Jour : 4 octobre 2021

TS NGUYỄN GIÁO: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam từ sau Đổi mới đến nay

Xây dựng nền văn hóa Việt Nam từ sau Đổi mới đến nay

25/09/2020

TS. NGUYỄN GIÁO

Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

1. Quan điểm của Đảng về văn hóa từ sau Đổi mới đến nay

Chúng ta đều biết Đại hội VI diễn ra năm 1986 đã nêu lên phương hướng, mục tiêu chủ yếu cho giai đoạn 1986 – 1990, trong đó “thể hiện các quan điểm của Đảng về chuyển hướng cơ cấu kinh tế và điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư, về cải tạo xã hội chủ nghĩa và đổi mới cơ chế quản lý phù hợp với đặc điểm nước ta trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”[1]. Đại hội VII tiếp tục chủ trương đổi mới các lĩnh vực của đời sống xã hội và khẳng định quyết tâm thúc đẩy hơn nữa việc này nhằm đưa đất nước đi vào thế ổn định và phát triển. Hai kỳ Đại hội trên ưu tiên tập trung vào xác định đường lối phát triển kinh tế và ổn định xã hội sau một thời gian khủng hoảng và sau những biến động phức tạp của tình hình chính trị quốc tế, còn văn hóa mặc dù được quan tâm nhưng chưa được xem là vấn đề trọng tâm.

          Bước ngoặt liên quan đến văn hóa diễn ra khi Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 7/1998) ra Nghị quyết chuyên đề về “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Sự kiện vừa nêu cho thấy chuyển biến hết sức mạnh mẽ trong nhận thức của Đảng về tầm quan trọng của văn hóa bên cạnh phát triển kinh tế. Nghị quyết khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển xã hội”[2]. Ý nghĩa của bước ngoặt này thậm chí chúng ta còn chưa đánh giá được hết, khi một chính đảng vô sản khẳng định ở mức độ chưa từng có vai trò lớn lao của văn hóa – cái thuộc thượng tầng kiến trúc – đối với sự phát triển xã hội.

Đại hội IX tiếp tục khẳng định “Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Mọi hoạt động văn hoá nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội”[3]. Bước phát triển trong quan điểm của Đảng về văn hóa thời kỳ này là nhấn mạnh mục tiêu hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Theo đó, Đại hội IX đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Để đạt được mục tiêu đề ra, các chương trình hành động cũng phải được triển khai đồng bộ: “Mở rộng và nâng cao hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Xây dựng nếp sống văn minh và gia đình văn hóa”, phong trào “Người tốt, việc tốt”, làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người…”[4].

Đến Đại hội X, với quan điểm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, những yêu cầu: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế – xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội” và “Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bẳn sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam”[5] được khẳng định lại, tiếp nối quan điểm về văn hóa từ kỳ Đại hội trước. Đại hội lần này cũng đề ra yêu cầu đa dạng hóa các hình thức hoạt động của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng và nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống nhà văn hóa, bảo tàng, nhà truyền thống…

Đại hội XI khẳng định phương hướng “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển…” và coi “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân…”[6]. Cùng với đó, Đại hội cũng đề ra mục tiêu cho giai đoạn tiếp theo là “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật”[7]. Đặc biệt, với việc Nghị quyết Hội nghị TW 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã khẳng định mục tiêu “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[8], văn hóa một lần nữa lại trở thành vấn đề thời sự kể từ sau Nghị quyết TW 5 khóa VIII.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định đường lối: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”[9] và “Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh””[10]. Việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng con người có bước chuyển biến quan trọng: gắn nhiệm vụ xây dựng văn hóa, con người với nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước; gắn xây dựng môi trường văn hóa với xây dựng con người; bước đầu hình thành những giá trị mới về con người với các phẩm chất về trách nhiệm xã hội, ý thức công dân, dân chủ, chủ động, sáng tạo, khát vọng vươn lên. Mục tiêu được đề ra trong Đại hội XII là: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh””[11]. Trong đó, “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện” phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển.

Tóm lại, thời gian đầu sau Đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đặt trọng tâm chú ý vào việc phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và việc cải tạo, xây dựng, phát triển nền văn hóa dân tộc cũng chủ yếu là để phục vụ mục tiêu đó; tuy nhiên, quan điểm của Đảng về văn hóa sau này đã có những vận động rất quan trọng. Dấu mốc trong sự phát triển nhận thức của Đảng, như đã nói, được thể hiện cụ thể qua việc ra đời Nghị quyết TW 5 khóa VIII và Nghị quyết TW 9 khóa XI. Văn hóa dần được coi là lĩnh vực then chốt bên cạnh kinh tế, trong đó con người được nhìn nhận là trung tâm trong chiến lược phát triển bền vững. Việc nhấn mạnh đến con người trong nhận thức này của Đảng phù hợp với quan điểm tiến bộ về văn hóa trên thế giới hiện nay.

2. Kết quả từ thực tiễn

Sau khi Nghị quyết TW 5 khóa VIII với sự nhấn mạnh đến yêu cầu xây dựng nền văn hóa, xây dựng con người Việt Nam ra đời và yêu cầu này tiếp tục được khẳng định ở những kỳ Đại hội tiếp theo, các chương trình hành động tương ứng cũng đã được triển khai nhằm đạt được mục tiêu đặt ra như phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Xây dựng nếp sống văn minh và gia đình văn hóa”, “Người tốt, việc tốt”… Trong đó, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” là quan trọng nhất. Phong trào này được Trung ương khởi xướng và phát động từ năm 2000 với mục đích tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh, giúp người dân nâng cao chất lượng cuộc sống. Nó bao gồm 05 nội dung (đoàn kết giúp nhau xóa đói, giảm nghèo; thực hiện nếp sống văn minh, kỷ cương pháp luật; xây dựng môi trường văn hóa; xây dựng và tổ chức hoạt động các thiết chế văn hóa thể thao; xây dựng tư tưởng chính trị lành mạnh) và 07 phong trào cụ thể (Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; Xây dựng gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa, cơ quan, đơn vị đạt chuẩn văn hóa; Rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại; Lao động, học tập sáng tạo và xây dựng người tốt việc tốt). Cùng với việc phát động phong trào là việc thành lập Ban chỉ đạo xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương để triển khai thực hiện.

Mặc dù phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã góp phần ổn định an ninh chính trị, xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, tiến bộ và giúp người dân nâng cao chất lượng cuộc sống, thực tế cho thấy kết quả thực hiện phong trào vẫn còn những hạn chế. Không ngẫu nhiên mà tại Đại hội X, Ban chấp hành TW khóa IX thừa nhận: “Việc xây dựng nếp sống văn hóa chưa được coi trọng đúng mức. Tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo ngại, nhất là trong lớp trẻ. Quản lý nhà nước về văn hóa còn nhiều sơ hở, yếu kém. Đấu tranh ngăn ngừa văn hóa phẩm độc hại chưa được chú ý đầy đủ, còn nhiều khuyết điểm, bất cập”[12]. Trong thực tiễn hoạt động, phong trào này bị đánh giá là chưa đồng đều, thiên về bề nổi, hiệu quả thấp và bên cạnh đó, hoạt động của Ban chỉ đạo ở một số địa phương còn nặng tính hành chính…[13]. Cùng với bệnh thành tích, một hạn chế đáng chú ý của phong trào là đã triển khai chương trình một cách duy ý chí, không căn cứ vào thực tiễn nên hiệu quả không đáng kể hoặc thậm chí nhiều khi còn không đi được vào đời sống. Việc xây dựng nhà rông văn hóa ở khu vực Tây Nguyên là một ví dụ. Các nhà rông văn hóa này chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân về một ngôi nhà chung của cộng đồng khi nó khác biệt quá nhiều so với nhà rông truyền thống cả về hình thức, chức năng, và tính thiêng. Về hình thức, nhà rông văn hóa hầu như được “bê tông hóa” và “tôn hóa” thay vì được xây dựng bằng những vật liệu thiên nhiên quen thuộc. Về chức năng, chúng không còn gắn bó chặt chẽ với các sinh hoạt tập thể tự thân của cộng đồng mà nhìn chung chỉ còn là nơi tập hợp người dân để phục vụ cho mục đích tuyên truyền chính trị của chính quyền. Về tính thiêng, chúng không chứa đựng yếu tố nào liên quan đến tín ngưỡng của người dân. Cũng vì vậy mà không ít nhà rông văn hóa bị bỏ hoang, hư hỏng[14]. Từ trường hợp trên, có thể thấy cách thức triển khai phong trào còn có những điểm chưa phù hợp với thực tiễn, chưa đáp ứng được mục tiêu đặt ra. 

Giai đoạn sau đó, tuy Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI nhận định: “Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin, thể dục, thể thao ngày càng mở rộng, từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” từng bước đi vào chiều sâu”[15], nó cũng nhấn mạnh: “Văn hóa phát triển chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế. Quản lý văn hóa, văn nghệ, báo chí, xuất bản còn thiếu chặt chẽ. Môi trường văn hóa bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu niên, rất đáng lo ngại”[16]. Báo cáo đồng thời cũng đề ra phương hướng củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú và đa dạng, trong đó xác định “Đưa phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả; xây dựng nếp sống văn hóa trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, làm cho các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt đời sống…”[17].

Đến Đại hội XII, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW khóa XI tại Đại hội đánh giá: “… bước đầu hình thành những giá trị mới về con người với các phẩm chất về trách nhiệm xã hội, ý thức công dân, dân chủ, chủ động, sáng tạo, khát vọng vươn lên. Hệ thống thể chế và thiết chế văn hóa từng bước được tăng cường… Đời sống văn hóa của nhân dân được cải thiện. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã khơi dậy được nhiều giá trị nhân văn trong cộng đồng. Việc xây dựng môi trường văn hóa đã được chú trọng hơn”[18]. Tuy nhiên, Báo cáo cũng nhận định: “so với những thành quả trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thành quả trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng; chưa đủ tầm mức để tác động có hiệu quả xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh. Đạo đức, lối sống có mặt xuống cấp đáng lo ngại. Đời sống văn hóa tinh thần ở nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu; khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân chậm được rút ngắn. Môi trường văn hóa còn tồn tại những biểu hiện thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục; tệ nạn xã hội và một số loại tội phạm có chiều hướng gia tăng…”[19].

Liên tiếp các kỳ Đại hội gần đây là Đại hội XI và XII, văn kiện của Đảng đều đánh giá rằng văn hóa phát triển chưa tương xứng với các lĩnh vực khác. Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất, theo chúng tôi, là quan điểm tiếp cận trong xây dựng chính sách và triển khai hành động còn nhiều bất cập. Như ta biết, văn hóa luôn đa dạng và vận động không ngừng. Mỗi một vùng miền lại có một văn hóa riêng và nó luôn biến đổi theo nhu cầu của con người – chủ nhân của văn hóa. Thế nhưng, các chính sách và việc triển khai chính sách liên quan đến văn hóa của Nhà nước còn cứng nhắc, chưa phù hợp. Cụ thể, việc xây dựng một nền văn hóa theo mô hình chung, không căn cứ vào tính đa dạng và tính thường biến của đối tượng sẽ dẫn đến sự nhất thể hóa, bất biến hóa văn hóa một cách khiên cưỡng. Với lĩnh vực đang bàn, các chính sách đưa ra cần phải phù hợp với nguyên tắc tôn trọng đặc trưng của từng vùng miền cụ thể và tôn trọng quyền tự chủ của người dân. Nói cách khác, các chính sách này nên được xây dựng trên tinh thần “tạo điều kiện” chứ không phải “làm thay” như trước. Tức là, việc xây dựng nền văn hóa phải được trao cho bản thân người dân còn Nhà nước chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Sở dĩ phải làm như vậy là bởi xét đến cùng thì văn hóa là của nhân dân, do nhân dân sáng tạo nên.

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, nền văn hóa mới cần hội tụ các tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng[20]. Trong đó, nền văn hóa mang tính đại chúng được hiểu là nền văn hóa do đại chúng nhân dân xây dựng. Ở góc độ này, việc xây dựng con người là nhiệm vụ quan trọng nhất. Thế nhưng, nhìn cụ thể hơn vào mục tiêu xây dựng con người Việt Nam, vốn đã được xác định là nhiệm vụ hàng đầu trong các nhiệm vụ về văn hóa, có thể thấy những vấn đề đáng báo động. Chúng ta đều biết rằng, Hội nghị TW 5 khóa VIII lần đầu đặt ra việc xây dựng con người Việt Nam đi liền với xây dựng nền văn hóa dân tộc và các kỳ Đại hội tiếp theo dần xác định cụ thể hơn điều này. Ví dụ, Hội nghị TW 9 khóa 11 là bước phát triển hơn trong quan điểm khi khẳng định việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển và đồng thời cũng là nhiệm vụ hàng đầu trong các mục tiêu, nhiệm vụ về văn hóa. Thế nhưng, kết quả thực hiện lại không như kỳ vọng. Báo cáo chính trị tại Đại hội XII nêu rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi. Tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp; đạo đức xã hội có mặt xuống cấp nghiêm trọng”[21].

Những hạn chế trong thực hiện mục tiêu xây dựng nền văn hóa, xây dựng con người Việt Nam là vấn đề thời sự trước thềm Đại hội XIII. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế trong xây dựng nền văn hóa là chính sách và việc triển khai thực hiện của hệ thống các cơ quan quản lý trong hệ thống quản lý nhà nước chưa phù hợp với thực tiễn cuộc sống và tính chất của văn hóa, chưa tương ứng với quyết tâm chính trị của Đảng. Báo cáo chính trị tại Đại hội XII xác định nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém “chủ yếu là do nhiều cấp uỷ, chính quyền nhận thức chưa đúng tầm quan trọng và chưa quan tâm đầy đủ lĩnh vực này; lãnh đạo, chỉ đạo chưa thật quyết liệt. Việc cụ thể hóa, thể chế hóa nghị quyết của Đảng còn chậm, thiếu đồng bộ. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa chậm được đổi mới, có lúc, có nơi bị xem nhẹ, thậm chí buông lỏng. Đầu tư cho lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng và còn dàn trải”[22]. Đối với việc xây dựng con người Việt Nam, nhiều ý kiến thống nhất rằng nguyên nhân quan trọng là do hệ thống giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu. “Xét cho đến cùng, những sai lầm, khuyết điểm, hạn chế của con người Việt Nam nói chung đều là do những sai lầm, khuyết điểm, hạn chế của công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực này mà ra”[23]. Con người là kết quả quá trình xã hội hóa thông qua giáo dục từ gia đình, nhà trường và xã hội, mà như ta biết, những gì được học trong quá trình đó sẽ là nền tảng để tạo nên con người văn hóa. Và, với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa, mỗi cá nhân trong cộng đồng sẽ góp phần tạo nên văn hóa của cộng đồng. Có thể nói, nền văn hóa dân tộc được hình thành và phát triển như thế nào là do mỗi con người với tư cách là con người văn hóa được hình thành thông qua giáo dục quyết định. Vấn đề là ở chỗ, sự giáo dục nhân cách con người hiện đang bị coi nhẹ trong xã hội và ngay cả hệ thống giáo dục cũng có hạn chế như Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW tại Đại hội XII đã chỉ ra: “… giáo dục và đào tạo chưa thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, thành động lực phát triển. Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu”[24].

Kết luận

Như đã nói, văn hóa luôn mang tính đa dạng và biến đổi. Thế nhưng, cho đến nay các chính sách về văn hóa của Nhà nước ta lại chưa quan tâm đúng mức đến sự đa dạng văn hóa ở một đất nước vốn có nhiều dân tộc và nhiều vùng địa lý mang những đặc điểm khác biệt. Bên cạnh đó, việc triển khai các hoạt động liên quan đến chính sách cũng chưa phù hợp khi nhà nước, chứ không phải người dân, lại được coi là chủ thể hoạt động và như vậy là chưa đúng với tinh thần xây dựng nền văn hóa đại chúng – nền văn hóa thuộc về nhân dân với những biến đổi tự thân không ngừng.

Thực tiễn xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam đặt ra nhiều thách thức trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, triển vọng cũng không hề nhỏ khi mà Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan điểm coi văn hóa là mục tiêu và động lực phát triển, coi con người là trung tâm trong chiến lược phát triển. Chủ trương của Đảng về văn hóa trong các kỳ Đại hội sẽ là nền tảng vững chắc để tạo ra những chuyển biến tích cực. Vấn đề còn lại là quyết tâm chính trị của toàn bộ hệ thống quản lý nhà nước có liên quan.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTWĐCS Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 157.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 356 – 357.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 476.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 531.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 642.

                [6] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 738.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 755.

[8] “Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9, khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, http://dangcongsan.vn/thoi-su/nghi-quyet-hoi-nghi-trung-uong-9-khoa-xi-ve-xay-dung-va-phat-trien-van-hoa-con-nguoi-viet-nam-dap-ung-yeu-cau-phat-trien-ben-vung-dat-nuoc-251604.html

[9] “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin – Truyền thông, http://www.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/117150/Cong-bo-van-kien-dai-hoi-XII-cua-dang.html­, tr. 21 – 22.

[10] “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin – Truyền thông, http://www.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/117150/Cong-bo-van-kien-dai-hoi-XII-cua-dang.html, tr. 66.

[11] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 123. 

[12] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo của BCHTW Đảng khóa IX về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 680.

[13] Xem thêm Nguyễn Hữu Thức, Về cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, Nxb. Từ điển Bách khoa & Viện Văn hóa, Hà Nội, 2009, tr. 149 – 150.

[14] Viện Nghiên cứu văn hóa – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì (2014), Vai trò của văn hóa và lối sống trong phát triển bền vững Tây Nguyên, Đề tài thuộc Chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước KHCN-TN3/11-15, Hà Nội, 2014, tr. 237 – 238.

[15] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 783.

[16] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 790.

[17] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 821.

[18] “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin – Truyền thông, http://www.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/117150/Cong-bo-van-kien-dai-hoi-XII-cua-dang.html, tr. 64.

[19] “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin – Truyền thông, http://www.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/117150/Cong-bo-van-kien-dai-hoi-XII-cua-dang.html, tr. 65.

[20] Những tính chất này được Đảng nêu ra lần đầu trong Đề cương Văn hóa năm 1943 và sau đó nhiều lần được Hồ Chí Minh nhấn mạnh, chẳng hạn trong Báo cáo chính trị đọc tại  Đại hội II (1951).

[21] “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin – Truyền thông, http://www.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/117150/Cong-bo-van-kien-dai-hoi-XII-cua-dang.html, tr. 6.

[22] “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin – Truyền thông, http://www.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/117150/Cong-bo-van-kien-dai-hoi-XII-cua-dang.html, tr. 66.

[23] Mạch Quang Thắng, “Một số vấn đề về xây dựng con người Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 8, 2018.

[24] “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin – Truyền thông, http://www.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/117150/Cong-bo-van-kien-dai-hoi-XII-cua-dang.html, tr. 54.

Nguồn: Chi bộ Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt NamIn bài viếtGửi EmailCác tin khác

https://vass.gov.vn/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/Xay-dung-nen-van-hoa-Viet-Nam-tu-sau-Doi-moi-den-nay-24

PGS, TS. Lê Thanh Bình: Giao lưu văn hóa thế giới trong chiến lược phát triển văn hóa của Việt Nam

Giao lưu văn hóa thế giới trong chiến lược phát triển văn hóa của Việt Nam

PGS, TS. Lê Thanh Bình Học viện Ngoại giao 23:32, ngày 15-07-2021

TCCS – Giao lưu văn hóa với các quốc gia, dân tộc là nhu cầu, đòi hỏi tất yếu của quá trình phát triển xã hội hiện đại. Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới năm 1986, đặc biệt là sau khi Chính phủ ban hành “Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020”, giao lưu văn hóa với các nước trên thế giới được quan tâm, đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, đổi mới về hình thức, phương pháp,… thu được nhiều kết quả quan trọng.

Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-un đánh thử nhạc cụ dân tộc Việt Nam trong tiệc chiêu đãi trọng thể chào mừng Đoàn đại biểu cấp cao Triều Tiên thăm hữu nghị chính thức Việt Nam, ngày 1-3-2019, do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chủ trì _Ảnh: TTXVN

Một số thành tựu và hạn chế về giao lưu văn hóa thế giới của Việt Nam

“Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020” (ban hành theo Quyết định số 581/QĐ-TTg, ngày 6-5-2009, của Thủ tướng Chính phủ) và “Chiến lược văn hóa đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020 với tầm nhìn đến năm 2030” (ban hành theo Quyết định số 210/QĐ-TTg, ngày 8-5-2015, của Thủ tướng Chính phủ) đã khái quát rõ bối cảnh, tình hình trong và ngoài nước; những thành tựu, thách thức liên quan đến giao lưu văn hóa, văn hóa đối ngoại. Có thể nói, đó là hai vòng tròn đồng tâm nằm trong nhau.

Ngày nay, Việt Nam có quan hệ kinh tế – thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ ở cả 5 châu lục, trong đó có 30 nước là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện; trở thành nước duy nhất tại khu vực Đông Nam Á xây dựng khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với tất cả 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các nước lớn. Việt Nam là nước có nền văn hiến lâu đời, đặc sắc, đóng vai trò ngày càng quan trọng và có nhiều đóng góp trong các mối quan hệ ở bình diện quốc tế.

Sau khi đất nước được thống nhất và sau hơn 35 năm đổi mới, đặc biệt từ khi Chính phủ ban hành chiến lược, chính sách thúc đẩy sự phát triển của văn hóa, hoạt động giao lưu văn hóa đã đạt được một số kết quả nổi bật. Việc mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại đã tạo điều kiện thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa nước ta với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, với những quy mô, tầm mức khác nhau. Nhiều hoạt động, như ngày/tuần/tháng văn hóa Việt Nam, biểu diễn nghệ thuật, lễ hội văn hóa – du lịch, chiếu phim, triển lãm sách, ảnh, sản phẩm văn hóa – nghệ thuật, hội thảo, xúc tiến, quảng bá du lịch… nhằm giới thiệu hình ảnh đất nước, con người Việt Nam liên tục được tổ chức ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Các hoạt động giao lưu văn hóa, văn hóa đối ngoại được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao và các bộ, ngành, địa phương liên quan, các cơ quan truyền thông đại chúng, các tổ chức đối ngoại nhân dân, các đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài tổ chức đã đem lại sự thấu hiểu, cảm mến, thân thiện, để lại ấn tượng đẹp đối với cộng đồng quốc tế, tạo tiền đề, điều kiện để nhiều quốc gia, tổ chức trên thế giới mong muốn, tích cực đẩy mạnh giao lưu, hợp tác với nước ta. Tại các tổ chức, như Tổ chức Du lịch thế giới của Liên hợp quốc (UNWTO), Quỹ Văn hóa dân gian quốc tế (IGF), Tổ chức Triển lãm thế giới (BIE), Tổ chức Sở hữu trí tuệ quốc tế (WIPO), Tổ chức Văn hóa – Giáo dục và Khoa học của Liên hợp quốc (UNESCO), Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP)…, đại diện Việt Nam đã thể hiện được sự năng động, tinh thần trách nhiệm, đóng góp một số sáng kiến được ghi nhận, góp phần nâng cao vị thế đất nước.

Không chỉ tổ chức ở nước ngoài, các cơ quan văn hóa còn chủ động phối hợp tổ chức nhiều sự kiện, hoạt động giao lưu văn hóa quốc tế ngay tại Việt Nam, để các tổ chức quốc tế, đoàn ngoại giao, nhà văn hóa, nhà báo, nghệ sĩ, doanh nhân, du khách,… có thể tiếp xúc, tương tác với văn hóa, con người Việt Nam. Thông qua nhiều hoạt động, Việt Nam từng bước nâng cao khả năng hội nhập văn hóa; tiếp nhận hiệu quả những giá trị văn hóa, nghệ thuật và phương thức thể hiện hiện đại, hấp dẫn, tiêu biểu của thế giới, làm phong phú và nâng tầm về cả hình thức, nội dung, giá trị các sản phẩm văn hóa dân tộc. Cùng với đó là việc thành lập và hoạt động của các cơ sở văn hóa của nhiều nước tại Việt Nam, như Viện Goethe của Đức, Thư viện Phòng Văn hóa Sứ quán Mỹ; các trung tâm văn hóa và ngôn ngữ của Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc… tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động giao lưu văn hóa của nước ta.

Tiết mục múa trong chương trình ngày hội giao lưu văn hóa Việt – Nhật do các bạn sinh viên Trường Đại học Thủ Dầu Một biểu diễn_ Ảnh: tdmu.edu.vn

Các hoạt động giao lưu văn hóa ngày càng trở thành một kênh chuyên nghiệp, hiệu quả góp phần nâng tầm vị thế, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trên trường quốc tế. Giao lưu văn hóa không chỉ đẩy mạnh quan hệ với cộng đồng nước ngoài, mà còn truyền bá văn hóa nước nhà đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, gắn kết kiều bào với quê hương, đất nước, thẩm thấu văn hóa Việt Nam tới cộng đồng nước sở tại.

Một số lĩnh vực được thế giới quan tâm đặc biệt và đang là xu thế phát triển cũng được Việt Nam chú trọng. Ngành văn hóa đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, ngày 23-2-2018, “Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, các quyền liên quan”; tổ chức triển khai kế hoạch hành động thực hiện “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.

Quảng bá văn hóa nghệ thuật Việt Nam, giao lưu với các nước là một nội dung quan trọng trong các “Năm Việt Nam” tại nhiều nước, như Liên bang Nga, Trung Quốc, Lào,… hay tổ chức năm chéo Việt – Pháp, Pháp – Việt; Việt – Nga, Nga – Việt… Các lễ hội Việt Nam hằng năm với lượng khách tham gia hàng trăm nghìn người tại Nhật Bản, Hàn Quốc đang trở thành kênh thu hút đầu tư, du lịch tới Việt Nam. Mô hình trung tâm văn hóa, nhà văn hóa Việt Nam tại Pháp, Đức, Thái Lan, Lào… góp phần tích cực kết nối, truyền bá các nét đặc sắc, điển hình của văn hóa, nghệ thuật Việt Nam tới người bản địa và cộng đồng người Việt Nam sinh sống ở nước sở tại. Thực tế mỗi năm, nước ta ký khoảng 20 văn bản hợp tác văn hóa với các nước và ngày càng chú ý hơn tới hiệu quả của việc triển khai hợp tác.

Đối với hoạt động quảng bá du lịch, truyền thông thương hiệu đất nước, các ngành chức năng đã tích cực quảng bá các danh lam, thắng cảnh của Việt Nam tại nhiều trang tin điện tử, tạp chí, kênh truyền thông phổ biến, như CNN, Travel and Leisure, National  Geographic, Condé Nast Traveler, góp phần thu hút xấp xỉ 16 triệu lượt khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong những năm gần đây. Các phương tiện truyền thông đại chúng của nhiều quốc gia trên thế giới đã nhiều lần đăng tin, bài, hình ảnh Việt Nam thông qua hình ảnh và thành tích của nghệ sĩ, vận động viên nước ta tại các cuộc thi quốc tế trên các lĩnh vực điện ảnh, nhiếp ảnh, âm nhạc, bóng đá, võ thuật… Nghệ thuật tạo hình, hội họa bước đầu được truyền thông quốc tế, sàn đấu giá uy tín ghi nhận. Nhiều bức tranh của các danh họa trong nước, như Lê Phổ, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Phan Chánh… được định giá rất cao.Các sự kiện văn hóa quốc tế do Việt Nam tổ chức, như Festival Huế, Liên hoan Phim quốc tế Hà Nội, Liên hoan Xiếc quốc tế, Liên hoan Rối quốc tế… được các nhà chuyên môn, nghệ sĩ, nhà báo, du khách quốc tế tham gia đông đảo, nhiệt tình ủng hộ.

Từ kết quả ngoạn mục của bộ phim Hollywood mang tên “Đảo đầu lâu”, với hơn 70% cảnh được quay tại Việt Nam, các đoàn truyền hình, làm phim thế giới đã tìm đến Việt Nam như một địa điểm lý tưởng cho việc quay phim có các tình huống thú vị, điển hình ở Đông Nam Á. Nhiều hãng truyền thông còn thực hiện các chương trình truyền hình thực tế, khám phá, khảo sát, nghiên cứu văn hóa, du lịch, đời sống, tập quán có bề dày lịch sử của Việt Nam và phát sóng trên các kênh truyền hình có uy tín quốc tế tại Mỹ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Australia… Việc tham gia các cuộc thi hoa hậu mang tính quốc tế, các sự kiện trình diễn thời trang, ẩm thực thuần Việt được tổ chức ở trong, ngoài nước cũng tạo thêm hương sắc Việt Nam trong giao lưu văn hóa quốc tế.

Bà Cecilia Piccioni, Đại sứ Ialia trong tà áo dài Việt Nam giao lưu tại đêm hội áo dài ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội_Ảnh: vietnam.vnanet.vn

Các hoạt động giao lưu văn hóa đã góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác đối ngoại nói chung và hoạt động giao lưu văn hóa nói riêng cho các cấp, ngành và toàn xã hội; góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế nhờ giao lưu văn học, nghệ thuật và các hình thức sáng tạo khác; thúc đẩy giao lưu quốc tế. Các phương tiện giao lưu văn hóa được các cấp, ngành, địa phương đầu tư căn bản, hiện đại, góp phần tăng thêm hiệu quả công tác văn hóa đối ngoại. Hình thức, nội dung giao lưu văn hóa ngày càng đa dạng, gồm nhiều thể loại, có sự kết hợp giữa văn hóa đối ngoại với chính trị – kinh tế đối ngoại, ngoại giao công chúng, ngoại giao nhân dân… Xây dựng được thể chế, thiết chế cho hoạt động giao lưu văn hóa, kết nối hữu cơ với loại hình gần gũi là văn hóa đối ngoại.

Mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn, nhưng nhìn chung, các hoạt động giao lưu văn hóa của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế và sự nghiệp phát triển đất nước. Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đã đánh giá đúng vai trò của văn hóa và giao lưu văn hóa, văn hóa đối ngoại đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện ở các cấp, ngành còn có hạn chế, trước hết từ khâu nhận thức chưa đầy đủ; chưa có một cơ chế điều phối ở cấp quốc gia về các hoạt động giao lưu văn hóa. Do đó, sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, giữa trong nước và ngoài nước (các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài), giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân trong tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa còn thiếu tính chủ động và hiệu quả chưa cao.

Các ngành công nghiệp văn hóa của Việt Nam còn non trẻ, các doanh nghiệp văn hóa có quy mô nhỏ, lẻ, phân tán, chưa tạo ra được những sản phẩm đủ sức cạnh tranh, nâng vị thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế.Nguồn nhân lực trong lĩnh vực giao lưu văn hóa ở các bộ, ngành, địa phương không đồng đều về trình độ, khả năng ngoại ngữ, cũng như sự am hiểu về văn hóa, luật pháp và phong tục, tập quán quốc tế. Công tác nghiên cứu, dự báo, định hướng hoạt động văn hóa đối ngoại còn yếu, gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động giao lưu văn hóa. Tiêu chí về trình độ, năng lực, hiệu quả công việc của cán bộ tác nghiệp giao lưu văn hóa chưa rõ ràng, một số cán bộ phụ trách công tác này chưa đáp ứng được yêu cầu công việc.

Về tổng thể, mức độ đầu tư cho ngành văn hóa trong tổng chi ngân sách tương đối thấp so với các lĩnh vực khác. Các nguồn vốn xã hội hóa và nguồn vốn nước ngoài cho lĩnh vực văn hóa, đặc biệt là công tác giao lưu văn hóa, chiếm một tỷ trọng nhỏ, chưa tương hợp với yêu cầu, nhiệm vụ và tầm quan trọng của lĩnh vực này. Chưa có các chính sách khuyến khích, ưu đãi cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động giao lưu văn hóa.

Một số khuyến nghị, giải pháp thúc đẩy giao lưu văn hóa thế giới

Thứ nhất, với một lĩnh vực rộng, đa ngành, thiên về năng lực sáng tạo là giao lưu văn hóa, cần chú trọng lựa chọn cán bộ quản lý chủ chốt là các chuyên gia vừa có trình độ chuyên môn, vừa am hiểu cơ chế quản lý để chỉ đạo sát hợp, hiệu quả. Các cơ quan chỉ đạo, quản lý liên quan lĩnh vực giao lưu văn hóa (Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin và Truyền thông, các cơ quan truyền thông đại chúng, các địa phương…) cần chủ động phối hợp xây dựng một chiến lược cụ thể về giao lưu văn hóa, trong đó bao gồm toàn diện, đầy đủ về mục tiêu, nguyên tắc, nguồn lực, cách thức triển khai, trách nhiệm chi tiết giữa các đơn vị để thực hiện giao lưu văn hóa dài hạn sau năm 2020. Các thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch và Bộ Ngoại giao trong lĩnh vực văn hóa đối ngoại hay thúc đẩy giao lưu văn hóa/quảng bá văn hóa quốc gia (giai đoạn sau năm 2020) cần làm rõ sự phối hợp có tính đột phá. Sự chỉ đạo thống nhất ở cấp cao nhất cần được quan tâm đặc biệt, có văn phòng điều phối, có lãnh đạo cao cấp chỉ đạo, có chuyên viên kiêm nhiệm đủ năng lực, kinh nghiệm trong lĩnh vực giao lưu văn hóa.

Chương trinh giao lưu nghệ thuật chào mừng 50 năm thành lập ASEAN và 22 năm ngày Việt Nam gia nhập ASEAN _ Ảnh: cucnghethuatbieudien.gov.vn

Thứ hai, cần kiện toàn công tác quản lý, giám sát các hoạt động quảng bá và tiếp nhận các giá trị văn hóa, không chỉ thông qua việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy, điều chỉnh chính sách, mà còn là áp dụng công nghệ hiện đại trong lưu trữ, phân tích, xử lý, phân phối các sản phẩm văn hóa, chia sẻ thông tin và bảo đảm an toàn nội dung thông tin. Chính sách và văn bản pháp quy phải bảo đảm tính khả dụng, khoa học, hiệu quả lâu dài để không chỉ cán bộ chuyên môn, mà mọi công dân Việt Nam và kiều bào nước ngoài có thể lấy làm căn cứ để tùy theo điều kiện của mình tích cực sáng tạo, đóng góp cho giao lưu văn hóa của đất nước.

Thứ ba, cần chú ý đến yếu tố truyền thông, vai trò của truyền thông đại chúng trong giao lưu văn hóa. Trong thời kỳ hội nhập, các phương tiện truyền thông hiện đại có thể truyền bá, phổ cập liên tục, nhanh chóng, rộng rãi những thông tin, hình ảnh, âm thanh… của đời sống văn hóa, giá trị văn hóa cho công chúng. Công chúng ngày nay phân thành nhiều nhóm, không chỉ kết nối với cư dân trong nước, mà còn với cư dân nước ngoài qua internet, mạng xã hội, vì vậy cần có hình thức truyền tải phù hợp với các đối tượng. Cần xây dựng hệ giá trị văn hóa chuẩn mực người Việt Nam, vừa tiếp thu nét đẹp truyền thống, vừa gắn với các giá trị chân – thiện – mỹ, vừa hiện đại, để công chúng, nhất là người trẻ có định hướng đúng, có thể chủ động tiếp thu các giá trị văn hóa tiến bộ từ bên ngoài, nhưng vẫn có khả năng “miễn nhiễm” với văn hóa lai căng.

Thứ tư, giao lưu văn hóa gắn bó hữu cơ với ngoại giao văn hóa nên phải thống nhất nhận thức của mọi cấp, ngành, xã hội trong việc thúc đẩy sâu, rộng chính sách ngoại giao văn hóa, chú trọng kiện toàn bộ phận phụ trách giao lưu văn hóa, ngoại giao văn hóa ở các cơ quan đại diện nước ngoài (nhất là các đại sứ quán, nhà văn hóa…); coi ngoại giao văn hóa là lĩnh vực có thể tiếp xúc, mở đường, vận động, trao đổi, tiếp thu, quảng bá nhằm tăng cường sự hiểu biết, thân thiện, tín nhiệm giữa Việt Nam và các nước, từ đó giúp đẩy mạnh hợp tác, đầu tư, thương mại, du lịch, văn hóa – nghệ thuật, kinh tế, giáo dục, môi trường, xã hội… Thực hiện Nghị quyết số 36/NQ-TW, ngày 26-3-2004, của Bộ Chính trị, “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”; Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 19-5-2015, của Bộ Chính trị, “Về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, của Bộ Chính trị khóa IX, “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài” trong tình hình mới”, các ngành chức năng cần luôn quan tâm đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài để  truyền bá, giải thích về chính sách văn hóa của Đảng và Nhà nước, đưa văn hóa dân tộc đến với đồng bào để cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vừa gìn giữ, phát triển văn hóa truyền thống của dân tộc, vừa là cầu nối lan tỏa các sản phẩm, giá trị văn hóa Việt Nam đến các nước sở tại.

Thứ năm, việc thưởng phạt, tôn vinh, sử dụng, đãi ngộ người tài trong hoạt động giao lưu văn hóa, văn hóa đối ngoại cần thực hiện công bằng, kịp thời. Chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ làm việc trong các cơ sở đào tạo văn hóa, nghệ thuật, ngoại giao văn hóa; cải tiến chương trình giảng dạy theo kịp khu vực và quốc tế, cả về chuyên môn và ngoại ngữ; đồng thời vừa chọn lọc kỹ đầu vào trong công tác đào tạo, lại vừa có đầu ra bảo đảm chất lượng để người được đào tạo có thể đóng góp tích cực cho sự nghiệp giao lưu văn hóa. Mặt khác, cần tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế, trao đổi chuyên môn giữa các nhà hoạt động về giao lưu văn hóa, học giả, văn nghệ sĩ, nhà sáng tác… Tăng cường chọn lọc giảng viên giỏi, tâm huyết để gửi đi đào tạo tại các nước có thành tựu giao lưu văn hóa. Đối với sinh viên, học viên tốt nghiệp loại giỏi ở nước ngoài, cần có chủ trương mời gọi, tuyển dụng về làm việc cho cơ sở đào tạo, đơn vị tác nghiệp giao lưu văn hóa Việt Nam. Đối với các ngành công nghiệp văn hóa, thủ công mỹ nghệ đặc sắc, cần chọn lọc những ngành, nghề có lợi thế về chế tác, nguyên liệu, truyền thống lâu đời, có thị trường tiêu thụ trên thế giới để xây dựng, phát triển.

Thứ sáu, cần đầu tư đầy đủ, kịp thời cả về con người và cải tiến bộ máy quản lý, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hoạt động giao lưu văn hóa. Không đầu tư theo kiểu bình quân, mà căn cứ vào kết quả đầu ra, thông qua đội ngũ thẩm định uy tín. Đối với một số lĩnh vực có tác dụng truyền thông, quảng bá văn hóa rõ nét, dễ kết nối với thế giới, như văn học, âm nhạc, nên chú trọng đầu tư nhiều hơn. Đơn cử, đầu tư cho dịch thuật từ tiếng Việt ra tiếng nước ngoài, đặc biệt là tiếng Anh và phổ biến những tác phẩm văn học – nghệ thuật (nhất là thơ ca, tiểu thuyết) có giá trị nổi bật ra nước ngoài; tạo điều kiện để các ban nhạc hát tiếng Anh, nhạc sĩ sáng tác tiếng Anh có tác phẩm dự thi các giải khu vực và thế giới…/. Tag Văn Hóa Xã Hộigiao lưu văn hóachiến lược phát triển văn hóa

Bài cùng chủ đề

Ba chính sách trụ cột chính để phát huy nguồn lực văn hóa trong xây dựng Thủ đô sáng tạo  (22/02/2021)

Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến văn hóa, lối sống người dân Việt Nam  (09/12/2020)

Chuyển biến văn hóa – xã hội của Hà Nội trong bối cảnh hội nhập hiện nay  (16/10/2020)

Vai trò của văn hóa trong Chiến lược phát triển của Thủ đô Hà Nội  (12/10/2020)

Du lịch Việt Nam: Thành công và những bài học thời kỳ hội nhập  (30/06/2020)

https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/823661/giao-luu-van-hoa-the-gioi-trong-chien-luoc-phat-trien-van-hoa-cua-viet-nam.aspx#