Auteur : tranquanghai130544

GS TRẦN VĂN KHÊ : CHUNG QUANH PHONG TRÀO « VỀ NGUỒN » VÀ CHỨNG BỊNH CỦA THỜI ĐẠI(Phần 2 – Hết)

CHUNG QUANH PHONG TRÀO « VỀ NGUỒN » VÀ CHỨNG BỊNH CỦA THỜI ĐẠI(Phần 2 – Hết)-

GS. Trần Văn Khê -CHỨNG BỊNH CỦA THỜI ĐẠI

– Thưa Giáo sư, thế nào là “bịnh của thời đại”? Có phải chỉ là căn bịnh của dân Việt Nam, hay là bịnh thời đại cho nhiều nước trên thế giới?

– Đúng là một căn bịnh cho nhiều nước trên địa cầu, những nước thuộc về “thế giới thứ ba”. Nhưng ở Việt Nam căn bịnh khá trầm trọng. Bịnh gây ra nhiều chứng, nhưng gốc của bịnh là “tự ti mặc cảm”, rồi sanh ra “bịnh vong bản”, “bịnh mất cá tính” và “bịnh vọng ngoại”.

– Tại sao lại mắc bịnh tự ti mặc cảm?

– Nguyên nhân thứ nhứt của căn bịnh là do hoàn cảnh lịch sử. Nước Việt Nam đã mất chủ quyền trong gần 100 năm. Bị thất trận, bị đô hộ, bị thống trị, người Việt Nam thấy rằng về mặt kỹ thuật, không thể nào bì kịp người phương Tây. Lúc chúng tôi còn nhỏ, chúng tôi thường nghe người Việt nói : “Nhà tây đẹp hơn nhà mình. Chó tây đẹp hơn chó ta. Bông glaieul đẹp hơn bông huệ. Bơ của tây thơm hơn mỡ chài. Người tây da trắng hơn, mũi cao hơn, đẹp hơn người mình. Người có đạo Thiên Chúa còn thấy rằng người Tây giống Đức Chúa Jésus hơn người Việt. Họ là con ruột của Chúa, mình là con ghẻ… ». Bao nhiêu nhận xét đó đủ làm cho người Việt tự ti mặc cảm đối với người Pháp.

Người bị đô hộ thấy thua người đến cai trị mình về đủ mọi mặt, nhứt là trong lãnh vực vật chất. Từ đó đi đến chỗ tin rằng, nếu kỹ thuật họ cao, thì văn hóa họ cũng cao, chớ không nhớ rằng chỉ cần 25 năm có thể đào tạo một thế hệ kỹ sư, trong khi phải trải qua cả trăm cả ngàn năm mới tạo được một nền văn hóa.

Nước Việt Nam lại trải qua nhiều năm chiến tranh. Người nông dân làm việc đồng áng, trong mùa cấy hay mùa gặt, phải tránh lúc máy bay oanh tạc, im lặng làm việc trong đêm khuya, làm cho mau xong việc, không còn thì giờ rảnh rỗi, tâm hồn không thư thái, làm sao còn có thể cất cao tiếng hát giọng hò, để trao lời đổi ý, có khi trao đá đổi vàng và tạo những câu hò “huê tình” đầy thi vị?

Nguyên nhân thứ nhì là hoàn cảnh xã hội.

Dưới thời Pháp thuộc, người Việt, muốn được trọng vọng trong xã hội, phải ăn mặc Tây phục (Âu phục), phải nói tiếng Tây, phải biết đờn Tây. Nhà ai có đờn piano là thuộc hạng “văn minh, tiến bộ”. Học đờn violon thì rất hãnh diện khi xách đờn đi ngoài đường. Học đờn cò thì xấu hổ, giấu đờn trong bao. Trong trường nhạc thì lớp dạy nhạc Tây rộng rãi, sáng sủa. Thầy dạy nhạc Tây, đã đi Tây về, nói tiếng Tây thông thạo, đến trường bằng xe hơi, lương tháng rất cao. Trong khi thầy dạy nhạc Việt Nam đi bộ đến trường, không biết nói tiếng Tây, không biết giảng lý thuyết theo sách vở, lương lại thấp hơn thầy dạy nhạc Tây rất nhiều. Trong trường dạy nhạc có treo hình của các nhạc sĩ danh tiếng bên phương Tây: Mozart, Beethoven, Chopin, Schubert… Mỗi ngày, học sinh xem các vị ấy như thần tượng, như Phật trong chùa, như Chúa Trời trong nhà thờ, như Thần trong đình. Tự nhiên trong lòng các em học nhạc đều coi nhạc Việt Nam nhẹ hơn nhạc phương Tây.

Nếp sống lại thay đổi rất nhiều, nhứt là ở trong thành thị.

Mẹ sanh con ra, ít khi ôm con vào lòng để ru con ngủ mà chỉ để con nằm trong nôi và mặc cho radio phát to những điệu nhạc hợp với thời trang, nhạc kích động hay nhạc khiêu vũ, miễn sao cho trẻ ngủ là được rồi.

Trong sân trường, ngoài đường phố, không còn nghe tiếng “trẻ em hát, trẻ em chơi”

.Ngoài đồng rộng, trên sông dài, không còn vang tiếng hò đối đáp như xưa

Khi xưa, “công cấy” đi từ làng này sang làng khác, đi trên bờ dọc theo những thửa ruộng sâu đầy nước. Để quên con đường dài thì anh chị em trong đoàn cất cao giọng hò. Ngày nay, khi xe cải tiến chở nông dân đi từ làng này sang làng khác, nghe tiếng máy xe rù rù, người ngồi lắc lư, chen chúc, thì họ chỉ nói chuyện khào mà không thấy hứng để cất lên những “tiếng quan yêu dân chuộng”, để xưng mình là “người dạo kiểng lê viên” và gặp “gái thuyền quyên thì rủ nhau hò”.

Trên đồi Lim, trên sông Cầu, vắng bóng trai thanh gái lịch. Còn ai hát cò lả, trống quân, quan họ trữ tình, hay hát mời hát hỏi như thuở xa xưa?

Không còn tiếng phách Ca Trù giòn giã để phụ họa theo những câu hát Mưỡu, hát Nói hay tiếng đờn Đáy đưa hơi tiếp giọng cho các đào nương, hát ở “cửa đình”, hát thi hát hội, hay hát trong những tiệc cưới, tiệc khao.

Vỉa hè không còn vang tiếng trống đế của các phường chèo. Rạp hát bóng thu hút bớt khán giả của hát tuồng, hát bội.

Nếp sống mới đã lần lần đẩy lùi ca, nhạc, sân khấu truyền thống vào quên lãng.

Ở thành thị nhiều người thích nghe radio, hoặc xem truyền hình hơn đi xem hát. Sau này còn thêm video, làm cho các bộ môn nghệ thuật sân khấu gặp nhiều khó khăn!

Nguyên nhân thứ ba là điều kiện kinh tế.

Đến đài phát thanh đờn nhạc Việt Nam lãnh thù lao chỉ được một, đờn nhạc Tây lãnh thù lao gấp hai gấp ba.

Học nhạc Tây dễ tìm việc hơn học nhạc Việt Nam truyền thống.

Biết chơi đờn lục huyền cầm, còn đờn ở nhạc hội, ở phòng trà, ở các buổi hội họp.

Biết chơi đờn dân tộc chỉ đờn chơi, giải trí, chớ không thể dùng nhạc truyền thống làm kế sinh nhai.

Âm nhạc không còn là một nghệ thuật để chúng ta phụng sự mà đã biến thành một món hàng để người ta mua bán. Quảng cáo rầm rộ và giới thiệu những loại nhạc “ăn khách”, hấp dẫn, kích động, ngang qua truyền thanh truyền hình trong những giờ gần hay sau bữa cơm chiều, trong khi âm nhạc dân tộc chỉ phát thanh, phát hình vào lúc khuya, lúc ít người xem, người nghe.

Trên thị trường thương mãi, tràn ngập dĩa hát, chương trình phát thanh, video truyền hình, phim điện ảnh do các nước tiên tiến về mặt kỹ thuật tung ra, bán khắp nơi, nhứt là trong các nước “chậm tiến”.

Nguyên nhân thứ tư là “bịnh làm biếng

”Người nông dân lao động ngày nay, không còn có can đảm đi “ngủ bọn” để học những bài hát “lề lối” của truyền thống quan họ như ngày trước, không muốn mất thì giờ học cách “buông hơi, bắt hơi” để hò đối đáp, chỉ thích nghe người khác hát, hơn tự mình hát.

Học đờn, học hát theo truyền thống, đòi hỏi nhiều thì giờ, lắm công phu luyện tập. Muốn hiểu được nghệ thuật Chèo, Tuồng, muốn thưởng thức tiếng phách Ca Trù, muốn biết được hơi Bắc, hơi Nam trong ca nhạc Huế, hay ca cải lương, tài tử, không phải một ngày một buổi mà được “nhập điệu”. Học khảy đờn lục huyền cầm thì chỉ thuộc một số nhỏ hợp âm đã đủ sức đờn đệm cho người hát tân nhạc. Một số bài bản mới của Việt Nam hay của nước ngoài, toàn là những điệu dễ nghe, dễ nhớ, mà cũng dễ quên, chỉ làm cho mình êm tai mà khỏi cần suy nghĩ. Những ai hơi làm biếng một chút thì nhứt định sợ các loại nhạc truyền thống mà chạy theo các lối nhạc thời trang.

Vì những lý do trên, thanh niên càng ngày càng đi xa âm nhạc, kịch nghệ dân tộc và trước sự tấn công ồ ạt của các loại nhạc kích động – thường được gọi là “nhạc trẻ” – thanh niên đã ít biết hát dân ca, nay lại say nhạc Jazz, nhạc Pop.

Không biết, không học đờn tranh, đờn bầu, mà thích sử dụng đờn guitar và organ điện. Không thích nghe nhạc Việt Nam, mà thích gật gù hay quay cuồng với nhạc Bắc Mỹ, Nam Mỹ, nhạc Âu Châu hoặc nhạc Hồng Kông, Đài Loan, tức là đã bị bệnh “tự ti mặc cảm” lậm sâu vào huyết quản, bịnh “vọng ngoại” thấm nhập cả tim gan rồi.

Bịnh đó rất trầm trọng, có thể vào trạng thái “kinh niên”, không phải chỉ một vài liều thuốc “trị chứng” mà có thể đánh lùi con bịnh, đem lại sức khỏe cho thanh niên Việt Nam đâu.

Có người nghĩ rằng nếu thanh niên quên vốn cổ, thì “bắt buộc” thanh niên học vốn cổ. Thanh niên mê nhạc nước ngoài thì “cấm” thanh niên biểu diễn nhạc nước ngoài. Đó là muốn “trị chứng” đấy. Nhưng làm sao có thể “ép buộc” người ta làm một việc mà người ta không thích thú, hay không thấy cần thiết phải làm? Và không có phương thuốc nào dở hơn là phương thuốc “cấm”. Cấm tức là xúi giục người ta làm những việc “bị cấm”, cho những “hàng bị cấm” càng thêm sức hấp dẫn của “trái cấm”.

Chúng ta đã thấy rõ rằng thanh niên không thích nhạc truyền thống, vì những hoàn cảnh lịch sử, xã hội, những điều kiện vật chất kinh tế, đã làm cho thanh niên đi xa và không còn hiểu rõ được truyền thống dân tộc, không hiểu mới sinh ra “tự ti”, vì tự ti mới sinh ra vọng ngoại. Thì trị căn, tức là làm sao đánh tan mặc cảm tự ti, bằng cách tiêm vào trong tâm hồn thanh niên niềm “ tự hào dân tộc”

.Muốn có “tự hào dân tộc”, phải nhận thức được giá trị của nhạc dân tộc, phải quen thuộc với nó, phải thấy mình gắn bó mật thiết với nhạc dân tộc. Muốn được vậy, phải thay đổi cách sống, thay đổi thái độ của chúng ta đối với âm nhạc, kịch nghệ dân tộc, phải tìm hiểu nghệ thuật truyền thống, phải nghiêm túc thi hành những biện pháp chúng tôi sẽ nêu ra một cách toàn diện và đồng bộ.

Bắt đầu là tạo điều kiện cho tiếng hát ru sống lại.

Cùng một lúc với dòng sữa nóng của người mẹ truyền sang cơ thể của em bé, có một điệu hát ru rót vào tiềm thức của em. Đó là bài giáo dục âm nhạc đầu tiên, là một nét nhạc dân gian gắn liền với tình con thương mẹ. Em bé lớn lên, trong tiềm thức của em cũng như trong bộ nhớ của một máy tính điện tử đã có sẵn những nét nhạc dân tộc. Em yêu mẹ, em sẽ yêu những nét nhạc đã gắn liền với cánh tay ấm, với dòng sữa ngọt của mẹ lúc em còn nằm trong nôi.

Khi em đến tuổi biết chạy chơi, thì dạy cho em hát những bài hát dân gian phù hợp với tâm hồn trẻ em, như mấy bài “Nu na nu nống”, “Chi chi chành chành”, “Con công hay múa” hay những bài hát sáng tác cho trẻ em, mà đậm màu sắc dân tộc. Cho các em làm quen với trống da ếch, với kèn lá chuối, với ống đu đủ, với phách tre. Dạy cho các em biết xướng âm tiếng Việt Hò, Xự, Xang, Xê, Cống trước khi học Do, Re, Mi, Fa, Sol cũng như dạy cho các em biết nói tiếng Việt trước khi học ngoại ngữ. Cho các em nghe tiếng nhạc cụ dân tộc, làm quen với những điệu múa dân gian trước khi cho các em tiếp xúc với ca vũ nhạc nước ngoài.

Trên đồng áng, trên sông rạch, khuyến khích nông dân vừa làm việc vừa hò đối đáp, tặng giải cho những người hò tốt giọng, ứng đối nhanh, sáng tạo những câu hò phù hợp với nếp sống mới. Vừa hát đối đáp, vừa làm việc, năng suất sẽ cao hơn. Ít nhất cũng cho nông dân nghe những lối hát dân gian, dân tộc truyền thống có liên quan đến công việc làm. Trong giờ nghỉ giải lao, cho nghe băng ghi âm những câu hò điệu hát xưa còn lại, hoặc do các danh ca trẻ tuổi biểu diễn

Ủng hộ, nâng đỡ, khuyến khích các loại hình nghệ thuật sân khấu dân tộc, những đoàn ca múa nhạc dân tộc để cho nghệ thuật dân tộc đừng mai một, để cho khán giả không bị nghệ thuật sân khấu nước ngoài hay điện ảnh đẩy lùi vào bóng tối

Trong các trường mẫu giáo, tiểu học, trung học và cả đại học, nên có chương trình giáo dục âm nhạc. Học sinh không cần biết trong chi tiết, nhưng ít nhất cũng biết qua các loại đối ca nam nữ, Quan họ, Trống quân, Cò lả, Hát xoan, Hát ghẹo là gì? Hát chèo khác hơn hát Tuồng, hát Bội thế nào? Tại sao lại gọi tuồng Thầy, tuồng Pho, tuồng Đồ…

Trong các trường tiểu học, trung học của nhiều nước trên thế giới đều có giờ giáo dục âm nhạc. Dưới thời thuộc địa, học sinh trung học Việt Nam lại phải biết các ông Molière, Racine, Corneille là ai, phải học thuộc lòng nhiều đoạn tuồng của các ông đã viết từ thế kỷ thứ XVII. Vậy mà học sinh Việt Nam, mấy cậu, mấy cô biết được các cụ Đào Tấn, Nguyễn Hiển Dĩnh là ai? Và thuộc được mấy câu trong vở tuồng Thầy San Hậu? Không biết, làm sao hiểu? Không hiểu, làm sao nhận thức được giá trị nghệ thuật của kịch nghệ truyền thống Việt Nam?

Báo chí và các phương tiện truyền thông nên làm tròn phận sự thông tin đầy đủ về âm nhạc, kịch nghệ truyền thống. Nên nghĩ đến việc giáo dục thẩm mỹ cho độc giả hay thính giả. Cần có những bài báo, bài nói chuyện, có giải thích trên đài phát thanh, đài truyền hình về giá trị nghệ thuật của ca, vũ, nhạc dân tộc Việt Nam nhiều hơn trước và phát thanh, phát hình vào những giờ thuận tiện cho khán thính giả theo dõi chương trình.

Cần có những lớp đào tạo giáo viên thông hiểu đại cương về âm nhạc, kịch nghệ Việt Nam để dạy chương trình phổ thông về các bộ môn nghệ thuật ấy.

Cần có thêm nhiều nhà sưu tầm, nghiên cứu âm nhạc và kịch nghệ dân tộc để nêu lên những đặc điểm, những nét độc đáo trong âm nhạc, kịch nghệ Việt Nam, in thành sách, báo, tạp chí có tánh cách phổ thông cho quảng đại quần chúng.

Cần có những cuộc thi về nhạc cụ dân tộc, giọng ca dân tộc, kịch nghệ dân tộc để khuyến khích và phát hiện tài năng của các nghệ sĩ trong giới trẻ.Cần phải tôn trọng và ưu đãi những nghệ sĩ truyền thống. Như ở Nhựt Bổn và Hàn Quốc, người nghệ nhân có công giữ gìn và phổ biến âm nhạc, kịch nghệ dân tộc được phong chức “Quốc gia chi bửu”. Ở Ấn Độ, danh hiệu “Padma Shri” cũng dành cho các bậc nhạc sư đã lâu năm chầy tháng truyền dạy hoặc biểu diễn âm nhạc truyền thống Ấn Độ. Có tôn trọng người Thầy trong truyền thống thì tuổi trẻ mới không coi thường những vị đã suốt đời tận tụy với nghệ thuật cổ truyền.

Tất cả những điều tôi nêu trên là những “vị thuốc” tối cần để trị tận căn chứng bệnh “tự ti mặc cảm” và bồi bổ cho “tính tự hào dân tộc”. Vị thuốc nào cũng có công dụng của nó. Không thể bỏ bớt vài vị vì lý do này hay lý do khác.

Nếu các biện pháp ấy được thực hiện đồng bộ và ngay từ bây giờ thì trong vài ba năm nữa, chúng ta có thể thấy được kết quả tốt, tức là sẽ có nhiều người tự hào với vốn dân tộc, thương yêu, bảo tồn, truyền bá âm nhạc và kịch nghệ dân tộc, sẽ không còn cảnh nghệ thuật truyền thống bị đẩy lùi trong bóng tối và chìm trong quên lãng. Sẽ có nhiều thanh niên thiếu nữ trở về nguồn, vì có ý thức giữ bản sắc dân tộc, có ngọn lửa thiêng nhen nhúm trong lòng các bạn ấy, chớ không phải vì một “phong trào”, một “chánh sách”, một “biện pháp” nào lôi cuốn thanh niên trở về nguồn mà thanh niên sẽ tự nguyện trở về nguồn. Như thế dân tộc Việt Nam sẽ đủ sức chống lại bất cứ sự “tấn công văn hóa” nào và truyền thống âm nhạc, kịch nghệ dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ bị tiêu diệt. Mong thay! Mong thay!

GS TRẦN VĂN KHÊ :CHUNG QUANH PHONG TRÀO « VỀ NGUỒN » VÀ CHỨNG BỊNH CỦA THỜI ĐẠI(Phần 1)

· CHUNG QUANH PHONG TRÀO « VỀ NGUỒN » VÀ CHỨNG BỊNH CỦA THỜI ĐẠI(Phần 1)

– GS. Trần Văn Khê

-Mấy năm nay, tôi về nước thường hơn và các báo lại có dịp phỏng vấn tôi về những vấn đề văn nghệ. Đặc biệt, tôi nhiều lần được nghe câu hỏi:

“Giáo sư có thể cho chúng tôi biết ý kiến của Giáo sư đối với phong trào “Về nguồn” trong lĩnh vực Âm nhạc chăng?”

Tôi cười và trả lời: “Từ hơn 40 năm nay, tôi đã về nguồn rồi”.

Trong cuộc phỏng vấn tôi không có thì giờ nói rõ đầu đuôi. Hôm nay, tôi xin dẫn các bạn “Về nguồn” của tôi

Xuất thân trong một gia đình bốn đời Nhạc sĩ truyền thống:

Ông cố tôi, Trần Quang Thọ, nhạc sĩ triều đình Huế vào Nam lập gia đình.

Người con trai thứ tư, cụ Trần Quang Diệm, nối nghiệp nhà và nổi tiếng danh cầm Tỳ bà. Ông nội tôi, ông Năm Diệm có 6 người con (theo truyền thống miền Nam, con trai đầu lòng gọi thứ hai vì anh cả là người cha. Cho nên ông nội tôi, con trai thứ tư mà mang tên là Năm Diệm). Chỉ có người cô thứ ba của tôi, cô Ba Viện là đờn Tranh rất hay và cha tôi, ông Trần Quang Triều (ông Bảy Triều) thiện nghệ đờn Kìm (Nguyệt cầm) và đờn Độc huyền. Đặc biệt, cha tôi đã chế ra cách lên dây đờn Kìm mang tên là dây “Tố Lan”, để đờn bài “Tứ đại oán”, “Văn Thiên Tường” mà ngày nay các nhạc sư nhạc tài tử miền Nam còn nhắc nhở.

Từ năm 6 tuổi, tôi đã biết chơi đờn Kìm và đờn Cò (đờn Nhị), 12 tuổi đờn Tranh và 14 tuổi học đánh Trống nhạc lễ, Trống hát bội với cậu Năm tôi là ông Nguyễn Tri Khương. Cố ngoại tôi là danh tướng Nguyễn Tri Phương, ông ngoại tôi là ông Nguyễn Tri Túc, nuôi nhạc sĩ, nhạc công trong nhà để cho hai người con là cậu tư và cậu năm tôi (ông Nguyễn Tri Lạc và Nguyễn Tri Khương) có điều kiện học đờn. Cậu Năm tôi có biệt tài thổi Sáo, đờn Cò, đánh Trống nhạc. Tôi được cậu Năm tôi dạy đánh trống nhạc lễ và hát bội. Được lớn lên trong một gia đình hai bên nội ngoại đều là nhạc sĩ truyền thống, hằng năm, ngày mùng 2 tết là ngày cả gia đình hòa đờn. Và trong năm, mỗi khi có đám hỏi, đám cưới, hay đến ngày giỗ kỵ, hoặc những đêm trăng sáng, thì luôn có hòa đờn trong gia đình.

Nguồn của tôi ở tại hai làng Vĩnh Kim và Đông Hòa, thuộc vùng Sầm Giang, một con sông chảy từ làng tôi ra đến Rạch Gầm. Nhưng khi lớn lên đi học trường Trung học Trương Vĩnh Ký, tôi đã đi xa nguồn, tôi đã tìm cách “phối khí” để giới thiệu những bài truyền thống nhỏ như Bình Bán, Kim Tiền bằng dàn nhạc, trong đó có đờn Cò, đờn Kìm, nhưng cũng có Mandoline, Tây ban cầm… Học trường Y tại Hà Nội, tôi lại xa nguồn hơn, tôi chỉ huy dàn nhạc sinh viên để giới thiệu những sáng tác mới của Lưu Hữu Phước như “Tiếng gọi thanh niên”, “Bạch Đằng Giang”, “Ải Chi Lăng”, “Người xưa đâu tá”… Tôi lại còn đi xa nguồn hơn nữa khi chỉ huy dàn nhạc sinh viên tấu những bản nhạc Tây phương như “Moment musical” của Schubert, “Marche turque” (Hành khúc Thổ Nhĩ kỳ) của Mozart.

Lúc đó tôi nghĩ rằng nhạc phương Tây tiến bộ hơn nhạc Việt Nam và muốn phát triển nhạc truyền thống Việt Nam, phải cần đến nhạc Tây phương. Đó là một suy nghĩ sai lầm của tôi trong thời niên thiếu.

Năm 1952, lúc đang dưỡng bịnh tại miền Nam nước Pháp, sau khi thấy mình đã đi sai đường và phản bội lại nhạc truyền thống, tôi quyết định trở về nguồn. Tôi không đờn piano nữa, tôi luyện tập lại đờn Tranh, đờn Cò và viết thơ thường xuyên cho cậu Năm tôi là ông Nguyễn Tri Khương để hiểu biết thêm về nhạc tài tử miền Nam, về ông Ký Quờn, về hát Cải lương… Rồi tôi soạn Luận án Tấn sĩ Nhạc học với đề tài “Âm nhạc truyền thống Việt Nam”. Tôi tặng cho con gái của anh bạn tôi, họa sĩ Mai Thứ, cây đờn piano mà tôi đã mua được giá rẻ trong một cuộc bán đấu giá và tôi đã tự tay lên dây đờn, để có thể tập trung vào nhạc truyền thống.

“Về nguồn” một cách triệt để!

“Về nguồn” một cách trọn vẹn!

Bảo vệ Luận án Tấn sĩ xong năm 1958, tôi tham dự Hội nghị quốc tế Âm nhạc mùa Thu năm 1958 tại trụ sở Cơ quan văn hóa Liên hiệp quốc (Unesco). Trong buổi hòa nhạc có Yehudi Menuhin, danh cầm violon; Ravi Shankar đờn sitar Ấn Độ, Shinichi Yuize đờn Koto Nhựt, Ebadi đàn setar Ba Tư, Hussein Malek đàn santour Ba Tư và tôi đờn Tranh, đờn Cò Việt Nam. Từ ấy, tôi làm việc mật thiết với Hội đồng quốc tế Âm nhạc (thuộc Unesco) và năm 1960 tôi được cử vào ban chấp hành của Hội đồng quốc tế, được chấp nhận làm Tùy viên nghiên cứu Âm nhạc tại Trung tâm Quốc gia nghiên cứu Khoa học Pháp, với đề tài nghiên cứu “Nhạc dân tộc Việt Nam”. Được cử làm Giám đốc Trung tâm nhạc học Đông phương (thuộc Viện nhạc học Paris) tôi mở lớp dạy đờn Tranh, đờn Kìm cho sinh viên Paris.

Từ ấy đến nay, tôi đã được 42 nước mời tôi thuyết trình hay biểu diễn nhạc truyền thống Việt Nam tại các trường đại học hay trong nhạc hội; dự 187 Hội nghị quốc tế về Âm nhạc và đã hơn trăm lần nói chuyện, giải thích hay biểu diễn nhạc truyền thống Việt Nam; đã viết và đăng gần 200 bài trong các tạp chí chuyên môn, trong đó có hơn 70 bài về nhạc truyền thống Việt Nam; đã chụp ảnh, ghi âm các loại nhạc Việt Nam; hoặc tự biểu diễn với Nhạc sư Vĩnh Bảo, hay với các con của tôi; viết bài giới thiệu cho 14 dĩa hát. Hiện giờ tôi vẫn tiếp tục “đi giảng đạo Nhạc Việt Nam” khắp năm châu bốn biển, vậy thì tôi đã “về nguồn” liên tục trong hơn 40 năm trời.

Ngoài ra, từ 1961, tôi đã viết bài đăng trong tạp chí Bách Khoa số 99, xuất bản ngày 15 tháng 02 năm 1961, trang 67-71, tựa là “Để khơi mạch sống cho cổ nhạc Việt” và khơi mạch sống là phải về nguồn. Cũng trong năm đó, tôi dự Hội nghị Quốc tế với đề tài “Bảo vệ và phát triển nhạc truyền thống”. Tôi đã gặp nơi đó nhiều người cùng quan điểm với tôi, tức là phải trở về nguồn, như: Giáo sư Salah el Mahdi (người Tunisie), Giáo sư Alain Daniélou (người Pháp), Giáo sư Mehdi Barkeshli (người Ba Tư), Giáo sư Kishibe Shigeo (người Nhựt Bổn). Chúng tôi kêu gọi nhạc sĩ Châu Á nên trở về nguồn, để tìm hiểu, học hỏi cái hay trong nhạc truyền thống.

Giáo sư Kishibe trong phần kết luận đã nói một câu đầy ý nghĩa mà tôi thường nhắc lại: “Chúng tôi, người Nhựt Bổn, từ một trăm năm nay đã trèo lên các đỉnh núi âm nhạc phương Tây. Chúng tôi đã lên đến tận đỉnh các núi ấy, núi mang tên Mozart, Beethoven, Schuber… Đứng trên đỉnh núi ấy, chúng tôi thấy ở chân trời, có những đỉnh núi khác cũng cao, cũng đẹp như các ngọn núi mà chúng tôi đang đứng: Đó là núi Âm nhạc truyền thống của Nhựt Bổn. Xin các bạn trẻ Châu Á, Châu Phi đừng mất một trăm năm như chúng tôi, mới thấy được cái hay cái đẹp trong truyền thống âm nhạc của ước các bạn”.

Trong những bài tham luận của tôi tại các Hội nghị Quốc tế hay những bài viết đăng trong các tạp chí chuyên môn, tôi đã rất thường kêu gọi nhạc sĩ Á, Phi hãy trở về nguồn, không phải tìm học vốn cổ để “nệ cổ” mà “ôn cố tri tân”, học cái thời xưa để làm chuyện thời nay. “Về nguồn” để biết mình từ đâu tới và định hướng mình sẽ đi đâu.

Đã dấn thân và kêu gọi về nguồn từ 40 năm rồi, nay thấy được trên đất nước mình phong trào “Về nguồn” được các cơ quan có thẩm quyền, báo chí cổ động, khuyến khích, được thanh niên hoan nghinh, ứng dụng trong những buổi hòa nhạc ở nhiều nơi công cộng, lẽ tất nhiên phản ứng đầu tiên của tôi là vui mừng.——————-

Cuộc phỏng vấn còn tiếp tục với những câu hỏi khác. Chẳng hạn:

– So với mấy lần trước, lần này về nước Giáo sư thấy chi mới lạ do phong trào “Về nguồn” phát động?

– Cũng có nhiều hiện tượng lắm. Từ hình thức tới nội dung, đó là:Chiếc áo dài thướt tha của thiếu nữ Việt Nam đã xuất hiện lại nhiều nơi: trong các trường trung học, trong những buổi chiêu đãi, trên sân khấu ca nhạc. Cả khăn đóng áo dài mà cách đây không lâu, có người cho là “cổ lỗ sĩ”, là “phong kiến”, là “lạc hậu”, là “tiểu tư sản”… thì ngày nay, trong những đám cưới, đám ma, trong những lễ tế thần, những lễ hội ở chùa ở đình, tôi thấy áo thụng xanh, đỏ, áo the, áo gấm đậm màu sắc dân tộc, rõ nét trang nghiêm. Không phải chỉ người già cả, tuổi tác mới khăn áo chỉnh tề, mà các em thiếu nhi trong ban “Tiếng Hát Quê Hương”, trong các đội văn nghệ ở phường, ở quận… cũng áo dài hồng, áo dài vàng, áo dài xanh da trời, mấy cháu trai lên tám, lên mười cũng mặc áo gấm xanh, áo gấm hoa trong khi trình diễn Âm nhạc dân tộc. Trông mấy cháu rất xinh, rất đẹp. Người nước ngoài có dịp xem những chương trình ấy đều trầm trồ khen ngợi hình thức lẫn nội dung.

“Đền Dâu” ở Hà Nội được trùng tu, ca nhạc múa Chầu Văn được thịnh hành, chẳng những ở các nơi có “lên đồng, lên bóng”, mà còn được nghiên cứu có thực tập tại Viện nghiên cứu văn học nghệ thuật dân gian.

Ca Trù không còn bị chỉ trích hay cấm đoán mà trong những buổi lễ cưới hay ngày giỗ kỵ, có những canh hát Ca Trù. Không phải “ả đào” đứng tuổi, mà ở Hà Nội có mấy cô trẻ tuổi mà cũng biết ngâm Sa mạc, Bồng mạc, Hát mưỡu, Hát nói, hay Thỏng tỳ bà.

Trong Nam, tôi dự lễ “Kỳ Yên” tại Đình Nhơn Hòa ở Cầu Ông Lãnh. Anh Đỗ Văn Rỡ làm chánh tế, có lễ thỉnh sắc thần, lễ xây chầu, lễ đại hội, lễ đàn cả, lễ tiền hiền, lễ rước nước, lễ vía Ngũ vị nữ nương có Bóng rỗi, chầu mời, đến lễ tất. Có học trò lễ, có đào thài, có nhạc lễ ngũ âm, trống văn, trống võ, kèn trung, chập bạt, có mõ, có bồng, có múa mâm vàng, có hát bội, mỗi đêm diễn lại tuồng xưa: “Ngũ long đại hội”, “Lưu Bị cầu hôn Giang Tả”, “Triệu Tử đoạt ấu chúa”, “San hậu”… Có cả hai buổi giới thiệu chương trình văn nghệ ca nhạc truyền thống. Nhà văn hóa Quận 1 đã có nhóm “Ca nhạc dân tộc Về nguồn” giới thiệu ca nhạc dân tộc.

Trước kia chỉ có những “tụ điểm” tân nhạc, lần này tôi được thưởng thức mấy chương trình ca nhạc dân tộc tại “Bách Tùng Diệp”, một quán cà phê đối diện với nhà Bảo tàng Cách mạng ngày nay, cách đây không lâu là nơi hò hẹn những cậu, cô “xì ke ma túy”, mà nay là một quán cà phê trang nhã, lấy cây đa to làm tấm phông, sân khấu lộ thiên, âm thanh trang bị tối tân, mỗi đêm có một chương trình đặc biệt như tối thứ ba có cổ nhạc và ngâm thơ. Đêm tôi đến nghe có ca nhạc Huế và hai nhà thơ Tô Kiều Ngân và Vân Khanh giới thiệu chương trình. Có những nghệ sĩ ngâm thơ chuyên nghiệp như Hồng Vân, Thúy Vinh, Huyền Trân. Đặc biệt, Huyền Trân vừa là nghệ sĩ ngâm thơ, vừa là nhiếp ảnh gia, duyên dáng và tha thướt trong chiếc áo dài hoa, khách nước ngoài được người đẹp chụp ảnh rất thú vị và tấm ảnh dù mắc hơn thường cũng đáng tiền. Nhưng thật ra, cà phê đen, cà phê sữa đá không mắc hơn bên ngoài bao nhiêu, chắc chắn rẻ hơn “cà phê ôm”. Người mộ điệu đã được nếm cà phê ngon, nghe nhạc dân tộc, lại ở giữa trời có lắm đêm được trăng thanh gió mát. Đêm thứ tư, nhạc dân tộc với những nghệ sĩ Đinh Thìn (thổi sáo), Đỗ Lộc (đánh đờn T’rưng), đờn angklung. Đêm thứ sáu dân ca ba miền. Ngoài Hồng Vân, còn có những nghệ sĩ nổi tiếng trong làng tân nhạc như Bảo Yến nay cũng quay về với nhạc dân tộc. Có những đêm giới thiệu nhạc tiền chiến…

Có nhiều cuộc thi cho thiếu nhi, cho nhạc dân tộc, cho ca múa nhạc mà ca nhạc dân tộc thường chiếm được huy chương vàng.

Có giải Trần Hữu Trang cho các mầm non của giới cải lương. Năm nay được giải có kép trẻ Vũ Linh, Ngọc Huyền (có sang Pháp biểu diễn xuất sắc trong vở tuồng “Mạnh Lệ Quân”), Thanh Thanh Tâm (con của Thanh Thanh Hoa), Tài Linh (em của Tài Lương)…

Có giải Hoàng Mai Lưu tặng thưởng những nhạc sĩ sáng tác, biểu diễn, hay các nhà nghiên cứu nhạc dân tộc, những nhà đào tạo nghệ sĩ dân tộc.Thật ra chưa có lúc nào Âm nhạc dân tộc truyền thống được biểu diễn rầm rộ như năm nay!——————–

Thưa Giáo sư, áo dài của phụ nữ thì quả là rất đẹp và phù hợp với con người Việt Nam. Nhưng khăn đóng áo dài cho nam giới có cần phải khôi phục lại và có cần phải mặc khăn đóng áo dài mới biểu diễn nhạc dân tộc hay hơn?

– Chẳng biết các bạn thanh niên Việt Nam trong nước nghĩ thế nào chớ tôi thì khỏi “khôi phục” lại khăn đóng áo dài.

Năm 1958, tại trụ sở Unesco, khi giới thiệu nhạc Việt Nam tôi đã mặc áo dài. Rất may cho tôi, chớ không thì khi ông Yuize Shinichi Nhựt Bổn mặc Kimono, khi Ravi Shankar mặc lễ phục Ấn Độ, mà tôi mặc âu phục, thì hóa ra Việt Nam mất bản sắc dân tộc, vì là dân thuộc địa nên bỏ cả quốc phục của mình để mặc y phục của người dân thống trị mình, thì chắc tôi rất xấu hổ hôm ấy. Có người cho là “phong kiến”, tôi đã cười mà trả lời: Phong kiến hay không là trong tư tưởng, hành động của mình, phong kiến hay không là trong đầu của mình, chớ cái khăn đóng chiếc áo dài có phong kiến chỗ nào đâu? Vả lại, nghệ thuật thường phải được giới thiệu một cách toàn diện. Khi uống chén trà ngon, tại sao lại phải dùng chén nhỏ như hột mít, uống rượu “champagne” phải có một thứ ly pha lê mà người Pháp gọi là “coupe de champagne”? Rượu champagne tự nó đã ngon rồi, nhưng thử uống rượu champagne bằng một cái ly giấy bồi, hay một chén hột dưa, liệu có ngon bằng uống với một cái “coupe” đúng điệu hay chăng? Nội dung và hình thức phải được đi đôi với nhau khi muốn giới thiệu nghệ thuật một cách toàn diện. Vì vậy, mặc dầu đã bị những người tự cho mình là “tiến bộ”, có khi cả những bạn rất thân chỉ trích, phê bình, nhạo báng vì tôi đã nhứt định mặc áo dài Việt Nam khi hòa nhạc Việt Nam cho người Việt hay người ngoại quốc nghe, tôi không hề nao núng. Và hôm nay, tôi rất vui là thấy mình có lý và mình đã đi trước phong trào về nguồn đến 40 năm!——————–

Giáo sư nghĩ sao về việc lễ bái, cúng đình, xin xăm bói toán? Có phải như vậy là “về nguồn” một cách đúng đắn không?

– Tôi xin trả lời về việc lễ bái, cúng đình trước.

Cúng đình không phải là vì “mê tín dị đoan”. Cúng đình là nhớ lại công ơn của người trước, vì thần thánh hoàn toàn là những ông quan có công, có tài, có đức mới được phong Thành Hoàng. Trong đình Nhơn Hòa có thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo là người có công đánh đuổi quân Mông Cổ xâm lược, nêu cao tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam. Nhớ lại người xưa đã có công dựng nước, cứu nước là đúng với đạo lý con người biết ân, biết nghĩa.

Lễ bái là một hình thức văn hóa, là thái độ trang nghiêm để tỏ lòng kính cẩn, mến phục tiền bối, là một bằng chứng của nếp sống văn hóa của người Việt.

Cúng đình lại là một dịp cho người trong một xóm, một vùng gặp gỡ nhau, và trong mấy hôm được ra khỏi cái bận rộn hay quay cuồng của cuộc sống, để ngồi yên, trầm tư hoặc tưởng niệm công đức người xưa, đó là một hình thức “thiền” hay “thư giãn” phù hợp với vệ sinh trong cuộc sống. Người Hồi giáo trong một năm dành đến một tháng “Ramadan” ăn chay, đọc kinh, tưởng niệm Giáo chủ. Ta chỉ có ba ngày, mà mỗi ngày tùy theo công việc, có ít giờ đồng hồ “thư giãn” như thế, theo ý tôi rất tốt cho cơ thể và tâm hồn của chúng ta. Huống chi có cúng đình là nhạc Lễ sẽ sống lại, vì không có nhạc không thành Lễ.

Nhạc Lễ là một bộ môn âm nhạc rất tinh vi về tiết tấu. Cách đây 12 năm, tôi đã gặp anh Tám Phát tại rạp hát bội Long Phụng. Anh nói chuyện cho tôi nghe về cách “vỗ trống cơm”, “vỗ bồng”, tôi thấy anh rất sành nhạc lễ, tôi hỏi tại sao anh không hành nghề nhạc lễ hoặc truyền nghề nhạc cho con em, lại đi theo gánh hát bội, thì anh trả lời rằng theo nhạc lễ sẽ chết đói. Nhưng năm nay, tôi gặp anh tươi cười, chít khăn đóng, mặc áo gấm xanh, thủ cặp trống Văn, trống Võ, thổi kèn trung trong một dàn nhạc ngũ âm hùng hậu, tôi có mấy lời chúc mừng nhạc lễ được hồi sinh. Anh vui vẻ trả lời: “Nhờ có cúng đình, và trong hai năm nay nhiều đám tang rước nhạc lễ nên tôi cũng dễ thở”. Anh đã dạy cho con trai anh, cậu Dũng, năm nay hơn hai mươi tuổi nối nghiệp cha, tuy tuổi trẻ mà đã dòn roi trống, đã khỏe hơi kèn rồi.

Về việc xin xăm, bói tướng thì tôi mặc dù không tin vào việc coi bói, nhưng tôi không chỉ trích việc xem bói. Nếu xã hội được tổ chức hoàn mỹ, mọi người dư ăn dư để, chắc không ai xem bói, xin xăm làm gì. Khi không tìm được lối thoát trong cuộc sống đầy khó khăn, thì người ta mới nghĩ đến việc tìm một chút an ủi, một tia hy vọng trong tương lai vô định, ngang qua sự hỗ trợ vô hình của thần thánh.——————–

Trong lãnh vực âm nhạc, Giáo sư có ý kiến chi đối với phong trào “Về nguồn”?

– Có nhiều biểu hiện đáng mừng, như số buổi biểu diễn nhạc dân tộc được nhiều hơn. Số người đi nghe nhạc truyền thống cũng đông hơn. Anh Lư Nhất Vũ cho tôi biết rằng số băng cassette ghi âm dân ca cổ nhạc được bán ra trong năm rồi lên đến con số 60 ngàn, trong khi nhạc Trịnh Công Sơn trước kia bán rất chạy mà chỉ được 10 ngàn băng nhạc. Thành đoàn năm nay cho Lư Nhất Vũ và Lê Giang phần thưởng 5 triệu đồng về công trình sưu tầm âm nhạc dân tộc miền Nam

.Nhưng tôi cũng lo ngại và không muốn nghĩ rằng phong trào “Về nguồn” là một “thời trang”, vì thời trang đến và thời trang sẽ đi khi không còn hợp thời nữa.

Các cơ quan hữu trách ủng hộ nhiệt tình phong trào “Về nguồn”. Tôi mong rằng đó không phải là một chính sách có tánh chất “giai đoạn”. Lúc này cổ động “Về nguồn”. Trong giai đoạn sau sẽ cổ động việc khác.

Các sinh hoạt dính với “Về nguồn” hiện nay khá rầm rộ. Tôi không muốn thấy phong trào ấy như một ngọn lửa rơm, cháy to, cháy cao, cháy mạnh, nhưng bộc phát mà chóng lụi tàn. Mà tôi mong rằng thái độ đi về nguồn sẽ do một ngọn lửa thiêng tự trong lòng của mỗi người Việt Nam, nung nấu hành động của mình đối với việc giữ gìn và phát triển “bản sắc dân tộc”, vì mình biết tự hào với cái vốn âm nhạc nghệ thuật mà cha ông chúng ta đã lưu truyền lại cho chúng ta.

– Thưa Giáo sư, làm sao để nhen nhúm ngọn lửa thiêng ấy?

– Đó là một vấn đề rất khó giải thích trong đôi câu. Muốn nhen nhúm ngọn lửa thiêng ấy, trước hết phải trị căn bịnh của thời đại. Nếu có thì giờ, tôi sẽ đề cập đến căn bịnh của thời đại, tìm nguyên nhân căn bịnh ấy và những phương thuốc để trị, mà trị căn chớ không trị chứng và như thế mới khả dĩ nhen nhúm trong lòng mọi người một ngọn “lửa thiêng”.

Chia sẻ ấm áp của GS Nguyễn Đăng Hưng, ĐH LiegeBỉ về GS Trần Văn Khê! GS TRẦN VĂN KHÊ LÀ TRÍ THỨC TIÊU BIỂU CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM THỜI HIỆN ĐẠI

c

Chia sẻ ấm áp của GS Nguyễn Đăng Hưng, ĐH Liege Bỉ về GS Trần Văn Khê!

Quỹ học bổng Trần Văn Khê

GS TRẦN VĂN KHÊ LÀ TRÍ THỨC TIÊU BIỂU CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM THỜI HIỆN ĐẠI

Cũng như người bạn tri kỷ của ông nhạc sỹ Phạm Duy, ông đã sống gần một thế kỷ, xuyên qua tất cả những cung bậc thăng trầm của giai đoạn điêu linh biến động nhất của lịch sử Việt Nam.

Ông còn là một nhà khoa học với nhiều công trình nghiên cứu về âm nhạc truyền thống Việt Nam và âm nhạc các dân tộc thế giới.Trong lĩnh vực âm nhạc học, ông là người Việt Nam có tầm cỡ quốc tế vào bậc nhất, đã làm cho thế giới biết đến nét đặc thù của âm nhạc cổ truyền Việt Nam bị lấn át bỡi hai nên văn hoá ăm nhạc nặng ký bên cạnh là nhạc Trung Hoa và nhạc Ấn Độ.

Tiếng nói của ông đã dự phần quan trọng trong việc giới thiệu những di sản văn hoá Việt Nam ra thế giới đặc biệt qua Hội đồng quốc tế âm nhạc thuộc UNESCO mà ông là thành viên.

Đối với tôi, ông còn là một trí thức Việt kiều tiêu biểu, hoạt động không mệt mỏi ở nước ngoài nhưng luôn luôn gắn bó với quê nhà Việt Nam, vươn lên những dị biệt chính trị cục bộ nhất thời, nắm vững những yếu tố vĩnh cữu của những giá trị dân tộc.

Ông còn là một nghệ sỹ bậc thầy sử dụng đàn tranh và nhiều nhạc cụ khác, một nhà hùng biện có thể làm say mê cử toạ trong những buổi thuyết trình về văn hoá Việt Nam, một giọng hát truyền cảm, một giọng nói trầm vang rất đặc biệt.

Tôi biết ông từ rất lâu khi ông còn ở bên Pháp và gặp ông trong những dịp sinh hoạt văn hoá Việt Kiều ở Paris. Nhưng bắt đầu thân thích với ông từ năm 2006 khi ông quyết định hồi hương và cũng năm ấy tôi cũng có hướng đi tương tự.

Đối với tôi, theo tuổi đời, ông là bậc cha chú, nhưng trong giao tiếp với ông rất chân tình cởi mở như một người anh. Ngày ông về sinh sống tại Bình Thạnh, ông thường tổ chức những sinh hoạt âm nhạc, văn hoá nghệ thuật và lần nào ông gửi giấy mời tôi tham dự những buổi hợp mặt này.

Tôi khám phá thêm ở ông một khả năng mới, khả năng truyền lửa cho thế hệ trẻ, khuyên khích họ quan tâm đến ăm nhạc truyền thống.

Lần cuối cùng tôi đến nhà GS Trần Văn Khê tham dự buổi tạo đàm văn hoá là khoản tháng 10 năm ngoái 2014. Sau buổi sinh hoạt, tôi có nhã ý mời GS Trần Văn Khê tham ban cố vấn của Viện Nghiên cứu Văn hóa Biển (IMC), một tổ chức đang được thành lập với sự tham gia của đông đảo chuyên gia, nhân sỹ từ Bắc chí Nam. Tổ chức này đặc biệt quan tâm đến chủ quyền biển đảo của các nước Đông Nam Á đang bị Trung Quốc xâm lấn nghiệm trọng. GS Trần Văn Khê đã xác định trước mặt đông đảo cử toạ là ông đồng ý và sẽ tích cực tham gia. Ông còn ân cần góp ý, hoan nghinh sáng kiến của nhóm sáng lập chúng tôi.

Hình ảnh sự kiện này đã được ghi lại trên YOUTUBE với địa chỉ tham khảo sau đây:https://www.youtube.com/watch?v=JAKNeY5Lbvc&feature=youtu.be

Trái tim của cây đại thụ của học thuật âm nhạc truyền thống Việt Nam, của người trí thức Việt kiều tiêu biểu vừa ngừng đập

.Chúng ta mất đi một người thầy, một người anh, một người bạn.Cái còn lại cho hậu thế sẽ là tấm gương của lòng trân trọng văn hoá dân tộc, của tinh thần lao động nghiêm túc và bên bỉ, của nỗ lực cống hiến vì cộng đồng. Tôi không nghĩ là ông sẽ dừng lại ở đây. Ông đang di chuyển tâm nguyện của mình sang một hướng khác. Chúc Giáo sư Trần văn Khê thượng lộ thanh thản bình yên!Còn sự nghiệp của GS Trần Văn Khê ở cõi đời này sẽ trường tồn qua năm tháng.

Sài Gòn ngày 24/6/2015

GS Nguyễn Đăng Hưng, Giáo sư Danh dự, Đại học Liège, Bỉ

GS.TS. TRẦN VĂN KHÊ : TẢN MẠN VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC – HỎI – HIỂU – HÀNH

Trang chủTin tứcCác vấn đề giáo dục TẢN MẠN VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC – HỎI – HIỂU –…

Bởi nktung – 04/10/2017 3135

TẢN MẠN VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC – HỎI – HIỂU – HÀNH

Khi tôi mới được mời vào cộng tác với trường đại học Bình Dương, Hiệu Trưởng nhà trường – GSTS khoa học Cao Văn Phường có cho tôi biết qua về tôn chỉ và phương pháp đào tạo của trường. Nghe thầy Hiệu Trưởng nói về việc này tôi rất thích vì trường không đặt trọng tâm vào kỹ thuật mà luôn luôn có kèm theo văn hóa. Trong yêu cầu chất lượng đào tạo, luôn luôn đặt trọng vấn đề đạo đức gắn liền với kiến thức. Trong phương pháp đào tạo, thầy Hiệu Trưởng đã đưa ra một phương pháp “Cộng Học” giữa thầy và trò, giữa trò và trò, giữa người học với người xung quanh và với cộng đồng xã hội. Phương pháp cộng học được xây dựng dựa trên 4 chữ H:

“HỌC – HỎI – HIỂU – HÀNH”

“Học” là để biết cách học như thế nào

“Học” là để biết cách “hỏi”

“Hỏi” để “học”

“Hỏi” để hiểu (hiểu bằng cách tập hợp thông tin, xử lý thông tin, khai thác thông tin để giải quyết những vấn đề của cuộc sống đặt ra)

“Hiểu” phải “hiểu” đúng

“Hiểu” đúng thì “hành” mới đúng

“Hành” đúng mới có hiệu quả

“Hành” có hiệu quả mới tạo ra được sản phẩm vật chất hay tinh thần có chất lượng, đảm bảo nhu cầu bản thân, gia đình, cộng đồng, xã hội, mới có điều kiện bảo vệ thiên nhiên

Mọi người vừa có thể là người học mà vừa có thể là người dạy

Phương pháp “Cộng Học” giúp cho các em ngay từ nhỏ được rèn luyện tính tự lập, chủ động, tư duy độc lập, lao động sáng tạo và tạo mối liên kết làm việc tập thể. Đây vừa là triết lý, vừa là mục tiêu, vừa là nội dung, vừa là phương pháp mà Đại học Bình Dương phấn đấu đạt đến.

Các bạn sinh viên trường Đại học Bình Dương vui mừng quay quanh GS.VS Trần Văn Khê để được thầy dạy bảo và xin chữ ký của thầy làm kỷ niệm

Chỉ có năm nay Hiệu Trưởng Cao Văn Phường mới nói rõ ra như thế trong bài tham luận khai mạc cuộc họp Hội đồng Khoa học 2011 của nhà trường. GS Mạc Đường – Chủ nhiệm Viện Châu Á – Thái Bình Dương của trường Đại học sau khi nghe bài tham luận của Hiệu Trưởng đã nêu ý kiến: “Tôi rất tâm đắc và đánh giá cao quan điểm triết lý giáo dục của nhà trường, đó là Học – Hỏi – Hiểu – Hành. Triết lý về quan điểm giáo dục này của trường Bình Dương rất hay, rất lớn, rất đáng để chúng ta tiếp tục nghiên cứu, trao đổi”. Các thành viên Hội đồng Khoa học người nước ngoài cũng đã cùng viết chung và đồng ký tên vào bản ý kiến nhận xét có dịch ra tiếng Việt như sau đây:

“ … Viện sĩ Cao Văn Phường đã đưa ra một chương trình giáo dục quan trọng đối với sự phát triển tiến bộ cho tương lai của Việt Nam. Chương trình này được đặt trên cơ sở triết lý giáo dục Học – Hỏi – Hiểu – Hành. Chúng tôi – với tư cách là các thành viên Hội đồng Khoa học và Đào tạo của trường Đại học Bình Dương hoàn toàn nhứt trí tán thành các nội dung tư tưởng và sáng kiến mà Viện sĩ Cao Văn Phường đưa ra”.

Khi tôi được mời tham luận để góp ý kiến với tư cách một người Cố vấn đặc biệt, tôi cũng có đôi lời tán thành chương trình đổi mới căn bản toàn diện hoạt động đào tạo khoa học công nghệ của Trường Đại học Bình Dương, đặc biệt về chiến lược của trường để thực hiện sự phát triển kinh tế thực tế của đất nước và những phẩm chất đạo đức của con người. Sau đó, tôi cũng xin góp thêm một vài ý kiến về phương pháp Học – Hỏi – Hiểu – Hành. Tôi rất tâm đắc với những điều Viện sĩ Cao Văn Phường và Giáo sư Mạc Đường đã nói về triết lý đó. Tôi chỉ muốn dùng những kinh nghiệm bản thân để nói rõ hơn về cách học, cách hỏi, cách hiểu và cách hành trong cả cuộc đời của tôi. Mong rằng những thí dụ cụ thể sẽ giúp cho các sinh viên thấy rõ hơn cách học, cách hỏi, cách hiểu để có thể thực hiện đầy đủ những điều mà trường đã đặt ra, đồng thời giúp cho các em sau này khi ra đời có được một phương cách làm việc hiệu quả hơn nếu áp dụng 4 chữ này.

I. Về cách HỌC:

Có dịp tiếp xúc với các em sinh viên, tôi thấy các em chỉ biết nhiều đến cách “cộng học”. Nhưng khi hỏi đến cách tự học thì các em bảo rằng cứ tìm những quyển sách cùng một đề tài để đọc hoặc tìm trên mạng internet các tài liệu liên quan rồi ghi chép, in ra những gì cần thiết phục vụ cho chuyện học của mình… Khi đi vào chi tiết, tôi hỏi các em ghi chép những điều quan trọng trong quyển sách đã đọc bằng cách nào, có biết cách làm phiếu để cho mình nhớ lại đại cương về quyển sách đã đọc hay không, những thư viện nào có lưu trữ hay những tiệm sách nào có thể mua được… thì các em có phần bối rối.

Vì những lẽ trên, để giúp cho các em sinh viên trong việc học như thế nào cho khoa học, hợp lý, tốn ít thời gian mà thu được nhiều hiệu quả, chúng tôi đặt ra hai câu hỏi cho phương pháp HỌC này: Học với ai? Và học cách nào?  

1. Học với ai?

Lẽ tất nhiên theo cách “cộng học” là sẽ học với thầy, với bạn và những người xung quanh. Đó là những người có mặt và gần gũi với mình.

Khi phải tầm sư học đạo, tức là những người ở xa mình, mình chỉ gặp trên tài liệu, sách vở mà chưa từng gặp mặt hoặc khi phải vào thư viện, lên internet tìm sách cùng một đề tài với bộ môn mình muốn học thì ngoài vấn đề biết cách hỏi còn phải biết cách ghi lại những điều đã đọc được. Nhưng ghi lại bằng cách nào cho thật hiệu quả mà không tốn thời gian? Do đó phải biết cách đọc sách và cách làm phiếu.

2. Học cách nào?

2.1. Khi học một vấn đề phải biết tận dụng những kỹ năng ghi nhớ bằng các giác quan cho thật hiệu quả:

  • Phải tự tay mình ghi tên đề tài và những chi tiết cần phải nhớ về đề tài đó. Như vậy là bàn tay ta đã bắt đầu nhớ giúp ta (memoire tactile).
  • Khi ghi bằng tay, mắt ta nhìn thấy những chữ hiện lên trên giấy thì thị giác đã bắt đầu giúp ta nhớ (memoire visuelle).
  • Miệng ta đọc lớn lên các chi tiết để lỗ tai ta ghi nhận những điều đã nghe, thị giác lại góp phần vào việc nhớ (memoire auditive). Đồng thời miệng nói cũng góp thêm một phần nữa.

2.2. Khi học về một niên đại nên cố gắng tìm 3 sự kiện xảy ra cùng niên đại đó để nhớ một lượt, đó là cách chúng tôi “học một nhớ ba”.

Thí dụ: Đa số học sinh khi học lịch sử nước ngoài đều biết năm 1789 là năm cách mạng tư sản Pháp thành công. Nhưng nếu chúng ta nhớ thêm rằng năm đó Nguyễn Huệ đánh thắng quân Thanh tại Đống Đa và ngay sau khi thắng trận đã gởi một phái đoàn hữu nghị đến vua Càn Long thì số 1789 giúp ta nhớ được cùng lúc 3 sự kiện.

Hoặc có thể nhớ thêm những sự kiện xảy ra ở các năm gần với niên đại đó nếu ta có một trí nhớ tốt:

Thí dụ (theo kinh nghiệm bản thân từng trải qua): Những sinh viên học nhạc nước ngoài nếu chỉ nhớ rằng 1770 là năm sanh của nhạc sĩ Beethoven thì không bằng đồng thời nhớ luôn tại miền Nam Ấn Độ 3 năm trước, 1767, có một nhạc sĩ lớn đã đặt ra 1000 bài hát Kritis mà dân Ấn Độ miền Nam còn hát đến giờ. Đó là nhạc sĩ Tiagaradja. Và cũng 13 năm trước, 1757, có một nhạc sĩ Nhựt Bổn đã lập ra 1 trường phái mới trong truyền thống đàn Koto, gọi là Yamada Ryu (phái móng tròn – Sơn Điền lưu phái 山田流).

2.3. Phải biết giản dị hóa những điều phức tạp:

Thí dụ: Muốn nhớ các triều đại trong lịch sử Trung Quốc từ đời Đường đến nay, nếu phải nhớ kỹ thì chúng ta phải để ý rằng từ đời Đường về sau có 5 triều đại lớn: Đường – Tống – Nguyên – Minh – Thanh, trung bình mỗi triều đại sống được 3 thế kỷ. Chỉ có triều Nguyên trị vì trong hơn 80 năm (tức là 1 thế kỷ). Chúng ta chỉ có thể nhớ một cách dễ dàng như sau đây:

Đường                         (trải qua 3 thế kỷ: thứ 7, thứ 8 và thứ 9)

Tống                            (thế kỷ 10 – 11 – 12)

Nguyên                       (thế kỷ 13)

Minh                            (thế kỷ 14 – 15 – 16)

Thanh                          (thế kỷ 17 – 18 – 19)

Cộng hòa Trung Hoa (từ thế kỷ 20)

Mặc dầu chưa thật chính xác nhưng trong 90% trường hợp thì chúng ta không sai khi đặt một nhân vật nào trong một triều đại nào để tìm hiểu, nghiên cứu.

2.4. Áp dụng hai phương pháp của sử học và dân tộc nhạc học cho mỗi đề tài học.

2.4.1. Sau khi miêu tả đề tài một cách toàn diện, tức là từ cụ thể tới trừu tượng thì phải bắt đầu đi dài trong thời gian theo “phương pháp của sử học”.

Thí dụ cụ thể: Muốn học về cây đờn Tranh Việt Nam thì phải biết miêu tả một cách rành mạch về hình dáng, kích thước và các bộ phận của cây đờn. Phải biết ghi ảnh bề mặt, bề trái, bề dày của đờn, đồng thời biết luôn về chất liệu dùng để làm ra cây đờn đó. Tiếp theo mới bắt đầu đi dài trong lịch sử, cố gắng tìm coi cây đờn đó xuất hiện tại đất nước Việt Nam từ lúc nào, do người Việt sáng tạo hay du nhập từ nước nào đi tới? Và cố đi tận cùng để tìm ra được nguồn gốc chánh của cây đờn Tranh Việt Nam là từ cây Guzheng (Cổ tranh) Trung Quốc truyền sang, xem xét sự biến chuyển của cây đờn Tranh từ lúc được du nhập đến giờ, có sự biến chuyển về chất liệu sử dụng làm dây đàn: dây tơ đã được đổi thành dây cước, rồi sau là dây thép; về những giai đoạn đờn Tranh từ 16 dây biến thành ra 17, 19, 21, 22… dây; về kích thước của cây đàn, trục, nhạn đi theo như thế nào…   

Chúng ta được biết rằng, cây đờn Tranh của chúng ta gốc từ cây Guzheng (Cổ Tranh) của Trung Quốc truyền sang nước Việt Nam sớm nhứt là từ thế kỷ thứ 13 dưới thời nhà Trần, vì trong sách “An Nam chí lược” của Lê Tắc có ghi tên cây đờn Tranh lần đầu tiên dùng trong dàn tiểu nhạc và trong dân gian.      

Sau đó chúng ta lại xem xét sự biến chuyển của đờn Tranh trong nước Việt Nam từ lúc nhạc sư Vĩnh Bảo bắt đầu cải tiến đờn Tranh, cho đến các nhạc sĩ thế hệ sau lần lượt nối tiếp theo công việc này như nghệ sĩ Phương Bảo sáng chế cây đờn Tranh hình thức cũng khác mà cách lên dây cũng khác, theo thang âm thất cung để mở rộng khả năng biểu diễn phong phú hơn. Tuy có nhiều biến chuyển như vậy nhưng đến nay cây đờn Tranh vẫn còn được thông dụng theo hình thức xưa, có cải biên chút ít.

2.4.2. Đi rộng trong không gian theo “phương pháp đối chiếu trong dân tộc nhạc học”:

Tiếp theo với thí dụ về cây đờn Tranh, trong khi tìm hiểu thì chúng ta lại biết được rằng tại Triều Tiên, dưới đời vua Kasil, khi nhìn thấy đờn Guzheng của Trung Quốc với những âm thanh trầm bổng, đức vua đã sai người đóng một cây đàn tương tợ như thế nhưng hình dáng con nhạn làm cho cao hơn, đặt tên là Gayageum và ra lệnh cho nhạc sĩ Ujuk sáng tác ra 10 bài được coi như là những bài tổ của đờn Tranh Triều Tiên. Việc đó xảy ra vào khoảng năm 551 (tức là thế kỷ thứ 6).

Tại Nhựt Bổn, dưới đời Hoàng Đế Temmu (khoảng năm 672 – tức là thế kỷ tứ 7), có một truyền thuyết kể về nguồn gốc của cây đờn Koto: một người mạng phụ khi đi nghỉ mát ở miền Nam Nhựt Bổn, trong lúc đang dạo chơi thì bỗng nghe một tiếng đờn vang ra từ trong núi. Hiếu kỳ, bà bèn đi lần đến tìm thì thấy có một đạo sĩ Trung Quốc ngồi đờn bên một cây đờn lạ mà người Nhựt ghi chép lại dưới cái tên Sono Koto. Khi thấy người mạng phụ, đạo sĩ nói: “Ta biết hôm nay sẽ có người đến đây để ta trao lại tất cả những truyền thống của cây đờn này. Nhà ngươi có sẵn sàng học đờn này chăng?”. Người mạng phụ cúi đầu lạy tạ đồng ý và mỗi ngày đều đến học đàn với vị đạo sĩ kỳ dị. Sau một thời gian, đạo sĩ nói: “Hôm nay thầy đã truyền hết nghề cho con rồi. Con nên về lập một trường phái để truyền nghề. Con chỉ nhớ một điều rằng không nên truyền nghề cho một người nhạc sĩ mù từ phía Bắc đi xuống vì người đó sẽ làm phương hại đến truyền thống của chúng ta”

Nhờ tìm hiểu rộng trong không gian như vậy mà chúng ta không chỉ biết đờn Tranh là một nhạc cụ truyền thống của Việt Nam mà còn thấy cả những nhạc khí cùng chung một họ với nó, biết cách lên dây, cách diễn tấu khác nhau, hình thức khác nhau đồng thời còn có thể tìm ra điểm chung nhứt của những loại đờn cùng họ này là có cùng một cách đờn khảy dây bằng ba ngón tay mặt và nhấn dây bằng bàn tay trái.

GS.VS Trần Văn Khê giảng dạy tại trường Đại học Bình Dương (Áo đó, hàng thứ nhất từ phải qua)

2.5. Cách đọc sách & cách làm phiếu:

Như đã nói ở trên, tôi muốn điểm sơ qua vài nét trong 2 cách làm này khi chúng ta tìm hiểu về một vấn đề gì và cần có phương tiện để thực hiện việc học đó một cách hiệu quả hơn, thông qua việc ghi chép trong lúc đọc sách và làm phiếu.

2.5.1. Đọc sách như thế nào?

Có 2 cách đọc sách:

Cách thứ nhứt: nếu đọc để tìm vấn đề muốn biết thì chỉ đọc sơ và chú ý vào vấn đề mình muốn tìm hiểu và những đoạn, những câu nào muốn ghi chép lại. Trước hết mỗi người nên có một quyển sổ tay để thuận tiện cho việc ghi chép, trong đó sẽ ghi lại những câu mình đã đọc sách mà muốn giữ lại và tốt nhứt là phải biết cách làm phiếu.

Cách thứ hai: nếu muốn tìm hiểu tác giả và một học thuyết của tác giả đó thì phải đọc quyển sách thật kỹ lưỡng từ đầu chí cuối.

2.5.2. Làm phiếu như thế nào?

Ở đây chúng ta không cần đi vào chi tiết quá nhiều vì mỗi vấn đề lại có những cách làm phiếu khác nhau, cách thức sắp xếp, tìm kiếm, ghi chép khác nhau… Chúng tôi chỉ ghi lại đây những điều cần phải nhớ:

a. Cách làm phiếu về một quyển sách: trước hết phải đề họ của tác giả bằng chữ hoa, tên tác giả để chữ thường (theo quy luật quốc tế), trong đó tên quyển sách viết nghiêng. Tiếp theo ghi nơi xuất bản, địa chỉ xuất bản, cơ quan xuất bản, năm xuất bản, số trang của quyển sách bằng chữ đứng.

b. Nếu làm phiếu cho một bài viết trong một tạp chí thì tên bài phải viết chữ đứng, tên tạp chí phải viết chữ nghiêng. Phải ghi rõ số trang của bài viết từ trang mấy đến trang mấy để lúc muốn tìm lại hoặc người khác muốn kiểm tra khỏi phải mất thời gian đọc cả tạp chí. Đó là những quy luật mà trên cả thế giới đều áp dụng. Chúng ta nên tuân thủ để khi viết bài gởi ra quốc tế, độc giả sẽ không bỡ ngỡ.

II. Về cách HỎI:

Khi tầm sư học đạo, tức là phải tìm thầy để hỏi mà học thì chúng ta có nhiều phương pháp hỏi, nhưng chúng tôi khuyên các bạn nên lưu ý những điều sau đây:

1/ Khi mở cửa nhà người thầy, được thầy tiếp mới chỉ là giai đoạn đầu, không nên hỏi liền việc của mình muốn hỏi.

2/ Sau khi mở cửa nhà, việc quan trọng nhứt là phải mở “cửa lòng” của người mình muốn hỏi tức là trong câu chuyện phải làm thế nào cho người đó thấy vui vẻ, hứng thú, mình nên khéo léo gợi ra những câu chuyện, những điều mà người đó ưa thích. Khi đã có hứng thú và tỉnh cảm rồi, thì việc trao đổi về vấn đề mình muốn tìm hiểu sẽ dễ dàng hơn rất nhiều. Muốn như thế thì chúng ta cần nên nhớ một cách làm mà tôi cho rằng rất hiệu nghiệm: “cho trước khi nhận”.

Một thí dụ cụ thể trong kinh nghiệm bản thân của riêng tôi:

Khi tôi muốn tìm hiểu nhạc truyền thống của Ba Tư, tôi được giới thiệu đến gặp nhạc sư Hormozi. Sau khi chào hỏi, nhạc sư hỏi tôi: “Tôi nghe nói giáo sư muốn tìm tôi để hỏi về nhạc truyền thống của Ba Tư phải không?”. Tôi trả lời: “Dạ thưa phải. Nhưng trước khi làm rộn thầy, xin thầy cho phép tôi giới thiệu đôi nét về âm nhạc Việt Nam truyền thống để thầy nghe chơi”. Ông rất vui và tò mò nhìn cây đờn Tranh rồi ngồi nghe tôi giới thiệu một đoạn hơi Bắc chuyển qua hơi Nam. Khi tôi chuyển qua tới hơi Sa Mạc thì ông chăm chú nghe rất kỹ rồi bỗng dưng chận tay tôi lại mà nói rằng: “Hơi này nghe rất thú vị và gợi tình thương nhớ, giống như là điệu Segâh của Ba Tư”. Tôi nhân dịp đó mà bắt đầu hỏi câu đầu tiên: “Thưa thầy, điệu Segâh là thế nào?”. Thầy Hormozi lấy cây đờn Setar 4 dây đờn cho tôi một khúc và nói rằng đặc điểm của Segâh là quãng này, thì ra đó là một quãng ba trung bình giữa thứ và trưởng, và đó cũng là quãng thường dùng để diễn tả tình thương nhớ mà chỉ trong hơi Sa Mạc của Việt Nam mới có.

Sau đó ông say sưa nói thêm về điệu thức mahour: “Giáo sư thấy không, trong này đâu có cái quãng 3 đó vì mahour diễn tả sự vui tươi”. Nói xong ông quay lại tôi đề nghị: “Tôi muốn giáo sư ghi âm lại cho tôi một đoạn Sa Mạc để tôi tiếp tục về nghe thêm”. Tôi sẵn sàng làm công việc đó. Vì thế nên đến khi tôi xin ghi âm lại điệu Segâh, tức thì ông sẵn sàng đờn rất lâu, rất nhiều để cho tôi ghi âm và có thời gian thấm được điệu thức một cách sâu sắc nhứt.

Tiếp theo ông lại cao hứng giới thiệu cho tôi hết điệu này qua điệu kia một cách say sưa mà không biết mệt. Đến 12 giờ khuya là hết giờ hẹn thì tôi cảm ơn thầy đã cho tôi một buổi tìm hiểu thú vị và xin thầy cho một cái hẹn lần sau để tôi tiếp tục đến trò chuyện về âm nhạc Ba Tư. Ông níu tôi lại và nói: “Giáo sư đâu có về được. Giờ này là giờ mà âm nhạc mới tuôn ra. Chúng ta uống thêm một bình trà nữa để tôi đờn thêm cho giáo sư nghe”. Mãi đến 2 giờ sáng tôi mới “được phép” ra về, nhưng đã đem theo trên hành trình về nhà một kết quả khả quan hơn cả những gì tôi mong đợi, với những cuộn băng ghi âm nhạc sư đờn, giảng giải về nhạc Ba Tư rất hào hứng, lý thú mà không phải lúc nào cũng có được.

3/ Không nên đặt những câu hỏi trực tiếp như những câu trực tiếp muốn biết về ngày sanh, hỏi trực tiếp tuổi tác… như một người cảnh sát lấy khẩu cung, như vậy sẽ thể hiện mình không tế nhị và thiếu phép lịch sự. Như vậy “cửa lòng’ của người thầy sẽ khép kín và chúng ta khó có cơ hội tìm được những gì mình muốn.

III. Về cách HIỂU:

Khi học không phải chỉ học được câu trả lời của một người thầy mà vội cho đó là chân lý. Phải nên tìm thêm trong sách vở, tài liệu hoặc internet nhiều câu trả lời, nhiều nghiên cứu và phản ứng khác nhau về vấn đề đó để so sánh. Tốt hơn nữa nên gặp một người thầy hay người bạn mình tin cậy nhứt để bàn về các câu trả lời. Nhờ sự soi sáng của thầy, bạn mà chúng ta đôi khi có thể thấy rõ hơn vấn đề. Khi có người để thảo luận thì từ việc thảo luận sẽ nảy ra ánh sáng cho những gì mình cần tìm hiểu.

IV. Về cách HÀNH:

Học thì lẽ đương nhiên là phải đem cái mình học được ra thực hành một cách có hiệu quả, nếu không những thứ mình thu thập được sẽ dần mai một đi và không giúp ích gì cho bản thân hay nhân quần xã hội. Và hơn hết, như tôn chỉ mà trường Bình Dương đã nói đến: thực hành có hiệu quả mới tạo ra được sản phẩm vật chất hay tinh thần có chất lượng, đảm bảo nhu cầu bản thân, gia đình, cộng đồng, xã hội, mới có điều kiện bảo vệ thiên nhiên và nhứt là phụng sự xã hội, quê hương một cách đắc lực nhứt.

Hành như thế nào cho đúng? Có phải cứ hành một cách bài bản như những gì mình đã học, đã biết thôi là đúng hay không? Hành, trước tiên phải thực hiện được những gì mình đã học, đã nghiên cứu đúng với chuyên môn của mình, sau đó mỗi ngày mỗi tìm tòi, học hỏi, nâng cao thêm những hiểu biết của bản thân, rèn luyện tay nghề của mình theo sự tiến bộ của thời đại. Hơn nữa khi hành phải chú ý không sa đà vào những chuyện “hành” không ích lợi, bền vững, không đem lại cái lợi thực tế, niềm vui, tình thương trong cuộc sống đến cho con người cũng như thiên nhiên. Việc “hành” nên được sóng đôi cùng lý trí, đạo đức để chẳng những đem lại cuộc sống tiện nghi, ấm no mà còn đem lại yên lành, hạnh phúc thực sự cho tất cả. Đó mới là mục đích cao cả cuối cùng của việc đi từ “học” đến “hành”.

Đây cũng chỉ là một vài quan điểm của riêng tôi về mô hình “Học – Hỏi – Hiểu – Hành” mà nhà trường đã đưa ra rất thú vị và bổ ích. Tôi xin đóng góp những suy tư của mình để có thể cùng quý thầy cô thảo luận, triển khai thêm về tôn chỉ này, hầu mong giúp cho các em sinh viên trong trường Bình Dương nói riêng và sinh viên đại học nói chung có được những phương pháp thực sự hiệu quả trong học tập để có được một tương lai tươi sáng sau này.

Trân trọng kính chào và chúc quý thầy cô Đại học Bình Dương dồi dào sức khỏe để dẫn dắt các học trò của mình, chúc các em sinh viên học tập ngày càng tiến bộ.

Bình Thạnh, tháng 11 năm 2011

GS.TS. TRẦN VĂN KHÊ

DƯƠNG KIM THOA : 100 NĂM NGÀY SINH GS.TS TRẦN VĂN KHÊ (24-7-1921 – 24-7-2021) :Dành trọn tình yêu cho văn hóa dân tộc

Dành trọn tình yêu cho văn hóa dân tộc

Chủ Nhật, 01/08/2021, 09:06 [GMT+7] Facebook Linkhay Google Bookmarks Twitter Gửi tin qua EmailIn bài viết này . . .

Lúc sinh thời, GS.TS Trần Văn Khê từng chia sẻ, ông muốn mình được là “một tài tử”, một “đại sứ trọn đời của văn hóa dân tộc” ở bất cứ nơi đâu.

Suốt cuộc đời, GS.TS Trần Văn Khê luôn tận tụy với văn hóa dân tộc nói chung và âm nhạc cổ truyền nói riêng. Ông từng nói, với văn hóa dân tộc, người ta “có hiểu rồi mới thương”, thương rồi mới gắng sức gìn giữ, phát huy những giá trị đó. Bởi thế, một trong những việc ông dành nhiều tâm huyết nhất chính là truyền dạy kiến thức âm nhạc truyền thống và lan tỏa tình yêu với âm nhạc cổ truyền, với văn hóa dân tộc tới nhiều thế hệ người Việt trong và ngoài nước.

Cố GS.TS Trần Văn Khê. (Ảnh tư liệu)
Cố GS.TS Trần Văn Khê. (Ảnh tư liệu)

Muốn yêu phải hiểu

Còn nhớ trong một lần tới nói chuyện tại tòa soạn Báo Tuổi Trẻ năm 2014, GS.TS Trần Văn Khê bày tỏ, sở dĩ người ta yêu thích một nghệ thuật nào đó là bởi trước tiên người ta được tiếp xúc nhiều với nó. Từ việc nghe nhiều, xem nhiều, đọc nhiều, dần dần người ta hiểu. Từ hiểu mới yêu thích, từ yêu thích mới có ý muốn học tập, rèn luyện, sau rốt mới là biểu diễn.

Ngay cả đờn ca tài tử xưa kia, không phải ai muốn vào ca hay đàn cũng được. Mặc dù là môn nghệ thuật dân dã, chỗ nào cũng có, nhưng muốn tham gia, người “chơi” ít nhất phải được học hành, hướng dẫn của một người “có nghề” trước. Bởi vậy, cho tới tận những năm tháng cuối đời của GS.TS Trần Văn Khê, ngôi nhà riêng của ông ở quận Bình Thạnh (Thành phố Hồ Chí Minh) vẫn luôn là điểm hẹn của những người đam mê âm nhạc truyền thống. Định kỳ mỗi tháng đều có ít nhất một chương trình sinh hoạt âm nhạc truyền thống, chưa kể những cuộc ghé thăm mỗi ngày của học trò và những người muốn hỏi thầy Khê về một điều gì đó chưa rõ trong âm nhạc, văn hóa.

Được truyền cảm hứng bởi tấm lòng tận tụy đó, nhiều thế hệ học trò, đồng nghiệp đã tiếp nối GS.TS Trần Văn Khê trong việc truyền thụ và khích lệ tình yêu, lòng ham muốn hiểu biết về âm nhạc truyền thống ở thế hệ trẻ.

Mới đây, một nhóm trí thức gồm ThS. Nguyễn Quốc Thệ – Hiệu trưởng Trường Trung cấp Y Dược Vạn Hạnh, nhà báo Lương Hoàng Hưng – Tổng Biên tập Tạp chí Sở hữu Trí tuệ & Sáng tạo, TS. Thái Huy Phong – Chủ tịch Tập đoàn sức khỏe Việt (VietHealth Group), ThS. Nguyễn Hiếu Tín – Trưởng bộ môn Du lịch, Trường Đại học Tôn Đức Thắng cùng nhau tổ chức cuộc thi tìm hiểu về GS.TS Trần Văn Khê và âm nhạc truyền thống Việt Nam nhân dịp 100 năm ngày sinh của ông (24-7-1921 – 24-7-2021).

Đúng với tôn chỉ cuộc thi, Ban tổ chức đã yêu cầu những người tham dự ngoài việc chia sẻ cảm nhận của họ về cuộc đời và sự nghiệp của GS.TS Trần Văn Khê, cũng như những đóng góp lớn của ông trong việc nghiên cứu và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới, còn có một phần chia sẻ cảm nhận về một hình thức âm nhạc truyền thống Việt Nam, hoặc một nhạc cụ dân tộc.

Tin vào người trẻ

Mặc dù cuộc thi chỉ diễn ra trong 2 tuần (từ ngày 8-7 đến 23-7-2021), lại đúng giai đoạn Covid-19 hoành hành, nhưng theo GS.TS Trần Quang Hải, con trai cả của cố GS.TS Trần Văn Khê, cũng là Trưởng ban tổ chức cuộc thi, có 40 thí sinh gửi bài dự thi với nhiều đề tài từ Nam ra Bắc. Các thí sinh chọn nhiều chủ đề khác nhau, từ đờn ca tài tử, ru con, hát bội, đến nhạc cung đình Huế, hát bài chòi, dân ca quan họ, ca trù và nhạc cụ đàn bầu.

Trong số các thí sinh dự thi, có một gương mặt thân quen nhiều năm qua vẫn say sưa tiếp nối sự nghiệp truyền thụ văn hóa, âm nhạc dân tộc của GS.TS Trần Văn Khê, đó là anh Hồ Nhựt Quang, diễn giả văn hóa đang sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều người yêu mến gọi anh là một trong những truyền nhân của GS.TS Trần Văn Khê vì đến nay anh vẫn duy trì, phát triển Câu lạc bộ Nghiên cứu và Vinh danh Văn hóa Nam Bộ do chính cố giáo sư thành lập, bằng nguồn tài chính cá nhân.

Trong bài dự thi có tựa đề “GS.TS Trần Văn Khê và giá trị lời ru truyền thống”, anh Hồ Nhựt Quang chia sẻ kỷ niệm sâu sắc khi còn là sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), được nghe thầy Khê nói chuyện về giá trị của lời ru trong thai giáo (giáo dục bằng âm nhạc cho trẻ từ lúc sơ sinh).

“Thông qua các bài diễn thuyết của thầy, tôi cảm nhận nhiều điều thú vị về văn hóa và nghệ thuật truyền thống Việt Nam, hiểu được giá trị ấy đặc biệt quan trọng như thế nào đối với vận mệnh của dân tộc. Thầy đã kết luận tại buổi nói chuyện rằng: Văn hóa còn thì đất nước còn”, anh Quang viết.

DƯƠNG KIM THOA

https://baodanang.vn/channel/5433/202108/100-nam-ngay-sinh-gsts-tran-van-khe-24-7-1921-24-7-2021-danh-tron-tinh-yeu-cho-van-hoa-dan-toc-3886731/

NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH GS TRẦN VĂN KHÊ

https://tuoitre.vn/giao-su-tran-van-khe.html

Thứ 5, ngày 29 tháng 7 năm 2021

Xem thêm

GS. TRẦN VĂN KHÊ: XÁC VÀ HỒN TRONG ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG

Tran Truongca

trSop5honsoredh  · XÁC VÀ HỒN TRONG ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG(GS. Trần Văn Khê)Trong ngôn ngữ của phương Tây, để chỉ âm thanh người ta chỉ có một danh từ, chẳng hạn như son (Pháp) hay sound (Anh). Trong khi đó ở Châu Á, Việt Nam sử dụng hai chữ “thanh” và “âm”, Trung Quốc có hai chữ “sheng” và “yin”, còn Ấn Độ thì dùng hai chữ khác nhau “svara” và “shruti”. Thanh là một tiếng nhạc có độ cao, độ dài, độ mạnh, còn gọi là cao độ (hauteur), trường độ (durée), cường độ (intensité) và cả màu âm, tức âm sắc (timbre). Khi bàn tay mặt khảy trên cây đờn Kìm, đờn Tranh hay kéo đờn Cò, chúng ta chỉ mới tạo ra một thanh. Chỉ khi bàn tay trái “nhấn” lên sợi dây giữa hai phím đờn kìm hay “rung” ở khoảng giữa con nhạn và trục của đờn tranh, chừng đó “thanh” mới trở thành “âm”. Vì thế, theo truyền thống Việt Nam, bàn tay mặt sanh ra âm thanh còn bàn tay trái nuôi dưỡng và tô điểm cho âm thanh đó. Bàn tay mặt đánh ra thanh có độ cao, độ dài, có tiếng to tiếng nhỏ, có cả màu âm nhưng vẫn chưa có “hồn” vì còn thiếu tính nghệ thuật. Chỉ khi bàn tay trái nhấn vào biến “thanh” thành “âm” mới có chất nhạc: bàn tay mặt sanh ra xác còn bàn tay trái tạo ra hồn. Như vậy khi biểu diễn âm nhạc truyền thống, không thể nào dùng đơn thuần một tay mặt mà cần có sự tham dự kỹ thuật của tay trái để hồn nhạc xuất hiện và tiếng đờn lúc đó mới mang tính chất đặc thù của bản sắc dân tộc.

Cũng vậy, trong âm nhạc Trung Quốc, bàn tay mặt tạo ra “sheng” và bàn ta trái biến “sheng” thành “yin”. Còn trong nhạc Ấn Độ, khi tay mặt khảy đàn lên những độ cao khác nhau thì tiếng nhạc đó được gọi là “svara”, nếu có bàn tay trái tham gia thì tiếng đàn đó mang tên “shruti” (ở đây chúng tôi chỉ dùng một nghĩa của chữ “shruti” có nghĩa là “tiếng nhạc có hồn”, vì chữ này có rất nhiều nghĩa trong âm nhạc Ấn Độ). Không chỉ Ấn Độ và Trung Quốc, quan điểm “xác” và “hồn” trong âm nhạc cũng bàng bạc trong nhận thức của những nhạc sĩ các nước phương Đông mà tôi có dịp tiếp xúc.

Chẳng hạn như tại Liên hoan âm nhạc Á Phi 1985 tổ chức ở thành phố Antatanarivo – thủ đô của Madagascar – có một đêm dành cho âm nhạc của hai nước Việt Nam và Madagascar. Trong phần đầu, một danh cầm của Madagascar là nhạc sư Sylvester Randafison biểu diễn đờn Valiha (làm bằng ống tre với mười tám dây sắt được căng dài quanh thân đàn) với tiếng đàn nỉ non, trong sáng như tiếng những giọt nước mưa rơi trên mặt hồ. Trong phần hai, tôi biểu diễn đờn Tranh. Sau buổi hòa nhạc, ông Randafison đến gặp tôi và nói: “Tiếng đờn Valiha và đờn Tranh giống nhau ở chỗ những dây sắt căng trên thân đờn được những ngón tay trên bàn tay khảy nên nhiều tiếng bổng trầm, trong trẻo. Nhưng tiếng đờn Tranh nghe mềm mại và uyển chuyển hơn đờn Valiha. Tuy khác nhau trong cách sáng tạo nhạc cụ và kỹ thuật biểu diễn, tôi vẫn cảm giác như hai nhạc khí có họ hàng với nhau. Để đánh dấu cuộc gặp gỡ kỳ thú hôm nay, xin tặng giáo sư cây đờn Valiha mà tôi đã dùng trong buổi hòa nhạc. Nhạc khí này do chính tay tôi tạo ra. Từ nay mỗi lần nhìn ngắm nó giáo sư sẽ nhớ lại người nhạc sĩ Madagascar đã có dịp biểu diễn với giáo sư trên cùng một sân khấu”. Tôi xúc động trả lời: “Tặng vật này thật vô cùng quý giá. Theo tập tục của người Việt, tôi sẽ phải tặng lại cây đờn Tranh mình đã dùng trong đêm nay. Nhưng tiếc rằng cây đờn Tranh này do một người bạn rất thân đã đóng tặng tôi. Vì vậy xin bạn giữ lại cây đờn quí giá của mình và đóng cho tôi một cây khác để giữ làm kỷ niệm”. Ông Randafison cười đáp: “Bạn sắp trở về Pháp nên tôi không có đủ thời gian để đóng ngay một cây đờn khác. Chúng ta có thể ra ngoài phố mua một cây đờn mới cũng do tôi đóng ra, nhưng cây đờn ấy chỉ có xác mà chưa có hồn. Vì vậy tôi muốn tặng bạn cây đờn Valiha này, bởi nó đã theo tôi từ 14 năm qua và đã trở thành người bạn thân thiết của tôi”. Như vậy là người nhạc sĩ Madagascar cũng có quan điểm “xác” và “hồn” trong âm nhạc.

Một người khác là nữ nhạc sĩ Mehrbanoo Tofigh người Ba Tư, chuyên giới thiệu nhạc cổ điển Ba Tư với cây đờn Setar. Cô sang Pháp làm tiểu luận án Cao học về cây đờn Setar tại Đại học Sorbonne và nhờ tôi nhận lời làm chỉ đạo nghiên cứu. Sau khi bảo vệ luận án thành công, cô đến gặp tôi và nói: “Hôm nay, em xin đờn một bản nhạc Ba Tư mà Thầy thích, coi như để thay lời cám ơn Thầy. Đây cũng là lần cuối em sử dụng cây đờn này, sau đó em xin tặng nó cho Thầy”. Tôi xúc động trả lời: “Thầy không biết đờn Setar nên nếu giữ cây đờn quý giá này thì thật phí. Em có thể mua một cây đờn khác tặng Thầy cũng được”. Nhưng cô trả lời: “Em có thể mua một cây đờn mới hơn, đẹp hơn tại một cửa hàng danh tiếng ở Teheran để tặng Thầy, thế nhưng cây đờn ấy chỉ có “xác” mà chưa có “hồn”. Còn cây đờn này đã theo em nhiều năm, hồn nhạc Ba Tư đã thấm nhuần trong nó. Xin Thầy cứ nhận để em vui khi nghĩ rằng đã tặng cho Thầy một cây đờn có cả xác lẫn hồn”.

Một lần nữa người nhạc sĩ Ba Tư cũng có nhận định về “xác” và “hồn” trong âm nhạc.

Rõ ràng, trong quan niệm sáng tạo và biểu diễn âm nhạc ở vài nước châu Á, “xác” và “hồn” được phân minh nhưng cũng để phối hợp với nhau theo quan điểm lưỡng phân và lưỡng hợp.

Chính vì vậy, một khi chúng ta muốn vay mượn một nhạc khí nước ngoài thì phải chú ý sao cho nhạc khí đó tạo được tiếng nhạc có cả xác lẫn hồn để có thể diễn tả được trung thực âm nhạc truyền thống mà không ngọng nghịu.

Trong số các nhạc khí phương Tây thì đờn Violin và Guitar có thể phát ra những chữ nhạc có rung, có mổ, có nhấn, nên đã được sử dụng trong ca nhạc tài tử hay dàn nhạc cải lương, với cách lên dây và tư thế ngồi đờn thay đổi để thích nghi theo quan điểm thẩm mỹ của người Việt. Riêng đờn Piano tuy rất phong phú cho âm nhạc phương Tây nhưng do đây là loại đờn gõ, mỗi chữ nhạc phát ra đều cố định, bàn tay trái không thể tham gia để vuốt ve, nhấn nhá nên chúng ta không thể sử dụng để đờn những bài bản đặc thù của dân tộc như Nam Xuân, Vọng Cổ hay những điệu hò, bởi các bài bản này thường có những chữ đờn “non” hay “già” (tức thấp hoặc cao hơn một chút so với thang âm cơ bản). Cũng do đó mà khi vay mượn những nhạc khí Trung Quốc hay Ấn Độ để biểu diễn âm nhạc Việt Nam thì chúng ta không gặp phải những vấn đề khác biệt ấy.

Riêng trong đời sống hằng ngày, khi đến với âm nhạc, chúng ta rất dễ gặp cái “xác” mà khó gặp cái “hồn”. Trong rất nhiều trường hợp, âm nhạc thường trở thành một thứ trang trí ở những nơi như siêu thị, nhà ga hay trên xe đò, trên máy bay. Tại các nơi đó, âm nhạc bị tiếng động của môi trường xung quanh làm cho người nghe tiếng được tiếng mất. Hoặc trong một tiệm ăn, tại một phòng trà, đôi khi các nhạc công biểu diễn như một cái máy, tay tuy vẫn khảy nhưng hồn không đi theo âm nhạc. Hầu hết khách thường tập trung vào chuyện ăn hơn là nghe nhạc, còn người khiêu vũ thì chỉ chú ý đưa bước chân theo tiết tấu của những điệu tango, boléro hay valse mà thôi. Âm nhạc trong các phòng ấy chỉ hiện ra cái xác mà không có hồn. Chỉ trong một phòng hòa nhạc thì hồn nhạc mới có dịp hiện ra khi nhạc công đem hết tâm hồn mình để biểu diễn, còn khán thính giả tập trung tư tưởng để thưởng thức, thậm chí có khi không dám thở mạnh. Như vậy mới có thể gặp được hồn nhạc. Giới thiệu cái xác của nhạc chỉ cần những nhạc khí cụ thể, những kỹ thuật biểu diễn của bàn tay hay giọng hát. Muốn chuyển được hồn nhạc thì cần phải có những gì trừu tượng hơn như tình cảm và nghệ thuật. Và cũng cần có một không gian và môi trường hội hợp đầy đủ hai yếu tố Âm – Dương. Vì thế nên trong các dàn nhạc và số thính giả trong phòng hòa nhạc, nếu chỉ có toàn nam hay nữ thì âm nhạc khó đi đến đỉnh cao. Kể cả ánh sáng trong phòng nhạc cũng phải theo sự quân bình của hai yếu tố Âm – Dương, không thể quá sáng hay quá tối mà thường có một ánh sáng dìu dịu hoặc hơi sáng trên sân khấu và mờ mờ trong hội trường. Những bản nhạc sáng tác hay biểu diễn thường có những đoạn tưng bừng rực rỡ để rồi tiếp theo là những đoạn sâu lắng, êm đềm; những đoạn nhịp điệu dồn dập tiếp theo những khúc khoan thai. Nếu xét kỹ những điều kiện nào có thể đem đến thành công hoàn toàn cho một buổi hòa nhạc, chúng ta sẽ thấy rằng nội dung của tác phẩm, hình thức của buổi biểu diễn và trạng thái tâm hồn của diễn viên, khán thính giả phải có được sự tương xứng trong Âm Dương, hầu cảm nhận được âm nhạc cả xác lẫn hồn qua phong cách biểu diễn và đạt được sự nhuần nhuyễn giữa kỹ thuật và nghệ thuật.

TRẦN VĂN KHÊ : ÂM DƯƠNG TRONG ÂM NHẠC

ÂM DƯƠNG TRONG ÂM NHẠC(GS. TRẦN VĂN KHÊ)

Trong ngôn ngữ Việt Nam, thường chúng ta hay nghe nói nhà cửa, cơm nước, vợ chồng, lầu đài, nước non, sông núi, giang sơn… mục đích không phải kể ra hai yếu tố đối chọi với nhau mà bổ sung cho nhau. Cố Giáo sư Trần Quốc Vượng có nhắc đến điểm này và cho đó là quan niệm “lưỡng phân, lưỡng hợp” mà ta có thể tìm thấy được trong ngôn ngữ, trong nghệ thuật nói chung và âm nhạc nói riêng. Để minh họa cho ý kiến đó, Giáo sư Trần Quốc Vượng đã nhìn trên mặt trống đồng Ngọc Lũ và nhận thấy người thợ tạo ra trống đồng đã chạm những con hươu tượng trưng cho núi, những con cá tượng trưng cho nước. Núi và nước là hai yếu tố người Việt thường nghĩ tới trong rất nhiều truyền thuyết như “Lạc Long Quân – Âu Cơ”,“Sơn Tinh – Thủy Tinh”… Trong ngôn ngữ thì có “giang sơn”, “sơn thủy”…

“Âm dương” mà chúng tôi sẽ đề cập cũng ở trong quan niệm đó chớ không phải “âm dương” trong Kinh dịch.

Trong cuộc sống người Việt Nam, quan niệm “âm dương” thường được thể hiện ở nhiều lãnh vực:

• Trong văn hóa ẩm thực:

– Khi chọn lựa vật liệu nấu thức ăn, người ta luôn luôn trộn vị mặn với chua hoặc ngọt. Vị mặn thuộc về dương mà chua, ngọt thuộc về âm. Các nhà nghiên cứu về thức ăn của Nhựt Bổn cũng xác nhận như thế. Chúng ta thấy nước mắm mặn thường được thêm vào vị chua của chanh hay dấm và vị ngọt của đường. Các món mặn như thịt kho, cá kho đều có nêm chút đường dưới hình thức đường bột hay nước màu. Ăn bưởi chua hay xoài tượng đều chấm muối hay nước mắm, ăn dưa ngọt hay nấu chè thường dằn một chút muối. Như thế thì “âm dương” tương xứng. Từ “âm dương” sanh ra “hàn nhiệt”: thịt cua đinh hay thịt vịt thuộc về “hàn” nên chấm với nước mắm gừng, gừng là “nhiệt”; hột vịt lộn cũng phải ăn với rau răm cũng do quan điểm “hàn nhiệt”. Hải Thượng Lãn Ông được coi là ông tổ của nền y học Việt Nam đã viết ra một quyển về các loại rau dùng trong nấu ăn và trị bịnh, cho biết rõ loại rau nào thuộc về “hàn/nhiệt”, “âm/dương”.

– Khi chọn thức ăn và người ăn cũng để ý đến sự quân bình trong “âm dương”. Nếu người bịnh bị sốt vì cảm lạnh như mắc mưa hay dầm sương thì “âm” đã có trong cơ thể người bịnh rất nhiều, phải cho người bịnh ăn cháo gừng, để gừng thuộc “dương” sẽ tạo sự quân bình “âm dương” trong cơ thể. Ngược lại nếu người bịnh bị sốt vì cảm nắng thì không thể cho ăn cháo gừng vì trong người bịnh yếu tố “dương” đã có rất nhiều. Do đó nên cho người bịnh ăn cháo hành vì hành đem tới tính chất “âm”.

– Khi chọn thức ăn cũng để ý đến thời tiết bên ngoài. Mùa hè thì yếu tố “dương” có rất nhiều trong không khí nên phải ăn những món “âm” như canh chua, chè sen và nhiều thứ rau. Còn mùa đông có rất nhiều yếu tố “âm” trong không gian nên phải ăn những món nướng và gia vị ướp tỏi, tiêu, sả… để bổ sung chất « dương ».

• Trong Y học:

Người y sĩ thường không để ý đến việc trị chứng như thấy sốt thì cho uống giải nhiệt mà quan tâm đến việc trị căn, tức là tìm yếu tố gốc gây ra sốt bằng cách bắt mạch. Nghe tiếng mạch nhảy qua đầu ngón tay, người y sĩ nhận thấy trong cơ thể bịnh nhân mất sự thăng bằng về “âm dương”. Trong trường hợp đó, phải tìm những vị thuốc nào có thể đem lại sự quân bình “âm dương” trong cơ thể.

• Trong thiên nhiên:

Rất nhiều trường hợp mà người Việt nhắc đến “âm dương” như đêm là âm, ngày là dương; tối là âm, sáng là dương; khí lạnh mùa đông là âm, khí nóng mùa hè là dương; trạng thái tịnh là âm, động là dương; đất là âm, trời là dương…

• Trong đời thường:

Lịch Ta căn cứ trên sự chuyển dịch của mặt trăng là âm, lịch Tây căn cứ trên sự xoay chuyển của mặt trời là dương; sự chết là âm, sự sống là dương; buồn là âm, vui là dương; mơ hồ là âm, hiện thực là dương; xui xẻo là âm, may mắn là dương; số chẵn là âm, số lẻ là dương…

• Trong lãnh vực âm nhạc:Đi từ cụ thể đến trừu tượng, chúng ta thử xem trong nhạc khí, trong bài bản và trong cách biểu diễn, quan điểm âm dương được thể hiện như thế nào trong âm nhạc truyền thống Việt Nam?—————–

1. Nhạc khí:

Trước hết, hãy xem qua bộ môn Ca trù.

Một nhóm Ca trù thường có hai người, một là đào nương vừa ca vừa nhịp phách, một kép dùng đờn đáy phụ họa và một “quan viên” cầm chầu. Phách có 3 phần: một thanh tre hay một miếng gỗ gọi là “bàn phách”, hai cái dùi: một dùi tròn có chuôi nhọn và một dùi chẻ làm hai. Tiếng chuyên môn trong giới Ca trù thường gọi hai dùi này là “phách con” và “phách cái”. Dùi có chuôi nhọn tượng trưng cho dương vật, dùi chẻ làm hai tượng trưng cho âm vật (như “linga” và “yoni” trong quan điểm Ấn Độ) và nhờ vậy mà khi hai dùi gõ trên bàn phách có một tiếng trong một tiếng đục, một tiếng cao một tiếng thấp, một tiếng mạnh một tiếng nhẹ, cũng chính là một tiếng dương và một tiếng âm. Âm dương trộn nhau nhuần nhuyễn thành một loại tiết tấu đặc biệt, không nghe rõ tiếng phách chia thời gian âm nhạc ra từng quãng bằng nhau và không bằng nhau. Trên thế giới chưa loại dùi nào tuy một đôi mà lại khác biệt nhau từ hình thức cũng như trong cách gõ như thế.

Về loại tiết tấu này, chúng ta chỉ gặp được trong âm nhạc truyền thống Ấn Độ, không phải là phách cái và phách con trộn vào nhau mà là hai loại trống Tabla vỗ bằng tay mặt và Bahya vỗ bằng tay trái phát ra một tiếng trong và một tiếng đục. Hai tiếng đục và trong cũng được coi như là âm và dương tạo nên một loại tiết tấu rất đặc biệt: tuy có tiết tấu mà nghe như không tiết tấu, tưởng thực mà hư, tưởng hư mà thực, tưởng hiện mà ẩn, tưởng ẩn mà hiện. Hai cảm giác đó thực hư, hiện ẩn, người Ấn Độ đã có dùng hai chữ Tâla và Laya. Tâla đối với người Ấn Độ như bước đi của người thiếu nữ trên bờ biển, người ta thấy được bước đi mà ghi lại được số bước đi, trong khi đó Laya là cảm giác tiết tấu ngang qua cái váy của ngưới thiếu nữ đang đi: đi mau thì váy phất mau, đi chậm thì váy phất chậm. Thấy được cái mau chậm đó mà không thể ghi lại được bằng con số sự chuyển động của chiếc váy…

Một bộ môn khác là Nhạc lễ, với dàn ngũ âm (năm nhạc sĩ sử dụng năm nhạc khí khác nhau) trong đó có hai trống nhạc đóng vai trò rất quan trọng. Cặp trống này được gọi là “trống đực” và “trống cái” tức đã bao hàm ý tưởng dương và âm. Vì vậy có nhiều nơi không gọi là trống đực, trống cái mà gọi là trống dương và trống âm, cũng có nơi gọi là trống văn và trống võ.

Màu âm của tiếng trống trong Nhạc lễ được sử dụng vô cùng tinh vi. Chẳng hạn như « tang, thờn, tùng, thùng » khi đánh vào giữa mặt da dùng để đánh nhịp hay để chấm câu. Tiếng trống đó là tiếng trống thường. Còn khi đánh vào vành da thì gọi là « Tong, táng, tỏng », đây là cách « đánh sáng » và tiếng trống đó gọi là tiếng « dương ». Khi đánh âm táng hay tong liên hồi diễn tả sự sôi động của tâm hồn hoặc tâm trạng giận dữ, hốt hoảng.

Khi dùng dùi bên trái bịt mặt trống, dùi tay mặt đánh vào phía giữa mặt trống thì cách đánh đó gọi là « đánh tối », tức là tiếng trống đó là tiếng « âm ». « Tịch » dùng để biểu lộ sự ngạc nhiên, suy nghĩ hay do dự, có khi nghẹn ngào, uất ức.

Thông thường trong biểu diễn luôn luôn có tiếng âm và dương trộn lẫn với nhau chớ không đơn thuần tiếng trống âm hay dương mà thôi. Những tiếng trống đó không có một vị trí cố định trong một khổ tiết tấu mà tiếng âm có thể thay thế bằng tiếng dương và ngược lại. Vì thế một hình thức tiết tấu không bị cố định mà có thể linh động khi sáng khi tối, thiên biến vạn hóa.

Khi phối hợp các nhạc cụ nhạc khí, chẳng những người Việt mà kể cả phần đông các dân tộc châu Á thường để ý đến tiếng kim và tiếng thổ tức là tiếng trong và tiếng đục, và đôi khi lại ví những nhạc khí như là đôi vợ chồng. Do đó trong lời chúc tốt đẹp cho những cuộc hôn nhân, người Trung Quốc và người Việt Nam hay dùng câu “loan phụng hòa minh, sắt cầm hảo hiệp”. Chim Loan là chim mái, chim Phụng là chim trống cùng hòa tiếng hát với nhau, tức là vợ chồng được trên thuận dưới hòa, không cãi nhau mà nói với nhau những lời yêu thương, tình tứ. Theo quan niệm của người Trung Quốc, « đờn cầm » là tượng trưng cho phái nam, những người đánh đờn cầm danh tiếng đại đa số là đờn ông; « đờn sắt » được coi như người phụ nữ nên khi hai cây đờn mà gặp nhau hòa lên những thanh âm tốt đẹp cũng như cặp vợ chồng xứng đôi vừa lứa.—————–

2. Bài bản:

Trong xã hội nông thôn ngày xưa, thanh niên thiếu nữ lớn lên khi bắt đầu tham gia việc nhà nông ngoài ruộng đồng thường trao đổi những câu hò khi đang lao động hay trong lúc nghỉ ngơi. Đây là sinh hoạt văn hoá đặc sắc trong dân gian, hình thành một gia sản văn học vô cùng phong phú.

Ngay trong cách sáng tạo câu hò đã thể hiện rõ quan điểm âm dương. Thông thường luôn có một “vế trống” và một “vế mái”, có khi gọi là “câu xô” và “câu kể” (Do đó mà khi ta nghe nói câu hò “mái hai”, “mái ba”, có nghĩa là một câu có một “câu trống” và hai hoặc ba “câu mái” – hoặc hai hay ba đoạn kể, chứ chữ “mái” ở đây không có nghĩa là mái chèo). Người hò câu kể thường gọi là « hò cái », còn người đáp lại bằng câu xô được gọi là « hò con ». Cái với con cũng là mẹ với con, cũng là âm với dương.

Nội dung nhiều câu hò cũng chứa đựng sự gặp gỡ âm dương, chẳng hạn như:

« Nhớ nàng như bút nhớ nghiên

Như mực nhớ giấy, như thuyền nhớ sông »

Hình dáng của “bút” và “nghiên” ở đây tượng trưng cho nam và nữ, như thế trong câu đó đã phảng phất dương và âm, cũng như “thuyền” là dương mà “sông” là âm.Trong các bài bản Nam xuân, Nam ai của Ca nhạc tài tử thì có những lớp gọi là “lớp trống” hay “lớp mái” cũng hàm ý nhắc đến quan điểm âm dương.

Trong hát tuồng hát bội, một bài hát Nam xuân thường có ba vế, ba cặp thơ lục bát. Vế đầu và vế chót thường kết thúc bằng láy dương, vế giữa kết thúc bằng láy âm (láy là một mẫu âm dùng để kéo dài tiếng luyến, mà luyến là cách kéo dài độ cao của một chữ trong câu thơ. Luyến và láy là những kỹ thuật thanh nhạc rất tinh vi trong nghệ thuật hát tuồng, hát bội. Tuy đây không phải là một bài chuyên về thanh nhạc trong Hát bội nhưng chúng tôi cũng muốn nói thêm rằng có cách láy lệ, láy nhún, láy rút, láy sa hầm… rất tinh vi và độc đáo trong nghệ thuật tô điểm nét nhạc)

Từ quan điểm âm dương nảy sanh ra những bài bản dài ngắn khác nhau như “lưu thủy trường” và “lưu thủy đoản”, những bản trước và sau mang tên “ngũ đối thượng”, “ngũ đối hạ” (thượng và hạ đồng nghĩa với trên và dưới, trước và sau), hoặc một bản mau, một bản chậm như “phú lục” và “phú lục chậm”.—————–

3. Cách biểu diễn:

Trong truyền thống Ca trù, người ca phải là “đào nương”, “ả đào”, người đờn phải là nam gọi là “kép”, rất hiếm khi có phụ nữ đờn đáy cho đào nương ca.

Trong loại hát Đối ca nam nữ thì – như tên đã gọi – người hát hai bên phải khác phái. Trong khi đối ý, nếu bài hát xướng là “Lên non” hay “Lên rừng” thì bài hát họa phải là “Xuống sông” hay “Xuống bể” và quan điểm lên, xuống cũng từ âm, dương mà ra.

Trong truyền thống Quan họ, “liền anh” luôn luôn cầm cây dù còn “liền chị” thì tay cầm chiếc nón quai thao, một vật nhọn một vật tròn cũng là thể hiện quan điểm âm dương (Linga và Yoni)

Trong loại múa dân gian, khi cầu cho được mùa – theo chuyên gia Lâm Tô Lộc –phía nam phải cầm cây tre nhọn còn bên nữ thì cầm mo cau. Cả hai vật này đều mang hình dáng ẩn dụ tượng trưng cho nam và nữ cũng từ quan điểm âm và dương.

Trong Ca nhạc tài tử, khi hòa đờn thì luôn luôn lựa tiếng thổ (trầm và đục) để hòa với tiếng kim (cao và trong) cũng từ quan điểm âm dương mà ra.* * *

Tóm lại, nếu nhìn những sự kiện trong âm nhạc với đôi mắt và tâm hồn thấm nhuần triết lý âm dương trong cuộc sống của dân tộc Việt Nam nói riêng, của châu Á nói chung, chúng ta sẽ khám phá ra nhiều điều thú vị hơn là chỉ đơn thuần nghe âm thanh bằng đôi tai và nhìn sự vật bằng đôi mắt.

(Tranh lụa nghệ thuật CA TRÙ – Họa sĩ Lê Năng Hiển)