Author: tranquanghai130544

Đặng Hoành Loan: Trò chuyện Đờn ca tài tử với GS Trần Văn Khê và nhạc sư Vĩnh Bảo

Đặng Hoành LoanJune 25, 2018

Tôi có dịp được ngồi dự buổi trò chuyện về Đờn ca tài tử giữa Giáo sư Trần Văn Khê và Nhạc sư Vĩnh Bảo. Cuối buổi trò chuyện Nhạc sư Vĩnh Bảo đưa tặng Giáo sư Trần Văn Khê bài thơ Đêm Đông viết bằng tiếng Pháp của ông. Nhân cơ hội, tôi đề nghị Giáo sư đọc và dịch bài thơ Đêm Đông để tôi ghi hình làm kỉ niệm. Giáo sư vui vẻ nhận lời. Nội dung bài thơ nói về tấm lòng của người nghệ sĩ trước cuộc đời.
Nhân dịp kỉ niệm 3 năm ngày mất của Giáo sư, tôi xin gửi tới quý vị bạn bè bốn phương video tư liệu này như thắp một nén nhang viếng hương hồn Giáp sư.

PHANXI PANG : « PHỞ ĐỨC TỤNG » của TÚ MỠ

Làm báo, viết văn, 1 trong những chủ đề hấp dẫn mà Phanxipăng quan tâm khai thác là văn hóa nghệ thuật ẩm thực Việt Nam. Vậy tất nhiên lưu ý phở. Cùng với việc trực tiếp thưởng thức phở ở Nam Định & Hà Nội cùng nhiều địa phương khác, tôi còn tìm đọc cả loạt thư tịch liên quan. Không kể tài liệu chỉ bày cách chế biến các món phở, thử hỏi tác phẩm văn chương nào đề cập phở đầu tiên? Xin thưa rằng đó là “Phở đức tụng” của Tú Mỡ.

Tập I “Giòng nước ngược” (1934) của Tú Mỡ, sau “Đề tặng” là ““Điếu” đức tụng”, trích 4 dòng đầu:
Người Việt Nam phải lấy thuốc lào làm quốc tuý
Còn thú vị nào hơn thú vị yên vân!
Từ vua, quan, đến hạng bình dân,
Ai là chẳng bạn thân với điếu

Kế tiếp là “Phở đức tụng”, trích đoạn đầu:
Trong các món ăn “quân tử vị”,
Phở là quà đáng quý trên đời.
1 vài xu, nào đắt đỏ mấy mươi,
Mà đủ vị: ngọt, bùi, thơm, béo, bổ.
Náy bánh cuốn, này thịt bò, này nước dùng sao nhánh mỡ,
Ngọn rau thơm, hành củ thái trên.
Nước mắm, hồ tiêu, cùng dấm, ớt điểm thêm,
Khói nghi ngút đưa lên thơm ngát mũi.

& đây, đoạn kết “Phở đức tụng”:
Chớ chê phở là đồ ăn hèn mọn,
Dẫu sao thành Ba-Lê còn phải đón phở sang.
Cùng các cao lương vạn quốc phô trương,
Ngon lại rẻ, thường hay quán giải.
Sống trên đời, phở không ăn cũng dại,
Lúc buông tay ắt phải cúng kèm.
Ai ơi, nếm thử kẻo thèm.

Tranh đồ họa chân dung Tú Mỡ do Phan Nguyên xử lý từ ảnh chụp.7

TÚ MỠ chân dung

TRẦN VĂN NGÔ :MỘT THỜI ĐÃ QUA / MÓN ĂN TIẾNG TÀU

MỘT THỜI ĐÃ QUA
MÓN ĂN TIẾNG TÀU

trần văn ngô


Chí mà phù, dầu cháo quảy hay tả pín lù thì nay không còn tìm thấy theo gốc ban đầu nhưng dim sum, há kảo, lục tàu xá, xâm bổ lượng…thì vẫn còn. Dưới dạng thức mới mẻ. Ít và trình bày đẹp hơn.
Đó là mấy món do các chú chế biến một thời thịnh hành trên đất Việt hay trong khu vực người Hoa ở Chợ Lớn. Ngày nay nhiều món đó đi khắp thế giới dưới những tên tiếng Pháp, tiếng Anh. Tên gốc là gì ?
Tại sao kêu tên làm vậy ?
BÒ BÍA hay Popiah, Rouleau de printemps của dân Đài Loan, Tân gia ba, Mã Lai, Thái lan và Miến Điện. Không chiên dòn. Thái còn gọi là Popiah sot nghĩa là không chiên. Nay không còn là của Tàu nữa.
Bò bía có gốc từ chữ Pọt piểng. Âm Hán Việt là bạc bính, là bánh mỏng. Thế thôi. Trong bánh có gì và bánh làm bằng bột gì là chuyện của người trong bếp. Nước nào làm theo cách của nước đó nhưng thường là có lạp xường, tôm khô. Chấm với nước tương có đậu phụng nghiền nảt. Người ăn cay kêu thêm tí ớt bằm.
CÀ NA đọc theo Hán Việt là cảm lãm là trái trám hay trái cà na. Ăn lai rai.
CHÍ MÀ PHÙ Soupe de sésame noir chè mè đen. Ăn như ăn chè, ăn tráng miệng. Ăn nóng
DẦU CHÁO QUẢY You tiao Fried Breadsticks Chinese oil stick. Bánh chiên bột mì có hai miếng dính lại với nhau. Có sẳn trên bàn, ai muốn cứ nhấm nháp. Ăn với cháo hay với hủ tiếu.
DIM SUM. Hán Việt điểm tâm. Tiếng Quảng là dian xin nghĩa đen là lót dạ. Trước là cho bữa ăn sáng. Nay là ăn cả ngày từ sáng đến tối với cả 100 món khác nhau. Ngồi trong tiệm người bồi đẩy xe đi ngang qua. Muốn chi cứ việc chỉ.
Tất cả gọi chung là dim sum. Ăn no luôn khỏi qua món chính. Uống với trà hay rượu.
HÁ CẢO Raviolis aux crevettes à la vapeur. Hán Việt là hà cảo là tôm được bọc trong tấm vỏ bánh mỏng trắng bằng bột gạo và bột nếp. Cũng có há cảo nhân thịt với mộc nhỉ, cà rốt và tỏi băm.
Há cảo chiên là Oa thiếp guotip hay wotip thường có nhân thịt và bắp cải.
HOÀNH THÁNH Wonton hay Vằn thắn Ravioli chinois. Hoành thánh mì, có thêm mì sợi trong tô.
HỦ TÍU. Trở thành Việt hóa hủ tiếu. Ta có hủ tiếu Mỹ Tho, hủ tiếu Sài gòn, Cam bốt là hủ tiếu Nam Vang
HÚNG LÌU. Hương liệu, cây cỏ có chất thơm để làm gia vị.
LẠP XƯỜNG hay lap cheong. Lạp là tháng chạp. Trường là ruột có độn thịt heo hay thịt gà. Tại sao lại tháng chạp ? Phơi ra nắng tháng chạp để dành ăn Tết ? Tàu gọi vậy, mình nói theo.
LẨU. Là lư là lò lửa.
LỤC TÀU XÁ. Chè đậu xanh, lục là xanh chớ không phải sáu món, hay Hồng Tàu Xá là chè đậu đỏ nấu nhuyễn với bột báng và vỏ quýt khô trần bì. Ăn ngọt, nóng. Có khi được múc thêm một quả táo tàu khô.
NGẦU PÍN. Hán Việt là ngưu tiên. Roi bằng da là…bộ phận sinh dục của con bò. Phở ngầu pín. Áp dụng nguyên tắc ăn cái chi bổ cho cái ấy.
NHẬM XÀ. Hán Việt là ẩm trà. Uống trà. Tiền nhậm xà là tiền…lót tay.
PHÁ LẤU. Tiều đọc là phá lấu, Hán Việt là đả lỗ. Lỗ là muối mặn, là kho mặn. Mặn chát như người mình nói. Vậy thì thịt phá lấu là thịt kho mặn ướp gia vị thơm và nấu thật nhừ. Uống với rượu đế.
PHAY. Quảng đọc là fai, Hán Việt là phân. Cắt nhỏ ra từng mảnh. Gà xé phay.
PHỔ TAI. Hải đới. Hải là biển, đới là giây. Rong biển. Đây là món chè đậu xanh nấu với rong biển. Ăn giả nhiệt.
TẢ PÍN LÙ. Âm Quảng là tả pil lồu. Hán Việt là tả biên lộ hay tả biên lư. Đặt một nồi nước bên vệ đường cho rau, thịt vào nấu lên ăn cho qua bữa. Biên lộ là vệ đường, nơi dừng chân. Hay biên lư là ngồi chung quanh nồi lửa.
Vậy thì đây là một món nấu nhiều thứ cho sôi lên và ăn nóng trong tiệm ăn chứ không còn bên xa lộ.
TÀU HỦ. Tiếng Quảng đọc là tầu phù, Hán Việt là đậu phụ hay đậu hủ. Còn có chữ đậu phủ là đồ ăn làm bằng đậu nành xay và ngâm nát ra.
TÀU VỊ YỂU. Hán Việt là đậu vị dầu nghĩa là dầu đậu như đậu nành. Đậu nành xay ra có thêm vị mặn bỏ lọ cho dân xài.
TÁO XỌN. Âm Hán Việt là đậu soạn là đậu xanh. Chứ không phải táo khô.
XÀ BẦN. Tiếng Tiều đọc là chập bằng. Hán Việt là thập bình. Thập như trong thập cẩm bỏ chung nhiều thứ lộn xộn. Lúc đầu tiếng này dùng chỉ gạch ngói vỡ sau khi phá tường cần phế thải. Sau là chỉ đồ ăn dư.
XÁ LỊ. Tiếng Việt là tuyết lê. Ổi xá lị là ổi trắng như trái lê.
XÂM BỔ LƯỢNG. Xâm là thanh là một thứ rau, bổ lượng là mát và bồi dưỡng sức khỏe. Thứ chè ăn cho mát.
XÍ MỤI. Hán Việt là Toan Mai. Toan là chua, mai là trái mơ, trái mai. Các cô các bà ai lại không biết xí mụi ? Làm như làm mứt bỏ vào lọ ăn dần hay đem ra mời bạn.
(Bài này viết đã lâu có tham khảo trên mạng và theo từ điển. Khi có nhiều cách giải thích thì chọn theo ký ức của một thời ăn hàng ở Chợ Lớn hay từ sách truyện.)

QUANG THI : Con trai trưởng GS-TS Trần Văn Khê: Tôi mãn nguyện về cha

Con trai trưởng GS-TS Trần Văn Khê: Tôi mãn nguyện về cha

27/06/2015 17:02 GMT+7 0 0 Lưu

TTO – Sáng 27-6, GS-TS Trần Quang Hải – con trai trưởng của GS-TS Trần Văn Khê – đã từ Pháp trở về ngôi nhà trên đường Huỳnh Đình Hai để chịu tang cha.

Ông luôn túc trực bên linh cữu cha mình trước những đoàn người không ngớt đến chia buồn, tiễn đưa GS-TS Trần Văn Khê.

Xúc động trước sự ra đi của người cha, nhưng ông không giấu được những niềm tự hào và sự mãn nguyện vì cuộc đời và những cống hiến của cha mình cho sự nghiệp âm nhạc dân tộc nước nhà.

Đông đảo đoàn thể và cá nhân đến viêng GS-TS Trần Văn Khê trưa 27-6 – Ảnh: Quang Định

* Ông đã thu xếp thế nào để từ Pháp về dự đám tang của cha mình?

– Tôi nhận tin báo từ gia đình khi đang tham gia một hội thảo về âm nhạc quốc tế tại Ý. Tôi phải thu xếp bay từ Ý về Pháp, sau đó lấy vé máy bay từ Pháp về Việt Nam.

Tôi về đến nhà vào sáng nay (27-6), như vậy là vẫn còn kịp cho lễ tang ngày hôm nay và ngày mai cũng như lễ động quan vào ngày 29-6. Trước đó hồi tháng 6 khi nghe tin ba hấp hối, tôi đã về đây túc trực từ ngày 9 đến ngày 21-6.

Sau đó, tôi quay lại Pháp. Chưa được một tuần thì ba đi…!

* Ông có thể cho biết những chia sẻ từ bạn bè, đồng nghiệp… khi có tin GS-TS Trần Văn Khê qua đời?

– Khi nghe tin ba tôi mất, tôi đã thông báo cho tất cả các cơ quan, tổ chức mà tôi và ba tôi từng làm việc. Trong một ngày tôi nhận được hơn 300 thư chia buồn từ các đồng nghiệp, học trò cũ của ba tôi.

Ông có rất nhiều đồng nghiệp, học trò… khắp nơi trên thế giới, và họ đã gửi cho tôi những lời chia buồn sâu sắc nhất. Hội đồng âm nhạc truyền thống quốc tế, tổ chức nơi tôi và ba tôi từng làm việc, thông báo rằng trong hội thảo tháng 7 tại Kazakhstan, họ sẽ dành một phút tưởng niệm ba tôi.

Ông cũng được trao danh hiệu thành viên danh dự suốt đời của tổ chức này.

* GS-TS Trần Văn Khê ra đi là một nỗi mất mát lớn cho nền âm nhạc dân tộc nước nhà. Còn về tình cảm gia đình, ông đã chuẩn bị thế nào cho sự ra đi này?

– Theo cá nhân tôi, sự ra đi của ba cũng là sự giải thoát về mặt thể xác cho những nỗi đau đớn do bệnh tật mà ông đã chịu đựng từ trước đến nay. Nhưng đó chỉ là sự mất mát về thể xác, còn về tinh thần thì tôi và gia đình có quyền tự hào về những di sản lớn của ông để lại cho nền âm nhạc dân tộc nước nhà.

Đó không chỉ là hàng nghìn đầu sách trong thư viện của cha tôi hiện nay, hàng nghìn bản ghi âm mà cha tôi đã để lại…, mà còn là những kết quả rất thiết thực. Những lần phong tặng như nhạc cung đình Huế được công nhận di sản văn hóa UNESCO năm 2003, nhạc cồng chiêng Tây nguyên năm 2005, quan họ, ca trù năm 2009 đều có sự đóng góp của ba tôi.

Đặc biệt, sự kiện âm nhạc đờn ca tải tử được công nhận di sản văn hóa UNESCO năm 2013, ghi nhận lần đầu tiên âm nhạc Nam bộ được vinh danh quốc tế.

Còn về gia đình, đám tang của mẹ tôi cách đây hai năm, và đám tang của ba tôi bây giờ là hai lần mà gia đình bốn anh em tôi được gặp mặt đầy đủ. Lúc mẹ tôi cấn thai đứa em út Trần Thị Thủy Ngọc năm 1950 thì ba tôi đã qua Pháp.

Phải 20 năm sau, lần đầu tiên Ngọc gặp lại ba tôi ở Pháp thì mới gọi được tiếng ba. Tôi ở Pháp trên 50 năm cũng chỉ về Việt Nam vào năm 2002. Gia đình chưa lúc nào đoàn tụ đông đủ.

Chỉ có đám tang ba mẹ thì bốn anh em tôi là Trần Quang Hải, Trần Quang Minh, Trần Thị Thủy Tiên, Trần Thị Thủy Ngọc cùng các con cháu mới có dịp gặp mặt nhau.

* Ông đã chịu ảnh hưởng từ cha mình những điều sâu sắc nào?

– Tôi giống cha tôi ở cách nói chuyện, giọng nói, niềm say mê âm nhạc dân tộc… lẫn nguyên tắc. Tuy sống ở nước ngoài hơn 50 năm nhưng tôi nói tiếng Việt không pha trộn bất kỳ ngôn ngữ nào. Bởi vì tôi nghĩ rằng tiếng Việt đủ giàu để diễn tả bất cứ suy nghĩ nào.

Nhiều lúc ở Việt Nam tôi đi trên đường, nhiều người xúm lại hỏi tôi có phải con của giáo sư Trần Văn Khê hay không rồi họ tươi cười chụp hình chung với tôi, tặng tôi những món quà nhỏ… Có lúc trên máy bay tôi được ưu tiên đổi ghế ngồi VIP.

Đó là niềm hạnh phúc mà một đứa con được thừa hưởng từ người cha một cách thực tế giữa cuộc đời này chứ không phải ở một ý nghĩa nào khác.

GS.TS Trần Quang Hải (con trai cả GS.TS Trần Văn Khê) trò chuyện với các đoàn thể và cá nhân đến viếng cha mình – Ảnh: Quang Định
Bé Chiêu Anh (9 tuổi) viết sổ tang sau khi đến viếng GS.TS Trần Văn Khê cùng cha mình – Ảnh: Quang Định
Dòng suy nghĩ của bé Chiêu Anh về GS.TS Trần Văn Khê ghi trong sổ tang – Ảnh: Quang Định
GS.TS Trần Quang Hải (con trai cả GS.TS Trần Văn Khê) gửi lời cảm ơn đến các đoàn thể, cá nhân tới viếng cha mình – Ảnh: Quang Định
Ông Alain Cany – nguyên Chủ tịch Hội doanh nghiệp châu Âu tại VN (EuroCham) thắp nhang viếng GS.TS Trần Văn Khê – Ảnh: Quang Định

QUANG THI

Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ cuối – lá rụng về cội

Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ cuối – lá rụng về cội

01/07/2015 09:34 GMT+7

GS Trần Văn Khê gặp cụ Đào Duy Anh tại khách sạn Bến Nghé (TP HCM) năm 1979 – Ảnh: tư liệu

Trong thời gian tham dự Festival Huế, nhân bữa tiệc chiêu đãi quan khách tôi được xếp ngồi kế bên cháu Trương Ngọc Thủy, giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh.

>> Kỳ 1: Thời thơ ấu >> Kỳ 2: Lập gia đình >> Kỳ 3: Đất khách quê người >> Kỳ 4: Giới thiệu âm nhạc truyền thống >> Kỳ 5: Chuyện gia đình >> Kỳ 6 – Bôn ba bốn biển năm châu >> Kỳ 7: Quy cố hương >> Kỳ 8: Những cuộc tao ngộ thú vị >> Kỳ 9: Một chuyến đi Bắc Triều Tiên >> Kỳ 10: Viếng thăm Việt Nam với tổng thống Pháp
>> Kỳ 11: Nói chuyện trên đất Mỹ
>> Kỳ 12: Họa vô đơn chí
>> Kỳ 13: Kiếp tằm vẫn nhả tơ >> Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1
>> Hồi ký Trần Văn Khê phần 2

Trong câu chuyện trao đổi, cháu Trương Ngọc Thủy hỏi tôi có định lưu trữ những tư liệu nghiên cứu của mình ở đâu chăng? Tôi tâm sự đã gom góp khá nhiều tư liệu về âm nhạc Việt Nam cũng như những nền âm nhạc lớn của châu Á, hiện đang được cất giữ tại Pháp. Tôi đã lập di chúc giao lại cho trưởng nam Trần Quang Hải nhiệm vụ quản lý và giữ gìn tất cả tư liệu, chờ khi thuận tiện sẽ trao lại toàn bộ cho cơ quan đúng chức năng trong nước nhận lãnh để lưu giữ cho dân tộc Việt Nam. Nhưng tôi ước ao trong lúc còn sống có được điều kiện đem những tư liệu này về nước.

Nghe vậy, cháu Trương Ngọc Thủy tươi cười nói: “Cháu xin thay mặt Sở Văn hóa Thông tin Hồ Chí Minh sẽ tìm cách giúp bác mang về để lưu trữ trong một căn nhà, sau này sẽ là nhà lưu niệm Trần Văn Khê.”

Hai bác cháu nắm tay nhau, tuy chưa ký thành văn bản mà đã có một ước hẹn.

Ngay trong năm đó, cháu Trương Ngọc Thủy cùng với đại diện Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sang Pháp và đến thăm tôi tại tư gia ở Paris. Nhìn thấy tận mắt khối lượng tư liệu chất đầy kín 5 căn phòng, mọi người đều thích thú và quyết tâm bằng mọi giá sẽ tìm cho tôi một căn nhà tại thành phố. Cháu Thủy giao cho Phó giám đốc Thế Thanh thay mặt Sở Văn hóa Thông tin xúc tiến việc này.

Tháng 10 năm 2003, một người cháu của tôi là Thanh hợp sức với cháu Tươi liên hệ với một công ty vận tải biển của Pháp lo việc đóng gói và chuyên chở toàn bộ “sự nghiệp tinh thần” tôi đã chắt chiu tạo dựng qua hơn nửa thế kỷ để đem về Việt Nam. Tất cả gói gọn trong 465 kiện, trong đó có những bộ sách ghi chép về lịch sử âm nhạc Việt Nam, những dĩa hát đầu tiên của một vài nghệ nhân Việt Nam và các nước châu Á mà ngay ở các nước sở tại đôi khi cũng khó tìm được.

Tôi cũng có hơn 100 quyển thuộc loại từ điển bách khoa của Anh, Mỹ, Ý, Pháp; gần 200 cuốn sổ đi đường, như một thiên nhật ký, ghi chép hành trình tôi tham dự hơn 200 hội nghị ở khoảng hơn 68 nước trên thế giới để làm tư liệu về dân tộc học; hơn 2.000 sách, tạp chí thuộc loại nghiên cứu âm nhạc học và nhạc kịch Việt Nam, một kho hình ảnh cùng 800 băng cassettes ghi lại nội dung gặp gỡ nghệ nhân trong các chuyến điền dã khắp Việt Nam và một số nước trên thế giới…

Những thứ “của cải” này, tuy không có giá trị thương mại, nhưng vô giá đối với tôi và tôi nghĩ rằng chúng có ích cho những thế hệ mai sau trong việc tìm hiểu và nghiên cứu âm nhạc theo phương pháp dân tộc nhạc học.

Nhưng khi mọi thứ được đóng gói xong và chuyển đi, thú thật tôi đã khá lo lắng. Bởi chuyến tàu trên đường đi có thể bị tai nạn, bị sóng đánh chìm, hay hàng hóa có thể bị thất lạc…

Thôi thì, một liều ba bảy cũng liều!

Khi biết được chi phí tổng cộng lên tới 7.000 Euros cho một container 40 feets, một số bạn bè, thân hữu vẫn theo dõi công việc làm của tôi xưa nay, đồng thời thông cảm với hoàn cảnh một nhà nghiên cứu suốt đời thanh bạch, đã tự nguyện cùng nhau đóng góp để giúp tôi trang trải chi phí trong việc vận chuyển khá tốn kém nói trên. Thậm chí một cặp vợ chồng người Việt sống bên Mỹ, chỉ nghe một môn sinh của tôi là cháu Thiên Nga kể về việc làm của tôi trong lãnh vực văn hóa chớ chưa bao giờ tiếp xúc, nhân dịp về thăm quê nhà cũng tìm gặp tôi và đề nghị được chung tay giúp đỡ.

Tôi vô cùng xúc động trước nghĩa cử đẹp của những tấm lòng ấy.

Đầu tháng 12, may mắn thay, chiếc tàu trong đó có kiện hàng của tôi cập bến Việt Nam an toàn. Nhờ sự giúp đỡ của Sở Văn hóa Thông tin Thành phố, nhứt là giám đốc Trương Ngọc Thủy và phó giám đốc Nguyễn Thế Thanh, mà các thủ tục hải quan được tiến hành nhanh chóng. Chỉ sau 5 tiếng đồng hồ, tất cả các kiện hàng được chở về gởi tạm trong Bảo tàng viện Thành phố, vì các cơ quan hữu trách chưa tìm ra căn nhà phù hợp để cấp cho tôi.

Cuối cùng Thế Thanh cho biết Sở Văn hóa Thông tin đã chọn được một biệt thự cũ tại tại số 32 Huỳnh Đình Hai, phường 24, quận Bình Thạnh và giao kiến trúc sư sửa chữa, xây dựng lại cho phù hợp với yêu cầu làm việc và sanh sống của tôi.

Tháng 10 năm 2005, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã chánh thức bàn giao căn nhà trên cho tôi để làm nơi cư trú và lưu trữ toàn bộ hiện vật liên quan đến đời sống cá nhân và nghề nghiệp. Sau khi tôi qua đời, nơi đây sẽ trở thành “Nhà lưu niệm Trần Văn Khê”.

Từ tháng 10, tôi tạm ngưng các hoạt động về văn hóa để đặt trọng tâm cho việc ổn định chỗ ở. Cháu Tươi (thời gian này đã rời Paris về Sài Gòn phụ giúp tôi) cùng với em Lý (Trưởng Trung tâm Hồi ký) cùng hợp sức lo việc trang trí nội thất, sắp đặt các phòng tư liệu, phòng khách, phòng ngủ, nhà bếp… cho căn nhà Huỳnh Đình Hai.

Em Lý nhờ nghệ nhân Út Tài thiết kế cây cảnh trong sân vườn nhà tôi. Có một kỷ niệm vui là sau khi nhận lời, ngay tối hôm đó cô Út Tài cho xe tải tới đổ xuống rất nhiều cây cảnh và chậu hoa, đến độ tôi lo lắng phải gọi điện thoại cho em Lý: “Thầy e là không đủ tiền để trả cho chừng đó cây cảnh đâu. Nếu ở Paris thì với số lượng này chắc phải bán nhà mới đủ trả”.

Không dè lát sau em Lý gọi điện lại: “Em đã nói chuyện với chị Út rồi, nhưng chị nói sẽ còn mang thêm nhiều nữa!”. Khi khu vườn đã hoàn tất, rất hợp với sở thích của tôi, đến phần thanh toán tiền nong thì cô Út Tài tươi cười khoát tay: “Em làm tặng thầy”. Tôi vô cùng cảm động trước quà tặng này.

Việc trang trí nội thất phòng khách thì vợ chồng kiến trúc sư Trương Hiền Phúc đã thực hiện đúng theo ý tôi là sắp đặt để bình thường đây là nơi tiếp khách, nhưng lại có thể biến thành phòng họp cho cả trăm người đến dự những buổi tôi nói chuyện về âm nhạc. Trên các bức tường trong phòng khách treo đầy tranh, ảnh, nhạc khí… hầu hết là những kỷ vật đã gắn bó với tôi trong suốt những tháng năm bôn ba khắp bốn biển năm châu, hoặc là những món quà kỷ niệm do thân hữu hoặc bạn bè trao tặng.

Từ đó đến nay, căn nhà này được sử dụng đúng mục đích, vừa là nơi sinh sống của tôi, vừa là một địa chỉ văn hóa mà các hội đoàn hay chánh quyền thành phố vẫn đưa khách trong và ngoài nước đến tham quan.

Các tư liệu tôi mang về nước được sắp xếp phân loại với sự giúp đỡ của Viện Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh, tuy chưa hoàn tất nhưng bước đầu cũng đã phục vụ cho nhu cầu tìm đọc của nhiều sinh viên và một số nhà nghiên cứu. Việc chuyển tư liệu từ băng cassette ra CD, băng video VHS ra DVD vẫn đang được tiến hành.

Đặc biệt nơi đây còn diễn ra những chương trình sinh hoạt văn nghệ định kỳ, là dịp để tôi giới thiệu các bộ môn âm nhạc truyền thống cho giới yêu âm nhạc thành phố và cả khách nước ngoài. Khó khăn nhứt là chi phí tổ chức, may mắn đã có em Trần Trọng Thức và cháu Thanh Nga lo việc tìm tài trợ từ những mạnh thường quân hay các doanh nghiệp trong nước.

Bắt đầu từ đây, tôi vui sướng tận hưởng cuộc sống mới của người con đất Việt xa quê hương hơn nửa thế kỷ, nay trở về để có thể tiếp tục cống hiến ngay tại quê nhà.

Trong những năm cuối đời, tôi may mắn được đồng bào trong và ngoài nước theo dõi, biết qua những chuyện tôi đã làm và lấy tình ruột thịt mà đối đãi với tôi.

Từ sự tận tình theo dõi và chăm sóc sức khỏe cho tôi của các bác sĩ nhiều bịnh viện trong thành phố, đến chiếc xe điện di chuyển trong nhà, chiếc laptop tôi sử dụng hàng ngày, rồi thẻ đi taxi của công ty Mai Linh… thật không sao kể hết những tấm lòng hào hiệp đã bỏ công bỏ của hỗ trợ cho tôi suốt những năm qua.

Tôi đi ăn ở nhiều nhà hàng, chủ nhân đề nghị được chiêu đãi, đi hớt tóc thì chủ hiệu dứt khoát không lấy tiền. Thấy tôi đi ngoài đường chị bán hàng rong đứng dậy hỏi: “Giáo sư đi đâu đó?”, anh xích lô cũng mời: “Giáo sư ơi, lên xe em chở đi hóng mát một vòng”.

Đâu đâu tôi cũng nhận được lời chào thân thiện và niềm nở của mọi người. Cái tình đó là phần thưởng rất lớn giúp tôi thêm hăng say làm việc và cũng ấm lòng một người suốt đời nguyện tận tụy phụng sự âm nhạc truyền thống và văn hóa dân tộc Việt Nam.

Trích Hồi ký Trần Văn Khê (Phương Nam phát hành) GS TRẦN VĂN KHÊ

https://tuoitre.vn/hoi-ky-tran-van-khe-ky-cuoi-la-rung-ve-coi-768897.htm

THANH HIỆP: Dở dang di nguyện Trần Văn Khê

13-05-2019 – 07:30 AM | Văn nghệ Chia sẻ

Di nguyện của GS-TS Trần Văn Khê chưa được thực hiện, sau gần 4 năm kể từ khi ông qua đời

Gần 4 năm kể từ ngày GS-TS Trần Văn Khê qua đời, di nguyện của ông vẫn chưa được thực hiện. Những người nặng lòng với di sản mà ông để lại cho đời đang dốc sức xây dựng không gian mang tên ông với mục đích duy trì hoạt động văn hóa nghệ thuật và nghiên cứu âm nhạc dân tộc nhưng xem ra lắm vất vả, nhọc nhằn.

Để mất một địa chỉ văn hóa

GS-TS Trần Văn Khê mất ngày 24-6- 2015, kể từ ngày đó TP HCM đã mất đi một địa chỉ văn hóa đáng tin cậy đối với những người trân quý âm nhạc truyền thống nói riêng và văn hóa nghệ thuật dân tộc nói chung. Từ năm 2006, ở tuổi 85, GS-TS Trần Văn Khê đã hồi hương, chính thức rời nước Pháp để về sinh sống, làm việc tại TP HCM (ông vẫn giữ quốc tịch Việt Nam).

Dở dang di nguyện Trần Văn Khê - Ảnh 1.

Các nghệ sĩ sân khấu, nghệ nhân đờn ca tài tử Nam Bộ giao lưu biểu diễn tại nhà GS-TS Trần Văn Khê, số 32 Huỳnh Đình Hai, quận Bình Thạnh, TP HCM

Sự trở về của GS-TS Trần Văn Khê đã được bàn bạc và có nhiều buổi gặp gỡ giữa ông và các cơ quan quản lý liên quan, trong đó đáng chú ý là đề án nhà Trần Văn Khê do Sở Văn hóa – Thông tin TP HCM soạn thảo tháng 11-2003. Theo đó, năm 2005, UBND TP HCM giao cho sở này ngôi nhà 32 Huỳnh Đình Hai (quận Bình Thạnh, TP HCM) để làm nơi bảo quản, trưng bày hiện vật và làm nơi ở cho GS-TS Trần Văn Khê những năm cuối đời.

Đến năm 2006, Sở Văn hóa – Thông tin TP HCM đã có quyết định cùng các bên liên quan tiếp nhận 435 kiện sách, trong đó hơn 10.000 đầu sách, tạp chí liên quan đến nghiên cứu, giới thiệu âm nhạc truyền thống Việt Nam và âm nhạc thế giới; hiện vật âm nhạc (nhạc cụ, đĩa, băng ghi âm, hình ảnh, sách báo, bằng khen, huy hiệu…)… Trong đó, có khoảng 200 quyển du ký gắn với cuộc đời, sự nghiệp của GS-TS Trần Văn Khê.

Địa chỉ văn hóa mang tên GS-TS Trần Văn Khê đã đi vào hoạt động, số 32 Huỳnh Đình Hai trở thành địa chỉ thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, cung cấp kiến thức về âm nhạc dân tộc, nghệ thuật cải lương, nghệ thuật hát bội, đờn ca tài tử, nhã nhạc cung đình Huế… hoàn toàn miễn phí dành cho công chúng. Thế nhưng, chưa đến 2 tháng sau khi GS-TS Trần Văn Khê qua đời, ngôi nhà này được bàn giao cho Trung tâm Bảo tồn và Phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa TP HCM (gọi tắt là Trung tâm Bảo tồn di tích) quản lý. Tất cả hiện vật, tài liệu, sách… gắn bó với cuộc đời, sự nghiệp của GS-TS Trần Văn Khê đã được giao cho Bảo tàng TP HCM và Thư viện Khoa học tổng hợp quản lý.

Hiện nay, số 32 Huỳnh Đình Hai trở thành văn phòng của Trung tâm Bảo tồn di tích. Ông Trương Kim Quân, Giám đốc trung tâm, cho biết theo quyết định của UBND TP HCM, Trung tâm Bảo tồn di tích quản lý phần nhà để làm văn phòng trung tâm. Phần kho tư liệu phía sau sẽ do Bảo tàng TP HCM quản lý.javascript:if(typeof(admSspPageRg)!=’undefined’){admSspPageRg.draw(2011351);}else{parent.admSspPageRg.draw(2011351);} https://api.dable.io/widgets/id/6XggQDXN/users/42772161.1596854737099?from=https%3A%2F%2Fnld.com.vn%2Fvan-nghe%2Fdo-dang-di-nguyen-tran-van-khe-2019051222132387.htm&url=https%3A%2F%2Fnld.com.vn%2Fvan-nghe%2Fdo-dang-di-nguyen-tran-van-khe-2019051222132387.htm&ref=https%3A%2F%2Fnld.com.vn%2F&cid=42772161.1596854737099&uid=42772161.1596854737099&site=nld.com.vn&id=dablewidget_6XggQDXN&category1=V%C4%83n%20ngh%E1%BB%87&ad_params=%7B%7D&item_id=2019051222132387&pixel_ratio=1&client_width=520&lang=en&is_top_win=1&top_win_accessible=1

Như vậy, coi như đã mất một địa chỉ văn hóa, dù các đơn vị quản lý có kế hoạch xây dựng phương án sẽ tổ chức trưng bày chuyên đề triển lãm vào dịp kỷ niệm ngày mất hoặc ngày sinh GS-TS Trần Văn Khê những năm chẵn nhưng trên thực tế vẫn chưa được thực hiện.

Canh cánh nỗi lòng

NSND Kim Cương và một nhóm bạn hữu cảm thấy có lỗi với ông khi chưa thực hiện được di nguyện của người quá cố. Bà tâm sự: « GS-TS Trần Văn Khê luôn mong muốn bảo tồn, phục hưng nền âm nhạc truyền thống Việt Nam, qua việc tổ chức lập quỹ học bổng hoặc Giải thưởng Trần Văn Khê để hằng năm phát cho người có công trình nghiên cứu hoặc cống hiến xuất sắc về âm nhạc truyền thống Việt Nam. Ở đó, còn có thư viện mang tên ông, giúp người đọc có điều kiện tham khảo tư liệu để nghiên cứu, phát huy những giá trị to lớn của âm nhạc dân tộc. Cứ nghĩ đến những điều ông viết trong bản di nguyện mà chưa thực hiện được, sau gần 4 năm ông ra đi, trong đó ngôi nhà số 32 Huỳnh Đình Hai, nơi ông sinh sống, tổ chức nhiều hoạt động âm nhạc lúc sinh thời đã không được gìn giữ đúng ước nguyện của ông, tôi cứ canh cánh bên lòng nỗi niềm như một người bất tín » – NSND Kim Cương tâm sự.

NSND Kim Cương cũng mong muốn thành lập Quỹ Trần Văn Khê để trao học bổng, tài trợ cho các dự án nghiên cứu, phát huy những giá trị của âm nhạc truyền thống và văn hóa nghệ thuật nước nhà.

Khi qua đời, tang lễ GS-TS Trần Văn Khê được tổ chức rất trang trọng, số tiền phúng điếu lên đến 700 triệu đồng. GS-TS Trần Quang Hải là con trai cả, được cha tin cậy và ủy thác nhiều điều tâm đắc. Tuy nhiên, năm nay ông cũng đã 72 tuổi lại đang mắc phải căn bệnh ung thư máu. Trong thư ngỏ gửi chính quyền sau khi cha ông qua đời, GS-TS Trần Quang Hải trình bày việc thành lập Quỹ Trần Văn Khê rất khó thực hiện được vì ông là người nước ngoài, có rất nhiều trở ngại trong việc quản lý trực tiếp quỹ. Quỹ cần phải có trụ sở nhất định và phải có ngân khoản thường trực để trang trải mọi chi phí. Cũng như dự án Nhà Lưu niệm Trần Văn Khê, tuy đã được UBND TP HCM đồng ý giao căn nhà số 32 Huỳnh Đình Hai nhưng số tiền hưu trí ít ỏi của ông tại Pháp không đủ khả năng trang trải cho hoạt động của nhà lưu niệm. GS-TS Trần Quang Hải đã đề xuất giải quyết số tiền 700 triệu đồng vào mục đích từ thiện hoặc trao giải thưởng mang tên Trần Văn Khê. Hiện số tiền này vẫn được những người có trách nhiệm giữ gìn.

Di nguyện của GS-TS Trần Văn Khê đang dang dở là một lời nhắc nhở đối với chúng ta. 

Không bằng tỉnh lẻ

NSND Kim Cương và các bạn hữu đang xúc tiến dự án xây dựng không gian văn hóa Trần Văn Khê. « Bằng mọi cách chúng tôi sẽ thực hiện các thủ tục để thiết lập lại không gian mang tên GS-TS Trần Văn Khê » – NSND Kim Cương khẳng định quyết tâm. Theo bà, TP HCM được xem là trung tâm văn hóa lớn nhưng chưa có địa chỉ của một nhà văn hóa đúng nghĩa. Không cần phải khao khát như thế giới, ngay tại TP Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, chính quyền và người dân nơi đây cũng đã ưu ái xây dựng nhà trưng bày được xem là không gian của nhạc sư Vĩnh Bảo; TP Huế có nhà của điêu khắc gia Điềm Phùng Thị, Lê Bá Đảng; còn chúng ta vẫn chưa có một không gian nhỏ nào đó cho GS-TS Trần Văn Khê.

Bài và ảnh: Thanh Hiệp

https://nld.com.vn/van-nghe/do-dang-di-nguyen-tran-van-khe-2019051222132387.htm

Theo nguoiduatin.vn: Giáo sư Trần Văn Khê: Đa tình nhưng không bạc tình

Giáo sư Trần Văn Khê: Đa tình nhưng không bạc tình

03/07/2015, 23:59 GMT+7 | Văn hóa

Giáo sư Trần Văn Khê từng tâm sự rằng, ông rất có duyên với phái nữ và nhận được nhiều tình cảm thương mến của họ.

Nhắc đến GS.TS Trần Văn Khê, cả thế giới biết ông là một bậc đại thụ, một bậc trưởng bối của âm nhạc dân tộc Việt Nam. Sự ra đi của ông là mất mát quá lớn đối với nền âm nhạc dân tộc của Việt Nam.

Sinh ra trong gia đình có truyền thống âm nhạc

Giáo sư Trần Văn Khê sinh ngày 24/7/1921 tại Vĩnh Long trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ nên ngay từ nhỏ đã làm quen với nhạc cổ truyền. 

Năm lên 6 tuổi, ông đã được cô và cậu dạy đàm kìm, đàn cò, đàn tranh. Ông mồ côi mẹ và cha từ khi lên 9 tuổi nên ông và hai em, “quái kiệt” Trần Văn Trạch và Trần Ngọc Sương được người cô nuôi nấng, chăm sóc.

Giáo sư Trần Văn Khê: Đa tình nhưng không bạc tình - Ảnh 2

Năm 1941, Trần Văn Khê thi đậu thủ khoa tú tài. Năm 1942, ông ra Hà Nội học y khoa và sang pháp du học vào năm 1949. Năm 1951, ông thi đậu vào trường Chính trị khoa giao dịch quốc tế. 

Năm 1958, ông là người Việt đầu tiên đậu tiến sĩ Văn khoa của đại học Sorbonne với đề tài luận án “La Musique vietnamienne traditionnelle” (Âm nhạc truyền thống Việt Nam).”

Năm 1963, ông dạy trong Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện nhạc học Paris. Ông là thành viên của Viện khoa học Pháp, viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Châu Âu về khoa học, văn chương và nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác. Giáo sư Trần Văn Khê cũng đã nhận rất nhiều giải thưởng lớn, danh giá trong nước và quốc tế.

Tình yêu cho âm nhạc dân tộc

Với hơn 50 năm học tập, làm việc ở nước ngoài nhưng tấm lòng GS.TS Trần Văn Khê luôn đau đáu nỗi niềm và tình yêu dành cho âm nhạc dân tộc. 

Ông cho đó là quá trình tất yếu của một con người “thân cư tại ngoại” mà “tâm tại quê hương”, đúng như câu tục ngữ “cây có cội, sông có nguồn”, mỗi con người đều hướng về quê cha đất Tổ.

Ngay khi trở về Việt Nam, hầu như Giáo sư không cho phép mình có thời gian nghỉ ngơi với hàng loạt công việc còn dang dở. Ông miệt mài đi sâu tìm hiểu, giảng dạy âm nhạc dân tộc Việt Nam trên chính quê hương mình. 

Ông đặc biệt quan tâm đến giới trẻ, mong muốn đưa âm nhạc dân tộc thu hút được thanh niên, học sinh – sinh viên, từ đó giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam.

Giáo sư Trần Văn Khê: Đa tình nhưng không bạc tình - Ảnh 3

Giáo sư Trần Văn Khê dành nhiều tâm huyết cho âm nhạc dân tộc.

Có một tình yêu rất lớn dành cho âm nhạc dân tộc, Giáo sư Trần Văn Khê từng mong muốn: “Tôi luôn mong ước được về Việt Nam, có một ngôi nhà không chỉ là nơi để ở mà còn là nơi để làm việc. 

Đó là nơi tập trung và giữ gìn những tư liệu mà cả đời tôi gom góp được, để sau này cho thế hệ trẻ Việt Nam đến xem, để các bạn có thể đối thoại với các nền văn hóa âm nhạc trên thế giới”.

Và ước nguyện về nguồn có căn nhà đã thành hiện thực đối với giáo sư Trần Văn Khê là niềm hạnh phúc lớn lao nhất. Ngôi nhà số 32 Huỳnh Đình Hai (TPHCM) hiện lưu trữ toàn bộ 450 kiện hàng – di sản đồ sộ mà giáo sư Trần Văn Khê đã tự bỏ ra 10.000 USD lo chi phí vận chuyển từ Pháp về Việt Nam. 

Trong đó gồm: sách báo, tạp chí, băng đĩa, máy móc, nhạc cụ… mà phần nhiều là những tư liệu quý giá về âm nhạc dân tộc Việt Nam và thế giới. yomedia-sdk.js?v=3″ id= »s-f7d7f9c451b64c5998ae726eb76476e6″> Search AdsLes maisons de retraite les plus prisées à Noisy-le-GrandEn savoir plus→

Trên báo Sài Gòn Giải Phóng, Giáo sư Trần Văn Khê từng chia sẻ: “Gần 100 cuốn sổ tay tôi gọi là cuốn du ký và tôi quý lắm. Đi đến đâu tôi đều ghi lại đầy đủ và giữ từ tấm thiệp mời, thư từ của bạn bè, trong đó có cả thực đơn khi đi ăn cùng bạn bè, tôi giữ lại và đưa họ ký vào để làm kỷ niệm. 

Số sách báo có cái sưu tầm phục vụ nghiên cứu, giảng dạy; có cái tôi mua để xem chơi, nhưng là tài liệu rất tốt cho những ai muốn tìm hiểu về âm nhạc của thế giới. Mỗi cây đàn ở đây đều có “lịch sử” riêng”.

Tất cả những việc ông làm, đều chỉ với mong muốn làm sao cho thế giới biết và yêu mến âm nhạc dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam.

Có duyên với phái nữ và nhận được nhiều thương mến

Giáo sư Trần Văn Khê: Đa tình nhưng không bạc tình - Ảnh 4

Giáo sư Trần Văn Khê và vợ.

Giáo sư Trần Văn Khê lập gia đình lập gia đình khá sớm, khi mới 22 tuổi. Phu nhân của ông là bà Nguyễn Thị Sương, người bạn gái học cùng lớp Triết ở trường Pétrus Ký. Cả hai có với nhau 4 người con – 2 trai, 2 gái.

Tuy nhiên, ít ai biết được rằng, ông là người rất có duyên với phái nữ và nhận được nhiều tình cảm thương mến của họ.

Trên Thanh niên tuần san, Giáo sư Trần Văn Khê từng chia sẻ: “Nếu nói thực, tôi chỉ là một người nghiên cứu nhưng tâm hồn sẵn có cái nhạy cảm với thiên nhiên nên cũng có nhiều người thương mến.”

Tuy nhiên, ông cũng tâm sự rằng: “Đa tình thì có thể nhưng rất may là tôi không phải là người bạc tình và cũng chưa bao giờ cùng lúc có hai ba người. 

Chỉ có người này đi qua người khác đến. Cũng chưa có người phụ nữ nào oán trách tôi, khi chia tay chúng tôi đều giữ lại được tình bạn. Thực ra điều này khó mà không khó”.

Giáo sư Trần Văn Khê: Đa tình nhưng không bạc tình - Ảnh 5

Giáo sư Trần Văn Khê bên vợ và 2 con trai.

Nói về phu nhân của mình– bà Nguyễn Thị Sương, Giáo sư Trần Văn Khê từng chia sẻ: “Từ khi tôi và mẹ mấy đứa con tôi xa nhau vì hoàn cảnh, thì tôi vẫn tôn trọng quý mến, về Việt Nam tôi vẫn thỉnh thoảng ghé thăm. 

Tôi và bà ấy gặp nhau, yêu nhau nhưng lấy nhau thì cuộc sống khác. Khi đó tôi nhận ra tôi không chỉ là người đàn ông dành cho gia đình nữa, tôi có khao khát với sự nghiệp của tôi.

Dù chia tay đã lâu, với bà Nguyễn Thị Sương, tôi và bà ấy vẫn như những người bạn tốt”.

Theo nguoiduatin.vn

https://www.nguoiduatin.vn/giao-su-tran-van-khe-da-tinh-nhung-khong-bac-tinh-a195198.html

TRẦN HÒA : Cố GS Trần Văn Khê: Học cái hay đừng quên tính dân tộc

Cố GS Trần Văn Khê: Học cái hay đừng quên tính dân tộc

Trần Hòa – 06/08/2020, 07:00 GMT+7 | Văn hóa GD&TĐ – Kỷ niệm 99 năm ngày sinh cố giáo sư Trần Văn Khê, các trí thức và những người hâm mộ lại bàn luận về tính dân tộc trong con người và học thuật của ông. Các diễn giả tọa đàm trong dịp kỷ niệm 99 năm ngày sinh cố giáo sư Trần Văn Khê. Ảnh: ICAM.Các diễn giả tọa đàm trong dịp kỷ niệm 99 năm ngày sinh cố giáo sư Trần Văn Khê. Ảnh: ICAM.

Cuối tháng 7/2020, nhóm thân hữu giáo sư Trần Văn Khê cùng ĐH Văn Lang tổ chức kỷ niệm 99 năm ngày sinh của ông. Dịp kỷ niệm là cuộc hội ngộ của nhiều trí thức, nghệ sĩ như: NSND Kim Cương, NSƯT Thành Lộc, NSƯT Kim Tử Long, nhạc sĩ Huỳnh Khải, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, nhà thiết kế Sĩ Hoàng, tiến sĩ Nguyễn Nhã… cùng đông đảo các giảng viên, sinh viên tham dự.

Không để ai ngồi lên bàn thờ!

« Tâm và Nghiệp – Trọn vẹn một cuộc đời » với trung tâm điểm của cuộc tọa đàm là « các giá trị văn hóa từ giáo sư Trần Văn Khê » mở màn bằng chính sáng tác của ông: Con công hay múa. Tiết mục văn nghệ hát đồng dao do biên đạo múa Hữu Phúc, Y Nhã dàn dựng cho các em thiếu nhi biểu diễn nhận được sự hưởng ứng nồng nhiệt của những người tham dự.

Nhà văn Dương Trọng Dật – Viện trưởng Viện Đào tạo Nghệ thuật và Truyền thông, Giám đốc Nhà hát Truyền hình Văn Lang bày tỏ: « Giáo sư Trần Văn Khê là đại sứ âm nhạc truyền thống của Việt Nam, nhưng trên cả vai trò của đại sứ thông thường, ông là người góp phần nâng âm nhạc truyền thống ngang tầm với các nền âm nhạc cổ truyền của các nền văn hóa – nghệ thuật độc đáo khác trên thế giới ».

NSND Kim Cương chia sẻ rằng: « Anh Trần Văn Khê như một ngọn đèn dẫn lối cho anh em nghệ sĩ chúng tôi đi. Đối với tôi, anh là người thầy lớn không bao giờ phai nhạt. Những câu nói, những bài học, việc làm của anh Khê đối với tôi chính là kim chỉ nam dẫn dắt suốt cuộc đời làm nghệ thuật ».

Những năm 1960, khi nghệ sĩ Kim Cương sang Pháp học về kịch nghệ, người đầu tiên nghệ sĩ gặp chính là giáo sư Khê. Ông đã dẫn các nghệ sĩ Việt Nam đến tất cả nhà hát, sân khấu ở Pháp xem và căn dặn: « Nước văn minh tổ chức vậy nhưng các em phải nhớ, nền văn hóa nào cũng phải có một quê hương. Mình học cái hay cái đẹp nhưng đừng bao giờ quên tính dân tộc của mình ».

NSƯT Thành Lộc nhớ lại hai lần giáo sư Trần Văn Khê đến xem vở « Bí mật vườn Lệ Chi » do anh đạo diễn. Lần nào ông cũng khóc rất xúc động vì thế hệ kế thừa đã biết trân trọng và làm tốt vai trò trao truyền văn hóa dân tộc mà cả đời ông theo đuổi. 

NSƯT Thành Lộc cho biết những lời động viên, nhận xét cũng như cốt cách trong con người của giáo sư Trần Văn Khê khiến cho anh vô cùng kính trọng.

« Bác Khê nói âm nhạc Việt vô cùng hào phóng, như con người Việt Nam sẵn sàng đón nhận tất cả mọi luồng âm nhạc đến với mình để học hỏi. Nó cũng giống như bản tính người Việt luôn hiếu khách. Ai cũng có thể bước vào tràng kỷ để ngồi, đứng, nằm… có thể vào nhà bếp, phòng ngủ nhưng riêng bàn thờ tổ tiên nhà tôi là bạn không có quyền xâm phạm. 

Đôi khi người làm văn hóa Việt Nam nhập nhằng giữa lòng hiếu khách và sự nhu nhược. Vì thế, giữ hồn Việt là phải biết không để ai ngồi lên bàn thờ », nghệ sĩ Thành Lộc chia sẻ.

Không gian văn hóa Trần Văn Khê

Giáo sư Trần Văn Khê được biết đến là người rất quyết liệt quảng bá và bảo vệ nghệ thuật truyền thống Việt Nam. Ảnh: ITN

Trong khuôn khổ chương trình, các nghệ sĩ, nghệ nhân, nhạc công… biểu diễn nhiều tiết mục đờn ca tài tử, cải lương nhằm giới thiệu những nét đặc sắc của loại hình nghệ thuật dân tộc đến với sinh viên.

Ban tổ chức còn trưng bày hình ảnh, tài liệu, sách báo về giáo sư Trần Văn Khê; giới thiệu các hiện vật, nhạc cụ dân tộc đã gắn bó với ông lúc sinh thời.

Từ năm 2006, GS Trần Văn Khê đã sống gần 10 năm cuối đời ở ngôi nhà 32 Huỳnh Đình Hai (Bình Thạnh – TPHCM). Tại đây, hàng trăm buổi sinh hoạt đã diễn ra về đàn tranh, đàn đá, hát bội, vọng cổ, ca trù, nghệ thuật ngâm thơ truyền thống Việt Nam.

Theo gia đình giáo sư Trần Văn Khê, toàn bộ không gian đẹp nhất của ngôi nhà số 32 dùng làm không gian chung. Một thư viện Trần Văn Khê đã được khánh thành ở tầng trên của nhà phụ phía sau vào năm 2012. Từ đó, ngôi nhà số 32 Huỳnh Đình Hai trở thành một địa chỉ văn hóa cho tất cả những ai yêu mến âm nhạc và văn hóa truyền thống Việt Nam.

Giáo sư Trần Văn Khê từ giã cõi đời vào ngày 24/6/2015 để lại một tấm gương sáng về tài năng và trách nhiệm đối với việc gìn giữ, phát huy giá trị âm nhạc truyền thống. 

Trong di nguyện của ông, ngoài căn nhà, giáo sư Trần Văn Khê mong muốn một quỹ học bổng. Với ông, cần khuyến khích các sinh viên âm nhạc dân tộc, cần vinh danh các nghệ sĩ xuất sắc trong sáng tạo và tôn vinh các công trình nghiên cứu có giá trị về âm nhạc dân tộc.

Bên cạnh đó, việc xây dựng không gian văn hóa Trần Văn Khê tại Trường Đại học Văn Lang là việc rất cấp thiết. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đánh giá việc này có ý nghĩa cực kỳ to lớn và giá trị sâu sắc để thắp lửa tiếp nối tình yêu văn hóa âm nhạc truyền thống cho các thế hệ tương lai.

Theo nhóm thân hữu giáo sư Trần Văn Khê, năm 2020 là tròn 5 năm ngày mất và 99 năm ngày sinh của ông. Nhớ đến ông là nhớ về một con người cả cuộc đời đã chuyên chú tâm sức cho việc nghiên cứu và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ở Pháp và khắp mọi nơi trên thế giới.

Các chuyên đề nghiên cứu và đào tạo của ông về đờn ca tài tử, về cải lương Việt Nam trong đối sánh với các loại hình âm nhạc, kịch nghệ của các quốc gia châu Á (pansori của Triều Tiên, kinh kịch của Trung Quốc, noh và kabuki của Nhật Bản) đã được giới âm nhạc quốc tế đánh giá rất cao. Sự đánh giá đó đã góp phần đưa đến công nhận và vinh danh ở tầm mức thế giới các loại hình nhã nhạc cung đình Huế, không gian cồng chiêng Tây Nguyên, ca trù, đờn ca tài tử, quan họ, hát xoan.

« Những gì hay nhất của giáo sư Trần Văn Khê không chỉ ở âm nhạc mà còn ở văn hóa. Theo tôi, giáo sư Khê là người có tâm giữ hồn dân tộc qua âm nhạc và văn hóa ». – TS Nguyễn Nhã.

https://giaoducthoidai.vn/co-gs-tran-van-khe-hoc-cai-hay-dung-quen-tinh-dan-toc-1596601081047.html

Quý Nguyễn: TIẾNG « DẠ » THÂN THƯƠNG

TIẾNG « DẠ » THÂN THƯƠNG
Qúy Nguyễn

Nghe tiếng « Dạ » sao mà thương đến lạ. Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ « dạ » khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ « vâng ».
Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ « vâng ». Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói « vâng! » là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt.

Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ « dạ » vào mỗi câu nói:

 »Mày ăn cơm chưa con ?

– Dạ, chưa! »

« Mới dìa/dzề hả nhóc?

– Dạ, con mới! »…

Cái tiếng « dạ » đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó « thương » lạ…..dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng « dạ » là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẵng hay…

Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói:

« Từ bữa đó đến bữa nay », còn người Sài Gòn thì nói: « Hổm rày », « dạo này »…

Người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ « ghê » phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng.

Tiếng « ghê » đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là « nhiều » là « lắm ». Nói  »Nhỏ đó xinh ghê! », nghĩa là khen cô bé đó xinh lắm vậy. Lại so sánh từ « hổm nay » với « hổm rày » hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau. Nghe người Sài Gòn dùng một số từ « hổm rày, miết… » là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất miền Nam chung mà.

Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem… « Nhỏ đó dễ thương ghê! », « Nhỏ đó ngoan! »… Tiếng « nhỏ » mang ý nghĩa như tiếng « cái » của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi « nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên » thì cũng như « cái Thuý, cái Uyên, cái Lý » của người Hà Nội thôi.

Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu « Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề… nhìn phát bực! » Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm.

Một người lớn hơn gọi:

« Ê, nhóc lại nói nghe! »

Hay gọi người bán hàng rong:

« Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi! »…

« Ê » là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người SàiGòn.

Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường quên mất từ « bán », chỉ nói là:

« Cho chén chè, cho tô phở »…

« Cho » ở đây là mua đó nghen.

Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này:

« Lấy cái tay ra coi! »

« Ngon làm thử coi! »

« Cho miếng coi! »

« Nói nghe coi! »…

« Làm thử » thì còn « coi » được, chứ « nói » thì làm sao mà « coi » cho được nè ? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ « coi », cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà.

Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi:

« Mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ? »

– Mà « dzậy ta » cũng là một thứ « tiếng địa phương » của người Sài Gòn à.

Người Sài Gòn có thói quen hay nói:

« Sao kỳ dzậy ta? »

« Sao rồi ta? »

« Được hông ta? »…

Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.

Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là… « bạn hông biết gì hết chơn hết chọi! »

Mà giọng Sài Gòn đã thế, cách người Sài Gòn xưng hô, gọi nhau cũng có phần mang « màu sắc » riêng.

Người Sài Gòn có cái kiểu gọi « Mày » xưng « Tao » rất « ngọt ». Một vài lần gặp nhau, nói chuyện ý hợp tâm đầu một cái là người Saigon mày tao liền. Nếu đúng là dân Sài Gòn, hiểu người Sài Gòn, yêu người Sài Gòn sẽ thấy cách xưng hô ấy chẳng những không có gì là thô mà còn rất ư là thân thiện và gần gũi.

Mày-tao là kiểu xưng hô hay thấy trong mối quan hệ bạn bè của người Sài Gòn. Cách xưng hô này thấy dàn trải từ đủ các mối quan hệ bạn bè; từ bạn học giữa mấy đứa nhóc chút xíu, cho đến mấy bác mấy anh lớn lớn tuổi.

Hổng biết cái máu dân Sài Gòn nó chảy mạnh quá hay sao mà thấy mấy cách gọi này nó… tự nhiên và dễ nói hơn là mấy từ như « cậu cậu – tớ tớ » của miền Bắc. Nói chuyện bạn bè với nhau, thân thiết mà gọi mấy tiếng mày mày tao tao thì nghe thật sướng, thật thoải mái tự nhiên, và khoai khoái làm sao ấy. Gọi thế thì mới thiệt là dân Sài Gòn.

Đấy là ngang hàng, ngang vai vế mà gọi nhau, chứ còn như đám nho nhỏ mà gặp người lớn tuổi hơn, đáng bậc cha, chú thì khác. Khi ấy « tụi nhỏ » sẽ gọi là chú, thím, cô, dì, hay bác và xưng « con » ngọt xớt. Có vẻ như người Sài Gòn « ưa » tiếng chú, thím, dì, cô hơn; cũng như đa phần dân miền Nam khác vậy mà. Mà có lẽ cách gọi này cũng còn tuỳ vào việc ước lượng tuổi của người đối diện.

Gặp một người phụ nữ mà mình nhắm chừng tuổi nhỏ hơn mẹ mình ở nhà thì:

“Dì ơi dì…cho con hỏi chút…..! » –

Còn lớn hơn thì dĩ nhiên là « Bác ơi bác… » rồi.

Những tiếng mợ, thím, cậu,….. cũng tuỳ vào vai vế và người đối diện mà gọi. Có người chẳng bà con thân thuộc gì, nhưng là bạn của ba mình, lại nhỏ tuổi hơn, thế là gọi là chú và vợ của chú đó cứ thế gọi luôn là thím.

Gọi thì gọi thế, còn xưng thì xưng « con » chứ không phải « cháu cháu » như một số vùng khác.

Cái tiếng « con » cất lên nó tạo cho người nghe cảm giác khoảng cách giữa mình với đứa nhỏ đang nói kia tự dưng… gần xịt lại. Nghe sao mà quen thuộc, và gần gũi đến lạ lùng. Tự dưng là thấy có cảm tình liền. Nói tiếp chuyện xưng hô, người Sài Gòn có kiểu gọi thế này :

Ông đó = Ổng

Bà đó = Bả

Dì đó = Dỉ

Anh đó = Ảnh

Chị đó = Chỉ

Cô đó = Cổ

Còn nữa:

Ở bên đó = Ở bển

Ở trong đó = Ở trỏng

Ở ngoài đó = Ở ngoải

Hôm đó = Hổm.

Nói chung, khi cần lược bỏ chữ « đó », người ta chuyển thanh ngang hoặc thanh huyền thành thanh hỏi. Không hiểu sao mà dấu hỏi tự nhiên cái trở nên giữ vai trò quan trọng… ngộ nghĩnh dzậy nữa. Nhưng mà kêu lên nghe hay hay đúng hông? Gọi vậy mới đúng là chất miền Nam – Sài Gòn á nghen. Người Sài Gòn cũng có thói quen gọi các người trong họ theo… số. Như anh Hai, chị Ba, thím Tư, cô Chín, dượng Bảy, mợ Năm… Mà nếu anh chị em họ hàng đông đông, sợ gọi cùng là chị Hai, anh Ba mà hổng biết nói về ai thì dzậy nè, thêm tên người đó vào.

Thành ra có cách gọi: Chị Hai Lý, chị Hai Uyên, anh Ba Long, anh Ba Hùng… Thêm nữa, nếu mà anh chị em cùng nhà thì tiếng « anh-chị-em » đôi khi được….giản lược mất luôn, trở thành:

« Hai ơi Hai, em nói nghe nè… » và « Gì dzạ Út ? »… Tôi thích cách gọi này, đâm ra ở nhà gọi Dì Út tôi chỉ là một tiếng Út gọn lỏn. Có chuyện nhờ là cứ « Út ơi…con nhờ chút! » hoặc với mấy chị tôi thì « Hai ơi Hai… em nói nghe nè! ».

Cách gọi này của người Sài Gòn nhiều khi làm người miền khác nghe hơi… rối. Cách xưng hô của người Sài Gòn là vậy. Nghe là thấy đặc trưng của cả một mảnh đất miền Nam sông nước. Cứ thế, không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Kinh Thành, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước miền Nam, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái « chất Sài Gòn » chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn.

Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng « Dạ! » cùng những tiếng « hen, nghen » lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương… ❤

Người Viết: Quý Nguyễn

MỘT BUỔI ĐỜN CA NHIỀU ẤN TƯỢNG

MỘT BUỔI ĐỜN CA NHIỀU ẤN TƯỢNG

Dang Hoanh Loan 5.9K subscribers Buổi đờn ca ấy diễn ra tại xã Xuân Thới Sơn, huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh tại Hợp tác xã làm thủ công mây tre đan ngày 15/11/2011. Các nghệ sĩ tham gia có : Ba Hòa đờn kìm, Thanh Tùng đờn tranh, Út Tỵ đờn cò, Quang Dũng thổi ống tiêu và đờn bầu. Hai nghệ sĩ ca là Thanh Xuân và và Minh Hòa. Giọng hát, tiếng đờn của các nghệ sĩ đã làm say lòng người mộ điệu.