Auteur : tranquanghai130544

TÔN THẤT HÙNG : Bạch Yến – Ước Nguyện Một Nghệ Sĩ

Tôn Thất Hùng

Đại diện của hý viện The Living Arts Centre đã bắt tay Hùng sau buổi trình diễn “Bạch Yến – 60 Years of Show Business”. Họ nói người nghệ sĩ trình diễn tối qua (của ngày 11 June, 2016) đã làm tăng thêm uy tín cho rạp hát vì sự nghiệp âm nhạc của Cô, vì họ đã được biết qua như

– Huy chương vàng Đài Phát Thanh Pháp Á, 1953

– Trình diễn đơn ca trên các chương trình truyền hình danh tiếng và sân khấu của Hoa Kỳ như Ed Sullivan, Bob Hope, Shindig, Hollywood Bowl, Broadway, Las Vegas, Liberace Show, và những tour diễn vòng quanh nước Mỹ, Canada, Nam Mỹ, Trung Mỹ, etc từ 1965-1977

– Grand Prix Du Disque De L’Académie Charles Cros (Giải tối cao của Hàn Lâm Viện Charles Cros), 1983

– International Who’s Who in Pop Music (có tên trong sách Những Nghệ Sĩ Nhạc Pop Tiêu Biểu của Thế Giới), 2002

– 3000 ngàn buổi trình diễn dân ca cổ truyền Việt Nam cho giới nghiên cứu ngoại quốc (cùng với phu quân là tiến sĩ nhạc học Trần Quang Hải)

– Đĩa hát tân nhạc: 3 (Pháp phát hành); 4 (Hollywood phát hành) và nhiều đĩa do các hãng đĩa và trung tâm băng nhạc Việt Nam từ trong nước cho đến hải ngoại phát hành trong 60 năm qua

– Đĩa hát dân ca Việt Nam: 5 (Pháp phát hành)

– Nhiều phim tài liệu trong trình diễn dân ca Việt Nam được thực hiện bởi BBC, các viện bảo tàng tại Châu Âu, Canada, trường đại học tại Pháp, Mỹ, Canada, Úc Châu…

Và năm 2021 sẽ đánh dấu 65 năm âm nhạc của một “Hiện Tượng Bạch Yến”. Hy vọng sang năm sẽ có vaccine ngừa dịch, để Hùng mới có thể làm một chương trình kỷ niệm thật hay và kỹ càng cho một giọng hát đã và đang đứng trên sân khấu cũng như phòng thâu lâu nhất của âm nhạc Việt Nam.youtube.comBạch Yến – Ước Nguyện Một Nghệ Sĩ

See Moreyoutube.comBạch Yến – Ước Nguyện Một Nghệ Sĩ

Bạch Yến – Ước Nguyện Một Nghệ Sĩ

Việt Hải :Nhà âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải giúp tôn vinh âm nhạc Việt Nam

Việt Hải :
Nhà âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải giúp tôn vinh âm nhạc Việt Nam

Trần Quang Hải là một nhạc sĩ tài năng sống ở Pháp và đã tổ chức hơn 3.000 buổi hòa nhạc tại 65 quốc gia trên thế giới. Với cha mình, giáo sư nổi tiếng Tiến sĩ Trần Văn Khê, và vợ ông, ca sĩ nổi tiếng Bạch Yến, ông đã đóng góp trong nhiều năm để nghiên cứu, quảng bá và tôn trọng âm nhạc Việt Nam.

Trần Quang Hải sinh ra trong một gia đình có năm thế hệ nhạc sĩ ở miền Nam Việt Nam. Cha của ông, Giáo sư Trần Văn Khê, nổi tiếng vì đã giúp quảng bá âm nhạc Việt Nam truyền thống trên khắp thế giới và tôn vinh nó trong các lĩnh vực nghiên cứu và biểu diễn.

Ông Hải tốt nghiệp từ Nhạc viện Quốc gia Sài Gòn trước khi định cư tại Pháp để học tập và nghiên cứu âm nhạc tại Đại học Sorbonne và nhạc dân tộc học tại Đại học Khoa học Xã hội ở Paris. Ông bắt đầu nghiên cứu về âm nhạc phương Đông tại Bảo tàng Man vào năm 1968.

Năm sau, ông Hải được bổ nhiệm vào vị trí tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia trong khi vẫn còn là sinh viên. Anh quyết định tập trung vào kỹ thuật ca hát âm nhạc, mà anh đã phát hiện vào năm 1969. Nghệ thuật, bao gồm cả việc sản xuất hai âm thanh đồng thời từ cổ họng, khiến anh nổi tiếng trên toàn thế giới như chuyên gia số một trong ca hát âm nhạc.

« Sau nhiều tháng nghiên cứu, tôi đã phát triển một hệ thống các phương pháp để ca hát âm nhạc, » nhà âm nhạc dân tộc học nói. « Cho đến nay, tôi đã có 8.000 người học cho chủ đề này ở 65 quốc gia. »

Giáo sư Quang Hải đã nhận được hơn 30 giải thưởng quốc tế cho các nghiên cứu âm nhạc của mình. Năm 2002, Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã trao Huân chương Danh dự cho Tiến sĩ Hải để ghi nhận những đóng góp của ông cho nghiên cứu về ca hát âm nhạc trên thế giới.

Một bậc thầy về âm thanh, nhà nghiên cứu âm nhạc nổi tiếng hầu như có thể chơi nhiều nhạc cụ truyền thống Việt Nam như đàn tam thập lục 16, violin hai chord, sáo và thậm chí cả cái muỗng. (Anh ấy đã mang lại rất nhiều cải tiến cho kỹ thuật trò chơi muỗng.)

Tiến sĩ Quang Hải thấy mình là một sự pha trộn của một số loại âm nhạc – Đông và phương Tây, truyền thống và đương đại. Âm nhạc của anh ấy không có biên giới. Anh nói anh đã tạo ra một tầm nhìn toàn cầu về thế giới và âm nhạc Việt Nam. Nó nhằm mục đích kết hợp tất cả các thể loại âm nhạc truyền thống trong một thế giới âm nhạc điển hình.

Mặc dù ông đã sống ở nước ngoài được 45 năm, ông Hải luôn nhìn về quê hương của mình với một cảm giác đặc biệt. Ông thực hành lòng yêu nước theo cách riêng của mình. Phiên dịch viên soạn nhạc không chỉ nghiên cứu âm nhạc truyền thống một cách nhiệt tình mà còn nỗ lực bảo tồn nó. Anh đã tổ chức 3.000 buổi hòa nhạc tại hơn 60 quốc gia để giới thiệu âm nhạc đa dạng của đất nước. Người đàn ông chuyên dụng cũng đã sản xuất hơn 30 đĩa CD âm thanh và video về âm nhạc Việt Nam tại Pháp, Ý và Hoa Kỳ.

Giáo sư Quang Hải đã sáng tác hơn 400 bài hát và âm nhạc các loại, bao gồm ca hát và âm nhạc cho các nhạc cụ truyền thống Việt Nam.

Nhà khoa học nổi tiếng đã viết nhiều bài báo và sách cho các tạp chí nổi tiếng thế giới như The World of Music (UNESCO), Tạp chí Xã hội Âm nhạc Châu Á (Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Thụy Sĩ) và Tạp chí Koukin (Tokyo, Nhật Bản). Các bài viết của ông về âm nhạc Việt Nam và châu Á cũng đã được xuất bản trên từ điển New Grove.

Nhà âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải là một thành viên của nhiều hiệp hội nghiên cứu âm nhạc tại Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Bỉ. Ông đã từng là diễn giả khách mời tại hơn 100 trường đại học trên khắp thế giới và đã trao hơn 1.500 bài phát biểu cho sinh viên ở các trường châu Âu. Tiến sĩ Hải cũng đã tham dự hơn 130 lễ hội âm nhạc quốc tế. Tên của ông đã xuất hiện trong nhiều cuốn sách, bao gồm cả Từ điển Tiểu sử Quốc tế (Anh), Quốc tế Ai là Âm nhạc (Anh), 500 Lãnh đạo Châu Âu cho Thế kỷ Mới (Mỹ) và Kế hoạch chính thức ( Pháp).
————————————————————————————–L’ethnomusicologue Tran Quang Hai contribue à honorer la musique vietnamienne

Tran Quang Hai est un musicien talentueux qui vit en France et a donné plus de 3000 concerts dans 65 pays à travers le monde. Avec son père, le professeur renommé Dr Tran Van Khe, et sa femme, le célèbre chanteur Bach Yen, il contribue depuis de nombreuses années à la recherche, à la promotion et au respect de la musique vietnamienne.

Tran Quang Hai est né dans une famille avec cinq générations de musiciens dans le sud du Vietnam. Son père, le professeur Tran Van Khe, est bien connu pour aider à promouvoir la musique traditionnelle vietnamienne dans le monde et à l’honorer dans les domaines de la recherche et de la performance.

M. Hai est diplômé du Conservatoire National de Saigon avant de s’installer en France pour étudier et étudier la musicologie à l’Université de la Sorbonne et l’ethnomusicologie au Collège des Sciences Sociales de Paris. Il a commencé ses recherches sur la musique orientale au Musée de l’Homme en 1968.

L’année suivante, M. Hai a été nommé à un poste au Centre national de la recherche scientifique, alors qu’il était encore étudiant. Il a décidé de se concentrer sur les techniques de chant diphonique, qu’il a découvert en 1969. L’art, qui implique la production de deux sons simultanément à partir de la gorge, l’a rendu célèbre dans le monde entier comme l’expert numéro un en chant diphonique.

« Après plusieurs mois de recherche, j’ai développé un système de méthodes pour le chant diphonique », rappelle l’ethnomusicologue. « Jusqu’à présent, j’ai eu 8 000 apprenants pour ce sujet dans 65 pays. »

Le professeur Quang Hai a reçu plus de 30 prix internationaux pour ses études musicales. En 2002, le président français Jacques Chirac a décerné la médaille d’honneur de la Légion au Dr Hai en reconnaissance de sa contribution à la recherche sur le chant diphonique mondial.

Un maître de l’acoustique, le chercheur de musique renommé peut jouer virtuellement divers instruments traditionnels vietnamiens tels que la cithare à 16 accords, le violon à deux accords, la flûte et même la cuillère. (Il a apporté beaucoup d’améliorations à la technique de jeu de cuillère.)

Dr Quang Hai se considère comme un mélange de plusieurs types de musique – orientale et occidentale, traditionnelle et contemporaine. Sa musique est donc sans frontières. Il a dit qu’il a forgé une vision universelle du monde et de la musique vietnamienne. Il vise à combiner tous les genres de musique traditionnelle dans un typique de la musique du monde.

Bien qu’ayant vécu à l’étranger pendant 45 ans, M. Hai a toujours regardé sa patrie avec un sentiment particulier. Il pratique le patriotisme à sa manière. L’interprète de musique-compositeur non seulement étudie la musique traditionnelle avec enthousiasme, mais fait aussi des efforts pour la préserver. Il a donné 3000 concerts dans plus de 60 pays pour présenter la musique diversifiée du pays. L’homme dédié a également produit plus de 30 CD audio et vidéo sur la musique vietnamienne en France, en Italie et aux États-Unis.

Le professeur Quang Hai a composé plus de 400 chansons et morceaux de musique de toutes sortes, y compris le chant diphonique et la musique pour les instruments traditionnels vietnamiens.

L’éminent scientifique a écrit de nombreux articles et livres pour des revues de renommée mondiale telles que Le Monde de la Musique (UNESCO), Journal of Asian Music Society (Université Cornell, États-Unis), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Suisse) et Koukin Journal (Tokyo, Japon). Ses articles sur la musique vietnamienne et asiatique ont également été publiés sur New Grove Dictionary.

L’ethnomusicologue Tran Quang Hai est membre de nombreuses sociétés de recherche musicale aux États-Unis, en France, au Royaume-Uni et en Belgique. Il a été conférencier invité de plus d’une centaine d’universités dans le monde et a donné plus de 1 500 discours à des élèves d’écoles européennes. Dr Hai a également assisté à plus de 130 festivals de musique internationaux. Son nom est apparu dans de nombreux livres, y compris le Dictionnaire de Biographie internationale (RU), International Who’s Who dans la musique (Royaume-Uni), les dirigeants de l’Europe 500 pour le nouveau siècle (US) et Officiel Planete (France).

Giáo Sư Tiến Sĩ Âm Nhạc Trần Quang Hải:
https://www.youtube.com/watch?v=_NIEgVlG-_Y

Đôi nét về nhạc sĩ Trần Quang Hải:
https://tranquanghai1944.com/…/09/21/tieu-su-tran-quang-hai/

GS-TS Trần Quang Hải biểu diễn đàn môi:
https://www.youtube.com/watch?v=azsPwOlTn-U

GS TS Trần Quang Hải + Bạch Yến tại Trung Tâm Văn Hóa Pháp Vân, Mississauga, Canada: https://www.youtube.com/watch?v=ruBbD7t-tRc

Sầm Giang Tái Ngộ 16 – Trần Quang Hải – Thơ tình Anh Việt ngữ:
https://www.youtube.com/watch?v=yxG5A98B48U
————————————————————————————-
Danh sách bài viết TQH bằng ngoại ngữ
1. Chủ đề hát đồng song thanh
1.Tran Quang Hai & Denis Guillou : Oriiginal Research and Acoustical Analysis in connection with the Xöömij Style of Biphonic Singing
2.Tran Quang Hai & Hugo Zemp : Recherches expérimentales sur le chant diphonique
3.Tran Quang Hai : About the terminologyused in overtone/ undertone for the throat singing/ overtone singing
4.Tran Quang Hai : Recherches introspectives et expérimentales sur le chant diphonique
5.Tran Quang Hai : Throat Singing vs. Overtone Singing / Tradition vs. Expermient: A Case of Harmonic Singing
6.Tran Quang Hai : Method of Learning of Overtone Singing Khoomei
7.Tran Quang Hai : Harmonic Resonantial Voice vs. Diphonic or Formantic Voice – Physiology and Acoustics of Vocal Production in Religioius Music
8.Tran Quang Hai : Ethnomusicology: The Contemporary use of Tuvan Overtones in Western Music
9. Tran Quang Hai : Musique Touva

Chủ đề nhạc Việt Nam
1. Tran Quang Hai : An Introduction to Vietnamese Music
2. Tran Quang Hai : Musique de la Diaspora vietnamienne
3. Tran Quang Hai : Vietnamese Music in Exile since 1975
4. Tran Quang Hai : Music of the Montagnards of Vietnam
5. Tran Quang Hai : Westernizatiiion & Modernization of the Gong of the <Highlands of Cen1tral Vietnam
6. Tran Quang Hai : Entretien avec Tran Quang >Hai , ethnomusicologue
7. Tran Quang Hai : An Interview with Prof.Dr Tran Van Khe

Tiểu sử Trần Quang Hải
1.Biographie de Tran Quang Hai 2019 in WHO’S WHO in FRANCE. — cùng với Tran Quoc Bao và 46 người khác.

Văn Môn hòa đờn cùng ban nhạc Quê Mẹ : Long ngâm; Vạn giá và Tiểu khúc (trọn bản)

Văn Môn hòa đờn cùng ban nhạc Quê Mẹ : Long ngâm; Vạn giá và Tiểu khúc (trọn bản)

208 views•Premiered 10 hours ago 110ShareSavePhạm Văn Môn 2.26K subscribers Tiếp tục đến hết bộ 7 bản Bắc Lễ (xưa gọi 7 bản Bắc Lớn) xin gởi đến quý vị 3 bản hòa tấu Long ngâm (trọn bản); Vạn giá (trọn bản) và Tiểu khúc( trọn bản) với dàn nhạc: – NNND Út Tỵ đờn Cò, – NNUT Duy Kim đờn Tranh – NSUT Văn Môn đờn guitar VN và – NNUT Huỳnh Tuấn đờn Kìm

THƯƠNG HUYỀN : Nhạc sĩ Thao Giang – cánh chim không mỏi

Nhạc sĩ Thao Giang – cánh chim không mỏi

09:13 | 06/08/2020

Mặc dù đã ngoài 70 tuổi, sức khỏe giảm sút nhưng nhạc sĩ Thao Giang – Giám đốc Trung tâm Phát triển Nghệ thuật âm nhạc Việt Nam vẫn đeo đuổi, miệt mài nghiên cứu, giữ gìn và lưu truyền các loại hình nghệ thuật dân gian Việt Nam, đặc biệt là hát xẩm.

Một đời nặng lòng với xẩm

Gặp nhạc sĩ trong khuôn viên của đình Hào Nam (phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, TP. Hà Nội), nơi ông nói được nhân dân cưu mang, cho mượn để làm trụ sở hoạt động, tôi mới thấy được tình yêu của ông dành cho âm nhạc dân gian nhiều đến nhường nào. Với mong muốn khôi phục lại những loại hình âm nhạc truyền thống đang dần bị lãng quên, năm 2005, ông cùng cố GS, NGND Phạm Minh Khang thành lập nên Trung tâm Phát triển Nghệ thuật âm nhạc Việt Nam. Những ngày đầu thành lập khó khăn chồng chất khó khăn, kinh phí thì thiếu, trụ sở lại không, ông cùng các cộng sự phải lăn lộn khắp nơi, kêu gọi các nghệ sĩ như: Thanh Ngoan, Xuân Hoạch, Văn Ty, Hạnh Nhân… chung tay giúp đỡ nhưng không lương. Rất may Trung tâm nhận được sự ủng hộ của các nghệ sĩ, cùng với sự đón nhận nồng nhiệt của nhân dân, đặc biệt là sự quan tâm của nhiều bạn trẻ muốn được theo học các loại hình nghệ thuật dân gian, Thao Giang càng thêm vững tin trên con đường “lội ngược dòng” của mình.

Nhạc sĩ Thao Giang chia sẻ về những dự định phát triển âm nhạc truyền thống

Đằng sau dáng người nhỏ của ông là cả bầu trời nhiệt huyết, nỗ lực không ngừng để khôi phục những làn điệu tưởng chừng như đã thất truyền. Ngọn lửa đam mê với âm nhạc dân tộc nhen nhóm trong ông từ những ngày ấu thơ, qua nhiều năm tháng cuộc đời, nó vẫn âm ỉ cháy. Đối với người nhạc sĩ ấy, xẩm hay những làn điệu dân ca khác luôn mang lại bình yên trong tâm hồn con người, để rồi chúng thôi thúc ông phải xắn tay áo lên, đi tìm hướng vực dậy các loại hình âm nhạc truyền thống.

Vào mỗi tối thứ bảy hàng tuần, sân khấu biểu diễn âm nhạc truyền thống trước cửa chợ Đồng Xuân của Trung tâm luôn đông nghịt người xem, đủ mọi lứa tuổi. Đối với những người cao tuổi sống tại khu phố cổ, gánh xẩm nơi đây là điều họ mong ngóng mỗi tuần. Những lời ca, tiếng hát do các nghệ nhân của Trung tâm thể hiện đã gợi lại cho họ những ký ức đẹp về nhịp sống của phố phường Hà Nội thuở nào. Xẩm không chỉ “sống” lại gần hơn với nhân dân Thủ đô mà còn “sống” lại trong lòng thính giả yêu nhạc truyền thống trên khắp cả nước, đặc biệt là nhận được sự quan tâm của các du khách nước ngoài. Có lẽ, đây là tín hiệu đáng mừng đối với những người mà cả cuộc đời nặng lòng với xẩm như nhạc sĩ Thao Giang.

Luôn đặt chữ “tâm” hàng đầu

Nhạc sĩ Thao Giang quê ở Thanh Oai – Hà Nội, học Nhạc viện Hà Nội (nay là Học viện Âm nhạc Việt Nam) từ năm 1958. Ban đầu chỉ là học lớp sơ cấp. Sau đó học dần lên, ông được giữ lại làm công tác giảng dạy sau mười năm rèn rũa tại Nhạc viện. Ông cũng từng được cử sang Ấn Độ 5 năm để học hàm thụ, biểu diễn giao lưu học hỏi kinh nghiệm. Sau nhiều năm công tác, nhận thấy cách giảng dạy theo lối cũ không còn phù hợp và khơi gợi được niềm đam mê của sinh viên, ông đã mạnh dạn đề xuất lên Khoa được thay đổi giáo trình và phương pháp dạy học, thế nhưng gặp nhiều bất cập nên không thành. Vì tình yêu xẩm quá đỗi nhiều nên nhạc sĩ Thao Giang đã từ bỏ cả cương vị Phó khoa Âm nhạc truyền thống ở Nhạc viện Hà Nội để dồn vào nghiên cứu và tìm ra “hơi thở” mới cho những loại hình nghệ thuật cổ truyền.

Nhạc sĩ Thao Giang

Qua mỗi ngày, quần chúng nhân dân lại biết đến xẩm nhiều hơn. Giọng xẩm từ đình Hào Nam đã vươn xa, vẫy gọi các học viên ở nhiều lứa tuổi khác nhau nhưng cùng chung một niềm đam mê đến Trung tâm để học âm nhạc truyền thống, đặc biệt là sự quan tâm của thế hệ trẻ. Từ chỗ chưa biết kéo đàn, chưa biết nhịp phách, gõ trống, ngân nga trau chuốt câu xẩm… qua sự dìu dắt và chỉ bảo tận tình của nhạc sĩ Thao Giang cùng các nghệ nhân khác, nay họ đã có thể biểu diễn thuần thục và đi diễn cả trong và ngoài nước. Tâm sức của những người thầy như nhạc sĩ Thao Giang đã phần nào được đền đáp xứng đáng.

Để có thể đưa xẩm vào cuộc sống hiện nay, thì ngoài việc giữ gìn và bảo tồn làn điệu cổ, nhạc sĩ Thao Giang còn dày công nghiên cứu, tìm ra những quy luật, nguyên lý xưa để bổ sung, chỉnh lý thành những làn điệu mới sao cho phù hợp với thị hiếu của công chúng hiện đại. Đối với khán giả trong nước, các nghệ sĩ phải biểu diễn làm sao đúng với tinh thần của một loại hình nghệ thuật dân gian vừa dí dỏm, hài hước, đậm chất “quê mùa” nhưng cũng vừa kiêu hãnh, đầy sự tự tôn. Đối với khán giả nước ngoài, họ lại phải biểu diễn sao cho hấp dẫn, dễ nhớ và dễ hiểu mà vẫn không làm giảm đi “bản sắc” vốn rất “đời” của loại hình này. Từ những bộ nhạc cụ đã sờn, cùng với những câu hát mộc mạc, xẩm từ chỗ tưởng chừng như mai một bỗng nhiên “cựa mình”, và ngày càng trỗi dậy, chiếm một vị trí nhất định trong lòng công chúng. Đó là kết quả xứng đáng cho những nỗ lực, sự “vật lộn” quên mệt mỏi của nhạc sĩ Thao Giang.

Cả một cuộc đời gắn bó với nghệ thuật, tình cảm của nhạc sĩ Thao Giang dành cho âm nhạc dân gian, cho Trung tâm và cho các học viên vẫn luôn vẹn nguyên như những ngày đầu. Dù tuổi đã cao nhưng ngày nào ông cũng nghiên cứu các tài liệu, tìm tòi những phương pháp giảng dạy để truyền đạt đến học viên một cách hiệu quả nhất.

Thấm thoắt 15 năm trôi qua, giờ đây Trung tâm Phát triển Nghệ thuật âm nhạc Việt Nam của nhạc sĩ Thao Giang và các đồng sự đã tự khẳng định và được khẳng định là một trong những địa chỉ tin cậy trong việc gìn giữ và phát huy âm nhạc dân gian tại Hà Nội, đáng kể nhất là việc khôi phục nghệ thuật hát xẩm Hà Thành.

Trải qua năm rộng tháng dài với nhiều biến thiên lịch sử, đã có lúc ngỡ như xẩm Hà Thành lụi tắt. Nhưng rồi nó vẫn tồn tại, vẫn “vươn mình” trở thành “thương hiệu” văn hóa không thể thiếu trong phố đi bộ. Ấy là bởi có những người thầy, những người “giữ lửa” và “truyền lửa” đầy nhiệt huyết như nhạc sĩ Thao Giang. Ông mong muốn việc đào tạo tại trung tâm được cơ quan nhà nước giúp đỡ, cùng trung tâm góp phần gìn giữ, bảo tồn và phát huy để xẩm trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày. Nhạc sĩ mong rằng thế hệ trẻ sau này sẽ không còn quay lưng lại với xẩm – một nền nghệ thuật dân gian độc đáo có từ lâu đời của dân tộc ta.

Trong âm hưởng ngân nga của tiếng sáo, tiếng đàn cất lên từ phía sân đình Hào Nam, các học viên của trung tâm đang say sưa tập luyện, nét mặt họ tươi tắn, vui mừng như được sống với niềm đam mê của mình. Tôi chợt nghĩ, tâm nguyện của người nhạc sĩ sẽ thành sự thật vào một ngày không xa…!

Thương Huyền

https://thoibaonganhang.vn/nhac-si-thao-giang-canh-chim-khong-moi-104989.html

HOÀNG THI : Sức sống của hát xẩm trong đời sống văn hóa Hà Nội

Thứ ba, 31/3/2015, 14:36 (GMT+7)

Sức sống của hát xẩm trong đời sống văn hóa Hà Nội

Những chiếu xẩm dần trở lại với người dân phố cổ, « tấn công » sân khấu lớn và được đón nhận nồng nhiệt. Loại hình âm nhạc dân gian tưởng mai một đang có đà sống dậy mạnh mẽ.

Chiếu xẩm chợ Đồng Xuân, từ gần 10 năm nay, đã trở thành nếp văn hóa của phố cổ Hà Nội mỗi dịp cuối tuần. Diễn ra tại nơi buôn bán sầm uất, quy tụ nhiều khách du lịch trong và ngoài nước, chiếu xẩm Đồng Xuân thu hút sự quan tâm của nhiều người. Trong đó, không ít người lần đầu được mục sở thị những màn trình diễn xẩm trên sân khấu; nhiều người trở thành khán giả trung thành, nhiều năm « lót dép » ngồi nghe xẩm mỗi cuối tuần; du khách thập phương, mỗi lần đến Hà Nội, thường tìm đến chiếu xẩm để thưởng thức loại hình nghệ thuật dân gian hiếm hoi xuất hiện giữa cuộc sống thường nhật thời nay.

Nhạc sĩ Thao Giang – người đứng đầu Trung tâm Phát triển Nghệ thuật âm nhạc Việt Nam, cũng là người đã cất công đưa chiếu xẩm trở thành nét sinh hoạt văn hóa thường kỳ của người dân thủ đô từ năm 2006 – kể, có những hôm trời mưa, tưởng là không có khán giả. Thế nhưng, các nghệ sĩ vẫn diễn và không lâu sau đó, mọi người lại nườm nượp kéo đến xem. Trên sân khấu rộng chừng 20 m2, người dân được cuốn theo không khí rộn ràng của các bài xẩm Vui nhất có chợ Đồng Xuân, Chân quê, Mẹ ra thành phố thăm con, Tiễu trừ tham nhũng… rồi được lắng đọng cùng ca từ, nội dung bài hát. Người nghe đủ các thành phần, từ anh bán vải, chị bán phở tới bà hàng nước, từ dân quanh khu phố cổ tới khách du lịch gần xa…

a3-7571-1427776308.jpg
Chiếu xẩm đều đặn diễn ra mỗi cuối tuần tại cổng chợ Đồng Xuân.

Từ sức hút của chiếu xẩm chợ Đồng Xuân, đến nay, thành phố Hà Nội đã ủng hộ nhân rộng mô hình. Mỗi cuối tuần, gánh hát dân gian của Trung tâm Phát triển Nghệ thuật âm nhạc Việt Nam biểu diễn ở ba nơi, với năm đêm diễn trong khu phố cổ.Advertising

Không chỉ được dân chúng đón nhận khi diễn miễn phí, hát xẩm được khán giả chào đón trên sân khấu lớn, trong những đêm diễn bán vé, như tất cả loại hình nghệ thuật có giá trị hiện nay. Đầu năm 2015, chương trình « Xẩm và Đời » của nhóm xẩm Hà Thành được trình diễn trên sân khấu Nhà hát Lớn. Người mẫu Trà Ngọc Hằng đảm nhận vai trò dẫn dắt chương trình, với vai một cô gái trẻ miền Nam tìm hiểu về nghệ thuật hát xẩm miền Bắc, trong hành trình từ xa xưa tới hiện tại. Trà Ngọc Hằng cho biết, cô đã rất bất ngờ trước lượng khán giả đông đảo yêu mến, ủng hộ nghệ thuật hát xẩm. « Khán phòng Nhà hát Lớn chật kín, đặc biệt, có một số khán giả là giám đốc câu lạc bộ Arsenal châu Á cũng mua vé đi xem nhưng đến muộn một chút nên họ phải kê ghế nhựa ngồi tận trên tầng ba. Sau buổi diễn, nói chuyện với tôi, họ hết lòng khen. Dù không hiểu ca từ, họ thích giai điệu, thích bản sắc rất Việt Nam của xẩm », Trà Ngọc Hằng kể.

Một tín hiệu nữa cho thấy sức sống bền vững của xẩm, đó là sự đón nhận, ủng hộ của công chúng với các tiết mục xẩm trên truyền hình thực tế. Hoài Lâm trong chương trình « Gương mặt thân quen 2014 » đã tạo nên cơn sốt khi hóa thân nghệ nhân Hà Thị Cầu với bài xẩm Thập Ân « Công cha ngãi mẹ sinh thành« . Nhạc sĩ Thao Giang cho rằng, bản thân tiết mục đó không phải là hát xẩm mà chỉ là sự bắt chước giỏi. Tuy nhiên, tác dụng của nó là gây hiệu ứng, khiến khán giả quan tâm và tìm nghe phiên bản gốc, từ đó đến gần, hiểu và yêu hơn hát xẩm.

Hát xẩm – tiếng lòng của dân gian

Ngày 22/2 Âm lịch được xem là ngày giỗ tổ nghề hát xẩm. Trước đây, hàng năm vào ngày này, các phường hát xẩm lại tụ họp tại một địa điểm nhất định, sinh hoạt và chỉ dẫn nhau về làn điệu, chỉ dạy con cháu tập luyện. Gián đoạn mấy chục năm, đến năm 2008, nhạc sĩ Thao Giang cùng trung tâm của ông đã khôi phục ngày giỗ tổ nghề hát xẩm tại Văn Miếu, mời tất cả nghệ nhân còn sống từ Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Bắc Ninh, Bắc Giang… tới. Trong ngày này, các cụ gặp gỡ nhau và cùng tập những bài xẩm xa xưa.

Theo nhạc sĩ Thao Giang, xẩm vốn bắt nguồn từ các làng quê miền Bắc. Sau này, khi Hà Nội hình thành 36 phố phường, nghệ nhân các làng nghề khắp nơi lên sinh sống ở Hàng Nón, Hàng Mành, Hàng Khoai, Lò Rèn… mở ra cho Hà Nội một thị trường mới, không bó hẹp trong hoạt động nông nghiệp nữa. Các nghệ nhân hát xẩm theo chân họ lên đây. Và khi đó, hát xẩm có đối tượng mới. Những bài hát xẩm ở làng quê tập hợp về đây đã được thích hợp hóa với nhịp sống Hà Nội bấy giờ. Từ đó, sinh ra dòng xẩm riêng của Hà Nội. Đặc biệt, xẩm Tàu điện ra đời, gắn với môi trường diễn xướng riêng cho đối tượng là những người đi tàu điện. Các bài hát vừa vặn một chuyến tàu từ bến này đến bến kia chứ không lê thê như ở làng quê. Về mặt văn học, nội dung các bài xẩm được đổi mới, gần gũi với người Hà Nội, đánh vào tình cảm người Hà Nội bằng thơ Nguyễn Bính, Á Nam Trần Tuấn Khải, Tú Xương, Tú Mỡ, Tản Đà…

a2-2745-1427776309.jpg
Nghệ sĩ Thu Phương biểu diễn tại chợ Đồng Xuân.

Trong khi hát văn dành cho những người đi theo đạo Mẫu, hát chèo là âm nhạc của sân khấu, hát ả đào dành cho những người sành thơ Đường, hát xẩm là thể loại thuộc về nhiều đối tượng, từ bình dân đến cao cấp. Về mặt nội dung, mỗi bài hát xẩm là một câu chuyện có đầu có cuối và bao giờ kết quả cũng có hậu. Hát xẩm mang nhiều tính đạo lý, răn dạy con người, mượn nhiều câu nói của dân gian đưa vào. Các làn điệu xẩm có thể chia theo môi trường diễn xướng – trong xẩm chợ thì nội dung gì hợp với không khí chợ sẽ đưa vào, hay xẩm nhà tơ, xẩm sông nước…

Ở từng vùng miền, xẩm có sự khác nhau do ảnh hưởng dân ca của địa phương. Trong Hà Tĩnh, xẩm đậm chất dân ca Nghệ Tĩnh, trong khi xẩm vùng gần Thuận Thành, Bắc Ninh chịu ảnh hưởng của dân ca quan họ nhưng cơ bản vẫn mang cốt cách xẩm.

a5-2398-1427776311.jpg
Nhạc sĩ Thao Giang hướng dẫn các học trò hát xẩm.

Âm nhạc dân gian vốn là những diễn xướng bắt nguồn và lớn lên, lưu truyền từ dân gian. Chính vì thế, khi được đưa ngược về môi trường khai sinh ra nó, xẩm giống như « cá gặp nước ». Tối 27/3, chương trình « Hà thành 36 phố phường » của Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Việt Nam đã đến với khán giả phường Nhật Tân, Tây Hồ, Hà Nội. Chương trình diễn ra trong không gian sân đình. Khán giả là những người dân sau một ngày lao động, ăn vội bữa tối chạy ra xem. Sự tán thưởng, hưởng ứng, tương tác của người dân với các tiết mục cho thấy, âm nhạc dân gian cần được tôn vinh trên những sân khấu lớn như một loại hình nghệ thuật.

Hát xẩm trong đời sống ngày nay

Hoàng Thi  

https://vnexpress.net/suc-song-cua-hat-xam-trong-doi-song-van-hoa-ha-noi-3175266.html

HOÀNG THI : Tâm huyết của các nghệ sĩ ‘cứu’ và bảo tồn hát xẩm

Tâm huyết của các nghệ sĩ ‘cứu’ và bảo tồn hát xẩm

thứ sáu 10/04/2015

Nhạc sĩ Thao Giang đi đầu trong sưu tầm, phục dựng nghệ thuật hát xẩm. Nhiều nghệ sĩ trong đó có những người trẻ tuổi góp phần nhân rộng và mang lại sức sống cho loại hình này.

Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam của nhạc sĩ Thao Giang ra đời năm 2005 với mục đích khôi phục, bảo tồn các loại hình âm nhạc dân gian, trong đó có hát xẩm. Đây được coi là cái nôi phục dựng, phát triển hát xẩm trong đời sống hiện nay. Nhạc sĩ Thao Giang cho biết, trước đó ông đã mất gần 20 năm nghiên cứu, sưu tầm bài xẩm từ các nghệ nhân dân gian khắp tỉnh thành thông qua phương pháp điền dã. 

Thời đó, phương tiện ghi âm còn hạn chế. Việc ghi chép chủ yếu là bằng trí nhớ, học trực tiếp từ các cụ. Phương tiện đi lại cũng khó khăn. Tuy nhiên, bằng nỗ lực và niềm đam mê, nhạc sĩ Thao Giang đã ghi lại một phần lớn di sản âm nhạc dân tộc trước khi nhiều nghệ nhân hát xẩm qua đời.

Ha-Thi-Cau-6780-1428634134.jpg
Việc cứu xẩm diễn ra giữa bối cảnh chỉ rất ít các nghệ nhân dân gian còn sống. Cụ Hà Thị Cầu cũng đã qua đời năm 2013.

Nhà nghiên cứu khẳng định, xẩm là loại hình âm nhạc dân gian có tính chuyên nghiệp chứ không phải bản năng, thô sơ. Nghiên cứu về hát xẩm, hệ thống lại toàn bộ làn điệu, ông thấy rằng nó được quy định chặt chẽ ở bốn điểm: cấu trúc âm nhạc, văn học, nhạc khí và môi trường diễn xướng.

Xưa nay, nhiều người vẫn nghĩ, hát xẩm là chỉ những người đi hát ăn xin. Thực tế không phải vậy. « Người hát xẩm không chỉ lang thang. Ngoài xẩm chợ, xẩm tàu điện… còn có hát xẩm nhà tơ (hát xẩm thính phòng). Đối chiếu bốn điểm quy chuẩn, chúng tôi thấy trong xẩm thính phòng, cấu trúc âm nhạc không ồn ào, giai điệu nhẹ nhàng, tinh tế hơn, không xô bồ như ngoài chợ mà cũng không trữ tình như trên tàu điện. Về văn học, nó đề cập đến những câu chuyện có tích của Trung Hoa chứ không phải chuyện con tôm, con cá. Về nhạc khí, đàn bầu, đàn hồ được thay cho trống phách vì diễn trong nhà ». Nhạc sĩ Thao Giang cho rằng, việc giới thiệu xẩm phải giới thiệu toàn diện để thấy xẩm là loại hình nghệ thuật có thể sánh ngang với mọi thứ nghệ thuật mà mọi người đã và đang yêu thích.Advertising

Nghệ sĩ Quang Long của nhóm Xẩm Hà Thành cũng là một trong những người theo đuổi nghiên cứu nghệ thuật này. Ông cho rằng, xẩm khó tiếp cận với các thế hệ sau bởi chủ yếu được chuyển tải bằng hình thức truyền miệng, không như chèo, quan họ… sớm được đưa lên sân khấu biểu diễn chuyên nghiệp, được biểu diễn thường xuyên trong các dịp lễ hội. Vì thế, việc phục dựng thể loại này trong điều kiện các nghệ nhân đã ra đi gần hết, đưa lên sân khấu là một nỗ lực không hề nhỏ.

Nhạc sĩ Thao Giang, Quang Long, ca sĩ Thanh Ngoan, nghệ sĩ Văn Ty, Xuân Hoạch, Mai Tuyết Hoa, Khương Cường… là những người đi đầu trong việc bảo tồn, gìn giữ thể loại này. Ngoài việc « cứu » một phần di sản mà các nghệ nhân để lại, những người nghiên cứu về hát xẩm còn có trách nhiệm tìm ra quy luật, nguyên lý cổ xưa, rồi bổ sung, sáng tác làn điệu mới phù hợp với nội dung và nhịp sống hiện đại.

Nghệ sĩ không nghĩ tới việc kiếm tiền từ hát xẩm

Các nghệ sĩ theo học xẩm tại Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam của nhạc sĩ Thao Giang phần lớn thuộc thế hệ 8X, đều đã thành nghề, cùng thầy của họ đi diễn nhiều nơi. Ngoài các đêm diễn hàng tuần ở chợ Đồng Xuân và quanh phố cổ được thành phố Hà Nội hỗ trợ một khoản nhỏ, các buổi diễn trong nội thành của nhóm thu được từ 12 tới 16 triệu đồng một đêm. Số tiền này, theo nhạc sĩ Thao Giang, có thể giúp các học trò của ông trang trải việc học nâng cao kiến thức về hát xẩm. 

Nhạc sĩ chia sẻ thêm, các nghệ sĩ trẻ hoàn toàn có thể đi diễn phòng trà kiếm tiền nhưng họ vẫn gắn liền với gánh hát của ông vì đam mê với xẩm và các loại hình âm nhạc dân tộc. « Mục tiêu của chúng tôi là tạo ra những thế hệ nghệ sĩ không chỉ biết biểu diễn mà phải có trình độ lý giải, nghiên cứu, đúc kết, tìm ra quy luật, tiếp tục truyền dạy và sau này có thể sáng tác thêm các làn điệu mới… Các em sau này sẽ là chủ nhân của những di sản tinh thần này », Thao Giang nói.

xam-4679-1428634138.jpg
Các nghệ sĩ biểu diễn trong đêm « Xẩm và Đời » của nhóm xẩm Hà Thành.

Nhóm Xẩm Hà Thành với ba thành viên chính là Quang Long, Mai Tuyết Hoa, Khương Cương vốn cũng từ cái nôi do nhạc sĩ Thao Giang gây dựng, nhưng đã tách ra từ khoảng năm 2009 – 2010 để nhân rộng nghệ thuật hát xẩm đồng thời được hoạt động theo ý thích riêng. Nghệ sĩ Quang Long chia sẻ, để theo đuổi nghệ thuật hát xẩm, các nghệ sĩ đều phải bỏ tiền túi rất nhiều bên cạnh sự hỗ trợ của các đơn vị, bạn bè… 

Theo Quang Long, nghệ thuật hát xẩm vốn không phải để kiếm tiền. Các nghệ nhân dân gian như cụ Hà Thị Cầu, Tô Quốc Phương… đều có cuộc sống vất vả. Họ hát vì niềm đam mê là chính. Các nghệ sĩ ngày nay, cũng không mong muốn kiếm tiền nhờ hát xẩm, mà chỉ mong nghệ thuật này sống lại trong đời sống và ngày càng khẳng định được giá trị của nó. Nghệ sĩ Quang Long cũng mong rằng việc bảo tồn xẩm không chỉ xuất phát từ đam mê, ý thích của các cá nhân, mà được đưa vào chiến lược phát triển văn hóa chung của nhà nước.

hoàng thi

https://vnexpress.net/tam-huyet-cua-cac-nghe-si-cuu-va-bao-ton-hat-xam-3175650.html

GS TRẦN VĂN KHÊ : NGUYỄN TRÃI & ÂM NHẠC

NGUYỄN TRÃI & ÂM NHẠC

GS TRẦN VĂN KHÊ

NGUYỄN TRÃI & ÂM NHẠC 

Đôi dòng tiểu sử

Nhắc tới Nguyễn Trãi, đa số chúng ta đều biết rằng ông sanh tại Nhị Khê, tỉnh Hà Tây, năm Canh Thân (1380), cháu ngoại của Trần Nguyên Đán, tôn thất nhà Trần; con trai của Nguyễn Phi Khanh. Lúc 20 tuổi (1400) đã đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) dưới thời nhà Hồ.

Năm 27 tuổi theo cha bị quân Minh bắt giải về Kim Lăng (1407), tới Nam quan, định đi theo để phụng sự cha trong cảnh tù đày. Nhưng để trọn hiếu, nghe theo lời cha khuyên phải trở về tìm cách báo thù cha, rửa hận nước. Ông bị giam lỏng tại Nam Đông Quan (Hà Nội).

Năm 38 tuổi (1418), ông cùng Trần Nguyên hãn trốn vào Lam Sơn, góp sức với người anh hùng áo vải Lê Lợi khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược ra khỏi bờ cõi, đem lại độc lập cho nước, tự do cho dân tộc. Ông nổi tiếng với bài Bình Ngô Đại Cáo, và là tác giả của Gia Huấn Ca, Ức Trai Thi Tập, Dư Địa Chí, Quốc Âm Thi Tập…, là một người văn võ toàn tài.

Theo phò vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi), đến ngày vua băng hà, ông lui về ẩn dật tại Côn Sơn, tỉnh Hải Dương. Năm 1434 vua Lê Thái Tông lại triệu ra làm quan. Đã nhiều lần dâng sớ cho nhà vua trong những công việc giữ nước, dựng nước.

Vua Thái Tông ái mộ Nguyễn Thị Lộ, phu nhân của Nguyễn Trãi, gọi vào cung cho làm “Lễ nghi nữ học sĩ”, dạy lễ nghi, văn chương cho các cung nữ. Khi đi tuần miền Đông, vua nghỉ đêm tại nhà của Nguyễn Trãi (vườn Lệ Chi, xã Đại Lai, trên sông Thiên Đức). Sau một đêm vua băng hà. Triều đình, các hoạn quan cho rằng Nguyễn Thị Lộ đã âm mưu giết vua và buộc tội cả Nguyễn Trãi.

Ngày 16.08 năm Nhâm Tuất (1442), Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ bị tru di tam tộc. Nỗi hàm oan ấy ngày nay mới được nhiều nhà nghiên cứu lịch sử làm sáng tỏ, nêu bật lòng trung quân ái quốc của Nguyễn Trãi cùng phu nhân Nguyễn Thị Lộ và ác tâm của bọn hoạn quan, đã cho một tỳ nữ lén bỏ thuốc độc vào bình trà của nhà vua để vu oan Nguyễn Thị Lộ và trả thù Nguyễn Trãi.

Có lẽ ít người biết rằng Nguyễn Trãi làu thông âm nhạc và đã tham gia vào việc nghiên cứu, xây dựng nền âm nhạc cung đình của nhà Lê.

Nguyễn Trãi và âm nhạc 

Có lẽ cũng cần nhắc lại một điểm quan trọng: dù rất rành chữ Hán nhưng trong sáng tác Nguyễn Trãi dùng chữ Nôm nhiều hơn cả các văn nhân thời đó. Rất nhiều bài thơ của ông (trong Quốc Âm thi tập), đặc biệt tập “Gia Huấn Ca” được viết bằng chữ Nôm.

Ông rất sành nghệ thuật uống trà, biết thưởng thức trà ngon của Trung Quốc nhưng vẫn thích trà “Tước thiệt” (lưỡi chim se sẻ) trồng tại Quảng Trị hơn các loại trà Trung Quốc. Lúc giải trí ông không thích dùng các nhạc khí và những bản đàn có nguồn gốc từ Trung Quốc. Trong bài thơ Tự Thuật ông đã viết: “Cầm Nam ta gảy khúc Nam thôi…”.

Sau khi lên ngôi – Đinh Tỵ năm thứ tư 1437 mùa xuân tháng giêng, vua Lê Thái Tông đã sai quan Hành khiển Nguyễn Trãi cùng với lễ bộ Ty giám là Lương Đăng đốc làm loan giá, nhạc khí, dạy tậ nhạc và múa (“Đại Việt sử ký toàn thư”, tập III, quyển XI, tr.112 – 146).

Hành khiển Nguyễn Trãi dâng biểu về khánh đá và tâu rằng: “Kể ra thời loạn dùng võ, thời bình chuộng văn. Nay đúng là lúc nên làm Lễ nhạc. Song không có gốc thì không đứng được, không có văn thì không hành được. Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc. Thần vâng chiếu làm nhạc, không dám không hết lòng hết sức, nhưng vì học thuật nông cạn sợ rằng trong khoảng thanh luật (1), khó được hài hòa. Xin bệ hạ yêu nuôi nhân dân, để cho các nơi làng mạc không có tiếng oán giận than sầu, đó là không mất cội gốc của nhạc vậy”. Vua khen nhận, sai thợ đá ở huyện Giáp Sơn lấy đá ở núi Kinh Chủ để làm.

Đoạn vừa kể trên chứng tỏ Nguyễn Trãi đã có học lý thuyết về âm nhạc, nhưng lại có một tư tưởng rất mới: Trong âm nhạc có nội dung (mà ông gọi là gốc của âm nhạc) vàhình thức (là văn của âm nhạc). Theo ông, cái văn không quan trọng bằng cái gốc và cái gốc xuất phát từ nhân dân. Nếu quốc thái dân an, nhân dân có được một đời sống sống ấm no, đầy đủ, được tình thương lo của nhà vua thì chỉ có tiếng nhạc vui tươi. Nếu nhân dân bị thiếu thốn về vật chất lẫn tinh thần, cất tiếng ta thán, tiếng nhạc sẽ bi ai, và ông cho rằng như thế là đã mất gốc của âm nhạc. Trong lịch sử chính trị và văn hóa nước ta, chưa người nào đưa ra những ý kiến sâu sắc về âm nhạc như vậy.

Trong lúc làm việc với Lương Đăng, nhiều điểm bất đồng đã nảy sinh giữa hai người. Lương Đăng có ý muốn chép y lại những quy định nhạc cung đình của nhà Minh, đặt ra hai dàn nhạc Đường thượng chi nhạc tấu trên cung điện, và Đường hạ chi nhạc tấu dưới sân đình.

Dàn Đường thượng chi nhạc gồm 8 loại nhạc khí thuộc về 8 âm (Bát âm) giống như dàn nhạc Triều hạ yến hưởng chi nhạc của nhà Minh, chỉ khác số nhạc khí được dùng trong biên chế. 

  1. Huyền đại cổ (trống lớn treo) thuộc về âm cách (da)
  2. Biên khánh (một dàn 12 chiếc khánh nhỏ) thuộc về âm thạch (đá)
  3. Biên chung (một dàn 12 chuông nhỏ cùng một cỡ mà trọng lượng khác nhau) thuộc về âm kim (đồng)
  4. Thiết sắt cầm (đàn sắt 25 dây tơ, đàn cầm 7 dây tơ) thuộc về âm ty (tơ)
  5. Ống sinh (một loài kèn bè) thuộc về âm bào (bầu)
  6. Các loại ống tiêu (thổi dọc), quản, thược, trì (loại sáo trúc cổ, thổi ngang) thuộc về âm trúc (tre)
  7. Chúc ngữ (chúc là một cái thùng bằng gỗ, trên lớn dưới nhỏ; ngữ là một loại hạc khí gõ hình con cọp, trên lưng có những răng để cho nhạc công cầm một miếng gỗ quẹt nhẹ dài theo lưng cọp gây nên tiếng “rẹt, rẹt”) thuộc về âm mộc (cây)
  8. Huân (một ống thổi hình trứng ngỗng, có khoét một lỗ để thổi và sáu lỗ dùng những ngón tay bấm vào, làm bằng đất nung) thuộc về âm thổ (đất)

Về các loại nhạc, Lương Đăng đề nghị có 8 loại: 

  1. Giao nhạc (dùng trong cuộc tế Nam giao)
  2. Miếu nhạc (dùng trong các miếu như Thái miếu, Thế miếu, Văn miếu…)
  3. Ngũ tự nhạc (dùng trong năm cuộc tế lễ, theo người xưa thì có thể dùng tế thần năm sắc trong cung, hoặc là năm vị thần mang tên Câu mang, Mục thư, Huyền minh, Chúc dương, Hậu thổ). Có người cho rằng năm vị thần trong cuộc tế lễ thuộc về hộ (cửa), táo (bếp), trung lưu (giữa nhà), môn (cửa lớn), hành (đường đi)
  4. Cứu nhật nguyệt giao trùng nhạc (dùng để cứu mặt trời, mặt trăng trong lúc nhật thực, nguyệt thực, vì theo tín ngưỡng của một số người Việt, khi nhật thực, nguyệt thực đang diễn ra, lúc đó có một con gấu khổng lồ muốn nuốt mặt trời và mặt trăng nên lúc đó phải có một loại nhạc dùng trống to đánh lên để làm cho con gấu hoảng sợ không dám nuốt)
  5. Đại triều nhạc (dùng trong những buổi quan trọng như Lễ ngày sanh của nhà vua, Tết Nguyên đán, ngày mồng một hay ngày rằm…)
  6. Thường triều nhạc (dùng trong những buổi triều chính thường trong tháng)
  7. Đại yến cửu tấu nhạc (dùng trong những buổi tiệc lớn)
  8. Cung trung chi nhạc (dùng để tấu trong cung như một đoạn nhạc tiêu khiển cho nhà vua và triều thần)

Bốn tháng sau, Hành khiển Nguyễn Trãi tâu rằng: “Mới rồi bọn thần cùng với Lương Đăng sửa định Nhã nhạc, nhưng sở kiến của Thần không giống sở kiến của Lương Đăng, thần xin trả lại mệnh ấy”.

Trước kia, Thái Tổ sai Nguyễn Trãi định quy chế mũ áo, chưa kịp thi hành, Lương Đăng dâng thư, đại khái nói: “Kể Lễ thì có lễ đại triều, lễ thường triều. Tế Trời, cáo miếu, ngày thánh tiết, ngày Nguyên đán thì làm lễ đại triều, Hoàng đế mặc áo cổn, đội mũ miện, lên ngồi ngai báu, trăm quan mang áo mũ triều. Còn như những ngày mồng một, ngày rằm hàng tháng thì Hoàng đế mặc áo bào vàng, đội mũ xung thiên, ngồi ngai báu, trăm quan mặc áo công, đội mũ phát đầu. Thường triều thì Hoàng đế mặc áo bào vàng, đội mũ xung thiên, ngồi sập vàng, trăm quan mặc áo thường, cổ tròn, đội mũ sa đen. Về Lễ bộ thì có đại giá, xe loan lớn, xe ngựa kéo, có kiệu cửu long (chín con rồng), kiệu thất long (bảy con rồng), có xe người kéo, đi bước một, xe chạy nhanh”.

Thư ấy dâng lên. Vua sai Lương Đăng định. Lương Đăng nhân thể mới dâng lên quy chế về áo mũ và nhạc khí. Đại khái quy chế do Lương Đăng và Nguyễn Trãi định, nhiều chỗ không hợp nhau; lời bàn về nhạc khí, lớn nhỏ, nặng nhẹ, nhiều điều trái nhau, mà cách tấu cũng không giống nhau, vì thế mà Nguyễn Trãi từ việc. Vua nghe lời đề nghị của Lương Đăng rồi làm theo (sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư không có ghi lại lời đề nghị của Nguyễn Trãi).

Vua sai chép các nghi thức ấy treo ở ngoài cửa Thừa Thiên. Vua lễ yết Thái miếu, các quan mặc triều phục làm lễ bắt đầu từ đấy.

Mặc dầu không đồng ý với cách sắp đặt của Lương Đăng, Nguyễn Trãi cũng không chỉ trích biên chế của dàn nhạc và các loại nhạc, nhưng khi hành lễ thì những chi tiết trong cách tấu nhạc có nhiều điểm rất sai. Nguyễn Trãi (với sự đồng tình của một số quan trong triều đình như Tham tri Bạ Tịnh, Nguyễn Tuyền, các quan Đào Công Soạn, Nguyễn Văn Huyến, Tham nghị Nguyễn Liễu) dã dâng sớ tâu rằng: “Đặt lễ làm nhạc, tất phải đợi được có người mới làm, được như Chu Công thì mới không có ai chê trách. Nay sai kẻ hoạn quan Lương Đăng một mình định lễ nhạc, cả nước chẳng nhục lắm ư? Vả lại, lễ nhạc của y là dối vua lừa dưới, không bằng cứ vào đâu. Như trước kia, đánh trống là báo giờ ra chầu buổi sớm, nay nhà vua ra chầu rồi mới đánh trống. Theo quy chế xưa, lúc vua ra, bên tả đánh chuông Hoàng chung, rồi năm chuông bên hữu ứng theo; lúc vua vào thì đánh chuông Nhuy tân (Di tân, một trong 12 luật lữ), rồi năm chuông cùng ứng theo. Nay vua ra chầu đánh 108 tiêng chuông, đó là số nhà sư lần tràng hạt. Theo quy chế thì vua ngồi ở cửa Phụng Thiên phải có sập vàng, ở điện Phụng Thiên phải có ngai báu, nay chỉ có một điện Hội Anh, lại chỉ có sập vàng, thế là lễ nghi gì?”.

Đám hoạn quan vì thế rất thù ghét Nguyễn Trãi và nghĩ ra mưu kế làm hại Nguyễn Trãi tại Lệ Chi Viên.

♫♫♫♫

Đọc lại trang sử đó, tôi không khỏi ngậm ngùi và tiếc cho một người tài ba lỗi lạc, hiếu với cha, trung với nước. Khi vua không phải là minh quân thì ông đã treo ấn từ quan, nhưng lúc quốc gia cần thì phụng sự hết lòng hết dạ. Trong nếp sống và quan điểm về âm nhạc, ông coi trọng bản sắc dân tộc và bài trừ những tư tưởng vọng ngoại.

Khi xưa, vì một Lương Đăng mà nhạc cung đình nhà Lê không được xây dựng vững chắc. Ngày nay, trong những việc tổ chức âm nhạc tại nước Việt, chúng ta cũng phải tránh để đừng có những “Lương Đăng” vọng ngoại và coi thường nhạc cổ truyền ViệtNam.

Bình Thạnh, ngày 26.12.2007

GS TRẦN VĂN KHÊ

——————————————————————

Ghi chú:

(1) Thanh luật là Thất thanh thập nhị luật lữ. Bảy thanh của thang âm thời xưa là Cung-Thương – Giốc – (biến chủy) – Chủy – Vũ – (biến cung).

Thập nhị luật lữ là 12 âm chuẩn, có 6 luật (thuộc về dương) và 6 lữ (thuộc về âm) theo cổ nhạc Trung Quốc mà người Việt có học đều biết:

1- Hoàng chung; 2- Đại lữ; 3- Thái thốc; 4- Giáp chung; 5- Cô tẩy; 6- Trọng lữ; 7- Nhuy tân (có nơi đọc là Di tân); 8- Lâm chung; 9- Di tắc; 10- Nam lữ; 11- Vô xạ; 12- Ứng chung.

Những âm 1-3-5-7-9-11 là luật; 2-4-6-8-10-12 là lữ
8You, Minhchau, Pham Thi Hue and 5 others2 Comments1 ShareLikeCommentShare

Comments
  • Ngân Anh Con thích bài này, hihi. « Cầm Nam ta gảy khúc Nam thôi » – câu này càng lãng du âm nhạc nhiều càng thấy thấm thía và cảm động biết bao nhiêu. Đành rằng âm nhạc không bị giới hạn bởi biên giới, nhưng để nghe « khúc Nam » thì chỉ có « cầm Nam » thôi… ^
Bùi Trọng Hiền

Bùi Trọng Hiền Thưa thầy, trong Vũ Trung Tùy Bút, Phạm Đình Hổ cho biết rằng đến năm Quang Hưng (1578-1599), « bộ Đồng văn và bộ Nhã nhạc chỉ khi nào có tế giao hay có lễ triều hạ gì lớn mới dùng đến, cho nên con cháu nhà nghề âm nhạc đều thất nghiệp cả. Tấu nhạc ở ch…See More

Việt Hải: Tiếng Đàn Vượt Thời Gian, VÔ THƯỜNG

VietHai Tran

7h ·

HÒA TẤU GUITAR VÔ THƯỜNG LÃNG MẠN – Tuyển Chọn Những Bản Nhạc Tình Khúc Guitar Không Lời Hay Nhất:
https://www.youtube.com/watch…
———————————————————————–

Tiếng Đàn Vượt Thời Gian, VÔ THƯỜNG
Việt Hải Los Angeles

Vô thường, nếu giải thích theo Phật giáo, mang ý nghĩa là « không chắc chắn », « thường thay đổi », « không trường tồn ». Vô thường là một trong ba tính chất (Tam pháp ấn) của tất cả sự vật của đời sống. Vô thường là đặc tính chung của mọi sự sinh ra có điều kiện, tức là thành, trụ, hoại không (sinh, trụ, dị, diệt) . Từ tính vô thường ta có thể suy luận ra hai đặc tính kia là Khổ và Vô ngã. Trong Đạo học phương Đông của người Trung Hoa thì chữ « Dịch biến » đồng nghĩa với chữ « Vô thường » trong Đạo Phật. Do đó nghĩa đối nghịch với « Thường » là » Vô thường ». Hay nói một cách khác: Vô thường nghĩa là không ở yên một trạng thái mà luôn luôn biến đổi. Trong Đạo Phật chữ Thường là chỉ cho Phật Tánh, Bản thể Chân như, tự tại, tự chủ không bị chi phối, biến đổi. Vì thế mà chữ Vô thường là không thường còn, bị biến thiên, bị mất đi. Trong kinh Đại Niết Bàn khi Phật nhập diệt Trời Phạm Thiên nói câu:

« Chư hành vô thường
Thị sanh diệt pháp… »

Nghĩa là: các sở hành đều vô thường biến đổi, nó là pháp sanh diệt. Tôi phải nhập đề dài dòng văn tự như vậy vì khi nghe tên của một nhạc sĩ tài hoa, mang một phương danh đầy tính chất triết lý là « Vô Thường », tôi muốn viết đôi dòng về anh, vì tôi ngưỡng mộ tài năng về sở trường đàn ghi-ta cho loại nhạc hòa tấu của anh. Tôi nghe tiếng đàn của nhạc sĩ Vô Thường rất thường. Thật vậy, phải nói là rất thường.

Cố nhạc sĩ Vô Thường tên thật là Võ Văn Thường, sinh năm 1940 tại Ninh Thuận, rất quen thuộc với giới trẻ trước năm 1975. Có lẽ hầu hết những ai ở Phan Rang cũng biết đến anh Bảy Rìu chủ quán cà phê Diễm, với phong thái rất nghệ sĩ, vui vẽ, rất điệu nghệ và ai cũng thương mến anh. Bảy Rìu là cái tên gọi mà chỉ có những người Phan Rang và bằng hữu thân thiết mới biết, còn ngoài đời thì người ta chỉ biết anh qua cái tên nghe rất tôn giáo là « Vô Thường », anh theo đạo Phật, mang pháp danh là Thiện Quả, anh nổi tiếng với ngón đàn tay trái rất đặc biệt mà nhiều nhạc sĩ sử dụng tây ban cầm hay đàn ghi-ta thường đánh giá cao về khả năng dùng tây ban cầm điêu luyện của anh.

Cố nhạc sĩ Vô Thường

Bây giờ xin giới thiệu một số bản nhạc tượng trưng của cố nhạc sĩ Vô Thường để quý ACE cùng thưởng thức. Link sau đây là danh sách khá nhiều tác phẩm mà anh trình bày qua ngón đàn sở trường mà anh để lại cho đời.

Có lẽ trong chúng ta, những ai yêu nhạc cũng có một lần nghe qua những bản nhạc ghi-ta thánh thót như thú nghe nhạc trong đêm khuya về, không gian tĩnh lặng, tâm tư lắng đọng theo từng tiếng đàn của nhạc sĩ Vô Thường,và khi đó ta và chính ta ung dung thư thái thả hồn theo cung bậc, mà nghệ sĩ Vô Thường đắm chìm với cây ghi-ta khẩy nhẹ tạo nên sự truyền cảm thật tuyệt vời, để thấy cuộc đời này quá đáng yêu phải không bạn nhỉ ? Và người nghệ sĩ tài hoa này có điểm đặc biệt là chơi đàn ghi-ta bằng tay trái rất nhuần nhuyễn đến độ được sự chú ý của Giáo sư tiến sĩ Trần Quang Hải đã viết một bài dài thòng khen tặng. Tôi xin ghi ví dụ đơn cử trích đoạn bài của nhạc sĩ Trần Quang Hải cho lời nhận định về nhạc sĩ Vô Thường như sau:

Trích một,

« Ngồi lắng nghe cuốn «Ru khúc Mộng Thường» 1, những âm điệu của các nhạc phẩm quen biết của Trịnh Công Sơn, Cung Tiến, Trần Định, Đoàn Chuẩn, Phạm Đình Chương qua ngón đàn tây ban cầm của anh Vô Thường gây cho tôi từ ngạc nhiên nây đến ngạc nhiên nọ. Người này là ai mà có ngón đàn có hồn như vậy mà mình chẳng bao giờ quen hay biết tới ? Nghe một lần, chưa đủ để nhận định. Nghe lần thứ hai, rồi lần thứ ba. Càng nghe càng thấm. Tiếng đàn chạy khắp cơ thể, vào tận trong tim não. Càng về khuya, tiếng đàn càng ảo não, như gợi cho tôi một hình ảnh đau buồn, một tâm hồn tuyệt vọng, một ảo thanh của thế giới huyền mộng chứ không phải là «mộng thường» của một anh chàng mang tên là Vô Thường. Tôi không muốn để đầu óc chuyên phân tách nhạc ngữ của tôi làm chi phối tôi mà tôi muốn để tâm hồn tôi bay theo tiếng đàn. Quên đi kỹ thuật mà chỉ nhắm vào tình cảm, để tìm hiểu con người yêu nhạc, muốn mượn tiếng đàn của mình để nói lên một cái gì đó. Và chính « cái gì đó » làm cho tôi tò mò muốn tìm hiểu thêm về con người, về hứng nhạc của anh nhạc sĩ có tên khá đặc biệt là VÔ THƯỜNG. »

Trích hai,

« Tuy không có hợp mặt cùng anh em nghệ sĩ trên sân khấu, anh vẫn tiếp tục mượn tiếng đàn tây ban cầm để dạo những khúc nhạc của thời vàng son của miền Nam. Không những nhạc Việt mà còn cả nhạc ngoại quốc. Trong một lá thơ anh viết cho tôi, anh đã kể như sau: «tôi đàn tay trái, thành ra phải học mò và đàn lấy một mình khi còn nhỏ. Không học ký âm pháp nhiều, chỉ quọt quẹt chút ít, nên đôi khi nhìn bản nhạc mà đàn thì chẳng ra hồn. Tôi chỉ ân hận những ngày còn nhỏ vứt đi những thời giờ quý báu. Thành ra cho tới bây giờ, nghĩ cũng muốn để đi vào khuôn khổ. Tôi kỳ vọng gởi hồn vào những bản nhạc những khi hứng đàn, hát và viết nhac… Đền bù vào đó, tôi rất nhớ dai và dễ học. Những bản nhạc nghe qua một lần hai lần là tôi mò ra và đánh được, dầu không đúng hẳn 100%». »

Trích cuối,

« Những sáng tác mới của anh Vô Thường là những điểm son trong làng nhạc Việt. Sự đóng góp của anh Vô Thường, tuy không to tác nhưng rất có ý nghĩa vì anh viết nhạc đặt lời rất thành thật tự đáy lòng phát ra. Anh Vô Thường là một ngôi sao sáng, một hiện tượng trong làng tân nhạc Việt ở hải ngoại. »

Để tham khảo, sau đây là toàn bộ bài viết của nhạc sĩ Trần Quang Hải ghi nhận về nhạc sĩ Vô Thường trong web-link: « Vô Thường (1940-2003): Một hiện tượng trong làng tân nhạc Việt Nam Hải Ngoại. »:

http://www.tranquanghai.info/p927-tran-quang-hai-%3A-vo-thu…

Tôi có 17 CD nhạc hòa tấu Vô Thường, nhưng trên internet thì web-link của « nhaccuatui » set automatically continuous mode mình có thể nghe liên tục một bài nhạc nào đó mình thích, tôi nhớ tôi mê tiếng đàn của nhạc sĩ Vô Thường khi nghe bài « Kể chuyện trong đêm », tôi set counter đếm số lần nghe hơn 200 lần. Tôi đã nghe bài nhạc này của nhạc sĩ Hoàng Trang qua vài giọng hát, nhưng thú thật tim tôi không rung cảm, không « phê » xao xuyến như khi nghe tiếng đàn « từng tưng từng… », nghe sao mà « đã » quá trời như hồn bay bổng lên mây cao của thinh không vắng lặng lúc khuya lắc khuya lơ, của âm nhạc Hoàng Trang và Vô Thường. Tôi nghĩ cuộc sống này cần âm nhạc ru hồn ta, những tâm hồn cằn cỗi, lạc lỏng cho kiếp sống nhân sinh có ý nghĩa hơn, thăng hoa cao hơn. Đúng chứ lị?

Kể chuyện trong đêm, Hoàng Trang, Vô Thường:
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=XulFb6ROtl

Có lần tôi van cậu con trai út của tôi hãy tập đàn ghi-ta bài « Kể chuyện trong đêm », lúc 12 giờ khuya thôi, con tôi là một guitarist, nhưng mang goût nhạc của mấy ông “ngoại kiều” AJ Rafael, Taeyang hay Michael Jackson. Mỗi ngày tôi đưa 2 con đi học trên xe chỉ cho các cháu nghe nhạc Việt, không có air nhạc ngoại kiều AJ Rafael, Taeyang hay Michael Jackson,… Tôi nghe mà hiểu mấy ông ngoại kiều này ca những gì xin cho chết liền đi thôi. Tôi van Cao Xanh cho tiếng ghi-ta nhà tôi chuyển hướng theo tiếng nhạc ghi-ta « từng tưng từng… » như của nhạc sĩ Vô Thường đi nhe hai con trai, làm ơn đi mà…

Thi sĩ Lê Hân trên Bắc Cali biết tôi say mê nhạc hòa tấu Vô Thường, nên anh hứa sẽ làm một link nhạc Vô Thường’s collection chạy liên tục trong trang website của anh, cũng để giới thiệu một số bài tiêu biểu về tiếng đàn bất tử này và cũng để tặng cho tôi.

Theo lời một người bạn của nhạc sĩ Vô Thường kể lại là Ngón đàn guitar của anh tạo nên câu chuyện phi thường, bởi vì anh không nghĩ tiếng đàn amateur của anh tại tiệm Kim’s Furniture dạo nào, ở những lúc nhàn rỗi ôm ghi-ta thùng dạo đàn vời thú đam mê âm nhạc, đã đưa tên tuổi anh lên tột đỉnh danh vọng. Tiếng đàn cùa anh đi từ Kim’s Furniture đến Ritz Nightclub, rồi giã từ nightclub trở lại nghề furniture, những bước văn nghệ thăng trầm của cuộc đời. Cuộc đời thăng trầm ấy đã tạo ra những CD của anh được vô số thính giả từ khắp nơi chú ý, không cứ thính giả người Việt, mà người ngoại quốc cũng biết đến anh. Tôi có anh bạn nha sĩ bên Illinois, phòng mạch được đệm cho không gian tĩnh lặng bằng nhạc hòa tấu Vô Thường, luôn luôn với nhạc Vô Thường, khách địa phương rất thích thú với tiếng đàn của người nhạc sĩ đến từ vùng đất xa xôi với đất nước Hoa Kỳ này.

Rồi tôi có người bạn làm ngành neo, tiệm của cô trang trí khá đẹp ở vùng Palm Springs, California, cô ru hồn khách neo trong giờ neo thư thái bằng nhạc Vô Thường. Cô kể bí quyết cô chiều các bà khách quen, thông thường các khách tan sở sau 5 giờ bụng đói meo, cô cho mấy bà khách quen nhâm nhi cheese và rye crakers hay melba toast, thêm một ly (cup) Cabernet Sauvignon hay Chardonnay Blanc, madame nào không thích wine thì serve Martinelli’s Sparkling Cider. Đó là lót dạ dầy, song song lót thính nhĩ bằng nhạc hòa tấu Vô Thường, mấy madame Cờ Huê chịu quá sá, mồm khen ríu rít: « Hey, Pam, so fabulous! so wonderful! ». Cô chủ Pam cười tít mắt vì tiệm càng đông với Mỹ chồng, Mỹ vợ, Mỹ con, Mỹ mẹ, Mỹ cha, Mỹ bạn, Mỹ bồ,… Cô chủ Pam kể tôi nghe: « Có hôm các madame hỏi bài này tên gì nghe hay quá vậy ? Bà dịch sơ ý nghĩa được không? », cô cười hăng hắc nói tiếp: « Em làm neo chứ đâu phải nhà văn như mấy anh mà văn chương bóng bẩy với: Yêu em dài lâu, Bảy ngày đợi mong, Mùa thu yêu đương, Bây giờ tháng mấy hay Áo lụa Hà Đông thì chữ nghĩa lấy đâu mà dịch nổi. Em mà dịch được xin cho chết liền đi! ». Tôi nghe lời nói thành thật của Pamela mà mồm cười sặc sụa, tôi thầm bảo Pam hãy hỏi mấy ông tác giả nhạc sĩ đi thôi, tôi mà « dịch được xin cho chết liền đi! ». Pamela à, nhạc Đức Huy hãy để nhạc sĩ Đức Huy dịch,…, nhạc Ngô Thụy Miên hãy để nhạc sĩ Ngô Thụy Miên dịch cho chắc ăn, như vậy chúng ta không bị chết oan ức, chết oan uổng nhé.


Pam kể tiếp có hôm có bà khách neo là luật sư, gốc người Montreal nói tiếng Anh, Pháp sành sỏi như gió, bà nghe nhạc hòa tấu Vô Thường hay quá, bà thích thú ngỏ ý muốn mua lại hết series 15 CD, Pam nói cô mua mỗi CD bảy tì tươi Mỹ quốc tại khu Bolsa, vùng Little Saigon, cô bán lại cho bà khách luật sư 10 tì tươi, vị chi bán nhạc không lời đã kiếm lời được 3 tì tươi mỗi CD cho chi phí chạy xa, cho tiền xăng nhớt per round trip Palm Springs- Little Saigon, dù là CD pre-used. Nói lên điều này cho thấy là âm nhạc là ngôn ngữ chung, khi người ta thích tiếng khẩy đàn điêu luyện của CD nhạc hòa tấu Vô Thường, cũng có nghĩa là người ta thích âm nhạc của Đức Huy, Trần Thiện Thanh, Lam Phương, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên,… Tiếng đàn của Vô Thường minh chứng cho người ngoại quốc thấy rằng nhạc Việt Nam ta và « nhạc ngoại » đều bình đẳng, xêm xêm hay ngang nhau qua air ghi-ta độc đáo của Vô Thường. Và phải chăng đó là cái công to lớn của người nhạc sĩ tay trái Vô Thường ? Pamela còn kể có bà khách khác là một bác sĩ đã nhờ Pam mua CD Vô Thường vì bà thích nghe nhạc hòa tấu của anh khi lái freeway mỗi ngày đi làm xa nhà, trước đó bà chỉ nghe nhạc hòa tấu của Richard Clayderman thôi. Bravo nhạc sĩ Vô Thường!!!

Nếu nhạc hòa tấu của Richard Clayderman đàn piano tuyệt vời qua các bài: Mariage D’Amour, Right here waiting for you, Viens M’ Embrasser, Careless Whisper, Love Me With All Of Your Heart, Yesterday, Aline, Romeo & Juliet, hay Love Story,…thì tiềng đàn guitar của nhạc sĩ Vô Thường vang âm thanh thánh thót, ru hồn người nghe, tuyệt vời chẳng kém, phải không bà khách neo emdee của Pamela ?

Như người bạn của nhạc sĩ Vô Thường đã ôn lại từ quá khứ, thuở ban đầu anh tự học đàn một mình, những lúc ngồi chờ khách rảnh rang ở tiệm bán « bàn ghế giường tủ », anh mang đàn ra đàn giải sầu, rồi sau đó bạn bè khuyến khích anh thu vào cassette, tặng những khách hàng thân hữu để nghe lúc lái xe. Bỗng dưng nhạc độc tấu của anh lại trở nên thông dụng và lan rộng mau lẹ vào những quán café, nhà hàng ca nhạc. Thính giả nồng nhiệt khen ngợi mở cho anh một con đường mới là tiến vào kỷ nghệ thu thanh qui mô hơn, thu âm vào băng và dĩa CD. Nhạc anh tiến xa hơn, bán ra thị trường âm nhạc Hoa Kỳ. Một sự hãnh diện đấy chứ ! Anh đã tự sản xuất gần 150 CD, ghi lại trên dĩa gần 2000 bản nhạc hòa tấu hay nhạc không lời, bán riết thì sẽ có lời mà thôi .

Tác phẩm của anh được bà con mọi giới đón nhận nồng nhiệt khắp nơi. Tại hải ngoại, nhất là Hoa Kỳ, nhạc Vô Thường được phổ biến khá rộng rãi. Đa số thính giả ái mộ nhạc Vô Thường vì những bài nhạc quen thuộc anh cho thu âm nhiều bản nhạc top hits trước năm 75, cũng như một số nhạc top híts sau năm 75. Nghe nhạc Vô Thường người ta được gợi nhớ những kỷ niệm hay những ngày tháng cũ đã qua, dù trước hay sau năm định mệnh 1975. Hãy thử nghe một bài nhạc tiêu biểu do anh sáng tác, viết nhạc, đặt lời. »

“Mưa Tình Dĩ Vãng”, Nhạc và lời: Vô Thường, ca sĩ: Jazzy Dạ Lam
http://www-personal.umich.edu/~n…/Stories/MuaTinhDiVang.html

Ngoài tài nghệ sử dụng đàn ghi-ta thuần thục, nhạc sĩ Vô Thường cũng sáng tác một số ca khúc tình cảm lãng mạn, nhưng chẳng may phần số không cho anh đi xa hơn nữa, ânh khám phá ra mình mang cơn bệnh ngặt nghèo, bao ước mơ, bao dự án trở thành không hiện thực được. Ðiều ước nguyện mà anh được toại nguyện là đoàn tụ với hai cô con gái đã xa cách bố từ năm 1975. Các cháu, Thương Diễm và Diễm Khanh, mới sang được vài năm thì cha lại lâm trọng bệnh; Trước khi ra đi, anh trăn trối, gia tài duy nhất của cha để lại cho hai con gái là nghề thu âm và cả ngàn bài nhạc hòa tấu mà anh đã sản xuất.

Nhạc sĩ Vô Thường giã biệt dương thế vì chứng ung thư phổi vào mùa xuân 2003, hàng trăm anh chị em văn nghệ sĩ, bạn bè trong ngành thu âm đến tiễn biệt anh đông đủ, tang lễ rất cảm động. Ngày còn sống, anh sống rất hòa nhã, dễ chịu, thân thiện với mọi người. Do đó bạn bè và khách mộ điệu say mê tài năng âm nhạc của anh không bao giờ quên người nhạc sĩ Vô Thường, dù như cái tên phù vân, mây bay đến rồi bay đi, nhưng tiếng đàn tây ban cầm của anh vẫn sống mãi với dương thế, nơi anh đã bỏ tất cả ra đi. Nhạc sĩ Vô Thường đã mệnh chung vào ngày thứ bảy 26 tháng 4, 2003, vào lúc 14giờ30.

Đôi dòng này để nhớ về nhạc sĩ Vô Thường (*), với tiếng đàn bất tử, phi thường vượt thời gian, vẫn sống mãi trong tâm hồn người thưởng ngoạn và vì sở thích quen nghe nhạc anh đàn. Chúng tôi xin cảm ơn anh, người nghệ sĩ tài hoa Vô Thường.

Việt Hải, Los Angeles.
July, 2010
—————————————————————-
Link: http://www.ninh-hoa.com/VietHai-TiengDanVuotThoiGian-VoThuo…7

The Jimmy Show | Thu Hương (Guest Star: Bạch Yến) | SET TV www.setchannel.tv

Jimmy Nhựt Hà is with Chí Linh and 17 others.

Đài truyền hình SET và Chương Trình The Jimmy SHOW kính mời quý vị cùng theo dõi buổi tâm tình với nữ ca sĩ Thu Huong và người bạn thân của cô là ca sĩ Bach Yen

Thu Hương là tên thật và cũng là nghệ danh của Cô. Cô sinh năm 1942. Cô là ca sĩ của đài phát thanh Sài gòn từ 1956. Ngoài ra Cô còn đi hát ở một số phòng trà như Kim Điệp, Anh Vũ… Với Kiến thức nhạc lý vững vàng và giọng hát trầm ấm, nhẹ nhàng, duyên dáng nên Cô đã trúng giải nhì của cuộc thi tuyển lựa ca sĩ của đài phát thanh Sài gòn tổ chức vào năm 1956.

Cô là ca sĩ Thế hệ thứ 3 của nền tân nhạc Việt Nam theo hồi kí của nhạc sĩ Phạm Duy, Cô hát cùng thời với ca sĩ Lệ Thanh, Thái Xuân, Thùy Hương, Thùy Nhiên, Thanh Lan lớn ( tức Bà Cao Xuân Vỹ ) Thanh Thúy và Trúc Mai, Trúc Thanh…

Jimmy xin cám ơn cô Thu Hương đã đón tiếp Jimmy và dành cho chương trình buổi phỏng vấn ngay tại nhà cô, cũng như Jimmy không quên cám ơn cô Bạch Yến đã đi cùng Jimmy đến thăm cô Thu Hương và góp tiếng nói nhắc nhớ về ngày xưa đi hát với cô bạn của mình mà cô đã âu yến gọi bằng chữ « Bồ » Quý vị có thể theo dõi chương trình của đài Saigon Entertainment Television (SET) phát song trực tiếp trên các hệ thống sau: Đài SET 1 phát trên băng tầng 57…youtube.comThe Jimmy Show | Thu Hương (Guest Star: Bạch Yến) | SET TV www.setchannel.tvQuý vị có thể theo dõi chương trình của đài Saigon Entertainment Television (SET) phát song trực tiếp trên các hệ thống sau: Đài SET 1 phát trên băng tầng 57…