Auteur : tranquanghai130544

WIKIPEDIA : XẨM

Xẩm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Bước tới điều hướngBước tới tìm kiếm

Những người hát xẩm ở Hải Phòng thời thuộc Pháp.

Xẩm là một loại hình dân ca của Việt Nam, phổ biến ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ. « Xẩm » còn được dùng để gọi những người hát xẩm đi hát rong kiếm sống và hành nghề hát xẩm. Nghệ nhân Hà Thị Cầu (19282013) được coi là người hát xẩm cuối cùng của thế kỷ XX và tỉnh Ninh Bình đang có những nỗ lực đệ trình UNESCO công nhận hát xẩm là di sản văn hóa thế giới cần được bảo vệ khẩn cấp.

Hát Xẩm xưa thường là một hình thức mưu sinh của những người dân nghèo khổ, người khiếm thị, nay được sân khấu hóa và đưa vào phục vụ khách du lịch. Xẩm đa số được biểu diễn ở chợ, đường phố, nơi đông người qua lại. Hát xẩm có tính ngẫu hứng và người biểu diễn có thể bật ra câu hát ngay khi thể hiện.

Mục lục

Truyền thuyết về nguồn gốc

Theo các tài liệu nghiên cứu, hát Xẩm được hình thành khoảng thế kỷ thứ XIV. Từ khi ra đời đến khoảng nửa đầu thế kỷ XX, hát Xẩm được gọi với những tên khác nhau như hát rong, hát dạo… Nhưng trên thực tế, hát Xẩm là thể loại âm nhạc dân gian chuyên nghiệp, một lối diễn xướng dân gian độc đáo trong kho tàng âm nhạc cổ truyền của dân tộc, với lối kể tích sâu sắc, khéo léo và hấp dẫn.[1]

Theo truyền thuyết, đời nhà Trần, vua cha Trần Thánh Tông có hai hoàng tử là Trần Quốc ToánTrần Quốc Đĩnh. Do tranh giành quyền lực nên Trần Quốc Đĩnh bị Trần Quốc Toán hãm hại, chọc mù mắt rồi đem bỏ giữa rừng sâu. Tỉnh dậy, hai mắt mù lòa nên Trần Quốc Đĩnh chỉ biết than khóc rồi thiếp đi. Trong mơ bụt hiện ra dạy cho ông cách làm một cây đàn với dây đàn làm bằng dây rừng và gảy bằng que nứa. Tỉnh dậy, ông mò mẫm làm cây đàn và thật lạ kỳ, cây đàn vang lên những âm thanh rất hay khiến chim muông sà xuống nghe và mang hoa quả đến cho ông ăn. Sau đó, những người đi rừng nghe tiếng đàn đã tìm thấy và đưa ông về. Trần Quốc Đĩnh dạy đàn cho những người nghèo, người khiếm thị. Tiếng đồn về những khúc nhạc của ông lan đến tận hoàng cung, vua cho mời ông vào hát và nhận ra con mình. Trở lại đời sống cung đình, nhưng Trần Quốc Đĩnh vẫn tiếp tục mang tiếng đàn, lời ca dạy cho người dân để họ có nghề kiếm sống.[2] Hát xẩm đã ra đời từ đó và Trần Quốc Đĩnh được suy tôn là ông tổ nghề hát xẩm nói riêng cũng như hát xướng dân gian Việt Nam nói chung. Người dân lấy ngày 22 tháng 2 và 22 tháng 8 âm lịch làm ngày giỗ của ông. Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam thuộc Hội Nhạc sĩ Việt Nam đã lập ra một giải thưởng mang tên Trần Quốc Đĩnh nhằm tôn vinh, hỗ trợ các nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà sưu tầm, nhà nghiên cứu, nhà báo có công lao, đóng góp cho lĩnh vực âm nhạc truyền thống và trao giải lần đầu tiên năm 2008.

Tuy nhiên, theo chính sử thì vua Trần Thánh Tông không có hoàng tử tên Đĩnh hay Toán. Thái tử con vua Thánh Tông tên là Khảm, sau lên ngôi là vua Nhân Tông; một người con nữa là Tả Thiên vương. Vì vậy nguồn gốc hát xẩm là dựa trên thánh tích chứ không truy được ra trong chính sử.[3]

Nhạc cụ

Bộ nhạc cụ đơn giản nhất để hát xẩm chỉ gồm đàn nhịSênh tiền. Nhóm hát xẩm đông người có thể dùng thêm đàn bầu, trống mảnhphách bàn. Có tài liệu cho rằng đàn bầu khởi thủy là nhạc cụ đặc trưng của hát xẩm, sau do đàn nhị dễ chơi hơn và có âm lượng tốt hơn (phù hợp với chỗ đông người) nên thường được sử dụng.[4] Để thay cho đàn nhị truyền thống, có thể dùng đàn gáo. Đây là loại đàn được phát triển từ đàn nhị nhưng to và dài hơn, thích hợp khi đệm cho giọng trầm. Sênh dùng đệm nhịp cho hát xẩm có thể là sênh sứa (gồm hai thanh tre hoặc gỗ) hoặc sênh tiền (có gắn thêm những đồng tiền kim loại để tạo âm thanh xúc xắc). Ngoài ra trống cơm, sáothanh la cũng có thể hiện diện trong hát xẩm.

Phân loại và làn điệu

Xẩm có hai làn điệu chính là xẩm chợ và xẩm cô đào. « Hát xẩm chợ, điệu hát mạnh, những tiếng đệm, tiếng đưa hơi đều hát nổi tiếng bằng lời hát chính và đệm đàn bầu hay nhị với sênh phách; còn hát xẩm cô đào thì điệu hát dịu dàng hơn, những tiếng đệm và tiếng đưa hơi lẫn vào lời chính, cốt giúp cho có nhiều dư âm và bắt khúc được dễ dàng. Hát xẩm cô đào đệm đàn đáy và sênh phách, không dùng đàn bầu và nhị. »[5]. Ngoài ra, xẩm còn sử dụng nhiều làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc Bộ khác như trống quân, cò lả, hát ví, ru em, quan họ, chèo,… hoặc ngâm thơ các điệu bồng mạc, sa mạc. Các làn điệu dân ca khác khi được dùng trong hát xẩm đã được « xẩm hóa » theo phong cách đặc trưng của xẩm. Trên thực tế, cách gọi tên các loại xẩm không phải theo làn điệu mà theo một số tiêu thức khác:

  • Tên bài xẩm nổi tiếng: xẩm thập ân (theo tên bài xẩm ca ngợi công đức của cha mẹ), xẩm anh Khoá (theo tên bài thơ được hát theo điệu xẩm Tiễn chân anh Khoá xuống tàu của Á Nam Trần Tuấn Khải), Xẩm quê choa,…
  • Theo mục đích, nội dung bài xẩm: xẩm dân vận (được chính quyền khuyến khích sáng tác để tuyên truyền, vận động quần chúng)…
  • Theo môi trường biểu diễn: ngoài xẩm chợ và xẩm cô đầu (hay còn gọi là xẩm nhả tơ, xẩm ba bậc, xẩm nhà trò, xẩm huê tình) sau này còn có một dòng xẩm của Hà Nội gọi là xẩm tàu điện thường được hát trên tàu điện.
  • Theo địa phương có hát xẩm Hà Nội, hát xẩm Ninh Bình, hát xẩm Hải Phòng… Miền Trung và miền Nam cũng có thể loại hát xẩm tuy khác ngoài Bắc. Xẩm miền Trung lấy bài bản từ ca Huế trong khi miền Nam gọi là « nói thơ » chẳng hạn như « nói thơ Lục Vân Tiên ».[6]

Ca từ

Ca từ của xẩm chủ yếu là thơ lục bát, lục bát biến thể có thêm các tiếng láy, tiếng đệm cho phù hợp với làn điệu. Nội dung của các bài xẩm có thể mang tính tự sự như than thân trách phận; nêu gương các anh hùng, liệt sĩ hay châm biếm những thói hư, tật xấu… hoặc trữ tình. Những bài thơ thường được diễn ca trong hát xẩm: thơ Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Nguyễn Bính

Nghệ thuật hát xẩm được xếp vào loại “trung ca” cùng với hát chèo, đặt bên cạnh tuồng là “võ ca” còn ca trù là “văn ca”. Gọi là “trung ca” có thể vì nội dung nhắc nhiều đến lòng trung thực, hiếu nghĩa, hoặc vì sắc thái biểu diễn không quá mạnh mẽ hay hàn lâm, mà chú trọng vào dung hòa với năng khiếu của người hát.

Hát xẩm ngày nay

Từ khi ra đời cho đến giữa thế kỷ XX, hát xẩm được nhiều người khiếm thị sử dụng làm nghề kiếm sống nơi bến đò, chợ búa hay lang thang trên những nẻo đường… Họ tổ chức thành các phường hội để truyền nghề và giúp đỡ lẫn nhau trong đời sống. Vào cuối năm 1954 đầu 1955, để chống lại việc người dân miền Bắc di cư vào miền Nam sau Hiệp định Genève, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tập trung nhiều nhóm hát xẩm (gồm nhiều nghệ nhân xẩm của các vùng Thái Bình, Ninh Bình, Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Hà Nội…), cử người viết bài và đến các vùng duyên hải phía Bắc biểu diễn nhằm vận động nhân dân không di cư. Sau đó, khi Hội Người mù được thành lập, những người hát xẩm được dạy nghề về thủ công và chuyển sang sống bằng nghề mới này nên xẩm dần vắng bóng. Hát xẩm hiện nay chỉ đôi khi xuất hiện trên sóng phát thanh, sân khấu như một tiết mục văn nghệ thuần túy do những diễn viên chuyên nghiệp biểu diễn chứ hát xẩm không còn tồn tại với hình thái xã hội vốn có của nó. Gần đây, khi công tác sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn dân ca được chú trọng, các nghệ nhân hát xẩm hiếm hoi còn lại như bà Hà Thị Cầu đã được tổ chức truyền lại cho thế hệ sau loại hình dân ca này. Sau mấy chục năm gián đoạn, ngày 29 tháng 3 năm 2008 (22 tháng 2 âm lịch), lễ giỗ tổ nghề hát xẩm cũng đã được phục hồi và tổ chức một cách trọng thể tại Quốc tử giám, Hà Nội. Thời gian gần đây, được sự đồng ý của Sở Văn hoá, Du lịch và Thể thao Hà Nội cùng với sự tài trợ của một số doanh nghiệp; các nghệ sĩ Xuân Hoạch, Văn Ty, Thanh Ngoan, Đoàn Thanh Bình thường tổ chức các buổi biểu diễn nghệ thuật hát xẩm vào tối thứ 7 hàng tuần tại trước cổng chợ Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm trong khuôn khổ các hoạt động văn hóa nghệ thuật tiến tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Đề cử hát xẩm là di sản thế giới

Ngày 26/11/2011, Nhà hát Chèo Ninh Bình đã tổ chức lễ khai trương công trình khôi phục, bảo tồn và phát triển nghệ thuật hát xẩm[7] nhằm sưu tầm, biên soạn, truyền dạy và phổ biến các bài hát xẩm theo các làn điệu cổ truyền, dàn dựng chương trình hát xẩm, bảo tồn, phát triển nghệ thuật hát xẩm. Các nghệ sĩ đã sưu tầm các làn điệu, các bài hát xẩm cổ truyền, biên soạn chương trình và trực tiếp truyền dạy nghệ thuật hát xẩm cho các diễn viên, nhạc công Nhà hát Chèo Ninh Bình và các diễn viên quần chúng ở xã Yên Phong (Yên Mô) – quê hương của nghệ nhân Hà Thị Cầu. Theo kế hoạch, đến tháng 12/2011, Dự án sẽ được báo cáo phần khung với lãnh đạo tỉnh Ninh Bình. Đồng thời, thông qua các hoạt động của Dự án cũng chính là bước đệm để trình UNESCO công nhận hát xẩm là Di sản văn hóa phi vật thể của Thế giới.

Liên hoan hát Xẩm các tỉnh khu vực phía Bắc – Ninh Bình năm 2019 đã diễn ra từ ngày 3-5/12/2019 tại Trung tâm hội nghị tỉnh Ninh Bình với sự tham gia của các nghệ nhân, nghệ sĩ thuộc 15 câu lạc bộ hát Xẩm các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Tp HCM, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An. Sau đó, Ban tổ chức có kế hoạch xây dựng những điều kiện để làm hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.[8]

Năm Du lịch quốc gia 2021 do Ninh Bình đăng cai sẽ có Hội thảo Quốc tế về Nghệ thuật hát Xẩm.[9] dự kiến diễn ra trong quý II/2020, là một trong những lộ trình để đề nghị UNESCO công nhận hát xẩm là di sản văn hóa thế giới phi vật thể.

Những nghệ nhân, nhà nghiên cứu

Các câu lạc bộ Xẩm

Một số câu lạc bộ xẩm nổi tiếng:

  • Câu lạc bộ xẩm Hà Thành (Hà Nội)
  • Câu lạc bộ xẩm Hải Thành (Hải Phòng)
  • Câu lạc bộ xẩm chợ Đồng Xuân (Hà Nội)
  • Câu lạc bộ xẩm Yên Nhân (Yên Mô, Ninh Bình)
  • Câu lạc bộ xẩm xã Yên Phong (Yên Mô, Ninh Bình)
  • Và một số CLB xẩm tại Quảng Ninh, Nam Định, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Thanh Hóa

Xem thêm

Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện truyền tải về Xẩm.

Tham khảo

  1. ^ Hát Xẩm – “Nghệ thuật của cội nguồn dân gian”
  2. ^ “Bao dien tu VnMedia. Cap nhat”. Báo điện tử VnMedia – Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Truy cập 1 tháng 10 năm 2015.
  3. ^ Trần Việt Ngữ. « Hát Xẩm, loại ca nhạc đặc biệt của người mù Việt Nam ». Di sản văn hóa dân gian. Hà Nội: Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, 1992. Trang 76.
  4. ^ Bàn về sênh và phách trong hát cô đầu truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2008
  5. ^ Vũ Ngọc Phan, Tr.408.
  6. ^ Trần Văn Khê. Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam. TP HCM: nxb Trẻ, 2004. tr 144-5
  7. ^ Công trình khôi phục, bảo tồn hát xẩm ở Ninh Bình
  8. ^ 15 câu lạc bộ tham gia Liên hoan hát xẩm khu vực phía Bắc 2019
  9. ^ Nhiều hoạt động đặc sắc trong Năm Du lịch Quốc gia 2020 – Hoa Lư, Ninh Bình

Thư mục

  • Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ, Ca dao, Dân ca Việt Nam (tái bản lần thứ 15 có sửa chữa, bổ sung), Nhà xuất bản Văn học 2007.
  • Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, 2005.

Liên kết ngoài

xtsÂm nhạc cổ truyền của người Kinh
Bài chòi Ca Huế Ca trù Cải lương Chèo Cò lả Chầu văn Đờn ca tài tử Nam Bộ Dân ca ví, dặm Nghệ Tĩnh Hát dô Hát đúm Hát ghẹo Hát phường vải Hát sắc bùa Hát trống quân Hát xoan Múa bóng rỗi Hò sông Mã Lễ nhạc Phật giáo Nhạc lễ Nam Bộ Nhạc cung đình Nhã nhạc cung đình Huế Quan họ Tuồng Vọng cổ Xẩm

Thể loại:

https://vi.wikipedia.org/wiki/X%E1%BA%A9m

nghẽ nhân HÀ THỊ CẦU

nhac sĩ THAO GIANG

NGUYỄN VĂN HỌC: Hết lòng với Xẩm

Hết lòng với Xẩm

NGUYỄN VĂN HỌC Thứ Ba, 15-12-2020, 15:21 + | PrintNhạc sĩ Thao Giang và học trò.

Suốt 15 năm đằng đẵng, nhạc sĩ Thao Giang, Giám đốc Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam không ngừng làm việc, bảo tồn, gìn giữ các làn điệu âm nhạc truyền thống, đặc biệt là nghệ thuật hát xẩm. Ông tự hào: “Trong dòng chảy ồn ã, khắc nghiệt của cuộc sống, dù không được bao cấp, chúng tôi vẫn gắng gượng được, vẫn tự kiếm tiền để nuôi anh em”.

Người mạo hiểm

Từ năm 2005, nhạc sĩ Phạm Minh Khang và nhạc sĩ Thao Giang đã có ý tưởng táo bạo, là “cứu xẩm”. Ban đầu, nhạc sĩ Thao Giang rất lo sợ chẳng có ai đến học dù dạy miễn phí. Nhưng điều bất ngờ là có tới hơn 100 em đến đăng ký học và chủ yếu là thanh niên. Thao Giang nghĩ rằng, lớp trẻ không hẳn đã quay lại với âm nhạc truyền thống, chỉ có điều là người ta chưa “bắt mạch” được thôi. Vậy là hai nhạc sĩ đã có lớp học và Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam được thành lập, lúc đó nhạc sĩ Phạm Minh Khang là giám đốc. 

Từ ngày thành lập, Thao Giang đã tuyên chiến với những khó khăn. Trước hết, ông tuyên chiến với sự rối loạn của các trào lưu âm nhạc. Đó là công việc vô cùng khó khăn, song ông và các đồng nghiệp luôn giữ được sự quyết tâm cao, lại được các nghệ sĩ Thanh Ngoan, Xuân Hoạch, Thúy Ngần, Văn Ty… hết mực ủng hộ, giúp đỡ. Sau đó là những người học trò sớm bộc lộ tài năng, có tâm huyết khiến Thao Giang vững tin hơn. 

Lúc đầu các cuộc họp chủ yếu ở… quán cà-phê. Sau đó Trung tâm đến hoạt động nhờ trong gara ô-tô của một cơ quan. Năm 2007, Trung tâm đi thuê địa điểm, với giá thuê 2 triệu đồng/tháng, nhưng cũng chỉ trụ nổi tám tháng. Tháng 8-2008, GS Phạm Minh Khang và nhạc sĩ Thao Giang lại đi tìm nơi mới. Hai người đã nghĩ đến việc phải đóng cửa Trung tâm tạm thời để tìm nguồn kinh phí và địa điểm. Khi tìm được nơi gửi đồ là một gian phòng của đình Hào Nam (quận Đống Đa, Hà Nội) thì cũng là lúc Trung tâm “vớ được cọc”. Thao Giang tâm sự: “Đúng là trời chẳng phụ người có tâm bao giờ. Chúng tôi được nhân dân cưu mang, đón về đình Hào Nam để chúng tôi hoạt động, cống hiến và tiếp tục nhân thêm lực lượng, đào tạo con người cho đến hiện tại”.

Điều mà Trung tâm làm được, là đã khôi phục được nghệ thuật hát xẩm có nguy cơ thất truyền, khôi phục và tổ chức được ngày giỗ tổ nghề xẩm, đào tạo các lớp hát thế hệ trẻ… Theo nhạc sĩ Thao Giang, Trung tâm đã tìm được gần 100 nghệ nhân trên các miền đất nước: Ca trù, xẩm, chầu văn, trống quân… 

Còn đó những trăn trở

Nhạc sĩ Thao Giang quê ở Thanh Oai – Hà Nội, tốt nghiệp Nhạc viện Hà Nội (nay là Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam) từ năm 1958. Ban đầu chỉ là học lớp sơ cấp. Sau đó học dần lên, ông được giữ lại làm công tác giảng dạy. Ông cũng là người có nhiều thời gian ra nước ngoài học hàm thụ, biểu diễn giao lưu để học hỏi kinh nghiệm. Ông cũng nhận ra, nghệ thuật âm nhạc truyền thống ở trong nước đang chịu rất nhiều sức ép. 

Nhạc sĩ Thao Giang kể lại rằng, chục năm trước, có nhà quản lý văn hóa tâm sự rằng, Hà Nội là nơi hội tụ tinh hoa cả nước không thiếu loại hình âm nhạc truyền thống nào nhưng lại chẳng có một loại nào riêng, thành ra đi đâu cũng ngại… “đụng hàng”. Thao Giang nói chắc như đinh là có. Ông hát luôn một đoạn và khẳng định đó chính là xẩm tàu điện. Quả thật vậy, tàu điện xuất hiện ở ta từ thời kỳ Pháp thuộc. Sau đó xẩm tàu điện đại diện cho Hà Nội tham dự một liên hoan dân ca toàn quốc và gây được chú ý. Càng tìm hiểu xẩm và điệu tàu điện càng thấy đam mê, quyến rũ. Ông bảo: “Không quyến rũ sao được, khi cuộc sống của dân còn khổ ải, mà lúc cất giọng lên ai cũng thấy lạc quan yêu đời”. 

NSND Xuân Hoạch tâm sự: “Nhạc sĩ Thao Giang là lứa đàn anh của tôi. Anh làm việc hết lòng, nhiệt tình, có khả năng và trình độ về âm nhạc dân gian. Thao Giang lý luận về âm nhạc dân gian cực hay vì ông là người hiểu rất rộng về âm nhạc dân gian. Sau khi nhạc sĩ Phạm Minh Khang qua đời (5 năm trước), anh Thao Giang từ là phó đã đảm nhận chức danh giám đốc Trung tâm và vẫn nỗ lực cho công việc”.

Chương trình “Hà thành 36 phố phường” vào các tối thứ bảy trên phố Hàng Đào – chợ Đồng Xuân (Hà Nội) ngày một phong phú, có thêm nhiều gương mặt trẻ. Hơn chục năm qua, hoạt động liên tục là một nỗ lực không ngừng, trong đó có đóng góp to lớn của Thao Giang. Gánh xẩm vì thế có tên “Gánh xẩm Thao Giang”. Khi tôi hỏi, khán giả đến với “Gánh xẩm Thao Giang” thế nào? Ông nói: “Chúng tôi rất ngạc nhiên vì khán giả đến ngày một đông, đặc biệt là giới trẻ. Người ta cứ nói công chúng quay lưng với nghệ thuật cổ truyền nhưng tôi thấy nếu làm nghiêm túc, chân thực thì ngược lại là đằng khác. Quan trọng là phải diễn làm sao cho người ta không thấy chán. Còn nghệ sĩ Thu Phương, một học trò của nhạc sĩ Thao Giang chia sẻ: “Thầy Thao Giang là người giàu tâm huyết. Nhờ có thầy mà lứa học trò chúng tôi trưởng thành, trở thành những người có đóng góp cho nghệ thuật xẩm của Thủ đô Hà Nội”.

Hiện nay, nhạc sĩ Thao Giang vẫn còn rất nhiều trăn trở. Đó là làm sao đào tạo nhiều người trẻ làm đội ngũ kế cận. Công tác sưu tầm, bảo tồn và phát huy các di sản âm nhạc dân tộc vẫn gặp rất nhiều khó khăn, kết quả của những người làm công tác này rất ít được người dân biết đến. Song những điều đó không làm chùn bước người nhạc sĩ cả đời đắm đuối với nghệ thuật, âm nhạc truyền thống.

https://nhandan.com.vn/baothoinay-vanhoavannghe-doisong/het-long-voi-xam-628224/

TRẦN HƯNG : Nhạc sĩ Thao Giang: Người hồi sinh xẩm Hà thành

Nhạc sĩ Thao Giang: Người hồi sinh xẩm Hà thành

24/01/2021 08:13 | 0

(HNMCT) – Cả đời miệt mài nghiên cứu xẩm, nhạc sĩ Thao Giang được coi là « cây đại thụ », người tiên phong trong việc hồi sinh loại hình nghệ thuật độc đáo này ở Thủ đô. Đặc biệt, với việc thành lập Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam vào năm 2005, ông đã cùng các nhạc sĩ, nghệ sĩ tâm huyết với âm nhạc dân tộc tổ chức chương trình biểu diễn xẩm tại khu vực phố cổ Hà Nội vào mỗi tối thứ bảy, chủ nhật hằng tuần.

1. Nhạc sĩ Thao Giang đến với xẩm nói riêng và âm nhạc dân tộc nói chung nhờ chữ “duyên”. Năm 8 tuổi, một lần đi qua số nhà 32 Nguyễn Thái Học (ngày ấy là trụ sở của Trường Âm nhạc Việt Nam), ông thấy có rất đông bạn bè xếp thành hàng dài để thi tuyển vào lớp sơ cấp khóa 1 của trường. Vốn tính tò mò lại có chút năng khiếu ca hát, ông mạnh dạn vào thi. Chẳng một chút chuẩn bị nhưng khi nhạc sĩ Tạ Phước, khi ấy là Hiệu trưởng nhà trường, là một trong 4 thành viên giám khảo (Tạ Phước, Lê Yên, Doãn Mẫn, Tô Vũ) hỏi ông biết hát không, ông đã tự tin trả lời “có” và say sưa với giai điệu của hai ca khúc “Kết đoàn”, “Giải phóng Điện Biên”. “Thầy Tạ Phước nghe xong thì hỏi địa chỉ nhà tôi ở đâu. Thật không ngờ là vài hôm sau có giấy gọi nhập học gửi đến nhà. Vào học nhưng tôi lại không hề biết chơi một loại nhạc cụ nào, thế là được nhà trường xếp vào học đàn nhị”, nhạc sĩ Thao Giang nhớ lại.

Lạ từ cái tên đến cách chơi, thế rồi âm thanh đàn nhị đi vào tâm trí ông một cách tự nhiên, nhẹ nhàng, trở thành niềm đam mê từ lúc nào không hay. 11 năm theo học đàn nhị, ông nhận thấy loại đàn này mặc dù âm thanh rất hay, da diết nhưng vẫn có một số hạn chế. Bởi thế, ông đã cùng các bạn trong lớp cải tiến hộp cộng hưởng, cần, vĩ kéo của loại đàn này với mong muốn âm sắc phải trầm ấm hơn, riêng biệt hơn và đặc biệt là phải dung hòa được với âm thanh từ các loại đàn khác khi chơi trong một dàn nhạc. Khi có cây đàn mới rồi, ông lại suy nghĩ phải có một tác phẩm dành riêng cho nó. Nghĩ là làm, ông tiếp tục theo học sáng tác từ các thầy Lê Yên, Tô Vũ. Kiên trì, tâm huyết, ông đã sáng tác nhiều bài hát cho đàn nhị, trong đó “Kể chuyện ngày mùa” là một tác phẩm mẫu mực làm thay đổi định kiến về cây đàn nhị Việt Nam thế kỷ XX. Tác phẩm khai thác chất liệu của làn điệu chèo “Lới Lơ” với giai điệu trữ tình, tiết tấu linh hoạt, đặc biệt trong phần solo kỹ thuật có những đoạn mô tả âm thanh thôn quê rất sinh động, hấp dẫn, đồng thời làm nổi bật kỹ thuật của người nghệ sĩ.

2. Sau ngày đất nước thống nhất, nhạc sĩ Thao Giang may mắn được tháp tùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước như Phạm Văn Đồng, Nguyễn Thị Bình ra nước ngoài để giới thiệu về văn hóa dân tộc nước nhà. Đi đến mỗi quốc gia, ông cảm nhận được tình cảm của bạn bè quốc tế dành cho con người, văn hóa Việt Nam, đặc biệt là âm nhạc Việt Nam bởi nó mang hồn cốt của dân tộc. Vì thế mà ông càng ra sức sưu tầm, nghiên cứu, phục dựng các loại hình âm nhạc truyền thống, trong đó nhiều loại có nguy cơ thất truyền.

Là nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc sâu sát, kỹ lưỡng, nhạc sĩ Thao Giang trăn trở khi thấy nhiều trường đại học chủ yếu đi vào nghiên cứu âm nhạc cơ bản mà không đi sâu vào ứng dụng, bởi thế mà năm 2005 ông đã cùng Giáo sư Phạm Minh Khang thành lập Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam (thuộc Hội Nhạc sĩ Việt Nam). Trung tâm ra đời, bên cạnh việc giảng dạy âm nhạc dân tộc miễn phí còn quy tụ các nghệ sĩ ở khắp mọi miền Tổ quốc cùng bàn bạc tìm hướng đi cho âm nhạc truyền thống, góp phần làm phong phú thêm kho tàng âm nhạc nước nhà. “Trung tâm được Hội Nhạc sĩ Việt Nam giao 3 nhiệm vụ: Sưu tầm, nghiên cứu; truyền dạy, đào tạo; biểu diễn, giới thiệu tác phẩm âm nhạc truyền thống, và cho đến nay chúng tôi tự hào vì đã thực hiện được ba điều ấy”, nhạc sĩ Thao Giang hồ hởi cho biết.

Nhạc sĩ Thao Giang xác định rõ, muốn phát triển âm nhạc dân tộc phải chú trọng đến yếu tố con người, bồi dưỡng chuyên môn cho thế hệ trẻ, bởi ông sớm nhận ra rằng các nghệ nhân am hiểu âm nhạc truyền thống đang ngày một già, còn thế hệ trẻ thì không nhiều người có kiến thức sâu sắc. Đối với ông, hai yếu tố giữ gìn và kế thừa phải luôn đi đôi với nhau, thế hệ « già » và « trẻ » cần phải cùng nhau đồng lòng, chung sức. Chính vì thế, trong suốt 16 năm qua, trung tâm đã kết hợp với khoa Di sản âm nhạc của Học viện Âm nhạc Huế đào tạo hàng chục cử nhân và thạc sĩ có đầy đủ kiến thức, trình độ, phẩm chất và sự tâm huyết trong việc tiếp nối mạch nguồn âm nhạc truyền thống. Tuy nhiên, để có được thành công ngày hôm nay, trung tâm đã vượt qua biết bao khó khăn. “Những ngày đầu chúng tôi chẳng có gì, trụ sở không, nhân viên không, trang phục không… Thế rồi nỗ lực của chúng tôi đã được đền đáp xứng đáng khi được người dân dần dần đón nhận”, nhạc sĩ Thao Giang bày tỏ.

Nhạc sĩ Thao Giang say sưa truyền dạy cho học trò.

3. Trong nhiều loại hình âm nhạc dân tộc mà nhạc sĩ Thao Giang tâm huyết, có lẽ xẩm là loại hình khiến người ta nhắc đến ông nhiều hơn cả bởi “gánh xẩm Thao Giang” đã trở thành “thương hiệu” trong chương trình “Hà thành 36 phố phường” – diễn ra vào các tối thứ bảy, chủ nhật hằng tuần trong khu vực phố cổ Hà Nội. Mỗi buổi diễn của trung tâm luôn thu hút đông đảo khán giả, trong đó có những khán giả trẻ tuổi, và điều đó làm ông tin rằng công chúng không quay lưng với nghệ thuật cổ truyền. Theo ông, hát xẩm là loại hình âm nhạc hết sức độc đáo, bất cứ đối tượng nào cũng nghe được. Xẩm gần gũi, thân thiện, cấu trúc âm nhạc đơn giản, nội dung các bài xẩm cũng phong phú, thể hiện được nhiều vấn đề của xã hội, góc cạnh tâm hồn người Việt. Trong hát xẩm, nhạc cụ rất đơn giản, chỉ có nhị, đàn bầu nên đi đâu cũng mang đi được, trong khi môi trường diễn xướng thì đa dạng, có thể từ đường phố đến những sân khấu chuyên nghiệp.

Nhiều năm dồn tâm huyết dạy đàn, dạy hát cho các em, khi lại sắp lịch biểu diễn, thu âm bài hát, nhạc sĩ Thao Giang dường như không có giây phút nghỉ ngơi. Nhìn lại hành trình dài theo xẩm, ông phần nào hài lòng với những việc mà mình cùng trung tâm đã làm được, đặc biệt là việc đưa hát xẩm kết hợp với các loại hình nghệ thuật khác như chèo – tuồng – cải lương, kịch… Ông luôn tâm nguyện ngày nào trời phật còn cho sức khỏe, ông vẫn còn tiếp tục với sự nghiệp gìn giữ, phát huy giá trị âm nhạc dân tộc. Ông cho rằng, có nghề trong tay mà không có ý thức gìn giữ và truyền dạy cho thế hệ trẻ là có tội với cha ông. Cũng chính vì suy nghĩ ấy mà ông luôn trăn trở trong việc tiếp cận với âm nhạc dân gian để tìm ra quy luật riêng của nó, qua đó đóng góp vào sự nghiệp giữ gìn bản sắc âm nhạc nước nhà, bảo tồn và phát huy giá trị loại hình nghệ thuật mà chỉ cần chơi một đến hai nhịp là người ta có thể nhận ra đó là âm nhạc Việt Nam.

Nhạc sĩ Thao Giang (tên đầy đủ là Nguyễn Thao Giang) sinh năm 1948 tại Phú Thọ, quê gốc ở huyện Thanh Oai (Hà Nội). Ông là hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Hội Nhạc sĩ Việt Nam và hiện là Giám đốc Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam (thuộc Hội Nhạc sĩ Việt Nam). Ông đã sáng tác một số tác phẩm độc tấu cho nhạc cụ dân tộc cổ truyền như “Kể chuyện ngày mùa” (đàn nhị), “Hương rừng” (tam thập lục), “Ao cá Bác Hồ” (đàn tranh), “Du thuyền trên sông Hương” (đàn bầu), “Đường xa vui những tiếng đàn” (đàn tỳ bà), “Hương xuân” (dàn nhạc dân tộc hòa tấu).

TRẦN HƯNG

https://nhipsonghanoi.hanoimoi.com.vn/tin-tuc/van-hoa/824205/nhac-si-thao-giang-nguoi-hoi-sinh-xam-ha-thanh

Bước Chân Dĩ Vãng #8 | Phương Hồng Quế – TIVI Chi Bảo | The Jimmy TV

Bước Chân Dĩ Vãng #8 | Phương Hồng Quế – TIVI Chi Bảo | The Jimmy TV

38 249 vues•Sortie le 17 janv. 202178719PartagerEnregistrerThe JIMMY TV The Jimmy TV – Bước Chân Dĩ Vãng #8: Ca sĩ Phương Hồng Quế #bướcchândĩvãng#phươnghồngquế#jimmytv Producer: Jimmy-Nhựt Hà Camera: Hồ Đoàn Graphic Design: Trường Giang Editor: Thông Hồ & Jimmy Chân Thành Cảm Tạ: •Cô Phương Hồng quế • Trung Tâm Asia • Trung Tâm Giáng Ngọc • Nhà báo Lê Quang Thanh Tâm Đặc biệt cám ơn anh Nguyễn Đức Phú đã cung cấp nhiều hình ảnh tài liệu, tờ nhạc quý trước năm 1975 To Support The JIMMY TV: ZELLE: 801.916.2745 jimmyha93@gmail.com Bước Chân Dĩ Vãng: https://www.youtube.com/playlist?list… The Portrait http://bit.ly/ThePortraitTJC Tác giả & Tuyệt phẩm http://bit.ly/Tacgiatuyetpham

DIỄM TRANG : ca sĩ hải ngoại Anh Khoa mắc Covid-19, đang điều trị tại nhà

Ca sĩ hải ngoại Anh Khoa mắc Covid-19, đang điều trị tại nhà

Diễm Trang

Ca sĩ Anh Khoa vừa chia sẻ với một vài đồng nghiệp tại hải ngoại về tình hình sức khỏe hiện tại sau một thời gian nhập viện (tại Houston, Mỹ) vì nhiễm Covid-19. Anh cho biết hiện được bác sĩ cho phép về nhà điều trị.

Ca sĩ Anh Khoa là một trong những nam ca sĩ trình bày thành công  những sáng tác của nhạc sĩ Vũ Thành An /// Ảnh: DL Duy

Ca sĩ Anh Khoa là một trong những nam ca sĩ trình bày thành công những sáng tác của nhạc sĩ Vũ Thành AnẢnh: DL Duy Trong cuộc điện thoại chia sẻ cùng MC Jimmy Nhựt Hà, ca sĩ hải ngoại Anh Khoa cho biết sau khi tham gia buổi biểu diễn từ thiện tại một nhà thờ giữa tháng 11.2020, anh thấy có triệu chứng sốt, khó thở, ho ra máu… nên đã nhập viện điều trị. ADVERTISINGRemaining Time 11:48Xem Thêm

Ca sĩ hải ngoại Anh Khoa mắc Covid-19, đang điều trị tại nhà - ảnh 1 Ca sĩ Anh Khoa sinh năm 1948 tại Phan Thiết Ảnh: Tư liệu

Sau 22 ngày nằm viện và được sự cứu chữa hết sức tận tình của bác sĩ, anh cho biết đã được cho phép về nhà điều trị. Theo anh, đây là tin anh không muốn chia sẻ vì thời gian qua đã có quá nhiều tin buồn và tang thương xảy đến với nghệ sĩ tại hải ngoại, từ sự ra đi đột ngột của nghệ sĩ Chí Tài, rồi nhạc sĩ Lam Phương, còn danh ca Lệ Thu cũng đang điều trị Covid-19… Nhưng khi về nhà, một đồng nghiệp tình cờ gọi điện thăm hỏi nên anh cũng cho biết bệnh tình hiện tại. Do dịch Covid-19 nên trong năm qua anh không biểu diễn nhiều, nay lại thêm bệnh tình như vậy, nên “cuộc sống rất khó khăn…. “, anh cho biết. Thời gian qua anh phải một mình lo liệu vì vợ anh sang Hungary thăm con gái. Từng là ca sĩ nổi tiếng thập niên 1970, Anh Khoa là cái tên được các vũ trường lớn tại Sài Gòn mời đón. Sau đó Anh Khoa kết hôn (vợ người Hungary), sang Hungary rồi sang Mỹ định cư và hoạt động biểu diễn cho cộng đồng người Việt tại đây. Năm 2015, ca sĩ Anh Khoa về Việt Nam làm live show Sol vàng – Những lời yêu thương cùng ca/nhạc sĩ Đức Huy.

https://thanhnien.vn/van-hoa/ca-si-hai-ngoai-anh-khoa-mac-covid-19-dang-dieu-tri-tai-nha-1327964.html

NHỮNG CA KHÚC HAY NHẤT CỦA LỆ THU

NHỮNG CA KHÚC HAY NHẤT CỦA LỆ THU

1 304 855 vues•29 avr. 20144,1 k654PartagerEnregistreryeu nhac 7,34 k abonnés MUSIC VIDEO : Mười năm tình cũ – Xin còn gọi tên nhau – Tôi đi tìm một mùa xuân – Thu hát cho người – Buồn vương màu áo – Suối mơ – Một thuở yêu đàn – Trăng mờ bên suối

Musique utilisée dans cette vidéo

En savoir plus

Écoutez de la musique sans publicité avec YouTube Premium

Titre

10 Năm Tình Cũ

Artiste

Lệ Thu

Album

Tiếng Hát Lệ Thu – Sĩ Phú

Concédé sous licence à YouTube par

[Merlin] AudioSalad (au nom de Làng Văn) et 3 sociétés de gestion des droits musicaux

Titre

Xin còn gọi tên nhau

Artiste

Phương Quế Như

Album

Bản tình cuối

Concédé sous licence à YouTube par

[Merlin] BHMedia Inc. (au nom de SOXO 201740) et 1 sociétés de gestion des droits musicaux

Titre

Tôi Đi Tìm Lại Một Mùa Xuân

Artiste

Lệ Thu

Album

Tìm lại mùa xuân (ASIA 39)

Concédé sous licence à YouTube par

[Merlin] BHMedia Inc. (au nom de Asia Entertainment)

Titre

Buồn vương màu áo

Artiste

Lệ Thu

Album

Tạ ơn em

Concédé sous licence à YouTube par

[Merlin] BHMedia Inc. (au nom de Diễm Xưa Productions)

Titre

Suối Mơ

Artiste

Lệ Thu

Album

Bước Chân Dĩ Vãng

Concédé sous licence à YouTube par

[Merlin] BHMedia Inc. (au nom de Lệ Thu Productions) et 1 sociétés de gestion des droits musicaux

Titre

Trăng Mờ Bên Suối

Artiste

Lệ Thu

Album

Bước Chân Dĩ Vãng

Concédé sous licence à YouTube par

[Merlin] BHMedia Inc. (au nom de Lệ Thu Productions) et 1 sociétés de gestion des droits musicaux

MINH KHUÊ: Nghệ sĩ thương tiếc danh ca Lệ Thu

Nghệ sĩ thương tiếc danh ca Lệ Thu

16-01-2021 – 02:06 PM |

(NLĐO) – Sau khi thông tin danh ca Lệ Thu qua đời lan tỏa, nhiều nghệ sĩ bày tỏ sự thương tiếc trên trang cá nhân.

Nữ ca sĩ Phương Thanh đăng tải loạt ảnh cô chụp cùng danh ca Lệ Thu kèm theo là dòng chia sẻ: « Tạm biệt Idol Danh ca Lệ Thu – tạm biệt mẹ Thu! Thế hệ con một lần hạnh phúc được hát trong live show của mẹ! ».

Nghệ sĩ thương tiếc danh ca Lệ Thu - Ảnh 1.

Ca sĩ Phương Thanh và danh ca Lệ Thu

Diễn viên Đức Tiến viết: « Tạm biệt danh ca Lệ Thu… mùa Thu đã tắt! ». Nữ ca sĩ Thanh Thảo trích dẫn lời ca khúc « Nước mắt mùa thu » của nhạc sĩ Phạm Duy để tiễn biệt danh ca: « Nước mắt mùa Thu khóc than một mình. Một đời ca sĩ hát trong buồn tênh. Giọng ca buồn bã vào trong đời úa. Thời gian còn đó còn thương còn nhớ hoài. Trời ơi nước mắt mùa Thu khóc thân phận mình….! Ngàn thu vĩnh biệt…! ».

Nữ ca sĩ Hương Lan viết: « Thật đau buồn khi đựợc tin từ gia đình! Nữ ca sĩ Lệ thu đã được Chúa gọi về lúc 7 giờ đêm thứ sáu 15-1-2021. Thành kính phân ưu cùng quý quyến! ». 

Ca sĩ Dương Triệu Vũ trải lòng: « Xin thương tiếc vĩnh biệt cô… Cầu mong cô được an nghỉ! Trong đầu con luôn văng vẳng câu « dương trần đã vang lên bài thánh ca » với chất giong sáng chói đặc trưng của cô mỗi khi đông về. Hay bài « Thuyền viễn xứ » đầy hoài niệm. Con cảm ơn cô đã mang lại biết bao nhiêu cảm xúc cho nhiều thế hệ… Cô đã để lại một di sản âm nhạc đáng kể cho đời. Xin cúi đầu tiễn biệt một thần tượng Danh ca Lệ Thu! ». 

Nghệ sĩ thương tiếc danh ca Lệ Thu - Ảnh 2.

Danh ca Lệ Thu ra đi sau thời gian chống chọi dịch Covid-19

MC Anh Khoa viết: « Từ nay không còn nữa « Nước mắt mùa Thu » và « Thu hát cho người ». Mấy lúc con hay gọi hỏi thăm nói chuyện với cô và con còn dự định mời cô về nước hát show. Vậy mà…! Con xin cúi đầu tiễn biệt cô!… »

Diễn viên Trịnh Tú Trung đau buồn: « Nước mắt mùa Thu khóc ai trong chiều. Hàng cây trút lá nghĩa trang đìu hiu.Vĩnh biệt cô Lệ Thu…! Cô hãy tiếp tục cất lên giọng hát quý hiếm ở một thế giới khác…! ».

Nghệ sĩ thương tiếc danh ca Lệ Thu - Ảnh 3.

Danh ca Lệ Thu thọ 78 tuổi

Danh ca Lệ Thu đã qua đời ngày 15-1, thọ 78 tuổi. Bà ra đi sau thời gian chống chọi căn bệnh Covid-19.

Danh ca Lệ Thu tên thật là Bùi Thị Oanh. Bà là một trong những giọng ca hàng đầu của nền tân nhạc Việt Nam. Lệ Thu cùng với Thái Thanh, Khánh Ly là 3 cái tên lẫy lừng, được nhiều khán giả mến mộ nhất và để lại ảnh hưởng sâu đậm đến giới nghệ sĩ thế hệ sau.

Tiếng hát của Lệ Thu lan tỏa với các ca khúc của Phạm Duy, Cung Tiến, Đoàn Chuẩn, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương, Trường Sa… cũng như nhiều nhạc phẩm tiền chiến, tình khúc 1954-1975 khác. Năm 1980, Lệ Thu sang Mỹ định cư cùng gia đình. Bà vẫn ca hát không ngơi nghỉ cho đến nay.

Minh Khuê (Tổng hợp). Ảnh: Facebook NV

https://nld.com.vn/van-nghe/nghe-si-thuong-tiec-danh-ca-le-thu-20210116125412179.htm

THANH HIỆP: Danh ca Lệ Thu qua đời ở tuổi 78

Danh ca Lệ Thu qua đời ở tuổi 78

16-01-2021 – 11:53 AM |

(NLĐO) – Theo tin từ ca sĩ Lan Ngọc, danh ca Lệ Thu đã qua đời lúc 7 giờ ngày 15-1, thọ 78 tuổi.

« Sau một thời gian chống chọi với cơn bạo bệnh, nữ danh ca Lệ Thu đã qua đời lúc 7 giờ ngày 15-1. Chúng tôi rất đau buồn vì chị không vượt qua được căn bệnh covid-19 quái ác này »- ca sĩ Lan Ngọc xúc động nói. 

Danh ca Lệ Thu sinh ngày 16-7-1943, tên thật là Bùi Thị Oanh. Bà là một trong những giọng ca hàng đầu của nền tân nhạc Việt Nam. Lệ Thu cùng với Thái Thanh, Khánh Ly là 3 cái tên lẫy lừng, được nhiều khán giả mến mộ nhất và để lại ảnh hưởng sâu đậm đến giới nghệ sĩ thế hệ sau.  

Danh ca Lệ Thu qua đời ở tuổi 78 - Ảnh 1.

Danh ca Lệ Thu

Tiếng hát của Lệ Thu lan tỏa với các ca khúc của Phạm Duy, Cung Tiến, Đoàn Chuẩn, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương, Trường Sa… cũng như nhiều nhạc phẩm tiền chiến, tình khúc 1954-1975 khác.  Năm 1980, Lệ Thu sang Mỹ định cư cùng gia đình. Bà vẫn ca hát không ngơi nghỉ cho đến nay.

Thanh Hiệp

https://nld.com.vn/thoi-su-quoc-te/dau-hieu-dang-lo-ngai-cua-dich-covid-19-o-trung-quoc-2021011621123599.htm

Bonjour Vietnam 67 – Trần Quang Hải et Bạch Yến – Concert de musiques traditionnelles

Bonjour Vietnam 67 – Trần Quang Hải et Bạch Yến – Concert de musiques traditionnelles

2,750 views•Mar 18, 2019452ShareSaveVinh-Thien Quach 5.44K subscribers Bonjour Vietnam 67 – Trần Quang Hải et Bạch Yến – Concert de musiques traditionnelles vietnamiennes. Avec la participation de Mai Thanh Nam. Centre Mandapa Paris 13è. Images : Quách Vĩnh-Thiện. Musique générique : Quách Vĩnh-Thiện. http://www.thienmusic.com http://www.youtube.com/user/thienmusic http://www.facebook.com/vinhthien.quach https://twitter.com/thienmusic

theo NGUYỄN NGỌC CHÍNH: NGÔN NGỮ SÀI GÒN XƯA

Bài viết bởi thiên thanh » Thứ sáu 23/09/16 17:53 Hình ảnh


Ngôn ngữ Sài Gòn xưa
__________________________________________________________
Nguyễn Ngọc Chính

Có thể nói, bất kỳ một ngôn ngữ trên trái đất này cũng đều trải qua hình thức vay mượn từ các ngôn ngữ khác. Ảnh hưởng về văn hóa là một trong những tác động chính trong việc vay mượn về ngôn ngữ. Ngoài ra, còn phải kể đến các yếu tố khác như địa lý, lịch sử, chính trị và xã hội trong việc hình thành ngôn ngữ vay mượn.

Miền Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng vốn là một “melting pot”, dễ dàng hòa nhập với các nền văn hóa khác từ tiếng Tàu, tiếng Pháp và cuối cùng là tiếng Anh. Ở đây, xin được bàn về ảnh hưởng của Trung Hoa mà ta thường gọi nôm na là Tàu cùng những biến thể như Người Tàu, Ba Tàu, Các Chú, Khách Trú và Chệt hoặc Chệc.

Gia Định Báo (số 5, năm thứ 6, phát hành ngày 16/2/1870) giải thích :

“…An-nam ta kêu là Tàu, người bên Tàu, là vì khách thường đi tàu qua đây, lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu v.v…

Từ Ba-Tàu có cách giải thích như sau : Ba có nghĩa là ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa làm ăn và sinh sống : vùng Cù Lao Phố (Đồng Nai), Sài Gòn-Chợ Lớn, Hà Tiên, từ Tàu bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi sang An Nam, nhưng dần từ Ba Tàu lại mang nghĩa miệt thị, gây ảnh hưởng xấu…”

“…Kêu Các-chú là bởi người Minh-hương mà ra; mẹ An-nam cha Khách nên nhìn người Tàu là anh em, bằng không thì cũng là người đồng châu với cha mình, nên mới kêu là Các-chú nghĩa là anh em với cha mình. Sau lần lần người ta bắt chước mà kêu bậy theo làm vậy…”

“… Còn kêu là Chệc là tại tiếng Triều Châu kêu tâng Chệc nghĩa là chú. Người bên Tàu hay giữ phép, cũng như An-nam ta, thấy người ta tuổi đáng cậu, cô, chú, bác thì kêu tâng là chú là cậu vân vân. Người An-nam ta nghe vậy vịn theo mà kêu các ảnh là Chệc…”

Cách giải thích thuật ngữ nói trên của Gia Định Báo từ thế kỷ thứ 19 được coi là tạm ổn vì đây là một trong những tài liệu xưa có xuất xứ từ miền Nam. Theo Lê ngọc Trụ trong Tầm nguyên Tự điển Việt Nam, chệc hay chệt là tiếng Tiều gọi chữ thúc, nghĩa là “em trai của cha”. Người bình dân gọi Chệc để chỉ chung người Hoa.

Người Quảng Đông cho là gọi như thế có ý miệt thị, người Triều Châu trái lại, chấp nhận vì họ được tôn là chú. Ở miền Nam, “các chú” Quảng làm ăn buôn bán khá hơn “các chú chệc” người Tiều lam lũ trong nghề làm rẫy, tằn tiện nên không biết có phải vì
vậy mới có câu:

Quảng Đông ăn cá bỏ đầu
Tiều Châu lượm lấy đem về kho tiêu !

Hình ảnh

Người Tiều lại chê dân Quảng không biết ăn cá. Họ nói món cháo cá Tiều khi ăn có vị ngọt đặc biệt nhờ chỉ rửa sạch bên ngoài, giữ lại nguyên si vảy, đầu và cả ruột ! Dân Tiều ở miền Nam “chuyên trị” những món cá chim hấp, bò viên, tôm viên, ruột heo nấu cải chua… và nhất là món hủ tíu Tiều Châu.

Người ta còn dùng các từ như Khựa, Xẩm, Chú Ba… để chỉ người Tàu, cũng với hàm ý miệt thị, coi thường. Tuy nhiên, có sự phân biệt rõ ràng trong cách gọi: phụ nữ Tàu được gọi là thím xẩm còn nam giới thì lại là chú ba.

Năm 1956, chính phủ Ngô Đình Diệm của nền Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963) đã có một quyết định khá táo bạo, buộc tất cả Hoa kiều phải nhập quốc tịch Việt Nam, nếu không sẽ bị trục xuất. Thương nghiệp tại miền Nam sau thời Pháp thuộc phần lớn nằm trong quyền kiểm soát của Hoa kiều. Vì vậy, chính phủ cố tạo sức mạnh cho doanh nhân Việt bằng cách hạn chế quyền lợi của người Hoa.

Đạo luật 53 cấm ngoại kiều (nhắm vào Hoa kiều) tham gia 11 nghề liên quan đến thóc gạo, điền địa, buôn bán thịt cá, than đá, dầu lửa, thu mua sắt vụn… được chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành vào tháng 9/1956. Đạo luật này đã làm xáo trộn kinh tế trong nước nhưng đã có tác động mạnh đến nền công thương nghiệp của người Việt vào thời kỳ đó. Đa số người Hoa đã nhập tịch Việt, tính đến năm 1961, trong số 1 triệu Hoa kiều ở miền Nam chỉ còn khoảng 2.000 người giữ lại Hoa tịch.

Người Tàu kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc ba lĩnh vực quan trọng : sản xuất, phân phối và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện… và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập cảng.

Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường. Cũng vì thế, ở Sài Gòn có câu mỉa mai : “Sống phá rối thị trường, chết chật đường chật sá” để ám chỉ người Tàu khi còn sống lũng đoạn nền kinh tế và đến lúc chết lại tổ chức những đám ma một cách rình rang.

Cũng như người Tàu ở Hồng Kông và Macao, người Tàu ở miền Nam đa số nói tiếng Quảng Đông (Cantonese) chứ không nói tiếng Quan Thoại (Mandarin) mà ngày nay gọi là tiếng Phổ Thông. Cũng vì thế, ngôn ngữ Sài Gòn xưa vay mượn từ tiếng Quảng Đông được khoảng 71 triệu người Hoa trên khắp thế giới sử dụng.

Người Sài Gòn thường ví những người “ăn nói không đâu vào đâu” là “nói hoảng, nói tiều” thực ra là “nói tiếng Quảng Đông, nói tiếng Triều Châu”. Điều này cho thấy tiếng Quảng Đông xuất hiện rất nhiều trong ngôn ngữ miền

Nam trước năm 1975, kế đến mới là tiếng Triều Châu. Trên thực tế, người Tàu có đến 5 nhóm Hoa kiều, được gọi là Ngũ Bang tại miền Nam : Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Khách Gia (người Hẹ).

Trong lĩnh vực ẩm thực của Sài Gòn xưa, ảnh hưởng của người Tàu gốc Quảng Đông rất đậm nét. Nói cho công bằng, bên cạnh số đông các tửu lầu, cao lâu của người Tàu gốc Quảng Đông, ở Sài Gòn – Chợ Lớn cũng có lai rai một số tiệm Tàu khác như tiệm Hủ tíu Triều Châu ở đối diện Chợ Lớn Mới, Cơm Gà Hải Nam ở Chợ An Đông hay đường Tôn Thọ Tường.

Theo nhà văn Bình-nguyên Lộc, thời tiền chiến trước 1945, các phổ ky trong tiệm Tàu còn có kiểu kêu vào bếp những món ăn thực khách gọi y như người ta gọi “lô-tô” (bingo), dĩ nhiên bằng tiếng Quảng Đông :

– Bàn số 3, bên Đông, bà lùn, cà phê ít, sữa nhiều !
– Bàn số 4, bên Đông, hủ tíu không giá.
– Bàn số 1, bên Tây, thêm bánh bao ngọt thằng nhỏ.
– Bàn số 2, bên Tây, ông già râu, cà phê đen ly lớn, xíu mại to.

Chủ tiệm thường biết rõ tính nết và sở thích ăn uống của mỗi khách quen, nên họ thường đặt cho mỗi người một cái tên thuộc loại… “hỗn danh”. Khi khách ăn xong lại quầy trả tiền thì phổ ky rao những câu hóm hỉnh bằng tiếng Quảng Đông, chẳng hạn như :

– Ông đầu hói mang khăn rằn, một đồng hai cắc.
– Bà hai mập, ba đồng sáu cắc.
– Ông chủ ốm nón nỉ, tám đồng tư, hai bánh bao mang về.

Nổi tiếng tại Sài Gòn xưa có các nhà hàng Đồng Khánh, Arc-en-ciel, Soái Kình Lâm, Bát Đạt, Á Đông, Đại La Thiên, Triều Châu…

Cơm Tàu thường được để trong những cái thố nhỏ nên được gọi là cơm thố, chỉ là cơm trắng dùng chung với các món ăn nhưng không nấu bằng nồi mà chỉ hấp cách thủy để cho chín gạo. Thông thường một người ăn chừng một hoặc hai thố là no. Có người lại ca tụng ăn cơm thố chỉ cần chan chút hắc xì dầu (nước tương đen) pha với dấm Tiều thêm chút ớt là đã thấy ngon rồi.

Nghĩ lại cũng đúng nhưng nếu ăn kiểu này thì những tiệm nổi tiếng như Siu Siu bên hông chợ An Đông hay Siu Siu ở đầu hẻm Nguyễn Duy Dương (hình như ở số nhà 61) chắc đã dẹp tiệm từ lâu rồi. Cơm chiên Dương Châu cũng là món ăn du nhập từ Quảng Đông. Nhiều người rất khoái cơm chiên nhưng ít người biết từ khởi thủy đây chỉ là các thức ăn dư thừa được chế biến lại.

Cũng thuộc loại thức ăn dư thừa có món tài páo (bánh bao). Bạn không tin ư ? Nhân bánh bao là thịt vụn được xào lên, trộn với lạp xưởng và trứng (sau này được thay bằng trứng cút kể từ khi dịch cút lan truyền khắp Sài Gòn, nhà nhà nuôi cút, người người ăn trứng cút). Vỏ bánh bao được làm bằng bột mì, sau khi hấp chín bột nở phình ra trông thật hấp dẫn.

Có người bảo cơm chiên Dương Châu và bánh bao thể hiện tính tằn tiện và tiết kiệm của người Tàu, không bỏ phí thức ăn thừa! Nói cho vui vậy thôi chứ từ cơm chiên, bánh bao đến các loại sơn hào hải vị như bào ngư, vi cá, yến sào… đều đòi hỏi cách chế biến, đó là nghệ thuật nấu ăn.

Các tiệm “cà phê hủ tíu” của Tàu lan rộng ra nhiều nơi chứ không riêng gì trong Chợ Lớn. Khắp Sài Gòn, Gia Định rồi xuống đến Lục Tỉnh đi đâu cũng thấy những xe mì, xe hủ tíu, chỉ nhìn cách trang trí cũng có thể biết được chủ nhân là người Tàu. Họ có kiểu cách riêng biệt với những chiếc xe bằng gỗ, thiết kế một cách cầu kỳ. Phần trên xe là những tấm kính tráng thủy có vẽ hình các nhân vật như Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi, Triệu Tử Long… trong truyện Tam Quốc.

Ăn điểm tâm thì có mì, hủ tíu, bánh bao, há cảo, xíu mại… Khách thường gọi một ly xây chừng, đó là một ly cà phê đen nhỏ hay tài phế (cà phê đen lớn). Sang hơn thì gọi phé nại (cà phê sữa) hoặc bạt xỉu (nhiều sữa nhưng ít cà phê) với sữa đặc có đường hiệu Ông Thọ hoặc Con Chim. Có người lại dùng bánh tiêu hoặc dầu-cha-quẩy nhúng vào cà phê để ăn thay cho các món điểm tâm đắt tiền.

Vào một quán nước bình dân trong Chợ Lớn ta có thể gọi một ly suỵt xủi và người phục vụ đem ra một ly đá chanh mát lạnh. Tại các tiệm “cà phê hủ tíu” luôn luôn có bình trà để khách có thể nhâm nhi nhậm xà (uống trà) trước khi gọi phổ ky đến để thảy xu (tính tiền). (Nhậm xà còn có nghĩa là tiền hối lộ, tiền trà nước). Người sành điệu còn “xổ” một tràng “broken Cantonese”: “Hầm bà làng kỵ tố ?” (Hết thảy bao nhiêu tiền ?).

Hình ảnh

Những từ ngữ vay mượn của người Tàu dùng lâu hóa quen nên có nhiều người không ngờ mình đã sử dụng ngôn ngữ ngoại lai. Chẳng hạn như ta thường lì xì cho con cháu vào dịp Tết hoặc lì xì cho thầy chú (cảnh sát) để tránh phiền nhiễu, cũng là một hình thức hối lộ.

Lạp xưởng (người Bắc gọi là Lạp xường) là một món ăn có nguồn gốc từ bên Tàu, tiếng Quảng Châu là lạp trường: ngày lễ Tất niên và ruột heo khô. Cũng vì thế vào dịp giáp Tết các cửa hàng nổi tiếng như Đồng Khánh, Đông Hưng Viên trưng bày la liệt các loại lạp xưởng, nào là lạp xưởng mai quế lộ, lạp xưởng khô, lạp xưởng tươi…

Chế biến lạp xưởng là nghề của các Chú Ba trong Chợ Lớn. Lạp xưởng được làm từ thịt heo nạc và mỡ, xay nhuyễn, trộn với rượu, đường rồi nhồi vào ruột heo khô để chín bằng cách lên men tự nhiên. Lạp xưởng màu hồng hoặc nâu sậm vì chắc hẳn có thêm chút bột màu.

Lạp xưởng ở Sóc Trăng thuộc miền Lục tỉnh cũng rất nổi tiếng cùng với món bánh pía, một món đặc biệt của người Tiều gốc từ Triều Châu. Đôi khi bánh pía còn được gọi là bánh lột da, thực chất có nguồn gốc từ bánh trung thu theo kiểu Tô Châu nhưng khác với loại bánh trung thu mà ta thường thấy. Đây là loại bánh có nhiều lớp mỏng và nhân bánh có trộn thịt mỡ.

Bánh pía do một số người Minh Hương di cư sang Việt Nam từ thế kỷ 17 mang theo. Trước đây, việc làm bánh pía hoàn toàn mang tính thủ công và phục vụ cho nhu cầu của từng gia đình. Bánh pía ngày trước cũng khá đơn giản, vỏ ngoài làm bằng bột mì có nhiều lớp da mỏng bao lấy phần nhân, lớp da ngoài dày thường để in chữ, nhân làm bằng đậu xanh và mỡ heo chứ không có lòng đỏ trứng muối và các loại thành phần khác như ngày nay.

Do thị hiếu của người tiêu dùng mà các lò bánh mới thêm các thành phần hương liệu khác như sầu riêng, khoai môn, lòng đỏ trứng muối…

Vịt quay Bắc Kinh và vịt quay Tứ Xuyên là những món nổi tiếng của Tàu. Đặc trưng của món vịt quay là da vịt mỏng, giòn, màu vàng sậm. Tại miền Nam, vịt quay và thịt heo quay cũng được người Quảng Đông đưa vào danh sách ẩm thực. Vịt quay hoặc heo quay theo đúng kiểu Tàu là phải ăn với bánh bao chay (không nhân) nhưng người Việt cũng chế thêm món bánh hỏi thịt quay ăn với các loại rau, chấm nước mắm cho hợp với khẩu vị. Ngày xưa, trong Chợ Lớn, nổi tiếng về heo quay, vịt quay có khu vực đường Tôn Thọ Tường, ở Sài Gòn thì khu Chợ Cũ có vài tiệm heo quay của người Tàu. Chuyện kể có một ông cà lăm đi mua thịt quay, khi ông lắp bắp: “Bán… cho tôi… 20 đồng… thịt quay…” thì Chú Ba với tay nghề chặt thịt cũng vừa chặt xong đúng 20 đồng!

Hết “ăn” giờ lại sang đến “chơi”. Chuyện cờ bạc trong ngôn từ của người Sài Gòn xưa đã xuất hiện không ít những từ ngữ từ tiếng Tàu. Tài Xỉu (phiên âm từ tiếng Tàu có nghĩa là Đại – Tiểu) là trò chơi dân gian có từ rất lâu. Chỉ cần 1 cái đĩa, 1 cái bát và 3 hột xí ngầu cũng có thể lập sòng tài xỉu nên còn có tên là xóc đĩa.

Hình ảnh

Hột xí ngầu có sáu mặt, mỗi mặt có từ một đến sáu chấm, tương đương từ một đến sáu điểm. Khi ráp sòng, người ta để cả ba hột lên chiếc đĩa sứ, chụp bát lên trên rồi lắc. Tổng số điểm của ba hột từ mười trở xuống gọi là xỉu, trên con số mười là tài. Sau khi chủ sòng lắc đĩa, người chơi đoán hoặc tài hoặc xỉu mà đặt cược. Chuyện thắng thua trong tài xỉu tùy thuộc vào tay nghề của người xóc đĩa, còn được gọi là hồ lỳ. Xác suất chủ sòng là từ 60 đến 70% thắng nhưng vì lỡ mang kiếp đỏ đen nên con bạc vẫn bị thu hút vào sòng xóc đĩa.

Các loại bài và hình thức chơi bài cũng có xuất xứ từ tiếng Tàu. Binh xập xám (13 cây) có những thuật ngữ như mậu binh (không cần binh cũng thắng), cù lủ (full house) là 3 con bài cùng số và một cặp đôi, ví dụ như 3 con chín + 2 con K (lớn nhất là cù lủ ách (ace), nhỏ nhất dĩ nhiên là cù lủ hai, thùng (flush) là 5 con cùng nước (suit) mà không theo trật tự liền nhau, ngược lại là sảnh (straight) là 5 con theo trật tự liền nhau nhưng không cùng nước. Kho từ vựng trong xập xám còn có xám chi (3 con cùng loại – three of a kind), thú (two) hay thú phé (two separate pairs) là hai cặp và một con bất kỳ nào khác.

“Thứ nhất tứ quý (4 con bài cùng số) thứ nhì đồng hoa (cùng một nước như cơ, rô, chuồn, bích)” là một trong số cả rừng từ ngữ của dân binh xập xám.

Ở phần trên đã bàn về hai khía cạnh “ăn” và “chơi”, còn một khía cạnh đóng vai trò không kém phần quan trọng là “làm” của người Tàu. Nghề nghiệp được xếp thấp nhất của người Tàu là nghề lạc xoong hay nói theo tiếng Việt là mua ve chai, người miền Bắc gọi là đồng nát.

Chú Hỏa (1845-1901), người Phúc Kiến, xuất thân từ nghề này nhưng về sau lại là một trong 4 người giàu nhất Sài Gòn xưa: “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa”.

Một số người Tàu hành nghề bán chạp phô với các mặt hàng thuộc loại tả pín lù nhưng sẵn sàng đáp ứng được mọi nhu cầu hằng ngày của người lao động trong xóm.

Tiệm chạp phô chỉ có mục đích lượm bạc cắc từ cây kim, sợi chỉ đến cục xà bông Cô Ba, quả trứng, thẻ đường. Người Tàu kiên trì trong công việc bán tạp hóa, ông chủ ung dung đếm tiền mỗi tối và ẩn dưới tiệm chạp phô là cả một gia tài được tích lũy. Người ta chỉ biết điều này khi có phong trào vượt biên. Tính rẻ “3 cây một người” thế mà cả gia đình chủ tiệm chạp phô vẫn thừa sức vượt biển để tìm đến bến bờ tự do.

Cao cấp hơn là những xì thẩu, những người thành công trong kinh doanh. Điển hình cho giai cấp xì thẩu là Trần Thành, bang trưởng Triều Châu, với hãng bột ngọt Vị Hương Tố rồi các mặt hàng mì gói Hai Con Tôm, nước tương, tàu vị yểu đã chinh phục thị trường miền Nam từ thập niên 60 để trở thành “ông vua không ngai trong vương quốc Chợ Lớn”.

Xì thẩu Lý Long Thân làm chủ 11 ngành sản xuất và dịch vụ, 23 hãng xưởng lớn: hãng dệt Vinatexco, Vimytex, hãng nhuộm Vinatefinco, hãng cán sắt Vicasa, hãng dầu ăn Nakyco, hãng bánh ngọt Lubico, Ngân Hàng Nam Việt, Ngân Hàng Trung Nam, khách sạn Arc en Ciel, hãng tàu Rạng Đông…

Xì thẩu Lâm Huê Hồ được nhiều người gọi là “chủ nợ của các ông chủ”. Ông là người giữ nhiều tiền mặt nhất miền Nam, số tiền ông có trong tay bằng vốn của nhiều ngân hàng tư nhân cỡ nhỏ như Nam Đô, Trung Việt gộp lại. Lâm Huê Hồ còn nổi tiếng là vua phế liệu, chuyên thầu quân cụ và võ khí phế thải rồi bán lại cho những doanh nhân trong ngành luyện cán sắt hay bán lại cho Nhật Bản. Người Sài Gòn thường nói: “Trần Thành, Lý Long Thân chỉ có Tiếng nhưng Lâm Huê Hồ lại có miếng”.

Xì thẩu Vương Đạo Nghĩa, chủ hãng kem đánh răng Hynos, là một người có óc làm ăn cấp tiến. Ông là người có rất nhiều sáng kiến để quảng cáo sản phẩm trên các cửa hàng ăn uống, chợ búa, hệ thống truyền thanh và truyền hình.

Có rất nhiều xì thẩu được Sài Gòn xưa gọi là vua. Trương Vĩ Nhiên, “vua ciné”, là chủ hãng phim Viễn Đông và gần 20 rạp ciné tại Sài Gòn – Chợ Lớn: Eden, Đại Nam, Opéra, Oscar, Lệ Thanh, Hoàng Cung, Đại Quang, Palace, Thủ Đô…; Lý Hoa, “vua xăng dầu”, là đại diện độc quyền các hãng Esso, Caltex, Shell phân phối nhiên liệu cho thị trường nội địa; Đào Mậu, “vua ngân hàng”, Tổng giám đốc Trung Hoa Ngân Hàng (một trong hai ngân hàng châu Á lớn nhất tại Sài Gòn cùng với Thượng Hải Ngân Hàng).

Bên cạnh đó lại có Lại Kim Dung là “nữ hoàng gạo”. Giá gạo tại miền Nam là do công ty của bà ấn định, chính phủ đã có lúc phải hợp tác với “nữ hoàng gạo” để ổn định giá gạo trên thị trường. Tạ Vinh là một trường hợp xì thẩu đặc biệt. Năm 1964, Tạ Vinh bị Ủy Ban Hành Pháp Trung ương của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ xử bắn tại pháp trường cát trước chợ Bến Thành vì tội “gian thương, đầu cơ tích trữ gạo, gây xáo trộn thị trường”. Dân chúng và báo chí gọi Tạ Vinh là “hạm gạo”.

(theo Nguyễn Ngọc Chính– Hồi ức một đời người)

C

Bài viết bởi thiên thanh » Thứ sáu 23/09/16 17:53 Hình ảnh


Ngôn ngữ Sài Gòn xưa
__________________________________________________________
Nguyễn Ngọc Chính

Có thể nói, bất kỳ một ngôn ngữ trên trái đất này cũng đều trải qua hình thức vay mượn từ các ngôn ngữ khác. Ảnh hưởng về văn hóa là một trong những tác động chính trong việc vay mượn về ngôn ngữ. Ngoài ra, còn phải kể đến các yếu tố khác như địa lý, lịch sử, chính trị và xã hội trong việc hình thành ngôn ngữ vay mượn.

Miền Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng vốn là một “melting pot”, dễ dàng hòa nhập với các nền văn hóa khác từ tiếng Tàu, tiếng Pháp và cuối cùng là tiếng Anh. Ở đây, xin được bàn về ảnh hưởng của Trung Hoa mà ta thường gọi nôm na là Tàu cùng những biến thể như Người Tàu, Ba Tàu, Các Chú, Khách Trú và Chệt hoặc Chệc.

Gia Định Báo (số 5, năm thứ 6, phát hành ngày 16/2/1870) giải thích :

“…An-nam ta kêu là Tàu, người bên Tàu, là vì khách thường đi tàu qua đây, lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu v.v…

Từ Ba-Tàu có cách giải thích như sau : Ba có nghĩa là ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa làm ăn và sinh sống : vùng Cù Lao Phố (Đồng Nai), Sài Gòn-Chợ Lớn, Hà Tiên, từ Tàu bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi sang An Nam, nhưng dần từ Ba Tàu lại mang nghĩa miệt thị, gây ảnh hưởng xấu…”

“…Kêu Các-chú là bởi người Minh-hương mà ra; mẹ An-nam cha Khách nên nhìn người Tàu là anh em, bằng không thì cũng là người đồng châu với cha mình, nên mới kêu là Các-chú nghĩa là anh em với cha mình. Sau lần lần người ta bắt chước mà kêu bậy theo làm vậy…”

“… Còn kêu là Chệc là tại tiếng Triều Châu kêu tâng Chệc nghĩa là chú. Người bên Tàu hay giữ phép, cũng như An-nam ta, thấy người ta tuổi đáng cậu, cô, chú, bác thì kêu tâng là chú là cậu vân vân. Người An-nam ta nghe vậy vịn theo mà kêu các ảnh là Chệc…”

Cách giải thích thuật ngữ nói trên của Gia Định Báo từ thế kỷ thứ 19 được coi là tạm ổn vì đây là một trong những tài liệu xưa có xuất xứ từ miền Nam. Theo Lê ngọc Trụ trong Tầm nguyên Tự điển Việt Nam, chệc hay chệt là tiếng Tiều gọi chữ thúc, nghĩa là “em trai của cha”. Người bình dân gọi Chệc để chỉ chung người Hoa.

Người Quảng Đông cho là gọi như thế có ý miệt thị, người Triều Châu trái lại, chấp nhận vì họ được tôn là chú. Ở miền Nam, “các chú” Quảng làm ăn buôn bán khá hơn “các chú chệc” người Tiều lam lũ trong nghề làm rẫy, tằn tiện nên không biết có phải vì
vậy mới có câu:

Quảng Đông ăn cá bỏ đầu
Tiều Châu lượm lấy đem về kho tiêu !

Hình ảnh

Người Tiều lại chê dân Quảng không biết ăn cá. Họ nói món cháo cá Tiều khi ăn có vị ngọt đặc biệt nhờ chỉ rửa sạch bên ngoài, giữ lại nguyên si vảy, đầu và cả ruột ! Dân Tiều ở miền Nam “chuyên trị” những món cá chim hấp, bò viên, tôm viên, ruột heo nấu cải chua… và nhất là món hủ tíu Tiều Châu.

Người ta còn dùng các từ như Khựa, Xẩm, Chú Ba… để chỉ người Tàu, cũng với hàm ý miệt thị, coi thường. Tuy nhiên, có sự phân biệt rõ ràng trong cách gọi: phụ nữ Tàu được gọi là thím xẩm còn nam giới thì lại là chú ba.

Năm 1956, chính phủ Ngô Đình Diệm của nền Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963) đã có một quyết định khá táo bạo, buộc tất cả Hoa kiều phải nhập quốc tịch Việt Nam, nếu không sẽ bị trục xuất. Thương nghiệp tại miền Nam sau thời Pháp thuộc phần lớn nằm trong quyền kiểm soát của Hoa kiều. Vì vậy, chính phủ cố tạo sức mạnh cho doanh nhân Việt bằng cách hạn chế quyền lợi của người Hoa.

Đạo luật 53 cấm ngoại kiều (nhắm vào Hoa kiều) tham gia 11 nghề liên quan đến thóc gạo, điền địa, buôn bán thịt cá, than đá, dầu lửa, thu mua sắt vụn… được chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành vào tháng 9/1956. Đạo luật này đã làm xáo trộn kinh tế trong nước nhưng đã có tác động mạnh đến nền công thương nghiệp của người Việt vào thời kỳ đó. Đa số người Hoa đã nhập tịch Việt, tính đến năm 1961, trong số 1 triệu Hoa kiều ở miền Nam chỉ còn khoảng 2.000 người giữ lại Hoa tịch.

Người Tàu kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc ba lĩnh vực quan trọng : sản xuất, phân phối và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện… và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập cảng.

Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường. Cũng vì thế, ở Sài Gòn có câu mỉa mai : “Sống phá rối thị trường, chết chật đường chật sá” để ám chỉ người Tàu khi còn sống lũng đoạn nền kinh tế và đến lúc chết lại tổ chức những đám ma một cách rình rang.

Cũng như người Tàu ở Hồng Kông và Macao, người Tàu ở miền Nam đa số nói tiếng Quảng Đông (Cantonese) chứ không nói tiếng Quan Thoại (Mandarin) mà ngày nay gọi là tiếng Phổ Thông. Cũng vì thế, ngôn ngữ Sài Gòn xưa vay mượn từ tiếng Quảng Đông được khoảng 71 triệu người Hoa trên khắp thế giới sử dụng.

Người Sài Gòn thường ví những người “ăn nói không đâu vào đâu” là “nói hoảng, nói tiều” thực ra là “nói tiếng Quảng Đông, nói tiếng Triều Châu”. Điều này cho thấy tiếng Quảng Đông xuất hiện rất nhiều trong ngôn ngữ miền

Nam trước năm 1975, kế đến mới là tiếng Triều Châu. Trên thực tế, người Tàu có đến 5 nhóm Hoa kiều, được gọi là Ngũ Bang tại miền Nam : Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Khách Gia (người Hẹ).

Trong lĩnh vực ẩm thực của Sài Gòn xưa, ảnh hưởng của người Tàu gốc Quảng Đông rất đậm nét. Nói cho công bằng, bên cạnh số đông các tửu lầu, cao lâu của người Tàu gốc Quảng Đông, ở Sài Gòn – Chợ Lớn cũng có lai rai một số tiệm Tàu khác như tiệm Hủ tíu Triều Châu ở đối diện Chợ Lớn Mới, Cơm Gà Hải Nam ở Chợ An Đông hay đường Tôn Thọ Tường.

Theo nhà văn Bình-nguyên Lộc, thời tiền chiến trước 1945, các phổ ky trong tiệm Tàu còn có kiểu kêu vào bếp những món ăn thực khách gọi y như người ta gọi “lô-tô” (bingo), dĩ nhiên bằng tiếng Quảng Đông :

– Bàn số 3, bên Đông, bà lùn, cà phê ít, sữa nhiều !
– Bàn số 4, bên Đông, hủ tíu không giá.
– Bàn số 1, bên Tây, thêm bánh bao ngọt thằng nhỏ.
– Bàn số 2, bên Tây, ông già râu, cà phê đen ly lớn, xíu mại to.

Chủ tiệm thường biết rõ tính nết và sở thích ăn uống của mỗi khách quen, nên họ thường đặt cho mỗi người một cái tên thuộc loại… “hỗn danh”. Khi khách ăn xong lại quầy trả tiền thì phổ ky rao những câu hóm hỉnh bằng tiếng Quảng Đông, chẳng hạn như :

– Ông đầu hói mang khăn rằn, một đồng hai cắc.
– Bà hai mập, ba đồng sáu cắc.
– Ông chủ ốm nón nỉ, tám đồng tư, hai bánh bao mang về.

Nổi tiếng tại Sài Gòn xưa có các nhà hàng Đồng Khánh, Arc-en-ciel, Soái Kình Lâm, Bát Đạt, Á Đông, Đại La Thiên, Triều Châu…

Cơm Tàu thường được để trong những cái thố nhỏ nên được gọi là cơm thố, chỉ là cơm trắng dùng chung với các món ăn nhưng không nấu bằng nồi mà chỉ hấp cách thủy để cho chín gạo. Thông thường một người ăn chừng một hoặc hai thố là no. Có người lại ca tụng ăn cơm thố chỉ cần chan chút hắc xì dầu (nước tương đen) pha với dấm Tiều thêm chút ớt là đã thấy ngon rồi.

Nghĩ lại cũng đúng nhưng nếu ăn kiểu này thì những tiệm nổi tiếng như Siu Siu bên hông chợ An Đông hay Siu Siu ở đầu hẻm Nguyễn Duy Dương (hình như ở số nhà 61) chắc đã dẹp tiệm từ lâu rồi. Cơm chiên Dương Châu cũng là món ăn du nhập từ Quảng Đông. Nhiều người rất khoái cơm chiên nhưng ít người biết từ khởi thủy đây chỉ là các thức ăn dư thừa được chế biến lại.

Cũng thuộc loại thức ăn dư thừa có món tài páo (bánh bao). Bạn không tin ư ? Nhân bánh bao là thịt vụn được xào lên, trộn với lạp xưởng và trứng (sau này được thay bằng trứng cút kể từ khi dịch cút lan truyền khắp Sài Gòn, nhà nhà nuôi cút, người người ăn trứng cút). Vỏ bánh bao được làm bằng bột mì, sau khi hấp chín bột nở phình ra trông thật hấp dẫn.

Có người bảo cơm chiên Dương Châu và bánh bao thể hiện tính tằn tiện và tiết kiệm của người Tàu, không bỏ phí thức ăn thừa! Nói cho vui vậy thôi chứ từ cơm chiên, bánh bao đến các loại sơn hào hải vị như bào ngư, vi cá, yến sào… đều đòi hỏi cách chế biến, đó là nghệ thuật nấu ăn.

Các tiệm “cà phê hủ tíu” của Tàu lan rộng ra nhiều nơi chứ không riêng gì trong Chợ Lớn. Khắp Sài Gòn, Gia Định rồi xuống đến Lục Tỉnh đi đâu cũng thấy những xe mì, xe hủ tíu, chỉ nhìn cách trang trí cũng có thể biết được chủ nhân là người Tàu. Họ có kiểu cách riêng biệt với những chiếc xe bằng gỗ, thiết kế một cách cầu kỳ. Phần trên xe là những tấm kính tráng thủy có vẽ hình các nhân vật như Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi, Triệu Tử Long… trong truyện Tam Quốc.

Ăn điểm tâm thì có mì, hủ tíu, bánh bao, há cảo, xíu mại… Khách thường gọi một ly xây chừng, đó là một ly cà phê đen nhỏ hay tài phế (cà phê đen lớn). Sang hơn thì gọi phé nại (cà phê sữa) hoặc bạt xỉu (nhiều sữa nhưng ít cà phê) với sữa đặc có đường hiệu Ông Thọ hoặc Con Chim. Có người lại dùng bánh tiêu hoặc dầu-cha-quẩy nhúng vào cà phê để ăn thay cho các món điểm tâm đắt tiền.

Vào một quán nước bình dân trong Chợ Lớn ta có thể gọi một ly suỵt xủi và người phục vụ đem ra một ly đá chanh mát lạnh. Tại các tiệm “cà phê hủ tíu” luôn luôn có bình trà để khách có thể nhâm nhi nhậm xà (uống trà) trước khi gọi phổ ky đến để thảy xu (tính tiền). (Nhậm xà còn có nghĩa là tiền hối lộ, tiền trà nước). Người sành điệu còn “xổ” một tràng “broken Cantonese”: “Hầm bà làng kỵ tố ?” (Hết thảy bao nhiêu tiền ?).

Hình ảnh

Những từ ngữ vay mượn của người Tàu dùng lâu hóa quen nên có nhiều người không ngờ mình đã sử dụng ngôn ngữ ngoại lai. Chẳng hạn như ta thường lì xì cho con cháu vào dịp Tết hoặc lì xì cho thầy chú (cảnh sát) để tránh phiền nhiễu, cũng là một hình thức hối lộ.

Lạp xưởng (người Bắc gọi là Lạp xường) là một món ăn có nguồn gốc từ bên Tàu, tiếng Quảng Châu là lạp trường: ngày lễ Tất niên và ruột heo khô. Cũng vì thế vào dịp giáp Tết các cửa hàng nổi tiếng như Đồng Khánh, Đông Hưng Viên trưng bày la liệt các loại lạp xưởng, nào là lạp xưởng mai quế lộ, lạp xưởng khô, lạp xưởng tươi…

Chế biến lạp xưởng là nghề của các Chú Ba trong Chợ Lớn. Lạp xưởng được làm từ thịt heo nạc và mỡ, xay nhuyễn, trộn với rượu, đường rồi nhồi vào ruột heo khô để chín bằng cách lên men tự nhiên. Lạp xưởng màu hồng hoặc nâu sậm vì chắc hẳn có thêm chút bột màu.

Lạp xưởng ở Sóc Trăng thuộc miền Lục tỉnh cũng rất nổi tiếng cùng với món bánh pía, một món đặc biệt của người Tiều gốc từ Triều Châu. Đôi khi bánh pía còn được gọi là bánh lột da, thực chất có nguồn gốc từ bánh trung thu theo kiểu Tô Châu nhưng khác với loại bánh trung thu mà ta thường thấy. Đây là loại bánh có nhiều lớp mỏng và nhân bánh có trộn thịt mỡ.

Bánh pía do một số người Minh Hương di cư sang Việt Nam từ thế kỷ 17 mang theo. Trước đây, việc làm bánh pía hoàn toàn mang tính thủ công và phục vụ cho nhu cầu của từng gia đình. Bánh pía ngày trước cũng khá đơn giản, vỏ ngoài làm bằng bột mì có nhiều lớp da mỏng bao lấy phần nhân, lớp da ngoài dày thường để in chữ, nhân làm bằng đậu xanh và mỡ heo chứ không có lòng đỏ trứng muối và các loại thành phần khác như ngày nay.

Do thị hiếu của người tiêu dùng mà các lò bánh mới thêm các thành phần hương liệu khác như sầu riêng, khoai môn, lòng đỏ trứng muối…

Vịt quay Bắc Kinh và vịt quay Tứ Xuyên là những món nổi tiếng của Tàu. Đặc trưng của món vịt quay là da vịt mỏng, giòn, màu vàng sậm. Tại miền Nam, vịt quay và thịt heo quay cũng được người Quảng Đông đưa vào danh sách ẩm thực. Vịt quay hoặc heo quay theo đúng kiểu Tàu là phải ăn với bánh bao chay (không nhân) nhưng người Việt cũng chế thêm món bánh hỏi thịt quay ăn với các loại rau, chấm nước mắm cho hợp với khẩu vị. Ngày xưa, trong Chợ Lớn, nổi tiếng về heo quay, vịt quay có khu vực đường Tôn Thọ Tường, ở Sài Gòn thì khu Chợ Cũ có vài tiệm heo quay của người Tàu. Chuyện kể có một ông cà lăm đi mua thịt quay, khi ông lắp bắp: “Bán… cho tôi… 20 đồng… thịt quay…” thì Chú Ba với tay nghề chặt thịt cũng vừa chặt xong đúng 20 đồng!

Hết “ăn” giờ lại sang đến “chơi”. Chuyện cờ bạc trong ngôn từ của người Sài Gòn xưa đã xuất hiện không ít những từ ngữ từ tiếng Tàu. Tài Xỉu (phiên âm từ tiếng Tàu có nghĩa là Đại – Tiểu) là trò chơi dân gian có từ rất lâu. Chỉ cần 1 cái đĩa, 1 cái bát và 3 hột xí ngầu cũng có thể lập sòng tài xỉu nên còn có tên là xóc đĩa.

Hình ảnh

Hột xí ngầu có sáu mặt, mỗi mặt có từ một đến sáu chấm, tương đương từ một đến sáu điểm. Khi ráp sòng, người ta để cả ba hột lên chiếc đĩa sứ, chụp bát lên trên rồi lắc. Tổng số điểm của ba hột từ mười trở xuống gọi là xỉu, trên con số mười là tài. Sau khi chủ sòng lắc đĩa, người chơi đoán hoặc tài hoặc xỉu mà đặt cược. Chuyện thắng thua trong tài xỉu tùy thuộc vào tay nghề của người xóc đĩa, còn được gọi là hồ lỳ. Xác suất chủ sòng là từ 60 đến 70% thắng nhưng vì lỡ mang kiếp đỏ đen nên con bạc vẫn bị thu hút vào sòng xóc đĩa.

Các loại bài và hình thức chơi bài cũng có xuất xứ từ tiếng Tàu. Binh xập xám (13 cây) có những thuật ngữ như mậu binh (không cần binh cũng thắng), cù lủ (full house) là 3 con bài cùng số và một cặp đôi, ví dụ như 3 con chín + 2 con K (lớn nhất là cù lủ ách (ace), nhỏ nhất dĩ nhiên là cù lủ hai, thùng (flush) là 5 con cùng nước (suit) mà không theo trật tự liền nhau, ngược lại là sảnh (straight) là 5 con theo trật tự liền nhau nhưng không cùng nước. Kho từ vựng trong xập xám còn có xám chi (3 con cùng loại – three of a kind), thú (two) hay thú phé (two separate pairs) là hai cặp và một con bất kỳ nào khác.

“Thứ nhất tứ quý (4 con bài cùng số) thứ nhì đồng hoa (cùng một nước như cơ, rô, chuồn, bích)” là một trong số cả rừng từ ngữ của dân binh xập xám.

Ở phần trên đã bàn về hai khía cạnh “ăn” và “chơi”, còn một khía cạnh đóng vai trò không kém phần quan trọng là “làm” của người Tàu. Nghề nghiệp được xếp thấp nhất của người Tàu là nghề lạc xoong hay nói theo tiếng Việt là mua ve chai, người miền Bắc gọi là đồng nát.

Chú Hỏa (1845-1901), người Phúc Kiến, xuất thân từ nghề này nhưng về sau lại là một trong 4 người giàu nhất Sài Gòn xưa: “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa”.

Một số người Tàu hành nghề bán chạp phô với các mặt hàng thuộc loại tả pín lù nhưng sẵn sàng đáp ứng được mọi nhu cầu hằng ngày của người lao động trong xóm.

Tiệm chạp phô chỉ có mục đích lượm bạc cắc từ cây kim, sợi chỉ đến cục xà bông Cô Ba, quả trứng, thẻ đường. Người Tàu kiên trì trong công việc bán tạp hóa, ông chủ ung dung đếm tiền mỗi tối và ẩn dưới tiệm chạp phô là cả một gia tài được tích lũy. Người ta chỉ biết điều này khi có phong trào vượt biên. Tính rẻ “3 cây một người” thế mà cả gia đình chủ tiệm chạp phô vẫn thừa sức vượt biển để tìm đến bến bờ tự do.

Cao cấp hơn là những xì thẩu, những người thành công trong kinh doanh. Điển hình cho giai cấp xì thẩu là Trần Thành, bang trưởng Triều Châu, với hãng bột ngọt Vị Hương Tố rồi các mặt hàng mì gói Hai Con Tôm, nước tương, tàu vị yểu đã chinh phục thị trường miền Nam từ thập niên 60 để trở thành “ông vua không ngai trong vương quốc Chợ Lớn”.

Xì thẩu Lý Long Thân làm chủ 11 ngành sản xuất và dịch vụ, 23 hãng xưởng lớn: hãng dệt Vinatexco, Vimytex, hãng nhuộm Vinatefinco, hãng cán sắt Vicasa, hãng dầu ăn Nakyco, hãng bánh ngọt Lubico, Ngân Hàng Nam Việt, Ngân Hàng Trung Nam, khách sạn Arc en Ciel, hãng tàu Rạng Đông…

Xì thẩu Lâm Huê Hồ được nhiều người gọi là “chủ nợ của các ông chủ”. Ông là người giữ nhiều tiền mặt nhất miền Nam, số tiền ông có trong tay bằng vốn của nhiều ngân hàng tư nhân cỡ nhỏ như Nam Đô, Trung Việt gộp lại. Lâm Huê Hồ còn nổi tiếng là vua phế liệu, chuyên thầu quân cụ và võ khí phế thải rồi bán lại cho những doanh nhân trong ngành luyện cán sắt hay bán lại cho Nhật Bản. Người Sài Gòn thường nói: “Trần Thành, Lý Long Thân chỉ có Tiếng nhưng Lâm Huê Hồ lại có miếng”.

Xì thẩu Vương Đạo Nghĩa, chủ hãng kem đánh răng Hynos, là một người có óc làm ăn cấp tiến. Ông là người có rất nhiều sáng kiến để quảng cáo sản phẩm trên các cửa hàng ăn uống, chợ búa, hệ thống truyền thanh và truyền hình.

Có rất nhiều xì thẩu được Sài Gòn xưa gọi là vua. Trương Vĩ Nhiên, “vua ciné”, là chủ hãng phim Viễn Đông và gần 20 rạp ciné tại Sài Gòn – Chợ Lớn: Eden, Đại Nam, Opéra, Oscar, Lệ Thanh, Hoàng Cung, Đại Quang, Palace, Thủ Đô…; Lý Hoa, “vua xăng dầu”, là đại diện độc quyền các hãng Esso, Caltex, Shell phân phối nhiên liệu cho thị trường nội địa; Đào Mậu, “vua ngân hàng”, Tổng giám đốc Trung Hoa Ngân Hàng (một trong hai ngân hàng châu Á lớn nhất tại Sài Gòn cùng với Thượng Hải Ngân Hàng).

Bên cạnh đó lại có Lại Kim Dung là “nữ hoàng gạo”. Giá gạo tại miền Nam là do công ty của bà ấn định, chính phủ đã có lúc phải hợp tác với “nữ hoàng gạo” để ổn định giá gạo trên thị trường. Tạ Vinh là một trường hợp xì thẩu đặc biệt. Năm 1964, Tạ Vinh bị Ủy Ban Hành Pháp Trung ương của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ xử bắn tại pháp trường cát trước chợ Bến Thành vì tội “gian thương, đầu cơ tích trữ gạo, gây xáo trộn thị trường”. Dân chúng và báo chí gọi Tạ Vinh là “hạm gạo”.

(theo Nguyễn Ngọc Chính– Hồi ức một đời người)