Auteur : tranquanghai130544

daidoanket.vn: HỒ THỤY TRANG- Người giữ lửa cho âm nhạc cổ truyền Việt Nam tại Pháp

Hồ Thụy Trang- Người giữ lửa cho âm nhạc cổ truyền Việt Nam tại Pháp

h

Trong những năm gần đây, khán giả kiều bào tại Paris và vùng phụ cận cũng như bạn bè Pháp “được đi du lịch” tại Việt Nam nhiều hơn, có cơ hội khám phá văn hóa Việt Nam nhiều hơn, và đó phần nào nhờ nữ nghệ sĩ Hồ Thụy Trang và ban nhạc Tiếng

Chị Hồ Thụy Trang sinh năm 1964 tại TP Hồ Chí Minh, trong một gia đình có truyền thống yêu âm nhạc. Lên 6 tuổi, chị bắt đầu học hát và đàn tranh tại trung tâm Phượng Ca. Lên 7 tuổi, chị đã vượt qua cuộc thi vào Trường Quốc gia âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn, nay là Học viện Âm nhạc TP Hồ Chí Minh. Chị tốt nghiệp hạng ưu năm 1986 và bắt đầu sự nghiệp giảng dạy. Ngoài ra, chị còn thường xuyên tham gia các liên hoan âm nhạc trên thế giới.

Với ngón đàn điêu luyện của mình, qua những âm thanh tuyệt vời nhất của nhạc cụ truyền thống Việt Nam, chị đã góp phần không nhỏ vào quá trình giới thiệu âm nhạc Việt Nam đến các bạn bè quốc tế.

Từ năm 2003, chị chính thức định cư tại Créteil, một thành phố ngoại ô Paris, và đã qua cuộc thi khó khăn để nhận bằng Quốc gia của Bộ Văn hóa – Thông tin Pháp. Chị đã giảng dạy Âm nhạc truyền thống Việt Nam tại các thành phố Marseille, Bordeaux và Lausanne, tại Nhạc viện các thành phố ngoại ô Paris như Bussy-Saint-Georges và Lagny, Créteil và hội Tre Xanh. Chị cũng đã trình lên Bộ Giáo dục Pháp một dự án nhằm đưa Âm nhạc truyền thống Việt Nam vào giảng dạy chính thức tại trường học Pháp. Chị đã “có quyền tự hào và tự hãnh diện một chút vì mình là người Việt Nam thứ ba được chính phủ Pháp chính thức công nhận là giáo sư âm nhạc Việt Nam”.

Bắt đầu từ năm 2000, Hồ Thụy Trang và năm người bạn đã thành lập ban nhạc Tiếng Tơ Đồng tại Paris. Đây cũng là ban nhạc được chính phủ Pháp cấp giấy phép tổ chức sự kiện và được xem như một công ty biểu diễn.

Với gần 40 năm kinh nghiệm giảng dạy, chị đã đào tạo hàng ngàn tài năng trẻ. Hồ Thụy Trang không chỉ dạy cho họ những kiến thức cơ bản mà còn cả những kỹ thuật chơi bắt nguồn từ những kinh nghiệm riêng. Chị đã không chỉ đem đến cho thế giới những người yêu âm nhạc truyền thống hứng thú nghe đàn mà còn xem chị chơi với những kỹ thuật và phong cách do chị sáng tạo, khiến mỗi buổi biểu diễn như tăng thêm sức hấp dẫn đối với khán giả. Chị cũng thường xuyên biểu diễn cùng các nghệ sỹ có tên tuổi trên thế giới. Với chị, khi được biểu diễn với người nước ngoài là một vinh dự “vì nước Pháp được coi là một quốc gia đa dân tộc, mình được diễn với họ, được diễn với người Pháp, được diễn với người Mỹ, người Đức chẳng hạn thì mình được học hỏi nhiều cái mới, phong cách biểu diễn cũng như nền nhạc của họ. Đó là điều khiến mình trau dồi thêm sự hiểu biết, cũng như để có thể phát triển nền âm nhạc Việt Nam đến một hướng mới hơn”. Báo chí Pháp đã đưa tin khá nhiều về nghệ sĩ Hồ Thụy Trang và những cuộc trình diễn.

Chị là một nghệ sĩ quen thuộc trên sân khấu ở Trung tâm Văn hóa Mandapa, nằm trong quận 13 của thành phố Paris. Mùa văn hóa 2018-2019, Trung tâm đã bắt đầu tổ chức chương trình Hộ chiếu đến nước X.  Việt Nam đã vinh dự là điểm đến đầu tiên với “Hộ chiếu đến Việt Nam”. Đêm khai mạc đã vinh dự được đón ông Nguyễn Thiệp, đương kim Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Pháp, giám đốc Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Pháp và một số nhà lãnh đạo quận, Thành phố Paris. Dịp ấy, chị Trang đã cố vấn để ban tổ chức mời nhiều nghệ sĩ nhạc cổ bên Việt Nam sang biểu diễn tại Trung tâm. Cùng với hàng chục buổi trình diễn của chị và Tiếng Tơ Đồng, các nghệ sĩ Việt đã mang lại niềm hoan hỉ cho đông đảo khán giả vùng Paris.

Chương trình biểu diễn của chị đa dạng, được diễn tấu với nhiều loại nhạc cụ cổ truyền. Ngoài đàn tranh là sở trường, chị còn biểu diễn ấn tượng với đàn bầu, đàn T’rưng, đàn nguyệt, đàn nhị, bộ lắc và bộ phách… Mỗi loại lại được chị sáng tạo và đôi khi cải biên lối chơi để áp dụng vào những bản nhạc cổ điển hoặc hiện đại phương Tây. Ngoài những màn độc tấu và hòa tấu, chị và Tiếng Tơ Đồng có hai show diễn đặc biệt đặc sắc và luôn được khán giả nhiệt liệt khen ngợi, và luôn đến kín phòng, đó là “1001 tiếng Trúc tiếng Tre” và “Sắc màu Việt Nam”. Các buổi biểu diễn ấy đã đưa khán giả đi du lịch khắp chiều dài Việt Nam, họ mãn nhãn mê li trong những trang phục truyền thống, từ tà áo dài duyên dáng khuê các của các thiếu nữ, các mệnh phụ thành phố, đến các bộ váy đa sắc của đồng bào thiểu số khắp ba miền. Họ thích thú chiêm ngưỡng kiểu dáng của các loại nhạc cụ dân tộc, họ ngất ngây trước những âm thanh khi trong trẻo cao vút, lúc trầm lắng mơ màng được phát ra từ sáo, đàn bầu, đàn đá đến đàn T’rưng và cồng chiêng…https://googleads.g.doubleclick.net/pagead/ads?client=ca-pub-6730846013640716&output=html&h=280&slotname=6490713087&adk=1388410019&adf=3149789641&pi=t.ma~as.6490713087&w=336&lmt=1634052380&psa=0&format=336×280&url=http%3A%2F%2Fnuocphap.info%2Fho-thuy-trang-nguoi-giu-lua-cho-nhac-co-truyen-viet-nam-tai-phap%2F%3Ffbclid%3DIwAR2oQYuFZyi89aUskH2qf3a7pUYE7ND_sIvsnv1vba3jjsy2Ggg_rjtfrGs&flash=0&wgl=1&dt=1634052379629&bpp=4&bdt=6331&idt=1169&shv=r20211007&mjsv=m202110050101&ptt=9&saldr=aa&abxe=1&prev_fmts=728×90%2C660x165&correlator=5821522278815&frm=20&pv=1&ga_vid=1635946448.1634052381&ga_sid=1634052381&ga_hid=913796950&ga_fc=0&u_tz=120&u_his=1&u_h=900&u_w=1600&u_ah=860&u_aw=1600&u_cd=24&adx=281&ady=2096&biw=1217&bih=741&scr_x=0&scr_y=0&eid=182982000%2C182982200%2C31063104&oid=2&pvsid=1480793759071156&pem=866&ref=https%3A%2F%2Fm.facebook.com%2F&eae=0&fc=896&brdim=255%2C0%2C255%2C0%2C1600%2C0%2C1246%2C860%2C1234%2C741&vis=1&rsz=%7C%7CoeEbr%7C&abl=CS&pfx=0&fu=0&bc=23&ifi=3&uci=a!3&btvi=1&fsb=1&xpc=WzDHqhA1R9&p=http%3A//nuocphap.info&dtd=1360

Bà Bích Ngọc, một khán giả kiều bào đã rất xúc động chia sẻ cảm xúc sau một buổi trình diễn: “Đến buổi biểu diễn này, tôi thấy mình được quay trở lại với quê hương của tôi từ miền Bắc cho đến miền Nam. Đối với những người xa quê hương như chúng tôi, được dự những buổi như vậy thật là tuyệt vời, tôi không biết nói sao, chỉ biết rất là hay, rất cảm ơn tất cả những nhạc công, nhất là cô Hồ Thụy Trang, người làm ra chương trình này để chúng tôi có thể đi du lịch từ miền Bắc cho đến miền Nam Việt Nam”. Còn chị Diane Võ Ngọc, một người Pháp gốc Việt được sinh ra và lớn lên tại Pháp thì nói: “Đây là lần đầu tiên tôi đưa con gái đi xem buổi trình diễn. Đây cũng là dịp để tôi khám phá văn hóa Việt Nam. Và chúng tôi đã hết sức ấn tượng trước vẻ đẹp của các bộ trang phục, vẻ thanh tao của của các nữ vũ công. Đồng thời buổi diễn còn có các lời giải thích rõ ràng về các điệu múa khác nhau của các vùng miền Việt Nam. Đây đúng là một chuyến du lịch tuyệt vời đến quê hương nguồn cội của tôi”.

Cho đến nay, ban nhạc “Tiếng tơ đồng” ban đầu có năm người thì hiện giờ đã tăng lên gần sáu chục và với các hoạt động chính: Múa dân gian, hòa tấu nhạc cụ cổ truyền, gõ trống, ca cổ và vũ đạo cải lương.

Kể từ ngày thành lập, Tiếng Tơ Đồng thường được mời đi biểu diễn trong các sự kiện quan trọng như ngày hội Pháp ngữ năm 2013, được tổ chức tại thành phố Nice của Pháp, với sự góp mặt của 75 quốc gia và vinh dự được biểu diễn trước Tổng thống Pháp François Hollande, và nhiều Tổng thống các nước nói tiếng Pháp. Chương trình đã được phát trực tiếp trên đài truyền hình Pháp. Nhân dịp Pháp -Việt tổ chức kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước, Tiếng Tơ Đồng được các Tòa thị chính trên khắp lãnh thổ Pháp mời đi biểu diễn. Đến đâu, ban nhạc cũng được chào đón nồng nhiệt.

Ngoài trình diễn, Hồ Thụy Trang còn dạy nhạc. Chị dạy cho nhiều lứa tuổi, từ học sinh nhỏ đến người lớn, các cháu người Việt thế hệ hai hoặc ba tại Pháp, nói được hay không nói được tiếng Việt. Dạy theo nhóm hoặc dậy đơn – một thầy một trò.

Qua chị, nhiều kiều bào được sinh ra và lớn lên tại Paris đã có cơ hội làm quen với thể loại âm nhạc này. Như anh Yanne Duchatel, 48 tuổi, sinh tại Sóc Trăng (Việt Nam) đến Pháp khi mới 3 tuổi, hiện là chủ dự án trong một ngành Công nghệ tại Pháp. Anh có một con trai 11 tuổi, hai cha con đã cùng học tiếng Việt, và từ hơn hai năm nay, khi gặp chị Trang, họ đã có cơ hội học môn Đàn tranh. “Tôi đã phát hiện ra âm nhạc truyền thống Việt Nam như mọi người Pháp, qua Youtube, hoặc qua mạng Internet. Đàn tranh đã thu hút tôi qua âm thanh của nó và phong cách chơi, nhưng tôi đã không có cơ hội tiếp cận  chơi thứ nhạc cụ này, – anh nói – tôi rất thích, dẫu không có khiếu lắm, nhưng phải thừa nhận đây là loại nhạc cụ đòi hỏi kiên trì, rất khó học”.

Đa phần các học trò đều đánh giá cao cách thức truyền dạy của cô giáo Trang. Anh Yann Duchatel nói: “Cô Trang là một giáo viên rất có trình độ giảng dạy. Phương thức truyền đạt của cô rất hiệu quả. Phương thức tương tác của cô ấy trên lớp rất phù hợp với tôi. Nhưng thực sự mà nói, cô Trang rất khó tính, và đòi hỏi cao nơi học sinh, và điều ấy khiến cho việc học tập cũng trở nên khó hơn, nhưng tôi chắc chắn nhờ cô ấy mà chúng tôi học đàn được tốt hơn”.

Dạy nhạc cho các cháu nhỏ, nhưng chị cũng không ngừng khuyến khích các phụ huynh Việt cố gắng dạy và nói với con tiếng Việt. Bởi theo chị, muốn học và hát đúng các ca khúc Việt thì trước tiên phải hiểu ý nghĩa của chúng.

Chị Trang cho rằng muốn lưu truyền hay quảng bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam tại nước ngoài thì có nhiều khó khăn. Ví như nhạc cụ Việt Nam rất khó tìm tại Pháp mà đều phải mua từ Việt Nam, rồi còn phải tính đến trang phục biểu diễn. Nhưng với sự kiên nhẫn, lòng đam mê, nữ nghệ sĩ và ban nhạc Tiếng Tơ Đồng đã ít nhiều gặt hái được những thành công trên đất Pháp. Mới đây trong dịp mừng xuân Canh Tý, chị và ban nhạc đã kỷ niệm 20 năm ngày thành lập với sự cổ vũ và chúc mừng của đông đảo của bạn bè khán giả Việt, Pháp.

Nền văn hóa Việt Nam tựa một cây cổ thụ có nhiều nhánh,  trên hết chúng ta cần vun đắp cho bộ rễ thật vững chắc, cây phát triển lành mạnh, nhiều nhánh và vươn cao, Tiếng Tơ Đồng hệt như một cành nhỏ vươn xa nhưng vẫn bám chắc vào bộ gốc của mình tại quê hương Việt Nam.

Nguồn: daidoanket.vn

http://nuocphap.info/ho-thuy-trang-nguoi-giu-lua-cho-nhac-co-truyen-viet-nam-tai-phap/?fbclid=IwAR2oQYuFZyi89aUskH2qf3a7pUYE7ND_sIvsnv1vba3jjsy2Ggg_rjtfrGs

Nhà hát Múa rối Việt nam biểu diễn thành công tại Cộng hòa Pháp, 2017

Nhà hát Múa rối Việt nam biểu diễn thành công tại Cộng hòa Pháp

Các nghệ sĩ Nhà hát múa rối Việt Nam đã mang chương trình múa rối nước cổ truyền tham gia tại Liên hoan Văn hóa Quốc tế  « Festival de L’Imaginaire lần thứ 21  » từ ngày 10/11/2017 đến ngày 25/12/2017. 29-12-2017 Lượt xem: https://www.facebook.com/v2.8/plugins/like.php?action=like&app_id=1107643682972053&channel=https%3A%2F%2Fstaticxx.facebook.com%2Fx%2Fconnect%2Fxd_arbiter%2F%3Fversion%3D46%23cb%3Df6ab2de6c85c68%26domain%3Dnhahatmuaroivietnam.vn%26is_canvas%3Dfalse%26origin%3Dhttp%253A%252F%252Fnhahatmuaroivietnam.vn%252Ff2173f7063bb62c%26relation%3Dparent.parent&container_width=0&href=http%3A%2F%2Fnhahatmuaroivietnam.vn%2Fnode%2F1243&layout=button_count&locale=vi_VN&sdk=joey&share=true&show_faces=true&size=small

Nhà hát Múa rối Việt nam biểu diễn thành công tại Cộng hòa Pháp

Nhận lời mời của ông Cherif Khaznadar- Giám đốc Nhà văn hóa thế giới – Cộng hòa Pháp, các nghệ sĩ Nhà hát múa rối Việt Nam đã mang chương trình múa rối nước cổ truyền tham gia tại Liên hoan Văn hóa Quốc tế  « Festival de L’Imaginaire lần thứ 21 «  từ ngày 10/11/2017 đến ngày 25/12/2017.

Bên cạnh một tuần tham gia Liên hoan Văn hóa Quốc tế tại thủ đô Paris, các nghệ sĩ Nhà hát múa rối Việt Nam đã  biểu diễn giới thiệu thành công  bộ môn nghệ thuật truyền thống Múa rối nước  » độc nhất vô nhị  » với cộng đồng khán giả tại 5 thành phố  của  Pháp như :  Lyon, Mougins, Sainte- Maxime, Noisiel, Mulhose.

Khán giả  yêu thích văn hóa cổ truyền Việt Nam, yêu thích nghệ thuật Múa rối nước lại được thưởng thức một chương trình múa rối cùng những giai điệu âm nhạc  truyền thống  đặc sắc, hấp dẫn, chất lượng ngay tại đất Pháp . Với hàng ngàn  khán giả qua 31 buổi diễn của Nhà hát đã được đón nhận, đánh giá cao qua các bài báo và nhiều tràng vỗ tay không ngớt khi buổi biểu diễn kết thúc. Đây là niềm vui, vinh dự tự hào của các nghệ sĩ Nhà hát múa rối Việt Nam.

Qua chương trình giới thiệu biểu diễn này, Nhà hát lại có dịp quảng bá văn hóa truyền thống của dân tộc với bạn bè thế giới,  khẳng định vị thế của bộ môn nghệ thuật cổ truyền Múa rối nước Việt Nam cần được bảo tồn, phát triển và hòa nhập với xu hướng phát triển toàn cầu hóa của văn hóa.

Tin liên quan

Xét tuyển viên chức năm 2020 – 2021

22/12/20

Festival Múa rối « Giấc mơ xanh » năm 2018

21/08/18

Phỗng lên đồng

20/07/18

WATER PUPPET IN THE CULTURAL INTEGRATION

21/05/18 Nhà Hát múa rối Việt Nam   Địa Chỉ: 361 Trường Chinh, Thanh Xuân, Hà Nội   Điện thoại: (024) 3853.4545 – (024) 3853.1333   Fax: (024) 38538674   Email: nhahatmuaroivn@gmail.comnhahattrunguong@gmail.com   Website: nhahatmuaroivietnam.vnvietnampupetry.com

Hỗ Trợ

Kết nối với chúng tôi

https://www.facebook.com/plugins/page.php?href=https%3A%2F%2Fwww.facebook.com%2Fvietnampuppetry%2F&tabs=timeline&width=270&height=200&small_header=false&adapt_container_width=true&hide_cover=false&show_facepile=true&appId=1414484558595030 Copyright Ⓒ Nhà Hát Múa Rối Việt Nam. All right reserved

http://nhahatmuaroivietnam.vn/vi/nha-hat-mua-roi-viet-nam-bieu-dien-thanh-cong-tai-cong-hoa-phap

AUDREY VIAULT : BnF GALLICA blog :Chants et musiques du Viêt Nam

https://gallica.bnf.fr/blog/03122020/chants-et-musiques-du-viet-nam?mode=desktop

Skip to main contentAller directement aux sélections documentaires

logo BnF
logo Gallica

Recherche avancée

Le Blog
Gallica
La Bibliothèque numérique
de la BnF et de ses partenaires

Version imprimable

Chants et musiques du Viêt Nam

Escales sonores 0

Les collections sonores de la Bibliothèque nationale de France conservent de nombreux disques de musiques et chants asiatiques. Ses collections s’enrichissent aujourd’hui d’un ensemble de disques vietnamiens enregistrés dans les années 1940-1960. À cette occasion, Gallica vous propose une escale sonore au Viêt Nam et de (re)découvrir la culture musicale de ce pays.

Collections sonores : enregistrements vietnamiens
(Illustration : disque du label Viêt Nam, coté SD 78 25-26097)
  La Bibliothèque nationale de France conserve dans ses collections des enregistrements de musiques vietnamiennes, les plus anciens étant datés du tout début des années 1910. Qu’ils soient sur disques édités ou inédits, pressés par des labels occidentaux ou vietnamiens, ces enregistrements proposent un panorama intéressant des différents genres musicaux de la culture vietnamienne, reflets de la longue histoire, riche et mouvementée, de ce pays surnommé encore le « Dragon de l’Asie », ses frontières évoquant la silhouette de cet animal légendaire.

Le Viet Nâm : un pays au carrefour des peuples et des civilisations

Parti de la Chine méridionale pour parvenir jusqu’au delta du fleuve Rouge dans un premier temps, le peuple des « Viêts du Sud » n’occupera que très progressivement le territoire que l’on connaît aujourd’hui. Ayant été environ mille ans sous occupation ou protectorat chinois, le Viêt Nam est l’un des pays d’Asie dont la culture est historiquement la plus proche de celle chinoise. C’est sous la dynastie chinoise des Tang que ce pays sera appelé Annam, le « Sud pacifié », nom que l’Occident lui donnera très longtemps. Il faudra attendre le Xe siècle et l’affaiblissement du pouvoir central chinois pour que le Đại Việt (« Grand Viêt ») devienne un royaume indépendant, entreprenne sa « Marche vers le sud », le Nam Tiến, et qu’il conquière en quelques centaines d’années plusieurs territoires (tels que ceux du royaume « indien » de Champâ et de l’empire Khmer) qui formeront ses frontières actuelles. Mais cela sans perdre sa relation privilégiée avec la Chine, reconnue comme une puissance suzeraine.
Au début du XIXe siècle, sous la dynastie des Nguyên, et après des années de division entre nord et sud, le pays prend le nom de Viêt Nam. Jusqu’alors en bons termes avec la France, les relations des deux pays tournent au conflit lorsque que le Viêt Nam opère un repli et une fermeture au commerce étranger. En 1858, la France du Second Empire annexe le sud du pays et en fait une colonie appelée Cochinchine. Suite à la guerre franco-chinoise, la France s’empare également du nord du pays, le Tonkin. Les trois régions du Viêt Nam passent alors sous le statut de protectorat français : le Tonkin au nord, l’Annam au centre et la Cochinchine au sud, et sont intégrées à l’Indochine française en 1887. vn_ap564.jpeg
Cô hoai và kê’ : hát xâm (années 1910)
Chant de femmes et accompagnement d’instrument à cordes
(certainement un đàn bầu ou un đàn nhị) et de percussions
Le Hát xẩm est un type de musique populaire de la région nord du Viêt Nam.
Les thèmes de cette musique sont généralement des histoires populaires
vietnamiennes,souvent d’origine littéraire, telles que le conte de Kiều. 
Les chants en étaient souvent interprétés par des aveugles
Disque Ciné-phono Pathé AP-564
(disque destiné à être utilisé en synchronisation avec un appareil de projection de film)

Les premiers enregistrements de musique vietnamienne

Dès les premières années du XXe siècle, des maisons d’édition phonographique comme la Gramophone Compagny, la Victor Talking Machine Company ou encore Pathé commencent la collecte et l’édition d’enregistrements de musiques non occidentales. On peut écouter plusieurs de ces disques dans les collections de la BnF dont certains de musique vietnamienne.

vn_victor_nostalgie_0.jpg
Bãi vḁng cổ hoài lang [chant de nostalgie]
Chant de jeune femme et accompagnement instrumental
Disque Victor 43531 (années 1920)
  Cette musique est à l’image de son pays : complexe et riche, fruit de la rencontre et coexistence de plusieurs cultures et de sa forte créativité.
Ses deux influences principales historiques sont la musique chinoise (modes, gamme pentatonique des « Cinq éléments de la nature ») et la musique indienne (variations rythmiques). Il naît une musique particulière à Huê, l’ancienne cité impériale, au centre du pays. Cette musique de cour (Nhã nhạc, la « musique élégante ») est écrite et parfaitement codifiée. Il existe aussi une culture musicale populaire, de tradition orale.
La musique vietnamienne regroupe ainsi plusieurs genres : la musique classique (Đại nhạc, la « grande musique »), héritée essentiellement de celle chinoise, la musique de cour et de cérémonie, la musique populaire (riche et variée, des différentes régions et nombreuses ethnies du pays), les musiques de théâtre, sans oublier la musique religieuse d’inspiration bouddhique. Il existe aussi une musique mixte, « d’amateurs », née à la fin du XIXe siècle, où s’entend notamment l’influence occidentale moderne. Sans oublier la « musique rouge » (Nhạc đỏ), la musique communiste, apparue au début du XXe siècle en réaction à l’occupation française, et qui s’oppose donc à une « musique dorée » (Nhạc vàng), très sentimentale et très appréciée par une partie de la population.

Cette richesse musicale s’incarne également dans la grande variété des instruments, hérités d’autres cultures ou parfois propres à la musique vietnamienne.
Elle doit aussi la beauté de ses chants, tour à tour gais, tendres, plaintifs ou mélancoliques, à la langue vietnamienne elle-même, usant de six tons différents et donc déjà par essence « mélodique », et à l’originalité de ses techniques vocales : l’une d’entre elles, est une technique de vibrato vocal sophistiqué appelé do hot (ou đổ hạt ; littéralement : « verser des grains de perles »), comparable au tahrir iranien ou au tana indien. Cette technique est caractéristique des voix des chanteuses professionnelles de la musique du « Ca trù » (poésie chantée de la région nord du Viêt Nam)

vn_columbia_danse_jolie.jpg

Bản Xuan-Tinh : Dìa lấv Hếng bằng diền : Đờn theo điệu tài-tử ;
Bản Ngủ-Bối-Hạ : Dìa lấv Hếng bằng diền : Đờn theo điệu tài-tử

Disque Columbia GF 649 (années 1920-1930)

Tỳ bả. Tiếp theo
Có trống chầu / Cô Chu-Thị Năm túc Thuy-Vân
Disque Columbia GF 508 (années 1920-1930)
Le đàn tỳ bà, ou  tỳ bà, est une vièle à quatre cordes, très semblable au pipa chinois.
 

vn_victor_43469_hat_noi_cai_tru.jpg
Hát Nói. Xuân Khứ xuân Lai xuân Bât tân
Disque Victor 43469 (ca années 1920)
Le hát nói est une forme unique de poésie traditionnelle vietnamienne, née du ca trù (ou hát ả đào) .
Caractéristique du nord du Viêt Nam, cette musique séduisante (pouvant être dansée)
s’appuie sur un répertoire de chants de divertissement, cultuels ou de rivalité.
Les interprètes sont le plus souvent des jeunes femmes, souvent accompagnés d’un luth ou d’un tambour.
Depuis les années 1980, plusieurs artistes travaillent à en revitaliser le genre.
 

L’exposition coloniale internationale de 1931 : le Viêt Nam à Paris

Une autre série d’enregistrements est également d’un grand intérêt : les enregistrements réalisés lors de l’Exposition coloniale internationale de Paris de 1931. Ce contexte particulier donnera l’occasion au Musée de la Parole et du Geste (Institut de phonétique) d’obtenir la permission auprès du gouvernement français d’entreprendre, avec le soutien de la firme Pathé, l’enregistrement des traditions musicales de différents pays des colonies françaises. Sous la direction de l’historien d’art Philippe Stern, plus de vingt heures d’enregistrements seront produits : loin d’appartenir au registre d’un simple folklore « exotique », cette collecte musicale sera une pierre angulaire et fondatrice de l’histoire de l’ethnomusicologie. De nombreux artistes professionnels et amateurs seront enregistrés mais aussi photographiés durant leurs performances : sur ces clichés, on peut alors découvrir non seulement des visages mais également les instruments de musique traditionnels, et la façon dont ils sont joués par les musiciens. On trouve ainsi dans cette collection des disques de musique vietnamienne.   vn_dan_bau_1931.jpeg
Face A : Dao-Duyen et Han-Van. Face B : Huê Tinh
Nguyên Song, solo de cithare monocorde đàn bầu 
Disque AP-2657 (Exposition coloniale de 1931)
Le đàn bầu est un instrument spécifiquement vietnamien : une corde de soie est tendue
sur une caisse de résonance de bois dur ou de bambou.
Il est souvent utilisé pour des récits et des chants au rythme doux.

vn_expo_2_etiquette.jpeg
Do-Dua : chant de bateliers
Nguyen Song, chant, orchestre Bat-Âm
Disque AP-2659 (Exposition coloniale de 1931)
Le hát đò đưa désigne plus précisément le chants des sampaniers.
C’est un chant du Centre du Viêt Nam, appartenant au genre des chants
(chants de travail) et plus spécifiquement des hò nước(chants sur l’eau).
Ce chant trouve son opposé dans le genre du chant lý, le chant d’amour, de nostalgie ou de divertissement.vn_expo_2_photo_orch.jpeg
Une photographie des musiciens vietnamiens de
l’Exposition coloniale internationale de Paris (1931)   vn_expo_2_photo_luth_dan_nhi.jpeg
Joueurs de vièle à deux cordes đàn nhị (ou đàn cò)
Exposition coloniale internationale de Paris (1931)

La musique sud-vietnamienne en temps de guerre

Les années 1930 marquent un tournant dans l’histoire du Viêt Nam : de nombreux soulèvements nationalistes, organisés par le Parti communiste indochinois dirigé par le futur Hô Chi Minh, sont sévèrement réprimés. Après la Seconde Guerre mondiale, le système colonial français ayant été démantelé par l’occupant japonais, le front nationaliste dirigé par Hô Chi Minh, le Viêt Minh, finit par prendre temporairement le pouvoir. Après de nombreux retournements de situation et négociations, ce conflit  aboutit fin 1946 à la guerre d’Indochine. Avec le soutien de la Chine, le Viet Minh prend l’avantage.
Le pays se trouve alors séparé en deux : les communistes au Nord (République démocratique du Viêt Nam), le gouvernement de l’empereur Bảo Đại au Sud. Après la défaite et le retrait des Français entériné par les accords de Genève de 1954, Bảo Đại amorce une proposition d’accord ayant comme objectif la réunification mais son premier ministre, Đình Diệm, s’y oppose, le renverse et proclame la République : les deux jeunes républiques deviennent des soeurs ennemies.

vn_oria_hymne_sud.jpg
Thanh Niên : « jeunesse », chant patriotique
Thằm Oánh, chant ; orchestre
Disque Oria 522 (1949)
Thanh niên Hành Khúc était l’hymne officiel du Sud-Viêt Nam de 1948 à 1975. S’ouvre alors à nouveau une longue période de conflit, d’instabilité et de grande violence. Pourtant, la musique vietnamienne et l’édition phonographique vont continuer de prospérer dans la partie sud du pays.
Dans les années 1920, les colons français avaient emporté avec eux des rythmes latins, et Saïgon, « la perle de l’Asie », dansait sur les rythmes du mambo, de la rumba, du cha-cha-cha ou encore du tango, les artistes vietnamiens les intégrant aussi à leurs compositions.
vn_mambo_bolero_1.jpg
Bức tâm thư : mambo boléro / Chiều hành quân : boléro
Phương Minh Phụng, comp. ;
Tuyết Nhung, chant  / Hùng Cường, chant
Hải-Son, dir. d’orchestre
Disque Tân Thanh 1021-1022 (fin des années 1950)
  À partir des années 1960, la présence dans le sud du pays de l’armée américaine, succédant à celle française, apporte de nouveaux rythmes aux artistes vietnamiens, qui s’en emparent et les adaptent à nouveau avec talent. En pleine guerre, Saïgon découvre les rythmes pop, soul et rock’n’roll – et même hawaïens, des tubes classiques du répertoire, et interprétés en vietnamien par des groupes locaux.
vn_hawai.jpeg
Honolulu moon : hawaian rythms
Groupe instrumental vietnamien
Disque Oria 552 (années 1960)
  Cette nouvelle musique est appelée Nhạc vàng, la « musique dorée », ou Nhạc trẻ, la « musique de jeunes », et propose les thèmes traditionnels au genre : amours et jeunesse. Cette musique a certes comme objectif de divertir les troupes et la population locale, mais elle n’est pas sans arrière-pensée politique : un discours de soutien à la guerre en explique également la promotion. De nombreux groupes vietnamiens recevront la promotion financière de l’armée américaine.Certains registres de cette musique sont consacrés à la glorification de la patrie, sa beauté et à sa victoire prochaine.
Ces nouveaux rythmes venus d’Occident intègreront également des compositions plus traditionnelles et influenceront durablement la musique vietnamienne.

De nombreux labels locaux vont ainsi continuer à voir le jour dans le sud du pays, à partir des années 1950 et surtout dans les années 1960, surfant sur cet incroyable et étonnant essor de la musique et de sa diffusion : Viên Dông, Viet Nam, Tân-Thanh, Sơn ca, Viêt Thanh, Trường Sơn, Lam Sơn, ou bien encore Nghệ Sĩ.

 

vn_tantanh_genial_0.jpg
Tình lúa duyên trăng : mambo boléro
Hoài-An, aut.-comp. ; Ánh Tuyết, va ban Hoài-An, duo voc. ; Ban nhạc Hoàng-Trong
Disque Tân-Thanh 201-202 (années 1960)
  De très nombreux disques seront pressés pendant cette période, parfois sur des matériaux improbables et de toutes couleurs, la pénurie des ressources en temps de guerre obligeant à une certaine ingéniosité.
vn_disque_rouge_cai_luong.jpg
Opéra populaire moderne. Nữ Chúa 1 Đêm : [Cải lương]
Trần-Hà, comp. ; Út Trà Ôn, Tấn Tài, Dũng Thanh Lâm, Bạch Tuyết, et al.,  interprètes
Disque Viêt Nam M 6852 (ca. 1968-69)
Le Cải lương est un théâtre rénové, encore très populaire aujourd’hui.
Né au XIIe siècle, il sera adapté au XIXe siècle, en intégrant à la tradition, la modernité et une certaine influence française.
Ce théâtre traite de thèmes historiques et contemporains. 
(On peut le retrouver sous forme de programmes télévisés fréquemment et il est apprécié encore de nos jours)
  La victoire des forces militaires communistes du Nord et la chute de Saïgon en 1975 marquent la fin de cette période musicale effrénée. Cette production phonographique sera presque systématiquement détruite, disques et matrices incluses : Saïgon « la perle d’Asie » est devenue « Saïgon la putain ». Hanoï « la prude » donne désormais le ton par un retour vers une musique beaucoup plus traditionnelle et surtout conforme aux valeurs du nouveau régime. L’ancien mode de vie est vu comme décadent : plus de deux millions d’artistes et civils fuient, emportant avec eux parfois quelques disques.
Un proportion relativement faible de ces éditions phonographiques a été sauvée, souvent en mauvais état, véritable trésor recherché par les collectionneurs et dont la Bibliothèque nationale de France conserve une trentaine de références.

Une nouvelle génération d’artistes

Cette période historique mouvementée est aussi celle qui voit l’épanouissement musical de grands artistes vietnamiens, nés entre les années 1910 et 1940, comme les célèbres compositeurs Đào Sĩ Chu, Phạm Duy Cẩn, Nguyễn Văn Cao, Nguyễn Thanh Tùng, Hoàng Trọng. Le compositeur Trịnh Công Sơn, surnommé le « Bob Dylan vietnamien » en raison de ses convictions et oeuvres musicales pacifistes, verra la diffusion de ses oeuvres interdite sous la république de Đình Diệm comme sous le régime d’Hanoï. Đào Sĩ Chu tient une position particulière parmi ces artistes vietnamiens. Né en 1911 au sein d’une famille d’intellectuels de Hanoï, il fera ses études en France et y retournera en 1949 pour y étudier la peinture. Reconnu dans cet art, il sera également un excellent compositeur, opérant une symbiose entre la musique occidentale des conservatoires et les couleurs de la musique vietnamienne : il signera un contrat avec la maison de disque Pathé pour laquelle il enregistra de nombreuses oeuvres patriotiques et romantiques.
vn_dao_si_chu_0.jpg
Cố-hương  [Pays natal]
Đâo-Sĩ-Chu, paroles et musique
Hoàng-Lan, chant et accompagnement instrumental
Disque Pathé PA 2854 (1952)
Lam-sỏn [marche]
Đâo-Sĩ-Chu, paroles et musique
Hoàng-Lan, chant et accompagnement instrumental
Disque Pathé PA 2855 (1952)
Lam Sơn : évocation des montagnes du nord du Vietnam, 
d’où la dynastie des Lý organisa la lutte contre les Ming au XVe s.
  Le compositeur Phạm Duy (1921-2013) est certainement l’un des compositeurs les plus emblématique et populaire du Viêt Nam. Ses oeuvres reflètent les évolutions politiques, sociales et artistiques de son pays, Phạm Duy fait entrer la musique de son pays dans la modernité, opérant une synthèse entre les anciens répertoires traditionnel et populaire et la nouvelle musique (tân nhac). Comme il le dira lui-même lors d’une interview donnée à la BBC en 1993 : « Je devais commencer ma création par des chansons véhiculant l’esprit du Viêt Nam, et de plus, avec les ingrédients du Viêt Nam ».
Il créera plus d’un millier de chansons évoquant les beautés de sa terre natale, mais aussi des chansons patriotiques et sentimentales. Il sera à l’origine de nombreuses traductions de chansons occidentales, rencontrant là aussi un franc succès. Devant fuir également son pays en 1975, il composera également des chansons pour ses compagnons d’exil.
vn_pham_duy_0.jpg
Tình Nghèo : dân ca (chanson populaire)
Phạm Duy , comp. / Mlle Thái Thanh, chant ;
Thang-Long, groupe voc. et instr. ; Võ Đức Thu, dir.
Disque Viêt Nam [sans réf] (ca. 1960) Ces compositeurs ont souvent offert à de nombreux artistes vocaux l’occasion d’être découverts et connaître une formidable carrière. On retiendra par exemple les chanteuses Thái Thanh, Út Bạch Lan, Lệ Thủy, ou Ngọc Cẩm, et leurs homologues masculins Út Trà Ôn, Trần văn Trạch, Ngọc Bảo et Nguyễn Hữu Thiết, dont les traits sont parfois immortalisés sur les étiquettes et pochettes des disques.

vn_ut_tra_on.jpeg
Cuối đời
Út Trà Ôn, chant
Disque Trường Sơn [sans réf.] (ca. 1960)

vn_duo_vocal.jpg
 ►  Hai bức thơ xuân (Deux poèmes de printemps)
Lê-Khanh, aut.-comp.
Thành Dược, Út Bạch Lan, duo vocal ;
Ba Dư, tranh (xylophone) ; Sáu Lời, guit. ; Ngọc Sáo, sao (flûte)
Disque Nghệ Sĩ 0004 (ca. 1960)vn_image_duo_vocal.jpg
Pochette du disque Nghệ Sĩ 0004 (ca. 1960)  

vn_pochette_album_homme_et_femme_redim_texte_2.jpg
Recto de la pochette d’un autre disque du label Lam Sơn
dont les titres sont interprétés par Út Bạch Lan et Phá Ca (ca 1960) Les disques conservés à la Bibliothèque nationale de France offrent donc l’occasion d’entendre de superbes interprétations d’oeuvres composées et interprétées par ces artistes vietnamiens, témoignant d’une singularité et d’une puissance créatrice vive, intégrant les caractéristiques intrinsèques de la musique vietnamienne « traditionnelle » et les apports réguliers de la musique occidentale moderne et contemporaine.

vn_album_final.jpg
Opéra populaire moderne – Áo Cưới Trước Cổng Chùa
[Cải lương]
Thanh-Huong, Bach-Huê, Kim-Anh, [et al.], chant ;
Năm Cơ, Bảy Bá, Văn Vĩ, ens. instr.
Album – Disques Lam Sơn (ca. 1960)

vn_pochette_album_groupe_hommes_0.jpg
Verso d’une des pochettes contenant les disques
de l’album des disques Lam Sơn (ca. 1960)

Pour aller plus loin

Quelques ressources documentaires

  • Les musiques du Vietnam d’hier à aujourd’hui. Entretien avec Trân Quang Hai, 2003. Consultable en ligne [dernière consultation : 12.11.2020].
  • L’incroyable rock, funk et soul 60 & 70’s du Vietnam. Jean Morel, Nova Planet, 2017. Consultable en ligne [dernière consultation : 12.11.2020].
  • « Trản văn Khê : La musique vietnamienne traditionnelle [compte-rendu] ». Văn Håo Lê. Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient. Tome 52 N°2, 1965. Consultable en ligne  [dernière consultation 12.11.2020]
  • « Le grand compositeur Phạm Duy s’est éteint laissant derrière lui une « oeuvre patrimoniale », François Guillemot, Indomémoires, 2013. [dernière consultation : 12.11.2020]

Ajouter un commentaire

Votre nom Objet Commentaire *

Plus d’information sur les formats de texte

  • Aucune balise HTML autorisée.
  • Les adresses de pages web et de courriels sont transformées en liens automatiquement.
  • Les lignes et les paragraphes vont à la ligne automatiquement.

Je cherche des billets sur…

Catégories

Abonnez-vous

Nouveaux billets

ACCÈS RAPIDE

EN SAVOIR PLUS

Contact us

SERVICES MOBILES

DOWNLOAD GALLICA APPLICATION Gallica Application available on the App Store (new window)Gallica Application available on Google Play (new window)

AUTRES SITES

RETROUVER GALLICA SUR

Facebook (new window)Twitter (new window)Pinterest (new window)Instagram (new window)Gallica’s BlogEspace personnel (new window)Panier (new window)

En poursuivant votre navigation sur ce site, vous acceptez l’utilisation de cookies nécessaires à la réalisation de statistiques et d’études d’usages ainsi qu’au fonctionnement des boutons de partage sur les réseaux sociaux. [En savoir plus…]

TS NGUYỄN GIÁO: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam từ sau Đổi mới đến nay

Xây dựng nền văn hóa Việt Nam từ sau Đổi mới đến nay

25/09/2020

TS. NGUYỄN GIÁO

Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

1. Quan điểm của Đảng về văn hóa từ sau Đổi mới đến nay

Chúng ta đều biết Đại hội VI diễn ra năm 1986 đã nêu lên phương hướng, mục tiêu chủ yếu cho giai đoạn 1986 – 1990, trong đó “thể hiện các quan điểm của Đảng về chuyển hướng cơ cấu kinh tế và điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư, về cải tạo xã hội chủ nghĩa và đổi mới cơ chế quản lý phù hợp với đặc điểm nước ta trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”[1]. Đại hội VII tiếp tục chủ trương đổi mới các lĩnh vực của đời sống xã hội và khẳng định quyết tâm thúc đẩy hơn nữa việc này nhằm đưa đất nước đi vào thế ổn định và phát triển. Hai kỳ Đại hội trên ưu tiên tập trung vào xác định đường lối phát triển kinh tế và ổn định xã hội sau một thời gian khủng hoảng và sau những biến động phức tạp của tình hình chính trị quốc tế, còn văn hóa mặc dù được quan tâm nhưng chưa được xem là vấn đề trọng tâm.

          Bước ngoặt liên quan đến văn hóa diễn ra khi Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 7/1998) ra Nghị quyết chuyên đề về “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Sự kiện vừa nêu cho thấy chuyển biến hết sức mạnh mẽ trong nhận thức của Đảng về tầm quan trọng của văn hóa bên cạnh phát triển kinh tế. Nghị quyết khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển xã hội”[2]. Ý nghĩa của bước ngoặt này thậm chí chúng ta còn chưa đánh giá được hết, khi một chính đảng vô sản khẳng định ở mức độ chưa từng có vai trò lớn lao của văn hóa – cái thuộc thượng tầng kiến trúc – đối với sự phát triển xã hội.

Đại hội IX tiếp tục khẳng định “Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Mọi hoạt động văn hoá nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội”[3]. Bước phát triển trong quan điểm của Đảng về văn hóa thời kỳ này là nhấn mạnh mục tiêu hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Theo đó, Đại hội IX đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Để đạt được mục tiêu đề ra, các chương trình hành động cũng phải được triển khai đồng bộ: “Mở rộng và nâng cao hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Xây dựng nếp sống văn minh và gia đình văn hóa”, phong trào “Người tốt, việc tốt”, làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người…”[4].

Đến Đại hội X, với quan điểm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, những yêu cầu: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế – xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội” và “Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bẳn sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam”[5] được khẳng định lại, tiếp nối quan điểm về văn hóa từ kỳ Đại hội trước. Đại hội lần này cũng đề ra yêu cầu đa dạng hóa các hình thức hoạt động của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng và nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống nhà văn hóa, bảo tàng, nhà truyền thống…

Đại hội XI khẳng định phương hướng “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển…” và coi “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân…”[6]. Cùng với đó, Đại hội cũng đề ra mục tiêu cho giai đoạn tiếp theo là “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật”[7]. Đặc biệt, với việc Nghị quyết Hội nghị TW 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã khẳng định mục tiêu “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[8], văn hóa một lần nữa lại trở thành vấn đề thời sự kể từ sau Nghị quyết TW 5 khóa VIII.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định đường lối: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”[9] và “Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh””[10]. Việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng con người có bước chuyển biến quan trọng: gắn nhiệm vụ xây dựng văn hóa, con người với nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước; gắn xây dựng môi trường văn hóa với xây dựng con người; bước đầu hình thành những giá trị mới về con người với các phẩm chất về trách nhiệm xã hội, ý thức công dân, dân chủ, chủ động, sáng tạo, khát vọng vươn lên. Mục tiêu được đề ra trong Đại hội XII là: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh””[11]. Trong đó, “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện” phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển.

Tóm lại, thời gian đầu sau Đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đặt trọng tâm chú ý vào việc phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và việc cải tạo, xây dựng, phát triển nền văn hóa dân tộc cũng chủ yếu là để phục vụ mục tiêu đó; tuy nhiên, quan điểm của Đảng về văn hóa sau này đã có những vận động rất quan trọng. Dấu mốc trong sự phát triển nhận thức của Đảng, như đã nói, được thể hiện cụ thể qua việc ra đời Nghị quyết TW 5 khóa VIII và Nghị quyết TW 9 khóa XI. Văn hóa dần được coi là lĩnh vực then chốt bên cạnh kinh tế, trong đó con người được nhìn nhận là trung tâm trong chiến lược phát triển bền vững. Việc nhấn mạnh đến con người trong nhận thức này của Đảng phù hợp với quan điểm tiến bộ về văn hóa trên thế giới hiện nay.

2. Kết quả từ thực tiễn

Sau khi Nghị quyết TW 5 khóa VIII với sự nhấn mạnh đến yêu cầu xây dựng nền văn hóa, xây dựng con người Việt Nam ra đời và yêu cầu này tiếp tục được khẳng định ở những kỳ Đại hội tiếp theo, các chương trình hành động tương ứng cũng đã được triển khai nhằm đạt được mục tiêu đặt ra như phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Xây dựng nếp sống văn minh và gia đình văn hóa”, “Người tốt, việc tốt”… Trong đó, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” là quan trọng nhất. Phong trào này được Trung ương khởi xướng và phát động từ năm 2000 với mục đích tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh, giúp người dân nâng cao chất lượng cuộc sống. Nó bao gồm 05 nội dung (đoàn kết giúp nhau xóa đói, giảm nghèo; thực hiện nếp sống văn minh, kỷ cương pháp luật; xây dựng môi trường văn hóa; xây dựng và tổ chức hoạt động các thiết chế văn hóa thể thao; xây dựng tư tưởng chính trị lành mạnh) và 07 phong trào cụ thể (Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; Xây dựng gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa, cơ quan, đơn vị đạt chuẩn văn hóa; Rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại; Lao động, học tập sáng tạo và xây dựng người tốt việc tốt). Cùng với việc phát động phong trào là việc thành lập Ban chỉ đạo xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương để triển khai thực hiện.

Mặc dù phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã góp phần ổn định an ninh chính trị, xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, tiến bộ và giúp người dân nâng cao chất lượng cuộc sống, thực tế cho thấy kết quả thực hiện phong trào vẫn còn những hạn chế. Không ngẫu nhiên mà tại Đại hội X, Ban chấp hành TW khóa IX thừa nhận: “Việc xây dựng nếp sống văn hóa chưa được coi trọng đúng mức. Tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo ngại, nhất là trong lớp trẻ. Quản lý nhà nước về văn hóa còn nhiều sơ hở, yếu kém. Đấu tranh ngăn ngừa văn hóa phẩm độc hại chưa được chú ý đầy đủ, còn nhiều khuyết điểm, bất cập”[12]. Trong thực tiễn hoạt động, phong trào này bị đánh giá là chưa đồng đều, thiên về bề nổi, hiệu quả thấp và bên cạnh đó, hoạt động của Ban chỉ đạo ở một số địa phương còn nặng tính hành chính…[13]. Cùng với bệnh thành tích, một hạn chế đáng chú ý của phong trào là đã triển khai chương trình một cách duy ý chí, không căn cứ vào thực tiễn nên hiệu quả không đáng kể hoặc thậm chí nhiều khi còn không đi được vào đời sống. Việc xây dựng nhà rông văn hóa ở khu vực Tây Nguyên là một ví dụ. Các nhà rông văn hóa này chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân về một ngôi nhà chung của cộng đồng khi nó khác biệt quá nhiều so với nhà rông truyền thống cả về hình thức, chức năng, và tính thiêng. Về hình thức, nhà rông văn hóa hầu như được “bê tông hóa” và “tôn hóa” thay vì được xây dựng bằng những vật liệu thiên nhiên quen thuộc. Về chức năng, chúng không còn gắn bó chặt chẽ với các sinh hoạt tập thể tự thân của cộng đồng mà nhìn chung chỉ còn là nơi tập hợp người dân để phục vụ cho mục đích tuyên truyền chính trị của chính quyền. Về tính thiêng, chúng không chứa đựng yếu tố nào liên quan đến tín ngưỡng của người dân. Cũng vì vậy mà không ít nhà rông văn hóa bị bỏ hoang, hư hỏng[14]. Từ trường hợp trên, có thể thấy cách thức triển khai phong trào còn có những điểm chưa phù hợp với thực tiễn, chưa đáp ứng được mục tiêu đặt ra. 

Giai đoạn sau đó, tuy Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI nhận định: “Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin, thể dục, thể thao ngày càng mở rộng, từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” từng bước đi vào chiều sâu”[15], nó cũng nhấn mạnh: “Văn hóa phát triển chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế. Quản lý văn hóa, văn nghệ, báo chí, xuất bản còn thiếu chặt chẽ. Môi trường văn hóa bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu niên, rất đáng lo ngại”[16]. Báo cáo đồng thời cũng đề ra phương hướng củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú và đa dạng, trong đó xác định “Đưa phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả; xây dựng nếp sống văn hóa trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, làm cho các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt đời sống…”[17].

Đến Đại hội XII, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW khóa XI tại Đại hội đánh giá: “… bước đầu hình thành những giá trị mới về con người với các phẩm chất về trách nhiệm xã hội, ý thức công dân, dân chủ, chủ động, sáng tạo, khát vọng vươn lên. Hệ thống thể chế và thiết chế văn hóa từng bước được tăng cường… Đời sống văn hóa của nhân dân được cải thiện. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã khơi dậy được nhiều giá trị nhân văn trong cộng đồng. Việc xây dựng môi trường văn hóa đã được chú trọng hơn”[18]. Tuy nhiên, Báo cáo cũng nhận định: “so với những thành quả trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thành quả trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng; chưa đủ tầm mức để tác động có hiệu quả xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh. Đạo đức, lối sống có mặt xuống cấp đáng lo ngại. Đời sống văn hóa tinh thần ở nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu; khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân chậm được rút ngắn. Môi trường văn hóa còn tồn tại những biểu hiện thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục; tệ nạn xã hội và một số loại tội phạm có chiều hướng gia tăng…”[19].

Liên tiếp các kỳ Đại hội gần đây là Đại hội XI và XII, văn kiện của Đảng đều đánh giá rằng văn hóa phát triển chưa tương xứng với các lĩnh vực khác. Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất, theo chúng tôi, là quan điểm tiếp cận trong xây dựng chính sách và triển khai hành động còn nhiều bất cập. Như ta biết, văn hóa luôn đa dạng và vận động không ngừng. Mỗi một vùng miền lại có một văn hóa riêng và nó luôn biến đổi theo nhu cầu của con người – chủ nhân của văn hóa. Thế nhưng, các chính sách và việc triển khai chính sách liên quan đến văn hóa của Nhà nước còn cứng nhắc, chưa phù hợp. Cụ thể, việc xây dựng một nền văn hóa theo mô hình chung, không căn cứ vào tính đa dạng và tính thường biến của đối tượng sẽ dẫn đến sự nhất thể hóa, bất biến hóa văn hóa một cách khiên cưỡng. Với lĩnh vực đang bàn, các chính sách đưa ra cần phải phù hợp với nguyên tắc tôn trọng đặc trưng của từng vùng miền cụ thể và tôn trọng quyền tự chủ của người dân. Nói cách khác, các chính sách này nên được xây dựng trên tinh thần “tạo điều kiện” chứ không phải “làm thay” như trước. Tức là, việc xây dựng nền văn hóa phải được trao cho bản thân người dân còn Nhà nước chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Sở dĩ phải làm như vậy là bởi xét đến cùng thì văn hóa là của nhân dân, do nhân dân sáng tạo nên.

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, nền văn hóa mới cần hội tụ các tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng[20]. Trong đó, nền văn hóa mang tính đại chúng được hiểu là nền văn hóa do đại chúng nhân dân xây dựng. Ở góc độ này, việc xây dựng con người là nhiệm vụ quan trọng nhất. Thế nhưng, nhìn cụ thể hơn vào mục tiêu xây dựng con người Việt Nam, vốn đã được xác định là nhiệm vụ hàng đầu trong các nhiệm vụ về văn hóa, có thể thấy những vấn đề đáng báo động. Chúng ta đều biết rằng, Hội nghị TW 5 khóa VIII lần đầu đặt ra việc xây dựng con người Việt Nam đi liền với xây dựng nền văn hóa dân tộc và các kỳ Đại hội tiếp theo dần xác định cụ thể hơn điều này. Ví dụ, Hội nghị TW 9 khóa 11 là bước phát triển hơn trong quan điểm khi khẳng định việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển và đồng thời cũng là nhiệm vụ hàng đầu trong các mục tiêu, nhiệm vụ về văn hóa. Thế nhưng, kết quả thực hiện lại không như kỳ vọng. Báo cáo chính trị tại Đại hội XII nêu rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi. Tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp; đạo đức xã hội có mặt xuống cấp nghiêm trọng”[21].

Những hạn chế trong thực hiện mục tiêu xây dựng nền văn hóa, xây dựng con người Việt Nam là vấn đề thời sự trước thềm Đại hội XIII. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế trong xây dựng nền văn hóa là chính sách và việc triển khai thực hiện của hệ thống các cơ quan quản lý trong hệ thống quản lý nhà nước chưa phù hợp với thực tiễn cuộc sống và tính chất của văn hóa, chưa tương ứng với quyết tâm chính trị của Đảng. Báo cáo chính trị tại Đại hội XII xác định nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém “chủ yếu là do nhiều cấp uỷ, chính quyền nhận thức chưa đúng tầm quan trọng và chưa quan tâm đầy đủ lĩnh vực này; lãnh đạo, chỉ đạo chưa thật quyết liệt. Việc cụ thể hóa, thể chế hóa nghị quyết của Đảng còn chậm, thiếu đồng bộ. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa chậm được đổi mới, có lúc, có nơi bị xem nhẹ, thậm chí buông lỏng. Đầu tư cho lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng và còn dàn trải”[22]. Đối với việc xây dựng con người Việt Nam, nhiều ý kiến thống nhất rằng nguyên nhân quan trọng là do hệ thống giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu. “Xét cho đến cùng, những sai lầm, khuyết điểm, hạn chế của con người Việt Nam nói chung đều là do những sai lầm, khuyết điểm, hạn chế của công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực này mà ra”[23]. Con người là kết quả quá trình xã hội hóa thông qua giáo dục từ gia đình, nhà trường và xã hội, mà như ta biết, những gì được học trong quá trình đó sẽ là nền tảng để tạo nên con người văn hóa. Và, với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa, mỗi cá nhân trong cộng đồng sẽ góp phần tạo nên văn hóa của cộng đồng. Có thể nói, nền văn hóa dân tộc được hình thành và phát triển như thế nào là do mỗi con người với tư cách là con người văn hóa được hình thành thông qua giáo dục quyết định. Vấn đề là ở chỗ, sự giáo dục nhân cách con người hiện đang bị coi nhẹ trong xã hội và ngay cả hệ thống giáo dục cũng có hạn chế như Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW tại Đại hội XII đã chỉ ra: “… giáo dục và đào tạo chưa thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, thành động lực phát triển. Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu”[24].

Kết luận

Như đã nói, văn hóa luôn mang tính đa dạng và biến đổi. Thế nhưng, cho đến nay các chính sách về văn hóa của Nhà nước ta lại chưa quan tâm đúng mức đến sự đa dạng văn hóa ở một đất nước vốn có nhiều dân tộc và nhiều vùng địa lý mang những đặc điểm khác biệt. Bên cạnh đó, việc triển khai các hoạt động liên quan đến chính sách cũng chưa phù hợp khi nhà nước, chứ không phải người dân, lại được coi là chủ thể hoạt động và như vậy là chưa đúng với tinh thần xây dựng nền văn hóa đại chúng – nền văn hóa thuộc về nhân dân với những biến đổi tự thân không ngừng.

Thực tiễn xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam đặt ra nhiều thách thức trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, triển vọng cũng không hề nhỏ khi mà Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan điểm coi văn hóa là mục tiêu và động lực phát triển, coi con người là trung tâm trong chiến lược phát triển. Chủ trương của Đảng về văn hóa trong các kỳ Đại hội sẽ là nền tảng vững chắc để tạo ra những chuyển biến tích cực. Vấn đề còn lại là quyết tâm chính trị của toàn bộ hệ thống quản lý nhà nước có liên quan.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTWĐCS Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 157.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 356 – 357.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 476.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 531.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 642.

                [6] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 738.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 755.

[8] “Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9, khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, http://dangcongsan.vn/thoi-su/nghi-quyet-hoi-nghi-trung-uong-9-khoa-xi-ve-xay-dung-va-phat-trien-van-hoa-con-nguoi-viet-nam-dap-ung-yeu-cau-phat-trien-ben-vung-dat-nuoc-251604.html

[9] “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin – Truyền thông, http://www.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/117150/Cong-bo-van-kien-dai-hoi-XII-cua-dang.html­, tr. 21 – 22.

[10] “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin – Truyền thông, http://www.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/117150/Cong-bo-van-kien-dai-hoi-XII-cua-dang.html, tr. 66.

[11] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 123. 

[12] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo của BCHTW Đảng khóa IX về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 680.

[13] Xem thêm Nguyễn Hữu Thức, Về cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, Nxb. Từ điển Bách khoa & Viện Văn hóa, Hà Nội, 2009, tr. 149 – 150.

[14] Viện Nghiên cứu văn hóa – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì (2014), Vai trò của văn hóa và lối sống trong phát triển bền vững Tây Nguyên, Đề tài thuộc Chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước KHCN-TN3/11-15, Hà Nội, 2014, tr. 237 – 238.

[15] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 783.

[16] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 790.

[17] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 821.

[18] “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin – Truyền thông, http://www.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/117150/Cong-bo-van-kien-dai-hoi-XII-cua-dang.html, tr. 64.

[19] “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin – Truyền thông, http://www.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/117150/Cong-bo-van-kien-dai-hoi-XII-cua-dang.html, tr. 65.

[20] Những tính chất này được Đảng nêu ra lần đầu trong Đề cương Văn hóa năm 1943 và sau đó nhiều lần được Hồ Chí Minh nhấn mạnh, chẳng hạn trong Báo cáo chính trị đọc tại  Đại hội II (1951).

[21] “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin – Truyền thông, http://www.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/117150/Cong-bo-van-kien-dai-hoi-XII-cua-dang.html, tr. 6.

[22] “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin – Truyền thông, http://www.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/117150/Cong-bo-van-kien-dai-hoi-XII-cua-dang.html, tr. 66.

[23] Mạch Quang Thắng, “Một số vấn đề về xây dựng con người Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 8, 2018.

[24] “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin – Truyền thông, http://www.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/117150/Cong-bo-van-kien-dai-hoi-XII-cua-dang.html, tr. 54.

Nguồn: Chi bộ Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt NamIn bài viếtGửi EmailCác tin khác

https://vass.gov.vn/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/Xay-dung-nen-van-hoa-Viet-Nam-tu-sau-Doi-moi-den-nay-24

PGS, TS. Lê Thanh Bình: Giao lưu văn hóa thế giới trong chiến lược phát triển văn hóa của Việt Nam

Giao lưu văn hóa thế giới trong chiến lược phát triển văn hóa của Việt Nam

PGS, TS. Lê Thanh Bình Học viện Ngoại giao 23:32, ngày 15-07-2021

TCCS – Giao lưu văn hóa với các quốc gia, dân tộc là nhu cầu, đòi hỏi tất yếu của quá trình phát triển xã hội hiện đại. Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới năm 1986, đặc biệt là sau khi Chính phủ ban hành “Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020”, giao lưu văn hóa với các nước trên thế giới được quan tâm, đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, đổi mới về hình thức, phương pháp,… thu được nhiều kết quả quan trọng.

Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-un đánh thử nhạc cụ dân tộc Việt Nam trong tiệc chiêu đãi trọng thể chào mừng Đoàn đại biểu cấp cao Triều Tiên thăm hữu nghị chính thức Việt Nam, ngày 1-3-2019, do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chủ trì _Ảnh: TTXVN

Một số thành tựu và hạn chế về giao lưu văn hóa thế giới của Việt Nam

“Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020” (ban hành theo Quyết định số 581/QĐ-TTg, ngày 6-5-2009, của Thủ tướng Chính phủ) và “Chiến lược văn hóa đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020 với tầm nhìn đến năm 2030” (ban hành theo Quyết định số 210/QĐ-TTg, ngày 8-5-2015, của Thủ tướng Chính phủ) đã khái quát rõ bối cảnh, tình hình trong và ngoài nước; những thành tựu, thách thức liên quan đến giao lưu văn hóa, văn hóa đối ngoại. Có thể nói, đó là hai vòng tròn đồng tâm nằm trong nhau.

Ngày nay, Việt Nam có quan hệ kinh tế – thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ ở cả 5 châu lục, trong đó có 30 nước là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện; trở thành nước duy nhất tại khu vực Đông Nam Á xây dựng khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với tất cả 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các nước lớn. Việt Nam là nước có nền văn hiến lâu đời, đặc sắc, đóng vai trò ngày càng quan trọng và có nhiều đóng góp trong các mối quan hệ ở bình diện quốc tế.

Sau khi đất nước được thống nhất và sau hơn 35 năm đổi mới, đặc biệt từ khi Chính phủ ban hành chiến lược, chính sách thúc đẩy sự phát triển của văn hóa, hoạt động giao lưu văn hóa đã đạt được một số kết quả nổi bật. Việc mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại đã tạo điều kiện thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa nước ta với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, với những quy mô, tầm mức khác nhau. Nhiều hoạt động, như ngày/tuần/tháng văn hóa Việt Nam, biểu diễn nghệ thuật, lễ hội văn hóa – du lịch, chiếu phim, triển lãm sách, ảnh, sản phẩm văn hóa – nghệ thuật, hội thảo, xúc tiến, quảng bá du lịch… nhằm giới thiệu hình ảnh đất nước, con người Việt Nam liên tục được tổ chức ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Các hoạt động giao lưu văn hóa, văn hóa đối ngoại được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao và các bộ, ngành, địa phương liên quan, các cơ quan truyền thông đại chúng, các tổ chức đối ngoại nhân dân, các đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài tổ chức đã đem lại sự thấu hiểu, cảm mến, thân thiện, để lại ấn tượng đẹp đối với cộng đồng quốc tế, tạo tiền đề, điều kiện để nhiều quốc gia, tổ chức trên thế giới mong muốn, tích cực đẩy mạnh giao lưu, hợp tác với nước ta. Tại các tổ chức, như Tổ chức Du lịch thế giới của Liên hợp quốc (UNWTO), Quỹ Văn hóa dân gian quốc tế (IGF), Tổ chức Triển lãm thế giới (BIE), Tổ chức Sở hữu trí tuệ quốc tế (WIPO), Tổ chức Văn hóa – Giáo dục và Khoa học của Liên hợp quốc (UNESCO), Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP)…, đại diện Việt Nam đã thể hiện được sự năng động, tinh thần trách nhiệm, đóng góp một số sáng kiến được ghi nhận, góp phần nâng cao vị thế đất nước.

Không chỉ tổ chức ở nước ngoài, các cơ quan văn hóa còn chủ động phối hợp tổ chức nhiều sự kiện, hoạt động giao lưu văn hóa quốc tế ngay tại Việt Nam, để các tổ chức quốc tế, đoàn ngoại giao, nhà văn hóa, nhà báo, nghệ sĩ, doanh nhân, du khách,… có thể tiếp xúc, tương tác với văn hóa, con người Việt Nam. Thông qua nhiều hoạt động, Việt Nam từng bước nâng cao khả năng hội nhập văn hóa; tiếp nhận hiệu quả những giá trị văn hóa, nghệ thuật và phương thức thể hiện hiện đại, hấp dẫn, tiêu biểu của thế giới, làm phong phú và nâng tầm về cả hình thức, nội dung, giá trị các sản phẩm văn hóa dân tộc. Cùng với đó là việc thành lập và hoạt động của các cơ sở văn hóa của nhiều nước tại Việt Nam, như Viện Goethe của Đức, Thư viện Phòng Văn hóa Sứ quán Mỹ; các trung tâm văn hóa và ngôn ngữ của Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc… tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động giao lưu văn hóa của nước ta.

Tiết mục múa trong chương trình ngày hội giao lưu văn hóa Việt – Nhật do các bạn sinh viên Trường Đại học Thủ Dầu Một biểu diễn_ Ảnh: tdmu.edu.vn

Các hoạt động giao lưu văn hóa ngày càng trở thành một kênh chuyên nghiệp, hiệu quả góp phần nâng tầm vị thế, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trên trường quốc tế. Giao lưu văn hóa không chỉ đẩy mạnh quan hệ với cộng đồng nước ngoài, mà còn truyền bá văn hóa nước nhà đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, gắn kết kiều bào với quê hương, đất nước, thẩm thấu văn hóa Việt Nam tới cộng đồng nước sở tại.

Một số lĩnh vực được thế giới quan tâm đặc biệt và đang là xu thế phát triển cũng được Việt Nam chú trọng. Ngành văn hóa đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, ngày 23-2-2018, “Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, các quyền liên quan”; tổ chức triển khai kế hoạch hành động thực hiện “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.

Quảng bá văn hóa nghệ thuật Việt Nam, giao lưu với các nước là một nội dung quan trọng trong các “Năm Việt Nam” tại nhiều nước, như Liên bang Nga, Trung Quốc, Lào,… hay tổ chức năm chéo Việt – Pháp, Pháp – Việt; Việt – Nga, Nga – Việt… Các lễ hội Việt Nam hằng năm với lượng khách tham gia hàng trăm nghìn người tại Nhật Bản, Hàn Quốc đang trở thành kênh thu hút đầu tư, du lịch tới Việt Nam. Mô hình trung tâm văn hóa, nhà văn hóa Việt Nam tại Pháp, Đức, Thái Lan, Lào… góp phần tích cực kết nối, truyền bá các nét đặc sắc, điển hình của văn hóa, nghệ thuật Việt Nam tới người bản địa và cộng đồng người Việt Nam sinh sống ở nước sở tại. Thực tế mỗi năm, nước ta ký khoảng 20 văn bản hợp tác văn hóa với các nước và ngày càng chú ý hơn tới hiệu quả của việc triển khai hợp tác.

Đối với hoạt động quảng bá du lịch, truyền thông thương hiệu đất nước, các ngành chức năng đã tích cực quảng bá các danh lam, thắng cảnh của Việt Nam tại nhiều trang tin điện tử, tạp chí, kênh truyền thông phổ biến, như CNN, Travel and Leisure, National  Geographic, Condé Nast Traveler, góp phần thu hút xấp xỉ 16 triệu lượt khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong những năm gần đây. Các phương tiện truyền thông đại chúng của nhiều quốc gia trên thế giới đã nhiều lần đăng tin, bài, hình ảnh Việt Nam thông qua hình ảnh và thành tích của nghệ sĩ, vận động viên nước ta tại các cuộc thi quốc tế trên các lĩnh vực điện ảnh, nhiếp ảnh, âm nhạc, bóng đá, võ thuật… Nghệ thuật tạo hình, hội họa bước đầu được truyền thông quốc tế, sàn đấu giá uy tín ghi nhận. Nhiều bức tranh của các danh họa trong nước, như Lê Phổ, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Phan Chánh… được định giá rất cao.Các sự kiện văn hóa quốc tế do Việt Nam tổ chức, như Festival Huế, Liên hoan Phim quốc tế Hà Nội, Liên hoan Xiếc quốc tế, Liên hoan Rối quốc tế… được các nhà chuyên môn, nghệ sĩ, nhà báo, du khách quốc tế tham gia đông đảo, nhiệt tình ủng hộ.

Từ kết quả ngoạn mục của bộ phim Hollywood mang tên “Đảo đầu lâu”, với hơn 70% cảnh được quay tại Việt Nam, các đoàn truyền hình, làm phim thế giới đã tìm đến Việt Nam như một địa điểm lý tưởng cho việc quay phim có các tình huống thú vị, điển hình ở Đông Nam Á. Nhiều hãng truyền thông còn thực hiện các chương trình truyền hình thực tế, khám phá, khảo sát, nghiên cứu văn hóa, du lịch, đời sống, tập quán có bề dày lịch sử của Việt Nam và phát sóng trên các kênh truyền hình có uy tín quốc tế tại Mỹ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Australia… Việc tham gia các cuộc thi hoa hậu mang tính quốc tế, các sự kiện trình diễn thời trang, ẩm thực thuần Việt được tổ chức ở trong, ngoài nước cũng tạo thêm hương sắc Việt Nam trong giao lưu văn hóa quốc tế.

Bà Cecilia Piccioni, Đại sứ Ialia trong tà áo dài Việt Nam giao lưu tại đêm hội áo dài ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội_Ảnh: vietnam.vnanet.vn

Các hoạt động giao lưu văn hóa đã góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác đối ngoại nói chung và hoạt động giao lưu văn hóa nói riêng cho các cấp, ngành và toàn xã hội; góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế nhờ giao lưu văn học, nghệ thuật và các hình thức sáng tạo khác; thúc đẩy giao lưu quốc tế. Các phương tiện giao lưu văn hóa được các cấp, ngành, địa phương đầu tư căn bản, hiện đại, góp phần tăng thêm hiệu quả công tác văn hóa đối ngoại. Hình thức, nội dung giao lưu văn hóa ngày càng đa dạng, gồm nhiều thể loại, có sự kết hợp giữa văn hóa đối ngoại với chính trị – kinh tế đối ngoại, ngoại giao công chúng, ngoại giao nhân dân… Xây dựng được thể chế, thiết chế cho hoạt động giao lưu văn hóa, kết nối hữu cơ với loại hình gần gũi là văn hóa đối ngoại.

Mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn, nhưng nhìn chung, các hoạt động giao lưu văn hóa của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế và sự nghiệp phát triển đất nước. Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đã đánh giá đúng vai trò của văn hóa và giao lưu văn hóa, văn hóa đối ngoại đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện ở các cấp, ngành còn có hạn chế, trước hết từ khâu nhận thức chưa đầy đủ; chưa có một cơ chế điều phối ở cấp quốc gia về các hoạt động giao lưu văn hóa. Do đó, sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, giữa trong nước và ngoài nước (các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài), giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân trong tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa còn thiếu tính chủ động và hiệu quả chưa cao.

Các ngành công nghiệp văn hóa của Việt Nam còn non trẻ, các doanh nghiệp văn hóa có quy mô nhỏ, lẻ, phân tán, chưa tạo ra được những sản phẩm đủ sức cạnh tranh, nâng vị thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế.Nguồn nhân lực trong lĩnh vực giao lưu văn hóa ở các bộ, ngành, địa phương không đồng đều về trình độ, khả năng ngoại ngữ, cũng như sự am hiểu về văn hóa, luật pháp và phong tục, tập quán quốc tế. Công tác nghiên cứu, dự báo, định hướng hoạt động văn hóa đối ngoại còn yếu, gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động giao lưu văn hóa. Tiêu chí về trình độ, năng lực, hiệu quả công việc của cán bộ tác nghiệp giao lưu văn hóa chưa rõ ràng, một số cán bộ phụ trách công tác này chưa đáp ứng được yêu cầu công việc.

Về tổng thể, mức độ đầu tư cho ngành văn hóa trong tổng chi ngân sách tương đối thấp so với các lĩnh vực khác. Các nguồn vốn xã hội hóa và nguồn vốn nước ngoài cho lĩnh vực văn hóa, đặc biệt là công tác giao lưu văn hóa, chiếm một tỷ trọng nhỏ, chưa tương hợp với yêu cầu, nhiệm vụ và tầm quan trọng của lĩnh vực này. Chưa có các chính sách khuyến khích, ưu đãi cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động giao lưu văn hóa.

Một số khuyến nghị, giải pháp thúc đẩy giao lưu văn hóa thế giới

Thứ nhất, với một lĩnh vực rộng, đa ngành, thiên về năng lực sáng tạo là giao lưu văn hóa, cần chú trọng lựa chọn cán bộ quản lý chủ chốt là các chuyên gia vừa có trình độ chuyên môn, vừa am hiểu cơ chế quản lý để chỉ đạo sát hợp, hiệu quả. Các cơ quan chỉ đạo, quản lý liên quan lĩnh vực giao lưu văn hóa (Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin và Truyền thông, các cơ quan truyền thông đại chúng, các địa phương…) cần chủ động phối hợp xây dựng một chiến lược cụ thể về giao lưu văn hóa, trong đó bao gồm toàn diện, đầy đủ về mục tiêu, nguyên tắc, nguồn lực, cách thức triển khai, trách nhiệm chi tiết giữa các đơn vị để thực hiện giao lưu văn hóa dài hạn sau năm 2020. Các thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch và Bộ Ngoại giao trong lĩnh vực văn hóa đối ngoại hay thúc đẩy giao lưu văn hóa/quảng bá văn hóa quốc gia (giai đoạn sau năm 2020) cần làm rõ sự phối hợp có tính đột phá. Sự chỉ đạo thống nhất ở cấp cao nhất cần được quan tâm đặc biệt, có văn phòng điều phối, có lãnh đạo cao cấp chỉ đạo, có chuyên viên kiêm nhiệm đủ năng lực, kinh nghiệm trong lĩnh vực giao lưu văn hóa.

Chương trinh giao lưu nghệ thuật chào mừng 50 năm thành lập ASEAN và 22 năm ngày Việt Nam gia nhập ASEAN _ Ảnh: cucnghethuatbieudien.gov.vn

Thứ hai, cần kiện toàn công tác quản lý, giám sát các hoạt động quảng bá và tiếp nhận các giá trị văn hóa, không chỉ thông qua việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy, điều chỉnh chính sách, mà còn là áp dụng công nghệ hiện đại trong lưu trữ, phân tích, xử lý, phân phối các sản phẩm văn hóa, chia sẻ thông tin và bảo đảm an toàn nội dung thông tin. Chính sách và văn bản pháp quy phải bảo đảm tính khả dụng, khoa học, hiệu quả lâu dài để không chỉ cán bộ chuyên môn, mà mọi công dân Việt Nam và kiều bào nước ngoài có thể lấy làm căn cứ để tùy theo điều kiện của mình tích cực sáng tạo, đóng góp cho giao lưu văn hóa của đất nước.

Thứ ba, cần chú ý đến yếu tố truyền thông, vai trò của truyền thông đại chúng trong giao lưu văn hóa. Trong thời kỳ hội nhập, các phương tiện truyền thông hiện đại có thể truyền bá, phổ cập liên tục, nhanh chóng, rộng rãi những thông tin, hình ảnh, âm thanh… của đời sống văn hóa, giá trị văn hóa cho công chúng. Công chúng ngày nay phân thành nhiều nhóm, không chỉ kết nối với cư dân trong nước, mà còn với cư dân nước ngoài qua internet, mạng xã hội, vì vậy cần có hình thức truyền tải phù hợp với các đối tượng. Cần xây dựng hệ giá trị văn hóa chuẩn mực người Việt Nam, vừa tiếp thu nét đẹp truyền thống, vừa gắn với các giá trị chân – thiện – mỹ, vừa hiện đại, để công chúng, nhất là người trẻ có định hướng đúng, có thể chủ động tiếp thu các giá trị văn hóa tiến bộ từ bên ngoài, nhưng vẫn có khả năng “miễn nhiễm” với văn hóa lai căng.

Thứ tư, giao lưu văn hóa gắn bó hữu cơ với ngoại giao văn hóa nên phải thống nhất nhận thức của mọi cấp, ngành, xã hội trong việc thúc đẩy sâu, rộng chính sách ngoại giao văn hóa, chú trọng kiện toàn bộ phận phụ trách giao lưu văn hóa, ngoại giao văn hóa ở các cơ quan đại diện nước ngoài (nhất là các đại sứ quán, nhà văn hóa…); coi ngoại giao văn hóa là lĩnh vực có thể tiếp xúc, mở đường, vận động, trao đổi, tiếp thu, quảng bá nhằm tăng cường sự hiểu biết, thân thiện, tín nhiệm giữa Việt Nam và các nước, từ đó giúp đẩy mạnh hợp tác, đầu tư, thương mại, du lịch, văn hóa – nghệ thuật, kinh tế, giáo dục, môi trường, xã hội… Thực hiện Nghị quyết số 36/NQ-TW, ngày 26-3-2004, của Bộ Chính trị, “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”; Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 19-5-2015, của Bộ Chính trị, “Về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, của Bộ Chính trị khóa IX, “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài” trong tình hình mới”, các ngành chức năng cần luôn quan tâm đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài để  truyền bá, giải thích về chính sách văn hóa của Đảng và Nhà nước, đưa văn hóa dân tộc đến với đồng bào để cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vừa gìn giữ, phát triển văn hóa truyền thống của dân tộc, vừa là cầu nối lan tỏa các sản phẩm, giá trị văn hóa Việt Nam đến các nước sở tại.

Thứ năm, việc thưởng phạt, tôn vinh, sử dụng, đãi ngộ người tài trong hoạt động giao lưu văn hóa, văn hóa đối ngoại cần thực hiện công bằng, kịp thời. Chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ làm việc trong các cơ sở đào tạo văn hóa, nghệ thuật, ngoại giao văn hóa; cải tiến chương trình giảng dạy theo kịp khu vực và quốc tế, cả về chuyên môn và ngoại ngữ; đồng thời vừa chọn lọc kỹ đầu vào trong công tác đào tạo, lại vừa có đầu ra bảo đảm chất lượng để người được đào tạo có thể đóng góp tích cực cho sự nghiệp giao lưu văn hóa. Mặt khác, cần tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế, trao đổi chuyên môn giữa các nhà hoạt động về giao lưu văn hóa, học giả, văn nghệ sĩ, nhà sáng tác… Tăng cường chọn lọc giảng viên giỏi, tâm huyết để gửi đi đào tạo tại các nước có thành tựu giao lưu văn hóa. Đối với sinh viên, học viên tốt nghiệp loại giỏi ở nước ngoài, cần có chủ trương mời gọi, tuyển dụng về làm việc cho cơ sở đào tạo, đơn vị tác nghiệp giao lưu văn hóa Việt Nam. Đối với các ngành công nghiệp văn hóa, thủ công mỹ nghệ đặc sắc, cần chọn lọc những ngành, nghề có lợi thế về chế tác, nguyên liệu, truyền thống lâu đời, có thị trường tiêu thụ trên thế giới để xây dựng, phát triển.

Thứ sáu, cần đầu tư đầy đủ, kịp thời cả về con người và cải tiến bộ máy quản lý, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hoạt động giao lưu văn hóa. Không đầu tư theo kiểu bình quân, mà căn cứ vào kết quả đầu ra, thông qua đội ngũ thẩm định uy tín. Đối với một số lĩnh vực có tác dụng truyền thông, quảng bá văn hóa rõ nét, dễ kết nối với thế giới, như văn học, âm nhạc, nên chú trọng đầu tư nhiều hơn. Đơn cử, đầu tư cho dịch thuật từ tiếng Việt ra tiếng nước ngoài, đặc biệt là tiếng Anh và phổ biến những tác phẩm văn học – nghệ thuật (nhất là thơ ca, tiểu thuyết) có giá trị nổi bật ra nước ngoài; tạo điều kiện để các ban nhạc hát tiếng Anh, nhạc sĩ sáng tác tiếng Anh có tác phẩm dự thi các giải khu vực và thế giới…/. Tag Văn Hóa Xã Hộigiao lưu văn hóachiến lược phát triển văn hóa

Bài cùng chủ đề

Ba chính sách trụ cột chính để phát huy nguồn lực văn hóa trong xây dựng Thủ đô sáng tạo  (22/02/2021)

Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến văn hóa, lối sống người dân Việt Nam  (09/12/2020)

Chuyển biến văn hóa – xã hội của Hà Nội trong bối cảnh hội nhập hiện nay  (16/10/2020)

Vai trò của văn hóa trong Chiến lược phát triển của Thủ đô Hà Nội  (12/10/2020)

Du lịch Việt Nam: Thành công và những bài học thời kỳ hội nhập  (30/06/2020)

https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/823661/giao-luu-van-hoa-the-gioi-trong-chien-luoc-phat-trien-van-hoa-cua-viet-nam.aspx#

LE VAN KHOA à Paris avec sa femme NGOC HA , rencontre avec Tran Quang Hai & Bach Yen, Avril 2018

LE VAN KHOA à Paris avec sa femme NGOC HA , rencontre avec Tran Quang Hai & Bach Yen, Avril 2018

18.04.2018 by Hai Tran Quang

Tran Quang Hai & Le Van Khoa 16.04.2018

Tran Quang Hai & Le Van Khoa , 16.04.2018

Ngọc Hà & Bạch Yến, Lê Văn Khoa, 16.04.2018

Diễm Kiều, Bạch Yến, Ngọc Hà, 16.04.2018

Tran Quang Hai , Bach Yen, Ngoc Hà , Lê Văn Khoa, 08.04.2018
Lê Văn Khoa & Trần Quang Hải, 08.04.2018
Bạch Yến & Ngọc Hà, 08.04.2018
Hoạ sĩ Tuấn & Lê Văn Khoa, 08.04.2018
Lê Văn Khoa, 08.04.2018
Linh Chi, Bạch Yến , Trần Quang Hải, 08.04.2018
Ngọc Hà, 08.04.2018
Phương Oanh, Hồ Thuỵ Trang, Thu Sương, 08.04.2018
Ban hợp ca do Trần Minh Thiều sáng lập
Trần Quang Hải & Ngọc Hà, 08.04.2018
Thu Sương , Tuấn hoạ sĩ, Lê Văn Khoa, 08.04.2018
Thu Sương , Tuấn hoạ sĩ, Lê Văn Khoa, 08.04.2018
Thu Sương & Bạch Yến, 08.04.2018
Bạch Yến, 08.04.2018
Tặng hoa ,08.04.2018
Ngọc Hà & Lê Văn Khoa, 08.04.2018
đứng : Hồ Thuỵ Trang , ngồi trái sang phải Ngọc Hà, Lê Văn Khoa, Bạch Yến, Trần quang Hải, 08.04.2018
Ngọc Hà  & Bạch Yến, 08.04.2018

Chuyên mục: Photos avec des musiciens vietnamiens Từ khoá liên quan: Avril 2018, LE VAN KHOA à Paris avec sa femme NGOC HA, rencontre avec Tran Quang Hai & Bach Yen

Primary Sidebar

Chuyên mục

Powered by Pham Consulting.

Content preparation by Prof. Tran Quang Hai

Phiên bản 1.0

S LÊ VĂN KHOA và tác phẩm LÊ VĂN KHOA/ MỘT NGƯỜI VIỆT NAM/ chương trình giới thiệu sách LÊ VĂN KHOA /MỘT NGƯỜI VIỆT NAM , 19.09.2015 tại SAIGON 9 RESTAURANT , GARDEN GROVE , CA92840

HÀ BẮC và NGỌC BỘI viết về SỰ NGHIỆP ÂM NHẠC , NHIẾP ẢNH của GS LÊ VĂN KHOA và tác phẩm LÊ VĂN KHOA/ MỘT NGƯỜI VIỆT NAM/ chương trình giới thiệu sách LÊ VĂN KHOA /MỘT NGƯỜI VIỆT NAM , 19.09.2015 tại SAIGON 9 RESTAURANT , GARDEN GROVE , CA92840

      1 Vote


GIỚI THIỆU SÁCH LÊ VĂN KHOA / MỘT NGƯỜI VIỆT NAM chương trình tổ chức ngày thứ bảy 19.09.2015 Địa điểm: SAIGON 9 RESTAURANT, 2801 HARBOR BLVD , GARDEN GROVE, CA 92840 CHƯƠNG TRÌNH : Tiếp tân: 11:00am – 11:30 am Khai mạc: 11:30am – 12:30pm MC giới thiệu chương trình Diễn giả : Nhà văn PHẠM XUÂN ĐÀI chủ đề : LÊ VĂN KHOA , MỘT NGƯỜI VIỆT NAM Diễn giả : Nhà văn TRỊNH Y THƯ Chủ đề : LÊ VĂN KHOA và Âm nhạc MC giới thiệu nhạc sĩ LÊ VĂN KHOA Phần âm nhạc: ca sĩ góp mặt : NGỌC HÀ, VƯƠNG LAN, NHƯ AN Chụp hình và ký tên sách lưu niệm với NS LÊ VĂN KHOA Tiệc trưa : 12:30pm – 1:30pm (mỗi phần ăn $ 15.00) Sách được bán : $ 50.00 cho bìa thường , $ 70.00 cho bía cứng Liện lạc : TRẦN VIỆT HẢI  (818) 451-5157 TRẦN MẠNH CHI (310) 628-7499 LƯU ANH TUẤN  (619) 203-9118 LÝ TỒNG TÔN (661) 733-1602 NHÂN ẢNH TÂN VĂN trân trọng kính mời
Nhạc Giao Hưởng Việt: Hiện Tượng LÊ VĂN KHOA

Nhạc Sư Lê Văn Khoa và Tổng Quản Trị Việt Báo Hòa Bình
(VietBao photo)

HÀ BẮC Theo đề nghị của trưởng ban tổ chức, Tiến sĩ Nguyễn Kim Quý, bài này được viết để nhận xét – thay vì phân tích vì tác giả không phải nhạc sĩ – về dòng nhạc giao hưởng “tân lãng mạn” đồ sộ lẫy lừng của Nhạc Sư Lê Văn Khoa, về nỗ lực của ông đưa dân ca Việt ra thế giới và về chính hiện tượng Lê Văn Khoa của dòng nhạc không lời này. Ông không chỉ là cây đại thụ nhạc giao hưởng Việt, ông còn là nhà khai phá thành đạt, người soạn hòa âm giao hưởng phá kỷ lục của Việt Nam Cộng Hòa, nhà giáo, nhiếp ảnh gia và nhà tranh đấu cho nhân quyền, tự do, dân chủ không mệt mỏi. Khi mới nhận được năm dĩa audio tặng phẩm của tác giả qua ban tổ chức, kẻ viết bài này đã để trong tủ nhạc Việt một cách tự nhiên theo thói quen để chờ đưa tuần tự vào máy; và sau khi thưởng thức xong toàn bộ các giai tác này – nhiều lần – thì mới nhận chân ra nội dung “áo bà ba” của các bài dân ca không còn “đóng phèn” nữa; mà đã óng ánh những sợi kim tuyến mang nét chấm phá nghệ thuật thích nghi với thính thị của mọi dân tộc từ Âu sang Úc; từ Mỹ sang Á châu; và đặt chúng vào tủ nhạc giao hưởng quốc tế. Chiều hướng đem dân ca Việt vào dòng nhạc giao hưởng phương Tây; cụ thể là dòng nhạc giao hưởng Mỹ đã khiến Nhạc Sư Lê Văn Khoa phải bỏ ra nhiều nỗ lực để khán thính giả bản xứ quên đi trong chốc lát “khẩu vị” quen thuộc cố hữu của họ để (bước đầu) thưởng thức cái “hương vị” xa lạ đến từ nửa vòng trái đất qua người tỵ nạn cộng sản; để có ngày nào đó sẽ trở nên “khoái khẩu” không thể thiếu vắng trong “dạ tiệc” tại các nhạc viện và hý viện. Khán thính giả bản xứ sẽ thấy ngạc nhiên và thú vị khi thưởng thức một giai tác của ông mà nghe như của Frederic Chopin (1810-1849) và các đại nhạc sư khác; nghe như “Nocturne” ở Áo, ở Đức, ở Pháp mà tựa đề lại là “A Night in Vietnam” (11:51 phút) trong dĩa “Piano Solo”! Trong dịp trình tấu ở Washington D.C. năm 2010, Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa than “cô đơn” trong nỗ lực quốc tế hóa dân ca Việt; quả không sai! Thiện chí đến Việt Nam tìm kiếm và nhiệt tình tìm hiểu âm nhạc Việt của các bạn hữu Hoa Kỳ của ông đã trở nên vô ích vì gặp trở ngại lớn từ các “đỉnh cao trí tuệ”và chủ trương “hồng hơn chuyên” của đảng Cộng Sản Việt Nam cầm quyền; điển hình là trường hợp Tiến sĩ Giáo Sư Deborah Rosen của Irvine Valley College, đã tốn công tốn của đến “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” để nghiên cứu và rồi trở về với thành quả là mớ nhạc tuyên truyền rẻ tiền của chế độ; không thể dùng làm luận án được! Nhạc Lê Văn Khoa không phải chỉ để hợp xướng; nó cũng được dùng để đơn ca và song ca; độc tấu và song tấu từ thời văn hóa khởi sắc Việt Nam Cộng Hòa; và sau này ở hải ngoại. Nó được hòa tấu tại các hý viện tráng lệ ở Mỹ, Âu và Úc Châu. Hơn thế nữa, nó còn được dùng để đấu tranh chống chế độ cộng sản phi nhân bản và phi dân tộc ở Việt Nam hiện nay; điển hình là “Trường Ca Việt Nam Quê Hương Mến Yêu” đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa; rồi “Trường Ca Khóc Đi Em, Trên Biển Cả, Ca Ngợi Tự Do, v. v…” và bằng cả lãnh vực nhiếp ảnh nữa trước 1975! Khúc giao hưởng “Symphony Việt Nam 1975” hoàn thành ở hải ngoại là tác phẩm lớn nổi tiếng nhất về mặt này; được đánh giá như một sử ký viết bằng âm nhạc, một “legacy” của tác giả. Nó là tấu khúc Việt đầu tiên được trình diễn ở Melbourne ngày 22/10/2005 bởi The Royal Melbourne Philharmonic Orchestra trong lịch sử 150 năm của dàn nhạc này. Tên gọi “Symphony Việt Nam 1975” đã được tác giả đặt theo kiểu “Overture 1812” và “Symphony 1997” (đánh dấu hai biến cố chính trị bi tráng ở Nga và HongKong) để ôn lại từng thời kỳ lịch sử bi ai của dân tộc Việt. Trong buổi trình diễn ở Úc, chính nhạc trưởng Andrew Wailes đã hát bài “The Last Time” (6:32 ’ dĩa Souvenir của Lê Văn Khoa); câu cuối “goodbye” nghe chẳng khác gì lối trình bày của Julie Andrews trong “The Sound of Music” của bà. Đàn tranh trong “Full Moon” đã quyện với các nhạc cụ phương Tây thật nhịp nhàng. Bản “The Rice Drum” (4:19’) trong dĩa “Souvenir” đã được độc tấu bằng chiếc đàn bandura, một nhạc cụ khiến người Nga, nhất là bạo chúa Staline phải sợ hãi đến độ tiêu hủy hết, giết hết nhạc công và cấm tuyệt để ngăn ngừa lòng ái quốc của dân Ukraine. Có thể nói mỗi tác phẩm giao hưởng của ông là một giai tác. Nhạc Lê Văn Khoa “quen” vì nghe biết ngay là dân ca; là “lý”; là “hò”; là “Chopin, Beethoven, Strauss, Berlioz, Mozart, Haydn v. v…”; nhưng cũng “lạ” vì có các nhạc cụ cổ truyền Việt và Ukraine cùng hòa tấu với nhạc khí Tây phương; vì nhiều nốt “lạ” không dễ xoay trở ngón đàn. Âm thanh thì bàn tay phải có lúc phải với nốt “lá” ở bậc cao; bỗng bàn tay trái phải lặn sâu nốt “là” ở bậc thấp như trong bài “In The Pond” (4:50’) của dĩa “Piano Solo” do Giáo Sư Lyudmila Chichuk độc tấu. Bè thì có khi bổng khi trầm, vắt ngang vắt chéo, vắt ngược vắt xuôi (Hymn to Freedom 5:43’); cung thì chuyển từ mineur sang majeur; tiết nhịp thì khi đột ngột, thoăn thoắt, lúc lại khoan thai; hiện tượng “lạ”, bốn bàn tay cùng lướt trên phím đàn piano (Song of The Black Horse 1:49’); nghe như vó ngựa dập dồn chỉ có ở nhạc của ông. Lê Văn Khoa là cây đại thụ nhạc giao hưởng Việt bởi khuynh hướng và thành quả. Từ tiểu khúc đến bản giao hưởng đều diễn tả được nỗi lòng của tác giả. Ba mặt sáng tác, trình tấu và thưởng thức đã hội tụ như góc tam giác, như kiềng ba chân nên đã giúp cả ba được cộng hưởng. Nhạc giao hưởng của ông tựa cấu trúc căn nhà lầu ba tầng; trong đó đại gia đình đông đảo leo lên xuống không ngừng; kẻ chậm rãi, người thoăn thoắt tùy đặc tính và vai trò của họ. Nhạc ngũ cung không chỉ dùng trong dòng nhạc Lê Văn Khoa, nó thoáng hiện trong hầu hết các tác phẩm của các soạn giả trứ danh phương Tây; ẩn tàng tung tích một cách kín đáo. Hòa âm cho giao hưởng còn xa lạ thời Việt Nam Cộng Hòa. Nó là sản phẩm đặc thù của châu Âu có mặt muộn màng ở Đông Dương thời Pháp thuộc. Dòng nhạc giao hưởng của ông tựa như mưa tưới cánh đồng khô hạn của nhánh nhạc này trong nền âm nhạc Việt Nam Cộng Hòa. Trong nhạc giao hưởng Lê Văn Khoa, từng nốt nhạc được trình tấu bằng từng nhạc cụ khác nhau. Âm nhạc của ông đủ ước lệ mà không cần ca từ; do đó, đã không cần sinh ngữ vì âm nhạc là sinh ngữ quốc tế phi biên cương. Ông đánh thức tâm khảm Việt bằng kho tàng âm nhạc ngũ cung; đem chuông ngũ cung tiềm ẩn đi đánh vào tâm tư xứ người bằng nhạc khí của chính họ. Chủ trương dùng nhạc cụ Tây để đánh nhạc Ta của ông thật là một ý tưởng cách mạng về âm nhạc; khác với chủ trương bảo thủ khép kín của các nhạc sư Nguyễn Hữu Ba, Trần Văn Khê và các nhà văn hóa khác. Dĩa “Lullaby” có hai bài điệu Valse. Các bài “Dawn of My Country” (5:57’), và “Dream of My Homeand” (5:20’) có lời ca, nghe hùng hồn nhịp quân hành. Bản “Memory” (5:10’) có lời nghe như Tiếng Tơ Đồng trước 1975. Bài “Serenade” (5:31’) do Nhạc Sĩ Semchuck độc tấu violon nghe thật duyên dáng, yêu kiều đến lạ lùng! Trong dĩa “Souvenir”, bản “The Last Time” (6:32’) giọng Ngọc Hà đơn ca bộc bạch; thổ lộ lời ca trau chuốt hợp soạn của hai người đậm nỗi hợp tan của loại tình yêu đôi lứa. Bản “Welcome Spring” (1:57’) điệu Polka ngắn ngủi nhưng rộn ràng, tươi vui tạo lạc quan. “Autumn Evening” (5:43’) lạ vì đệm giọng ngân soprano và đàn guitar; “Wondrous Love” (5:32’) đơn ca nam giọng tenor đệm bằng nhiều bè trôi nổi; nghe như nửa nhạc yêu nước, nửa thánh ca. “The Rice Drum” (4:19’) dân ca Việt Nam nghe bi tráng với dàn orchestra; lạ tai với nhạc khí truyền thống Bandura của dân Ukraine. Trong dĩa “Memories”, bài “Nocturne” (4:57’) của ông với solo violon và piano phụ họa đã không miên man trầm lắng như các Nocturne khác; mà lại có lúc vui tươi, nhộn nhịp; kết quả việc đổi âm giai thứ ra trưởng. Nếu đã có “Nocturne” ở châu Âu của Schubert, Chopin . . . thì nay người Việt hãnh diện vì cũng có “Nocturne” của ta! Bản “In the Moonlight” (6:36 ’) có tiếng flute của Kalitovky nghe như tiếng sáo lớn. Dĩa “Piano Solo” kết thúc với bài số 7 “A Night in Vietnam” (11:51’) tuy chỉ độc tấu nhưng nghe như có lời vì thính giả Việt ai cũng thuộc các bài dân ca Nam bộ. Bài số 5 “Cut the Tree” có âm thanh nghe như hồn nước hiện về; thật cảm động! Bài số 7 trong dĩa legacy “Symphony Việt Nam 1975” tuy dùng tiết nhịp của bài dân ca “Lý Chim Quyên” nhưng với ban hợp ca nam nữ nghe hùng hồn, bi tráng; không mộc mạc như “Lý Chim Quyên” dùng nhạc cụ dân tộc. Giới hạn của bài này không cho phép đề cập đến phạm vi nghệ thuật nhiếp ảnh của ông. Tuy nhiên có một kỷ niệm liên quan khá đẹp và khó quên: Trước Tết Mậu Thân 1968, khi đài Truyền Hình Việt Nam băng tần số 9 mới được quân đội Mỹ giúp thành lập được mấy năm, Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa đã có chương trình dạy nhạc định kỳ và hợp xướng bất định kỳ trên màn ảnh đài này. Trong một chương trình đặc biệt, ông đã mời Hoa Hậu đài Truyền Hình Việt Nam và hai Á Hậu; trong đó có người nhà của kẻ viết bài này, Á Hậu Hoàng Tô Châu xuất hiện trong chương trình. Chân dung của họ cũng được hân hạnh lọt vào ống kính nghệ thuật của nhà soạn nhạc kiêm nhiếp ảnh gia đa tài này để rồi lần lượt được xuất hiện trên bìa các tuần báo phụ nữ tại thủ đô Saigon của Việt Nam Cộng Hòa thời đó. Trước 1975 ít ai nhắc đến ông vì nhiều nguyên do; chẳng hạn họ không có TV, không thưởng thức nhạc giao hưởng hoặc không có nhạc giao hưởng để thưởng thức và nhất là vì ông rất khiêm tốn. Ngoài mấy lần phải trích đoạn thay vì được trình diễn nguyên bài vì thời lượng hạn chế hoặc phải viết lại để thích ứng với tình huống thay đổi nhạc cụ và số lượng nhạc công trình tấu bất ngờ xảy ra không tiên liệu được, đã không có lời bình bác nào về dòng nhạc của ông. Nhưng chắc hẳn Việt Cộng, Việt gian và vài kẻ tị hiềm nào đó có thể chỉ trích vì không lợi dụng được ông và vì đố kỵ. Nhà văn Pháp Octave Mirbeau (1848-1917) đã chẳng có câu “Jamais la critique n’a su discerner un ouvrage remarquable, trouver un artiste, faire surgir un nom glorieux!” (Phẩm bình không bao giờ biện bác được một giai tác, nhận chân được một nghệ sĩ và nêu bật được một tên tuổi lẫy lừng); vả lại, bi kịch gia Philippe “Néricault” Destouches (1680-1754) trong bi hài kịch về phong hóa “Le Glorieux” đã có câu “La critique est aisée, et l’art est difficile!” (bình bác thì dễ, nghệ thuật mới khó). Cũng là đại thụ như Trần Văn Khê, Phạm Duy nhưng Lê Văn Khoa không bị “hòa hợp” (hòa hoãn hợp tác) bởi chế độ phi nhân Cộng Sản Việt Nam. Trái lại, ông đã không để cho kẻ thù núp bóng lâu đài âm nhạc đồ sộ lẫy lừng của mình để lợi dụng tuyên truyền lừa bịp. Ông hòa nhã nhưng bất khuất; tựa Gloria Estefan của Cuba vậy. Vì nhạc giao hưởng kén thính giả (quần chúng Việt phần lớn quen nghe boléros và cải lương) và vì ông Lê Văn Khoa không chủ trương kinh doanh nghệ thuật, việc thực hiện một compact disc nhạc loại này để phổ biến bằng một ban hòa tấu tiêu chuẩn 60 nhạc công trở lên và một hý viện tráng lệ; chi phí ắt không phải là trung bình. Tình trạng này chắc hẳn phải khiến việc phát hành các CD nhạc không lời của ông – đôi khi có bài có lời (lyrics) – rốt cuộc chẳng CD nào có lời (interests) cả! Tuy nhiên, cổ ngữ Latin có câu “bis vivit qui bene” (kẻ sống gấp đôi người khác thì sống mạnh mẽ); nhạc sư Lê Văn Khoa chính là típ người này để mà tự hào! Cũng tựa Hoa Hậu không chỉ bởi cái đẹp thể chất, thiên tài không chỉ bởi bản thân cái tài mà còn phải có cái đức nữa. Ông có cái đức của người quốc gia chân chính; của nhà giáo, nhà tranh đấu cho nhân quyền, tự do và dân chủ. Và bởi những thành quả vô song mà ông đã nhiều thập niên tạo dựng. Có nhìn và nghe thấy những Kateryna Myronyuk (Ukraine) độc tấu bandura bài “Trống Cơm”, Suzuki Hitoshi (Nhật) độc tấu cello bản “Memory”, Phương Oanh (Pháp) độc tấu đàn tranh “Hát Hội Trăng Rằm”, nhạc trưởng Andrew Wailes (Úc) hát “The Last Time“ (Lần Cuối) mới thấy được bức tranh “Thế Giới Đại Đồng” với bản sắc dân tộc khác nhau quấn quít trong tình người và nghệ thuật; không phải thứ thế giới đại đồng ảo vun xới bằng dối trá, bạo lực và xác hàng triệu dân vô tội mà cái đuôi mãng xà Cộng Sản Việt Nam, dù đầu đã bị đập nát từ 1989 vẫn đang mù quáng toan tính áp đặt! Nếu gọi các tay vĩ cầm là “vĩ” nhân thì Lê Văn Khoa không phải vĩ nhân trong số đó; bằng không, ông chính là vĩ nhân nhạc giao hưởng Việt của nền âm nhạc Việt Nam Cộng Hòa và trên trường quốc tế hiện nay. Nếu gọi thiên “tài” là tiền từ trời rơi xuống thì ông chưa có thiên tài; bằng không, với lứa tuổi từ thượng thọ đến đại thọ và với “legacy” đã có, ông chính là thiên tài về âm nhạc của Việt Nam Cộng Hòa và của cộng đồng Việt tỵ nạn cộng sản khắp nơi; chưa kể nhận xét đồng tình của các nhạc sư bản xứ các nước. Có thể nói dòng nhạc giao hưởng Lê Văn Khoa là một hiện tượng đặc thù đáng để trân quý và thưởng ngoạn. Nói theo văn phong của Đại Tướng Douglas McArthur kết thúc 52 năm binh nghiệp, trong diễn văn giã biệt trước Quốc Hội lưỡng viện Hoa-kỳ hôm 19/4/1951, kết thúc bằng câu “Old soldiers never die, they just fade away” thì composer Lê Văn Khoa, một ngày nào đó buông viết cũng sẽ phải nói như lời của một nhân vật mà tôi quên tên. Ông nói: “Old composers never die, they just decompose!”. HÀ BẮC ***************************************************************************** LÊ VĂN KHOA LÀ MỘT TRONG BA NHẠC SĨ TRÊN THẾ GIỚI viết nhạc cho đàn BANDURA của xứ UKRAINE. sach bandura ukraine Một tin quan trọng đến vừa đúng ngày kỷ niệm tháng Tư Ðen, đánh dấu 40 năm ly hương
của người Việt tị nạn cộng sản: Nhạc sĩ Lê Văn Khoa được vinh danh là một trong ba nhạc sĩ
trên thế giới viết nhạc cho đàn Bandura độc tấu với dàn nhạc giao hưởng.
Một quyển sách bằn;g tiếng Ukraine với tên khá dài “NGHỆ THUẬT VÀ SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA ÐÀN BANDURA UKRAINA TRONG THẾ KỶ 20 VÀ ÐẦU THẾ KỶ 21”,
do trường  đại  học “Vasyl Stefanyk Precarpathian National University và Ivana-Frankivsk
Regional Organization of Ukrainian Kobzars National Union thuộc viện Cao Học Quốc Gia
Ukraine mới  ấn hành, vừa được gửi đến Nhạc sĩ Lê Văn Khoa từ Kiev, Ukraine.
Giáo sư Tiến sĩ Violetta Dutchak là tác giả, dành nhiều trang trong chương thứ sáu để viết về Nhạc sĩ
Lê Văn Khoa, về sự đóng góp của ông trong việc phát triển đàn Bandura bằng cách viết nhạc cho cây
đàn dân tộc của Ukraine. Bài viết có phần nhận xét kỹ thuật viết nhạc của ông cho đàn này. Tác giả xác
nhận Lê Văn Khoa là một trong ba nhạc sĩ trên toàn thế giới, đã viết nhạc cho đàn Bandura trình tấu với
dàn nhạc giao hưởng.
Ðiểm quan trọng cần được nhấn mạnh ở đây là Nhạc sĩ Lê Văn Khoa dùng nhạc dân tộc Việt, bài dân ca
Trống Cơm và Se Chỉ Luổn Kim, viết lại cho nhạc sĩ Ukraine đàn trên cây đàn dân tộc của họ, một hình
thức đưa văn hóa của hai dân tộc đến với nhau qua âm nhạc độc đáo của cả hai bên. Ý niệm đó đã được
tác giả Tiến sĩ Violetta Dutchak nhận thấy và ghi trong lời đề tặng như sau:
“With regards to the Composer Lê Văn Khoa with great respect and gratitude for the development of cultural contacts between countries and peoples. Professor Violetta Dutchak Sự thành công lớn của một người tị nạn cộng sản được ghi nhận đúng vào ngày Quốc Hận thứ 40 mang một ý nghĩa sâu đậm cho mọi người Việt Nam. Phụ lục:2 videos Trống Cơm và Se Chỉ Luồn Kim do nữ nhạc sĩ Kateryna Myronyuk trình t ấu  đàn Bandura  với dàn nhạc giao hưởng Ukraine.( HoaThịnh Đốn, năm 2010) 1/ https://youtu.be/LA3sBhxxB1Q ( Trống Cơm) 2/ https://youtu.be/2s4Bwo4ezQQ ( Se Chỉ Luồn Kim) lê văn khoavinh danh trong sách viết về đàn bandura xứ ukraine Nhạc Giao Hưởng Việt: Hiện Tượng LÊ VĂN KHOA
Nhạc Sư Lê Văn Khoa Tổng Quản Trị Việt Báo Hòa Bình (VietBao photo) SỰ NGHỆP ÂM NHẠC VÀ NHIẾP ẢNH LỪNG LẪY của Giáo sư, Nhạc trưởng Lê Văn Khoa, và tác phẩm: LÊ VĂN KHOA/ MỘT NGƯỜI VIỆT NAM.   Ngọc Bội                                                               Nói đến Âm nhạc, Nhiếp ảnh, cũng như Hội họa là nói đến nghệ thuật, nói đến sự rung động của tâm hồn. Và tất nhiên, còn tùy ở tâm cảm, và tâm cảnh của người thưởng thức. Chúng tôi không đủ tư cách phê bình, chỉ xin nêu lên những điều Giáo sư, Nhạc trưởng Lê Văn Khoa đã nói, cũng như thành tích mà ông đã lập được dưới mắt của một độc giả, không chuyên môn, nhưng có lòng trân quý, và cảm phục đến tác giả và tác phẩm. Cho dẫu có sự am tường nào, ngôn bất tận ý, cá nhân chúng tôi cũng không thể nói hết được những lời hay, ý đẹp của tác giả. Nhắc đến đây chúng tôi chợt nghĩ đến những lời ví von: “Việt Nam là suối nhạc sông thơ. Tâm hồn người Việt Nam là tâm hồn của thi sĩ v.v…” Vậy âm vang truyền thống dòng suối nhạc đó từ đâu? Nếu không phải là tiếng ru cùa mẹ Việt Nam tự ngàn đời, từ lúc con còn là cái bào thai, cho đến khi lọt lòng mẹ, được mẹ ôm con vào lòng, qua những điệu ru ca dao: À ơi, hay ầu ơ, ví dầu, Cái cò xung chát khế chua Câu ca mẹ hát gió đưa về trời Ta đi trọn kiếp con người Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru…   CHÂN DUNG TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM.   1- TÁC GIẢ. – Giáo sư, Nhạc trưởng Lê Văn Khoa là một soạn nhạc gia quốc tế lừng danh, một nhiếp ảnh gia tài ba, một nhà Văn hóa, Giáo dục và Nghệ thuật v.v… Ông chào đời năm 1933, tại Cần Thơ, Tây Đô của miền nam Việt Nam, cái nôi của nền văn minh miệt vườn, sông nước Cửu Long Giang. Và là trung tâm của miền gạo trắng, trăng thanh, đất lành, người lành, đất của cổ nhạc miền Nam mê say, mang đậm tình văn hóa dân tộc. Nhắc đến niên tuế, Giáo sư Nhạc trưởng Lê Văn Khoa đã vượt Bát Tuần Khánh Thọ, trân quý biết bao, “Ngũ phúc, thọ vi tiên”. Chúng tôi, cùng quý vị quan khách xin trân trọng chúc mừng đến ông và tác phẩm.   2- TÁC PHẨM: LÊ VĂN KHOA/ MỘT NGƯỜI VIỆT NAM. – Nói về cuốn sách của ông (đang có trước mặt chúng ta), đã được hình thành qua một ban biên tập và ban thực hiện hết sức công phu. Chúng tôi thật sự choáng ngợp, cuốn hút lạ thường, khi cầm trong tay một tác phẩm đồ sộ với tựa đề: Lê Văn Khoa/ Một người Việt Nam. Một đề tựa thật khiêm nhường và cũng thật cao thượng! Sự cuốn hút không chỉ vì vẻ đẹp về hình thức, mà còn ở nội dung vô cùng phong phú, tập hợp được hàng trăm các cây viết văn nghệ sĩ, nhà giáo, nhà bình luận, nhà ngoại giao, từ khắp nơi trên thế giới, kể cả các người thế hệ trẻ, và người ngoại quốc. Chính đề tựa của cuốn sách, cho chúng ta biết về nội dung, không phải là những bản nhạc của ông được in thành tuyển tập mà là những bài do ông viết, qua kiến thức, nghiên cứu, những khám phá, và những nhận định hết sức sâu sắc về âm nhạc, và về nhiếp ảnh, kể cả những truyện ngắn đặc sắc. Và cùng các thân hữu của ông, đã đóng góp những bài viết giá trị về văn hóa và nghệ thuật, nói về ông, một thiên tài xuất chúng. Sách khổ lớn, bìa cứng, hiện đại, là chân dung Giáo Sư Lê Văn Khoa bằng tranh sơn dầu của Họa sĩ Trương Vũ/ Trương Hồng Sơn, với số trang đáng nể, 700 trang, được chia làm ba phần: Âm nhạc, Nhiếp ảnh, và phần Anh Ngữ. Người đọc sẽ được thấy ở đó, thật nhiều điều kỳ thú bất ngờ, những hạt ngọc của tư tưởng, và rất nhiều hình ảnh màu sắc đẹp mắt, được in ấn trang nhã, sáng láng, và đáng yêu vô cùng.   3- SỨC MẠNH CỦA ÂM NHẠC. – Ông chia sẻ: “Âm nhạc là một nghệ thuật rộng lớn vô biên, là nghệ thuật hòa hợp âm thanh để diễn tả tình cảm. Có thể nói,  âm nhạc ảnh hưởng đến vạn vật, và âm nhạc là sức mạnh đáng sợ. Âm thanh khác hơn tiếng động, vì trong âm thanh ta đo được “chiều cao” và “chiều dài”, hay không gian và thời gian, và là cung bậc, trương độ của âm thanh. Âm nhạc ảnh hưởng đến tâm trí con người, là hơi thở của tâm hồn, khi niềm vui cũng như nỗi đau dâng lên cao ngút. Nhạc kích động quần chúng, kích động chiến sĩ, là vũ khí tuyên truyền vô cùng quan trọng trong cuộc chiến tranh tâm lý. Nên rất cần nghiên cứu nhạc cặn kẽ, để hiểu rõ tác động của nó mà sự lợi hại sẽ không thể lường được!”. Chúng tôi chỉ xin nêu lên hai ví dụ: – “Stalin và Đảng Cộng sản Nga rất sợ những người hát ca khúc ái quốc và tôn giáo ca ngợi lịch sử Ukraine của các nhạc sĩ mù (kobzari) đi hát rong khắp nơi, với tiếng đàn Bandura, nhạc cụ dân tộc của Ukraine. Họ đã lùng bắt khắp nơi, cho giam tập chung, và hành quyết tập thể, con số 300 người nhạc sĩ mù này, cùng với những người khác vào thập niên 1930.” (LVK/MNVN, tr.111). -Một nhận xét sâu sắc khác về âm nhạc của Kim Thanh, (Tiến Sĩ Nguyễn Kim Quý) trong một bài viết về Platon Và Khung Trời Của Ý (Oregon Thời Báo): “Tôi nghĩ, một người nếu thật sự đã nghe Sonate Appassionata của Beethoven một lần, rồi sẽ không còn muốn oán thù ai nữa. Và tôi đọc ở đâu đó, Lenine có nói rằng, nếu cứ tiếp tục nghe bản nhạc này, ông ta sẽ không hoàn thành nổi cuộc cách mạng vô sản.” (ORTB, 5/15/2014, số: 626, tr.24).   4-NHỮNG SÁNG TÁC PHẨM VỀ ÂM NHẠC VÀ NHIẾP ẢNH. – Những sáng tác phẩm của ông thật nhiều trên cả hai lãnh vực âm nhạc và nhiếp ảnh, mang sắc hồn dân tộc. Âm nhạc và nhiếp ảnh vẫn luôn gắn liền với nhau trong con người của ông, nên có đôi khi, “người nghe sẽ thấy được hình ảnh trong âm nhạc của ông hay ngược lại…” Ông đã từng chiếm được rất nhiều những giải thưởng về âm nhạc và nhiếp ảnh, kể cả huy chương cao quý về giáo dục.Trong giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc năm 1969 của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, ông đã được thắng giải cùng với các nhạc sĩ hoà âm thời danh Vũ Thành, và Nghiêm Phú Phi. Ông là người khai phá đầu tiên, nâng tầm thưởng thức nhạc giao hưởng trong cộng đồng người Việt, và đưa dòng nhạc Việt giao hưởng ra khắp thế giới qua các sáng tác của ông từ nhiều thập niên qua, làm vẻ vang cho người Việt chúng ta. Các nhạc phẩm giao hưởng này đã do ông hòa âm, phối khí cho dàn nhạc danh tiếng Kyiv Symphony Orchestra với hàng trăm các nhạc sĩ thượng thặng của Ukraine trình tấu. -Ai cũng hiểu rằng: “ Đối với Tây phương, nhạc giao hưởng thuần túy mà không cần lời diễn giải, như đã quen thuộc với họ, và hẳn nhiên còn quá mới mẻ đối với nhiều người trong chúng ta”. Tuy thế, khi được thưởng thức dòng nhạc giao hưởng của Soạn Nhạc Gia Lê Văn Khoa, dường như, người nghe không thấy đơn điệu, còn cảm được cái thần của nó trong tiếng đàn, tiếng ca nhiều bè, âm vực vang lên tuyệt vời, trong không gian có bề ngang, và cả bề dầy. -Tác phẩm Symphony Vietnam 1975 của ông, mang đầy âm hưởng ngũ cung Việt Nam. Tác giả Thanh Hằng cho rằng: “Những bản nhạc Symphony Việt Nam 1975, Memoríes, Souvenir của Lê Văn Khoa là tiếng khóc nức nở của một người Việt đối diện với lịch sử trong những giai đoạn đen tối nhất.” (LVK/MNVN, tr.406). -Symphony Việt Nam 1975 “vang dội” trời Úc, qua dàn nhạc The Royal Melbourne Philhamonic Orchestra trình diễn năm 2005 và đã được tàng trữ tại Bảo Tàng Viện Quốc Gia Úc Đại Lợi, mở rộng cho các nhà nghiên cứu tham khảo. Ông Trịnh Y Thư nhận định: “Đại tấu khúc giao hưởng Việt Nam 1975 đã trở thành gia sản văn hóa của nhân loại.”   5- NHẠC NGŨ CUNG. Nhạc sĩ Anh Bằng và Hoàng Nam chia sẻ: “Việt Nam là một nước gồm nhiều sắc dân hòa nhịp theo dòng lịch sử lập quốc và với một nền văn hóa lâu đời, cho nên dân ca Việt rất phong phú và đa dạng. Kho tàng dân ca VN gồm nhiều vùng, nhiều miền, nhiều thể loại: Dân ca Nam phần, dân ca Huế, quan họ Bắc Ninh, dân ca Cao nguyên, và dân ca Miền núi.” (tr.415).  Nhạc trưởng Lê Văn Khoa cho biết thêm: “Nhạc cổ truyền VN có Tam cung, Tứ cung, Ngũ cung, và Lục cung. Nhưng phổ thông hơn hết là Ngũ cung (tức có thang âm năm nốt nhạc). Khác với nhạc Tây phương có Thất cung (bẩy nốt nhạc) như quý vị đã biết. Mỗi cung có màu sắc khác nhau, gây xúc động khác nhau, dùng diễn tả tâm tình khác nhau. Nhạc Ngũ cung không phải là nghèo. Nguồn gốc nhạc Việt ảnh hưởng đến với thế giới gần như không được nói đến, và người Việt cứ nghĩ mình chịu ảnh hưởng của Âu tây mà thôi. “Thật đáng tiếc!”. Một số bản nhạc của Hoa Kỳ, và các nước khác cũng đã viết hoàn toàn bằng ngũ cung, như bản nhạc Auld Lang Syne của Tô Cách Lan (Scottish) tức bài Chia Tay của Hướng Đạo, còn gọi là bài Tiễn Đưa Năm Cũ, được nhiều người biết đến là một ví dụ.” -Ngoài ra, theo thiển ý, ta thử đọc lại câu thơ Kiều, tả “khúc đoạn trường”, qua tiếng đàn Nguyệt (Cầm trăng). Đàn Nguyệt và Đàn Tỳ Bà, nguyên thủy có 4 dây. Chỉ thuần tiếng đàn, dây vũ (dây to), dây văn (dây nhỏ) mà mang nét nghệ thuật và hấp lực cao: “Trong như tiếng hạc bay qua  Đục như nước suối mới sa nửa vời  Tiếng khoan như gió thoảng ngoài  Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.”         (Truyện Thúy Kiều/Nguyễn Du)   Và: “Bốn dây như khóc như than  Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng!”         (Truyện Thúy Kiều/Nguyễn Du)   6- HAI NGUỒN VĂN HÓA ĐÔNG TÂY: – Những âm điệu dân gian Việt Nam, qua các bài dân nhạc truyền thống, bằng lời ca dao đầy trữ tình, và bản sắc dân tộc, đem đến những cảm giác thăng hoa cho đời sống, như: “Se chỉ luồn kim”, “Trống Cơm”, “Ru Con”, “Lý Ngựa Ô”, “Lý Cây Đa” v.v…được ông phối khí, hòa âm, hợp ca nhiều bè, cho dàn nhạc giao hưởng Tây phương, xen lẫn tài tình những tiếng đàn tranh, đàn bầu, như rót vào hồn người để quảng bá đến người ngoại quốc biết về những nét đẹp của văn hóa Việt Nam. – Nếu âm nhạc là “sinh ngữ”, việc mở ra một cánh cửa cho nhạc cổ truyền dân tộc Việt đi xa, hòa nhịp trong muôn sắc màu thắm tươi của ta, và của thế giới, thay vì còn mãi trong một khung trời hạn hẹp, quen thuộc, thì đó là một phương cách để bảo lưu được truyền thống dân nhạc Việt Nam? Và ta mới thấy ông đã có những đóng góp, nhìn xa, trông rộng, đem sự hòa hợp cái đẹp của âm nhạc cổ truyền Việt Nam với âm nhạc Tây phương qua các dàn nhạc giao hưởng đại hòa tấu. Sự thành công đến nỗi Tiến sĩ Nhạc trưởng Edward Cumming của Harford Symphony Orchestra tại Connecticut, Hoa Kỳ, đã phát biểu rằng:  “Khi Đàn bầu, Sáo và Khánh quyện lại với dàn nhạc giao hưởng, tôi thấy nhạc Việt và nhạc Tây phương ôm choàng lấy nhau, gắn bó nhau. Đó là cái ôm siết chặt của hai nguồn văn hóa Đông, Tây”. Mặt khác, ngay cả đến những nhạc sĩ lừng danh thế giới như Franz Liszt, Chopin, Lully, Mozart, Beethoven, Schubert, và Tchaikowsky v.v…cũng điểm thêm nhạc ngũ cung cho dòng nhạc cổ điển quen thuộc của họ có một thoáng hương xa, như ông đã nói. – Giáo Sư Lê Văn Khoa luôn kêu gọi, nhắc nhở anh em, trong lãnh vực âm nhạc cũng như nhiếp ảnh:  “Đừng quên yếu tố DÂN TỘC, tìm cái đẹp, tạo cái mới, HƯỚNG VỀ QUÊ HƯƠNG, CHỐNG CỘNG, làm VÌ DANH DỰ TẬP THỂ và DÂN TỘC hơn là vinh hiển cá nhân!” (tr.498). Còn lời chân tình nào cao đẹp hơn, đã được in thành văn sách, và cảm phục biết bao đến lời nói khí thế, và chính trực này.   7- NHIẾP ẢNH. – Một bộ môn nghệ thuật đặc sắc, trong sự nghiệp đa dạng của Giáo sư Nhiếp ảnh gia đại tài Lê Văn Khoa. Trong những bài Khảo luận về tư tưởng đạo đức và nghệ thuật nhiếp ảnh của ông đem thích thú và hữu ích đến với người đọc, nhất là cho những người yêu nghệ thuật nhiếp ảnh: – “ Luật 1/3, tức ý niệm cân đối đã có từ thời tiền sử. Sự cân đối này đã nằm trong thiên nhiên mà con người đã quan sát tìm thấy, và ứng dụng trong nghệ thuật từ ngàn xưa, cho đến ngày nay và sẽ còn rất lâu trong tương lai. – Người ảnh (sử dụng) phải có khóe nhìn của một họa sĩ, một điêu khắc gia, và tâm hồn rung động của một thi, văn, nhạc sĩ.  Nhiếp ảnh là đẹp, vì ảnh không làm cho sự việc có vẻ thật hơn mà chính nó là sự thật, (nói lên cả ngàn lời). Song, trong nghệ thuật, ta có thể biến sự thật trở nên mơ hồ, tạo một hình ảnh khác biệt, như câu nói của danh họa Pablo Picasso:“ Nghệ thuật là sự giả dối để làm cho chúng ta nhận thức sự thật.” (Art is a lie that make us realize the truth)”. Giáo sư Nhiếp ảnh gia Lê Văn Khoa cho ra đời một trường phái:“DO YOU SEE WHAT I SEE?” Tạm dịch: “Bạn có nhìn thấy, điều tôi nhìn thấy không?”. Ông là người đầy óc sáng tạo, đi trước thời đại, đã thành công đưa cảm nhận của mình đến với người xem, đưa cái mơ hồ vào cái thật, rất thật hầu thỏa mãn cái chiều kích vô biên của con người! Có hai vị Nhiếp Ảnh Gia viết về ông, thổ lộ: – NAG Gia Trung nói: “Nhờ có Ô. Khoa mà tôi có được huy chương vàng của Hội Photographic Society of New York, năm 2000, qua tác phẩm Đóa Hoa Sen. (tr.523) – Và NAG Duy Anh, hiện ở Việt Nam, viết thư biết ơn thày, chỉ vì đã được học qua sách của thày Lê Văn Khoa mà ông đoạt được nhiều giải Huy Chương Vàng Quốc Tế tại VN, (2000-2005). (tr.527). -Hiện nay, có 7 tác phẩm nhiếp ảnh của GS/ NAG Lê Văn Khoa được trưng bầy tại Bảo Tàng Viện Baltimore, Maryland, Hoa Kỳ. Một số khác hiện có tại Thư Viện của Trường Đại Học Boston, Hoa Kỳ để giảng dạy v.v…   8- CON NGƯỜI LÝ TƯỞNG. – Giáo sư, Nhạc trưởng Lê Văn Khoa, một thiên tài xuất chúng, một người “làm việc toát mồ hôi”, rất hiếm người sánh kịp. Và là một người quốc gia yêu nước mãnh liệt, đã cống hiến một đời, những giá trị sâu sắc về văn hóa nhân bản và nghệ thuật cho tha nhân, như đã nói ở trên. Đặc biệt với sáng kiến hòa âm, phối khí, dành cho ban quân nhạc Tổng Thống Phủ Ukraine/ Kyiv trình bầy bản quốc thiều VNCH một cách xuất sắc, hào hùng, gửi đến cộng đồng quốc tế như một di sản văn hóa của VNCH, nói lên sự hiện diện lá cờ vàng sáng ngời của người Việt tự do trên toàn thế giới. Và cũng là việc làm tâm linh đến với mọi con dân VN, hãy nhớ đến  Lá Cờ Vàng Quốc Gia (Cờ vàng, ba sọc đỏ) mang hồn thiêng sông núi. Một tụ điểm sống còn, đã được tô thắm bằng những giọt máu đào của người chiến sĩ VNCH, cũng như bao chiến sĩ vô danh vẫn còn đang âm thầm tiếp tục xả thân cho đại nghĩa. Cùng với bài Mặc niệm/ Hồn Tử Sĩ, tưởng nhớ đến các anh hồn tử sĩ đã nằm xuống cho chúng ta, cho đất nước được trường tồn, thì đây là việc làm lịch sử, là tiếng trống Mê Linh, là tiếng trống trận Tây Sơn, là chất keo sơn gắn bó người Việt tự do khắp năm châu, còn quan tâm đến đất nước và dân tộc, trước hiểm họa mất nước do bọn ngoại xâm và nội xâm Việt Cộng và Tàu Cộng tàn ác phi nhân gây nên. Việc làm của ông, đáng lẽ phải ở tầm vóc một quốc gia, trong lúc chỉ có mình ông cùng một nhóm người rất ít ỏi có lòng cùng với ông, mang tâm huyết ra “gánh vác” lấy, như chúng ta thấy trong tác phẩm của ông! Ông xứng đáng được tất cả chúng ta kính trọng, đón tiếp, ngưỡng mộ và tôn vinh. – Chúng ta nguyện xin Hồn Thiêng Sông Núi, mong niềm tin vào Dân Tộc Tính, mọi sợi dây Truyền Thống Bất Tuyệt, nối quá khứ với hiện tại, và tương lai mai sau: “Mai sau dù có bao giờ  Đốt lò hương ấy so tơ phím này.”   (Truyện Thúy Kiều/Nguyễn Du) Câu thơ Kiều của cụ Nguyễn Du, cho phép chúng tôi được khép lại bài giới thiệu ở đây. Sự nghiệp lừng lẫy về Văn Hóa, Nghệ Thuật của ông và Tác phẩm Lê Văn Khoa/ Một Người Việt Nam sẽ là niềm hãnh diện vô bờ cho ông, cũng như cho chúng ta. Chắc chắn, nhiều thế hệ con cháu, sẽ tôn quý ông và yêu mến tác phẩm.   NGỌC BỘI Portland, Oregon. 24/5/2014. -Nhận xét của Nhà văn Hà Bắc trên Oregon Thời Báo số 628 ngày 29/5/2014: “Đề tài “Sự nghiệp âm nhạc lẫy lừng của Nhạc trưởng Lê Văn Khoa” đã được Nhà thơ Ngọc Bội trình bầy lúc 1:45pm tại Hội trường Hollywood Senior Center một cách mạch lạc và nhuận sắc; dù với thời gian qui định  20 phút hạn hẹp vẫn phác họa được một tổng thể thấu đáo mà không để  thiếu những tình tiết dẫn chứng độc đáo”. -Nhà thơ Ngọc Bội Tên thật là Trịnh Đình Bội Nguyên Giáo Sư Trung Học tại Saigòn trước 1975. Nguyên Thiếu Tá Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị/ Quân Lực VNCH. Tu nghiệp Báo Chí tại Indiana, Hoa Kỳ năm 1969. Tị nạn chính trị tại Hoa Kỳ 1975. Từng tham gia những sinh hoạt Văn hóa, Chính trị, Xã hội và Văn nghệ trong Cộng đồng người Việt hải ngoại từ nhiều thập niên qua.    image1.jpeg .
__,_._,___

by tranquanghai1944 Categories: ARTICLES ON VIETNAMESE MUSICTags: california, giới thiệu sách « lê văn khoa, lê văn khoa, usaLeave a comment

NHẠC SĨ LÊ VĂN KHOA : MỘT SỐ SÁNG TÁC TIÊU BIỂU , thực hiện TRẦN NĂNG PHÙNG

      3 Votes

https://www.youtube.com/playlist?list=PLNBxCTIUVE72EI_33mOuJoV0j-MKXM_sE

NHẠC SĨ LÊ VĂN KHOA : MỘT SỐ SÁNG TÁC TIÊU BIỂU , thực hiện TRẦN NĂNG PHÙNG

the content of this playlist will be changed every week Play all Share Save

by tranquanghai1944 Categories: VIETNAMESE MUSICTags: lê văn khoa, sáng tác tiêu biểu, usaLeave a comment

LÊ VĂN KHOA LÀ MỘT TRONG BA NHẠC SĨ TRÊN THẾ GIỚI viết nhạc cho đàn BANDURA của xứ UKRAINE

      1 Vote

LÊ VĂN KHOA LÀ MỘT TRONG BA NHẠC SĨ TRÊN THẾ GIỚI viết nhạc cho đàn BANDURA của xứ UKRAINE.

le van khoa

Một tin quan trọng đến vừa đúng ngày kỷ niệm tháng Tư Ðen, đánh dấu 40 năm ly hương
của người Việt tị nạn cộng sản: Nhạc sĩ Lê Văn Khoa được vinh danh là một trong ba nhạc sĩ
trên thế giới viết nhạc cho đàn Bandura độc tấu với dàn nhạc giao hưởng.

Một quyển sách bằn;g tiếng Ukraine với tên khá dài “NGHỆ THUẬT VÀ SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA ÐÀN BANDURA UKRAINA TRONG THẾ KỶ 20 VÀ ÐẦU THẾ KỶ 21”,
do trường  đại  học “Vasyl Stefanyk Precarpathian National University và Ivana-Frankivsk
Regional Organization of Ukrainian Kobzars National Union thuộc viện Cao Học Quốc Gia
Ukraine mới  ấn hành, vừa được gửi đến Nhạc sĩ Lê Văn Khoa từ Kiev, Ukraine.

Giáo sư Tiến sĩ Violetta Dutchak là tác giả, dành nhiều trang trong chương thứ sáu để viết về Nhạc sĩ
Lê Văn Khoa, về sự đóng góp của ông trong việc phát triển đàn Bandura bằng cách viết nhạc cho cây
đàn dân tộc của Ukraine. Bài viết có phần nhận xét kỹ thuật viết nhạc của ông cho đàn này. Tác giả xác
nhận Lê Văn Khoa là một trong ba nhạc sĩ trên toàn thế giới, đã viết nhạc cho đàn Bandura trình tấu với
dàn nhạc giao hưởng.

Ðiểm quan trọng cần được nhấn mạnh ở đây là Nhạc sĩ Lê Văn Khoa dùng nhạc dân tộc Việt, bài dân ca
Trống Cơm và Se Chỉ Luổn Kim, viết lại cho nhạc sĩ Ukraine đàn trên cây đàn dân tộc của họ, một hình
thức đưa văn hóa của hai dân tộc đến với nhau qua âm nhạc độc đáo của cả hai bên. Ý niệm đó đã được
tác giả Tiến sĩ Violetta Dutchak nhận thấy và ghi trong lời đề tặng như sau:

“With regards to the Composer Lê Văn Khoa with great respect and gratitude for the development of cultural contacts between countries and peoples.

Professor Violetta Dutchak

Sự thành công lớn của một người tị nạn cộng sản được ghi nhận đúng vào ngày Quốc Hận thứ 40 mang một ý nghĩa sâu đậm cho mọi người Việt Nam. Phụ lục:2 videos Trống Cơm và Se Chỉ Luồn Kim do nữ nhạc sĩ Kateryna Myronyuk trình t ấu  đàn Bandura  với dàn nhạc giao hưởng Ukraine.( HoaThịnh Đốn, năm 2010)
1/ https://youtu.be/LA3sBhxxB1Q ( Trống Cơm) 2/ https://youtu.be/2s4Bwo4ezQQ ( Se Chỉ Luồn Kim) by tranquanghai1944 Categories: ARTICLES ON VIETNAMESE MUSICTags: lê văn khoa, vinh danh trong sách viết về đàn bandura xứ ukraineLeave a comment

NHẠC SĨ LÊ VĂN KHOA sáng tác nhạc phẩm “HẸN MỘT NGÀY VỀ” do Vũ Anh, Mai Hương và Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi trình bày

      2 Votes

ban nhac ngàn khơi

Sau đây là links nhạc phẩm “Hẹn Một Ngày Về”, lời nhạc do nhạc sĩ Lê Văn Khoa sáng tác và nhạc vang lên trong air hòa quyện của nét nhạc giao hưởng với tiết tấu thăng trầm khi êm ái khi hùng tráng, trong sự phối âm do chính nhạc sĩ biên soạn, “Hẹn một ngày về” trên quê hương thanh bình, tô đắp lại non sông phú cường, một quê hương thịnh vượng… Hãy nghe:

Bài Hát “Hẹn Một Ngày Về”, NS. Lê Văn Khoa:

http://www.videovietmoi.com/videohSapkMqNTHk/hen-mot-ngay-ve-le-van-khoa.html

https://www.youtube.com/embed/hSapkMqNTHk“>https://www.youtube.com/embed/hSapkMqNTHk?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=en&autohide=2&wmode=transparent

VAP* Chorus Đồng Ca “Hẹn Một ngày Về”:

http://www.videovietmoi.com/videomVfj-xi3aZs/vap-chorus-dong-ca-hen-mot-ngay-ve.html

* VAP: Vietnamese American Philharmonic (Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ).

“Ta về dựng lại quê hương mình

Đem khí lực, đem ân tình

Đắp tô lại non sông sáng ngời

Người được từ nay thơ thới

Quyết xây Việt Nam Ta phú cường”

Viêt Nam oai hùng khi khắp từ ruộng đồng cùng phố phường nơi nơi vang ca khúc hát thanh bình. Đón chào Việt Nam quê hương ngày mới, Việt Nam rực rỡ ngập trời phất phới ngọn cờ dân chủ sáng ngời…

“Việt Nam thân yêu oai dũng

Việt Nam minh châu sáng ngời nơi nơi

Việt Nam muôn đời rực rỡ ngập trời

Tươi ngọn cờ dân chủ sáng ngời

Ôi! quê hương ! Bao yêu thương! tình mặn nồng quá…”

(VHLA)Lê Hữu Mục, nhạc sĩ – Lê Văn Khoa – Một người thành công trong nhiều mặt rất khó khi người ta muốn đề cập đến cho đầy đủ. Vì vậy tôi chỉ dám nói đến một khía cạnh rất nhỏ của một lãnh vực riêng biệt, trong nhiều lãnh vực hoạt động của học giả, giáo sư, nhạc sĩ Lê Hữu Mục, là âm nhạc.
Người ta nói giáo sư Lê Hữu Mục và Lê Văn Khoa có họ hàng nhau. Họ thì có, cả hai cùng họ Lê, nhưng hàng thì không. Nhưng chúng tôi trở thành họ hàng nhờ một người khác họ. Giáo sư Lê Hữu Mục là chú họ của Phan Ngọc Hà, nhà tôi, vì vậy trở thành chú họ của tôi luôn. Lần đầu tôi gặp giáo sư Lê Hữu Mục là tại Montreal, Canada. Hôm đó sau buổi thuyết trình của tôi về âm nhạc có chiếu video tại trường đại học Montréal, do Cộng Đồng Người Việt với bà chủ tịch Bác sĩ Lâm Thu Vân tổ chức, khi ra ngoài tôi gặp giáo sư Mục. Ông cười và nói: “Này nhé, hai chú cháu đều có bài nhạc trùng tên nhau.” Vì không biết nhiều về giáo sư từ trước, tôi hỏi lại: “Thưa chú bài trùng tên nhau là bài nào vậy?” Giáo sư Mục cười, giọng nhẹ nhàng nói: “Bài Hẹn Một Ngày Về chứ bài nào. Tuy nhiên nội dung khác nhau.” Tôi nhớ lại hồi còn trẻ, khi chơi với ban nhạc trên đài phát thanh Sài-gòn, chúng tôi có hát bài “Hẹn Một Ngày Về” của nhạc sĩ Lê Hữu Mục. Không ngờ bây giờ tôi gặp chính tác giả và là người tôi gọi bằng chú.
Sự khác nhau giữa hai bài nhạc này là “Hẹn Một Ngày Về” của giáo sư Lê Hữu Mục, khi về Bắc nghỉ hè, hẹn sẽ trở lại Huế để dạy học tiếp. Còn “Hẹn Một Ngày Về” của Lê Văn Khoa là tâm tình của người vì biến cố Tháng Tư 1975 phải xa xứ, hẹn trở về quang phục quê hương. Thật ra giáo sư Mục có một bài Hẹn Một Ngày Về thứ hai, tên là Hẹn Một Ngày Về Vinh Quang với câu: “Quê Hương ơi, em hãy chờ ta trở về . . .
Hẹn một ngày về Việt Nam, cùng sông núi, chúng ta về vinh quang.
Hẹn một ngày về Việt Nam cùng tổ quốc,chúng ta về hiên ngang . . .
Đất là đất của ta, Nước là nước của ta . . .” Giáo sư Lê Hữu Mục có một quá trình hoạt động âm nhạc đáng kể, nhưng ít ai nhắc tới. Những người sinh hoạt hướng đạo chắc chắn có hát bài của nhạc sĩ Lê Hữu Mục nhưng họ có thể không biết tên và không biết mặt tác giả. Đó là một tệ trạng trong sinh hoạt âm nhạc Việt Nam. Người ta biết tên bài hát và tên ca sĩ nhưng ít ai biết tác giả của ca khúc ấy. Quý vị còn nhớ bài Con Sáo Đá, bản dịch của bài Alouette, những bài Con Voi, Chèo Đi Bơi Đi, Ta Cùng Đi, Trên Đường Xa, Lý Con Mèo và nhiều bài Lý khác, tức quý vị đã nghe, hoặc đã hát bài của nhạc sĩ Lê Hữu Mục.
Những ngày còn trai trẻ là những ngày giáo sư Mục say mê hoạt động âm nhạc, có lẽ chịu ảnh hưởng của người anh là nhạc trưởng Lê Như Khôi, chỉ huy trưởng quân nhạc Việt Nam. Ông có một người em là nhạc sĩ Lê Ngọc Linh.
Nhạc sĩ Lê Hữu Mục chơi giỏi kèn clarinette và saxophone nên được cử làm nhạc trưởng ban nhạc trong những sinh hoạt âm nhạc cuối thập niên 40. Sau ông được mời làm nhạc trưởng ban nhạc Bảo An Việt Nam. Chưa nhậm chức thì ông lại bị đề nghị xuống làm phó nhạc trưởng, để nhạc sĩ Vũ Thành làm nhạc trưởng. Ông từ chối lời mời và tự ý chấm dứt sinh hoạt âm nhạc năm 1951 để vào Huế dạy học.
Tiếng là nói chấm dứt sinh hoạt âm nhạc, nhưng cái nghiệp vẫn đeo đuổi ông. Những buổi hòa nhạc mà Lê Hữu Mục thủ dương cầm và Tôn Thất Niệm lãnh phần ca hát vẫn thu hút giới trẻ thời đó. Đến khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm về Việt Nam lập chính phủ, người quốc gia cần có quốc ca. Lúc đó bài Đăng Đàn Cung được giới thiệu với lời ca không hợp với nhạc lắm. Nhạc sĩ Lê Hữu Mục được đề nghị để viết lời cho bản quốc ca đầu tiên của Việt Nam. Đăng Đàn Cung trở thành “Tiếng Gọi Non Sông” với câu “Bên núi non hùng vĩ Việt Nam v.v…” được mọi người thời đó ưa thích. Ông cũng được Tổng Thống Diệm chỉ định ông vào quốc hội đầu tiên.
Vào giai đoạn căng thẳng của chiến cuộc Việt Pháp, ngày 14-7-1953 nhạc sĩ Lê Hữu Mục tổ chức nhạc hội tại Hà Nội với ban nhạc Hoàng Trọng.
Tôi đã đề cập đến những bài nhạc ngắn và nhỏ của nhạc sĩ Lê Hữu Mục, nhưng thật ra ông cũng có viết bài nhạc lớn: “Bảy Chặng Đường Thương Khó” của Chúa Jêsus, dựa theo bài thơ của một thi sĩ lớn người Pháp. Đây là một loại Oratorio có đơn ca, hợp ca với phần đệm của piano và dàn nhạc. Rất tiếc tác phẩm này đang được chuẩn bị trình diễn thì vị linh mục phụ trách bị đổi đi nơi khác nên việc thực hiện bất thành và tác phẩm hiện không biết ở đâu.
Ở trên tôi có nhắc đến bài “Hẹn Một Ngày Về” và tôi xin phép in ra đây để làm tài liệu chung. Khi bài nhạc được phát thanh trên đài phát thanh Huế thì giáo sư Mục được điện thoại của nhà xuất bản Tinh Hoa ở Huế. Họ đề nghị xuất bản bài hát này. Điều kiện của giáo sư Mục rất dễ dàng: Một vé máy bay khứ hồi Huế – Hà Nội. Nhờ đó giáo sư đã “hẹn” và “trở về” Huế theo lời hẹn.
Với bài “Hẹn Một Ngày Về” này tôi có một nhận xét nho nhỏ và chỉ xin nói về điểm nhận xét này chứ không phê bình nhạc căn cứ nơi lời ca theo lối thông thường của các nhà phê bình nhạc. Tôi cũng không nói đến kỹ thuật sáng tác, nghệ thuật cấu tạo âm thanh, cũng không nói đến thể loại của bài ca v v . . . Vì nhận xét âm nhạc nên tôi có một thắc mắc. Tôi hỏi giáo sư Mục điểm này hôm đầu tháng Bảy năm nay (2007) tại California. Tôi rào đón: “Thưa chú, cháu có một thắc mắc mà chỉ có chú mới giải tỏa được. Cháu nghĩ có lẽ không ai để ý đến điểm này, nhưng cháu thấy rất lạ. Trong bài “Hẹn Một Ngày Về” của chú, chú đã dùng quá nhiều nốt láy để tô điểm câu nhạc. Phải chăng chú chịu ảnh hưởng của các linh mục Tây Ban Nha, hoặc họ cho chú nghe nhiều nhạc flamenco nên khi viết nhạc chú áp dụng lối láy của kỹ thuật “canto jondo”, một lối hát flamenco của vùng Bắc Tây Ban Nha?” (Đây là kỹ thuật dùng nốt huê dạng từ nốt nhạc chính láy nhanh lên hoặc láy xuống một hoặc hai nốt rồi trở lại liền. Ông dùng đến 18 lần trong một ca khúc ngắn.) Giáo sư Lê Hữu Mục mỉm cười thú vị, không phủ nhận cũng không xác nhận. Ông ôn tồn nói: “Khoa cứ viết điều đó ra đi.”
Những lần gặp nhau từ nhiều năm qua, trong câu chuyện trao đổi âm nhạc giữa giáo sư Lê Hữu Mục và tôi, chúng tôi có rất nhiều điểm đồng ý với nhau. Ông cũng dặn tôi ghi lời xác nhận này. Vì vậy tôi ghi ra đây theo lời dặn dò gần đây nhất của ông.

by tranquanghai1944 Categories: VIDEO VIETNAM, VIETNAMESE MUSICTags: lê văn khoa, nhạc phẩm « hẹn một ngày về », usaLeave a comment

LÊ VĂN KHOA : KATERYNA MYRONYUK giới thiệu dân ca Việt

      4 Votes

Kateryna Myronyuk giới thiệu dân ca Việt

  • Lê Văn Khoa

Cuối tháng Giêng năm 2005 tôi đến Kyiv. Thủ đô của Ukraine đang phủ đầy tuyết trắng, mặt sông đã đóng đá từ lâu, thuyền bè không di chuyển trên sông được nữa. Trong thời tiết đó, tôi đến Ukraine để thu thanh Symphony Việt Nam 1975 cho kịp ngày đánh dấu 30 năm ly hương 30-4-2005. Trong ba tuần lễ lưu lại Kyiv để làm việc, tôi ở trọ trong nhà (apartment) của Nhạc trưởng Taras và Kateryna Myronyuk. Vợ của Taras, cô Kateryna là một cô gái trẻ đẹp, dịu dàng, hiếu khách. Cô tốt nghiệp âm nhạc từ Nhạc viện Tchaikowsky, năm 2005.

1. Kateryna Myronyuk - Photo by Dung Vu
Nhạc sĩ Kateryna Myronyuk và cây đàn Bandura

Kateryna tiếp đón tôi rất ân cần, lo thức ăn sáng mỗi ngày, lúc nào cũng muốn tôi ăn thật nhiều những món ăn cô dọn cho tôi và Taras. Mỗi sáng chúng tôi ba người ngồi ăn với nhau trong một nhà bếp thật nhỏ. Kateryna không biết tiếng Anh. Cô chỉ nói tiếng Ukraine, có thể biết ít nhiều tiếng Nga. Tôi hoàn toàn mù tịt hai thứ tiếng này, nên chúng tôi dùng dấu hiệu bằng tay thay lời nói.

Ðêm cuối ở Kyiv, vợ chồng Taras dành cho tôi một món quà đặc biệt. Họ mời tôi vào phòng khách nhỏ bé của họ. Ðây cũng là phòng làm việc của Taras và là phòng ngủ của tôi trong ba tuần lễ ở Ukraine. Taras mời tôi ngồi xuống ghế rồi gọi Kateryna bên phòng ngủ bước qua. Tôi nghĩ họ muốn làm màn trình diễn thời trang để giới thiệu quốc phục Ukraine, nhưng không phải. Kateryna bước vào phòng với cây đàn Bandura trên tay. Họ nói tôi là người viết nhạc nên chỉ có quà âm nhạc mới xứng đáng tiễn bước chân tôi. Kateryna ngồi xuống một chiếc ghế rồi đàn và hát cho tôi nghe mấy bài hát Ukraine và nhạc cổ điển Tây Phương. Tôi rất ngạc nhiên đồng thời rất thích thú với các màn trình diễn này.

Bandura tân thời là cây đàn có trên 60 dây, âm thanh thánh thót tương tự như tiếng đàn tranh của Việt Nam ta, nhưng âm thanh theo âm giai Tây Phương với tất cả các bán âm chứ không theo hệ thống ngũ cung như nhạc cổ truyền của ta. Ðàn có âm vực rất rộng, người đánh đàn một lúc vừa đàn giai điệu, vừa đàn tiếng đệm của bè trầm, vừa vỗ thùng đàn để thêm phần nhịp của tiếng trống ở những chỗ cần thiết, giống như đàn guitar. Người đàn giữ đàn đứng chứ không để nằm như đàn tranh. Kateryna có giọng hát soprano cao vút và rất trong. Không thể nói hết ngạc nhiên của tôi với món quà âm nhạc này.

Sau màn trình diễn, tôi hỏi Kateryna một số câu hỏi về kỹ thuật của đàn này. Xong, tôi nói: “Tôi sẽ viết nhạc cho cô đàn nhạc Việt Nam.” Họ cám ơn nhưng có vẻ không tin. Tôi nghĩ đây là cơ hội tốt để đưa nhạc Việt ra khỏi biên giới Việt Nam, việc mà tôi hằng ấp ủ từ lúc biết viết nhạc đầu thập niên 50. Tôi có ý nghĩ rất đơn sơ, muốn người ta chơi nhạc Việt, mình phải viết nhạc để người ta có thể đàn được bằng nhạc cụ của họ chứ không phải yêu cầu họ học nhạc cụ của mình để đàn nhạc Việt. Tôi cảm thấy lý thú khi người Ukraine gọi Bandura là đàn dân tộc của họ chứ không gọi là đàn cổ truyền.

Trong chuyến đi Ukraine lần thứ hai, năm 2007, tôi giữ lời hứa đem tặng vợ chồng Taras bản nhạc Trống Cơm, dân ca Việt Nam mà tôi đã viết lại cho đàn Bandura với phần đệm của dàn nhạc giao hưởng. Kateryna tỏ vẽ ngạc nhiên, liền lấy Bandura ra đàn thử. Vì là lần đầu nhìn thấy bài nhạc này, Kateryna đàn còn ngập ngừng. Ðó là việc tự nhiên cho người phải đàn bài nhạc lạ mà không dễ chơi. Cô nói cô sẽ tập thêm.  Tôi chỉ nghĩ bài nhạc này là món quà lưu niệm cho gia đình Taras nhưng không ngờ từ đó nhạc Việt đi xa hơn.

Cũng trong năm 2007, một chương trình nhạc Lê Văn Khoa với tiếng hát Ngọc Hà đươc trình diễn ở Kyiv, Ukraine. Vì Kateryna không có mặt ở thủ đô thời điểm đó nên Giáo sư Taras Yanytsky, một Giáo sư Bandura của nhiều nhạc viện và là người chiếm nhiều giải thưởng về thi tài và trình tấu đàn Bandura trên nhiều quốc gia, được  chọn độc tấu bài Trống Cơm với dàn nhạc thính phòng của Kyiv. Khán giả Ukraine được nghe một bài dân nhạc từ Việt Nam, lần đầu trình diễn với cây đàn dân tộc của họ.

2. Kateryna and Bandura - hình do gia đình cung cấp

Kateryna Myronyuk với đàn Bandura

Năm 2008 trong chương trình vinh danh nhạc sĩ Lê Văn Khoa “Người Viết Lịch Sử Bằng Âm Nhạc” do Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ tổ chức ở Carpenter Theater, Long Beach, California, Kateryna được mời trình diễn bài Trống Cơm bằng đàn Bandura với dàn nhạc giao hưởng của Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ, dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Nguyễn Khánh Hồng.  Khán giả Việt Nam rất thích thú với cây đàn lạ mắt do một cô gái da trắng trẻ, đẹp, trình diễn điệu nghệ một bài dân ca Việt Nam quen thuộc và họ đã vổ tay tán thưởng rất lâu. Ðây là hình ảnh chưa từng thấy trên bất cứ sân khấu âm nhạc Việt nào từ trước đến nay.

3. Kateryna đàn Trong Com (2008) by Khoi Turner
Kateryna Myronyuk trình diễn Trống Cơm với dàn nhạc Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ năm 2008. Nhạc trưởng Nguyễn Khánh Hồng

Năm 2009, trong khi đang thu thanh trong National Radio and Television Studio ở Kyiv, Ukraine, tôi được báo là tối về có tin rất quan trọng. Cả vợ chồng Taras đều rất vui, giọng nói gấp rút, dành nhau để nói với tôi. Họ báo tin là Kateryna đi trình sơ bộ luận án tiến sĩ của cô và bảo vệ nó trước sự khảo sát của hội đồng duyệt xét. Trong ban hội đồng thẩm xét, có Giáo sư Tiến sĩ Duchat Violetta, là người chuyên về nhạc dân tộc và đàn Bandura. Bà cũng là cây viết rất được kính nể về đàn dân tộc Ukraine này. Khi nghe Kateryna nói về việc trình diễn bài dân ca Việt Nam do một nhạc sĩ Việt Nam viết cho đàn Bandura, cả hội đồng đều ngạc nhiên. Họ cho đây là một khám phá mới, một ứng dụng mới của cây đàn dân tộc của họ mà từ trước họ chưa nghĩ tới. Vì vậy Hội Ðồng Duyệt Xét Luận Án Tiến Sĩ Ukraine đã tuyên bố nhạc sĩ Lê Văn Khoa là người đầu tiên đưa hai nguồn văn hóa đến với nhau bằng âm nhạc dân tộc của cả hai quốc gia, là dân ca Việt Nam (Á Châu) và đàn dân tộc Ukraine (Âu Châu). Họ yêu cầu Kateryna xin ảnh chân dung của tôi để họ phóng lớn và treo trong viện Khoa Học của Ukraine.

Ðàn Bandura đã từng được dùng để trình tấu nhạc của Chopin, Listz, Bach, Mozart v.v. . . từ xa xưa rồi, người Ukraine cũng có hội Bandura lớn ở New York, tại sao Lê Văn Khoa được nhận là người đầu tiên đem hai nguồn văn hóa đến với nhau bằng âm nhạc?

Từ trước nhạc sĩ Ukraine dùng nhạc nghệ thuật của các nhạc sĩ cổ điển danh tiếng khuất bóng đã lâu, từ các quốc gia khác (Âu Châu). Nhạc của những nhạc sĩ ấy do một nhạc sĩ Ukraine viết lại cho đàn Bandura trình tấu. Ở đây một nhà soạn nhạc Việt Nam, trực tiếp chuyển bài dân ca phổ thông của Việt Nam cho tiết tấu độc đáo của đàn dân tộc Ukraine, để hai bên “nói chuyện” và “hòa hợp” được bằng âm thanh đặc thù riêng của dân tộc mình mà không qua người trung gian. Theo yêu cầu, tôi viết điện thư về Mỹ, nhờ gia đình gửi ảnh chân dung của tôi qua gấp. Tôi không theo dõi việc treo ảnh này, nhưng chỉ với lời xác nhận của họ đủ làm cho tôi mát lòng mà thấy mục đích đưa nhạc Việt vào thế giới đã đạt được một phần đáng kể.

Giáo sư Duchat Violetta sau đó viết bài Rethink the Timber of the Bandura. Với tựa bài “Nghĩ Lại” hay “Xét Lại Âm Sắc Của Ðàn Bandura” đủ thấy sự giao thoa của đàn này với dân ca Việt Nam là cái gì đáng để nhạc sĩ Ukraine quan tâm và “xét lại” gía trị đích thực của chính cây đàn dân tộc họ. Ðiều đó cũng cho ta thấy cây đàn này cùng chung số phận với những nhạc cụ cổ truyền của ta, có thể sẽ bị mờ nhạt dần vào quên lãng của thời gian. Bandura đã trải qua biết bao chìm nổi theo vận nước, có biết bao nhiêu người Ukraine đã hy sinh mạng sống với nó, vì nó, và bây giờ họ bỗng thấy cây đàn ấy có cơ hội vươn tới xa hơn để đi vào thế giới. Bài viết của Giáo sư được in lại nơi trang 674-678 trong quyển sách “Lê Văn Khoa, Một Người Việt Nam”. Giáo sư Duchat Violetta phân tích hai bài dân ca Việt Nam là Trống Cơm và Se Chỉ Luồn Kim của tôi viết cho đàn Bandura độc tấu với dàn nhạc giao hưởng. Giáo sư xác nhận cô Kateryna là người đầu tiên chơi hai bài này năm 2008 ở Long Beach Center of the Arts và năm 2010 ở trường Ðại Học Cộng Ðồng Bắc Virginia.

Sau khi phân tách kỹ thuật viết nhạc bài Trống Cơm cho đàn Bandura, bà kết: “Tiếng đàn thánh thót, âm vực rộng, có những kỹ thuật độc đáo và kỹ thuật trình diễn đặc biệt của nhạc cụ độc tấu, như rung reo (tremolo) và rải dài (glissando), đều được Lê Văn Khoa sử dụng trọn vẹn. . . Nhìn chung, bài nhạc cho ta hình ảnh của món kim hoàn sắc sảo, trong sáng, với những nét chạm trổ tinh vi, thật đẹp và hấp dẫn chứ không hời hợt.”

4. Kateryna đàn Se Chỉ Luồn Kim_ảnh Thái Dắc Nhã
Kateryna và Kyiv Symphony Orchestra trình diễn Se Chỉ Luồn Kim, Washington D.C. 2010. Nhạc trưởng Lê Văn Khoa

Với bài Se Chỉ Luồn Kim, Tiến sĩ Duchat Violetta nhận xét: “Trong bài Se Chỉ Luồn Kim, Nhạc sĩ Lê Văn Khoa cũng viết với phong cách tương tự. Nhạc cũng mang bản chất nhẹ nhàng, vui tươi, tung tăng. . . Hòa âm có phong phú hơn, phối khí có hiệu năng hơn. Trong bài này tác giả dùng những nốt quãng tám kép song hành của những bộ nhạc cụ khác nhau, giúp cho tác phẩm “rộng lớn” và “bao la” hơn. Tiết nhịp của tác phẩm vận dụng bộ gõ có trống nhỏ, timpani, và âm điệu tái diễn chuyển tiếp đặc thù giữa các nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng, gợi hình ảnh các tầng lớp chỉ màu khác nhau chồng lên qua mũi kim thêu”.  

5. Lê Văn Khoa và Kateryna
Lê Văn Khoa và Kateryna Myronuyk (2009), hai người đưa dân ca Việt vào thế giới qua ngã Ukraine

Tôi ít được gặp một người Việt Nam nghe nhạc Việt mà hiểu rõ âm nhạc như Giáo sư Tiến sĩ Duchat Violetta, người Ukraine, nghe nhạc Việt Nam. Giáo sư nhận ra được ý tôi muốn diễn tả mà không cần lời giải thích hay gợi ý trước.

Tất cả những kết qủa này đều phát xuất từ món quà âm nhạc của cô Kateryna năm 2005. Nhờ Kateryna Myronyuk mà tôi biết cây đàn Bandura và khả năng của nó. Nhờ Kateryna Myronyuk mà ngày nay có nhiều người Ukraine dùng đàn Bandura để tấu lên dân ca Việt trên vùng đất xa lạ này. Vợ chồng Taras Myronyuk và tôi hứa hẹn nhau sẽ đưa nhạc Việt và đàn Bandura đi xa hơn nữa bằng cách trình diễn ở nhiều nơi với dân nhạc Việt do tôi viết lại cho đàn Bandura. Nhạc sẽ huê dạng hơn và hòa với tiếng hát của Kateryna. Việc này có dễ không? Thưa, không dễ, nhưng thực hiện được và tôi đã lên kế hoạch để thực hiện, tin rằng Kateryna sẽ giúp tôi truyền bá dân nhạc Việt ra thế giới. Việc này cũng như dương cầm thủ Lyudmila Chychuk đã giúp đưa nhạc dương cầm Việt Nam của tôi đến nhiều quốc gia Âu Châu qua các buổi trình diễn của bà.

Gần đây, ngày 16 tháng Giêng 2015, Taras và Kateryna Myronyuk cùng ba con nhỏ bị một tai nạn xe hơi trầm trọng trên dường từ miền quê về thủ đô Kyiv. Xe gặp nạn, lăn nhiều vòng. Một trong ba đứa con trai nhỏ bị văng ra khỏi xe. Tất cả người trong xe đều bất tỉnh. Bác sĩ ở Kyiv, Ukraine đều bận rộn (có thể lo chữa trị thương binh đang trong cuộc chiến chống tay sai của Nga). Sau khi dàn xếp được, xe cứu thương chở tất cả nạn nhân qua Ba Lan điều trị. Taras và ba đứa con trai bị thương nhẹ nên chỉ vài hôm là được cho về. Kateryna bị thương nặng hơn hết, phải nằm nhà thương hơn hai tháng. Cô bị bể cằm, rách mặt nhiều chỗ, phải khâu trên 35 mũi kim. Tin nhận được ngày 15 tháng Ba 2015, Taras cho biết tuy cơn nguy kịch đã qua, hiện vợ chồng ông còn đang ở trong Trung Tâm Phục Hồi tại Ba-Lan. Kateryna đang tập ăn, nói rất khó khăn, tai nghe chưa rõ, mắt còn mờ nhòe. Sẽ còn những cuộc giải phẩu tiếp theo.

Kateryna Myronyuk, một phụ nữ trẻ đẹp, tài giỏi, đạo đức, yêu và có uớc vọng phổ biến dân ca Việt, đang bị hoạn nạn quá lớn. Tương lai cô như thế nào? Không ai nói trước được! by tranquanghai1944 Categories: ARTICLES ON VIETNAMESE MUSICTags: dân ca việt tại ukraine, lê văn khoaLeave a comment

LÊ VĂN KHOA : Sức Mạnh Ðáng Sợ Của Âm Nhạc

      2 Votes

Sức Mạnh Ðáng Sợ Của Âm Nhạc

le van khoa

Thursday, 26 December 2013 00:40 GS Lê Văn Khoa
Posted by: Cao Minh Hưng

E-mail
Print

Read 90 times.


Có thể các nhà lãnh đạo miền Nam Việt Nam trước 1975 đã quên giá trị của trống trận Tây Sơn, hoặc đặt chưa đúng mức chỗ đứng của âm nhạc trong cuộc chiến Quốc-Cộng trên đất nước ta. Có thể phần lớn chúng ta vì quá tôn trọng sự tự do nên ít chú ý đến giá trị và sức mạnh của âm nhạc cần được ứng dụng trong thời chiến. Trong khi chiến cuộc gia tăng cường độ, các đài phát thanh, truyền hình của miền Nam, nhất là các phòng trà mãi rên rỉ về những cuộc tình tan vỡ. Ðến lúc sự ủy mị lan tràn quá mạnh, người có trách nhiệm tỉnh ngộ, ra lệnh cấm các cơ quan truyền thông phát thanh loại nhạc với nhịp điệu boléro, thường đi với ca khúc than khóc, dễ làm nản lòng chiến sĩ.Tôi còn nhớ khoảng năm 1972-1973 khi nộp một chương trình để thu hình cho ca đoàn Trùng Dương trình diễn trên Truyền Hình Việt Nam, trong đó có bài “Mùa Hoa Nở” của nhạc sĩ Cung Tiến. Kiểm duyệt viên của bộ Thông Tin hỏi tôi bài này theo nhịp gì? Tôi trả lời là nhịp boléro. Bài “Mùa Hoa Nở” bị xóa khỏi chương trình, không cho thu hình. Lý do: nhịp điệu boléro. Người ta không cần biết nội dung, không chú ý đến lời ca. Tôi nói với viên chức kiểm duyệt rằng: “Tôi sẽ thu hình bài này mà các ông không cấm được”. Ông ấy hỏi tôi: “Tại sao?” Tôi đáp: “Rồi các ông sẽ thấy”.

NS Kateryna Myronyuk su dung dan bandura

Tôi có lý do để trả lời cứng với người kiểm duyệt vì phần nhạc đệm không phải là ban nhạc loại phòng trà mà là ban Kim Mộc, ban nhạc diễn hành của Hải Quân Việt Nam. Bài nhạc có một đoạn ngắn được viết theo nhịp boléro, ngay sau đó tôi chuyển qua nhịp quân hành.
Vài tuần sau tôi xin kiểm duyệt lại bài “Mùa Hoa Nở”. Lần này tôi ghi bài sẽ được chơi theo nhịp quân hành, thì được cho phép thu hình. Thật ra boléro chơi với dàn hòa tấu Kim Mộc âm hưởng rất khác với ban nhạc loại phòng trà khiêu vũ.

Sau khi thu và phát hình bài “Mùa Hoa Nở” tôi bị khiển trách không phải vì nhịp điệu boléro (họ không chú ý đến boléro vì không thấy nét ủy mị) mà trách rằng: “Tại sao Tướng Kỳ chưa ra lệnh Bắc tiến mà các anh dám đi trước?” Tôi trả lời: “Cần chuẩn bị tinh thần quân dân sẵn sàng để Bắc tiến khi có lệnh! Nếu để xuất quân rồi mới chuẩn bị thì trễ mất rồi.” Lúc đó có dư luận nói quân đội miền Nam chuẩn bị Bắc tiến.

Việc này tôi tin tác giả Cung Tiến không hề biết.
Năm 2005 tôi qua Ukraine để thu thanh CD Symphony “Việt Nam 1975”. Có người trách tôi sao qua Nga để thu thanh. Họ không biết Ukraine đã bị Nga đô hộ suốt 70 năm và đã tách ra khỏi khối Liên Bang Sô Viết năm 1991, khi Nga Sô suy yếu sau vụ sụp đổ bức tường Bá Linh. Tuy hiện nay vẫn có những người thân Nga nhưng nói chung dân chúng Ukraine rất thù Nga. Dường như không có gia đình nào không có người bị Nga hành quyết.

Trong khi ở Ukraine, tôi chú ý đến nhạc cụ dân tộc của họ là cây đàn bandura và tôi có chuyển vài bài dân ca Việt như “Se Chỉ Luồn Kim” và “Trống Cơm” cho độc tấu bandura và dàn nhạc giao hưởng với ý muốn đem truyền bá dân nhạc Việt qua xứ người. Không ngờ việc làm này đã được Tiến Sĩ Nghệ Thuật chuyên về Bandura, bà Violetta Dutchak, thuộc Bộ Khoa Học Nhân Văn và Nghệ Thuật của Ukraine tuyên bố: “Lần đầu có người đưa hai nguồn văn hóa dân tộc (giai điệu dân ca Việt viết cho nhạc cụ quốc gia Ukraine) đến với nhau, qua âm nhạc.”
Khi nghiên cứu nhạc cụ mang tên là nhạc cụ dân tộc của Ukraine (họ không gọi là nhạc cụ cổ truyền), một lần nữa tôi được minh xác là từ trước người ta đã nhận thấy giá trị sâu xa của âm nhạc. Trong trường hợp này, người Đức, Ba Lan và Nga đối với nhạc dân tộc của người Ukraine đã thẳng tay truy diệt người phổ biến loại nhạc này. Ðàn bandura mang tên là “nhạc cụ dân tộc” quả nhiên đã trôi nổi và chịu khổ hạnh với dân tộc Ukraine trong nhiều thế kỷ.

Đàn bandura có thể trình diễn như nhạc cụ độc tấu, nhưng cũng có thể dùng đệm cho giọng ca. Trong thời Ukraine bị Ba Lan đô hộ ở phía Tây, đàn bandura được ưa chuộng trong triều đình Ba Lan cho đến khi cuộc nổi dậy chống Ba Lan năm 1648 thì Bandura bị cấm tuyệt và người chơi đàn này bị giết vì bị liệt kê là rất nguy hiểm. Bên phía Ðông của Ukraine, phần đất thuộc Nga cai trị, đàn bandura được phát triển mạnh cho đến năm 1876 thì đàn này bị cấm, tất cả những gì trình diễn có tính chất dân tộc và ngôn ngữ Ukraine cũng bị cấm luôn. Nhưng đáng sợ hơn hết là Stalin và cộng sản Nga trong thế kỷ 20. Người Nga muốn đồng hóa nguời Ukraine vào dân tộc Nga nên không chấp nhận có một nhạc cụ mang tên Nhạc Cụ Quốc Gia từ Ukraine.

Năm 1933 Nga đã ra tay giết 7 triệu người Ukraine (sau này có tài liệu nói số người chết có thể lên đến trên 10 triệu) trong một năm bằng cách bỏ đói họ. Nga cướp hết những gì có thể ăn được của người Ukraine, kể cả cải muối làm dưa. Họ không cho phép người Ukraine ra nước ngoài, không cho người vùng này qua vùng khác trong xứ để kiếm ăn. Họ muốn biến những người còn sống không còn tinh thần quốc gia mà trở thành người quy phục Nga tuyệt đối.

Nhưng tinh thần quốc gia dân tộc vẫn còn được cổ võ trong dân chúng do những người kobzari. Kobzar là tên đến từ đàn kobza mà kobza là tiền thân của đàn bandura. Người chơi kobza gọi là kobzar, số nhiều là kobzari. Từ xa xưa kobzari đi theo đoàn quân Cossack để ủy lạo chiến sĩ và cầu hồn cho các tử sĩ. Họ dùng bandura để đệm hát những thiên hùng ca dân tộc.

Ai là kobzar? Kobzar là người chơi đàn kobza, nhưng không phải ai chơi đàn kobza cũng đều được gọi là kobzar. Muốn được vào thành phần kobzari, người nhạc sĩ phải bị mù, thường là từ nhỏ, phải có trình độ chơi nhạc rất cao, được trắc nghiệm và chứng nhận, phải có lòng yêu nước, có bổn phận đi loan truyền chân lý và tự do đặt trên căn bản công lý và nhân bản qua âm nhạc. Những trẻ em bị mù từ nhỏ, học đàn kobza không thành đạt thì không được vào hàng kobzari. Chúng chỉ được nhập vào đoàn hành khất có tổ chức và được phép đàn một số bài nhạc của kobzari.

Những người chơi bandura, một số là người trí thức, nhưng phần lớn là nhạc sĩ mù (kobzari) đi hát rong khắp nơi. Họ nêu cao tính khí hào hùng của người Cossack, ca ngợi lịch sử của Ukraine, tôn vinh tinh thần dân tộc chống ngoại xâm. hát ca khúc ái quốc và tôn giáo.
Những người trí thức thường yêu cầu kobzar hát các bài dumy (hùng ca ái quốc). Người bình dân thường yêu cầu họ hát bài ca tôn giáo. Thông thường họ hát bài ca ăn xin zhebranka. Khi được mời vào nhà, họ hát những bài ca do chủ nhà yêu cầu. Lúc ra về họ hát bài ca cám ơn blahoda-rinnia. Những nghệ sĩ mù này thường thuê một đứa bé mồ côi dẫn đường cho họ.

Chính những nghệ sĩ mù này là những người tuyên truyền rất đắc lực. Những tin tức thu lượm được họ chuyển thành bài ca và đem phổ biến các nơi, giữ vững tinh thần yêu nước trong quần chúng và nuôi giấc mộng tự do trong lòng mọi người. Vì vậy cộng sản Nga quyết tâm diệt trừ nghệ sĩ mù.

Năm 1933 (có tài liệu ghi 1939) Stalin ra lệnh “mời” tất cả kobzari về thủ đô (cũ) là Kharkiv, Ukraine, dự đại hội âm nhạc toàn quốc để ghi chép lại tất cả các bài ca do họ sáng tác và trình diễn dùng lưu truyền cho hậu thế.

Ý tưởng quá đẹp này đã thu hút trên 300 nghệ sĩ mù về Kharkiv dự đại hội âm nhạc. Trên thực tế người Nga tập trung họ lại một chỗ để dễ thanh toán. Quả nhiên tất cả những người này đã bị tàn sát tập thể.

Stalin sợ ảnh hưởng các bài ca của những nhạc sĩ mù được truyền đi các nơi cách nhanh chóng và có hiệu quả lớn trong việc kích động quần chúng chống Nga, nên ra tay giết những kobzari càng nhiều càng tốt.

Stalin cũng đã giết rất nhiều nhạc sĩ chơi bandura khác và tuyên bố họ bị Ðức Quốc Xã hạ sát. Sau này lịch sử chứng minh không phải quân Ðức giết họ. Ðó là chưa kể vô số người bị đày đi Siberia không có ngày về. Nhiều người khác bị giết, nhưng gia đình được thông báo là họ bị lưu đày và gia đình không được phép liên lạc với tội nhân. Trong số họ có nhạc sĩ Sohohub Viktor bị xử bắn ngày 27-11-1937 với 3 đứa con trai, cũng chơi đàn bandura như cha. Nếu quý độc giả muốn có bản danh sách những người bị hành quyết, có thể vào đọc trong trang web http://en.wikipedia.org/wiki/Persecuted_bandurists. Bảng danh sách nhiều trang giấy với ngày tháng mà người ta ghi nhận được. Danh sách còn đang được cập nhật. Thường thường khi bản án đã công bố thì “tội nhân” bị hành quyết trong vài giờ hoặc vài ngày, hay chậm lắm là vài tuần lễ sau.

Ivan Kuchuhura-Kucherenko
(1874-1937)

Án lệnh xử bắn nhạc sĩ mù Ivan Kuchuhura-Kucherenko (1937)

Trong thập niên 1930, nhất là năm 1937-38 rất nhiều toán nhạc sĩ bandura của Ukraine bị Nga hành quyết, mỗi toán đến nhiều chục người bị giết cùng lúc. Trong những người bị giết có một nhạc sĩ mù tên Ivan Kuchuhura-Kucherenko, khá đặc biệt. Ông chào đời ngày7-7-1874, bị mù từ ba tuổi, có năng khiếu nhạc rất cao, khi ông nghe người khác đàn là ông nắm được kỹ thuật ngay. Lớn lên rất có tài, đi trình diễn nhiều nơi. Ông được mời trình diễn 40 buổi ở St. Petersburg, năm 1913, hầu hết ở các cơ sở giáo dục và ở thủ đô Moscow nước Nga năm 1915. Ống là một trong vài người đầu tiên được cấp bằng tuyên dương “Nghệ Sĩ Nhân Dân”, năm 1919 và bằng “Nghệ Sĩ Nhân Dân Ukraine – Liên Sô”, năm 1926. Ông được xem như là người chơi đàn bandura xuất sắc nhất. Bộ tự điển Soviet Encyclopedia của Nga có viết về ông. Họ nói quân Ðức giết ông năm 1943 khi Đức chiếm Ukraine. Trên thực tế, tài liệu của Ủy Ban Nhân Dân Nội An Vụ của Nga Sô được tìm thấy sau này, có bản án ghi rằng ông Ivan Kuchuhura-Kucherenko bị Nga xử bắn ngày 24-11-1937, sau 8 tháng tra tấn, trên vùng đất của KGB ở ngoại ô Kharkiv, Ukraine. Ông bị chôn trong mồ tập thể, nơi 300 nhạc sĩ mù và vô số người khác bị hành quyết. Bên trên là bản sao lệnh xử tử ông, có ghi rõ ngày tháng.

Một trường hợp khác, nhạc sĩ bandura tên Oleksander Borodai có quốc tịch Hoa Kỳ, khi trở về Ukraine năm 1919, liền bị bắt và bị xử bắn.
Đến năm 1960 đảng cộng sản Ukraine hoàn toàn kiểm soát việc sử dụng đàn bandura. Nam sinh không được nhận vào phân khoa bandura trong nhạc viện mà chỉ dành cho nữ sinh.

Những bài hùng ca, ái quốc viết cho nhạc cụ này bị cấm, thay thế bằng những tình ca và nhạc cổ điển Tây phương được chuyển hóa cho nhạc cụ bandura.

Bang Tuong Niem Nguoi Ukraine bi Nga giet

Ðài tưởng niệm hằng nhiều triệu người Ukraine bị Nga giết, được dựng lên ở Edmonton, Canada

Xuyên qua những dữ kiện bên trên ta không ngạc nhiên khi thấy cộng sản Việt Nam ngày trước đã cấm dân chúng đàn và ca vọng cổ, loại nhạc ưa chuộng của người miền Nam.

Bên trên và trong bài “Âm nhạc ảnh hưởng đến vạn vật” chúng ta đã thấy âm nhạc được dùng trong nhiều khía cạnh của sinh hoạt nhân loại. Ở đây ta thấy một khía cạnh khác, người ta dùng âm nhạc để nhục mạ một người, một chế độ hay cả một dân tộc khác. Tuy nhạc không dùng ngôn từ nhưng ý nghĩa của nó rất mạnh. Một sự việc xảy ra gần đây làm ta phải suy nghĩ.

Hôm 19 tháng Giêng 2011, Tổng Thống Barak Obama của Hoa Kỳ mở quốc yến để khoản dải Hồ Cẩm Ðào, nhà lãnh đạo Trung Cộng tại tòa Nhà Trắng, bữa tiệc được gọi là tinh túy của Hoa Kỳ. Trong bữa đại yến, ngoài Hồ Cẩm Ðào còn có khách quý từ nhiều quốc gia, dĩ nhiên có một chương trình nhạc chọn lọc với sự đóng góp tinh hoa của nghệ sĩ từ hai quốc gia chính. Bên Trung Hoa đưa ra một diệu thủ piano tên tuổi là Lang Lang, mà phần lớn cuộc đời trưởng thành của ông là ở Hoa Kỳ,. Sau màn trình diễn chung với cầm thủ Hoa Kỳ Lang Lang tự giới thiệu và sau đó độc tấu bài piano “My Motherland”.

Ðọc tên bài nhạc “Ðất Mẹ” người ta tưởng nó chỉ là bài ca nhớ quê. Tại sao Lang Lang trình diễn trong quốc yến này? Vì nếu chỉ là một giai điệu hay thì Trung Hoa có nhiều bài nhạc rất hấp dẫn.
Thử tìm hiểu sâu hơn ta khám phá ra điều gì?

Ðây là ca khúc được dùng trong phim “Battle on Shangangling Mountain” do Trung Hoa cộng sản sản xuất năm 1956, chuyển trận chiến trên khu tam giác đồi núi Kimhwa, Bắc Triều Tiên năm 1952 thành phim ảnh. Quân Trung Cộng bị thiệt hại nặng, cố cầm chân quân đội Hoa Kỳ để chờ viện binh. Một nữ hộ lý Trung Hoa hát bài ca này để ủy lạo thương binh, trong đó có câu: “Khi bạn thân đến, ta có rượu ngon để mời. Khi sài lang (chó ghẻ Phi Châu) đến, ta có súng săn để giết chúng.” Sài lang ở đây ám chỉ lính Mỹ. Bài ca được dùng như là bài ca tuyên truyền chống Mỹ trong nhiều thập niên và được dạy trong tất cả trường học ở Trung Hoa. Khi trình diễn ở tòa Nhà Trắng, Tổng Thống Obama, phu nhân và mọi người vỗ tay tán thưởng. Truyền hình chiếu khắp thế giới. Người Trung Hoa cộng sản xem, cười hả dạ và nói là bọn Mỹ thật ngu, người ta mắng vào mặt mình không biết nhục mà còn khen hay. Thật đáng thương hại. Người chống cộng thì lắc đầu ngao ngán. Phát ngôn viên tòa Nhà Trắng là Tommy Victor thay vì nhận sự sơ hở của mình lại đi binh vực Lang Lang, nói: “Ý nghĩ cho việc trình diễn nhạc phẩm này để hạ nhục Hoa Kỳ thì rất sai. Nó chỉ là một giai điệu hay chứ không có ý nghĩa gì khác.”

Đối lại lập luận trên, tôi nhớ một nhạc sĩ thuộc nhạc viện Hà Nội đã nói: “Khi trình diển nhạc cổ điển không lời, đàn nhấn mạnh sai chỗ là đã biểu lộ tinh thần phản loạn rồi.”

Lang Lang không xin lỗi mà còn tuyên bố với truyền hình rằng đàn bài nhạc ấy trước những bậc lãnh đạo của thế giới là một hân hạnh và danh dự, làm cho người Trung Hoa kiêu hãnh về mình, cho thấy Trung Hoa là một quốc gia khiếp đảm và người dân Trung Hoa thật sự đoàn kết.

Nếu Tổng Thống Obama cũng như ban nghi lễ của tòa Bạch Ốc không biết bài nhạc này và ý nghĩa của nó, chắc chắn Hồ Cẩm Đào và đoàn tùy tùng biết. Họ để yên, không có ý chận Lang Lang. Cũng có thể họ gài cho Lang Lang chơi để nhục mạ Hoa Kỳ, xem Hoa Kỳ có dám làm gì không. Có thể đây là một đòn dọ dẫm để họ có những hành động táo bạo hơn ở Á Châu và thế giới trong tương lai gần. Thật ra sự việc này có thể đưa đến chiến tranh như chơi, nhưng Obama quá yếu, để cho chìm xuồng luôn mà không đòi hỏi Trung Hoa giải thích.
Khi câu chuyện này được đăng trên Sina Weibo blog, rất nhiều người đáp ứng. Họ chia ra hai phe rõ rệt. Một bên thì ca tụng Lang Lang như vị anh hùng, dám thẳng cánh đâm vào Hoa Kỳ bằng sứ điệp chí tử, ghi sâu hận thù. Một bên thì cho là chọn bài nhạc để dùng không đúng chỗ. Ngày 23 tháng Giêng năm 2011, The Epoch Times ghi thêm đề phụ: “Hoa Kỳ bị hạ nhục trước mắt người Trung Hoa bằng bài ca đã từng được dùng để kích động chống Mỹ.”

Việc này làm tôi nhớ lại câu nói đáng ghi nhớ của nhà danh họa Picasso: “Nghệ thuật là sự giả dối để làm cho chúng ta nhận thức sự thật.” (Art is a lie that make us realize the truth. – Pablo Picasso).

Phải chăng âm nhạc là đề tài đáng cho người nuôi mộng quang phục quê hương nghiên cứu, khai triển và thực hiện?

Tham khảo:
– wikipedia.org/wiki/Persecuted_bandurists
– Kobzari
– Ukrainian-Bandurist-Chorus
– Phỏng vấn riêng
– NY Post
– Christian Science Monitor
– YouTube

http://www.caulacbotinhnghesi.net/index.php?option=com_content&view=article&id=1765 by tranquanghai1944 Categories: ARTICLES ON VIETNAMESE MUSIC, TIẾNG VIỆTTags: lê văn khoa, vietnamLeave a comment

TV NGƯỜI VIỆT : Nhạc sĩ Lê Văn Khoa và đêm nhạc A Lifetime of Music, California, USA

      1 Vote
https://www.youtube.com/embed/h3BWGnbu7HE?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=en&autohide=2&start=208&wmode=transparent

Published on Nov 18, 2013
Chương trình “Câu Chuyện Văn Nghệ Với Quỳnh Giao”
do Nam Phương phỏng vấn.
Được phát hình trên Người-Việt TV
vào mỗi thứ Hai hàng tuần
Đề tài:Nhạc sĩ Lê Văn Khoa
và đêm nhạc Giao Hưởng A Lifetime of Music
Người Việt TV (c) 2013 – http://NGUOIVIETTV.com
Người Việt Online – http://NGUOI-VIET.com by tranquanghai1944 Categories: VIDEO VIETNAM, VIETNAMESE MUSICTags: lê văn khoa, phỏng vấn, quỳnh giao, tv người việt, usa, vietnamLeave a comment

Mừng GS Lê Văn Khoa 80 Năm: Nhạc Hội 23-11 Và Tuyển Tập, 23-11-2013, từ 7:00PM, tại La Mirada Theater, 14900 La Mirada Blvd, La Mirada, CA 90638.

      4 Votes
BTC xin kính mời quý đồng hương quang lâm tham dự buổi hòa nhạc Lê Văn Khoa nhân kỷ niệm ông vượt con số 80 tuổi sau bao năm miệt mài cho âm nhạc.

 Mừng GS Lê Văn Khoa 80 Năm: Nhạc Hội 23-11 Và Tuyển TậpWESTMINSTER (VB) — Giáo sư Lê Văn Khoa hôm Thứ Sáu 8-11-2013 đã cho Việt Báo biết rằng, tuyển tập “Lê Văn Khoa: Một Người Việt Nam” đã trình bày hoàn tất, sẽ gửi ngay xuống nhà in và như thế sẽ kịp phát hành trong buổi đại nhạc hội chiều ngày 23-11-2013 để mừng sinh nhật thứ 80 của Giáo sư Lê Văn Khoa tại hí viện nghệ thuật La Mirada Theatre.GS cho biết đã in xong bích chương, và tập bản thảo tuyển tập đã hoàn toàn trình bày xong — đây là một tuyển tập sẽ in màu, trên giấy loại quý, dày tới 700 trang trong đó có hơn 60 tác giả — là những vị nổi tiếng từ nhiều lĩnh vực, như nghệ sĩ, khoa học gia…– góp bài viết và tranh vẽ chân dung nhà hoạt động giáo dục và nghệ thuật này.Thực ra, ngày sinh của Giáo sư Lê Văn Khoa là ngày 10 tháng 6-1933, nhưng vì hí viện La Mirada Theatre chỉ còn lịch trình trống vào ngaỳ này trong năm.Bích chương cho biết chủ đề buổi nhạc hội là “Le Van Khoa 8oth Birthday Celebration: A Lifetime of Music” (Mừng Sinh Nhật 80 của GS Lê Văn Khoa: Một Đời Âm Nhạc), với giám đốc âm nhạc sẽ là Nhạc trưởng Nguyễn Khánh Hồng.Chương trình sẽ tổ chức vào Thứ Bảy 23-11-2013, từ 7:00PM, tại La Mirada Theater, 14900 La Mirada Blvd, La Mirada, CA 90638.Theo chương trình, nhạc trưởng sẽ là: Lê Văn Khoa, Trần Chúc, Nguyễn Khánh Hồng.Chương trình điều hợp bởi 2 MC: Kim Oanh và Hoàng Trọng Thụy. Trong khi đó, Nguyễn Vân Anh sẽ đàn dươngc ầm và Nguyễn Phúc Hải đàn vĩ cầm.GS Lê Văn Khoa tại tòa soạn Việt Báo hôm Thứ Sáu 8-11-2013.Các ca si sẽ là: Quỳnh Giao, Bích Liên, Ngọc Hà, Bích Vân, Teresa Mai, Diana Nebria Fisher-Rossignol, Mộng Thúy, Nguyễn Cao Nam Trân, Anh Dũng, Quang Tuấn, Phạm Hà, Lê Hồng Quang.Vé vào cửa hạng VIP sẽ là 100$. Các vé khác sẽ là: 75$, 50$, 35$, 25$.Vé có bán ở nhà sách Tú Quỳnh (714) 531-4284, hay Bolsa Tickethttp://www.bolsaticket.com/, hay Vietnamese American Philharmonic (714) 418-0109, hay Elite Morgage (714) 890-4818.Theo bài viết của tác giả Duy Khiêm, tưạ đề “Đêm Nhạc Vinh Danh Lê Văn Khoa: ‘người Viết Lịch Sử Việt Nam Bằng Âm Nhạc’…” trên Việt Báo 2008 đã giới thiệu về GS Lê Văn Khoa:“…có người chỉ biết Lê Văn Khoa là một nhạc trưởng và là một nhà soạn nhạc tài ba. Có người thì biết Lê Văn Khoa qua những tác phẩm nhiếp ảnh giá trị và đầy nghệ thuật. Còn một số người khác thì chỉ biết ông là một nhà giáo hiền lành và thường khuyến khích con cái theo dõi những chương trình giáo dục trên đài truyền hình do “thầy Khoa” thực hiện. Riêng tôi thì chỉ được hân hạnh quen biết, được học hỏi và được hoạt động cùng với ông trong lãnh vực xã hội, và phục vụ cộng đồng từ nhiều năm qua…”Sau đây là sơ lược tiểu sử:– GS Lê Văn Khoa sinh ngày 16-10-1933 ở Cần Thơ.– Tị nạn chiến tranh tại Hoa Kỳ vào năm 1975.– Soạn nhạc nhiều thể loại và đã có khoảng 600 nhạc phấm và hòa âm.– Nổi tiếng với nhiều bài viết bài về âm nhạc.– GS Lê Văn Khoa tự học Nhiếp Ảnh từ thuở hai mươi và đã được nhiều giải thưởng.– Năm 1968, giúp sáng lập Hội Nhiếp Ảnh Nghệ Thuật và giúp Hội in nhiều sách.– GS Lê Văn Khoa là người Việt đầu tiên có ảnh triển lãm ở Quốc Hội Hoa Kỳ.— Nguyên là giáo sư môn nhiếp ảnh tại Đại Học Salisbury State College, Tiểu Bang Maryland, năm 1976-1977.(theo Việt Báo Online)VHLA by tranquanghai1944 Categories: ARTICLES ON VIETNAMESE MUSIC, TIẾNG VIỆTTags: california, lê văn khoa, mừng thọ 80, usaLeave a comment

LÊ VĂN KHOA / 80th Birthday Celebration : A LIFE TIME OF MUSIC, chương trình đêm nhạc tại La MIRANDA THEATER, 23 tháng 11, 2013, CALIFORNIA, USA

      3 Votes
Video cũng giới thiệu Chương trình Đêm Nhạc “LÊ VĂN KHOA – A LIFE TIME OF MUSIC” sẽ được tổ chức tại La Mirada Theater vào ngày thứ Bảy, 23 tháng 11 năm 2013, lúc 7 giờ tối để mừng sinh nhật 80 của Nhạc sĩ Lê Văn Khoa và ra mắt quyển sách “LÊ VĂN KHOA – MỘT NGƯỜI VIỆT NAM” do thân hữu thực hiện trong 4 năm qua.http://www.caulacbotinhnghesi.net/index.php?option=com_content&view=article&id=1695http://www.youtube.com/watch?v=zDqyzPyf9DQThân kính,Cao Minh HưngCâu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ

PosterSS-A
Le Van Khoa - Mot Nguoi Viet Nam

by tranquanghai1944 Categories: TIẾNG VIỆT, VIDEO VIETNAM, VIETNAMESE MUSICTags: lê văn khoa, ra mắt sách, usa, đêm nhạc vinh danhLeave a comment

Lê Văn Khoa, Âm Nhạc và Dân Tộc, tháng 10, 2013, USA

NHẠC SĨ LÊ VĂN KHOA sáng tác nhạc phẩm “HẸN MỘT NGÀY VỀ” do Vũ Anh, Mai Hương và Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi trình bày

NHẠC SĨ LÊ VĂN KHOA sáng tác nhạc phẩm “HẸN MỘT NGÀY VỀ” do Vũ Anh, Mai Hương và Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi trình bày

      2 Votes

ban nhac ngàn khơi

Sau đây là links nhạc phẩm “Hẹn Một Ngày Về”, lời nhạc do nhạc sĩ Lê Văn Khoa sáng tác và nhạc vang lên trong air hòa quyện của nét nhạc giao hưởng với tiết tấu thăng trầm khi êm ái khi hùng tráng, trong sự phối âm do chính nhạc sĩ biên soạn, “Hẹn một ngày về” trên quê hương thanh bình, tô đắp lại non sông phú cường, một quê hương thịnh vượng… Hãy nghe:

Bài Hát “Hẹn Một Ngày Về”, NS. Lê Văn Khoa:

http://www.videovietmoi.com/videohSapkMqNTHk/hen-mot-ngay-ve-le-van-khoa.html

https://www.youtube.com/embed/hSapkMqNTHk“>https://www.youtube.com/embed/hSapkMqNTHk?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=en&autohide=2&wmode=transparent

VAP* Chorus Đồng Ca “Hẹn Một ngày Về”:

http://www.videovietmoi.com/videomVfj-xi3aZs/vap-chorus-dong-ca-hen-mot-ngay-ve.html

* VAP: Vietnamese American Philharmonic (Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ).

“Ta về dựng lại quê hương mình

Đem khí lực, đem ân tình

Đắp tô lại non sông sáng ngời

Người được từ nay thơ thới

Quyết xây Việt Nam Ta phú cường”

Viêt Nam oai hùng khi khắp từ ruộng đồng cùng phố phường nơi nơi vang ca khúc hát thanh bình. Đón chào Việt Nam quê hương ngày mới, Việt Nam rực rỡ ngập trời phất phới ngọn cờ dân chủ sáng ngời…

“Việt Nam thân yêu oai dũng

Việt Nam minh châu sáng ngời nơi nơi

Việt Nam muôn đời rực rỡ ngập trời

Tươi ngọn cờ dân chủ sáng ngời

Ôi! quê hương ! Bao yêu thương! tình mặn nồng quá…”

(VHLA)Lê Hữu Mục, nhạc sĩ – Lê Văn Khoa – Một người thành công trong nhiều mặt rất khó khi người ta muốn đề cập đến cho đầy đủ. Vì vậy tôi chỉ dám nói đến một khía cạnh rất nhỏ của một lãnh vực riêng biệt, trong nhiều lãnh vực hoạt động của học giả, giáo sư, nhạc sĩ Lê Hữu Mục, là âm nhạc.
Người ta nói giáo sư Lê Hữu Mục và Lê Văn Khoa có họ hàng nhau. Họ thì có, cả hai cùng họ Lê, nhưng hàng thì không. Nhưng chúng tôi trở thành họ hàng nhờ một người khác họ. Giáo sư Lê Hữu Mục là chú họ của Phan Ngọc Hà, nhà tôi, vì vậy trở thành chú họ của tôi luôn. Lần đầu tôi gặp giáo sư Lê Hữu Mục là tại Montreal, Canada. Hôm đó sau buổi thuyết trình của tôi về âm nhạc có chiếu video tại trường đại học Montréal, do Cộng Đồng Người Việt với bà chủ tịch Bác sĩ Lâm Thu Vân tổ chức, khi ra ngoài tôi gặp giáo sư Mục. Ông cười và nói: “Này nhé, hai chú cháu đều có bài nhạc trùng tên nhau.” Vì không biết nhiều về giáo sư từ trước, tôi hỏi lại: “Thưa chú bài trùng tên nhau là bài nào vậy?” Giáo sư Mục cười, giọng nhẹ nhàng nói: “Bài Hẹn Một Ngày Về chứ bài nào. Tuy nhiên nội dung khác nhau.” Tôi nhớ lại hồi còn trẻ, khi chơi với ban nhạc trên đài phát thanh Sài-gòn, chúng tôi có hát bài “Hẹn Một Ngày Về” của nhạc sĩ Lê Hữu Mục. Không ngờ bây giờ tôi gặp chính tác giả và là người tôi gọi bằng chú.
Sự khác nhau giữa hai bài nhạc này là “Hẹn Một Ngày Về” của giáo sư Lê Hữu Mục, khi về Bắc nghỉ hè, hẹn sẽ trở lại Huế để dạy học tiếp. Còn “Hẹn Một Ngày Về” của Lê Văn Khoa là tâm tình của người vì biến cố Tháng Tư 1975 phải xa xứ, hẹn trở về quang phục quê hương. Thật ra giáo sư Mục có một bài Hẹn Một Ngày Về thứ hai, tên là Hẹn Một Ngày Về Vinh Quang với câu: “Quê Hương ơi, em hãy chờ ta trở về . . .
Hẹn một ngày về Việt Nam, cùng sông núi, chúng ta về vinh quang.
Hẹn một ngày về Việt Nam cùng tổ quốc,chúng ta về hiên ngang . . .
Đất là đất của ta, Nước là nước của ta . . .” Giáo sư Lê Hữu Mục có một quá trình hoạt động âm nhạc đáng kể, nhưng ít ai nhắc tới. Những người sinh hoạt hướng đạo chắc chắn có hát bài của nhạc sĩ Lê Hữu Mục nhưng họ có thể không biết tên và không biết mặt tác giả. Đó là một tệ trạng trong sinh hoạt âm nhạc Việt Nam. Người ta biết tên bài hát và tên ca sĩ nhưng ít ai biết tác giả của ca khúc ấy. Quý vị còn nhớ bài Con Sáo Đá, bản dịch của bài Alouette, những bài Con Voi, Chèo Đi Bơi Đi, Ta Cùng Đi, Trên Đường Xa, Lý Con Mèo và nhiều bài Lý khác, tức quý vị đã nghe, hoặc đã hát bài của nhạc sĩ Lê Hữu Mục.
Những ngày còn trai trẻ là những ngày giáo sư Mục say mê hoạt động âm nhạc, có lẽ chịu ảnh hưởng của người anh là nhạc trưởng Lê Như Khôi, chỉ huy trưởng quân nhạc Việt Nam. Ông có một người em là nhạc sĩ Lê Ngọc Linh.
Nhạc sĩ Lê Hữu Mục chơi giỏi kèn clarinette và saxophone nên được cử làm nhạc trưởng ban nhạc trong những sinh hoạt âm nhạc cuối thập niên 40. Sau ông được mời làm nhạc trưởng ban nhạc Bảo An Việt Nam. Chưa nhậm chức thì ông lại bị đề nghị xuống làm phó nhạc trưởng, để nhạc sĩ Vũ Thành làm nhạc trưởng. Ông từ chối lời mời và tự ý chấm dứt sinh hoạt âm nhạc năm 1951 để vào Huế dạy học.
Tiếng là nói chấm dứt sinh hoạt âm nhạc, nhưng cái nghiệp vẫn đeo đuổi ông. Những buổi hòa nhạc mà Lê Hữu Mục thủ dương cầm và Tôn Thất Niệm lãnh phần ca hát vẫn thu hút giới trẻ thời đó. Đến khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm về Việt Nam lập chính phủ, người quốc gia cần có quốc ca. Lúc đó bài Đăng Đàn Cung được giới thiệu với lời ca không hợp với nhạc lắm. Nhạc sĩ Lê Hữu Mục được đề nghị để viết lời cho bản quốc ca đầu tiên của Việt Nam. Đăng Đàn Cung trở thành “Tiếng Gọi Non Sông” với câu “Bên núi non hùng vĩ Việt Nam v.v…” được mọi người thời đó ưa thích. Ông cũng được Tổng Thống Diệm chỉ định ông vào quốc hội đầu tiên.
Vào giai đoạn căng thẳng của chiến cuộc Việt Pháp, ngày 14-7-1953 nhạc sĩ Lê Hữu Mục tổ chức nhạc hội tại Hà Nội với ban nhạc Hoàng Trọng.
Tôi đã đề cập đến những bài nhạc ngắn và nhỏ của nhạc sĩ Lê Hữu Mục, nhưng thật ra ông cũng có viết bài nhạc lớn: “Bảy Chặng Đường Thương Khó” của Chúa Jêsus, dựa theo bài thơ của một thi sĩ lớn người Pháp. Đây là một loại Oratorio có đơn ca, hợp ca với phần đệm của piano và dàn nhạc. Rất tiếc tác phẩm này đang được chuẩn bị trình diễn thì vị linh mục phụ trách bị đổi đi nơi khác nên việc thực hiện bất thành và tác phẩm hiện không biết ở đâu.
Ở trên tôi có nhắc đến bài “Hẹn Một Ngày Về” và tôi xin phép in ra đây để làm tài liệu chung. Khi bài nhạc được phát thanh trên đài phát thanh Huế thì giáo sư Mục được điện thoại của nhà xuất bản Tinh Hoa ở Huế. Họ đề nghị xuất bản bài hát này. Điều kiện của giáo sư Mục rất dễ dàng: Một vé máy bay khứ hồi Huế – Hà Nội. Nhờ đó giáo sư đã “hẹn” và “trở về” Huế theo lời hẹn.
Với bài “Hẹn Một Ngày Về” này tôi có một nhận xét nho nhỏ và chỉ xin nói về điểm nhận xét này chứ không phê bình nhạc căn cứ nơi lời ca theo lối thông thường của các nhà phê bình nhạc. Tôi cũng không nói đến kỹ thuật sáng tác, nghệ thuật cấu tạo âm thanh, cũng không nói đến thể loại của bài ca v v . . . Vì nhận xét âm nhạc nên tôi có một thắc mắc. Tôi hỏi giáo sư Mục điểm này hôm đầu tháng Bảy năm nay (2007) tại California. Tôi rào đón: “Thưa chú, cháu có một thắc mắc mà chỉ có chú mới giải tỏa được. Cháu nghĩ có lẽ không ai để ý đến điểm này, nhưng cháu thấy rất lạ. Trong bài “Hẹn Một Ngày Về” của chú, chú đã dùng quá nhiều nốt láy để tô điểm câu nhạc. Phải chăng chú chịu ảnh hưởng của các linh mục Tây Ban Nha, hoặc họ cho chú nghe nhiều nhạc flamenco nên khi viết nhạc chú áp dụng lối láy của kỹ thuật “canto jondo”, một lối hát flamenco của vùng Bắc Tây Ban Nha?” (Đây là kỹ thuật dùng nốt huê dạng từ nốt nhạc chính láy nhanh lên hoặc láy xuống một hoặc hai nốt rồi trở lại liền. Ông dùng đến 18 lần trong một ca khúc ngắn.) Giáo sư Lê Hữu Mục mỉm cười thú vị, không phủ nhận cũng không xác nhận. Ông ôn tồn nói: “Khoa cứ viết điều đó ra đi.”
Những lần gặp nhau từ nhiều năm qua, trong câu chuyện trao đổi âm nhạc giữa giáo sư Lê Hữu Mục và tôi, chúng tôi có rất nhiều điểm đồng ý với nhau. Ông cũng dặn tôi ghi lời xác nhận này. Vì vậy tôi ghi ra đây theo lời dặn dò gần đây nhất của ông.

Cao Minh Hưng: Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa – Người Bắc Cầu Nối Các Thế Hệ Bằng Âm Nhạc –

Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa – Người Bắc Cầu Nối Các Thế Hệ Bằng Âm N ăn Khoa – Người Bắc Cầu Nối Các Thế Hệ Bằng Âm Nhạc – Cao Minh Hưnghạc – Cao Minh Hưng

Details Tác giả: Cao Minh Hưng Published: 10 Tháng Mười Hai 2019 Hits: 714

User Rating: 5 / 5 Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active Please Rate  

levankhoa

Khi nhạc sĩ Lê Văn Khoa rời Việt Nam sau biến cố đau thương của năm 1975, tôi chỉ vừa tròn sáu tuổi. Tuyệt nhiên tôi không có ký ức gì về những chương trình văn nghệ và giáo dục mà ông đã từng điều khiển trên đài T.V. trước năm 1975. Cũng như nhạc sĩ Phạm Duy, Lam Phương, Nam Lộc và một số nhạc sĩ tên tuổi khác, nhạc sĩ Lê Văn Khoa rời khỏi đất nước mang theo cả một gia tài âm nhạc và nghệ thuật nhiếp ảnh mà ông đã gầy dựng trước năm 1975.

Sau năm 1975, thế hệ của chúng tôi không còn được nghe gì về ông ngoài những chương trình bố tôi thỉnh thoảng bắt sóng được từ đài VOA, có đôi lần nói về ông. Những năm cuối của thập niên 70 và những năm đầu của thập niên 80, những thanh thiếu niên ở lứa tuổi chúng tôi chỉ còn được nhồi nhét bởi những bản nhạc ca ngợi chế độ, lãnh tụ, những bản tình ca ca ngợi các nam nữ « thanh niên xung phong », « em nông trường, anh biên giới », hay tâng bốc chế độ xã hội chủ nghĩa với những hình ảnh như « kìa xa xa ống khói kia nhà máy, con thấy có đẹp không? », v.v…. Thật hiếm hoi khi thỉnh thoảng được bố tôi lén mở cho nghe những cuốn tape « nhạc vàng » cũ kỹ còn sót lại trong chiếc máy phát nhạc cũng cũ kỹ không kém.

Tôi lớn lên trên miền sông nước miền Nam. Tuổi thơ của tôi có lẽ đã bao lần được nghe mẹ ru ngủ trong những làn điệu dân ca như « Gió mùa thu mẹ ru con ngủ, năm canh chày mẹ thức đủ vừa năm… » hay được tắm mình dưới ánh trăng rằm trong khung cảnh bao la, trải rộng của những cánh đồng thơm mùa lúa chín với những « hội đêm trăng rằm… », với những nam thanh nữ tú trong những điệu hát « Lý Ngựa Ô ». Tôi và các bạn trẻ cùng trang lứa chắc sẽ không bao giờ có thể tưởng tượng rằng những làn điệu dân ca dân gian mộc mạc ấy sẽ có một ngày được chắp cho đôi cánh, được khoác lên mình chiếc áo thật lộng lẫy, trở thành những bản nhạc đã vượt qua cái khung quê mộc mạc, bình dị thuở nào để đến với giới thưởng ngoạn âm nhạc, được mang vào trình diễn ở những nhạc viện sang trọng khắp nơi trên thế giới với nhiều khách thưởng thức người nước ngoài.

Người đưa những khúc nhạc dân gian Việt Nam vào những bản hoà tấu theo nhạc điệu Tây phương không ai khác hơn chính là người nhạc sĩ tài ba Lê Văn Khoa.

Đã có nhiều buổi phỏng vấn, bài vở, sách báo viết về vị Giáo sư Nhạc sĩ Lê Văn Khoa đáng kính, với những tác phẩm xuất sắc và thành công từ lĩnh vực âm nhạc, đến nghệ thuật nhiếp ảnh cũng như những quyển sách với nội dung giáo dục của ông. Đã có nhiều chương trình vinh danh ông với những đóng góp quý báu của ông trong nhiều lĩnh vực. Ông rất xứng đáng với danh hiệu « Người viết lịch sử Việt Nam qua âm nhạc », như chủ đề của buổi hoà nhạc gần đây dành cho sự nghiệp âm nhạc của ông gắn với những thăng trầm của đất nước. Trong bài viết này, tôi chỉ xin được viết về ông như một « người bắc cầu nối các thế hệ bằng âm nhạc ».

Như nhà văn Phạm Xuân Đài đã có lần đề cập đến, nếu cuốn « Chiến Tranh Và Hoà Bình » của Leon Tolstoi đã vẽ nên bức bích họa vĩ đại của đất nước và dân tộc Nga thời đầu thế kỷ 19 trước sự xâm lăng của Napoleon, hoặc cuốn sách « Cuốn Theo Chiều Gió » (« Gone With The Wind ») của Margarrete Mitchell nói về cuộc chiến tranh Nam Bắc của đất nước Mỹ vào giữa thế kỷ 19, hoặc xa hơn nữa về quá khứ của đất nước Trung Hoa thời Tam quốc có cuốn tiểu thuyết lịch sử « Tam Quốc Diễn Nghĩa » của La Quán Trung hay « Tây Du Ký » của Ngô Thừa Ân ghi lại chuyến du hành thỉnh kinh sang Ấn Độ của nhà sư Trần Huyền Trang, thì người Việt ở hải ngoại của chúng ta may mắn có « Khúc Giao Hưởng Việt Nam 1975 » của nhạc sĩ Lê Văn Khoa ra đời trong thời điểm hồi tưởng 30 năm mất nước.

Tôi còn nhớ trong một cuộc phỏng vấn, giáo sư Lê Văn Khoa đã trích dẫn câu nói của nhạc sĩ lừng danh Chopin, « Thưa cha, nếu cha cho phép con nói với cha bằng âm nhạc, con sẽ nói rõ tình yêu của con với cha hơn là ngôn từ. » Tôi xin mượn ý của câu nói này khi nói về âm nhạc của nhạc sĩ Lê Văn Khoa trong vai trò của « người bắc cầu nối các thế hệ bằng âm nhạc ». Chỉ cần với một « Symphony Việt Nam 1975 » thôi, ông đã xuất sắc hoàn thành vai trò của « người bắc cầu » này qua những tấu khúc tuyệt vời của ông. Không cần phải đọc nhiều cuốn sách thật dày viết về hình ảnh của xã hội Việt Nam trong thời cận đại, chỉ cần lắng nghe những âm thanh êm dịu qua sự trình bày điêu luyện của dàn nhạc “Kyiv Symphony Orchestra” trong « Full Moon », các thế hệ trẻ có thể hình dung được hình ảnh của đêm trăng rằm. Đó không phải là vầng trăng mà các em thường thấy mọc sau những tòa cao ốc cao ngất trên đất nước này, « Full Moon » trong « Symphony Vietnam 1975 » sẽ đưa tâm hồn các em trở về với những đêm trăng rằm thanh bình ngày nào trên quê hương, trong không gian hội hè vui vẻ sau những ngày mùa bội thu. Hay lời « Ru Con » trong « In the Depth of the Night » của nhạc sĩ Lê Văn Khoa sẽ làm cho thế hệ trẻ được đắm mình trong tiếng ru êm đềm ngọt ngào của mẹ, để tâm hồn của họ được dịp lắng đọng sau những tháng ngày mệt mỏi chạy đua với nhịp sống hối hả như nhịp nhạc Rock & Roll hay Rap ở đây.

Là một trong hàng ngàn những tác giả đã và đang viết trong chương trình của nhật báo Việt Báo trong chủ đề « Viết Về Nước Mỹ », tôi đã viết và được đọc nhiều câu chuyện thương tâm viết về những cảnh vượt biển hãi hùng trên bước đường đi tìm tự do. Nhưng có lẽ những ký ức trong những năm tháng đau thương vượt biển này đã được nhạc sĩ Lê Văn Khoa gửi gắm thật trọn vẹn qua những nốt nhạc trong nhạc phẩm « On High Sea ». Khi nghe « On High Sea » của ông, những âm thanh cuồn cuộn như những đợt sóng biển hung tàn như đang muốn nhận chìm con thuyền nhỏ mong manh cùng với bao nhiêu tấm thân đang mệt lã sau bao nhiêu ngày đêm chống chọi với tử thần. Chỉ có niềm rung cảm thật sự xuất phát từ tình thương nhân loại mới thúc đẩy ông viết nên những nốt nhạc đầy hình tượng và xúc cảm đến tột cùng như vậy.

Như Chopin đã nói với người cha về tình yêu của ông dành cho cha qua âm nhạc, tôi sẽ mượn những tiết tấu trong « On High Sea » của nhạc sĩ Lê Văn Khoa để « kể » cho các con cháu của tôi, các thế hệ mai sau biết thảm cảnh vượt biển tìm tự do của người Việt tị nạn, cũng như nỗi vui mừng khi đến được bến bờ tự do, như bản nhạc chất chứa những lời reo vui trong « Hymn to Freedom » (« Ca ngợi Tự Do ») của nhạc sĩ Lê Văn Khoa. Cám ơn ông đã bắc một nhịp cầu cảm thông của những thế hệ mai sau với những khổ đau và hạnh phúc của thế hệ đầu khi đến được miền đất hứa qua âm nhạc của ông, những dòng nhạc không lời nhưng có sức mạnh hơn bao lời nói.

Khi nói đến vai trò của người « bắc cầu nối các thế hệ bằng âm nhạc » của nhạc sĩ Lê Văn Khoa, tôi không thể không nhắc đến CD « Memories » của ông. Riêng bản thân tôi, trong lúc sáng tác những ca khúc, đã không biết bao nhiêu lần tôi đã đắn đo với một câu hỏi cứ mãi lẩn quẩn trong đầu: « Những gì tôi sáng tác hôm nay có được các thế hệ mai sau hiểu được hay không? » Tôi đã cố làm dịu nỗi đắn đo băn khoăn của mình bằng cách viết song ngữ qua ca khúc « Chào Mùa Xuân Về ». Tuy nhiên, dù cho tôi đã đặt lời nhạc thật ngắn gọn, dễ hiểu qua thể điệu Chachacha vui tươi cho các em dễ cảm thông, như tôi vẫn có cảm giác như mình không thể nào diễn tả hết những cảm xúc của mình. Làm sao cho các em thấu hiểu nỗi háo hức vui mừng khi nhìn cánh én mang mùa Xuân về, hay thấy hết cảnh nhộn nhịp, náo nức và mùi hương vị đặc biệt của ngày Tết qua tiếng pháo nổ, tiếng trống múa lân, v.v…? Vậy mà nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã thật thần tình khi làm được điều này qua « Memories ».

Chỉ cần nghe nhạc sĩ Irina Starodub trình bày bản « Beautiful Bamboo » (« Cây Trúc Xinh ») của nhạc sĩ Lê Văn Khoa là người nghe dù đang sống ở phương trời nào cũng cảm nhận được qua tiếng đàn, những làn gió thoảng qua những khóm trúc mọc ở miền Tây Đô, cũng là quê hương của của ông, hay một dòng nước êm ả chảy xuôi dưới ánh trăng mờ như tiếng đàn tuyệt vời qua nhạc phẩm « In the Moon Light » của nhạc sĩ Lê Văn Khoa.

Như thế đó, không cần một lời nhạc nào, nhưng nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã thành công khi vẽ nên bức tranh thật lãng mạn, trữ tình của quê hương Việt Nam thanh bình ngày nào. Khi các thế hệ trẻ muốn tìm về những âm điệu dân gian ngũ cung, các em có thể nghe một « Lý Ngựa Ô » qua tấu khúc « Song of the Black Horse ». Điều tài tình của nhạc sĩ Lê Văn Khoa là ở chỗ đó. Khi các em muốn tìm về nguồn cội của nền văn hóa Việt Nam, các em sẽ không bị lạ lẫm trước những nhạc cụ cổ truyền thuần tuý như đàn tranh, đàn bầu, v.v… mà nét nhạc dân tộc cổ truyền đã được nhạc sĩ Lê Văn Khoa mang đến cho người nghe trong tiếng Piano, Cello, Violin,…. những nhạc cụ đặc trưng cho nền âm nhạc Tây phương.

Nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã thật sự làm một cuộc cách mạng trong âm nhạc Việt nam bằng cách đi tiên phong trong việc đưa nền âm nhạc dân tộc cổ truyền của Việt Nam được « Tây phương hóa ». Với phương cách này, nền âm nhạc của Việt nam có cơ hội gần gũi và dễ được sự cảm thông, đón nhận của người nghe cũng như những nhạc sĩ nổi tiếng nước ngoài có cơ hội trình diễn dễ dàng hơn những nhạc phẩm của ông. Tuy nhiên, dù rất « Tây phương », nhưng khi nghe nhạc của ông, người nghe vẫn có thể nhận ra ngay chất nhạc « dân gian Việt Nam » trong những nhạc phẩm của nhạc sĩ Lê Văn Khoa. Một lối trình bày thật hài hòa mà không để mất đi bản sắc của âm nhạc dân tộc. Đây thật là một điều ít có một nhạc sĩ nào có thể làm được. Khi nghe nhạc của ông, có một cái gì đó mà ta có thể nhận ra ngay « Ồ, đây là tác phẩm của nhạc sĩ Lê Văn Khoa đây mà ». Một cái gì đó rất « Lê Văn Khoa »! Từ « Memory » (« Ký Ức ») đến « On The Way Home » (« Trên Đường Về Nhà ») đều chất chứa những nốt nhạc trầm bổng vẽ nên một vùng trời kỷ niệm, những kỷ niệm riêng tư của chính tác giả nhưng người nghe cũng có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh của chính mình trong khung trời quê hương kỷ niệm đó, và đó cũng chính là những điều tâm sự mà các thế hệ đi trước muốn gửi trao đến các thế hệ mai sau nhờ sự đóng góp của âm nhạc của nhạc sĩ Lê Văn Khoa. Còn nhiều tác phẩm khác nữa của ông mà trong phạm vi của bài viết, tôi không thể ghi ra hết nơi đây.

Những điều trăn trở, băn khoăn của những thế hệ đi trước là mong muốn được gửi đến các thế hệ mai sau những trang lịch sử và hình ảnh của quê hương Việt Nam nói chung và lịch sử của người Việt tị nạn nói riêng cũng như việc giữ gìn bản sắc và bảo tồn, phát triển nền văn hóa Việt đã được trút đi một phần nào gánh nặng khi chúng ta may mắn có được một người nhạc sĩ tài hoa Lê Văn Khoa. Ông đã hy sinh gần trọn cuộc đời mình, không vì danh vọng, tiền bạc mà chỉ muốn hiến dâng trái tim và khối óc đầy nghệ thuật để làm người « bắc cầu nối các thế hệ bằng âm nhạc » của mình.

Chỉ một việc làm đó thôi, cũng đã đủ cho cá nhân tôi xin được nghiêng mình ngưỡng mộ và nghìn lần cảm ơn ông, người nhạc sĩ tài hoa Lê Văn Khoa.

Cao Minh Hưng
10/2009

http://www.tongphuochiep.com/index.php/bao-chi/tac-gi-tac-ph-m/29658-nh-c-si-le-van-khoa-ngu-i-b-c-c-u-n-i-cac-th-h-b-ng-am-nh-c-cao-minh-hung

PHƯỢNG HOÀNG 6: Tiểu Sử Lê Văn Khoa (1933 – )

/PHƯỢNG HOÀNG 6Tiểu Sử Lê Văn Khoa (1933 – )

Chủ đề trong ‘Book Bio‘ do Phượng Hoàng 6 khởi đầu 2 tháng Hai 2010./

  1. Phượng Hoàng 6 Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Sinh ngày 10 tháng Sáu 1933, Cần Thơ, Nam Việt Nam.

    Sinh sống tại Việt Nam đến cuối tháng Tư 1975

    Tị nạn chính trị và định cư tại Hoa Kỳ từ tháng Năm 1975.


    Tóm lược sinh hoạt:

    1954 – Trúng hai giải Sáng Tác Nhạc Toàn Quốc

    1958-1968 -Chiếm nhiều giải thưởng Nhiếp Ảnh

    – Ca trưởng Ca Đoàn Cơ Đốc

    – Ca trưởng Ca Đoàn Trùng Dương

    1968-1975 -Thực hiện chương trình giáo dục thiếu nhi “Thế Giới của Trẻ Em” Truyền Hình Việt Nam cho đến tháng Tư 1975

    1968 – Diễn thuyết “Nhiếp Ảnh Việt Nam Đi Về Đâu?”

    – Đồng sáng lập Hội Ảnh Nghệ Thuật Việt Nam (APA) và được bầu làm hội trưởng cho đến nay (1975 ly hương, tái lập tại Hoa Kỳ và tiếp tục hoạt động ở nước ngoài)

    1970 -Chiếm giải thưởng Sáng Tác Nhạc và giải thưởng Nhiếp Ảnh trong cuộc thi sáng tác Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc của tổng thống Việt Nam Cộng Hòa

    1970 – (APA) Được chọn đại diện Á Châu trong cuộc triển lãm Năm Châu

    – Hội luận nhiếp ảnh tại Hội Việt Mỹ, Sài Gòn

    – Triển lãm tranh thiếu nhi, Sài Gòn

    1971 – Triển lãm ở Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ, Nhật Bổn

    -(APA) là Hội Chủ cuộc triển lãm Năm Châu lần thứ nhì, triển lãm ở Việt Nam, Pháp, Mễ Tây Cơ, Tân Tây Lan

    1972 -(APA) tổ chức thi ảnh quốc tế lần đầu.

    – Trình diễn nhạc “Hát Cho Tình Yêu”

    – Bắt đầu chương trình “Tiếng Nhạc Trầm Tư” đại hợp ca hòa tấu trên Truyền Hình Việt Nam

    – Triển lãm cá nhân, Huế, Việt Nam

    1973 – Triển lãm ở Pháp, Mễ Tây Cơ, Tân Tây Lan, Việt Nam

    – Triển lãm cá nhân, Cần Thơ, Việt Nam

    – Triển lãm ở Stockholm, Thụy Điển

    1974 – (APA) Tổ chức thi ảnh quốc tế lần thứ nhì

    -Trình diễn nhạc “Khóc Cho Tình Yêu”

    1967-1975 -Cộng tác với nhiều nhật báo, tuần báo và nguyệt san ở Sài Gòn

    1975 – Trình diễn nhạc “Le Van Khoa and his Love Songs” tháng Hai tại VAA Sài Gòn

    1975 – Tị nạn tại Hoa Kỳ

    1975 – Tổ chức chương trình nhạc đầu tiên tháng Sáu 1975 tại Loma Linda University

    – Triển lãm ảnh ở Taylors Island (Maryland) tháng Mười Hai

    1976 – Triển lãm ảnh ở Quốc Hội Hoa Kỳ nhân dịp Tết đầàu tiên ở hải ngoại

    – Thuyết trình trong buổi họp hằng năm của Woman’s Club, Salisbury, Maryland

    – Triển lãm ảnh ở National Center for Vietnamese Resettlement, Washington DC

    – Triển lãm ảnh ở Crystal Underground City, Washington D. C.

    – Trình diễn nhạc ở San Francisco, California

    1976-1977 – Baltimore Museum of Arts chọn với 4 họa sĩ Mỹ trong cuộc triển lãm lưu động khắp Maryland trong hai năm, lấy tên là “5 From the Eastern Shore”

    Nói chuyện trên WAMU-FM, The American University, Washington D.C.

    1977 -Triển lãm ảnh và trình diễn nhạc ở Trung Tâm Cool Front, West Virginia

    -Triển lãm ở International Institute, St. Louis, Missouri

    – Triển lãm ở Martin Schweig Gallery, St. Louis, Missouri

    1978 – Triển lãm ở San Diego, California

    -Thực hiện buổi hội học “Bridging the Gap” cho điều dưỡng Paradise Valley Hospital, San Diego.

    1979 – Triển lãm ở Fullerton, Santa Barbara, California

    – Trình diễn “Nhạc Vàng” tại Plummer Auditorium Fullerton, Orange, California

    – Triển lảm ảnh ờ Photography Art Building, San Diego

    1980 – Trình diễn “Nhạc Vàng” ở Fullerton College, California

    – Trình diễn nhạc ở Royce Hall, UCLA, Los Angeles

    – Trình diễn nhạc ở Good Time Theatre, Knott’s Berry Farm, Anaheim

    – Triển lãm ảnh ở Fullerton College

    – Diễn thuyết đề tài “Văn Chương Trào Lộng” ở Fullerton College

    – Triển lãm ở Photography Building, Balboa Park, San Diego, California

    – Certificate of Appreciation by Fullerton College

    1981 – Trình diễn nhạc ở Chapman University, Orange, California

    -Thực hiện băng nhạc Việt đầu tiên “Tiếng Chiều Roi” với dàn nhạc giao hưởng Hoa kỳ

    1982 – Triển lãm ở Los Angeles

    – Letter of Appreciation by Tom Bradley, Mayor of Los Angeles

    – Triển lãm tại Lotus Folk Art Center, San Diego

    – Diễn thuyết về đề tài “Vietnamese Culture and New Year Rituals”, San Diego

    – 1983 Trình diễn nhạc ở Knott Berry Farm, Anaheim, California

    1985 -Ðĩng phim “Alamo Bay” 3 Stars Release

    – Diễn thuyết “The Uniqueness of Vietnamese Culture” U.Mass. Amherst, Massachusetts

    – Triển lãm ảnh tại Student Union Gallery, U.Mass

    – Nói chuyện trên KPBS Radio FM 89, San Diego

    1986 – Tài tử đóng phim TV series “Call to Glory”

    – Triển lãm San Diego

    -Diễn thuyết “Nét Đẹp Trong Nhạc Việt”

    1987 – Diễn thuyết “The Indo-Chinese in America” cho Education and Training Department, Paradise Valley Hospital, San Diego

    1989 – Nghị Sĩ Duncan Hunter phúc trình và trích lời của Lê Văn Khoa trong phiên họp 101st, First Session, ghi vào biên bản Vol. 135, No. 126 ngày 27 tháng Chín 1989

    1992 – Trình diễn nhạc ở Rice University, Houston, Texas

    -Diễn thuyết ở Montreal, Canada

    1994 -Diễn thuyết hội học nhạc Việt do Pacific Symphony Orchestra thực hiện, Costa Mesa, California

    – Plaque of Recognition from APA Northern California

    1995 – Pacific Institute Symphony Orchestra trình diễn 3 movements của Symphony “Việt Nam 1975”

    – Thư cám ơn của Department of Anthropology, California State University

    – Thư cám ơn của Smithsonian Institution, workshop

    1996 – Pacific Symphony Orchestra trình diễn excerpt from “Vietnam 1975” Symphony

    1997 – Triển lãm ở Laguna Museum, California

    – Trình diễn nhạc Việt ở Laguna

    – Thư cám ơn cắt băng khai mạc triển lãm, Orange County Museum of Art

    – Pacific Symphony Orchestra trình diễn excerpt from “Vietnam 1975” Symphony

    – Sacramento Symphony định trình diễn trọn symphony “Việt Nam 1975” nhưng bất thành vì bị phá sản

    1998 – Pacific Symphony Orchestra trình diễn hành âm thứ 4 “Full Moon” trích từ Đại tấu khúc “Việt Nam 1975”

    – Springfield Symphony Orchestra, Massachusetts trình diễn hành âm số 5 “In the Depth of the Night” trích “Vietnam 1975” Symphony

    – Triển lãm ảnh tại Springfield do Springfield Symphony Orchestra và Cộng Đồng Người Việt bảo trợ.

    – Học sinh Trung Học Mc Garvin trình diễn nhạc Lê Văn Khoa

    – Triển lãm ảnh tại UMASS, Boston, Massasuchetts

    – Certificate of Recognition của Thomas M. Menino, Mayor of Boston, Massachusetts

    1999 – Golden West College ấn hành sách nhạc “Beautiful Bamboo” và “Souvenirs from Vietnam” của Lê Văn Khoa

    – Certificate of Appreciation by Golden West College

    – Thư cám ơn của Southeast Asian Archive, UCI

    – Triển lãm ảnh Atrium Gallery, California State University in Fullerton

    2000 – Triển lãm ảnh tại Vietnamese Catholic Community, Santa Ana, California

    2001 – Special Plaque “Vinh danh Nghệ Sĩ Toàn Tài của Việt Nam” nhật báo Người Việt.

    – Triển lãm tại Vietnamese Catholic Community, Santa Ana, California

    2002 – Triển lãm ờ La Sierra University. Riverside, California

    -Triển lãm ở Vietnamese Federation of San Diego, San Diego, California

    2003 – Trình diễn nhạc ở Baldwin Park City, California

    – Nhận Plaque of Recognition của Thị Trưởng Manuel Lozano

    2005 -Thực hiện CD nhạc đại tấu khúc “Việt Nam 1975” với Kyiv Symphony Orchestra and Chorus, Ukraine

    – Trình diễn nhạc với The Royal Melbourne Philharmonic Symphony Orchestra, Melbourne, Úc do Cộng Đồng Người Việt va City of Melbourne bảo trợ

    – Triển lãm ở Westminster, California

    2007 – Phát hành CD nhạc “Memories” với Kyiv Symphony Orchestra, Ukraine

    – Trình diễn nhạc thính phòng Lê Văn Khoa với Kyiv Chamber Orchestra

    – Nhạc Piano Lê Văn Khoa được trình diễn tại trường Nghệ Thuật Quốc Gia, Kyiv, Ukraine

    – Thuyết trình: Sáng Tác Trên Nền Nhạc Dân Tộc Việt”

    – Triển lảm ảnh ở Việt Báo, Westminster

    – Nhận Certificate of Congratulation từ County Supervisor

    2008 – Triển lãm ảnh tại Thượng Hải, Trung Hoa

    – Triển lãm ảnh tại Sabah, Malaysia

    – Certificate of Recognition from Baldwin Park City

    – Certificate of Regconition from City of Westminster

    – Hội Hiếu Nhạc vinh danh trong chương trình nhạc “Lê Văn Khoa, Người Viết Lịch Sử Việt Nam Bằng Âm Nhạc” ở Carpenter Performing Arts Center, Long Beach, California  

https://www.tvvn.org/forums/threads/ti%E1%BB%83u-s%E1%BB%AD-l%C3%AA-v%C4%83n-khoa-1933.6542/