Auteur : tranquanghai130544

THANH PHƯƠNG/ RFI : Mùa Xuân qua những ca khúc bất hủ

TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT Podcast

Mùa Xuân qua những ca khúc bất hủ

Thanh Phương Phát Thứ Hai, ngày 04 tháng 2 năm 2019

Mùa Xuân qua những ca khúc bất hủ

  Thiếu nữ áo dài và hoa đào trong dịp Tết Nguyên đán tại Việt Nam (Ảnh chụp ngày 22/01/2017) Reuters

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20190204-mua-xuan-qua-nhung-ca-khuc-bat-tu?fbclid=IwAR1DQB3rnUoRwhUjB_oZjpYo6FnHmgtkbmwCHFT4Cm9E9xGE6ujajRBMlCs


Bên cạnh ca khúc « Ly rượu mừng » ( mà đến đầu năm 2016 mới được cho phép hát ở Việt Nam ! ), cứ mỗi Tết đến, những ca khúc quen thuộc của mùa Xuân lại rộn ràng cất lên trong các chương trình văn nghệ mừng năm mới. Đại đa số các sáng tác bất hủ về chủ đề Xuân đều là những bài hát có từ trước năm 1975. Trước thềm năm mới Kỷ Hợi, hôm nay chúng tôi xin mời quý vị điểm qua một số bản nhạc Xuân tiêu biểu, với sự tham gia của giáo sư – nhạc sĩ Trần Quang Hải tại Paris.

Một trong những ca khúc xưa nhất về mùa Xuân, chắc ai cũng biết, đó là « Xuân đã về » (1950) của nhạc sĩ Minh Kỳ. Với giai điệu nhịp nhàng và tiết tấu rộn ràng, « Xuân đã về » miêu tả thật sống động cảnh vật mùa xuân trên cánh đồng quê Việt Nam. Nghe ca khúc này, ai cũng cảm thấy lòng phơi phới, yêu đời.

Và chắc cũng không ai mà không biết đến ca khúc vui tươi, rộn ràng không kém, đó là « Anh cho em mùa Xuân » của nhạc sĩ Nguyễn Hiền, phổ thơ Kim Tuấn :

Anh cho em mùa xuân, nụ hoa vàng mới nở

Chiều đông nào nhung nhớ

Đường lao xao lá đầy, chân bước mòn vỉa phố

Mắt buồn vịn ngọn cây…

Tuy ra mắt từ năm 1962, nhạc phẩm này vẫn được nhiều người ưa thích, và tiếp tục được nhiều ca sĩ trình bày, kể cả trong giới trẻ hiện nay. Bài hát được viết theo điệu tango, nhưng cũng nhiều người hát theo điệu Cha Cha Cha cho nó sôi động hơn.

Nhưng bên cạnh đó, có những ca khúc tuy không được phổ biến nhiều bằng, nhưng cũng là những sáng tác rất hay về mùa Xuân, như ghi nhận của nhạc sĩ Trần Quang Hải:

« Ví dụ như « Xuân Thôn Dã » hoặc « Xuân Miền Nam » của ông Văn Phụng cũng rất là hay, còn Hoàng Trọng cũng có một bài rất nổi tiếng, đó là bài « Gió Mùa Xuân Tới ». Một bài khác cũng được nhiều người biết đến, do nữ ca sĩ Thu Hương từng hát, đó là bài « Gái Xuân » của Từ Vũ, phổ thơ của thi sĩ Nguyễn Bính và sau này cũng được nhiều ca sĩ hát.

Còn bài « Mộng Chiều Xuân » của ông Ngọc Bích là một trong bài hát về Xuân theo điệu tango. Ngay như ông Phạm Đình Chương cũng có viết một bài vào năm 1953, đó là « Xuân Tha Hương ». Bài này cũng rất nổi tiếng, nhưng điệu nhạc hơi buồn, vì ông nói đến lúc mới di cư vào Nam, còn nhớ về quê mẹ, cho nên được viết theo cung thứ, buồn hơn là bài « Ly Rượu Mừng ».

Theo nhạc sĩ Trần Quang Hải, cố nhạc sĩ Phạm Duy cũng là một người có rất nhiều sáng tác về mùa Xuân, mà tiêu biểu là ca khúc « Xuân Ca »:

 » Phạm Duy là người sáng tác rất nhiều bài Xuân nổi tiếng, như bài « Xuân Ca », được nhiều người hát, hay bài « Hoa Xuân » « Tuổi Xuân ». Nhưng có một bài mà tôi còn đặt nghi vấn là bài « Bến Xuân », viết chung với ông Văn Cao, nhưng trong tất cả các tài liệu, họ chỉ đề « Bến Xuân » là của Văn Cao. Theo tôi, bài này do cả hai người viết trước năm 1954. « Bến Xuân » là một bài hát rất hay, rất êm dịu, nhẹ nhàng, chứ không phải là nhạc tranh đấu « .

Đa số những ca khúc về mùa Xuân sáng tác trước năm 75 đều phản ánh một thời kỳ chiến tranh máu lửa và gắn liền với mùa Xuân là hình ảnh của anh chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, theo ghi nhận của nhạc sĩ Trần Quang Hải.

Một số ca khúc Xuân trước năm 75 cũng phản ánh tâm trạng của người lính phải sống cảnh xa nhà trong những ngày Tết, vì họ phải ở lại tiền đồn heo hút để canh giữ cho người dân được đón năm mới trong thanh bình, mà tiêu biểu nhất chính là « Xuân này con không về » của nhạc sĩ Nhật Ngân, nhạc phẩm bất hủ vốn gắn liền tên tuổi của cố danh ca Duy Khánh. Nhạc sĩ Trần Quang Hải nhắc lại:

« Nhạc sĩ Nhật Ngân viết bài « Xuân này con không về » với dòng nhạc đặc biệt miền Trung, nhạc ngữ rất là miền Trung, âm giai cũng là miền Trung. Thành ra những người nào miền Trung khi hát thì đều làm thoát ra được cái hình ảnh đó, mà anh Duy Khánh là một trong những ca sĩ gốc miền Trung, có một giọng hát rất truyền cảm và gây ra một ảnh hưởng rất lớn trong giới tân nhạc Việt Nam.

Tôi nghĩ đó là một bài về mùa Xuân với một hình ảnh không có gì là hy vọng. Nói rằng « Xuân này con không về » có nghĩa là con phải ở lại đó, hoặc có thể là con bỏ thây nơi sa trường. Đó là những hình ảnh rất đẹp mà anh Duy Khánh đã lột tả được và đã đem bài đó đi khắp nơi trong miền Nam. Tôi thấy đó là một đóng góp rất lớn. »

Tuyệt đại đa số các nhạc phẩm nổi tiếng về mùa Xuân đều là sáng tác ở miền Nam trước năm 75, nhưng đặc biệt có một ca khúc của cố nhạc sĩ Văn Cao, ra đời sau thời điểm đó, trong nhiều năm tưởng đã bị chìm vào quên lãng, nhưng cuối cùng cũng được cho phép hát công khai và dần dần cũng trở thành bất hủ, đó là bài « Mùa Xuân Đầu Tiên », được Văn Cao sáng tác vào dịp Tết Bính Thìn ( 1976 ). Nhạc sĩ Trần Quang Hải kể lại số phận ba chìm bảy nổi của ca khúc này:

« Sau năm 75, tờ báo Sài Gòn Giải Phóng đặt ông Văn Cao viết bài đó và đăng đầu tiên trong số Xuân Sài Gòn Giải Phóng. Nhưng lúc đó, tất cả những bài hát của Văn Cao đều bị cấm. Cho tới gần 20 năm sau mới được hát trở lại. Ông có nói với người là Văn Thao : « Cha viết bài này là muốn mừng cho đất nước được thống nhất và nhân dân được đoàn tụ. Nhưng cái đó chỉ là ước mơ thôi, sau đó thì không được như thế.

Tới khi ông ấy mất vào ngày 20/07/1995, lúc đó tất cả nhạc của ông Văn Cao được hồi phục. Trong buổi lễ 49 ngày ông Văn Cao mất, có một người đứng ra hát « Mùa Xuân Đầu Tiên », được nổi tiếng từ đó, đó là ca sĩ Thanh Thúy, khi ấy mới 17 tuổi. Bài hát này sau đó được phổ biến rộng rãi ở Việt Nam, phần lớn là ở miền Bắc hơn là trong miền Nam. »

Cũng rơi vào buổi giao thời tương tự như « Mùa Xuân Đầu Tiên », đó là « Điệp Khúc Mùa Xuân », một bài hát có tiết tấu nhanh, nhưng vẫn dịu dàng, thích hợp với không khí vừa náo nức vừa mơ màng của những ngày Xuân, với niềm mong ước “tình xuân ơi xin dệt mối yêu thương, từ bao nhiêu năm tình sầu muôn hướng”. Nhạc sĩ Trần Quang Hải cho biết thêm vài chi tiết về sáng tác này của nhạc sĩ Quốc Dũng, một trong những người đầu tiên viết những ca khúc nhạc trẻ bằng tiếng Việt vào đầu thập niên 1970 ở miền Nam:

« Quốc Dũng đã sáng tác rất nhiều bài và đặc biệt là bài « Điệp Khúc Mùa Xuân », viết theo điệu nhạc kích động, sáng tác vào tháng 10/1974, nhưng được nổi tiếng vào thời gian sau 75, được người ở miền Nam hát rất nhiều. Bảo Yến, vợ đầu tiên của Quốc Dũng, đã hát bài này đầu tiên và sau đó được hàng chục ca sĩ khác nối tiếp nhau hát, tại vì bài này có tiết tấu phù hợp với sở thích của giới trẻ. Có thể nói đây là một trong những bài nổi tiếng nhất về mùa Xuân sau 75 tại Việt Nam. »

Chương trình đặc biệt đón Xuân Kỷ Hợi đến đây làm chấm dứt. RFI Việt ngữ rất cám ơn nhạc sĩ Trần Quang Hải tham gia vào chương trình và nhân đây xin chúc toàn thể quý vị thính giả một năm mới an khang thịnh vượng.

Book: TRAN QUANG HAI : 50 Years of Research in Vietnamese Music and Overtone Singing, released in February 10th 2019 from 11:am to 15:30pm, at CSU LB, lecture hall room ( next to student union), 1250 Bellflower Blvd, CA 90840in the USA

Book: TRAN QUANG HAI : 50 Years of Research in Vietnamese Music and Overtone Singing, released in February 10th 2019 from 11:am to 15:30pm, at CSU LB, lecture hall room ( next to student union), 1250 Bellflower Blvd, CA 90840in the USA


PREFACE
Professor Tran Quang Hai asked me to write an introduction to this book about his Life and his Work.
Not an easy task since his life is not a mere portrait hung on a wall for anyone to look at and describe, if one can.
Professor Hai’s life is a long road.
A long road that is.
A road which brings back the scenery of so many byways and highways this amazing man had covered in his memorable and outstanding life. They are the embodiment of the multifacet talents of an amazing artist and scholar.
Being a friend of Professor Hai does not make the task of introducing this book to the reader an easier task. There is always this concern that the writer, being a friend may be skewed to his favor and overstate the facts. Or on the contrary, for that same reason, being concerned of a perception of favoritism, the writer may try to minimize the facts. But should it be a concern? For a man of such talent and integrity, and a body of work which cannot be less than a rare precious jewel, under- or overstatement becomes an irrelevant issue.
To summarize it, the life of Professor Tran Quang Hai is a great but challenging road well-traveled.
And it is traveled by a traveler who, not only is not afraid to conquer it, he has been eager to make it fuller, better, more captivating, albeit more challenging not only for himself, but also for people and future generations who are going to travel this same road.
The Road is Musicology.
Not just from Vietnam where Professor Hai came from. Being born one day in May, 1944, in the Province of Dong Nai, South Viet Nam – a region blessed by its beauty and peaceful life, and also by its inspiring richness in resources and popular culture – the soul of this magnificent scholar and artist as Resourceful and Inspiring as the region he comes from. A soul being shaped by many generations of illustrious ancestors, giants in the field of Vietnamese Musicology with his father Tran Van Khe being an accomplished scholar of Vietnamese and World Musicology.
Professor Hai’s road of musicology practice and musicology research goes beyond the confines of his country of origin.
It covers Vietnamese/Oriental Music, from traditional Vietnamese Music of all genres, to the musical background of the Montagnards in the Vietnamese Highlands. It went on beyond borders to address the wonderful aspects of the Musical Heritage of different countries spanning from Southeast Asia to Central Asia to reach as far as Israel, Central Europe to Western Europe.
Professor Hai has been working for the National Center for Scientific Research (CNRS) in France since 1968, and is now retired after working for 41 years at the Department of Ethnomusicology of the Musée de l’Homme (Paris). He was a lecturer on South East Asian music at the University of Paris X – Nanterre (1988-1995).
He plays 15 musical instruments from Vietnam, China, India, Iran, Indonesia and Europe. Since 1966, he has given over 3,000 concerts in 70 countries, and has taken part in a hundred or so international traditional music festivals. He has taken part in radio and television broadcasts in Europe, America, Asia, Africa, and Australia.
Professor Hai has perfected and made us understand more the Jew’s Harp, the Song of Harmonics, he is the greatest specialist in overtone singing.
Apart from his artistic activities, he is also interested in musical research. He has improved the technique of spoons playing and of the Jew’s harp. In 1970 he found the key to the technique of overtone singing. The film « Le Chant des Harmoniques  » (The Song of Harmonics) which he co-produced with Hugo Zemp, and in which he was the principal actor and composer of the film music, won four awards at international scientific film festivals in Estonia (1990), France (1990), and Canada (1991). He is considered as the greatest specialist in overtone singing in the world.
Dr. Tran has written numerous articles on Vietnamese and Asian music (New Grove Dictionary of Music and Musicians, New Grove Dictionary of Musical Instruments, Algemeine Muziekencyclopedia, Encyclopaedia Universalis). He has also recorded 15 LPs and 2 CDs (one of which obtained the Grand Prix de l’Academie de Disque Charles Cros in 1983). He has composed hundreds of popular songs. His musical experience is very varied: contemporary music, electro-acoustical music, improvisation, film music. He continues to preserve and develop traditional Vietnamese music (numerous new compositions for the 16 stringed zither Đàn tranh).
He has received a Gold Medal for music from the Asian Cultural Academy, and honorary doctorates from the International University Foundation (USA), and the Albert Einstein International Academy (USA).
Along with multiple international awards, in June 2002, he received the medal of Knight of the Legion of Honor from the French President Jacques Chirac. In 2009, he was the recipient of the Medal of Honor, category Great Gold for his 41 years as a public servant of France.
He is the only Vietnamese to have taken part as a performer or composer in such great historical events as the Australia’s Bicentenary celebrations (1988), the Bicentenary of the French Revolution in Paris (1989), the 700th Anniversary of the Birth of Switzerland (1991), the 350th Anniversary of the Founding of Montreal (1992), the 500th anniversary of the discovery of America (1992), the 600 Years of Seoul-Korea (1994), the Jubilee of the King of Thailand (1996), the 1,000 Years of Trondheim in Norway (1997).
As I have said. Dr. Hai’s life is a long Road. A long Road indeed – not only for its length, but also for what has been left behind it.
For the two countries, Viet Nam and France, which are so dear to Professor Hai, his life will always be one of a model scholar for future generations to learn from, a symbol of pride never to fade away no matter the months and years.
For the World, Professor Tran Quang Hai will be remembered as a talented scholar with unparalleled character. Humble and compassionate. But call him simply a World Artist.
This book does render justice, if in part, to this Great Man and his Life. Well deserving to read with time well spent.
For me, Tran Quang Hai will always be, simply, My Friend. And the Honor is mine and the joy well shared.                                                                                       
Dr. Son Vi Nguyen, M.D.                                                                                                                  
Former Assistant Professor of Psychiatry
The University of Texas, School of Medicine at Houston.
Texas Tech University



Dr. NGUYEN VI SON , M.D.
Contents of the Book
Tran Quang Hai’s Biography. 1
Vietnamese Music from a Cultural Perspective. 53
Cithare vietnamienne, guimbarde, cuillères au service de la musique électro-acoustique  111
Music of The Montagnards of Vietnam.. 125
Recherches Introspectives et Expérimentales sur le chant diphonique  173
Original Research and Acoustical Analysis in connection with the Xöömij Style of Biphonic Singing  211
Recherches expérimentales sur le chant diphonique. 239
Numbers in Asian Music. 361
Caratteristiche fisiologiche e acustiche del Canto Difonico. 383
SELECTION OF VIDEO CLIPS PERFORMED BY TRAN QUANG HAI 457

Dr. NGUYEN VI SON , MD

THANH HIỆP :Đất sen hồng đón người thầy âm nhạc

Đất sen hồng đón người thầy âm nhạc

01/02/2019 11:00

Mối lương duyên tao ngộ giữa vị nhạc sư 101 tuổi Nguyễn Vĩnh Bảo với Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp Lê Minh Hoan thật đặc biệt

Trân quý hiền tài

Gần 90 năm kể từ ngày rời xa quê hương, nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo – « báu vật sống » của nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ – đã có cái Tết Kỷ Hợi sum vầy bên người thân tại quê hương Đồng Tháp.

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo sinh năm 1918 tại làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay là phường 1, TP Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp). Ông là nhà nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc, trong đó có loại hình đờn ca tài tử; được xem là « quốc gia chi bảo » của đất nước với công lao rất lớn trong gìn giữ và làm cho đờn ca tài tử vang xa trên thế giới.

Năm 1972, ông cùng giáo sư Trần Văn Khê diễn tấu ghi âm đĩa « Nhạc tài tử Nam Bộ » cho hãng Ocora và UNESCO tại Paris – Pháp. Ông cũng được Chính phủ Pháp tặng Huy chương Nghệ thuật và Văn học.

Đất sen hồng đón người thầy âm nhạc - Ảnh 1.

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo (Ảnh do gia đình nhạc sư cung cấp)

Còn ông Lê Minh Hoan, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp, được ví là « kiến trúc sư trưởng » đất sen hồng bởi ông bắt đầu sự nghiệp là một kiến trúc sư, học cao học quản lý kinh tế. Ông Lê Minh Hoan có nhiều đóng góp trong việc dẫn dắt, kiến tạo động lực phát triển vùng đất sen hồng bằng những chương trình, đề án mang tính đột phá, riêng có của Đồng Tháp. Đối với lĩnh vực văn học nghệ thuật, ông luôn trân quý những giá trị bắt nguồn từ cội rễ của dân tộc, trong đó có nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ – một bộ môn được thế giới vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Vào một ngày, khi còn ở TP HCM, nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo bất ngờ đón tiếp ông Lê Minh Hoan đến thăm. Nhìn thấy những bảng vàng vinh danh, từ trong nước đến nước ngoài ở nhà nhạc sư, ông Lê Minh Hoan cảm thấy thật áy náy và nặng lòng. Vì vậy, « tỉnh Đồng Tháp mong nhạc sư và gia đình nhận trước lời tri ân của lãnh đạo tỉnh cũng như của bà con Đồng Tháp » – ông Lê Minh Hoan đã nói.

Cuộc trò chuyện hôm ấy đã mở lối về quê hương sau 90 năm của người con xa xứ để cái Tết năm nay vỡ òa niềm hạnh phúc cho những ai trân quý đời sống văn hóa của một miền quê đã sản sinh ra rất nhiều nhân tài.

Đất sen hồng đón người thầy âm nhạc - Ảnh 2.

Nhạc sư năm nay đón Tết cùng với con cháu tại ngôi nhà do tỉnh Đồng Tháp vận động một số doanh nghiệp và gia đình cùng nhau đóng góp xây dựng. Căn nhà có diện tích khoảng 200 m2, nằm bên dòng kênh xanh, mát rượi, yên tĩnh ở TP Cao Lãnh. Điều bất ngờ hơn là nhà của Bí thư Lê Minh Hoan cũng cách đó không xa. Mỗi sáng, ông xách giỏ đi chợ, mua cá, mua rau đều ghé đến biếu nhạc sư bằng tấm lòng kính trọng.

Theo ông Lê Minh Hoan, trong bộn bề cuộc sống, có những sợi dây ràng buộc giữa danh và lợi, giữa giàu và nghèo, giữa lợi ích riêng và giá trị chung, mỗi người có lúc không tránh khỏi so đo hơn thiệt. Hãy gặp nhạc sư để tự mình cởi bỏ những sợi dây vô hình đó. Những ai cho rằng mình đã đủ kiến thức hãy lắng đọng nghe lời nhạc sư: « Điều tôi biết chỉ là hạt cát, điều tôi chưa biết mới là đại dương ». Những ai bon chen để được « ăn trên – ngồi trước », « bề trên – phận dưới » hãy nghe lời tự sự: « Tôi tự ví mình như người cộng tác với người đương thời, nơi nương tựa của hậu thế, sẵn sàng chia sẻ những gì đã học, đã biết cho tất cả mọi người, bất phân già trẻ, màu da ».

Đồng Tháp đang dày công tạo dựng và làm lan tỏa hình ảnh địa phương. Đó là đóa sen dưới đồng trên phố; là con gà Cao Lãnh « chân xanh, mắt ếch », là mênh mông mùa nước nổi, là xanh ngát những vườn cây, là bạt ngàn Tràm Chim, là rực rỡ làng hoa… Tất cả điều đó sẽ là không đủ một khi lãng quên những bậc « tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ », những người mở đất và giữ đất, những người làm rạng danh mảnh đất sen hồng.

« Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo là một trong những người đã kết tinh tài hoa thành giá trị. Và giá trị đó mãi sẽ là hình ảnh vươn xa của Đồng Tháp. Vậy thì, mỗi người hôm nay đang ở ngay trên mảnh đất này sao không trân quý những giá trị do những bậc tiền bối tạo lập và truyền lại? Sao không vượt qua cái tôi để sống tốt hơn, yêu thương nhau hơn, cùng nhau gìn giữ và phát huy những báu vật tiền nhân trao cho để rồi tiếp tục trao lại cho thế hệ mai sau » – ông Lê Minh Hoan chia sẻ.

Tiếng đờn còn ngân mãi

Không chỉ trao tặng ngôi nhà để nhạc sư sinh sống cùng con gái, tỉnh Đồng Tháp còn xây dựng một không gian Nhà trưng bày Nguyễn Vĩnh Bảo – « Giai điệu và cuộc đời » của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo tại TP Cao Lãnh. Nơi này vốn là « Nhà thầy thuốc Lư » – tức nhà riêng của bác sĩ Lư, một trong những địa chủ lớn ở Cao Lãnh trước đây. Những hình ảnh, hiện vật của hơn 80 năm đúc kết nay được trưng bày trong không gian này.

Đất sen hồng đón người thầy âm nhạc - Ảnh 3.

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo sống vô cùng giản dị. Những ngày về quê hương Đồng Tháp, ông có thêm nhiều niềm vui vì ngoài những học trò và người yêu thích hòa đờn cùng ông, nhạc sư đã có thêm nhiều bạn trẻ là sinh viên lui tới nhà để tìm hiểu về âm nhạc dân tộc. Cả một cuộc đời nghiên cứu về âm nhạc và dạy đàn, đóng đàn, không chỉ sử dụng thành thạo các loại đàn ở vùng đất Nam Bộ, nhạc sư còn có công cải tiến các loại nhạc cụ dân tộc. Từ quá trình nghiên cứu, tự tìm đọc các tài liệu âm nhạc, ông đã mày mò cải tiến thành công đàn tranh 16 dây thành đàn tranh 17, 19, 21 dây vào những năm 1950 và mới đây nhất là đàn tranh 25 dây với kích thước và âm vực rộng hơn. Đến nay, đàn tranh do nhạc sư cải tiến đã được áp dụng rộng rãi trong giới sáng tác và biểu diễn âm nhạc truyền thống.

Bên cạnh việc cải tiến đàn, ông còn sáng tạo phương pháp ký âm nhạc ngũ cung (hò, xự, xang, xê, cống) truyền thống theo ký hiệu như nhạc phương Tây, giúp những ai muốn học nhạc cụ truyền thống có thể tự học và dễ tiếp thu. Ngoài ra, nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo còn kiêm cả nghệ nhân đóng các loại đàn như: tranh, bầu, kìm, gáo…

« Tôi hãnh diện là người con của Đồng Tháp. Làm gì tôi cũng nhớ tôi là người Đồng Tháp chứ không phải nhớ tên mình là Vĩnh Bảo. Cái tên mình người ta có thể quên được nhưng Đồng Tháp thì không ».

Xuân về, đông đảo thanh thiếu niên đã đến tham quan, tham dự các chương trình đờn ca tài tử Nam Bộ, các buổi nói chuyện chuyên đề về âm nhạc dân tộc. « Mỗi phút giây trôi qua như mùa Xuân đã mang về thêm niềm tin mới, rằng thế hệ trẻ sẽ chung tay giữ gìn cội nguồn văn hóa nghệ thuật, từ việc trân quý những di sản nơi quê hương mình được sinh ra » – nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo tâm sự. Thanh Hiệp

https://nld.com.vn/van-nghe/dat-sen-hong-don-nguoi-thay-am-nhac-20190129122550681.htm

THANH HIỆP : Ca sĩ Đức Vượng – « Bô lão » pop-rock qua đời


30/01/2019 10:30

(NLĐO) – Ca sĩ Đức Vượng – nam ca sĩ tài hoa chuyên « trị » nhạc ngoại ở các quán bar, phòng trà tại Sài Gòn từ trước năm 1975 đến tận bây giờ – đã ra đi ở tuổi 67.

Ca sĩ Đức Vượng - Bô lão pop-rock qua đời - Ảnh 1.

Ca sĩ Đức Vượng

Ca sĩ Đức Vượng sinh năm 1952 tại Hải Phòng, ông bị đột quỵ cách đây không lâu và được gia đình đưa đến Bệnh viện Chợ Rẫy cấp cứu. Dù được sự cứu chữa tận tình của các bác sĩ, ông đã trút hơi thở cuối cùng lúc 21 giờ 41 phút ngày 29-1, hưởng thọ 67 tuổi.

Ca sĩ Đức Vượng luôn tự nhận mình là « em út » của thế hệ ca sĩ trên 60 tuổi từng đi hát khắp các phòng trà trước 1975 và vẫn đeo đuổi nghề đến nay. Ông bắt đầu theo nghề ca sĩ từ 17 tuổi, lúc đó các ca sĩ như Tuyết Loan, Lan Ngọc, Hồng Vân đã trên 20 tuổi.

NSƯT – ca sĩ Hồng Vân cho biết Đức Vượng là một trong những giọng ca chuyên « trị » nhạc ngoại ở các quán bar, phòng trà ở Sài Gòn từ trước năm 1975. « Mỗi khi anh cất tiếng hát, cảm xúc lúc nào cũng dâng trào. Anh chiếm lĩnh sân khấu bởi nhiệt huyết cháy bỏng và sự rung động chân thật của một người đam mê ca hát. 

Dù không nổi tiếng như các ca sĩ trẻ hiện nay, cát sê cũng không cao cho mỗi sô diễn nhưng anh luôn có khán giả của riêng mình. Những người yêu tiếng hát Đức Vượng đều cảm nhận rất rõ hơi ấm cuộc sống và niềm hạnh phúc anh trao gửi nên họ lúc nào cũng được anh dìu vào niềm đam mê ca hát một cách nhẹ nhàng » – nữ ca sĩ chuyên hát dòng nhạc mang âm hưởng dân ca nhận xét.

Ca sĩ Đức Vượng - Bô lão pop-rock qua đời - Ảnh 2.

Ca sĩ Đức Vượng

Từ năm 1968, ca sĩ Đức Vượng và một số người bạn lập ban nhạc « Công ty Đá lửa » diễn rất thành công ở các đại hội nhạc trẻ. Sau năm 1975, anh hát chung với ban nhạc Đại Dương và lập ban nhạc Công ty Biểu diễn, diễn khắp nơi tại TP HCM.

Ban đầu, ông hát nhạc Việt nhưng sau đó chọn cho mình hướng đi riêng, anh chuyển sang chơi nhạc ngoại, phát huy sở trường và được đông đảo khán giả đón nhận. Thời đỉnh điểm của sự thành công, mỗi tối ca sĩ Đức Vượng hát đến 7 vũ trường tại Sài Gòn. 

Cả đời đam mê âm nhạc, một trong những niềm vui lớn của ca sĩ Đức Vượng là có một người con trai theo âm nhạc là nhạc sĩ Nguyễn Đình Vũ. Thời gian sau này ông vẫn gắn bó với phòng trà ca nhạc của vợ chồng ca sĩ Khắc Triệu – Cẩm Vân.

Mỗi khi được mang những ca khúc rock kinh điển của nhóm CCR, Tom Jones, những giai điệu rock’n roll của Elvis Presley hay các nhạc phẩm bất hủ của The Beatles lên sân khấu, khán giả yêu tiếng hát của ca sĩ Đức Vượng đã thấy ông « cháy » hết mình cùng ban nhạc.

Ca sĩ Đức Vượng - Bô lão pop-rock qua đời - Ảnh 3.

Ca sĩ Đức Vượng

« Khi đất nước thống nhất, ban nhạc trước 1975 của ca sĩ Đức Vượng ngưng hoạt động, anh tham gia ban nhạc Mây Trắng và hát ca khúc cách mạng của nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu: « Một trái tim một quê hương ». Thời gian đó, Đức Vượng gặp chúng tôi thường xuyên, lúc nào cũng vui vẻ, hòa nhã. Nghe tin anh mất, tôi đau buồn. Còn vài ngày nữa bước sang năm Kỷ Hợi, anh ấy không đón mùa xuân với chúng tôi nữa rồi » – ca sĩ Lan Ngọc xúc động.

Nghe tin ca sĩ Đức Vượng mất, các ca sĩ nhiều thế hệ cũng bày tỏ lời chia buồn. Ca sĩ Khắc Triệu đã viết trên trang cá nhân: « Tạm biệt anh. Hãy yên nghỉ và ra đi thanh thản. Anh đã có một đời sống trọn vẹn hạnh phúc với nghề, khán giả. Anh em đồng nghiệp mãi nhớ đến anh. Khi còn vui khoẻ, em hay nói « nếu anh chết em buồn lắm ». Giờ thì thì buồn thiệt rồi. Sẽ không bao giờ còn có những đêm cười vui khi nghe anh kể chuyện nữa. Tạm biệt anh Đức Vượng – một tài hoa của nhạc trẻ Sài Gòn trước 1975. Sẽ rất nhớ anh ».

Ca sĩ Đức Vượng - Bô lão pop-rock qua đời - Ảnh 4.

Đức Vượng, Tuyết Loan là hai giọng ca thành công khi hát nhạc ngoại quốc tại Việt Nam

Thanh Hiệp (ảnh do gia đình nghệ sĩ cung cấp)

https://nld.com.vn/van-nghe/ca-si-duc-vuong-bo-lao-pop-rock-qua-doi-20190130080735478.htm

Nghệ Sĩ VĂN HƯỜNG – Cải Lương Gìn Vàng Giữ Ngọc với Hồng Loan (Part 1)

Nghệ Sĩ VĂN HƯỜNG – Cải Lương Gìn Vàng Giữ Ngọc với Hồng Loan (Part 1)

officialVietFaceTV

Published on Jan 13, 2019 Nghệ Sĩ VĂN HƯỜNG – Cải Lương Gìn Vàng Giữ Ngọc với Hồng Loan (Part 1) Chương trình được thực hiện 1/2015

Mùa xuân trong các ca khúc Việt Nam

Trang chủ / Giai điệu quê hương

Mùa xuân trong các ca khúc Việt Nam

22 Tháng Hai 2018 | 19:06:24 (VOV5) –  Mỗi một ca khúc viết về mùa xuân đều được khai thác ở những khía cạnh khác nhau, những lát cắt cuộc sống khác nhau nhưng hầu như tất cả những ca khúc viết về mùa xuân đều khiến người nghe thêm yêu cuộc sống.

Mùa xuân khởi đầu của một năm mới. Lá hoa khoe sắc, trời đất giao hòa mang sức sống mới cho vạn vật khiến lòng người ngập tràn bao cảm xúc và khát vọng. Mùa xuân cũng là nguồn cảm hứng dào dạt để các nhạc sĩ viết lên những giai điệu, thanh âm, ca từ mượt mà, sâu lắng. Nhiều ca khúc viết về mùa xuân đã lưu lại trong ký ức những người yêu nhạc Việt Nam.

Nghe âm thanh bài viết tại đây:

 

« Mùa xuân đầu tiên » là một trong những ca khúc nổi tiếng viết về mùa xuân của tân nhạc Việt Nam. « Mùa xuân đầu tiên » được nhạc sĩ Văn Cao sáng tác vào thời điểm giáp tết Bính Thìn 1976, sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Cả giai điệu lẫn ca từ của bài hát rất nhẹ nhàng, như một bức tranh quê yên bình, hiền hòa, quen thuộc với nhiều người dân Việt Nam. Nhạc sĩ Cát Vận nói về ca khúc này: “Khi đất nước thống nhất, cảm giác của nhạc sĩ Văn Cao lúc đó mới là mùa xuân thực sự của dân tộc. Đây là một bài hát dung dị, lời ca thì sâu sắc, rất thân thiết, chân tình. Trong các sáng tác của nhạc sĩ Văn Cao, đây là một sáng tác mà sức sống của nội tâm rất đằm thắm, mãnh liệt và tinh tế”.

Cùng với “Mùa xuân đầu tiên” của nhạc sĩ Văn Cao là nhiều tác phẩm tiêu biểu viết về mùa xuân như:  “Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh”,Mùa xuân bên cửa sổ” của cố nhạc sĩ Xuân Hồng; “Mùa xuân đến rồi đó” của nhạc sĩ Trần Chung. Nếu như mùa xuân của nhạc sĩ Xuân Hồng chất chứa sự hứng khởi tràn đầy, thăng hoa trời đất thiên nhiên giao thoa vần vũ thì mùa xuân của nhạc sĩ Trần Chung lại nhẹ nhàng, tinh khôi như tiếng gọi êm đềm, tha thiết của người yêu trong nhạc phẩm “Mùa xuân đến rồi đó”.

Với nhạc sĩ Ngọc Khuê, mùa xuân – mùa của sự sống lại được cảm nhận theo một góc khác. Đó là sự tươi mới, ấm áp của tình yêu, giai điệu, ca từ rộn rã với nhiều cung bậc rất đỗi riêng tư. Nhắc đến nhạc sĩ Ngọc Khuê, người ta sẽ nghĩ ngay đến những sáng tác thắm đượm tình yêu quê hương, mối tình nồng nàn, man mác về mảnh đất Hà Nội yêu dấu như: “Mãi là em – mùa Xuân”; “Khoảnh khắc mùa Xuân”; “Trở về mùa Xuân”, “Mùa Xuân làng lúa làng hoa”. Nếu xét về số lượng thì các tác phẩm viết về chủ đề mùa xuân của nhạc sĩ không nhiều so với hàng trăm nhạc phẩm của ông, nhưng hầu hết các tác phẩm ấy lại gây được ấn tượng sâu sắc trong lòng công chúng. Nhạc sĩ Ngọc Khuê cho biết:“Khi mùa Xuân về, tiết trời bắt đầu thay đổi, cây lá bắt đầu đâm chồi nảy lộc…luôn tạo cho người sáng tác cảm xúc mới, lạ và có khi không năm nào giống năm nào cả. Tôi cũng đã có một số bài hát về mùa Xuân và tôi vẫn cảm thấy có thể viết nhiều bài hát, ý tưởng mới nữa về mùa Xuân. Về bài “Mùa Xuân làng lúa làng hoa”, tôi viết cuối năm 1980 và mùa xuân năm 1981, bài hát được phát lần đầu tiên trên Đài Tiếng nói Việt Nam trong một chương trình giới thiệu các tác phẩm mới viết về mùa Xuân”.

Với nhạc sĩ Phó Đức Phương, các hình ảnh mới của mùa xuân mà ông miêu tả là sức lao động và tình yêu trong lao động. Cái đẹp của mùa xuân có thêm thành quả của các công trình lao động và cái vui say của mùa xuân có thêm cái vui say của tuổi trẻ của tình yêu gắn bó với công trình lao động làm đẹp giàu cho đất nước.

Mùa xuân trong ca khúc « Tình ca trên những công trình mới » chính là cái không khí hội hè của tình cảm nó phảng phất như có những làn điệu dân ca, những câu hát trao duyên của nam nữ ở ngay trên mặt trận mới: lao động và dựng xây Tổ Quốc. Nhạc sĩ Phó Đức Phương cho biết: “Mùa Xuân thì người ta nghĩ đến sự sinh sôi, nảy nở, đến tuổi trẻ. Tôi viết bài hát này khi còn trẻ. Mùa Xuân là vĩnh viễn, luôn là biểu tượng của tuổi trẻ, trong đó gắn với sự dựng xây. Mùa Xuân với công trình mới dường như cũng là một khái niệm gắn bó với nhau”.

Mỗi một ca khúc viết về mùa xuân đều được khai thác ở những khía cạnh khác nhau, những lát cắt cuộc sống khác nhau nhưng hầu như tất cả những ca khúc viết về mùa xuân đều khiến người nghe thêm yêu cuộc sống. “Mùa xuân gọi”, “Tạm biệt chim én” của nhạc sĩ Trần Tiến là tiếng nói tươi trẻ nhưng cũng đi vào chiều sâu của tâm hồn.  “Một nét ca trù ngày xuân” của nhạc sĩ Nguyễn Cường, “Hơi thở mùa xuân” của nhạc sĩ Dương Thụ, “Lời tỏ tình của mùa xuân” của nhạc sĩ Thanh Tùng, “Hoa cỏ mùa xuân” của nhạc sĩ Bảo Chấn, “Thì thầm mùa xuân” của nhạc sĩ Ngọc Châu… đều là cách hòa quyện giữa tình yêu với thiên nhiên. Không gượng ép, không khô cứng, sự đắm say trong hơi thở, trong vòng tay của tình yêu làm cho người thưởng thức càng khát khao, càng quý trọng, thêm cuộc sống. 

http://vovworld.vn/vi-VN/giai-dieu-que-huong/mua-xuan-trong-cac-ca-khuc-viet-nam-621349.vov

NGUYỆT NHI : Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà


16/01/2019 15:48 GMT+7 24 2 Lưu

TTO – Giữa lòng Sài Gòn nhộp nhịp, vào một buổi chiều của những ngày cuối năm Mậu Tuất, có một căn nhà ở Q.12, TP.HCM đang hun hút khói bếp, rôm rả gói bánh tét truyền thống để cúng giỗ ông bà.

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 1.

Các khâu ngâm đậu, lau lá chuối đã chuẩn bị từ hôm qua – Ảnh: NGUYỆT NHI

Bánh tét là một món ăn truyền thống không còn xa lạ với nhiều người, nhưng điều đặc biệt đáng nói chính cách mà gia đình của ông Nguyễn Văn Cân nhiều năm nay vẫn thường làm trong dịp giỗ ông bà.

Thay vì đặt bánh để cúng và đãi khách, bà con của ông Cân mang lá chuối, dây lát, đậu, nếp…từ quê lên để gói bánh tét truyền thống.

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 2.

Bà Tăng Cô (bìa phải) cùng cả nhà dậy từ 5h30 sáng để chuẩn bị gối bánh – Ảnh: NGUYỆT NHI

Bà Dương Thị Tăng Cô (P.2, TX Ngã Năm, Sóc Trăng), em dâu ông Cân, chia sẻ: « Cháu tôi có rất nhiều đứa đi làm công nhân trên Sài Gòn, một năm mới có cơ hội ăn bánh quê một lần. Đây không chỉ là dịp để cúng ông bà mà tôi muốn cho con cháu cùng bà con chung quanh nhớ và biết tới hương vị quê nhà. »

Hết buổi sáng gói bánh, 100 đòn bánh được hoàn thành và cho vào nồi nước sôi được bắc từ ba viên gạch trước đó. Phải mất 8 tiếng để bánh chín, rồi lại phải đợi bánh ráo…

Khi phố phường rộn rã thì có một căn nhà nhỏ ở Q.12 thơm nức mùi lá của bánh tét nóng hổi. Những đứa trẻ thích thú khi lại được ăn bánh quê.

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 3.

Nếp trộn với đậu để gói bánh tét nhân chuối – Ảnh: NGUYỆT NHI

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 4.

Nếp, đậu xanh, mỡ là ba nguyên liệu chính của bánh tét nhân mỡ – Ảnh: NGUYỆT NHI

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 5.

Bánh đang được bó gói lại thành hình trụ – Ảnh: NGUYỆT NHI

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 6.

Anh Đặng Minh Sang, cháu ông Sáu, làm công nhân ở Bình Dương hôm nay được nghỉ làm nên qua nhà phụ cột bánh – Ảnh: NGUYỆT NHI

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 7.

Cột bánh phải thật đều tay, không quá lỏng cũng không được quá chặt nếu muốn bánh dẻ và đẹp khi ra lò – Ảnh: NGUYỆT NHI

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 8.

Bánh vừa được cột xong chờ để nấu – Ảnh: NGUYỆT NHI

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 9.

Bánh được cột một quai là nhân mỡ, cột hai quai là nhân chuối – Ảnh: NGUYỆT NHI

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 10.

Nồi bánh phải được canh lửa và nước cho thật vừa phải – Ảnh: NGUYỆT NHI

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 11.

Bà Tăng Cô (bìa phải) cùng các cháu gái vớt bánh ra lò – Ảnh: NGUYỆT NHI

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 12.

Bánh vớt xong phải được treo lên để giữ hình dáng đẹp cho bánh – Ảnh: NGUYỆT NHI

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 13.

Thành phẩm bánh tét nhân chuối và nhân mỡ – Ảnh: NGUYỆT NHI

Dâng bánh tét lên tổ tiên

Dâng bánh tét lên tổ tiên

TTO – Sáng 25-1, nhằm 30 tháng chạp, ban tổ chức lễ hội tết 2009 và đường hoa Nguyễn Huệ đã làm lễ dâng cúng bánh tét lên tổ tiên tại đền thờ các vua Hùng, Thảo cầm viên (Q.1, TP.HCM). NGUYỆT NHI

24 2

TIN LIÊN QUAN

Tết Kỷ HợiCác sự kiện khác

https://tuoitre.vn/sai-gon-chieu-cuoi-nam-hun-hut-khoi-bep-nau-banh-tet-cung-gio-ong-ba-20190115185509304.htm

THANH HIỆP : Táo quân 2019: Đầy những vấn đề « nóng »

27/01/2019 07:53

Những vấn đề, sự kiện « nóng » của năm qua như thi cử gian lận tại Hà Giang, cô giáo tát học sinh, cải cách tiếng Việt, xe tải cán chết nhiều người, xe công dùng việc riêng cũng như các đại án đã được nhắc đến trong chương trình « Gặp nhau cuối năm – Táo quân 2019 »

Chương trình « Gặp nhau cuối năm – Táo quân 2019 » đã ghi hình vào tối 25-1 để kịp phát sóng vào 20 giờ ngày 30 Tết Kỷ Hợi trên VTV – Đài Truyền hình Việt Nam, tiếp tục quy tụ dàn diễn viên quen thuộc suốt 16 năm qua: Quốc Khánh, Chí Trung, Quang Thắng, Công Lý, Tự Long, Xuân Bắc, Vân Dung cùng sự góp mặt của nhiều gương mặt trẻ trong vai Thiên Lôi và Phó Thiên Lôi, được trao nhiều đất diễn hơn so với những năm trước và cũng chứng tỏ được sự duyên dáng, kết hợp khá ăn ý với các nghệ sĩ đàn anh.

Táo Kinh tế – Xã hội làm ảo thuật

Năm 2018 là một năm đầy ắp sự kiện ở đủ các lĩnh vực trong đời sống xã hội, điều đó được thể hiện khá rõ trong « Táo quân 2019 » thông qua các màn chầu của các Táo. Đặc biệt, ê-kíp sáng tạo đã đầu tư một màn báo cáo công phu, thú vị của bộ đôi Quang Thắng (Táo Kinh tế) – Vân Dung (Táo Xã hội) để làm nổi bật được nhiều thành tựu kinh tế – xã hội trong năm qua. Tất nhiên những tồn tại, vấn đề của 2 lĩnh vực cũng được khéo léo chỉ ra dưới lăng kính hài hước qua những chất vấn trào lộng của Nam Tào – Bắc Đẩu và Ngọc Hoàng.

Táo quân 2019: Đầy những vấn đề nóng - Ảnh 1.

Cảnh trong chương trình “Gặp nhau cuối năm – Táo quân 2019” sẽ phát sóng trên VTVẢnh: Hoàng Dương

Cũng trong màn chầu của Táo Kinh tế và Táo Xã hội, khán giả còn được chứng kiến những tiết mục ảo thuật đặc sắc mà bản thân 2 nghệ sĩ Quang Thắng và Vân Dung trở thành những ảo thuật gia.

Năm nay, NSND Tự Long tiếp tục thể hiện tài năng ca hát nổi trội của mình trong màn báo cáo, tuy nhiên, phần ấn tượng, để lại nhiều cảm xúc nhất cho khán giả chính là cuộc gặp gỡ với một gương mặt mới, lần đầu tiên lên thiên đình. Khán giả sẽ không khỏi bất ngờ khi « bà mẹ chồng » nổi tiếng NSND Lan Hương (Bông) xuất hiện trong Táo quân 2019, mong muốn Ngọc Hoàng giải đáp những vướng mắc, bức xúc dưới hạ giới của người dân và doanh nghiệp.

Cười chảy nước mắt với « đường » thành « ồ hố »

Vẫn là sự ứng biến đầy ngẫu hứng và thăng hoa cùng Xuân Bắc, bên cạnh màn hát sở trường của mình, Táo Giao thông năm nay đã làm khán giả cười chảy nước mắt với các câu thoại về cải cách tiếng Việt. Tất cả từ « đường » phải gọi chệch đi bằng từ « ồ hố ». Từ đường sá được gọi bằng ồ hố sá, tắc đường thì gọi là tắc ồ hố, đường đường chính chính thì gọi là ồ hố ồ hố chính chính, trà ồ hố, bệnh tiểu ồ hố… Theo Táo Giao thông, việc ùn tắc giao thông dưới hạ giới bởi người dân tham gia ồ hố sá rất thiếu ý thức, nhiều khi họ đi cả vào ồ hố một chiều. Người dân tranh nhau đi nên xảy ra va chạm, đánh nhau ở giữa ồ hố sá, người dân coi ồ hố như nhà của mình… Những câu thoại dí dỏm cũng được các nghệ sĩ sáng tạo đưa lên sân khấu khiến khán giả không khỏi thích thú kiểu như: « Bây giờ chỉ có quan lấy tiền của dân, dân lấy tiền của quan là tội to lắm… ».

Năm nay, Táo quân không chỉ lấy tiếng cười của khán giả mà còn gây xúc động, lấy nước mắt khán giả với câu chuyện rất trớ trêu là hộ dân nghèo nhưng vẫn cần phải đi xin chứng nhận là hộ nghèo thì mới nhận được tiền trợ cấp của nhà nước. Hình ảnh một bà nông dân quần áo vá chằng vá đụp lên tìm đứa cháu làm Táo chỉ để cháu xác nhận mình là hộ nghèo để có thêm 220.000 đồng tiền trợ cấp mỗi tháng: 110.000 đồng để lo chữa bệnh, 110.000 đồng còn lại để ăn trong cả tháng…

« Gặp nhau cuối năm – Táo quân 2019 », do Đinh Tiến Dũng (biệt danh giáo sư Cù Trọng Xoay) và nhà báo Nguyễn Thanh Bình, Lê Đình Lộc, Nguyễn Văn Luyện, Đỗ Duy Anh, Nguyễn Xuân Phương viết kịch bản; đạo diễn Đỗ Thanh Hải – Giám đốc Trung tâm Sản xuất Phim truyền hình Việt Nam – dàn dựng. 

Kịch « Táo quân 2019 » của HTV: Đậm chất văn hóa Nam Bộ

Kịch « Táo quân » của HTV9 do một nhóm tác giả viết kịch bản. Ê-kíp thực hiện chương trình này đã nỗ lực làm mới nhân vật Táo quân. Nội dung kịch « Táo quân » của HTV lần này là một bản tổng kết những vấn đề nổi bật trong đời sống – xã hội ở trần gian của năm qua, cả những điều tích cực và tiêu cực, điều làm được và chưa làm được, những câu chuyện vui buồn lẫn lộn được thể hiện dưới cái nhìn hài hước, châm biếm.

NSƯT Trịnh Kim Chi, trong vai Thiên Hậu, cho biết: « Tín hiệu tích cực nhất của năm qua đó là thành tựu về vấn đề chống tiêu cực, góp phần lấy lại niềm tin rất nhiều cho việc phát triển của trần gian; những thành tích liên tiếp của bóng đá Việt Nam cũng làm nức lòng người hâm mộ cả nước. Đây là 2 điểm nhấn của vở kịch « Táo quân 2019″ của HTV ».

NSƯT Lê Tứ thể hiện nhân vật Ngọc Hoàng cho biết do vẫn còn nhiều ưu tư về các vấn đề dưới trần gian chưa được giải quyết dứt điểm, Ngọc Hoàng quyết định vi hành xuống trần gian để tự trải nghiệm thực tế. Một buổi tiệc long trọng đã được Táo Ẩm thực và Táo Y tế chuẩn bị để tiếp đón Ngọc Hoàng cùng các thành viên của Thiên đình. Nhưng Ngọc Hoàng lại muốn biết thực tế dân chúng ăn uống ra sao và ngài đã thấy sự nguy hiểm đến sức khỏe của người dân trong vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm.

tao-htv

Cảnh trong kịch “Táo quân 2019” của HTVẢnh: ĐĂNG THAO

Trong vở diễn, Táo Ẩm thực đã không hoàn thành nhiệm vụ của mình để xảy ra nhiều vụ ngộ độc thực phẩm, vẫn xuất hiện thực phẩm không rõ nguồn gốc được bày bán tràn lan; rau quả, thịt cá đều sử dụng hóa chất độc hại…, đó là những chuyện khiến Ngọc Hoàng lắc đầu ngao ngán.

Vấn đề ngập úng, giao thông cũng được khai thác hài hước trong vở kịch. Trong chuyến vi hành trên những con đường trần gian, Ngọc Hoàng đã phải dùng xuồng để di chuyển trong thành phố, trong làn nước đen hôi thối, rác nổi lềnh bềnh. Bao năm sửa chữa, nâng cấp rồi xây dựng mới hạ tầng giao thông mà việc đi lại của người dân vẫn không khá hơn khi cao tốc nghìn tỉ vừa đưa vào sử dụng đã hư hỏng, đường sá vẫn xuống cấp, ngập nước, công tác quản lý giao thông yếu kém, tai nạn giao thông không giảm.

Vấn đề văn hóa ứng xử, tiêu cực trong giáo dục cũng được nhắc đến với sự lo ngại của Thiên đình.

Với thủ pháp dàn dựng kết hợp giữa yếu tố hiện đại bằng kỹ xảo ánh sáng trên nền tảng âm nhạc đậm chất Nam Bộ, buổi chầu của các Táo trong « Táo quân 2019 » trên HTV hứa hẹn mang lại nhiều tiếng cười ý nhị. « Tiếng cười phải có trách nhiệm xây dựng để năm Kỷ Hợi dần khắc phục các tồn tại, phát huy những tiến bộ của năm cũ. Ngoài cách đề cập những vấn đề gai góc của xã hội một cách hài hước, thú vị, Táo quân của HTV năm nay được thực hiện dựa trên màu sắc văn hóa truyền thống Nam Bộ thông qua những bài bản đờn ca tài tử đan xen một cách mượt mà, tạo ấn tượng cho khán giả về một chương trình đậm dấu ấn HTV » – đạo diễn Minh Hải cho biết.

« Táo quân 2019 » của HTV có sự góp mặt của các nghệ nổi tiếng: Trịnh Kim Chi, Lê Tứ, Tấn Beo, Trung Dân, Hiếu Hiền, Hữu Nghĩa, Đức Hải, Cát Tường, Tuyền Mập, Dũng Nhí.

T.Hiệp Yến Anh

https://nld.com.vn/van-nghe/tao-quan-2019-day-nhung-van-de-nong-20190126210148822.htm

List of newsletters of the Musical Acoustics Group from 1963 to 1987, PARIS

List of newsletters of the Musical Acoustics Group

, dont les séminaires, de 1963 à 1987, ont contribué notablement à la diffusion des activités de recherche du LAM.

Pour télécharger un bulletin au format « pdf », cliquez sur son numéro.
N° 1 – VAN ESBROECK (G.) – Le problème des gammes. 1963 (C.R. par E.Leipp).
N° 2 – BARBAUD (P.) – La composition de la musique à la machine à calculer. 1964 (C.R. par E. Leipp et M. Castellengo).
N° 3 – LEIPP (E.) – Le problème du diapason. 1964.
N° 4 – LEIPP (E.) – Appareillages et méthodes en acoustique musicale. 1964.
N° 5 – MOLES (A.) – Théorie informationnelle de la musique. 1964 (C.R. par E.Leipp et M. Castellengo).
N° 6 – CASTELLENGO (M.) – La musique des oiseaux. 1964.
N° 7 – PHILIPPOT (M.) – Confidences d’un ancien preneur de son. 1965 (C.R. par J. S. LIENARD).
N° 8 – CASTELLENGO (M.) – La notation des musiques extra-européennes à l’aide du sonagraphe. 1965.
N° 9 – MOLES (A.) – Les musiques expérimentales. 1965 (compte rendu par J. S Liénard).
N° 10 – LEIPP (E.) – Les champs de liberté des instruments de musique 1965
N° 11 – WINCKEL (F.) – Influence de l’acoustique des salles sur l’évolution du style musical. 1965 (C.R. par E. Leipp et M. Castellengo)
N° 12 – LEIPP (E) et TRAN VAN KHE – La vielle, le monocorde vietnamien, la cithare à 16 cordes. 1965.
N° 13 – CANAC (F.) – L’acoustique des théâtres antiques. 1965 (compte rendu par J. S. Liénard)
N° 14 – RISSET (J. C.) – La situation de l’acoustique musicale aux U. S. A. 1965 (C.R. par E. Leipp et M. Castellengo).
N° 15 – PERROT (M.) – L’orgue hydraulique antique. 1965 (C.R. par M. Castellengo).
N° 16 – LEIPP (E.) – Le violon. 1965.
N° 17 – TOURTE (R.) – Les instruments à percussion. 1966 (C.R. par J. S. Liénard).
N° 18 – CASTELLENGO (M.) – Les cloches, 1966.
N° 19 – CHAILLEY (J.) – Expériences de corrélation entre musique et parole. 1966.
N° 20 – LEIPP (E.) – Le problème du bruit. 1966
N° 21 – NAGESWARA RAO, TRAN VAN KHE et LEIPP – La vina et la musique de l’Inde du Sud. 1966.
N° 22 – LEIPP (E.). – Information sémantique et parole : essai d’une gestalttheorie. 1966.
N° 22bis – LIENARD (J S.) – Le dictionnaire des éléments phonétiques et ses applications à la linguistique.
N° 23 – CASTELLENGO (M.) – Le galoubet. 1966.
N° 24 – LEIPP (E.) et TRAN VAN KHE – Le Sarod 1966
N° 25 – LEIPP (E.) et WRIGHT (J.) – La guimbarde. 1967
N° 26 – LIENARD (J. S.) – Les haut-parleurs. 1967
N° 27 – MEYER (J.) – Le pouvoir directionnel des instruments de musique. 1967 (traduit et présenté par E. Leipp).
N° 28 – GILOTAUX (P.) – La fabrication des disques. 1967 (compte rendu par J. S. Liénard).
N° 29 – LEIPP (E.) et TRAN VAN KHE – Réflexions sur les problèmes du rythme dans les musiques orientales. 1967.
N° 30 – Colloque de 4 conférences sur le thème du piano, organisé par le GAM LEIPP (E.). – Le piano, les mesures physiques et leur signification CASTELLENGO (M.) – Peut-on apprécier objectivement le style des pianistes ? LIENARD (J. S.). – Mécanique et toucher du piano. DORGEUILLE (C.) – Essai d’analyse anatomo-physiologique de la technique de clavier.
N° 31 – Sur l’art vocal en Inde. 1967. PURI (M.) – Les dix thalas de la musique de l’Inde du Nord et leur correspondance avec les différentes heures de la journée. TRAN VAN KHE – Les trois styles de chant en Inde : le dhrupad, le khayal et le Tumri. CASTELLENGO (M.). – Étude acoustique d’un exemple d’art vocal : le Khayal.
N° 32 – LEIPP (E.) – Mécanique et acoustique de l’appareil phonatoire. 1967.
N° 33 – Tour d’horizon sur les musiques expérimentales. 1968. CHIARUCCI (H.) et REIBEL (G.). – Techniques et manipulations en musique électro-acoustique. MOLES (A.) – L’évolution actuelle des musiques expérimentales. LEIPP (E.) – La musique expérimentale au Laboratoire d’acoustique.
N° 34 – LIENARD (J. S.) – La machine parlante de Kempelen. 1968.
N° 35 – CASTELLENGO (M.) – La flûte traversière. 1968.
N° 36 – LEIPP (E.) – Le diapason. 1968.
N° 37 – LEIPP (E.) – L’intelligibilité de la parole. 1968.
N° 38 – LEIPP (E.) et collab. ISOIR. – La régale. 1968.
N° 39 – CASTELLENGO (M.) et TAMBA (A.) – La musique du théâtre nô japonais.
N° 40 – LEIPP (E.), CASTELLENGO (M.) et AGOSTINI (F.) – Le nouveau diapason électronique à l’Opéra. 1969.
N° 41 – LEIPP (E.) avec la collaboration de THEVET (L.) – Le cor d’orchestre. 1969.
N° 42 – CASTELLENGO (M.) – Les paramètres sensibles d’un tuyau à bouche d’orgue. 1969.
N° 43 – TARNOCZY (T.) et LEIPP (E.) – Le problème de la reconnaissance automatique de la parole. 1969.
N° 44 – TRAN VAN KHE, LEIPP, avec la collaboration de CHENG SHUI CHENG – Quelques instruments traditionnels de Chine : ocarina, flûtes, orgue à bouche, pipa. 1969.
N° 45 – RISSET (J. C.) – Un ordinateur comme instrument de musique. 1969.
N° 46 – BOREL-MAISONNY (S.) – Orthophonie. 1970.
N° 47 – LEIPP (E). Introd. AGOSTINI (F.) et SAUGUET (H.) – Réunion sur le diapason. 1970.
N° 48 – MEYER (J.) – La disposition des musiciens dans l’orchestre. Intrododuction et traduction de LEIPP (E.)1970.
N° 49 – LEIPP (E.) – Réflexions sur la mécanique et l’acoustique de l’oreille moyenne. 1970.
N° 50 – LEIPP (E.) – Le GAM : rétrospective et prospective. 1970.
N° 51 – WINCKEL (F.) – Architecture et musique spatiale. 1970.
N° 52 – DEWEVRE (J.) – La chaîne d’écoute phonographique. 1970.
N° 53 – LEIPP (E.), CASTELLENGO (M.), SAPALY (J.), LIENARD (J. S.), TEIL (D.), MLOUKA (M.) et CALINET (A.).- Colloque sur la parole. 1971.
N° 54 – KAUFMANN (K. et M.) et LEIPP (E.) – Le Clavisimbalum d’Arnaut de Zwolle 1971.
N° 55 – LEIPP (E.), TRAN VAN KHE et TRAN QUANG HAI – De quelques instruments vietnamiens. 1971.
N° 56 – LEIPP (E.), SAPALY (J.) et CASTELLENGO (M.) – Présentation de notre orgue expérimental, le CANTOR. 1971.
N° 57 – LEIPP (E.). – Le violon de Savart. 1971.
N° 58 – LEIPP (E.) et LEOTHAUD (G.) – La musique religieuse du Tibet. 1971.
N° 59 – LEIPP (E.), MONICHON (P.), ABBOTT (A.) et LORIN (E.) – L’accordéon (2 réunions). 1972.
N° 60 – MARTENOT (M.) et LEIPP (E.) – Les ondes Martenot. 1972. [Exemplaire OCR]
N° 61 – LEGROS (H.) – Le problème du tempérament. 1972.
N° 61bis – ETIENNE (L.) – Le tempérament décimal. 1972.
N° 62 – LEIPP (E.) – Les problèmes de I’audition stéréophonique. 1972.
N° 63  – LEIPP (E.) et LEGUY (J.) – Le serpent et le cornet à bouquin. 1972.
N° 64 – LEIPP (E.) et ABBOTT (A.) – Un compositeur contemporain devant son œuvre :  » Eve et l’Ordinateur » de A. ABBOTT. 1972.
N° 65 – CEOEN (C.) – La prise de son moderne. 1973.
N°66 – LANNOY (J.) et LEIPP (E.). – Le carillon : Problèmes musicaux, problèmes acoustiques. 1973.
N° 67 – WINCKEL (R.) – Comment mesurer l’efficacité de la voix chantée. 1973. CASTELLENGO (M.). – Etude acoustique de la voix des chanteurs professionnels. 1973.
N° 68 – LEIPP (E.) – Images et traitement optique d’images. 1973.
N° 69 – VAL (J. L.) – La serinette. 1973.
N° 70 – ANCION (M.), BARIAUX (M.). – La clarinette : histoire et musique ; aspects acoustiques. 1973. [Exemplaire OCR]
N° 71 – LEIPP (E.) – Réflexions et expériences sur la clarinette. HEINRICH (J. M.). – Étude botanique de l’anche de roseau. 1973.
N° 72 – BESNAINOU (Ch.) – Les luths. 1974.
N° 73 – MEGEVAND (D.) et LEIPP (E.) – La harpe celtique : histoire et musique, anatomie, physiologie et acoustique. 1974.
N° 74 – LEIPP (E.). – Sons nouveaux sur les instruments de musique mécaniques. CASTELLENGO (M.). – Sons multiples non harmoniques sur les tuyaux a embouchure de flûte. 1974.
N° 75 – CORDIER (S.) – Le problème de l’accordage des instruments à clavier. 1974.
N° 76 – AUTEURS DIVERS.- Table ronde : accordage et audition. 1974.
N° 77 – DUPARCQ (J. J.) – Contribution à l’étude des proportions numériques dans l’œuvre de Jean-Sébastien BACH : extraits. 1975.
N° 78 – LEIPP (E.) – Le groupe de musique expérimentale de Bourges. 1975. Présentation par CLOZIER (C.) suivie de : Les musiques expérimentales : leur passé et leur avenir (Réflexions critiques par LEIPP (E.).
N° 79 – MORAGA (R.) – Musique d’au-delà des Andes. 1975.
N° 80 – COMBASTET (M.) – L’audition colorée : mythe ou réalité ? 1975.
N° 81 – BORREDON (J.) – Pour une parole naturelle. 1975.
N° 82-83 – KERGOMARD (J.) et HEINRICH(J. M.) – Le basson : historique, fabrication, acoustique. L’anche double : fabrication, botanique, le grattage. 1975.
N° 84 – TRAN VAN KHE – Où en sont actuellement les musiques traditionnelles. 1976.
N° 85 – LEIPP (E.) – Peut-on tester l’oreille musicienne ? 1976.
N° 86 – BOREL-MAISONNY (Mme) – La radio-cinématographie de l’appareil phonatoire et ses possibilités en rééducation. 1976.
N° 87 – LEIPP (E.) – Animation artistique et acoustique : le  cas Fontevraud. 1976.
N° 88 – LEIPP (E.), MAURIN (Mme), GENET-VARCIN (M.) – La cloche-diapason du Conservatoire national de Musique de Paris. 1976.
N° 89 – LEIPP (E.) et MAS (A.) – Une enceinte acoustique instrumentale. 1977.
N° 90* – CASTELLENGO (M.) – La flûte à bec. 1977. (pas de texte)
N° 91 – BENETT-CLARK et LEIPP (E.) – Émissions sonores des insectes. 1977.
N° 92 – FRIEDERICH (D.) – La guitare classique. 1977.
N° 92bis – HINAJOSA (X.) – La vihuela. 1977.
N° 93 – LEIPP (E.) – Les problèmes acoustiques de la guitare. 1977.
N° 94 – LEIPP (E.) – L’intégrateur de densité spectrale IDS et ses applications. 1977.
N° 95* – KERGOMARD (J.) – La théorie élémentaire des tuyaux. 1978. (pas de texte)
N° 96 – MARCHI et LEIPP (E.) – La clarinette système Marchi. 1978.
N° 97 – CASTELLENGO (M.), SECHET (P.), DROUIN (F.).- La flûte traversière à une clé, dite flûte baroque. 1978.
N° 98 – FLORIOT (F.) et FONTAINE (J. M.). – Les vases acoustiques du Moyen Age. 1978.
N° 99 – LEIPP (E.) – La qualité acoustique des lieux d’écoute. 1978.
N° 100 – LEIPP (E.) – Bilan de 100 réunions du GAM. + un thème « Le système métrique des musiciens ». 1978.
N° 101 – LARACINE (A.) – La retransmission de l’espace sonore. 1980.
N° 102 – MOLES (A.). – La perception des paysages sonores urbains. 1980.
N° 103 – ASTA (V.) – La synthèse numérique en temps réel. 1980.
N° 104 – GOUSTARD (M.) – Morphologie acoustique et mécanismes de synchronisation des vocalisations territoriales des gibbons à favoris blancs. 1980.
N° 105 – MAILLOT (C.) et SIMANE (M.) – La fabrication des cordes harmoniques. 1981.
N° 106-107 – HEINRICH (J.M.). – Facture d’anches anciennes, facture instrumentale et épistémologie. 1981.
N° 108* – ARTAUD (P.Y.) – La flûte traversière aujourd’hui : faisons le point. 1982. (pas de texte)
N° 109 – CAUSSE (R.) et SLUCHIN (B.) – Les sourdines de la famille des cuivres. 1982.
N° 110 – GARCIA (A.). – La directionnalité des instruments de musique. 1983
N° 111* – ROUBEAU (B.) et CASTELLENGO (M.) – La notion de registre vocal. 1982.
N° 112* – CADOZ (C.) – Synthèse gestuelle des sons musicaux. 1985.
N° 113 – FONSEQUE (R.) – Présentation d’un super-tempérament de 24 sons à l’octave. 1986.
N° 114 – PICARD (F.) – Sur l’accord de quelques jeux de phonolithes et de cloches de la Chine ancienne. 1986.
N° 115 – GILBERT (J.) KERGOMARD (J.) et KIENTZY (D.). – Le saxophone : historique, acoustique et jeu. 1987.

http://www.lam.jussieu.fr/BulletinsGAM.php

http://www.lam.jussieu.fr/BulletinsGAM.php