Auteur : tranquanghai130544

Minh Hoà : Để các di sản văn hóa phi vật thể không bị mai một

20:00 | 23/07/2016

“Nhiều di sản văn hóa phi vật thể kén người kế thừa, kén cả người thưởng thức. Nhưng không vì thế mà chúng ta để cho các loại hình đó mai một hay phát triển biến dạng”

Sơn mài dấu ấn hội họa Việt
Hát bả trạo trở thành Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Đó là trăn trở của giáo sư Ngô Đức Thịnh – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam, người dành tâm huyết cả đời nghiên cứu văn hóa Việt Nam. Ông luôn đau đáu một nỗi niềm trước thực trạng những di sản văn hóa phi vật thể của đất nước đang đứng trước nguy cơ mai một.

Mặt trái của phát triển

Theo GS. Ngô Đức Thịnh, không riêng Việt Nam, ở các nước phát triển như châu Âu, trong thời kỳ công nghiệp phát triển, văn hóa cũng bị tàn phá ghê gớm. Nguyên nhân chính là do kinh tế, xã hội thay đổi quá nhanh. Khi mất đi cơ sở xã hội, các loại hình nghệ thuật – các di sản phi vật thể dần bị lung lay. Ở Việt Nam đã hiển hiện thực trạng nhiều sân khấu truyền thống không còn duy trì được vị thế như trước đây hoặc phát triển theo chiều hướng không tích cực.

Thanh Đồng Hoàng Gia Bổn đang thực hành nghi lễ Hầu đồng trong tín ngưỡng thỡ Mẫu – một di sản phi vật thể được phục hồi và phát triển khá rầm rộ. (Ảnh: MH).

Thật vậy, nhìn lại hành trình di sản của Việt Nam, có thể nhận thấy, trong thời kỳ chiến tranh, thời kỳ bao cấp, nhiều loại hình nghệ thuật đã nay đã được phục hồi lại, nhưng không được như nguyên bản. Đơn cử như di sản Đờn ca tài tử ở miền Nam, trước đây rất phát triển. Sau mỗi vụ mùa, nhiều gia đình đã mời các ban Đờn ca tài tử đến biểu diễn, trở thành không gian sinh hoạt văn hóa đặc sắc của người dân. Đến nay, dù đã được UNESCO công nhận, loại hình này đã phát triển trở lại nhưng vẫn bộc lộ nhiều hạn chế.

Ở miền Bắc, theo GS. Ngô Đức Thịnh, may mắn nhất chính là loại hình ca trù. Có thể nói, trong quá khứ, di sản này từng rất phát triển, từ trong cung đình ra đến các tầng lớp dân gian. Thế nhưng, chiến tranh đã làm cho loại hình này gần như bị biến mất. Số nghệ nhân hát ca trù đã nằm trong báo động đỏ khi kiếm nhiều làng mới tìm được người ca, còn người cầm trống thì có khi cả vùng mới có lấy một người.

Trong số những di sản văn hóa phi vật thể, không thể không kể đến loại hình hát chầu văn. Từng bị coi là mê tín dị đoan, sức sống mãnh liệt của chầu văn trong đời sống dân gian, trong cộng đồng đã khiến loại hình này tồn tại và hưng thịnh trở lại và sắp trở thành di sản được thế giới công nhận. Mặc dù vậy, theo giáo sư Thịnh, sự phát triển của hát chầu văn có thể bị biến dạng, cần được theo sát và uốn nắn.

Truyền dạy – giải pháp bền vững

Di sản văn hóa phi vật thể tiềm ẩn trong con người – trong nghệ nhân, trong môi trường thực hành. Vì vậy, bảo vệ văn hóa phi vật thể là bảo vệ con người, đặc biệt là nghệ nhân. Và phải có môi trường để văn hóa phi vật thể – nghệ nhân bộc lộ ra.

Ngày nay, lễ hội được tạo dựng và phát triển mạnh mẽ chính là nơi để các nghệ nhân bộc lộ tài năng. Chúng ta tôn vinh các nghệ nhân chính là cách giữ gìn văn hóa phi vật thể. Thế nhưng, theo GS. Ngô Đức Thịnh, các nghệ nhân nên cần được tạo điều kiện để truyền dạy các loại hình văn hóa phi vật thể mà họ sở hữu, lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Có như vậy, sự phát triển của xã hội nói chung và việc bảo vệ văn hóa phi vật thể nói riêng mới vững bền.

Theo GS. Ngô Đức Thịnh, một số loại hình tuy không mất đi nhưng rất kén người truyền dạy và kén cả người thưởng thức, có nguy cơ mai một cao như Ca trù, hát Xoan. Nhiệm vụ của chúng ta lúc này là nếu không thể giúp những loại hình này phát triển mạnh thì cũng cần có giải pháp để giữ cho nguyên vẹn. Còn những loại hình nào đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo quần chúng thì nên phát triển bởi chúng ta cần tôn trọng chủ thể văn hóa.

Ở các nước như Nhật Bản và Hàn Quốc, chế độ đãi ngộ dành cho nghệ nhân rất tốt như hưởng trợ cấp cao, khám chữa bệnh, đi lại… miễn phí. Các nghệ nhân được gọi là báu vật sống của xã hội. Ở các nước phương Tây, nghệ nhân thường được tạo điều kiện, tạo môi trường tốt đã để thể hiện mình, mài giũa nghề, có thu nhập, có môi trường phát triển.

Trước những thực trạng và nguy cơ mà các loại hình văn hóa phi vật thể Việt Nam đang phải đối mặt, theo GS. Ngô Đức Thịnh, để bảo vệ và phát triển bền vững các loại hình văn hóa này, cần có sự kết hợp đồng thời nhiều giải pháp, từ nhiều khía cạnh. Chẳng hạn như những di sản bị đứt quãng thì phải khôi phục lại cho hoàn chỉnh và hình thành những sinh hoạt cộng đồng để gắn kết và duy trì truyền thống.

Trước mắt cần làm tốt công tác về tinh thần. Nhà nước tiếp tục tôn vinh nghệ nhân, khuyến khích nền tảng văn hóa gia đình, niềm tự hào trong gia đình và họ tộc, tạo điều kiện cho các nghệ nhân truyền thụ di sản văn hóa cho thế hệ sau. Thứ hai là có chính sách, giải pháp hỗ trợ những nghệ nhân gặp khó khăn, tạo môi trường cho các nghệ nhân phát triển, để họ chuyên tâm làm phong phú văn hóa cộng đồng.

Và, xa hơn nữa là phải làm sao cho người dân có thể khai thác những giá trị di sản đó để phục vụ đời sống thì mới gìn giữ và phát huy di sản đó lâu dài và bền vững.

Nghi lễ và trò chơi Kéo co là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Ngày 2/12, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 10 của UNESCO …
Ca Huế trở thành Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch vừa công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đây là loại hình …
Về nguồn – trải nghiệm cùng di sản văn hóa phi vật thể ở Hà Nội Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội vừa phát động chương trình « Về nguồn – Trải nghiệm cùng di sản văn hóa …

Minh Hòa ghi

http://baoquocte.vn/de-cac-di-san-van-hoa-phi-vat-the-khong-bi-mai-mot-33147.html

http://baoquocte.vn/de-cac-di-san-van-hoa-phi-vat-the-khong-bi-mai-mot-33147.html


Để các di sản văn hóa phi vật thể không bị mai một

10 Bài Ca Trù Thành Danh Của Nghệ Nhân Vân Mai || Chinh Phục Đỉnh Tháp Ca Trù

10 Bài Ca Trù Thành Danh Của Nghệ Nhân Vân Mai || Chinh Phục Đỉnh Tháp Ca Trù

9X STUDIO Du Lịch Khám Phá Ajoutée le 20 août 2016 Tuyển Chọn 10 Bài Ca Trù Thành Danh Của Nghệ Nhân Vẫn Mãi , Tiếng Ca Chinh Phục Đỉnh Tháp Ca Trù Việt . Xem Thêm : ►Dân Ca Việt Đặc Sắc – https://goo.gl/byUHd7 ►Đăng Ký Kênh & Nhận Video Mới Nhất – https://goo.gl/6dbsSW ►Làn Điệu Hát Văn Tại – https://goo.gl/W5cz4h ►Những Bài Hát Chèo Hay – https://goo.gl/ic3ACs ►Làn Điệu Xứ Huế – https://goo.gl/qGTC5E ========================== Quý Vị & Các Bạn Nhớ Like , Share Và Subscribe , Hãy Để Lại Những Cảm Nhận Của Riêng Mình Khi Xem Xong Dưới Phần Bình Luận , Chân Thành Cảm Ơn Quý Vị Đã Theo Dõi Và Ủng Hộ , Chúc Vui Vẻ Hạnh Phúc …. ========================== Không phải con nhà nòi, cũng không được đào tạo bài bản, nhưng chỉ vì “mê” ca trù, nghệ nhân Vân Mai đã tự khổ luyện hơn chục năm, để trở thành một nghệ nhân “có tiếng” trong làng ca trù Hà Nội hôm nay.Nghệ nhân Vân Mai sinh ra ở quê lúa Thái Bình, gần làng chèo Khuốc nổi tiếng, nên “mê” văn nghệ. Ông trời ưu ái cho chị chất giọng vừa trong, vừa khỏe, nên chị có thể hát tốt được nhiều thể loại, từ hát chèo, đến hát quan họ, hát chầu văn… Nhưng sau này, chị cũng không gắn bó với những loại hình nghệ thuật này.Không chỉ chinh phục người nghe bằng chất giọng mượt mà, trong vắt, nghệ nhân Vân Mai được giới chuyên môn đánh giá cao khi chị có công phục hồi điệu hát “Non mai hồng hạnh”, một điệu ca trù cổ đã thất truyền 70 năm.

Những câu chuyện kể trong tín ngưỡng Then

Những câu chuyện kể trong tín ngưỡng Then

Dang Hoanh Loan Ajoutée le 20 juin 2018 Những câu chuyện kể trong các lễ then đã vẽ ra một thế giới siêu thực, khác lạ với thế giới loài người. Nơi ấy cũng có núi đồi, đồng ruộng, sông ngòi, biển khơi, làng bản; cũng có phố xá, chợ búa ; cũng có cung vua, phủ chúa, cũng ăn chơi, cũng tiệc tùng nhưng khác nơi trần thế. Những lực lượng ngự trị thế giới ấy là xã hội hồn ma, xã hội tiên thánh – những người có đời sống phi phàm, sinh ra để cai quản tinh thần của thế giới con người. Những câu chuyện kể trong các lễ then còn là dịp đưa con người đi du ngoạn trong thế giới ảo đây kì thú, khơi gợi trí tượng tượng, tạo ra những phút giây hưng phấn thoát khỏi cuộc sống trần tục còn nhiều vất vả.

VŨ THẾ THÀNH: GIÀ ĐẦU CÒN MÊ NHẠC SẾN –

GIÀ ĐẦU CÒN MÊ NHẠC SẾN – VŨ THẾ THÀNH.

“Người từ ngàn dặm về mang nỗi sầu…” (Thu sầu- Lam Phương)

Hồi nhỏ tôi mơ làm…kép cải lương. Ước mơ “khủng” này không xuất phát từ giọng ca đầy “tiềm năng” của tôi mà đơn giản vì… tiền. Một thằng nhóc 8- 9 tuổi mơ số tiền lớn cỡ cát xê danh ca Út Trà Ôn thì hơi không bình thường. Nhưng đó là nguyên nhân gần, chứ nguyên nhân sâu xa là tôi bị nhiễm máu giang hồ lục tỉnh.

Coi cải lương thì tôi có cơ hội đi “ăn theo” mấy bà chị, nhưng xem xi nê, dù xoay sở cách mấy tôi cũng đành phải coi… cọp.

Tôi thường lê la ở rạp Văn Cầm gần cầu Kiệu, thấy anh chị nào quởn quởn là lẩn theo như em út vào xem ké. Giao du với đám nhóc gần đó, tôi cũng biết thêm vài mánh xem cọp, chẳng hạn chỉ cần mua một vé, một thằng vào trước, rồi lẩn ra góc rạp đưa vé đã xé cho thằng khác, có sẵn cái cùi vé vất đi, dán sơ xịa vào, rồi tỉnh bơ chìa cho ông soát vé vào rạp, rồi lại tiếp tục tuồn vé cho thằng sau….

Trót lọt vài lần, tôi về xóm, họp bè bạn, hãnh diện tuyên bố trưa chủ nhật này sẽ dẫn chúng đi xem phim Ben Hur với chiếc vé…thần. Cả bọn hào hứng, bàn tán, và ngưỡng mộ. Buồn thay! Một thằng em với điệu bộ lúng túng của kẻ phạm tội lần đầu đã làm hỏng chuyện, không qua mặt nổi ông soát vé ngờ nghệch nhất. Thế là cả lũ bị điểm mặt từng tên, thất bại ê chề…

Trưa chủ nhật nằm chèo queo trên căn gác gỗ, gặm nhấm nỗi hờn quê độ với bè bạn, ê ẩm cả người. Tôi vớ đại tờ báo “Kịch Trường” của bà chị, đọc qua loa để xua đi nỗi buồn. Mắt tôi chợt sáng lên khi đọc thấy tin Út Trà Ôn vừa ký contract ba bốn chục vạn gì đó với một gánh hát. Trời đất! Vé xi nê chỉ có 3 đồng, và như điện xẹt, tôi ư ử vài câu vọng cổ, rồi bỗng mơ mộng mình thành kép hát cải lương mà không cần biết hò xự xang xê cống ra sao, cũng chẳng cần biết giọng ca mình là cái thá gì. Có tiền, tôi sẽ bao cả bọn đi xem xinê, không chỉ một lần mà nhiều lần, bao cả bè bạn bà con của chúng luôn, sẽ mua đậu phộng da cá mang vào rạp ăn vặt, mua cả hạt é, xi rô đá nhận để giải khát,… Cứ thế và cứ thế tôi chìm vào giấc ngủ trưa với giấc mơ hào hiệp.

Cải lương dính dáng với tuổi thơ tôi như vậy đó, chẳng yêu chẳng ghét. Nó như một chiếc cầu nối để tôi mơ mộng nhiều thứ.

Năm tháng trôi qua, ở cái tuổi xem xi nê không còn hào hứng đứng dậy vỗ tay nữa, tôi xoay qua nghe nhạc lãng mạn. Thời sinh viên ai chẳng uống cà phê nghe nhạc, mà nghe nhạc gì mới được. Phải là nhạc cổ điển, nhạc tiền chiến, nhạc trữ tình, lời lẽ ẩn dụ, êm ái như thơ,… Cái gout nhạc ngon lành này đã vô tình (?) vạch ra một ranh giới mù mờ giữa cái gọi là nhạc “hàn lâm”, và phía kia là nhạc sến. Một đàng là của giới có học, thưởng thức điệu nghệ. Đàng kia của giới bình dân, lời lẽ giản dị, phơi bày, âm điệu dễ nghe, dễ hát, thường là điệu bolero, rumba, habanera,..

Chữ “sến” hàm ý chê bai diễu cợt một kiểu cách bày tỏ nào đó: “Thằng này ăn mặc“sến” quá!”, và người ta cũng có thể nói: “Thằng này ăn mặc “cải lương” quá!”. Theo cách hiểu đời thường, chữ “sến” đồng nghĩa với “cải lương”. Đụng tới “cải lương” là tôi thấy…phiền, dù sao đó cũng là ký ức của một thời hào hiệp. Nhạc sến và cải lương có quan hệ mật thiết, chẳng phải người ta nói là tân cổ giao duyên đấy sao! Tôi không yêu cũng không ghét cải lương hay nhạc sến. Nói đúng ra, hồi đó tôi mơ hồ thấy nhạc sến cũng không tệ, chỉ có điều không dám nói ra điều đó với ai.

Những năm sau 75 lắm chuyện đổi đời. Một buổi khuya lạng quạng về nhà trong cơn say, tôi chợt nghe văng vẳng, giọng hát của ai đó:

“Có người con gái buông tóc thề,
Thu về e ấp chuyện vu quy…”

Bài hát đúng là sến, giọng hát cũng sến, nhưng làm tôi ngẩn người… Cái âm u kinh viện của đống sách triết học, chỉ muốn với tay lên cõi trên, khiến tôi thờ ơ với chút tâm tư giản dị và hết sức đời thường của một thiếu nữ. Chợt nhớ đến đám bạn, sau 75, bỗng nhiên ào ào lấy vợ lấy chồng để gọi là “thích nghi với tình thế ”, hay chờ ngày ra đi. Con hẻm nhỏ ngoằn ngoèo còn đọng những vũng nước mưa. Như vừa thấm thía ra điều gì đó, tôi dừng chân, dựa tường nghe đến hết bản nhạc: “ …Có ai ngồi đếm mùa nhung nhớ, nỗi niềm đầy lại vơi, mỗi mùa tiễn đưa một người…”. (Nỗi buồn gác trọ – Mạnh Phát (?) )

“Nỗi buồn gác trọ” làm tôi liên tưởng đến một bản nhạc khác (không nhớ tựa đề), lõm bõm vài câu thế này: “… Em biết thân em phận gái nghèo hèn, mà lỡ yêu thương ai rồi, cầm bằng như áng mây trôi…”. Chuyện tình tan vỡ vì thân phận giàu nghèo, giai cấp có đầy trong cuộc sống. Nỗi đau được bày tỏ qua tiếng nhạc bằng ngôn ngữ đời thường dù hơi thiếu chất thơ một chút, thì liệu có nên lãnh đạm chỉ vì nó là nhạc sến ?

Nhạc Việt nhiều khi nghe hay là do ca từ. Ca từ trong nhạc Trịnh Công Sơn cứ ngắt câu chấm xuống hàng là thành bài thơ. Nhạc Việt có chất thơ, có vần có điệu, có lẽ do ảnh hưởng ca dao hay hát ả đào chăng? Vần điệu của ca từ có thể đưa đến ý, đến nhạc, để rồi vần điệu đẻ ra nỗi lòng, chứ chưa chắc nỗi lòng đẻ ra vần điệu. Sự trộn lẫn này khó bóc tách. Nếu nghe nhạc không lời, mà trước đó chưa hề biết lời của bản nhạc, thì nhạc Việt nghe hơi khó một chút. Nhạc và lời cấu thành bản nhạc khó tách rời.

Nhạc Tây hình như thiên về nhạc hơn lời, và không phải bản nhạc nào của Tây cũng có ca từ hay như bài Sacrifice của Elton John (lời B. Taupin), hay bản Papa của Paul Anka. Ca từ của nhạc Beatles hay Abba nếu dịch ra tiếng Việt thì nghe chán phèo, nhưng âm điệu của nó lại nghe rất hấp dẫn, chả thế mà nó được cả triệu triệu người trên thế giới ưa chuộng, hẳn là vì nhạc chứ không phải vì lời.

Ca từ trong nhạc sến mộc mạc, giản dị, cũng trời trăng mây nước, nhưng không nhiều ẩn dụ, nghe là hiểu, khỏi cần suy đoán. Và trong tình huống cụ thể nào đó, những lời lẽ đơn sơ đó ngấm ngay vào tâm hồn người nghe, mà khỏi cần tưởng tượng hay suy diễn thêm cho phiền phức.

Tôi được mời đi dự đám cưới. Chú rể là Việt kiều, trạc ngoài 40, không biết đã qua đò lần nào chưa, không tiện hỏi. Tôi bên nhà gái, nên vào bàn tiệc kính nhi viễn chi, ăn uống từ tốn, nói năng từ tốn cho phải phép. Tiệc cưới ồn ào, tưng bừng, hát hò,… khỏi nói. Cô dâu chú rể lăng xăng bàn này bàn nọ. Gần cuối bữa tiệc, những người ở bàn bên cạnh, chắc đều là bạn chú rể, đứng lên, nâng ly và hát, cả cô dâu chú rể cũng hát, không đàn không trống, họ hát theo nhịp cái muỗng gõ vào ly :

“…Một mai qua cơn mê, xa cuộc đời bềnh bồng tôi lại về bên em…”

Họ hát đồng ca, nhớ gì hát nấy, nương lời nhau mà hát. Tôi có cảm tưởng như một người trong cặp uyên ương này, hoặc cả hai, vừa vượt qua sóng gió nào đó để đi đến ngày hôm nay. Bỗng nhiên tôi thấy hào hứng buột miệng hát theo:

“…Tình người sau cơn mê vẫn xanh, dù bao tháng năm đau thương dập vùi…”

Một kiểu cách chúc mừng đám cưới ý nghĩa quá! Lời ca giản dị, không công thức, không sáo ngữ, không một ban nhạc hoành tráng nào, và không một siêu ca sĩ nào theo kịp…

Ngôn ngữ điêu luyện nhiều khi che đậy một cái gì đó không thực, không chừng gọi đó là “sến trí tuệ” cũng được.

Thú nhận mình mê nhạc sến chẳng phải là chuyện dễ dàng. Cái sĩ diện (hão) của thằng tự cho mình là trí thức coi vậy chứ bự lắm. Có lần ngồi nhâm nhi cà phê với một bậc đàn anh, thuộc loại tài hoa, trí dũng song toàn, tôi buột miệng: “Khi người yêu tôi khóc” của Trần Thiện Thanh nghe cũng không đến nỗi…”. Ông huynh trưởng phán lạnh tanh: Tớ không hiểu vì sao Sĩ Phú lại hát bản này”. Tôi tịt ngòi. Miếng trầu đưa ra chưa kịp quết vôi, không có duyên để chia sẻ đề tài “nhạc sến”. Câu chuyện cũng hơn 30 năm trôi qua rồi…

Những năm sau này đi hát karaoke với bè bạn, tôi thường chọn nhạc sến. Bọn chúng dĩ nhiên chẳng bỏ qua cơ hội để chế diễu. Tôi cũng ngượng, mặc dù đã cố giải thích (để chữa thẹn) rằng, chẳng hạn “…Nếu vì tình yêu, Lan có tội gì đâu, sao vướng vào sầu đau…” là câu hay nhất của bài hát Chuyện tình Lan và Điệp.

Thời gian làm tôi chai mặt, lì đòn hơn để khẳng định rằng mình thích nhạc sến, và cũng thời gian, khoảng hơn chục năm sau, tôi thấy bạn bè tôi, những kẻ từng mỉa mai tôi về nhạc sến, mỗi lần đi hát karaoke chúng lại chọn nhạc sến. Càng xỉn càng hát nhạc sến, hát không giấu diếm, hát say mê, hát như thể chỉ còn cá nhân chúng nó trên đời. Hình như khi xỉn người ta quên mất mình đang mặc áo vest đeo cà vạt.

Tôi chưa hề ngộ ra rằng nhạc sến hay. Đối với tôi, cải lương hay nhạc sến là cả một khoảng trời ký ức không thể chối bỏ, đã nằm sẵn đâu đó trong tiềm thức rồi, khỏi cần phải ngộ hay chưa ngộ. Nhạc hiệu của chương trình tuyển lựa ca sĩ mỗi sáng Chủ nhật tại rạp Quốc Thanh:“Trời hôm nay thanh thanh, gió đưa cành mơn man tà áo…”, đã lâu lắm rồi không nghe, mà sao vẫn nhớ, nhớ cả lúc đó mặc quần xà lỏn, cầm khúc bánh mì, vừa gặm, vừa nghe radio, vừa hát theo cơ mà … Thế thì việc gì phải úp úp mở mở, nửa phủ nhận, nửa thừa nhận. Đó là hành trình vượt qua nỗi… “sợ hãi”, nói thẳng ra là vượt qua cái hèn, cái thể diện dỏm của một thằng trí thức dỏm. Không dám trung thực với chính mình không gọi là dỏm thì gọi là gì? Vấn đề là thời gian, sớm hay muộn công khai thừa nhận giá trị vốn có của nhạc sến. Như thế tôi vẫn còn thua xa những người thích nhạc sến từ thưở đầu đời cho đến hết…đời.

Tình huống dưới đây là giọt nước tràn ly khiến tôi nhảy vọt qua nỗi “sợ hãi”. Cách nay đã lâu, tôi đi dự đám tang của người thân. Đội kèn Tây được mời đến để thổi nhạc vào lúc di quan đã chơi bàiTrở về cát bụi của Lê Dinh. Bản này tôi đã nghe sơ xịa ở đâu đó rồi. Hôm đó ban nhạc đang chơi bỗng nhiên dừng thổi và cả chục tay nhạc công bỗng cất tiếng hát.

“… Sống trên đời này, người giàu sang cũng như người nghèo khó.
Trời đã ban cho, ta cám ơn Trời dù sống thương đau
Mai kia chết rồi, trở về cát bụi giàu khó như nhau
Nào ai biết trước số phận ngày sau ông trời sẽ trao…”

Giọng hát ồm ồm của mấy ông thổi kèn nghe như tiếng loa trầm rách màng, vậy mà tôi nghe như mới, nghe như nuốt từng lời, tưởng như người quá cố đang tâm tình với mình trước giờ vĩnh biệt.

“… Người ơi xin nhớ cát bụi là ta, mai này chóng phai…”

Trịnh Công Sơn cũng có bản nhạc Cát bụi với lời lẽ hoa mỹ đầy tính triết học hơn nhiều, nhưng tôi phải thu hết can đảm để thú nhận rằng, bài Trở về cát bụi của Lê Dinh đã thấm vào người tôi nhiều hơn. Bây giờ nghe lại, vẫn thấy phê, vẫn thấy gần gũi trong từng cách ứng xử của đời người.

Người thích nhạc sến cũng nhiều, người xem thường nó cũng không ít, dù ngấm ngầm không nói thẳng ra. Nhưng cho dù thế nào, có một đề tài không ai dám cà khịa xem thường, đó là những bản nhạc nói về mẹ. Mấy bà mẹ đơn giản như dòng sữa, là lời ru, bóng mát, là vườn rau, trái dừa,… Nói triết lý cao siêu quá mấy bà mẹ không hiểu, mà có hiểu cũng không thấy thoải mái, vì lòng mẹ đầy bản năng, đơn sơ như con gà mẹ xù cánh cho lũ gà con ẩn nấp trước diều hâu. Bài Lòng mẹ của Y Vân, vì vậy vẫn được xem là bản nhạc về mẹ kinh điển được mọi người ưa thích, kể cả những bà mẹ cũng thích bài đó, chứ chưa hẳn đã là Huyền thoại mẹ hay Ca dao mẹ của TCS.

Hãy nghe một anh chàng xa nhà, Tết không về quê được, nhớ mẹ thế này:

“Giờ đây chắc mẹ già tóc bạc nhiều
Sớm chiều vườn rau vườn cà,
Mẹ biết nhờ cậy vào tay ai?…”

(Mùa xuân của mẹ – Trịnh Lâm Ngân)

Nghe cái giọng rên rỉ là biết thằng con này…dóc tổ. Y mà có về được, ôm bà già một cái, trình diễn cái màn quét nhà, rồi thì mắt trước mắt sau lẻn đi chè chén với chúng bạn. Y mà có bạn gái nữa thì coi như xong… Biền biệt! Mà bà mẹ cần gì điều đó, thấy thằng con về là mừng quýnh lên, rờ tay rờ chân nó, thấy còn lành lặn đầy đủ là thiếu điều vái Trời vái Phật rồi, trông mong gì thằng con rớ tới vườn rau vườn cà…

Không về được thì thằng con hứa hẹn tiếp :

“Dẫu gì rồi con cũng về
Chỉ bên mẹ là mùa xuân thôi…”

Tâm sự của thằng con nghe thật sến, thật não lòng, mà sao như tìm thấy tâm trạng của chính mình trong đó…

Mẹ tôi mất. Năm ngoái là cái Tết đầu tiên không có bà. Căn nhà ở Sài Gòn quá nhiều ký ức quen thuộc làm tôi ngại. Giao phó hết việc nhà, tôi chuồn lên nhà Đà Lạt một mình. Tết nhất khỏi đi khách và cũng khỏi tiếp khách, nằm nhà đọc sách cho khỏe.

Tối giao thừa, một đĩa trái cây, vài cành hoa ngắt dưới vườn, thắp nén nhang trên bàn thờ mẹ… Thế là đủ. Tôi mở nhạc, nhâm nhi ly rượu vang đón giao thừa. Cũng chỉ là những bản nhạc xưa thôi, có bản nghe quen, có bản lâu lắm rồi mới nghe lại, và đến bản Đường xưa lối cũ

“Đường xưa lối cũ, có tiếng tiêu, tiếng tiêu ru lòng ai…”

Bà ca sĩ Kim Anh này cũng lạ, càng già giọng hát càng ấm, càng buồn… Bài hát của Hoàng Thi Thơ có đoạn :

“… Khi tôi về, nghẹn ngào trong nắng,
Tưởng gặp mẹ tôi rưng rưng đứng đón con về,
Nào ngờ mẹ tôi ra đi bên kia cuộc đời
Không lời từ ly cuối cùng trước khi phân kỳ
Chạnh lòng thương nhớ…”

Hai chữ chạnh lòng bỗng dưng chùng xuống, thả ra thật nhẹ, nhẹ như hơi thở… đã làm “người hùng” ngã ngựa: nước mắt rơi đêm giao thừa.

Ca sĩ Hương Lan, trong một cuộc phỏng vấn về nhạc sến đã bực bội: “Cũng như từ “cải lương” vậy, đó là một loại hình nghệ thuật, sao mọi người có thể tùy tiện sử dụng mỗi khi muốn chê cái gì đó (sao sến quá, sao cải lương quá). Tôi xem đó là sự chọc ghẹo, coi thường và nhục mạ rất tệ hại, nếu không nói là vô văn hóa…”

Bà Hương Lan à, xin đừng nóng… Nhạc sến hay cải lương hiểu theo nghĩa tốt đẹp thì nó vẫn tốt đẹp. Vàng thiệt đâu sợ lửa. Nhạc sến cũng như nhạc hàn lâm, có bài hay, có bài không hay, tùy theo cảm nhận của mỗi người.

Nhạc sến là vậy đó, nhưng ca sĩ sến thì khác. Ca sĩ sến cho dù có hát nhạc hàn lâm thì vẫn là… sến (thứ thiệt), khi mà giọng hát phải cố gào thét cho khàn ra. Cung cách giả tạo như thế không thể bày tỏ cho nỗi lòng thực. Tương tự, Dạ cổ hoài lang mà được hát với giọng opera thì chắc trời…sập. Chưa ai qua nổi Hương Lan với giọng hát da diết ở bản nhạc này cả.

Dạo gần đây một số bậc thức giả đã đánh giá nhạc sến một cách tích cực hơn, ra cái điều thông cảm với quần chúng đám đông, nhưng vẫn chỉ là cái nhìn từ trên xuống. Xin lỗi! Nhạc sến có giá trị riêng của nó, mà không cần đến bất kỳ một chiếu cố nào cả. Âm nhạc cần có sự đồng cảm, từ người sáng tác, người chơi nhạc, người hát và người nghe. Một khi bắt nhịp được với lời ca tiếng nhạc của nhau, thì sự chia sẻ có thể bắt đầu.

Âm nhạc là món ăn tinh thần, vấn đề là có hợp khẩu vị hay không mà thôi. Gà tây nhúng sữa, kẹp phô mai đút lò chắc gì đã bắt mồi hơn cá lóc nướng trui?

Vũ Thế Thành.

+22 bình luận4

street songs vietnam

street songs vietnam


thesweetspotdiviner

Published on Mar 21, 2009



two blind women one playing beautifully strange electric guitar while the other sings sublimely into a microphone . powered by a battery carried in a bag by the guitar player & blasted out through a megaphone carried by a young man who leads them along while selling some sort of raffle tickets [so i was told] . filmed in saigon / ho chi minh city 2002 . i freeze framed it where the camera work got too shaky … & yes i did give them money .

Thanh Hiệp: NSƯT Hùng Minh đột quỵ sau ngày sinh nhật tuổi 80

10/11/2018 09:34

(NLĐO) – Sáng 10-11, NSƯT Hùng Minh đã được gia đình đưa vào Bệnh viện 175 cấp cứu. Ông bị đột quỵ khi đang uống cà phê với vợ và NS Quốc Nhĩ.

Năm nay đã 80 tuổi, NSƯT Hùng Minh vẫn miệt mài với công việc. Ông vừa quay hình vai Diêm Vương trong bộ phim « Chuyện xưa tích cũ » của Đài Truyền hình Vĩnh Long. Hôm qua, gia đình tổ chức sinh nhật 80 tuổi cho ông.

NSƯT Hùng Minh đột quỵ sau ngày sinh nhật tuổi 80 - Ảnh 1.

NSƯT Hùng Minh đột quỵ

Theo lời NS Quốc Nhĩ, lúc đang ngồi uống cà phê thì NSƯT Hùng Minh bị chảy máu mũi, sau đó chân tay co giựt. Vợ ông – NS Hoa Lan đã đưa ông đến bệnh viện.

Nghệ sĩ Hùng Minh là « kép độc » danh tiếng của sân khấu cải lương nhưng ở tuổi 80 ông vẫn chưa thể mua được căn nhà riêng. Ông vẫn ở nhà thuê tại quận Gò Vấp.

NSƯT Hùng Minh đột quỵ sau ngày sinh nhật tuổi 80 - Ảnh 2.

Nghệ sĩ Hùng Minh là « kép độc » danh tiếng của sân khấu cải lương

NSƯT Hùng Minh đột quỵ sau ngày sinh nhật tuổi 80 - Ảnh 3.
Tin – ảnh: Thanh Hiệp