thịnh 49 tuổi , Trọng Bằng 50 tuổi.——–

Ảnh 13Chân dung tác giả bài viếtKý hoạ của Bùi Xuân PháiTối 22/4/1981———-

Ảnh 14Tranh Bùi Xuân Phái vẽ Đặng Hữu Phúc đang sayGóc tranh cụ đề: tối 22.4.81———

Hà nội 21 tháng 4 năm 2021

Đặng Hữu Phúc

ĐẶNG HỮU PHÚC

LAM ĐIỀN : Đọc Jacques Dournes xác định tọa độ của người Jarai để hiểu Tây Nguyên hơn

Đọc Jacques Dournes xác định tọa độ của người Jarai để hiểu Tây Nguyên hơn

15/04/2021 14:40 GMT+7 7 0 Lưu

JACQUES DOURNES

TTO – Công trình của nhà dân tộc học Jacques Dournes nghiên cứu sâu sắc về cộng đồng người Gia Rai ở Tây Nguyên vừa được dịch sang tiếng Việt với nhan đề Tọa độ – cấu trúc gia đình và xã hội của người Jörai (Jarai/ Gia Rai).

Đọc Jacques Dournes xác định tọa độ của người Jarai để hiểu Tây Nguyên hơn - Ảnh 1.

Tọa độ cấu trúc gia đình và xã hội của người Jörai vừa ra mắt bạn đọc – Ảnh: L. ĐIỀN https://www.youtube.com/embed/CDTHWcMUj_I?rel=0&controls=0&showinfo=0&mute=1&enablejsapi=1&controls=0&showinfo=0&mute=1&enablejsapi=1&rel=0 Gem Sky World Lifestyle gemskyworld.vnTìm hiểu thêm

Mặc dù nguyên tác tiếng Pháp của Jacques Dournes được xuất bản từ năm 1972, đây là lần đầu tiên tác phẩm Tọa độ được dịch sang tiếng Việt.

Câu chuyện về bản dịch này bắt đầu từ một mối duyên khi dịch giả Nguyễn Phương Chi vào năm 2017 tham gia chuyến đi của CUCA Art Tour về với Tây Nguyên trong dự định tìm hiểu thêm về văn minh Chăm và Phù Nam.

Trong một tình cờ phát hiện mấy dòng giới thiệu lược sử giáo xứ Phú Bổn và hành trạng cha Đuốc (tên thân thương của Jacques Dournes), đã khiến trưởng đoàn Art Tour và dịch giả Nguyễn Phương Chi quyết định dịch quyển Coordonnées: Structures Jörai Familiales et Sociales, cũng là quyển sách quan trọng của Jacqes Dournes cho đến lúc đó vẫn chưa được Việt dịch.

Sẽ hiếm có nhà dân tộc học nước ngoài nào có được tinh thần làm việc và tình yêu các tộc người Tây Nguyên như Jacques Dournes.

Không chỉ quá trình gắn bó trường kỳ 9 năm sống với người Srê và ngót 11 năm sống với người Jarai, ông còn được những người dân tộc thiểu số yêu quý, chia sẻ hết mình những suy tư và tình cảm xung quanh nhịp điệu cuộc sống thường ngày.

Chính nhờ khả năng ngôn ngữ ấy, Jacques Dournes đến với người Jarai là để lắng nghe, trong những câu chuyện thường ngày, trong những bài khấn, trong lời kể chuyện Akhan hằng đêm và cả trong lúc họ nói nhịu, nhớ nhầm…

Tọa độ, bạn đọc sẽ được Jacques Dournes chỉ dẫn những đường hướng tiếp cận không gian sống và mô hình gia đình/ xã hội của người Jarai. Jacques Dournes trình bày vừa như đặt ra trước mắt độc giả một sa bàn, lại vừa như đẩy người đọc vào từng không gian sống của người Jarai để nghe tiếng vang của từng câu chuyện.

Người đọc thấy mình được chia sẻ những cách hiểu: tọa độ nổi và tọa độ ngầm, cấu trúc và cuộc sống, và cả các tọa độ tưởng tượng…

Đặc biệt trong phần nghiên cứu về phả hệ và lịch sử cư trú, Jacques Dournes hệ thống các quan niệm về sự xuất hiện người Jarai, với các khái niệm « các bộ đôi sáng lập » và « những cặp đôi khai minh » cho thấy ông có độ nhạy tinh tường và sự mẫn cảm đắt giá để hiểu thấu sự tồn tại không gian sống của người Jarai ở trong chính đời sống tinh thần của họ.

Một số tác phẩm của Jacques Dournes (1922 – 1993) về Tây Nguyên được dịch và ấn hành tại Việt Nam như: Rừng, Đàn bà, Điên loạn; Pötao, một lý thuyết về quyền lực của người Jörai Đông Dương; Xứ Jörai; Miền đất huyền ảo; Tọa độ: cấu trúc gia đình và xã hội của người Jörai. Con voi cuối cùng ở Bắc Tây Nguyên đã chết

TTO – Voi Yă Tâu – nàng voi cô đơn trên mảnh đất Bắc Tây Nguyên – đã chết sau gần 30 năm không thấy đồng loại ở núi rừng Gia Lai.

LAM ĐIỀN

https://tuoitre.vn/doc-jacques-dournes-xac-dinh-toa-do-cua-nguoi-jarai-de-hieu-tay-nguyen-hon-20210415112933829.htm

TIẾN VŨ: ‘Xa vắng tiếng dương cầm’ tưởng nhớ 5 năm xa nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9

18/04/2021 09:00 GMT+7 10 1 Lưu

TTO – Nhiều ca sĩ như Elvis Phương, Quang Dũng, Hồ Lệ Thu… cùng góp giọng trong đêm nhạc ‘Xa vắng tiếng dương cầm’ ở nhà hát Đà Lạt Opera House, để tưởng nhớ 5 năm ngày giỗ nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9.

‘Xa vắng tiếng dương cầm’ tưởng nhớ 5 năm xa nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 - Ảnh 1.

Nhạc sĩ Nguyễn Quang lặng lẽ đệm đàn cho tất cả các tiết mục tại đêm nhạc – Ảnh: TẤN ĐẠT https://www.youtube.com/embed/CDTHWcMUj_I?rel=0&controls=0&showinfo=0&mute=1&enablejsapi=1&controls=0&showinfo=0&mute=1&enablejsapi=1&rel=0 Gem Sky World Lifestyle gemskyworld.vnTìm hiểu thêm

Xa vắng tiếng dương cầm được dàn dựng với tâm huyết của con trai nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 là nhạc sĩ Nguyễn Quang. Đà Lạt được chọn làm điểm đến của đêm nhạc vì khi còn sống, nhạc sĩ từng có nhiều kỷ niệm gắn bó với phố núi này.

Tối thứ bảy (17-4) trời mưa nhẹ và những bản tình ca Nguyễn Ánh 9 đã vang lên trước hơn 800 khán giả, trong không gian của nhà hát Đà Lạt Opera House (Lâm Đồng).

Nhạc sĩ của những nỗi buồn… thật đẹp

Quang Dũng hát ‘Buồn ơi chào mi’ – Video: TIẾN VŨ

Nguyễn Ánh 9 không có gia tài âm nhạc lớn vì ông sáng tác không nhiều, chỉ khoảng độ vài ba chục bài, có bài mất thời gian vài năm. Thế nhưng mỗi giai điệu ông chấp bút đều lấp lánh những cảm xúc chân thật về một câu chuyện, kỷ niệm nào đó hiện hữu trong đời.

Cảm hứng trong âm nhạc của Nguyễn Ánh 9 thường là nỗi buồn, một nỗi buồn… rất đẹp của những kẻ nặng tình và chân phương khi yêu.

Trong đêm nhạc, các ca sĩ như Hồ Lệ Thu, Ngọc Liên, Hương Giang, Tuấn Anh… thân thương gọi cố nhạc sĩ là « bố ». Họ cùng nhau hát lại nhiều nhạc phẩm quen thuộc của Nguyễn Ánh 9 như Biệt khúc, Buồn ơi chào mi, Lối về, Mùa thu cánh nâu, Tiếng hát lạc loài, Ai đưa em về…

‘Xa vắng tiếng dương cầm’ tưởng nhớ 5 năm xa nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 - Ảnh 3.

Ca sĩ Hồ Lệ Thu – Ảnh: TẤN ĐẠT

Phần còn lại của đêm nhạc là hai giọng ca Quang Dũng, Elvis Phương. Nếu Quang Dũng thâm trầm với Tình khúc chiều mưa, Buồn ơi chào mi thì Elvis Phương khắc khoải, máu lửa hơn với Một lời cuối cho em, Không.

Không chỉ hát, cả hai còn ôn lại nhiều kỷ niệm làm nghề cùng nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9. MC Kỳ Duyên đã sưu tầm, gợi nhắc lại nhiều câu chuyện khác gắn với ông để khán giả Đà Lạt thêm hiểu hơn về con người cũng như âm nhạc của Nguyễn Ánh 9.

Khép lại đêm nhạc là màn song tấu piano của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 và Nguyễn Quang, hai cha con say sưa cùng với giai điệu của Tình khúc chiều mưa. Đây cũng là màn trình diễn gây nhiều xúc động khi hình ảnh cố nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 ngồi đánh đàn được tái hiện ngay trên sân khấu, đối diện là con trai Nguyễn Quang cũng đang hòa nhịp.

Màn song tấu piano của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 và con trai – Video: TIẾN VŨ

Nhiều duyên nợ với Đà Lạt

Trước khi mất một tháng, Nguyễn Ánh 9 đã trở lại Đà Lạt thăm trường xưa và chốn cũ. Tại đây, ông đã chọn một quán cà phê, ngồi bên cạnh cây dương cầm và đàn cho các ca sĩ thân quen hát.

‘Xa vắng tiếng dương cầm’ tưởng nhớ 5 năm xa nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 - Ảnh 5.

Ca sĩ Quang Dũng nhận được nhiều sự quan tâm của khán giả Đà Lạt

Nhạc sĩ Nguyễn Quang chia sẻ như thể đáp lại, Đà Lạt hôm nay vẫn còn lưu giữ một căn phòng nhỏ bên ngoài treo bảng « Phòng Nguyễn Ánh 9 » tại Nhà văn hóa tỉnh Lâm Đồng. Trong đó có nhiều hình ảnh và đồ vật nhạc sĩ từng dùng.

« Tôi vô cùng xúc động và đã đánh lên khúc nhạc quen thuộc của cha, dù cây đàn sau 60 năm đã tiếng còn tiếng mất. Tình cảm của cha dành cho Đà Lạt và tình cảm của người yêu nhạc Đà Lạt dành cho cha đã thúc đẩy tôi tập trung mọi nguồn lực để tổ chức một đêm diễn thật khó quên tại thành phố này », nhạc sĩ Nguyễn Quang chia sẻ về đêm nhạc.

Elvis Phương: ‘Được hát nhạc Nguyễn Ánh 9 là may mắn của tôi’

Danh ca Elvis Phương cho biết mối duyên đưa anh đến với nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 chính là ca khúc Không đã góp phần tạo nên tên tuổi của anh. Sau này, âm nhạc của Nguyễn Ánh 9 cũng trở thành dấu son trong sự nghiệp ca hát của Elvis Phương.

Elvis Phương hát ‘Không’ – Video: TIẾN VŨ

« Anh đề nghị chúng tôi làm một đĩa tôi hát nhạc của anh và đĩa đó đã bán rất chạy. Ngày anh mất, tôi kẹt ở Mỹ không thể về đưa tiễn được.

Cho tới tận bây giờ, 5 năm trôi qua sau ngày anh mất, đi đâu tôi cũng thường hát bài Không của anh. Đó là cách tôi tưởng nhớ tới một người anh thân thiết trong nghề. Chúng tôi đã kề vai với nhau từ khi cả hai chưa ai biết tới. Tôi thực sự xúc động và sung sướng khi được đứng trên sân khấu ngày hôm nay », danh ca bồi hồi chia sẻ.

‘Xa vắng tiếng dương cầm’ tưởng nhớ 5 năm xa nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 - Ảnh 7.

Nguyễn Quang và Elvis Phương trò chuyện tại đêm nhạc

Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 vẫn luôn tâm niệm những điều đến từ trái tim sẽ đi thẳng đến trái tim. Lời hát của ông không cầu kỳ trong câu chữ mà dung dị, giàu sức gợi. Gieo chúng lên những bản phối êm đềm cùng tiếng dương cầm, đó là lúc những lời hát vốn dung dị kia bỗng có sức neo đậu vào tâm trí người nghe một cách ghê gớm.

Và lúc này, ranh giới giữa một nhạc công và nhạc sĩ xóa nhòa, chỉ còn những giai điệu cứ tung tăng cùng phím đàn. Có lẽ đó cũng là lý do vì sao Nguyễn Ánh 9 có tâm nguyện trên ngôi mộ của ông sẽ có hình hài của đàn piano.

Từ Mỹ, Khánh Ly nhớ người anh nhạc công, nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 năm nào

172651046_149128023803934_8719732041962597235_n

Nguyễn Ánh 9 và Khánh Ly

Với Khánh Ly, Nguyễn Ánh 9 là người nhạc sĩ, người bạn tri kỷ, còn với cố nhạc sĩ, Khánh Ly lại chính là nguồn cảm hứng cho nhiều sáng tác thăng hoa của ông như Mùa thu cánh nâu, Đêm tình yêuNụ hôn tình sầu.

Khánh Ly chia sẻ cảm xúc của cô nhân ngày giỗ 5 năm của người anh trong nghề: « Những tác phẩm của Nguyễn Ánh 9 đặc trưng và không giống ai. Mỗi bài hát đều là cảm tác của ông ấy về một sự kiện trong cuộc sống. Mỗi khi hát các ca khúc của ông ấy, cảm xúc của tôi không giống với bất kỳ một nhạc sĩ nào khác, nó rất riêng.

Một trong những người tôi thân quý, chính là ông Nguyễn Ánh 9. Ông ấy là một nhạc sĩ tài năng, sâu sắc và hiền lành ». Nguyễn Ánh 9: Vĩnh biệt một tiếng dương cầm

TT – Chiếc xe đưa ông về đến ngôi nhà thân quen ở số 2C3 Thích Quảng Đức, Q.Phú Nhuận trong tiếng khóc nấc của gia đình, học trò của ông và những người hàng xóm quanh nhà.

TIẾN VŨ

https://tuoitre.vn/xa-vang-tieng-duong-cam-tuong-nho-5-nam-xa-nhac-si-nguyen-anh-9-20210417203515988.htm

TRẦN QUANG HẢI : ÂM NHẠC VÀ NGƯỜI TỴ NẠN / giai đoạn 1975-1987

TRẦN QUANG HẢI

TRẦN QUANG HẢI

12 năm đã lặng lẽ trôi qua. 12 năm đầy biến cố chính trị, kinh tế và nghệ thuật đã thay đổi bộ mặt nhân loại nói chung và bộ mặ Việt Nam nói riêng .

Chỉ có lĩnh vực nhạc Việt Nam ở hải ngoại, nhứt là nhạc di tản  là đươc phát triển đặc biệt về số lượng .Hàng ngàn K7 mới, hàng trăm băng video tân nhạc và nhạc cải lương do hàng chục nhà sản xuất ở Mỹ (đặc biệt  là ỡ Cali, hay đúng hơn là ở Quận Cam được mệnh danh là Saigon Nhỏ) và ở Âu châu (nhứt là ở Paris) bắt đầu tràn ngập thị trường K7 dành cho người tỵ nạn Việt Nam .

Trong khung cảnh của bài này, tác giả thử cung cấp thông tin ngằn ngủi về sinh hoạt âm nhạc trong cộng đồng Việt Nm từ 30 tháng 4,1975, ngày Saigon thất thủ, và khơi mào cho chuyến ra đi tỵ nạn của hàng trăm ngàn người Việt.

Ba đề tài được đề nghị :

  1. Sự sinh tồn nhạc cổ truyền
  2. Sư( phát triển tân nhạc
  3. Sự khởi đầu nhạc cân đại Tây phương

1.SỰ SINH TỒN NHẠC CỔ TRUYỀN

Nhạc cổ truyền lúc nào cũng bị coi là nghèo nàn đối vời nhạc tây phương. Trước tháng 4, 1975, tại Viện quốc gia âm nhạc Saigon, những lớp dạy đờn và nhạc cổ truyền không thu hút nhiều nhạc sinh. Các thầy dạy nhạc cổ truyền thường có thái độ tự ty mặc cảm đối với các thầy dạy nhạc tây phương.

Ở hải ngoại, người Việt tỵ nạn không đủ thì giờ để thưởng thức tiêng đờn tranh, hay đi coi hát cải lương . Các trẻ em rời Việt Nam lúc 7 tới 10 tuổi sau 12 năm  sống ở Mỹ không còn ưa thích nhạc cổ và cải lương. Chúng hoàn toàn dửng dưng đối với văn hóa Việt và nhạc Việt cổ cũng như tân. Chúng không còn nói tiếng mẹ đẻ trôi chảy, và chỉ thích nghe nhạc thời trang do các ca sĩ nổi tiếng thời đó như Michael Jackson, Madonna, Prince vì đối với chúng  đó chính là âm nhạc của thế giới chúng hiện nay .

Tuồng cải lương , các buổi giới thiệu nhạc cổ truyền ngày càng ít khách. Cha mẹ không khuyến khích con cái đi nghe các buổi trình diễb nhạc dân tộc phần nhiều kéo dài nhiều tiếng đồng hồ. Giới trẻ nkhông hiều tiếng Việt và âm nhạc không hạp lỗ tai của chúng .Hơn nữa phải trả tiền mắc.

Ở Paris, chỉ trừ cặp nghệ sĩ Trần Quang Hải và Bạch Yến vẫn sinh hoạt nhiều nhờ hoạt động giới thiệu nhạc cổ truyền Việt Nam cho khán giả Tây phương trên khắp thế giới từ 20 năm qua dưới dạng chương trình cho khán giả người lớn, cho trẻ em tại các trường học trong khung cảnh giáo dục âm nhạc học đường, và tại các đại hội liên hoan nhạc truyền thống quốc tế. Họ là nghệ sĩ đại diện cho âm nhạc dân tộc Việt ở hải ngoại đi vào thế giới người Tây phương trong giai đoạn này.

Trong số các nghệ sĩ tỵ nạn có ba nhóm sinh hoạt nhạc truyền thống và cải lương : nữ nhạc sĩ Phương Oanh và ban Phượng Ca, hội nghệ sĩ tỵ nạn Paris, và hội nghệ si trẻ.

Phương Oanh, cựu giáo sư đàn tranh, tốt nghiệp nhạc viện quốc gia Saigon và thành viên của ban Hoa Sim (những nhạc sĩ trẻ gồm Thúy Hoan, Phương Oanh, Quỳnh Hạnh và Ngọc Dung). Cô tới Pháp năm 1976 và thành lập ban Phượng Ca với mục đích tạo một trường âm nhạc cổ truyền Việt Nam tại Âu châu (chi nhánh mọc ra ở Bỉ, Thụy Sĩ, Na Uy). Cô đã quy tụ được một số trẻ em Việt  nam nữ lập thành một đoàn trẻ em trình diễn đàn tranh, dàn cò, đàn kìm và nhạc cụ gõ, đã có tiếng vang tốt đẹp tốt đẹp trong giới trẻ Việt ố Âu châu.Đối tượng của Phương Oanh là phối hợp nhạc truyền thống Việt với hòa âm tây phương để tạo một loại nhạc cổ truyền 5

Tây phương hóa thích hợp với sở thích của trẻ em Việt lớn lên ở hải ngoại .

Hội nghệ sĩ tỵ nạn Paris do nghệ sĩ tài danh Hữu Phước thành lập tại Paris năm 1986. Hội đã quy tụ một số dông nghệ sĩ cải lương sinh sống tại Paris và ngoại ô Paris như Kiều Lệ Mai , Hà Mỹ Liên, Phương Thanh, Minh Đức, Kim Chi, Minh Thanh, Hoàng Long (rời hội thán 10, 1986). Nghệ sĩ Hữu Phước cố gắng làm cải lương sống lại trên đất Pháp. Hội được sự ủng hộ của khán giả Việt ở Paris.

Một hội nghệ sĩ trẻ do nghệ sĩ Chí Tâm thành lập, đã được một số nghệ sĩ hưởng ứng  như Tài Lương, Mỹ Hòa, Ngọc Lưu, Hùng Tiến. Chí Tâm là ca sĩ trẻ, đóng tuồng giỏi, đạo diễn tài ba và là nhạc sĩ đàn nhiều nhạc cụ cổ như ghi ta phim lõm, tranh, kìm, đàn bầu,đàn sến. Vời Chí Tâm hy vọng có thể đóng góp vào cải lương một bộ mặt sáng tạo mới.

Ngoài ba nhóm kể trên,một nhóm thứ tư quy tụ Hoàng Long, Ngọc Đức, Phương Hồng Ngọc thử giới thiệu loại thoại kịch (kịch nói) từ năm 1987.

Ở Mỹ một số nghệ sĩ cũng đang tìm cách giới thiệu âm nhạc cổ truyền. Nghệ sĩ nổi tiếng sáo tre Nguyễn Đình Nghĩa và các con tới Mỹ năm 1984, sinh sống tại tiểu bang Virginia, đã giới thiệu nhạc dân ca Việt qua một số chương trình tấu nhạc trên sân khấu nhưng không liên tục. Anh nổi tiếng ở Việt Nam qua bài độc tấu sáo « Phụng Vũ ». Anh ngừng trình diễn để dành thì giờ thể nghiệm đàn trưng và đàn đá từ những thanh đá tìm thấy ở Mỹ.

Bà Bích Thuận, nghệ sĩ cải lương lão thành, đã tới Pháp năm 1983 và định cư tại Mỹ từ năm 1985, không thành công kêu gọi các nghệ sĩ tỵ nạn nổi tiếng tại Mỹ để thành lập một gánh cải lương như lúc ở Saigon. Thỉnh thoảng bà tham gia những buổi sinh hoạt văn nghệ hay thực hiện những phim video cho khán giả Việt .

Nghệ sĩ Việt Hùng , đồng sáng lập viên gánh Hoa Sen cùng với nghệ sĩ Minh Chí . Ông là chồng của nữ nghệ sĩ Ngọc Nuôi (vẫn còn ở Saigon), đã tới Mỹ sau 30 tháng 4, 1975 . Ông tiếp tục cuộc sống văn nghệ một cách âm thầm với những vở tuồng quay video.

Hùng Cường, một trong những nghê sĩ trẻ của cải lương Saigon, đã tới Mỹ năm 1982. Anh quay sang hát tân nhạc. Sau một thời gian ngắn lúc đầu,anh chuyển sang nghề lồng tiếng cho những phim Tàu, đồng thời diễn cặp với nữ ca sĩ Mai Lệ Huyền nổi tiếng ở Saigon qua màn nhạc kích động .

Dũng Thanh Lâm, một nghệ sĩ cải lương, nổi tiếng ở Saigon nhờn đep trai, tới Pháp và trình diễn một thời gian ngắn. Sau đó sang Mỹ sinh sống . Anh đóng tuồng cải lương cho các phim video. Thỉnh thoảng được mời đi diễn.

La Thoại Tân, rất được ái mộ ở Saigon về hài hước,khi sang Mỹ trở thành nhà tổ chức nhữn buổi trình diễn nhạc dân tộc. Sau cùng anh sống với nghể chuyển âm cho các phim Tàu .

Nhật Minh, cùng với La Thoại Tân, đóng tuồng trong các phim video, và tham gia các shows ở Mỹ

Kim Tuyến, nghê sĩ cải lương  nổi tiếng , đã ngừng diễn cải lương . Bây giờ cô chuyển sang ca tân nhạc tại các phòng trà Việt và bắt đầu được biết tiếng từ vài năm nay .

Các nghê sĩ khác như Hà Mỹ Hạnh, Thiên Trang, Bích Liễu, Ánh Hoa, tiếp tục hành nghề nhưng không thu hút khán giả .

Nghệ sĩ Lữ Liên, cha của các ca sĩ nổi tiếng như Bích Chiêu, Khánh Hà, Tuấn Ngọc, ban nhạc Up Tight, tới Mỹ tháng 5, 1975.Lúc đầu ông tái lập ban AVT  (Lữ Liên, Vũ Huyến, Ngọc Bích) tham gia những chương trình  văn nghệ ở Mỹ và Âu châu. Hiên giờ ông đã gác kiếm, từ giã cuộc sống văn nghệ.

Nghê sĩ Xuân Phát cũng ngừng tham gia văn nghê khi tới Mỹ.

Hương Lan , con gái đầu lòng của nghệ sĩ Hữu Phước, là nghệ sĩ nổi tiếng nhứt  về tân nhạ cũng như cổ nhạc trong giới nghê sĩ Việt tỵ nạn từ năm 1987. Giọng hát của Hương Lan là sự phối hợp của hai giọng ca Út Bạch Lan và Thanh Nga. Từ khi tới Pháp năm 1978, Hương Lan cò mặ trong các buổi trình diễn cải lương nhưng không mấy thành công. Cô chuyển sang hành nghề ca sĩ tân nhạc hát ở các nhà hàng và phòng trà Paris. Từ năm 1985 cô rời xứ Pháp sang định cư ở Mỹ và trở thành ca sĩ được mời nhiều nhứt trong cộng đồng Việt Nam .

Ở Đức, hai nghệ sĩ Phượng Mai (hồ quảng) và Thành Được   (cải lương) gặp nhiều khó khăn khi hành nghề cải lương vì thiếu khán giả. Phượng Mai theo gót Hương Lan chuyển sang hát tân nhạc ở các phòng trà Paris. Nghê sĩ Thành Được từ khi định cư tại Đức năm 1984 thườn trình diễn chung với Phượng Mai trong những chuyến đi Mỹ, Úc và Âu châu. Thành Được không còn ăn khách ở hải ngoại mặc dù tiếng tăm rất nổi tại quê nhà.

Trong 10 năm tới đây, hát cải lương có thể sẽ rơi vào quên lãng vì lẽ thiếu nghệ sĩ trẻ tiếp nối các đàn anh đàn chĩ ở hải ngoại. Nhạc cổ truyền có thể tồn tại lâu hơn nhưng không bành trướng, bởi vì các ca sĩ trẻ hướng về nhạc trẻ tây phương hay tân nhạc ngoại lai . Số nhạc sĩ đàn nhạc cụ cổ truyền không có cơ hội đào tạo thêm nhạc sĩ trẻ.

2. SỰ PHÁT TRIỂN TÂN NHẠC

Từ tháng 5, 1975, sự ra đi của nhiều nghệ sĩ tân nhạc sống ở miền Nam Viêt Nam tụ hợp rất đông ở Mỹ đánh dấu một sự phát triển mạnh mẽ của nhạc di tản. Loại nhạc này thể hiện bành trướng qua nhiều đề tài sáng tác.)

  1. Nhớ quê hương, nhớ Saigon (1975-1977) với những ca khúc gợi lại kỷ niệ xưa đã mất đi. Một số bản nhạc tiêu biểu như « Vĩnh biệt Saigon » của Nam Lộc (1976), « Saigon niềm nhớ không tên » của Nguyễn Đình Toàn (1977)
  2. Kháng chiến, đấu tranh để chiếm lại quê hương (1978-1981) được thể hiện qua các ca khúc trong « Hát trên đường tạm dung » của Phạm Duy (1978), những ca khúc của nữ nhạc sĩ Nguyệt Ánh như « Em nhờ màu cờ » (1981), « Dưới cờ phục quốc » (1981), hay các bài của Việt Dzũng « Lưu vong khúc »(1980) « Kinh tỵ nạn), vv…
  3. Miêu tả  đời sống tù nhân tại Việt Nam trong tuyển tập 20 ca khúc của Phạm Duy phổ thơ của Nguyễn Chí Thiện « Ngục ca » (1981), và những bản nhạc của nhà thơ / nhạc sĩ Hà Thúc Sinh « Tiếng hát tủi nhục » (1982), vv…
  4. Hồi sinh những ca khúc tiền chiến (1982-1985) với hàng trăm băng K7 thu thanh các giọng hát ăn khách đương thời (Elvis Phương, Duy Quang , Chế Linh) và các giọng ca nữ (Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Hương Lan, Julie Quang) để làm sống lại những kỷ niệm khó quên của thời vàng son Saigon.
  5. Khai sinh phong trào Hưng Ca (từ năm 1985) quy tụ một số nhạc sĩ trẻ như Hà Thúc Sinh, Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyệt Ánh, Việt Dzũng, Phan Ni Tấn, Khúc Lan để sáng tác những ca khúc tranh đấu mới, kháng chiến, tình yêu làm khơi dậy lòng yêu nước của người Việt tỵ nạn .
  6. Phát triển loại nhạc kích động « New Wave » và nhạc phim bộ Tàu (từ năm 1986) với hàng trăm K7 được sản xuất chỉ riêng cho năm 1986 về loại nhạc tây phương đang ăn khách và nhạc phim bộ Tàu (Trung quốc, Hồng Kông và Đài Loan) với lời Việt .

Đối với những nhà viết nhạc hiện đang sinh sống tại Mỹ, Phạm Duy vẫn là nhạc sĩ được mến chuộng nhứt. Các bản nhạc viết trước 1975 của ông chiếm 90% trong số bài bản được thâu ở hải ngoại. Tất cả các ca sĩ đều hát ít nhứt là một bài của Phạm Duy trong các băng K7 được phát hành trong giai đoạn này. Những bản nhạc mới sáng tác của ông từ năm 1978 đều hướng về hiện trạng tỵ nạn, về đời sống thiếu tự do ở Việt Nam, đều được mọi người hưởng ứng. Từ năm 1985 ông ít sáng tác hơn , nhưng viết lời Việt cho những ca khúc nổi tiếng Tây phương.

Hoàng Thi Thơ sáng tác ít hơn. Ông chuyển sang nghề điều khiển một chương trình truyền hình dành cho người Việt tỵ nạn ở Cali. Sang Mỹ năm 1975, ông viết một số ca khúc mời về Saigon vời những đề tài nhờ quê hương (1975-1980), và tình yêu (từ 1981).

Những nhạc sĩ khác nổi tiếng ở Saigon như Văn Phụng, Tô Huyền Vân, Ngọc Bích, Anh Việt, Huỳnh Anh, Song Ngọc, Trần Văn Trạch, Lê Trọng Nguyễh gần như không còn sáng tác.

Ngược lại, một thế hệ nhạc sĩ trẻ được chào đời ở hải ngoại. Ở Mỹ,Nguyệt Ánh (chỉ được tới từ năm 1980), Việt Dzũng, Châu Đình An, Phan Kiên, Huỳnh Công Ánh, Khúc Lan, tất cả là thành viên của phong trào Hưng Ca, đã viết nhiều ca khúc trên những đề tài tranh đấu và kháng chiến. Duy Quang viết về những vấn đề tỵ nạn, Lẻ Uyên Phương về ngưới vượt biển, Hà Thúc Sinh về điều kiện tù tội ở Việt Nam, Đức Huy về tình yêu.

Những nhạc sĩ khác như Nguyễn Hữu Nghĩa, Phan Ni Tấn, Trọng Nghĩa ở Canada, Hàn Lệ Nhân, Phan Văn Hưng, Lê Khắc Thanh Hoài, Ngô Minh Khánh, Ngô Càn Chiếu, ở Pháp, Nguyễn Quyết Thắng ở Hòa Lan, Hoàng Ngọc Tuấn, Phạm Ngọc Quang, Cung Đàn Nguyễn Sỹ Nam ở Úc châu, đã viết hàng ngàn bài nhạc mới về những vấn đề hiện tại, những khát vọng, kháng chiến. Nhà thơ/nhạc sĩ Hà Thúc Sinh (Mỹ), Duyên Anh (Pháp) bắt đấu sáng tác nhạc trên những bài thơ của họ.

Rất nhiều nhạc sĩ phối khí bắt đầu làm việc không ngừng nhờ những buổi sinh hoạt văn nghệ, những chuyến đi diễn hay làm việc tại các phòng thâu băng. Có thể kể :Lê Văn Thiện, Trung Nghĩa, Hồ xuân Mai, Nghiêm Phú Phi (tới Mỹ năm 1984), Đan Thọ, Ngọc Chánh, Lê Văn Khoa, Tùng Giang ở Mỹ, Võ Đức Tuyết, Võ Đức Lang, Xuân Vinh, Văn Tấn Sĩ ở Pháp.

Những nhạc sĩ đã thay đổi nghề như Trần Anh Tuấn (trước là giáo sư dạy mandoline ơ trường quốc gia âm nhạc Saigon , giờ làm người lên dây đàn piano), Trần Vĩnh (nhạc sĩ thổi saxo trở thành công nhân chuyên nghiệp trong một xưởng ở tỉnh Nancy), Nguyễn Xuân Phúc (làm giáo sư dạy nhạc ở một trường trung học ngoại ô Paris).

Những ban nhạc nhạc kích động  nổi tiếng ở Saigon như ban CBC, Dreamers (các con của nhạc sĩ Phạm Duy), Crazy Dogs (các con của nghệ sĩ Việt Hùng / Ngọc Nuôi),Uptight (các con của nghệ sĩ Lữ Liên), Family Love ở Mỹ, ban Blue Jets (thêm nhạc sĩ Ngô Minh Khánh) ở Pháp. Nhiều ban nhạc trẻ được thành lập để đáp ứng với số phòng trà khiêu vũ mọc lên như nấm ở Mỹ, Pháp, Canada và Úc.

Khánh Ly vẫn là ca sĩ đươc ưa chuộng nhứt ở hải ngoại. Cô có mặt trên khắp thị trường băng K7 và video. Cô xuất hiện trên khắp các sân khấu hải ngoại nơi có người Việt sinh sống.

Lệ Thu, Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Hương Lan, Julie Quang (sau này đổi thành Julie) là những ca sĩ được mời diễn nhiều nhứt.

Nữ ca sĩ Thái Thanh tới Mỹ năm 1985, dù giọng hát rất được ưa thích ở Việt Nam, không lôi cuốn được giới trẻ ở Mỹ.

Nhiều ca sĩ tiêp tục hành nghề : Băng Châu, Mai Lệ Huyền, Uyên Phương, Phương Hồng Hạnh, Phương Hoài Tâm, Hoàng Oanh, Minh Hiếu, Mỹ Thể, Jeannie Mai, Trúc Mai, Thái Hiền, Thái Thảo, Mai Hương, Khánh Hà, Ngọc Minh, Kim Anh, Huyền Châu, Lưu Hồng, Connie Kim, Carol Kim, Sơn Ca, Diễm Chi, Quỳnh Giao, Kim Tước ở Mỹ, Julie (ở Mỹ từ năm 1984), Thanh Mai (ở Mỹ từ năm 1985) Thu Hương, Mary Linh, Thiên Nga, Ngọc Hải, Minh Đức, Phương Hồng Ngọc ở Pháp, Kim Loan , Pauline Ngọc ở Đức, Phương Dung ở Úc.

Nhiều ca sĩ nổi tiếng chọn xứ Mỹ : Hoài Trung, Hoài Bắc, ban AVT, Bùi Thiện, Sĩ Phú, Duy Quang, Elvis Phương, Jo Marcel, Lê Uyên Phương, Hùng Cường, Trường Hải, Đừc Huy, Trường Thanh.

Một vài nghệ sĩ khác như Trần Văn Trạch, Cao Thái, Anh Sơn, Quốc Anh, Thanh Phong, Văn Tấn Phát ở lại Pháp. Công Thành, Thân Đình Nguyễn ở Úc.

Từ năm 1984, một thế hệ ca sĩ trẻ xuất hiện để tiếp nối các đàn anh đàn chị.Họ hát những bài Tây phươn bằng ngoại ngữ hay bằng bản dịch tiếng Việt. Họ bắt đầu xâm chiếm thị trường  như Linda Trang Đài, Ngọc Lan, Hải Lý, Kim Ngân, Tuấn Đạt, Tuấn Anh, Tuấn Vũ, Vũ Khanh, Anh Tài, vv .. ở Mỹ, Ngọc Huệ, Ngọc Điệp, Kim Huệ ở Úc, Hứa Khánh ở Canada, Minh Đức, Ngọc Hải, Văn Tấn Phát, Anh Sơn ở Pháp.

Một vài ca sĩ như Minh Trang (vợ của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước), Châu Hà (vợ của nhạc sĩ Văn Phụng ), Lệ Thanh, Hà Thanh ngừng trình diễn.

Sinh hoạt văn nghệ trong cộng đồng người Việt chỉ được tổ chừc vào cuối tuần. Người Việt chỉ thích đi khiêu vũ để giải trí và không tha thiết gì tới giá trị bài hát. Rất nhiều phòng trà mang những tên được biết tới ở Saigon như « RITZ », « Tự Do », « Queen Bee » ở Mỹ  , « Đêm Màu Hồng », « Las Vegas », ở Pháp. Tất cả những phòng trà thu hút ngày càng nhiều người vì họ muốn tìm quên lãng đời sống khó khăn tỵ nạn qua các điệu khiêu vũ quen thuộc dựa trên những bản thường nghe ngày xưa tại Saigon như Slow, Tango, Cha Cha Cha, Pasodoble, Rock, Bolero,

Nhiều nhà sản xuất băng nhựa ở Mỹ như Thanh Lan, Làng Văn , Giáng Ngọc, Tú Quỳnh, Thanh Thúy, Asia, Đời, Dạ Lan, Diễm Xưa phát hành hàng trăm băng K7. Nhà sản xuất Thanh Lan cho in hàng trăm băng K7 từng tháng.

Từ hai năm nay (1986-1987), một số nghệ sĩ tự phát hành băng với tên riêng của họ. Thanh Mai, Jo Marcel, Tùng Giang, Anh Tài, Kim Ngân, Ngọc Lan, Băng Châu, Trường Thanh, Thanh Tùng, Thy Hải ở Mỹ. Tại Pháp chỉ có ba nhà sản xuất băng quan trọng : Phượng Hoàng , Thúy Nga, và Phượng Nga Paris.

Nhiều phim video về tân nhạc không được thịnh hành cho lắm. Hàng trăm video về tân nhạc do Trung tâm Thúy Nga (Paris), trung tâm Túy Hồng (Mỹ) tạo thành một bằng chứng cụ thê về đời sống âm nhạc của nghệ sĩ Việt Nam tỵ nạn.

Những chuyến lưu diễn ngày càng nhiều từ 1986 nhờ những buổi hát giúp người vượt biển để có tiền giu&p ngân quỹ hội Y sĩ thế giới, hay những hội từ thiện cứu người Việt còn kẹt ở những trại tỵ nạn Đông Nam Á.

3. GIAI ĐOẠN KHỞI ĐẦU NHẠC CẬN ĐẠI TÂY PHƯƠNG

Bên cạnh vài nhà viết nhạc gốc Việt  viết nhạc cận đại Tây phương sinh sống tại Pháp từ lâu như Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Thiên Đạo, Tôn Thất Tiết, Trương Tăng, Trần Quang Hải, hai nhà viết nhạc trẻ tuổi tỵ nạn sống tại Úc. Người thứ nhứt là Hoàng Anh Tuấn, huy chương vàng ở đại hội liên hoan nhạc Việt năm 1978, đã rời xứ Việt Nam năm 1982 bằng đường thủy. Anh đã được học bổng nghiên cứu về dân ca và tân nhạc. Anh đàn ghi ta rất giỏi và cũng là một người viết nhạc có tiếng ở Úc. Anh đã soạn hòa âm cho các bài dân ca Việt theo hòa âm mới . Người thứ hai là em Nguyễn Mạnh Cường, 26 tuổi, đã đoạt giải thưởng sáng tác nhạc cận đại ở Đại hội liên hoan nhạc Á châu và Thái Bình Dương năm 1984 tại Tân Tây Lan với nhạc phẩm « Phụng Vũ ». Em theo học khoa sáng tác nhạc điện tử ở Úc châu từ năm 1985. Hy vọng em có thể trở thành nhà sáng tác nhạc cận đại Việt Nam trong tương lai.

Trong số các nhạc sĩ trình diễn nhạc Tây phương, nhạc sĩ Tây ban cầm Trịnh Bách, sang Mỹ năm 13 tuổi, là người duy nhứt hiện tại có trình độ quốc tế. Em được danh cầm Segovia mời em sang Tây Ban nha ở nhà ông luyện tập một thời gian để có thể trở thành người đàn Tây ban cầm thuộc hạng giỏi thế giới.

Nhiều nhạc sinh trẻ Việt Nam đang theo học tại các nhạc viện nổi tiếng ở Pháp, Mỹ và Úc .

Bài viết này chỉ có mục đích ghi lại một cách khách quan đời sống âm nhạc cổ và tân nhạc của người Việt tỵ nạn ở hải ngoại từ 1975 tới 1987. Âm nhạc tiếp tục phát triển đi lên hay đi xuống ? Câu trả lời sẽ được biết vào năm 2000.

TRẦN QUANG HẢI

TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI

Trần Quang Hải là con trai trưởng của GS Trần Văn Khê. Sinh năm 1944 tại Bình Hòa Xã (Thủ Đức). Ông học đàn vĩ cầm tại viện quốc gia âm nhạc Saigon từ năm 1956. Năm 1962 ông sang Paris học thực tập nhiều nhạc khi& Á châu tại Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương (Viện nhạc học của trường đại học Sorbonne) : đàn tranh Việt Nam, đàn Vina Ấn độ miền Nam, trống Zarb xứ Ba Tư, đàn Nam hồ Trung Quốc, và học môn dân tộc nhạc học với bà Claudie Marcel-Dubois.

Hiện nay ông là cộng tác viên chuyên nghiệp của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học, làm việc tại Viện Bảo tàng Con người và Viện Bảo tàng truyền thống dân gian. Song song với việc làm ở hai viện Bảo tàng, ông trình diễn nhạc cổ truyền Việt Nam trên toàn thế giới. Ông đã thu thanh 10 dĩa hát và một trong số dĩa đó đã đoạt giải thưởng của Hàn lâm viện Charles Cros Pháp năm 1983.

ÂM NHẠC VÀ NGƯỜI TỴ NẠN : Giai đoạn 1975-1987

c

12 năm đã lặng lẽ trôi qua. 12 năm đầy biến cố chính trị, kinh tế và nghệ thuật đã thay đổi bộ mặt nhân loại nói chung và bộ mặ Việt Nam nói riêng .

Chỉ có lĩnh vực nhạc Việt Nam ở hải ngoại, nhứt là nhạc di tản  là đươc phát triển đặc biệt về số lượng .Hàng ngàn K7 mới, hàng trăm băng video tân nhạc và nhạc cải lương do hàng chục nhà sản xuất ở Mỹ (đặc biệt  là ỡ Cali, hay đúng hơn là ở Quận Cam được mệnh danh là Saigon Nhỏ) và ở Âu châu (nhứt là ở Paris) bắt đầu tràn ngập thị trường K7 dành cho người tỵ nạn Việt Nam .

Trong khung cảnh của bài này, tác giả thử cung cấp thông tin ngằn ngủi về sinh hoạt âm nhạc trong cộng đồng Việt Nm từ 30 tháng 4,1975, ngày Saigon thất thủ, và khơi mào cho chuyến ra đi tỵ nạn của hàng trăm ngàn người Việt.

Ba đề tài được đề nghị :

  1. Sự sinh tồn nhạc cổ truyền
  2. Sư( phát triển tân nhạc
  3. Sự khởi đầu nhạc cân đại Tây phương

1.SỰ SINH TỒN NHẠC CỔ TRUYỀN

Nhạc cổ truyền lúc nào cũng bị coi là nghèo nàn đối vời nhạc tây phương. Trước tháng 4, 1975, tại Viện quốc gia âm nhạc Saigon, những lớp dạy đờn và nhạc cổ truyền không thu hút nhiều nhạc sinh. Các thầy dạy nhạc cổ truyền thường có thái độ tự ty mặc cảm đối với các thầy dạy nhạc tây phương.

Ở hải ngoại, người Việt tỵ nạn không đủ thì giờ để thưởng thức tiêng đờn tranh, hay đi coi hát cải lương . Các trẻ em rời Việt Nam lúc 7 tới 10 tuổi sau 12 năm  sống ở Mỹ không còn ưa thích nhạc cổ và cải lương. Chúng hoàn toàn dửng dưng đối với văn hóa Việt và nhạc Việt cổ cũng như tân. Chúng không còn nói tiếng mẹ đẻ trôi chảy, và chỉ thích nghe nhạc thời trang do các ca sĩ nổi tiếng thời đó như Michael Jackson, Madonna, Prince vì đối với chúng  đó chính là âm nhạc của thế giới chúng hiện nay .

Tuồng cải lương , các buổi giới thiệu nhạc cổ truyền ngày càng ít khách. Cha mẹ không khuyến khích con cái đi nghe các buổi trình diễb nhạc dân tộc phần nhiều kéo dài nhiều tiếng đồng hồ. Giới trẻ nkhông hiều tiếng Việt và âm nhạc không hạp lỗ tai của chúng .Hơn nữa phải trả tiền mắc.

Ở Paris, chỉ trừ cặp nghệ sĩ Trần Quang Hải và Bạch Yến vẫn sinh hoạt nhiều nhờ hoạt động giới thiệu nhạc cổ truyền Việt Nam cho khán giả Tây phương trên khắp thế giới từ 20 năm qua dưới dạng chương trình cho khán giả người lớn, cho trẻ em tại các trường học trong khung cảnh giáo dục âm nhạc học đường, và tại các đại hội liên hoan nhạc truyền thống quốc tế. Họ là nghệ sĩ đại diện cho âm nhạc dân tộc Việt ở hải ngoại đi vào thế giới người Tây phương trong giai đoạn này.

Trong số các nghệ sĩ tỵ nạn có ba nhóm sinh hoạt nhạc truyền thống và cải lương : nữ nhạc sĩ Phương Oanh và ban Phượng Ca, hội nghệ sĩ tỵ nạn Paris, và hội nghệ si trẻ.

Phương Oanh, cựu giáo sư đàn tranh, tốt nghiệp nhạc viện quốc gia Saigon và thành viên của ban Hoa Sim (những nhạc sĩ trẻ gồm Thúy Hoan, Phương Oanh, Quỳnh Hạnh và Ngọc Dung). Cô tới Pháp năm 1976 và thành lập ban Phượng Ca với mục đích tạo một trường âm nhạc cổ truyền Việt Nam tại Âu châu (chi nhánh mọc ra ở Bỉ, Thụy Sĩ, Na Uy). Cô đã quy tụ được một số trẻ em Việt  nam nữ lập thành một đoàn trẻ em trình diễn đàn tranh, dàn cò, đàn kìm và nhạc cụ gõ, đã có tiếng vang tốt đẹp tốt đẹp trong giới trẻ Việt ố Âu châu.Đối tượng của Phương Oanh là phối hợp nhạc truyền thống Việt với hòa âm tây phương để tạo một loại nhạc cổ truyền 5

Tây phương hóa thích hợp với sở thích của trẻ em Việt lớn lên ở hải ngoại .

Hội nghệ sĩ tỵ nạn Paris do nghệ sĩ tài danh Hữu Phước thành lập tại Paris năm 1986. Hội đã quy tụ một số dông nghệ sĩ cải lương sinh sống tại Paris và ngoại ô Paris như Kiều Lệ Mai , Hà Mỹ Liên, Phương Thanh, Minh Đức, Kim Chi, Minh Thanh, Hoàng Long (rời hội thán 10, 1986). Nghệ sĩ Hữu Phước cố gắng làm cải lương sống lại trên đất Pháp. Hội được sự ủng hộ của khán giả Việt ở Paris.

Một hội nghệ sĩ trẻ do nghệ sĩ Chí Tâm thành lập, đã được một số nghệ sĩ hưởng ứng  như Tài Lương, Mỹ Hòa, Ngọc Lưu, Hùng Tiến. Chí Tâm là ca sĩ trẻ, đóng tuồng giỏi, đạo diễn tài ba và là nhạc sĩ đàn nhiều nhạc cụ cổ như ghi ta phim lõm, tranh, kìm, đàn bầu,đàn sến. Vời Chí Tâm hy vọng có thể đóng góp vào cải lương một bộ mặt sáng tạo mới.

Ngoài ba nhóm kể trên,một nhóm thứ tư quy tụ Hoàng Long, Ngọc Đức, Phương Hồng Ngọc thử giới thiệu loại thoại kịch (kịch nói) từ năm 1987.

Ở Mỹ một số nghệ sĩ cũng đang tìm cách giới thiệu âm nhạc cổ truyền. Nghệ sĩ nổi tiếng sáo tre Nguyễn Đình Nghĩa và các con tới Mỹ năm 1984, sinh sống tại tiểu bang Virginia, đã giới thiệu nhạc dân ca Việt qua một số chương trình tấu nhạc trên sân khấu nhưng không liên tục. Anh nổi tiếng ở Việt Nam qua bài độc tấu sáo « Phụng Vũ ». Anh ngừng trình diễn để dành thì giờ thể nghiệm đàn trưng và đàn đá từ những thanh đá tìm thấy ở Mỹ.

Bà Bích Thuận, nghệ sĩ cải lương lão thành, đã tới Pháp năm 1983 và định cư tại Mỹ từ năm 1985, không thành công kêu gọi các nghệ sĩ tỵ nạn nổi tiếng tại Mỹ để thành lập một gánh cải lương như lúc ở Saigon. Thỉnh thoảng bà tham gia những buổi sinh hoạt văn nghệ hay thực hiện những phim video cho khán giả Việt .

Nghệ sĩ Việt Hùng , đồng sáng lập viên gánh Hoa Sen cùng với nghệ sĩ Minh Chí . Ông là chồng của nữ nghệ sĩ Ngọc Nuôi (vẫn còn ở Saigon), đã tới Mỹ sau 30 tháng 4, 1975 . Ông tiếp tục cuộc sống văn nghệ một cách âm thầm với những vở tuồng quay video.

Hùng Cường, một trong những nghê sĩ trẻ của cải lương Saigon, đã tới Mỹ năm 1982. Anh quay sang hát tân nhạc. Sau một thời gian ngắn lúc đầu,anh chuyển sang nghề lồng tiếng cho những phim Tàu, đồng thời diễn cặp với nữ ca sĩ Mai Lệ Huyền nổi tiếng ở Saigon qua màn nhạc kích động .

Dũng Thanh Lâm, một nghệ sĩ cải lương, nổi tiếng ở Saigon nhờn đep trai, tới Pháp và trình diễn một thời gian ngắn. Sau đó sang Mỹ sinh sống . Anh đóng tuồng cải lương cho các phim video. Thỉnh thoảng được mời đi diễn.

La Thoại Tân, rất được ái mộ ở Saigon về hài hước,khi sang Mỹ trở thành nhà tổ chức nhữn buổi trình diễn nhạc dân tộc. Sau cùng anh sống với nghể chuyển âm cho các phim Tàu .

Nhật Minh, cùng với La Thoại Tân, đóng tuồng trong các phim video, và tham gia các shows ở Mỹ

Kim Tuyến, nghê sĩ cải lương  nổi tiếng , đã ngừng diễn cải lương . Bây giờ cô chuyển sang ca tân nhạc tại các phòng trà Việt và bắt đầu được biết tiếng từ vài năm nay .

Các nghê sĩ khác như Hà Mỹ Hạnh, Thiên Trang, Bích Liễu, Ánh Hoa, tiếp tục hành nghề nhưng không thu hút khán giả .

Nghệ sĩ Lữ Liên, cha của các ca sĩ nổi tiếng như Bích Chiêu, Khánh Hà, Tuấn Ngọc, ban nhạc Up Tight, tới Mỹ tháng 5, 1975.Lúc đầu ông tái lập ban AVT  (Lữ Liên, Vũ Huyến, Ngọc Bích) tham gia những chương trình  văn nghệ ở Mỹ và Âu châu. Hiên giờ ông đã gác kiếm, từ giã cuộc sống văn nghệ.

Nghê sĩ Xuân Phát cũng ngừng tham gia văn nghê khi tới Mỹ.

Hương Lan , con gái đầu lòng của nghệ sĩ Hữu Phước, là nghệ sĩ nổi tiếng nhứt  về tân nhạ cũng như cổ nhạc trong giới nghê sĩ Việt tỵ nạn từ năm 1987. Giọng hát của Hương Lan là sự phối hợp của hai giọng ca Út Bạch Lan và Thanh Nga. Từ khi tới Pháp năm 1978, Hương Lan cò mặ trong các buổi trình diễn cải lương nhưng không mấy thành công. Cô chuyển sang hành nghề ca sĩ tân nhạc hát ở các nhà hàng và phòng trà Paris. Từ năm 1985 cô rời xứ Pháp sang định cư ở Mỹ và trở thành ca sĩ được mời nhiều nhứt trong cộng đồng Việt Nam .

Ở Đức, hai nghệ sĩ Phượng Mai (hồ quảng) và Thành Được   (cải lương) gặp nhiều khó khăn khi hành nghề cải lương vì thiếu khán giả. Phượng Mai theo gót Hương Lan chuyển sang hát tân nhạc ở các phòng trà Paris. Nghê sĩ Thành Được từ khi định cư tại Đức năm 1984 thườn trình diễn chung với Phượng Mai trong những chuyến đi Mỹ, Úc và Âu châu. Thành Được không còn ăn khách ở hải ngoại mặc dù tiếng tăm rất nổi tại quê nhà.

Trong 10 năm tới đây, hát cải lương có thể sẽ rơi vào quên lãng vì lẽ thiếu nghệ sĩ trẻ tiếp nối các đàn anh đàn chĩ ở hải ngoại. Nhạc cổ truyền có thể tồn tại lâu hơn nhưng không bành trướng, bởi vì các ca sĩ trẻ hướng về nhạc trẻ tây phương hay tân nhạc ngoại lai . Số nhạc sĩ đàn nhạc cụ cổ truyền không có cơ hội đào tạo thêm nhạc sĩ trẻ.

2. SỰ PHÁT TRIỂN TÂN NHẠC

Từ tháng 5, 1975, sự ra đi của nhiều nghệ sĩ tân nhạc sống ở miền Nam Viêt Nam tụ hợp rất đông ở Mỹ đánh dấu một sự phát triển mạnh mẽ của nhạc di tản. Loại nhạc này thể hiện bành trướng qua nhiều đề tài sáng tác.)

  1. Nhớ quê hương, nhớ Saigon (1975-1977) với những ca khúc gợi lại kỷ niệ xưa đã mất đi. Một số bản nhạc tiêu biểu như « Vĩnh biệt Saigon » của Nam Lộc (1976), « Saigon niềm nhớ không tên » của Nguyễn Đình Toàn (1977)
  2. Kháng chiến, đấu tranh để chiếm lại quê hương (1978-1981) được thể hiện qua các ca khúc trong « Hát trên đường tạm dung » của Phạm Duy (1978), những ca khúc của nữ nhạc sĩ Nguyệt Ánh như « Em nhờ màu cờ » (1981), « Dưới cờ phục quốc » (1981), hay các bài của Việt Dzũng « Lưu vong khúc »(1980) « Kinh tỵ nạn), vv…
  3. Miêu tả  đời sống tù nhân tại Việt Nam trong tuyển tập 20 ca khúc của Phạm Duy phổ thơ của Nguyễn Chí Thiện « Ngục ca » (1981), và những bản nhạc của nhà thơ / nhạc sĩ Hà Thúc Sinh « Tiếng hát tủi nhục » (1982), vv…
  4. Hồi sinh những ca khúc tiền chiến (1982-1985) với hàng trăm băng K7 thu thanh các giọng hát ăn khách đương thời (Elvis Phương, Duy Quang , Chế Linh) và các giọng ca nữ (Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Hương Lan, Julie Quang) để làm sống lại những kỷ niệm khó quên của thời vàng son Saigon.
  5. Khai sinh phong trào Hưng Ca (từ năm 1985) quy tụ một số nhạc sĩ trẻ như Hà Thúc Sinh, Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyệt Ánh, Việt Dzũng, Phan Ni Tấn, Khúc Lan để sáng tác những ca khúc tranh đấu mới, kháng chiến, tình yêu làm khơi dậy lòng yêu nước của người Việt tỵ nạn .
  6. Phát triển loại nhạc kích động « New Wave » và nhạc phim bộ Tàu (từ năm 1986) với hàng trăm K7 được sản xuất chỉ riêng cho năm 1986 về loại nhạc tây phương đang ăn khách và nhạc phim bộ Tàu (Trung quốc, Hồng Kông và Đài Loan) với lời Việt .

Đối với những nhà viết nhạc hiện đang sinh sống tại Mỹ, Phạm Duy vẫn là nhạc sĩ được mến chuộng nhứt. Các bản nhạc viết trước 1975 của ông chiếm 90% trong số bài bản được thâu ở hải ngoại. Tất cả các ca sĩ đều hát ít nhứt là một bài của Phạm Duy trong các băng K7 được phát hành trong giai đoạn này. Những bản nhạc mới sáng tác của ông từ năm 1978 đều hướng về hiện trạng tỵ nạn, về đời sống thiếu tự do ở Việt Nam, đều được mọi người hưởng ứng. Từ năm 1985 ông ít sáng tác hơn , nhưng viết lời Việt cho những ca khúc nổi tiếng Tây phương.

Hoàng Thi Thơ sáng tác ít hơn. Ông chuyển sang nghề điều khiển một chương trình truyền hình dành cho người Việt tỵ nạn ở Cali. Sang Mỹ năm 1975, ông viết một số ca khúc mời về Saigon vời những đề tài nhờ quê hương (1975-1980), và tình yêu (từ 1981).

Những nhạc sĩ khác nổi tiếng ở Saigon như Văn Phụng, Tô Huyền Vân, Ngọc Bích, Anh Việt, Huỳnh Anh, Song Ngọc, Trần Văn Trạch, Lê Trọng Nguyễh gần như không còn sáng tác.

Ngược lại, một thế hệ nhạc sĩ trẻ được chào đời ở hải ngoại. Ở Mỹ,Nguyệt Ánh (chỉ được tới từ năm 1980), Việt Dzũng, Châu Đình An, Phan Kiên, Huỳnh Công Ánh, Khúc Lan, tất cả là thành viên của phong trào Hưng Ca, đã viết nhiều ca khúc trên những đề tài tranh đấu và kháng chiến. Duy Quang viết về những vấn đề tỵ nạn, Lẻ Uyên Phương về ngưới vượt biển, Hà Thúc Sinh về điều kiện tù tội ở Việt Nam, Đức Huy về tình yêu.

Những nhạc sĩ khác như Nguyễn Hữu Nghĩa, Phan Ni Tấn, Trọng Nghĩa ở Canada, Hàn Lệ Nhân, Phan Văn Hưng, Lê Khắc Thanh Hoài, Ngô Minh Khánh, Ngô Càn Chiếu, ở Pháp, Nguyễn Quyết Thắng ở Hòa Lan, Hoàng Ngọc Tuấn, Phạm Ngọc Quang, Cung Đàn Nguyễn Sỹ Nam ở Úc châu, đã viết hàng ngàn bài nhạc mới về những vấn đề hiện tại, những khát vọng, kháng chiến. Nhà thơ/nhạc sĩ Hà Thúc Sinh (Mỹ), Duyên Anh (Pháp) bắt đấu sáng tác nhạc trên những bài thơ của họ.

Rất nhiều nhạc sĩ phối khí bắt đầu làm việc không ngừng nhờ những buổi sinh hoạt văn nghệ, những chuyến đi diễn hay làm việc tại các phòng thâu băng. Có thể kể :Lê Văn Thiện, Trung Nghĩa, Hồ xuân Mai, Nghiêm Phú Phi (tới Mỹ năm 1984), Đan Thọ, Ngọc Chánh, Lê Văn Khoa, Tùng Giang ở Mỹ, Võ Đức Tuyết, Võ Đức Lang, Xuân Vinh, Văn Tấn Sĩ ở Pháp.

Những nhạc sĩ đã thay đổi nghề như Trần Anh Tuấn (trước là giáo sư dạy mandoline ơ trường quốc gia âm nhạc Saigon , giờ làm người lên dây đàn piano), Trần Vĩnh (nhạc sĩ thổi saxo trở thành công nhân chuyên nghiệp trong một xưởng ở tỉnh Nancy), Nguyễn Xuân Phúc (làm giáo sư dạy nhạc ở một trường trung học ngoại ô Paris).

Những ban nhạc nhạc kích động  nổi tiếng ở Saigon như ban CBC, Dreamers (các con của nhạc sĩ Phạm Duy), Crazy Dogs (các con của nghệ sĩ Việt Hùng / Ngọc Nuôi),Uptight (các con của nghệ sĩ Lữ Liên), Family Love ở Mỹ, ban Blue Jets (thêm nhạc sĩ Ngô Minh Khánh) ở Pháp. Nhiều ban nhạc trẻ được thành lập để đáp ứng với số phòng trà khiêu vũ mọc lên như nấm ở Mỹ, Pháp, Canada và Úc.

Khánh Ly vẫn là ca sĩ đươc ưa chuộng nhứt ở hải ngoại. Cô có mặt trên khắp thị trường băng K7 và video. Cô xuất hiện trên khắp các sân khấu hải ngoại nơi có người Việt sinh sống.

Lệ Thu, Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Hương Lan, Julie Quang (sau này đổi thành Julie) là những ca sĩ được mời diễn nhiều nhứt.

Nữ ca sĩ Thái Thanh tới Mỹ năm 1985, dù giọng hát rất được ưa thích ở Việt Nam, không lôi cuốn được giới trẻ ở Mỹ.

Nhiều ca sĩ tiêp tục hành nghề : Băng Châu, Mai Lệ Huyền, Uyên Phương, Phương Hồng Hạnh, Phương Hoài Tâm, Hoàng Oanh, Minh Hiếu, Mỹ Thể, Jeannie Mai, Trúc Mai, Thái Hiền, Thái Thảo, Mai Hương, Khánh Hà, Ngọc Minh, Kim Anh, Huyền Châu, Lưu Hồng, Connie Kim, Carol Kim, Sơn Ca, Diễm Chi, Quỳnh Giao, Kim Tước ở Mỹ, Julie (ở Mỹ từ năm 1984), Thanh Mai (ở Mỹ từ năm 1985) Thu Hương, Mary Linh, Thiên Nga, Ngọc Hải, Minh Đức, Phương Hồng Ngọc ở Pháp, Kim Loan , Pauline Ngọc ở Đức, Phương Dung ở Úc.

Nhiều ca sĩ nổi tiếng chọn xứ Mỹ : Hoài Trung, Hoài Bắc, ban AVT, Bùi Thiện, Sĩ Phú, Duy Quang, Elvis Phương, Jo Marcel, Lê Uyên Phương, Hùng Cường, Trường Hải, Đừc Huy, Trường Thanh.

Một vài nghệ sĩ khác như Trần Văn Trạch, Cao Thái, Anh Sơn, Quốc Anh, Thanh Phong, Văn Tấn Phát ở lại Pháp. Công Thành, Thân Đình Nguyễn ở Úc.

Từ năm 1984, một thế hệ ca sĩ trẻ xuất hiện để tiếp nối các đàn anh đàn chị.Họ hát những bài Tây phươn bằng ngoại ngữ hay bằng bản dịch tiếng Việt. Họ bắt đầu xâm chiếm thị trường  như Linda Trang Đài, Ngọc Lan, Hải Lý, Kim Ngân, Tuấn Đạt, Tuấn Anh, Tuấn Vũ, Vũ Khanh, Anh Tài, vv .. ở Mỹ, Ngọc Huệ, Ngọc Điệp, Kim Huệ ở Úc, Hứa Khánh ở Canada, Minh Đức, Ngọc Hải, Văn Tấn Phát, Anh Sơn ở Pháp.

Một vài ca sĩ như Minh Trang (vợ của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước), Châu Hà (vợ của nhạc sĩ Văn Phụng ), Lệ Thanh, Hà Thanh ngừng trình diễn.

Sinh hoạt văn nghệ trong cộng đồng người Việt chỉ được tổ chừc vào cuối tuần. Người Việt chỉ thích đi khiêu vũ để giải trí và không tha thiết gì tới giá trị bài hát. Rất nhiều phòng trà mang những tên được biết tới ở Saigon như « RITZ », « Tự Do », « Queen Bee » ở Mỹ  , « Đêm Màu Hồng », « Las Vegas », ở Pháp. Tất cả những phòng trà thu hút ngày càng nhiều người vì họ muốn tìm quên lãng đời sống khó khăn tỵ nạn qua các điệu khiêu vũ quen thuộc dựa trên những bản thường nghe ngày xưa tại Saigon như Slow, Tango, Cha Cha Cha, Pasodoble, Rock, Bolero,

Nhiều nhà sản xuất băng nhựa ở Mỹ như Thanh Lan, Làng Văn , Giáng Ngọc, Tú Quỳnh, Thanh Thúy, Asia, Đời, Dạ Lan, Diễm Xưa phát hành hàng trăm băng K7. Nhà sản xuất Thanh Lan cho in hàng trăm băng K7 từng tháng.

Từ hai năm nay (1986-1987), một số nghệ sĩ tự phát hành băng với tên riêng của họ. Thanh Mai, Jo Marcel, Tùng Giang, Anh Tài, Kim Ngân, Ngọc Lan, Băng Châu, Trường Thanh, Thanh Tùng, Thy Hải ở Mỹ. Tại Pháp chỉ có ba nhà sản xuất băng quan trọng : Phượng Hoàng , Thúy Nga, và Phượng Nga Paris.

Nhiều phim video về tân nhạc không được thịnh hành cho lắm. Hàng trăm video về tân nhạc do Trung tâm Thúy Nga (Paris), trung tâm Túy Hồng (Mỹ) tạo thành một bằng chứng cụ thê về đời sống âm nhạc của nghệ sĩ Việt Nam tỵ nạn.

Những chuyến lưu diễn ngày càng nhiều từ 1986 nhờ những buổi hát giúp người vượt biển để có tiền giu&p ngân quỹ hội Y sĩ thế giới, hay những hội từ thiện cứu người Việt còn kẹt ở những trại tỵ nạn Đông Nam Á.

3. GIAI ĐOẠN KHỞI ĐẦU NHẠC CẬN ĐẠI TÂY PHƯƠNG

Bên cạnh vài nhà viết nhạc gốc Việt  viết nhạc cận đại Tây phương sinh sống tại Pháp từ lâu như Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Thiên Đạo, Tôn Thất Tiết, Trương Tăng, Trần Quang Hải, hai nhà viết nhạc trẻ tuổi tỵ nạn sống tại Úc. Người thứ nhứt là Hoàng Anh Tuấn, huy chương vàng ở đại hội liên hoan nhạc Việt năm 1978, đã rời xứ Việt Nam năm 1982 bằng đường thủy. Anh đã được học bổng nghiên cứu về dân ca và tân nhạc. Anh đàn ghi ta rất giỏi và cũng là một người viết nhạc có tiếng ở Úc. Anh đã soạn hòa âm cho các bài dân ca Việt theo hòa âm mới . Người thứ hai là em Nguyễn Mạnh Cường, 26 tuổi, đã đoạt giải thưởng sáng tác nhạc cận đại ở Đại hội liên hoan nhạc Á châu và Thái Bình Dương năm 1984 tại Tân Tây Lan với nhạc phẩm « Phụng Vũ ». Em theo học khoa sáng tác nhạc điện tử ở Úc châu từ năm 1985. Hy vọng em có thể trở thành nhà sáng tác nhạc cận đại Việt Nam trong tương lai.

Trong số các nhạc sĩ trình diễn nhạc Tây phương, nhạc sĩ Tây ban cầm Trịnh Bách, sang Mỹ năm 13 tuổi, là người duy nhứt hiện tại có trình độ quốc tế. Em được danh cầm Segovia mời em sang Tây Ban nha ở nhà ông luyện tập một thời gian để có thể trở thành người đàn Tây ban cầm thuộc hạng giỏi thế giới.

Nhiều nhạc sinh trẻ Việt Nam đang theo học tại các nhạc viện nổi tiếng ở Pháp, Mỹ và Úc .

Bài viết này chỉ có mục đích ghi lại một cách khách quan đời sống âm nhạc cổ và tân nhạc của người Việt tỵ nạn ở hải ngoại từ 1975 tới 1987. Âm nhạc tiếp tục phát triển đi lên hay đi xuống ? Câu trả lời sẽ được biết vào năm 2000.

TRẦN QUANG HẢI

TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI

Trần Quang Hải là con trai trưởng của GS Trần Văn Khê. Sinh năm 1944 tại Bình Hòa Xã (Thủ Đức). Ông học đàn vĩ cầm tại viện quốc gia âm nhạc Saigon từ năm 1956. Năm 1962 ông sang Paris học thực tập nhiều nhạc khi& Á châu tại Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương (Viện nhạc học của trường đại học Sorbonne) : đàn tranh Việt Nam, đàn Vina Ấn độ miền Nam, trống Zarb xứ Ba Tư, đàn Nam hồ Trung Quốc, và học môn dân tộc nhạc học với bà Claudie Marcel-Dubois.

Hiện nay ông là cộng tác viên chuyên nghiệp của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học, làm việc tại Viện Bảo tàng Con người và Viện Bảo tàng truyền thống dân gian. Song song với việc làm ở hai viện Bảo tàng, ông trình diễn nhạc cổ truyền Việt Nam trên toàn thế giới. Ông đã thu thanh 10 dĩa hát và một trong số dĩa đó đã đoạt giải thưởng của Hàn lâm viện Charles Cros Pháp năm 1983.

Kỷ Niệm Buồn 27 Năm Ngày Mất Của Quái Kiệt Trần Văn Trạch , 12.04.2021

  • Kỷ Niệm Buồn 27 Năm Ngày Mất Của Quái Kiệt Trần Văn Trạch

Tin TứcTrần Văn Trạch

Kỷ Niệm Buồn 27 Năm Ngày Mất Của Quái Kiệt Trần Văn Trạch

Last updated Th4 12, 2021 03,287Share

Tưởng nhớ 27 năm ngày mất của quái kiệt Trần Văn Trạch – Một nghệ sĩ đa tài của làng nghệ thuật miền Nam trước 1975. Hầu như tất cả những người trong giới nghệ sĩ Sài Gòn đều ít nhất 1 lần được làm việc với ông. Trần Văn Trạch là một ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên, là trưởng đoàn nhạc và là người đầu tiên tổ chức đại nhạc hội và là một trong những bầu sô đầu tiên của Việt Nam.

Bức ảnh hiếm hoi của cố quái kiệt Trần Văn Trạch thời niên thiếu năm 1957.

Ông hoạt động sôi nổi nhất là vào những lúc sơ khai của tân nhạc Việt Nam hồi thập niên 1940, 1950 với những ca khúc hài hước do chính ông sáng tác như: Hội Ca Cầm,Chiếc Đồng Hồ Tay, Tai Nạn Téléphone, Chuyến Xe Lửa Mồng Năm… Đặc biệt ông đã sáng tác và hát bài “Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia”. Nhờ bài hát này, tên tuổi ông càng được nhiều người biết đến.

Bên cạnh đó có hai bản nhạc của Trần Văn Trạch đã được rất nhiều người biết đến mà không phải là nhạc hài hước. Đó là bản “Chiến Xa Việt Nam” và “Đêm Khuya Trên Đường Catinat”…vv…vv…

Nghệ sĩ Trần Văn Trạch có thể xem là một trong những “bầu sô” đầu tiên và là người đặt ra khái niệm “đại nhạc hội” vẫn đang còn phổ biến ở hiện nay.

Ông là em ruột của cố giáo sư-tiến sĩ Trần Văn Khê và là chú ruột của GS-TS Trần Quang Hải cũng như là chú chồng của cô Bạch Yến.
Trong những người con của cố nghệ sĩ Trần Văn Trạch thì có nhạc sĩ Hà Trần – một nghệ sĩ đàn dương cầm tại Paris.

Jimmy Nht Hà.

GS-TS Trần Văn Khê và quái kiệt Trần Văn Trạch. (Ảnh từ FB Jimmy)

https://dongnhacvang.com/ky-niem-buon-26-nam-ngay-mat-cua-quai-kiet-tran-van-trach/?fbclid=IwAR3b8_lo_9IVoMa_JZJDboVNCiupPsJoGUmKbEAYGw4_JK7WHpjD9PxCyvA

Hội thảo“Thực trạng công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO ghi danh”: Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Kontum 12/13 tháng 4, 2021

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH CỤC DI SẢN VĂN HÓA

Tham luận Hội nghị -Hội thảo“Thực trạng công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO ghi danh”: Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên

MỤC LỤC

Trang Cục Di sản văn hóa Báo cáo công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên giai đoạn 2016 -2020

3Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Kon TumThực trạng và giải pháp quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Kon Tum sau khi được Unesco ghi danh

10Trần Ngọc Nhung (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai)Mấy vấn đề về quản lý,bảo vệ, phát huy giá trị di sản Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại Gia Lai

16Lê Ngọc Quang (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Nông)Thực trạng và giải pháp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Nông

21Nguyễn Thị Bích Ngọc (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng)Giải pháp tiếp tục bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cồng chiêng để góp phần xây dựng và phát triển văn hóa và con người ở Lâm Đồng

31Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk“Thực trạng và giải pháp quản lý, bảo vệ, phát huy Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”

37Lê Hồng Lý Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, 15 năm nhìn lại…

42Bùi Hoài Sơn Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên-Bảo tồn và phát triển

49Bùi Trọng Hiền Những câu chuyện điền dã

57Linh Nga Niê kdam Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cần thực sự có đời sống trong cộng đồng

64Lê Xuân Hoan Một số giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

74 A Biu Bảo vệ và phát huy giá trị Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên -Tiếng nói từ đại diện nghệ nhân

81

Trình diễn Cồng chiêng Tây Nguyên, Ca trù, Nhã nhạc cung đình Huế… tại Hà Nội , 16-19 tháng 4, 2021

Trình diễn Cồng chiêng Tây Nguyên, Ca trù, Nhã nhạc cung đình Huế… tại Hà Nội Thứ Năm, 06:00, 08/04/2021

  1. VĂN HÓA
  2. Di sản
  1. VĂN HÓA
  2. Di sản

Trình diễn Cồng chiêng Tây Nguyên, Ca trù, Nhã nhạc cung đình Huế… tại Hà Nội Thứ Năm, 06:00, 08/04/2021

VOV.VN – Các loại hình văn hóa phi vật thể của Việt Nam đã được UNESCO ghi danh và nhiều lễ hội, phong tục truyền thống sẽ được tái hiện trong “Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam” năm 2021, diễn ra từ 16 – 19/4 tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam.

Trong khuôn khổ chương trình “Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam”, các loại hình văn hóa phi vật thể của Việt Nam đã được UNESCO ghi danh sẽ được trình diễn tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội), bao gồm: Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái Việt Nam; Hát Xoan Phú Thọ; dân ca Quan họ Bắc Ninh; Ca trù; Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh; Nhã nhạc cung đình Huế; Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam; Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên; Đờn ca Tài tử Nam Bộ.

Giới thiệu âm nhạc chủ đề "Vũ điệu Tây Nguyên". Nguồn: Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
Giới thiệu âm nhạc chủ đề « Vũ điệu Tây Nguyên ». Nguồn: Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam

Ngoài ra, một số lễ hội, phong tục, tập quán độc đáo của các dân tộc trên cả nước sẽ được tái hiện. Đáng chú ý, Lễ rước nước (phục ruộc) trong lễ hội Kinh Dương Vương của dân tộc Kinh (xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) là hoạt động lần đầu tiên được tái hiện tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam. Đây là nét sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng tâm linh sống động, đặc sắc của cộng đồng cư dân nông nghiệp được trao truyền từ đời này sang đời khác, với ý nghĩa cầu mong mưa thuận gió hòa, cầu nước, cầu mùa màng tươi tốt…, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Dân tộc Gia Rai, tỉnh Gia Lai sẽ giới thiệu Lễ bỏ mả (Pơ thi) – lễ tiễn đưa linh hồn người đã khuất về với thế giới của Yàng (trời). Đây là một trong những lễ hội lớn nhất của dân tộc Gia Rai, quy tụ những giá trị văn hóa đặc sắc. Dân tộc Lào tái hiện lễ mừng lúa mới “Kin Khẩu hó”, thể hiện sự tôn vinh cây lúa, đồng thời tạ ơn các vị thần linh đã luôn che chở, phù hộ cho con người được mưa thuận gió hòa, chăn nuôi cấy trồng tốt tươi, con người khỏe mạnh, bình an.

Dân tộc Khmer tái hiện Tết Chôl Chnăm Thmây và các hoạt động “mừng vui ngày Tết”. Ngoài tôn giáo chính là Phật giáo, người Khmer còn tin rằng mỗi năm có một vị thần trên trời được phái xuống để chăm lo cho cuộc sống của con người trong năm đó, hết năm lại về trời để vị thần khác xuống hạ giới.

Trong dịp này, Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam còn xây dựng 30 gian hàng để các địa phương và doanh nghiệp du lịch quảng bá, xúc tiến du lịch; tổ chức thi đấu, biểu diễn võ thuật cổ truyền; triển lãm, trình diễn nhạc cụ các dân tộc và tổ chức hội nghị “Tổng kết 05 năm tổ chức hoạt động hàng ngày của đồng bào dân tộc tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam”./. Hải Nam/VOV.VN

https://vov.vn/van-hoa/di-san/trinh-dien-cong-chieng-tay-nguyen-ca-tru-nha-nhac-cung-dinh-hue-tai-ha-noi-848997.vov

Ngỡ ngàng với điệu hát xẩm Tàu Điện của Vượng Râu – Điệu hát xẩm hay xúc động nhất

Ngỡ ngàng với điệu hát xẩm Tàu Điện của Vượng Râu – Điệu hát xẩm hay xúc động nhất

79,182 views•Aug 10, 201918146ShareSaveNỤ CƯỜI VÀNG TV 1.22M subscribers Ngỡ ngàng với điệu hát xẩm Tàu Điện của Vượng Râu – Điệu hát xẩm hay xúc động nhất Trọn bộ Phim Hài mới nhất: https://goo.gl/v7dxN2​ Đăng ký xem Phim hài Tết 2020: https://goo.gl/2Yg8CJ​ ———————————– © Bản quyền thuộc về NỤ CƯỜI VÀNG ENTERTAINMENT

Theo MẠNH KIÊN / NĂNG LƯỢNG MỚI : Độc đáo xẩm tàu điện của người Hà thành

Độc đáo xẩm tàu điện của người Hà thành

Xẩm và tàu điện đã đến với Hà Nội như một cơ duyên. Hai thứ ấy đã kết hợp với nhau để sản sinh ra một loại hình nghệ thuật độc đáo – xẩm tàu điện chỉ riêng có ở Hà Nội.

Độc đáo xẩm tàu điện của người Hà thành

Khác với các loại hình xẩm truyền thống như xẩm chợ, xẩm cô đầu (hay còn gọi xẩm ba bậc, xẩm nhà tơ, xẩm huê tình) thì xẩm tàu điện sở hữu những nét độc đáo không giống với bất kỳ loại xẩm nào. Cái khác không đơn thuần là nó thường được hát trên tàu điện mà còn ở ca từ, nhạc cụ cho đến trang phục của người biểu diễn.

Sau gần 1 thế kỷ gắn bó với người dân Hà thành, năm 1992, hình ảnh những tuyến tàu điện leng keng đã chính thức từ giã 36 phố phường và mang theo những làn điệu xẩm trở về dĩ vãng; song đến nay, mỗi khi nhắc đến loại hình âm nhạc này là không ít người lại nao lòng tiếc nuối.

Người Hà thành từng nghĩ rằng, xẩm sẽ bị lãng quên khi tàu điện biến mất khỏi mạng lưới giao thông Hà Nội. Thế rồi gần 2 thập niên sau, người ta đã chứng kiến những chiếu xẩm tại cổng chợ Đồng Xuân vào các tối thứ Bảy hàng tuần; Xẩm vào nhà hát và đến với các sân khấu rộng lớn hơn. Cái tên dân dã người ta hay nhắc đến nhất đó là “xẩm tàu điện”.

Nguồn gốc và quá trình xuất hiện của xẩm tàu điện

Thế kỷ XX, phương tiện đi lại ở Hà Nội chủ yếu là xe tay kéo và tàu điện. Nơi đây đã sản sinh ra một nhánh trong loại hình nghệ thuật diễn xướng độc đáo của dân tộc đó là xẩm tàu điện. Mặc dù xẩm có nhiều loại nhưng xẩm tàu điện thì chắc chắn chỉ Hà Nội mới có. Nó gắn liền với nhịp sống của tàu điện một thời. “Xẩm tàu điện” đặc sắc bởi đây chính là điệu xẩm của riêng Hà Nội. Nếu ca trù, hát cô đầu là “đặc trưng” của phố Khâm Thiên, thì hát xẩm là đặc trưng của chợ Đồng Xuân và phố cổ. Hồi ức của nhà văn Băng Sơn đã từng nhắc đến một bài ca dao khuyết danh nói về tàu điện thuở đó:

“Thằng Tây ngồi nghĩ cũng tài
Sinh ra đèn máy thắp hoài năm canh

Thằng Tây ngồi nghĩ cũng sành
Sinh ra tàu điện chạy quanh phố phường

La ga thì ở Thụy Chương
Dây đồng cột sắt tìm đường kéo lên

Bồi bếp cho chí bồi bàn
Chạy tiền ký cược đi làm sơ vơ

Xưa nay có thế bao giờ
Có cái tàu điện đứng chờ ngã ba”…

Lịch sử đã chứng minh các tuyến tàu điện ở Hà Nội đã tồn tại gần một thế kỷ. Sự hiện diện của phương tiện này được bắt đầu vào ngày 13-9-1900, khi nhà máy xe điện của Pháp tiến hành chạy thử tuyến đường Bờ Hồ – Thụy Khuê nhằm phục vụ nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa. Trong những thập niên sau đó, các tuyến tàu điện liên tục được mở rộng. Từ ga trung tâm ở bờ hồ Hoàn Kiếm, các tuyến đường tỏa ra 6 ngả: Yên Phụ, chợ Bưởi, Cầu Giấy, Hà Đông, chợ Mơ và Vọng, cũng là 6 cửa ngõ nối nông thôn với nội thành. Và luôn bắt gặp ở đây những nhóm người hát xẩm, dắt díu nhau lên tàu hành nghề.

Xẩm tàu điện ra đời vào đầu thế kỷ XX, được cho là một nhánh sau của xẩm cổ. Xẩm tàu điện khác với xẩm chợ, xẩm lễ hội là luôn phải chuyển tàu, chuyển toa tìm khách mới nên các đoạn hát thường ngắn gọn, luôn thay đổi nội dung nếu không khách sẽ chán vì phải nghe đi, nghe lại, nhất là các khách thường ngày đi tàu. Đã có một thời, xẩm tàu điện là những khúc tâm tình gắn với tâm trạng của những khách đi tàu là dân lao động nghèo khổ vất vả, tần tảo trên phố phường Hà Nội.

Dành 20 năm nghiên cứu về hát xẩm, nhận thấy hát xẩm đang dần bị lãng quên, nhạc sĩ Thao Giang đã bắt đầu công việc tìm tòi, sưu tập và biên soạn với mong muốn bảo vệ, khôi phục một nét văn hóa truyền thống của người Hà Nội xưa. Nhạc sĩ đã cùng với Giáo sư Phạm Minh Khang thành lập Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam. Trung tâm được thành lập từ năm 2005 với 3 mục tiêu chính là sưu tầm – nghiên cứu, truyền dạy – đào tạo và biểu diễn nghệ thuật.

Nhạc sĩ cho rằng, xẩm tàu điện là đặc sản của thủ đô. Sở dĩ, Hà Nội “độc chiếm” xẩm tàu điện là vì xẩm phát triển mạnh hồi thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Giống như tính cách của người Hà Nội, xẩm tàu điện khá tao nhã. Những nghệ nhân đã “chế” các bài thơ được ưa chuộng thời bấy giờ thành các bài hát xẩm. Ðặc biệt trong số đó là thơ của Á Nam Trần Tuấn Khải và Nguyễn Bính. Tiêu biểu là các bài như “Anh Khóa”, “Trăng sáng vườn chè”, “Lỡ bước sang ngang”…

Theo tài liệu do nhạc sĩ Thao Giang sưu tầm và cung cấp thì “cha đẻ” của xẩm tàu điện là nghệ nhân Tùng Nguyên và nghệ nhân Thân Đức Chinh. Đặc trưng của xẩm là ở đâu cũng có thể trở thành môi trường diễn xướng như bến sông, bãi chợ, sân đình và cả trong thính phòng. Vì thế, khi Pháp mở tuyến tàu điện đầu tiên, với lượng khách đông đúc, xẩm tàu điện ngay lập tức có được chỗ đứng.

Sau này có rất nhiều người cũng hành nghề xẩm tàu điện. Chính cụ Tùng Nguyên, một nghệ nhân nổi tiếng đã tìm cách đưa hát xẩm lên tàu điện với cách mượn thơ Nguyễn Bính để hát. Vì thơ lục bát rất hợp với làn điệu xẩm, mà xẩm tàu điện về cơ bản chỉ có một làn điệu, nhưng các nghệ nhân đã vận dụng thêm các câu hát xẩm khác xen kẽ, như điệu trống quân, xẩm chợ, điệu huê tình, nên xem ra xẩm tàu điện nghe cũng đỡ nhàm.

Độc đáo “xẩm tàu điện”

Đi sâu để hiểu rõ hơn về loại hình hát “xẩm tàu điện”, theo những tài liệu nghiên cứu, nghệ thuật hát xẩm xuất hiện ở nhiều tỉnh miền Bắc Việt Nam như: Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam, Hải Dương, Bắc Giang… với môi trường diễn xướng là các bến sông, bãi chợ, sân đình ở khắp các nẻo đường làng quê. Xẩm tàu điện xuất hiện muộn hơn nhưng có nét đặc trưng riêng và môi trường diễn xướng là… trên toa tàu và các bến tàu điện. Bởi tàu điện là nơi tập trung đông người, họ có một khoảng thời gian rảnh rỗi nhất định, đó là điều kiện tuyệt vời cho những người hát xẩm hành nghề.

Khác với xẩm chợ, trang phục của nghệ nhân là mặc áo tơi, đội nón lá thì xẩm tàu điện nghệ nhân lại khá diện. Nam thường mặc quần áo nâu, mùa rét khoác bên ngoài tấm áo veston, đầu đội mũ cát, đeo kính đen để thể hiện cái “phớt đời”, tránh cái nhìn không thiện cảm về cái nghiệp “xướng ca vô loài” hè phố. Nữ luôn mặc áo tối màu (nâu hoặc xám), có áo yếm sáng màu, váy lưng lửng đầu gối. Sự khác biệt về trang phục như vậy là bởi môi trường diễn xướng của xẩm tàu điện quá tân thời, khác hẳn không gian diễn tấu của xẩm truyền thống. Có người yêu quý còn liên tưởng vui đến hình ảnh những nhân vật được khắc họa trong tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng.

Nhưng quan trọng hơn là những giai điệu đã đi cùng thời gian cho đến hôm nay. Để phù hợp với đời sống thẩm mỹ của người thành thị, nội dung các bài xẩm thường “cao cấp” chứ không dân dã như xẩm ở làng quê, xẩm chợ. Những bài xẩm chợ có thể hát theo lối tự sự (như than thân trách phận), hoặc nêu gương các anh hùng liệt sĩ, hoặc châm biếm những thói hư tật xấu, hoặc trữ tình… Vì thế, những điệu xẩm cũng dài lê thê, có khi hát cả đêm không hết và giai điệu rất buồn.

Ngược lại, Hà Nội là phố buôn bán tấp nập, tàu điện lại chạy liên tục chuyến đi chuyến về trên các tuyến phố ngắn từ Bờ Hồ đi Cửa Nam, chợ Hôm, Cầu Giấy, chợ Bưởi, Hà Đông… người ta không có thời gian để nghe hàng tiếng đồng hồ, vì thế, các điệu xẩm cũng ngắn gọn hơn, tiết tấu nhanh và rộn ràng hơn.

Theo MẠNH KIÊN / NĂNG LƯỢNG MỚI