Mois : novembre 2021

THANH HIỆP : GS-TS Trần Quang Hải: Tiếp nối con đường của cha là trọng trách thiêng liêng

https://nld.com.vn/van-nghe/gs-ts-tran-quang-hai-tiep-noi-con-duong-cua-cha-la-trong-trach-thieng-lieng-20210724202354939.htm?fbclid=IwAR3GsRkHK9YEV8PzUz1d-sw7NIfIbxp9A9XdoBvKyNJEQTFyOu0xAbxtZZQ

GS-TS Trần Quang Hải: Tiếp nối con đường của cha là trọng trách thiêng liêng

25-07-2021 – 09:10 | Văn nghệ Chia sẻ

Con trai cố GS-TS Trần Văn Khê đã lựa chọn con đường đưa âm nhạc dân tộc ra thế giới như đúng di nguyện của cha mình

.Phóng viên: Vào đúng kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cha mình, cố GS-TS Trần Văn Khê (24.7.1921 – 24.7.2021), ông có suy nghĩ gì?

– GS-TS TRẦN QUANG HẢI: Tôi xúc động khi đọc và xem những bài viết của các bạn trẻ hưởng ứng nhiệt tình cuộc thi « Tìm hiểu về GS-TS Trần Văn Khê » được tổ chức trong lúc TP HCM giãn cách xã hội. Họ là những tác giả trẻ đã lan tỏa trong cộng đồng tình yêu âm nhạc dân tộc, văn hóa cội nguồn đến công chúng để cùng gìn giữ, nâng niu tâm hồn Việt trước sự tấn công mạnh mẽ của nhiều loại hình giải trí trong thời đại hội nhập hiện nay. Tôi tin dưới suối vàng, ba tôi cũng sẽ mỉm cười không phải vì được vinh danh mà vì nhìn thấy di nguyện của ông đã được hậu thế vận hành đúng quỹ đạo.

GS-TS Trần Quang Hải: Tiếp nối con đường của cha là trọng trách thiêng liêng - Ảnh 1.

GS-TS Trần Quang Hải và cố GS-TS Trần Văn Khê trong chương trình giới thiệu về âm nhạc dân tộc tại TP HCM .Ảnh: THANH HIỆP

.Hơn 40 năm làm việc, nghiên cứu ở Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học tại Bảo tàng Con người ở Paris (Pháp) và tham gia giảng dạy tại nhiều trường đại học trên thế giới, ông đã có những đóng góp lớn trong việc giới thiệu, quảng bá âm nhạc Việt Nam ra nhiều nước trên thế giới. Phải chăng đó là con đường mà ông đang tiếp nối cha mình?

– Tôi may mắn được sinh ra trong gia đình có nhiều đời hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, âm nhạc, lại là con trai trưởng nên sớm được cha định hướng đi theo con đường nghiên cứu âm nhạc cổ truyền của dân tộc. Tốt nghiệp Khoa Violin Trường Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn, tôi sang Pháp tiếp tục học nâng cao về violin, sau đó đổi sang học các loại nhạc cụ dân tộc và lấy bằng tiến sĩ âm nhạc dân tộc của người Việt tại Pháp. Trong thời gian làm việc, định cư ở Pháp, tôi tham gia hoạt động trong nhiều tổ chức âm nhạc, đặc biệt là Trung tâm Nghiên cứu khoa học Pháp và Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, nơi cha tôi từng công tác. Định mệnh đã đưa tôi theo con đường của cha từ rất lâu, tôi xem đó là trọng trách thiêng liêng và quyết tâm noi theo.

.Ông là người sáng tạo nghệ thuật gõ muỗng độc đáo, người truyền dạy cho mọi người cách chơi đàn môi của dân tộc Mông. Phải chăng ông muốn có một hướng đi khác với cha mình, người giới thiệu các nhạc cụ dân tộc Việt?

– Trong quá trình học tập, nghiên cứu, tôi có điều kiện đưa âm nhạc dân tộc của Việt Nam đến với công chúng hơn 70 nước trên thế giới; đặc biệt là môn nghệ thuật gõ muỗng và đàn môi của dân tộc Mông. Cha tôi lúc sinh thời đã rất tự hào về sự khác biệt mà tôi đã chọn. Bởi, từ những chiếc muỗng bình thường vốn được làm ra để phục vụ nhu cầu ẩm thực, qua bàn tay tài nghệ và cách xử lý nhạc học, đã mang đến cho người xem những cung bậc sinh động. Còn đàn môi là một loại nhạc cụ độc đáo có mặt ở 30 nước trên thế giới chứ không riêng Việt Nam. Ở châu Âu, đàn môi rất thông dụng với nhiều tên gọi khác nhau. Ở Anh người ta gọi đàn môi là jew’s harp, Pháp là guimbarde, ở Đức và Áo được gọi là maultrommeln… Đàn môi có nhiều hình dáng và chất liệu khác nhau nhưng đều có 2 bộ phận chính là khung cố định và « lưỡi gà » di động. Đàn môi ở các nước châu Mỹ được làm bằng thép, sắt, đồng hoặc nhôm, kiểu dáng giống nhau. Còn tại châu Á, tùy theo truyền thống và bản sắc từng dân tộc mà đàn môi ở mỗi nước có độ dài ngắn khác nhau với tên gọi rất đa dạng: mukkuri (Nhật Bản), genggong (Indonesia), kubing (Philippines). Ở Việt Nam, đàn môi là một trong những nhạc cụ được đồng bào các dân tộc thiểu số ưa chuộng. Tôi đã làm điều cha mình không làm nhưng cùng chung một tư tưởng, đó là góp phần quảng bá âm nhạc dân tộc ra thế giới.

.Ông có bao giờ ngại bị so sánh với cha mình, cố thoát khỏi cái bóng quá lớn của cha?

– Cha tôi là GS-TS chuyên về nhạc Việt Nam và nhạc Á châu. Trên con đường hấp thụ tất cả tinh hoa và sự giáo dục của cha dành cho tôi, ông luôn khuyên tôi không dừng lại ở đó mà cần đi xa hơn về nhạc thế giới bao gồm Phi châu, Úc châu, Mỹ châu… Do vậy, ngoài âm nhạc truyền thống, tôi đã bước vào thế giới của những người trẻ với các thể loại nhạc techno, hip hop… Tôi đã trình diễn hơn 3.500 buổi tại 70 quốc gia trên thế giới để quảng bá những nhạc cụ độc đáo của dân tộc Việt Nam. Đó là cách mà tôi dấn thân nhưng không phải thoát khỏi cái bóng của cha mình mà đồng hành cùng cha trong sứ mệnh thiêng liêng.

.Kỷ niệm nào khó quên nhất trong đời ông khi nhớ về GS-TS Trần Văn Khê?

– Ngày tôi bày tỏ ý định quay về nước, cùng cha tôi tiếp nối con đường giữ vững truyền thống của Việt Nam thông qua âm nhạc dân tộc, cha tôi đã ôm tôi thật chặt, hai cha con rơi những giọt nước mắt của hạnh phúc và sẻ chia. Tôi hiểu cha đã mong điều này từ lâu lắm rồi. Và chính ông đã nói với giáo sư violin khuyên tôi nên trở về với âm nhạc dân tộc. Suốt 10 năm đi học, tôi đã khám phá rất nhiều thú vị về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Tôi đi theo con đường của cha không phải do ông áp đặt hay bắt buộc. Ông chỉ truyền dạy cho tôi kiến thức, đam mê và cho tôi lựa chọn con đường để đi.

Tôi chưa hề bế tắc, tuyệt vọng nhưng tôi đã khóc trong ngày ba tôi mất, ông đi mang theo một tâm nguyện sẽ thành lập quỹ Trần Văn Khê và một không gian văn hóa để các học trò, giới trẻ yêu âm nhạc dân tộc tìm đến sinh hoạt. Cho đến phút cuối trong đời, cha tôi vẫn muốn được cống hiến.

.Được biết, ông đang bị ung thư và từng ngày trôi qua, ông đối diện với nó như thế nào?

– Tôi bị ung thư máu, vẫn kiên trì xạ trị chiếu điện và theo dõi bệnh thường xuyên. Nhưng, hễ làm được điều gì tốt đẹp cho âm nhạc dân tộc, trao truyền cho thế hệ trẻ những kiến thức mà tôi có thì tôi vẫn sẵn lòng. Điều tôi quý trọng cho đến thời điểm này là không có sự lai căng nào tồn tại trong đại gia tộc, vẫn giữ 2 chữ « thuần Việt » như cha tôi hằng trân quý. 

. Điều khiến ông trăn trở nhất về việc bảo tồn, gìn giữ âm nhạc dân tộc hiện nay là gì?

– Để gìn giữ và phát triển âm nhạc cổ truyền dân tộc, điều cấp thiết nhất là cần có giáo trình chuẩn mực về đào tạo tại Việt Nam. Khi đã đi vào chuẩn, làm thành một chiến lược sẽ có nhiều người tiếp nối, giảng dạy, theo nghề. Trong tình hình dịch bệnh còn phức tạp nên tổ chức những hội thảo trực tuyến, phác họa chương trình giáo dục âm nhạc trong nhà trường thông qua hình thức sân khấu học đường online. Nhà nước cũng cần quan tâm đến việc giáo dục âm nhạc từ nội thành đến vùng sâu, vùng xa, để ngay từ lúc các em học sinh cấp I, cấp II đã có một kiến thức căn bản về âm nhạc Việt Nam. Đến cấp III và vào đại học, các em được học thêm về nhạc cổ điển Tây phương và các nước láng giềng. Và quan trọng hơn là được học miễn phí, nhà nước phải tạo mọi điều kiện để thầy và trò cùng nâng niu âm nhạc dân tộc. Bên cạnh đó, các đài truyền hình nên thực hiện những chương trình giáo dục âm nhạc, định hướng âm nhạc, giới thiệu những nét tinh hoa, độc đáo, tiêu biểu của âm nhạc dân tộc và các quốc gia trên thế giới.

Thanh Hiệp thực hiện

NGUYỄN TRANG : Những ân tình trong kiếp cầm ca

Ca sĩ Bạch Yến: Những ân tình trong kiếp cầm ca

20:12 03/09/2019 Ca sĩ Túy Hồng, người vợ cũ của nhạc sĩ Lam Phương, sau này vẫn hay nói với Bạch Yến rằng: “Chị biết không, ổng viết nhiều bài nhạc tình về chị lắm”. Bạch Yến lắc đầu cười, coi đó như một lời đùa. Nhưng trong thâm tâm, bà mơ hồ nhận ra những câu hát của tác giả “Duyên kiếp” ám ảnh hình bóng bà – mối tình đầu đầy trong sáng nhưng xước xát cả đời người…

Yêu nhau từ thuở còn thơ

 Trong một chương trình âm nhạc, nhạc sĩ Lam Phương không ngần ngại mà tâm sự trước hàng vạn khán giả rằng: “Tôi sáng tác nhiều bài vì nhớ tới một người bạn gái. Người đó là ca sĩ Bạch Yến”.

Thuở hoa niên, chị mới 11, Lam Phương 15 tuổi. Biết nhau từ cái ngày chị đoạt huy chương vàng cuộc thi tiếng hát thiếu nhi do Đài phát thanh Pháp Á tổ chức. Sau đó, Bạch Yến được mời về thu âm cho Đài hằng tuần. Lam Phương cùng chúng bạn hay quanh quẩn ở nhà đài để tập tành sáng tác, hát với nhau những lời ca chưa khô vết mực. 

Lam Phương để ý đến cô bé xinh xinh có giọng hát trong trẻo, véo von. Anh em gặp nhau lại chuyện trò ríu ra ríu rít như bầy sẻ non. Anh dẫn cô bé về nhà mình chơi, gặp cha, gặp mẹ. 

Chẳng lần vuốt tóc, cầm tay. Vậy mà một ngày, Lam Phương đến nhà Bạch Yến, khoanh tay thưa với mẹ cô rằng: “Thưa bác, cháu xin được hỏi cưới Bạch Yến làm vợ”. Bà mẹ trợn trừng sửng sốt, tưởng cậu chàng nói chơi chơi. Bạch Yến còn quá nhỏ để làm vợ người ta. 

Biết ý định của Lam Phương là thật lòng, giọng bà mẹ lạnh tanh: “Khi nào cậu đậu tú tài, tui mới tính chuyện con nhỏ. Cậu về đi”. Bạch Yến khi đó không biết yêu đương là gì, chỉ thích và mến mộ người anh trai nhiệt tình, tốt bụng.

Hai năm sau cô bịn rịn chia tay Lam Phương, từ giã căn nhà tranh xiêu vẹo ở Sài Gòn để rong ruổi dọc miền Nam Bắc đỡ đần mẹ khi cha đi biền biệt không về. Đoàn môtô bay của người chú giúp mấy mẹ con có cơm ăn qua ngày. Thỉnh thoảng Lam Phương lại bắt xe đò đi thăm nàng hôn thê bé nhỏ.

Dù tuổi cao nhưng ca sĩ Bạch Yến luôn “cháy” hết mình trên sân khấu.

Trong một lần biểu diễn, Bạch Yến bị ngã, gãy xương sườn, đoàn môtô bay phải đóng cửa. Bạch Yến trở về quê xưa, mong chóng gặp lại người thương. Nhưng năm tháng thoi đưa khiến lòng người chẳng còn như cũ. Coi như đường duyên không có ông Tơ, bà Nguyệt dẫn lối, dệt phận. 

Từ đó trái tim Bạch Yến dường như đóng cửa trước bao lời tán tỉnh, theo đuổi của bao “cây si” vây quanh mãi cho đến năm 36 tuổi. Nhưng nỗi lòng người nhạc sĩ vẫn nhìn theo người thương bé bỏng nay đây mai đó đem tiếng hát cho người. Ngày Bạch Yến sang Pháp, ông viết “Kiếp tha hương”: « Thương cho thân gái đường xa/ mang vào kiếp không nhà/ trời đông thiếu chăn êm… ».

Sau này, khi hôn nhân không như mong đợi, dõi bóng hình người con gái ngày nào, Lam Phương luôn đau đáu trăn trở trong từng câu hát. Như khi Bạch Yến bắt đầu sự nghiệp biểu diễn ở xứ người, thỉnh thoảng mới về Việt Nam, ông viết “Tình bơ vơ” xót xa: “Ngày mình yêu/ Anh đâu hay tình ta gian dối/ Để bước phong trần tha hương/ Em khóc cho đời viễn xứ/ Về làm chi rồi em lặng lẽ ra đi…”. 

Chuyện tình ngày thơ và dự cảm ngày người thương lên xe hoa ở xứ lạ dường như thấp thoáng trong câu hát: “Rồi từ đó vì cách xa, duyên tình thêm nhạt nhòa/ Rồi từ đó chốn phong ba em làm dâu nhà người/ Âm thầm anh tiếc thương đời, đau buồn em khóc chia phôi/ Anh về gom góp kỷ niệm tìm vui (Thành phố buồn). Và còn nhiều khúc hát mà Lam Phương dành cho mối tình đầu, như: “Tình chết theo mùa đông”, “Cho em quên tuổi ngọc”…

Đến tận bây giờ, nhắc chuyện xưa, Bạch Yến vẫn trân trọng, nâng niu, yêu mến người nhạc sĩ tài hoa nhưng lận đận đường tình. Dẫu gì, phút cuối, trái tim bà đã reo vui trong tổ ấm nhỏ, còn Lam Phương thì… 

Ca sĩ Bạch Yến bảo rằng bà không ngại khi nhắc đến chuyện Lam Phương. Bởi nhạc sĩ, GS Trần Quang Hải – chồng bà, hiểu rằng tất cả chỉ là quá khứ, ông tôn trọng góc riêng của mỗi người. Thế nên thỉnh thoảng Lam Phương lại lặn lội từ Mỹ ghé thăm vợ chồng Bạch Yến ở Paris, để rồi ngỡ ngàng mà thốt lên: “Hạnh phúc của hai người tôi rất ao ước nhưng mãi mãi không bao giờ có được”.

Ca sĩ Bạch Yến.

Cưới nhau sau 24 giờ gặp gỡ

Trong một lần giao lưu âm nhạc ở Pháp, GS Trần Văn Khê chỉ về phía cậu thanh niên gầy ốm, đen đúa đứng khúm núm phía cuối dãy ghế khán giả, nói nhỏ với Bạch Yến: “Tôi có thằng con trai từ Việt Nam mới qua, nó đứng đằng kia kìa”. Lúc đó, Bạch Yến không có ấn tượng gì lắm với Trần Quang Hải. 

Còn với Trần Quang Hải thì Bạch Yến là thần tượng. Không thần tượng sao được khi thập niên 60 của thế kỉ trước, Bạch Yến đã là cái tên được đông đảo người hâm mộ, là ngôi sao Việt Nam hát tiếng Tây đầu tiên đặt chân đến nơi hội tụ của những minh tinh nổi tiếng nước Mỹ. Bà có thể hát được tiếng Pháp, Anh, Do Thái, Tây Ban Nha… 

Bà còn là ca sĩ duy nhất hát trong chương trình truyền hình The Ed Sullivan show (chương trình ăn khách nhất của Mỹ trong khoảng thời gian 1950-1970), hòa giọng cùng các ca sĩ nổi tiếng của Mỹ thời đó như Bob Hope, Bing Crosby, Pat Boone, Mike Douglas… Với những thành tựu đó, Bạch Yến được xem là một trong 10 ca sĩ có ảnh hưởng lớn nhất của nền tân nhạc Việt Nam.

Bẵng đi rất nhiều năm sau đó, bôn ba ở xứ người, Bạch Yến không gặp lại Trần Quang Hải. Đất nước thống nhất, gia đình bặt tăm tin tức khiến Bạch Yến hoang mang. Cũng chính cú sốc này khiến bà mắc bệnh, không thể sinh con. Mang nỗi buồn lữ thứ, bà đứng ngẩn ngơ trước cửa nhà hát Pháp. 

Giờ biểu diễn sắp bắt đầu nhưng có thứ gì thôi thúc bà chờ đợi. Bỗng một gương mặt rất quen ôm chầm lấy bà, hôn vào má. Đón bó hoa từ tay gương mặt quen, bà ngạc nhiên hỏi: “Ủa, anh biết tôi là ai không mà ôm hôn?”. 

Người đàn ông cười: “Ca sĩ Bạch Yến chớ ai”. Bạch Yến đỏ lựng cả má, bà vắt óc vẫn không biết gương mặt quen này mình đã gặp ở đâu, tên là gì. “Không nhận ra tôi hả, tôi là con trai của GS Trần Văn Khê nè”. 

Đến lúc này bà càng mở to mắt. Vì người đàn ông đứng trước mặt không còn vẻ gầy gò, đen đúa như ngày nào. Ông trông phong độ, hồng hào, đi cạnh là cô con gái nhỏ của người vợ đã ly dị. Bấy giờ, tên tuổi ông đã nổi danh với tư cách là một giáo sư nghiên cứu âm nhạc dân tộc. Vậy là gần 20 năm xa cách, hai người mới có duyên hội ngộ trên xứ lạ.

Vợ chồng ca sĩ Bạch Yến – nhạc sĩ, GS Trần Quang Hải luôn sát cánh với nhau khi quảng bá âm nhạc dân tộc ra thế giới.

Vị giáo sư ngỏ lời mời nữ danh ca đi ăn tối. Bên ánh nến lãng mạn, hai người nói đủ chuyện trên trời, dưới đất, vui quá Trần Quang Hải khoát tay: “Hay là hai đứa mình lấy nhau đi”. Bạch Yến tưởng ông giỡn, cũng nháy mắt: “Ok”. Hai tuần sau, 400 thiệp cưới được phát ra khiến Bạch Yến hốt hoảng kéo tay Trần Quang Hải: “Bộ anh định làm thiệt hả?”. Ông cười khà khà. Bà tặc lưỡi, thôi thì ném lao thì phải theo lao. 

Năm 1978, đám cưới diễn ra trong sự ngạc nhiên của họ hàng, bạn bè. Ngay trong đám cưới, Trần Quang Hải đã hào hứng sáng tác bài “Tân hôn dạ khúc”. Nhớ lại, Bạch Yến cười: “Ảnh nói anh không có hột xoàn, chỉ có bài hát này làm quà cho em thôi. Ai ngờ, khi tôi thể hiện bài hát đó, khán giả yêu mến, coi như nó cũng là bài tủ của mình”.

Không có con nên Bạch Yến dồn hết tình yêu thương của mình cho con chồng. Xa quê hương và gia đình từ nhỏ nên Bạch Yến luôn hướng về cội nguồn, khát khao hơi ấm gia đình. Có thể nói bà là người truyền cho con chồng tình yêu quê Việt khi dạy cho cô bé nói tiếng Việt, làm các món ăn dân tộc như canh chua, thịt kho trứng, muối dưa… 

Ngày con gái đi lấy chồng, bà là người khóc nhiều nhất, mẹ con bịn rịn khiến chẳng ai nghĩ họ là mẹ ghẻ, con chồng. Yêu Trần Quang Hải, Bạch Yến bước vào lĩnh vực âm nhạc dân tộc –  lĩnh vực vô cùng khó khăn, lạ lẫm với một ca sĩ chuyên trị tân nhạc, nhạc ngoại quốc như bà. Phải mất 15 năm, Bạch Yến mới có thể lướt đàn tranh, ngân nga khúc dân ca, cùng chồng đi khắp hơn 70 nước để quảng bá âm nhạc dân tộc.

Bây giờ, dù đã bước vào tuổi 77, nhưng trên sân khấu cũng như ngoài đời, bà luôn hoạt bát, hóm hỉnh pha trò vừa sang trọng, vừa gần gũi. Mỗi khi đi xa một mình, tham quan những đâu, ăn món gì, gặp gỡ những ai, bà cũng chụp hình gửi qua mạng cho chồng. 

NGUYỄN TRANG

https://cand.com.vn/Nhan-vat-hot/Ca-si-Bach-Yen-Nhung-an-tinh-trong-kiep-cam-ca-i534704/