Mois : octobre 2021

Đặng Hoành Loan tiểu sử (1943 -)

Đặng Hoành Loan

Đặng Hoành LoanSubmitted by quantri on 02/09/2016 – 01:24

Đặng Hoành Loan

Chuyên ngành nghiên cứu – lý luận

Ông có bút danh Đặng Nguyễn, sinh ngày 22 tháng 12 năm 1943 tại thị xã Hà Đông. Quê ở Chương Mỹ, Hà Tây. Nguyên Phó Viện trưởng Viện Âm nhạc kiêm Trưởng ban biên tập tạp chí Thông báo khoa học Viện Âm nhạc. Ông đã nghỉ hưu, hiện ở quận Cầu Giấy, Hà Nội.

Hơn 40 năm hoạt động âm nhạc, ông là một trong những nhạc sĩ năng động, sáng tạo trên nhiều lĩnh vực: biểu diễn, sáng tác, chỉ huy, nghiên cứu, lý luận âm nhạc và cả quản lý. Từ 1959-1963, ông học và tốt nghiệp Khoa Nhạc cụ dân tộc Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam). Từ năm 1964-1975, ông chỉ huy Dàn nhạc Đoàn Ca Kịch Liên khu V. Từ năm 1976, ông là cán bộ nghiên cứu, sưu tầm Viện Âm nhạc. Đến năm 1996, ông làm Phó Viện trưởng Viện Âm nhạc kiêm Trưởng ban biên tập tạp chí
Thông báo khoa học Viện Âm nhạc.

Những công trình nghiên cứu âm nhạc tiêu biểu:

Tìm hiểu cấu trúc âm nhạc trong lớp Tuồng Võ Tam Tư

(tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 1990),

Một phác thảo về âm nhạc dân gian và cổ truyền Quảng Trị

(sách
Âm nhạc cổ truyền Quảng Trị,
Viện Nghiên cứu Âm nhạc và Sở Văn hóa Thông tin Quảng Trị, 1997),

Phát triển âm nhạc truyền thống – mục tiêu, kết quả và những tồn tại

(sáchkỷ yếu Hội thảo khoa học

Phát triển âm nhạc truyền thống – ý nghĩa văn hóa và thành tựu nghệ thuật,

Bộ Văn hóa Thông tin, 2004);
Ca trù – những điều trông thấy
(sách
Đặc khảo Ca trù Việt Nam,
Viện Âm nhạc, 2006);
Cồng chiêng Tây Nguyên – không mà có
(tạp chí Di sản văn hóa, Bộ Văn hóa Thông tin, 2007).

Ngoài lĩnh vực nghiên cứu – lý luận, ông còn tham gia nhiều hoạt động âm nhạc khác, đặc biệt là sáng tác nhạc hòa tấu và nhạc hát. Một số tác phẩm tiêu biểu:
Huyền sử chiêng đồng
(poème ballet, 1990),
Nghe kể H’Ri
(nhạc múa),
Suối đàn T’rưng hát
(hòa tấu 20 đàn T’rưng); sáng tác âm nhạc cho 5 vở kịch hát mới:

Quạ thần và pho tượng đá, Trầu Cau, Chốn quan trường, Thiên kim tình hận


Phạm Công – Cúc Hoa.
Ông đã có 2 album âm nhạc:
Chuyện tình núi và sông

Dự cảm
(Nxb. Âm nhạc, 2007).

Với những đóng góp của mình, ông đã được tặng thưởng: Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba, Bằng khen Chính phủ và Huy chương 25 năm ngành Văn hóa.

PGS Đặng Hoành Loan: Nên có một bảo tàng mang tên GS Trần Văn Khê

PGS Đặng Hoành Loan: Nên có một bảo tàng mang tên GS Trần Văn Khê

Dân trí

Theo Phó Giáo sư, nhạc sỹ Đặng Hoành Loan, với những cống hiến và đóng góp của GS Trần Văn Khê chúng ta nên có một bảo tàng, giới thiệu trưng bày những tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học nghệ thuật của ông.

Giáo sư Trần Văn Khê

Giáo sư Trần Văn Khê ra đi để lại sự tiếc thương đối với gia đình và những người yêu mến ông. Theo PGS, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, hiếm có một GS nào có tình yêu âm nhạc truyền thống như GS Trần Văn Khê.

GS Trần Văn Khê được biết đến như một bậc đại thụ, trưởng bối với nhiều đóng góp và cống hiến cho nền âm nhạc Việt Nam. Chính vì thế, thông tin về sự ra đi của GS Khê khiến cho không ít người cảm thấy đau xót, bàng hoàng. Phó Giáo sư, nhạc sỹ Đặng Hoành Loan – người từng có nhiều cơ hội được tiếp xúc, làm việc với GS Khê cũng không giấu nổi xúc động cho biết, ông cảm thấy mất mát và hụt hẫng như mất đi một người thân trong gia đình. 

Đối với nhạc sỹ Đặng Hoành Loan, GS Trần Văn Khê vừa là một người thầy, vừa là một tấm gương mẫu mực về quá trình lao động nghệ thuật, sự đam mê và cống hiến hết mình cho công việc. Theo nhạc sỹ Đặng Hoành Loan, cả cuộc đời GS Trần Văn Khê vẫn đeo đuổi chỉ một công việc: nghiên cứu, giảng dạy, quảng bá giá trị đặc sắc của âm nhạc truyền thống Việt Nam và góp phần vinh danh giá trị đó ở khắp mọi nơi trên thế giới. 

Với GS Trần Văn Khê, âm nhạc truyền  thống là một thứ quốc hồn, quốc túy. Ông không bỏ lỡ một dịp nào để đem lời ca, tiếng nhạc Việt Nam đến khắp năm châu dù đó là những lần thuyết trình trên các đài truyền thanh, truyền hình hay trong các chuyến đi tham dự hội nghị âm nhạc. Chính vì thế, nhắc đến GS Trần Văn Khê người ta nhắc đến một thư viện sống, một bách khoa toàn thư về âm nhạc truyền thống Việt Nam. Chính Giáo sư Khê là người đã có công góp sức rất lớn vào việc thẩm định Hồ sơ Nhã nhạc cung đình Huế và được giao trọng trách thẩm định hồ sơ cồng chiêng Tây Nguyên.

Ông đã chứng minh được những nét đặc sắc, độc nhất vô nhị của hai loại hình nghệ thuật này. Không lâu sau đó, Nhã nhạc cung đình Huế, cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Theo GS Đặng Hoành Loan, phải nghe GS Khê nói về cội nguồn âm nhạc dân tộc, mới cảm được hết cái tình của một người nhạc sĩ suốt đời say mê nghiên cứu, sưu tầm, phổ biến âm nhạc truyền thống Việt Nam. Ông rất bác học, tinh tế nhưng lại rất mộc mạc, giản dị và đời thường. Hiếm có một vị giáo sư nào mà vừa có thể thuyết giảng, diễn thuyết minh họa về  chèo, tuồng, cải lương, hát bài chòi, hò Huế, hò lục tỉnh… lại vừa đàn, vừa ca “mượt mà” được như ông. 

PGS, Nhạc sỹ Đặng Hoành Loan. (Ảnh: NNVN)

PGS, Nhạc sỹ Đặng Hoành Loan. (Ảnh: NNVN)

Nhạc sỹ Đặng Hoành Loan xúc động kể:  “Điều rất khó tìm ra ở một Giáo sư như ông đó là tình yêu, sự hết mình với âm nhạc Việt Nam. Trong nhiều năm liền, bác miệt mài nghiên cứu, xây dựng những bộ đĩa âm thanh của những nghệ nhân như Quách Thị Hồ, ông Năm Ngũ… để đề cử với hội nghị âm nhạc thế giới. Cũng chính ông là người trực tiếp đề xuất hỗ trợ, trợ cấp cho các nghệ nhân ưu tú với mong muốn thúc đẩy, cổ vũ sự phát triển của loại hình nghệ thuât truyền thống đối với đông đảo tầng lớp xã hội. Rất nhiều học trò của ông trên khắp thế giới cũng được “truyền lửa” và có những đóng góp lớn cho nên âm nhạc Việt Nam”.

Trước đây, khi nhạc sỹ Đặng Hoành Loan còn công tác ở Viện âm nhạc Việt Nam cũng đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình của GS Trần Văn Khê: “Hồi đó ông còn đang ở nước ngoài, nhưng hầu như lần nào về Việt Nam ông cũng đến Viện âm nhạc thăm, động viên tinh thần anh em ở đó. Tôi nhớ có lần, khi trông thấy kho tư liệu với rất nhiều băng đĩa, tài liệu cổ được chúng tôi cất giữ, bảo quản cẩn thận, ông đã nắm tay tôi xúc động và nói: Bằng mọi giá phải giữ được những thứ này, đó là tài sản vô giá mà không thể đánh đổi bằng bất cứ thứ gì”.

GS Khê làm việc miệt mài, ngay cả khi sức khỏe kém phải ngồi xe lăn. Nhạc sỹ Đặng Hoành Loan kể,  không chỉ là người đứng ra tổ chức, xây dựng các chương trình khơi lửa tình yêu âm nhạc truyền thống, ông còn dành nhiều thời gian cho các hội thảo khoa học trong nước, quốc tế. Căn nhà rộng gần 200m2 của ông tại quận Bình Thạnh được ông biến thành không gian sinh hoạt của những người yêu âm nhạc truyền thống. 

Cứ đều đặn hàng tuần nhiều thành phần, tầng lớp xã hội lại cùng gặp gỡ, trò chuyện. Họ đơn giản chỉ là sinh viên, người bán nước, hay đến cả giáo viên, kỹ sư nhưng cùng có chung niềm đam mê với các loại hình nghệ thuật truyền thống.

55 năm sống ở nước ngoài nhưng vẫn mang quốc tịch Việt Nam, một đời GS Trần Văn Khê chỉ đau đáu nỗi niềm và tình yêu dành cho âm nhạc dân tộc. Ở tuổi 94, trải qua nhiều thăng trầm; giáo sư vẫn minh mẫn, lạc quan và cho rằng đời sống của mình thế cũng là viên mãn lắm. 

Trong một lần trả lời phát biểu, khi được nói về mình ông cho biết: “Khê nghĩa là suối”, tôi ví mình như dòng suối chảy ra biển cả rồi lại ngược về nguồn, đã đậm đà vị mặn nhưng không hề bớt trong mát…” Những điều ích lợi mà ông đã làm cho dân tộc mình theo cách riêng của ông đã được quê hương xứ sở ghi nhận sau những năm dài.

Chính vì những đóng góp lớn lao và quá trình cống hiến không mệt mỏi của GS Trần Văn Khê, theo nhạc sỹ Đặng Hoành Loan, Việt Nam nên có một bảo tàng, giới thiệu trưng bày những tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học nghệ thuật của ông. Đây cũng là một cách truyền lửa tình yêu âm nhạc truyền thống cho các thế hệ sau này.

Hà Trang

https://dantri.com.vn/van-hoa/pgs-dang-hoanh-loan-nen-co-mot-bao-tang-mang-ten-gs-tran-van-khe-1435909953.htm

Sự kiện: GS Trần Văn Khê qua đời

Từ khóa:

Đáng quan tâm

Tiếng Hát Ngày Xưa: Hải Minh hát Quyết Tiến của Võ Đức Thu.

Tiếng Hát Ngày Xưa: Hải Minh hát Quyết Tiến của Võ Đức Thu.

Quyết Tiến

Tác giả: Võ Đức Thu

Quyết tiến ta giống dân Lạc Hồng
Liều thân sống tranh đấu giữ gìn non sông
Quyết tiến khi nước non nguy biến
Máu anh hùng ngàn đời nhuộm thắm non sông

Quyết tiến khi nước non reo hò
Lòng cương quyết tranh đấu giữ gìn tự do
Quyết tiến khi nước non nguy biên
Máu anh hùng rạng danh nòi giống Tiên Rồng

Vết anh hùng ngàn xưa nay còn lưu dấu
Theo sử xanh nước Việt ngàn đời hùng anh
Chí quật cường toàn dân hy sinh tranh đấu
Giống Lạc Hồng rạng danh nòi giống Tiên Rồng

ERIC BRIGHTWELL : THIÊN HƯƠNG (aka « TINY YONG »)

Thiên Hương (aka “Tiny Yong”)

~ Eric Brightwell

Tais-Tai Petite Folle
Je t'attendrai
Histoire d'amour
Il Reviendra
Huit Heurs
Tiny long hair

Thiên Hương — better known as “Tiny Yong” is a French singer associated with the yé-yé scene of the 1950s and ’60s. In fact, she was a pioneer on the scene, releasing yé-yé music before notable singers like France Gall and Jacqueline Taïeb.

She was born Tôn Nữ Thị Thiên Hương on 8 February 1944 in Phnom Penh — the capital of Cambodia since 1865 but then part of French-Indochina. Her father was a doctor and her mother a homemaker; both traced their heritage to Vietnam‘s Dương Dynasty. The family relocated to Saigon and Thiên Hương was schooled at Le Couvent des Oiseaux de Dalat, where she learned English, Spanish, and French. In 1958, the family again relocated, this time to a home on La rue Coustou in Paris‘s 18th arrondissement. There, her father continued to practice medicine and her mother opened a Vietnamese restaurant.

Monde de Suze Wong.jpg

In 1960, Thiên Hương performed in Albert Camus‘s Les Justes and Jean Cocteau‘s L’Épouse injustement soupçonnée, staged at La Théâtre de la Tomate. She next appeared in François Campaux‘s Chérie Noire. Meanwhile, her brother helped her secure a job performing Vietnamese and French “chanson à texte” at a cabaret in the 1st arrondissement called La Table du Mandarin. In December, she made her television debut on Aimée Mortimer‘s show A L’École des vedettes. The following February, she returned to the airwaves to mime “Rêve Opératoire.” In March she released her debut recording, the 7″ EP “Le Monde de Suzie Wong,” accompanied by Jacques Loussier et son orchestre, on Caravelle.

Tiny Black and White

Cambodian actress and singer Tiny Yong in Rome, Italy, to star in the film 'Parias de la gloire' ('Pariahs of Glory'), 1964. (Photo by Keystone/Hulton Archive/Getty Images)

In April, Thiên Hương performed “Si tu cherches ta jeunesse” on the music television series, Discorama, a song intended for an EP which ultimately wasn’t released. She also continued performing at La Table du Mandarin, where she was noticed by filmmaker Robert Hossein, who cast her as “L’eurasienne” in Jeu de la vérité (1961).https://www.youtube.com/embed/LI1Wb35R5Pw?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=en&autohide=2&wmode=transparent

Tiny Yong Yellow

Her second audio release was “La Prison de Bambou,” a duet with Jean-Philippe, backed by Jack Ledru et son ensemble, and released by the tiny label, Lotus in 1962. It was recorded for the 1962 Piero Pierotti film, L’avventura di un italiano in Cina, in which she also appeared as “Tai-Au.” It was released in the US, dubbed in English, as Marco Polo — and with a Les Baxter score.

In November, she returned to Discorama where she performed “L’Oiseau de paradis” — the theme to Marcel Camus‘s film of the same name. For the performance she was accompanied by Elek Bacsik (a cousin of Django Reinhardt) and Henri Salvador (a Guyanese comedian, singer, and producer who co-owned his own label Disques Salvador with his wife, Jacqueline).

In December, Thiên Hương appeared on another television program, La Tournée des Grands Ducs, this time joined by her sister Bạch Yến, with whom she duetted on “Les Fées du crépuscule.”https://player.vimeo.com/video/279329214https://www.youtube.com/embed/hMNpqtNr8OE?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=en&autohide=2&wmode=transparent

Shortly after, Thiên Hương signed a deal with Disques Salvador, where Henri and Jacqueline came up with a new nom de scène, “Tiny Yong.” The couple hoped to fashion her into a rock ‘n’ roller along the lines of Jacky Moulière. Henri Salvador also owned a club, L’Alhambra, where Thiên Hương began singing songs popularized by American girl groups. Her first recording for Disques Salvador was “Tais-Toi Petite Folle” with Christian Chevallier. The A-side was a French language cover of Helen Miller and Howard Greenfield‘s, which had been a big hit for The Shirelles just weeks earlier. The B-side was a French cover of Roy Orbison‘s “In Dreams” titled “En rêve.”

Tiny Yong – Je Ne Veux Plus T'aimer

Her next release was the 10″ album, Je Ne Veux Plus T’Aimer, the title track a cover of Goffin And King‘s “I Can’t Stay Mad at You” adapted into French by Hubert Ithier.https://www.youtube.com/embed/avdfQnbFbOc?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=en&autohide=2&wmode=transparent

For the next few years, Tiny Yong was a regularly featured performer on television, radio, film, and in print ads for companies including Bic and Odilène; all the while releasing 7″ EPs on Disques Salvador and Rigolo (the Salvador’s other label). In March 1964, she performed “Les garçons m’aiment” on the program, Âge tendre et tête de bois, for which she was introduced by Albert Raisner as “la yéyé du pays du sourire” (even though it’s Thailand which is sometimes referred to as “the land of smiles.” In April she appeared as “La chinoise ” in the Henri Decoin film, Les Parias de la gloire. She next performed on Les Raisins verts and twice on La grande farandole.https://www.youtube.com/embed/q37xBPGdr4g?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=en&autohide=2&wmode=transparenthttps://www.youtube.com/embed/h7eIzKTUtVQ?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=en&autohide=2&wmode=transparent

In 1965, she performed on Entrez dans la ronde, Pirouettes Salvador, and Tête de bois et tendres années. https://www.youtube.com/embed/rrIQnYrqfQE?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=en&autohide=2&wmode=transparenthttps://www.youtube.com/embed/CEOoVHJWec0?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=en&autohide=2&wmode=transparent

Yong’s final release on Rigolo was “Mon Futur Et Mon Passé” in 1965. A second appearance on Tête de bois et tendres années — on 27 April 1966 — proved to be her final television performance. Following a disagreement with the Salvadors, she parted ways with them.

Mon Futur.jpg

Advertisements https://c0.pubmine.com/sf/0.0.3/html/safeframe.html Report this adPrivacy

Tiny Yong Mushroom

Hương appeared as in Nicolas Gessner‘s 1967 film, La blonde de Pékin, in which still credited as “Tiny Yong” she played Yen Hay Sun.

Hương returned to Saigon, in 1968 — the year the Tet Offensive marked a major turn in the Vietnam War. There she resumed performing at cabarets before deciding to retire from public performance. In 1970, she returned to France where she appeared on an episode of Allô police titled “La pantoufle de jade.

Advertisements https://c0.pubmine.com/sf/0.0.3/html/safeframe.html Report this adPrivacy

It was also in 1970 that she opened the first of several restaurants — first in Paris, then in Saint-Germain-des-Prés, followed by Pont de Jade in Pont-sur-Yonne, and finally in Montpellier, where she resides today. She married An Nguyên Ngoc and the two had a daughter.

Naturally, Thiên Hương/Tiny Yong’s vinyl catalog is out of print but her music has been thrice compiled by Magic Records on compact disc: La Collection Sixties Des EP’s Français, Tiny Yong – L’integrale 1961/1965, and the two-disc Tiny Yong – L’Intégrale Sixties. In 2017, a duet with Trần Văn Trạch of Nguyễn Văn Đông‘s “Chiều Mưa Biên Giới” was released 57 years after it was recorded.

Bon anniversaire!


Prison de Bambou

DISCOGRAPHY

  • 1961 – Le Monde de Suzie Wong (7″, EP), Caravelle
  • 1961 – Le Monde de Suzie Wong / Pour t’aimer / Geisha / Fol amour (7″, EP), Caravelle
  • 1962 – Parfum Céleste / La Prison De Bambou / Avril A Paris / Mon Galant Viendra (with Jean Philippe), (7″, EP), Lotus
  • 1963 – Tais toi petite folle (7″, Single), Disques Salvador
  • 1963 – Je ne veux plus t’aimer (10″, Album), Disques Salvador
  • 1963 – Je ne veux plus t’aimer (7″, EP), Disques Salvador
  • 1963 – Je ne veux plus t’aimer (I Can’t Stay Mad At You) / Le Carrosse blanc (7″, Single), Disques Salvador
  • 1963 – En rêve (In Dreams) / Ma poupée (Charms) (7″, Single, Promo, Juk), Disques Salvador
  • 1963 – Je ne veux plus t’aimer / Le Carrosse blanc / Tu es seule / Un seul garçon sur la Terre (7″, EP), Disques Salvador
  • 1963 – Je ne veux plus t’aimer / Le Carrosse blanc / Ma poupée / En rêve / Tais-toi petite folle / Un seul garçon sur la Terre / Tu es seule / Syracuse (LP25), Disques Salvador
  • 1964 – Tiny Yong avec Christian Chevallier et son Orchestre Mon chien et moi / Je t’attendrai / Les garçons m’aiment / Il reviendra (7″, EP), Belter, Disques Salvador
  • 1964 – Histoire d’amour / Aime-moi / C’est fini nous deux / Tout ce qui fut l’amour (7″, EP), Rigolo, Belter
  • 1964 – Tiny (I’m Too Young) / La Nuit est à nous / Le Sauvage (He Is No Good) / Adieu Bonne Chance (Shake Hands With A Loser) (7″, EP), Rigolo
  • 1964 – Il reviendra (7″, Single), Disques Salvador
  • 1964 – Je t’attendrai / Mon chien et moi (7″, Single), Disques Salvador
  • 1964 – Un seul garçon sur la Terre (7″, EP), Belter
  • 1964 – Je t’attendrai / Les garçons m’aiment / Il reviendra / Mon chien et moi (7″, EP), Disques Salvador
  • 1965 – Huit jours par semaine / Le Tigre (7″, Single), Rigolo
  • 1965 – Mon futur et mon passé (7″, EP), Rigolo
  • 1965 – Huit jours par semaine / Tu es le roi des menteurs / Le Tigre / Je reviens pour toi (7″, EP), Rigolo
  • 1966 – Mon futur et mon passé / Le Bonheur / Je t’aime t’aime tant / Il ne me reste plus rien (7″, EP), Rigolo
  • 2017 (recorded in 1960) –  Chiều Mưa Biên Giới (7″, single), Dĩa Hát Dư Âm

daidoanket.vn: HỒ THỤY TRANG- Người giữ lửa cho âm nhạc cổ truyền Việt Nam tại Pháp

Hồ Thụy Trang- Người giữ lửa cho âm nhạc cổ truyền Việt Nam tại Pháp

h

Trong những năm gần đây, khán giả kiều bào tại Paris và vùng phụ cận cũng như bạn bè Pháp “được đi du lịch” tại Việt Nam nhiều hơn, có cơ hội khám phá văn hóa Việt Nam nhiều hơn, và đó phần nào nhờ nữ nghệ sĩ Hồ Thụy Trang và ban nhạc Tiếng

Chị Hồ Thụy Trang sinh năm 1964 tại TP Hồ Chí Minh, trong một gia đình có truyền thống yêu âm nhạc. Lên 6 tuổi, chị bắt đầu học hát và đàn tranh tại trung tâm Phượng Ca. Lên 7 tuổi, chị đã vượt qua cuộc thi vào Trường Quốc gia âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn, nay là Học viện Âm nhạc TP Hồ Chí Minh. Chị tốt nghiệp hạng ưu năm 1986 và bắt đầu sự nghiệp giảng dạy. Ngoài ra, chị còn thường xuyên tham gia các liên hoan âm nhạc trên thế giới.

Với ngón đàn điêu luyện của mình, qua những âm thanh tuyệt vời nhất của nhạc cụ truyền thống Việt Nam, chị đã góp phần không nhỏ vào quá trình giới thiệu âm nhạc Việt Nam đến các bạn bè quốc tế.

Từ năm 2003, chị chính thức định cư tại Créteil, một thành phố ngoại ô Paris, và đã qua cuộc thi khó khăn để nhận bằng Quốc gia của Bộ Văn hóa – Thông tin Pháp. Chị đã giảng dạy Âm nhạc truyền thống Việt Nam tại các thành phố Marseille, Bordeaux và Lausanne, tại Nhạc viện các thành phố ngoại ô Paris như Bussy-Saint-Georges và Lagny, Créteil và hội Tre Xanh. Chị cũng đã trình lên Bộ Giáo dục Pháp một dự án nhằm đưa Âm nhạc truyền thống Việt Nam vào giảng dạy chính thức tại trường học Pháp. Chị đã “có quyền tự hào và tự hãnh diện một chút vì mình là người Việt Nam thứ ba được chính phủ Pháp chính thức công nhận là giáo sư âm nhạc Việt Nam”.

Bắt đầu từ năm 2000, Hồ Thụy Trang và năm người bạn đã thành lập ban nhạc Tiếng Tơ Đồng tại Paris. Đây cũng là ban nhạc được chính phủ Pháp cấp giấy phép tổ chức sự kiện và được xem như một công ty biểu diễn.

Với gần 40 năm kinh nghiệm giảng dạy, chị đã đào tạo hàng ngàn tài năng trẻ. Hồ Thụy Trang không chỉ dạy cho họ những kiến thức cơ bản mà còn cả những kỹ thuật chơi bắt nguồn từ những kinh nghiệm riêng. Chị đã không chỉ đem đến cho thế giới những người yêu âm nhạc truyền thống hứng thú nghe đàn mà còn xem chị chơi với những kỹ thuật và phong cách do chị sáng tạo, khiến mỗi buổi biểu diễn như tăng thêm sức hấp dẫn đối với khán giả. Chị cũng thường xuyên biểu diễn cùng các nghệ sỹ có tên tuổi trên thế giới. Với chị, khi được biểu diễn với người nước ngoài là một vinh dự “vì nước Pháp được coi là một quốc gia đa dân tộc, mình được diễn với họ, được diễn với người Pháp, được diễn với người Mỹ, người Đức chẳng hạn thì mình được học hỏi nhiều cái mới, phong cách biểu diễn cũng như nền nhạc của họ. Đó là điều khiến mình trau dồi thêm sự hiểu biết, cũng như để có thể phát triển nền âm nhạc Việt Nam đến một hướng mới hơn”. Báo chí Pháp đã đưa tin khá nhiều về nghệ sĩ Hồ Thụy Trang và những cuộc trình diễn.

Chị là một nghệ sĩ quen thuộc trên sân khấu ở Trung tâm Văn hóa Mandapa, nằm trong quận 13 của thành phố Paris. Mùa văn hóa 2018-2019, Trung tâm đã bắt đầu tổ chức chương trình Hộ chiếu đến nước X.  Việt Nam đã vinh dự là điểm đến đầu tiên với “Hộ chiếu đến Việt Nam”. Đêm khai mạc đã vinh dự được đón ông Nguyễn Thiệp, đương kim Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Pháp, giám đốc Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Pháp và một số nhà lãnh đạo quận, Thành phố Paris. Dịp ấy, chị Trang đã cố vấn để ban tổ chức mời nhiều nghệ sĩ nhạc cổ bên Việt Nam sang biểu diễn tại Trung tâm. Cùng với hàng chục buổi trình diễn của chị và Tiếng Tơ Đồng, các nghệ sĩ Việt đã mang lại niềm hoan hỉ cho đông đảo khán giả vùng Paris.

Chương trình biểu diễn của chị đa dạng, được diễn tấu với nhiều loại nhạc cụ cổ truyền. Ngoài đàn tranh là sở trường, chị còn biểu diễn ấn tượng với đàn bầu, đàn T’rưng, đàn nguyệt, đàn nhị, bộ lắc và bộ phách… Mỗi loại lại được chị sáng tạo và đôi khi cải biên lối chơi để áp dụng vào những bản nhạc cổ điển hoặc hiện đại phương Tây. Ngoài những màn độc tấu và hòa tấu, chị và Tiếng Tơ Đồng có hai show diễn đặc biệt đặc sắc và luôn được khán giả nhiệt liệt khen ngợi, và luôn đến kín phòng, đó là “1001 tiếng Trúc tiếng Tre” và “Sắc màu Việt Nam”. Các buổi biểu diễn ấy đã đưa khán giả đi du lịch khắp chiều dài Việt Nam, họ mãn nhãn mê li trong những trang phục truyền thống, từ tà áo dài duyên dáng khuê các của các thiếu nữ, các mệnh phụ thành phố, đến các bộ váy đa sắc của đồng bào thiểu số khắp ba miền. Họ thích thú chiêm ngưỡng kiểu dáng của các loại nhạc cụ dân tộc, họ ngất ngây trước những âm thanh khi trong trẻo cao vút, lúc trầm lắng mơ màng được phát ra từ sáo, đàn bầu, đàn đá đến đàn T’rưng và cồng chiêng…https://googleads.g.doubleclick.net/pagead/ads?client=ca-pub-6730846013640716&output=html&h=280&slotname=6490713087&adk=1388410019&adf=3149789641&pi=t.ma~as.6490713087&w=336&lmt=1634052380&psa=0&format=336×280&url=http%3A%2F%2Fnuocphap.info%2Fho-thuy-trang-nguoi-giu-lua-cho-nhac-co-truyen-viet-nam-tai-phap%2F%3Ffbclid%3DIwAR2oQYuFZyi89aUskH2qf3a7pUYE7ND_sIvsnv1vba3jjsy2Ggg_rjtfrGs&flash=0&wgl=1&dt=1634052379629&bpp=4&bdt=6331&idt=1169&shv=r20211007&mjsv=m202110050101&ptt=9&saldr=aa&abxe=1&prev_fmts=728×90%2C660x165&correlator=5821522278815&frm=20&pv=1&ga_vid=1635946448.1634052381&ga_sid=1634052381&ga_hid=913796950&ga_fc=0&u_tz=120&u_his=1&u_h=900&u_w=1600&u_ah=860&u_aw=1600&u_cd=24&adx=281&ady=2096&biw=1217&bih=741&scr_x=0&scr_y=0&eid=182982000%2C182982200%2C31063104&oid=2&pvsid=1480793759071156&pem=866&ref=https%3A%2F%2Fm.facebook.com%2F&eae=0&fc=896&brdim=255%2C0%2C255%2C0%2C1600%2C0%2C1246%2C860%2C1234%2C741&vis=1&rsz=%7C%7CoeEbr%7C&abl=CS&pfx=0&fu=0&bc=23&ifi=3&uci=a!3&btvi=1&fsb=1&xpc=WzDHqhA1R9&p=http%3A//nuocphap.info&dtd=1360

Bà Bích Ngọc, một khán giả kiều bào đã rất xúc động chia sẻ cảm xúc sau một buổi trình diễn: “Đến buổi biểu diễn này, tôi thấy mình được quay trở lại với quê hương của tôi từ miền Bắc cho đến miền Nam. Đối với những người xa quê hương như chúng tôi, được dự những buổi như vậy thật là tuyệt vời, tôi không biết nói sao, chỉ biết rất là hay, rất cảm ơn tất cả những nhạc công, nhất là cô Hồ Thụy Trang, người làm ra chương trình này để chúng tôi có thể đi du lịch từ miền Bắc cho đến miền Nam Việt Nam”. Còn chị Diane Võ Ngọc, một người Pháp gốc Việt được sinh ra và lớn lên tại Pháp thì nói: “Đây là lần đầu tiên tôi đưa con gái đi xem buổi trình diễn. Đây cũng là dịp để tôi khám phá văn hóa Việt Nam. Và chúng tôi đã hết sức ấn tượng trước vẻ đẹp của các bộ trang phục, vẻ thanh tao của của các nữ vũ công. Đồng thời buổi diễn còn có các lời giải thích rõ ràng về các điệu múa khác nhau của các vùng miền Việt Nam. Đây đúng là một chuyến du lịch tuyệt vời đến quê hương nguồn cội của tôi”.

Cho đến nay, ban nhạc “Tiếng tơ đồng” ban đầu có năm người thì hiện giờ đã tăng lên gần sáu chục và với các hoạt động chính: Múa dân gian, hòa tấu nhạc cụ cổ truyền, gõ trống, ca cổ và vũ đạo cải lương.

Kể từ ngày thành lập, Tiếng Tơ Đồng thường được mời đi biểu diễn trong các sự kiện quan trọng như ngày hội Pháp ngữ năm 2013, được tổ chức tại thành phố Nice của Pháp, với sự góp mặt của 75 quốc gia và vinh dự được biểu diễn trước Tổng thống Pháp François Hollande, và nhiều Tổng thống các nước nói tiếng Pháp. Chương trình đã được phát trực tiếp trên đài truyền hình Pháp. Nhân dịp Pháp -Việt tổ chức kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước, Tiếng Tơ Đồng được các Tòa thị chính trên khắp lãnh thổ Pháp mời đi biểu diễn. Đến đâu, ban nhạc cũng được chào đón nồng nhiệt.

Ngoài trình diễn, Hồ Thụy Trang còn dạy nhạc. Chị dạy cho nhiều lứa tuổi, từ học sinh nhỏ đến người lớn, các cháu người Việt thế hệ hai hoặc ba tại Pháp, nói được hay không nói được tiếng Việt. Dạy theo nhóm hoặc dậy đơn – một thầy một trò.

Qua chị, nhiều kiều bào được sinh ra và lớn lên tại Paris đã có cơ hội làm quen với thể loại âm nhạc này. Như anh Yanne Duchatel, 48 tuổi, sinh tại Sóc Trăng (Việt Nam) đến Pháp khi mới 3 tuổi, hiện là chủ dự án trong một ngành Công nghệ tại Pháp. Anh có một con trai 11 tuổi, hai cha con đã cùng học tiếng Việt, và từ hơn hai năm nay, khi gặp chị Trang, họ đã có cơ hội học môn Đàn tranh. “Tôi đã phát hiện ra âm nhạc truyền thống Việt Nam như mọi người Pháp, qua Youtube, hoặc qua mạng Internet. Đàn tranh đã thu hút tôi qua âm thanh của nó và phong cách chơi, nhưng tôi đã không có cơ hội tiếp cận  chơi thứ nhạc cụ này, – anh nói – tôi rất thích, dẫu không có khiếu lắm, nhưng phải thừa nhận đây là loại nhạc cụ đòi hỏi kiên trì, rất khó học”.

Đa phần các học trò đều đánh giá cao cách thức truyền dạy của cô giáo Trang. Anh Yann Duchatel nói: “Cô Trang là một giáo viên rất có trình độ giảng dạy. Phương thức truyền đạt của cô rất hiệu quả. Phương thức tương tác của cô ấy trên lớp rất phù hợp với tôi. Nhưng thực sự mà nói, cô Trang rất khó tính, và đòi hỏi cao nơi học sinh, và điều ấy khiến cho việc học tập cũng trở nên khó hơn, nhưng tôi chắc chắn nhờ cô ấy mà chúng tôi học đàn được tốt hơn”.

Dạy nhạc cho các cháu nhỏ, nhưng chị cũng không ngừng khuyến khích các phụ huynh Việt cố gắng dạy và nói với con tiếng Việt. Bởi theo chị, muốn học và hát đúng các ca khúc Việt thì trước tiên phải hiểu ý nghĩa của chúng.

Chị Trang cho rằng muốn lưu truyền hay quảng bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam tại nước ngoài thì có nhiều khó khăn. Ví như nhạc cụ Việt Nam rất khó tìm tại Pháp mà đều phải mua từ Việt Nam, rồi còn phải tính đến trang phục biểu diễn. Nhưng với sự kiên nhẫn, lòng đam mê, nữ nghệ sĩ và ban nhạc Tiếng Tơ Đồng đã ít nhiều gặt hái được những thành công trên đất Pháp. Mới đây trong dịp mừng xuân Canh Tý, chị và ban nhạc đã kỷ niệm 20 năm ngày thành lập với sự cổ vũ và chúc mừng của đông đảo của bạn bè khán giả Việt, Pháp.

Nền văn hóa Việt Nam tựa một cây cổ thụ có nhiều nhánh,  trên hết chúng ta cần vun đắp cho bộ rễ thật vững chắc, cây phát triển lành mạnh, nhiều nhánh và vươn cao, Tiếng Tơ Đồng hệt như một cành nhỏ vươn xa nhưng vẫn bám chắc vào bộ gốc của mình tại quê hương Việt Nam.

Nguồn: daidoanket.vn

http://nuocphap.info/ho-thuy-trang-nguoi-giu-lua-cho-nhac-co-truyen-viet-nam-tai-phap/?fbclid=IwAR2oQYuFZyi89aUskH2qf3a7pUYE7ND_sIvsnv1vba3jjsy2Ggg_rjtfrGs

Nhà hát Múa rối Việt nam biểu diễn thành công tại Cộng hòa Pháp, 2017

Nhà hát Múa rối Việt nam biểu diễn thành công tại Cộng hòa Pháp

Các nghệ sĩ Nhà hát múa rối Việt Nam đã mang chương trình múa rối nước cổ truyền tham gia tại Liên hoan Văn hóa Quốc tế  « Festival de L’Imaginaire lần thứ 21  » từ ngày 10/11/2017 đến ngày 25/12/2017. 29-12-2017 Lượt xem: https://www.facebook.com/v2.8/plugins/like.php?action=like&app_id=1107643682972053&channel=https%3A%2F%2Fstaticxx.facebook.com%2Fx%2Fconnect%2Fxd_arbiter%2F%3Fversion%3D46%23cb%3Df6ab2de6c85c68%26domain%3Dnhahatmuaroivietnam.vn%26is_canvas%3Dfalse%26origin%3Dhttp%253A%252F%252Fnhahatmuaroivietnam.vn%252Ff2173f7063bb62c%26relation%3Dparent.parent&container_width=0&href=http%3A%2F%2Fnhahatmuaroivietnam.vn%2Fnode%2F1243&layout=button_count&locale=vi_VN&sdk=joey&share=true&show_faces=true&size=small

Nhà hát Múa rối Việt nam biểu diễn thành công tại Cộng hòa Pháp

Nhận lời mời của ông Cherif Khaznadar- Giám đốc Nhà văn hóa thế giới – Cộng hòa Pháp, các nghệ sĩ Nhà hát múa rối Việt Nam đã mang chương trình múa rối nước cổ truyền tham gia tại Liên hoan Văn hóa Quốc tế  « Festival de L’Imaginaire lần thứ 21 «  từ ngày 10/11/2017 đến ngày 25/12/2017.

Bên cạnh một tuần tham gia Liên hoan Văn hóa Quốc tế tại thủ đô Paris, các nghệ sĩ Nhà hát múa rối Việt Nam đã  biểu diễn giới thiệu thành công  bộ môn nghệ thuật truyền thống Múa rối nước  » độc nhất vô nhị  » với cộng đồng khán giả tại 5 thành phố  của  Pháp như :  Lyon, Mougins, Sainte- Maxime, Noisiel, Mulhose.

Khán giả  yêu thích văn hóa cổ truyền Việt Nam, yêu thích nghệ thuật Múa rối nước lại được thưởng thức một chương trình múa rối cùng những giai điệu âm nhạc  truyền thống  đặc sắc, hấp dẫn, chất lượng ngay tại đất Pháp . Với hàng ngàn  khán giả qua 31 buổi diễn của Nhà hát đã được đón nhận, đánh giá cao qua các bài báo và nhiều tràng vỗ tay không ngớt khi buổi biểu diễn kết thúc. Đây là niềm vui, vinh dự tự hào của các nghệ sĩ Nhà hát múa rối Việt Nam.

Qua chương trình giới thiệu biểu diễn này, Nhà hát lại có dịp quảng bá văn hóa truyền thống của dân tộc với bạn bè thế giới,  khẳng định vị thế của bộ môn nghệ thuật cổ truyền Múa rối nước Việt Nam cần được bảo tồn, phát triển và hòa nhập với xu hướng phát triển toàn cầu hóa của văn hóa.

Tin liên quan

Xét tuyển viên chức năm 2020 – 2021

22/12/20

Festival Múa rối « Giấc mơ xanh » năm 2018

21/08/18

Phỗng lên đồng

20/07/18

WATER PUPPET IN THE CULTURAL INTEGRATION

21/05/18 Nhà Hát múa rối Việt Nam   Địa Chỉ: 361 Trường Chinh, Thanh Xuân, Hà Nội   Điện thoại: (024) 3853.4545 – (024) 3853.1333   Fax: (024) 38538674   Email: nhahatmuaroivn@gmail.comnhahattrunguong@gmail.com   Website: nhahatmuaroivietnam.vnvietnampupetry.com

Hỗ Trợ

Kết nối với chúng tôi

https://www.facebook.com/plugins/page.php?href=https%3A%2F%2Fwww.facebook.com%2Fvietnampuppetry%2F&tabs=timeline&width=270&height=200&small_header=false&adapt_container_width=true&hide_cover=false&show_facepile=true&appId=1414484558595030 Copyright Ⓒ Nhà Hát Múa Rối Việt Nam. All right reserved

http://nhahatmuaroivietnam.vn/vi/nha-hat-mua-roi-viet-nam-bieu-dien-thanh-cong-tai-cong-hoa-phap

AUDREY VIAULT : BnF GALLICA blog :Chants et musiques du Viêt Nam

https://gallica.bnf.fr/blog/03122020/chants-et-musiques-du-viet-nam?mode=desktop

Skip to main contentAller directement aux sélections documentaires

logo BnF
logo Gallica

Recherche avancée

Le Blog
Gallica
La Bibliothèque numérique
de la BnF et de ses partenaires

Version imprimable

Chants et musiques du Viêt Nam

Escales sonores 0

Les collections sonores de la Bibliothèque nationale de France conservent de nombreux disques de musiques et chants asiatiques. Ses collections s’enrichissent aujourd’hui d’un ensemble de disques vietnamiens enregistrés dans les années 1940-1960. À cette occasion, Gallica vous propose une escale sonore au Viêt Nam et de (re)découvrir la culture musicale de ce pays.

Collections sonores : enregistrements vietnamiens
(Illustration : disque du label Viêt Nam, coté SD 78 25-26097)
  La Bibliothèque nationale de France conserve dans ses collections des enregistrements de musiques vietnamiennes, les plus anciens étant datés du tout début des années 1910. Qu’ils soient sur disques édités ou inédits, pressés par des labels occidentaux ou vietnamiens, ces enregistrements proposent un panorama intéressant des différents genres musicaux de la culture vietnamienne, reflets de la longue histoire, riche et mouvementée, de ce pays surnommé encore le « Dragon de l’Asie », ses frontières évoquant la silhouette de cet animal légendaire.

Le Viet Nâm : un pays au carrefour des peuples et des civilisations

Parti de la Chine méridionale pour parvenir jusqu’au delta du fleuve Rouge dans un premier temps, le peuple des « Viêts du Sud » n’occupera que très progressivement le territoire que l’on connaît aujourd’hui. Ayant été environ mille ans sous occupation ou protectorat chinois, le Viêt Nam est l’un des pays d’Asie dont la culture est historiquement la plus proche de celle chinoise. C’est sous la dynastie chinoise des Tang que ce pays sera appelé Annam, le « Sud pacifié », nom que l’Occident lui donnera très longtemps. Il faudra attendre le Xe siècle et l’affaiblissement du pouvoir central chinois pour que le Đại Việt (« Grand Viêt ») devienne un royaume indépendant, entreprenne sa « Marche vers le sud », le Nam Tiến, et qu’il conquière en quelques centaines d’années plusieurs territoires (tels que ceux du royaume « indien » de Champâ et de l’empire Khmer) qui formeront ses frontières actuelles. Mais cela sans perdre sa relation privilégiée avec la Chine, reconnue comme une puissance suzeraine.
Au début du XIXe siècle, sous la dynastie des Nguyên, et après des années de division entre nord et sud, le pays prend le nom de Viêt Nam. Jusqu’alors en bons termes avec la France, les relations des deux pays tournent au conflit lorsque que le Viêt Nam opère un repli et une fermeture au commerce étranger. En 1858, la France du Second Empire annexe le sud du pays et en fait une colonie appelée Cochinchine. Suite à la guerre franco-chinoise, la France s’empare également du nord du pays, le Tonkin. Les trois régions du Viêt Nam passent alors sous le statut de protectorat français : le Tonkin au nord, l’Annam au centre et la Cochinchine au sud, et sont intégrées à l’Indochine française en 1887. vn_ap564.jpeg
Cô hoai và kê’ : hát xâm (années 1910)
Chant de femmes et accompagnement d’instrument à cordes
(certainement un đàn bầu ou un đàn nhị) et de percussions
Le Hát xẩm est un type de musique populaire de la région nord du Viêt Nam.
Les thèmes de cette musique sont généralement des histoires populaires
vietnamiennes,souvent d’origine littéraire, telles que le conte de Kiều. 
Les chants en étaient souvent interprétés par des aveugles
Disque Ciné-phono Pathé AP-564
(disque destiné à être utilisé en synchronisation avec un appareil de projection de film)

Les premiers enregistrements de musique vietnamienne

Dès les premières années du XXe siècle, des maisons d’édition phonographique comme la Gramophone Compagny, la Victor Talking Machine Company ou encore Pathé commencent la collecte et l’édition d’enregistrements de musiques non occidentales. On peut écouter plusieurs de ces disques dans les collections de la BnF dont certains de musique vietnamienne.

vn_victor_nostalgie_0.jpg
Bãi vḁng cổ hoài lang [chant de nostalgie]
Chant de jeune femme et accompagnement instrumental
Disque Victor 43531 (années 1920)
  Cette musique est à l’image de son pays : complexe et riche, fruit de la rencontre et coexistence de plusieurs cultures et de sa forte créativité.
Ses deux influences principales historiques sont la musique chinoise (modes, gamme pentatonique des « Cinq éléments de la nature ») et la musique indienne (variations rythmiques). Il naît une musique particulière à Huê, l’ancienne cité impériale, au centre du pays. Cette musique de cour (Nhã nhạc, la « musique élégante ») est écrite et parfaitement codifiée. Il existe aussi une culture musicale populaire, de tradition orale.
La musique vietnamienne regroupe ainsi plusieurs genres : la musique classique (Đại nhạc, la « grande musique »), héritée essentiellement de celle chinoise, la musique de cour et de cérémonie, la musique populaire (riche et variée, des différentes régions et nombreuses ethnies du pays), les musiques de théâtre, sans oublier la musique religieuse d’inspiration bouddhique. Il existe aussi une musique mixte, « d’amateurs », née à la fin du XIXe siècle, où s’entend notamment l’influence occidentale moderne. Sans oublier la « musique rouge » (Nhạc đỏ), la musique communiste, apparue au début du XXe siècle en réaction à l’occupation française, et qui s’oppose donc à une « musique dorée » (Nhạc vàng), très sentimentale et très appréciée par une partie de la population.

Cette richesse musicale s’incarne également dans la grande variété des instruments, hérités d’autres cultures ou parfois propres à la musique vietnamienne.
Elle doit aussi la beauté de ses chants, tour à tour gais, tendres, plaintifs ou mélancoliques, à la langue vietnamienne elle-même, usant de six tons différents et donc déjà par essence « mélodique », et à l’originalité de ses techniques vocales : l’une d’entre elles, est une technique de vibrato vocal sophistiqué appelé do hot (ou đổ hạt ; littéralement : « verser des grains de perles »), comparable au tahrir iranien ou au tana indien. Cette technique est caractéristique des voix des chanteuses professionnelles de la musique du « Ca trù » (poésie chantée de la région nord du Viêt Nam)

vn_columbia_danse_jolie.jpg

Bản Xuan-Tinh : Dìa lấv Hếng bằng diền : Đờn theo điệu tài-tử ;
Bản Ngủ-Bối-Hạ : Dìa lấv Hếng bằng diền : Đờn theo điệu tài-tử

Disque Columbia GF 649 (années 1920-1930)

Tỳ bả. Tiếp theo
Có trống chầu / Cô Chu-Thị Năm túc Thuy-Vân
Disque Columbia GF 508 (années 1920-1930)
Le đàn tỳ bà, ou  tỳ bà, est une vièle à quatre cordes, très semblable au pipa chinois.
 

vn_victor_43469_hat_noi_cai_tru.jpg
Hát Nói. Xuân Khứ xuân Lai xuân Bât tân
Disque Victor 43469 (ca années 1920)
Le hát nói est une forme unique de poésie traditionnelle vietnamienne, née du ca trù (ou hát ả đào) .
Caractéristique du nord du Viêt Nam, cette musique séduisante (pouvant être dansée)
s’appuie sur un répertoire de chants de divertissement, cultuels ou de rivalité.
Les interprètes sont le plus souvent des jeunes femmes, souvent accompagnés d’un luth ou d’un tambour.
Depuis les années 1980, plusieurs artistes travaillent à en revitaliser le genre.
 

L’exposition coloniale internationale de 1931 : le Viêt Nam à Paris

Une autre série d’enregistrements est également d’un grand intérêt : les enregistrements réalisés lors de l’Exposition coloniale internationale de Paris de 1931. Ce contexte particulier donnera l’occasion au Musée de la Parole et du Geste (Institut de phonétique) d’obtenir la permission auprès du gouvernement français d’entreprendre, avec le soutien de la firme Pathé, l’enregistrement des traditions musicales de différents pays des colonies françaises. Sous la direction de l’historien d’art Philippe Stern, plus de vingt heures d’enregistrements seront produits : loin d’appartenir au registre d’un simple folklore « exotique », cette collecte musicale sera une pierre angulaire et fondatrice de l’histoire de l’ethnomusicologie. De nombreux artistes professionnels et amateurs seront enregistrés mais aussi photographiés durant leurs performances : sur ces clichés, on peut alors découvrir non seulement des visages mais également les instruments de musique traditionnels, et la façon dont ils sont joués par les musiciens. On trouve ainsi dans cette collection des disques de musique vietnamienne.   vn_dan_bau_1931.jpeg
Face A : Dao-Duyen et Han-Van. Face B : Huê Tinh
Nguyên Song, solo de cithare monocorde đàn bầu 
Disque AP-2657 (Exposition coloniale de 1931)
Le đàn bầu est un instrument spécifiquement vietnamien : une corde de soie est tendue
sur une caisse de résonance de bois dur ou de bambou.
Il est souvent utilisé pour des récits et des chants au rythme doux.

vn_expo_2_etiquette.jpeg
Do-Dua : chant de bateliers
Nguyen Song, chant, orchestre Bat-Âm
Disque AP-2659 (Exposition coloniale de 1931)
Le hát đò đưa désigne plus précisément le chants des sampaniers.
C’est un chant du Centre du Viêt Nam, appartenant au genre des chants
(chants de travail) et plus spécifiquement des hò nước(chants sur l’eau).
Ce chant trouve son opposé dans le genre du chant lý, le chant d’amour, de nostalgie ou de divertissement.vn_expo_2_photo_orch.jpeg
Une photographie des musiciens vietnamiens de
l’Exposition coloniale internationale de Paris (1931)   vn_expo_2_photo_luth_dan_nhi.jpeg
Joueurs de vièle à deux cordes đàn nhị (ou đàn cò)
Exposition coloniale internationale de Paris (1931)

La musique sud-vietnamienne en temps de guerre

Les années 1930 marquent un tournant dans l’histoire du Viêt Nam : de nombreux soulèvements nationalistes, organisés par le Parti communiste indochinois dirigé par le futur Hô Chi Minh, sont sévèrement réprimés. Après la Seconde Guerre mondiale, le système colonial français ayant été démantelé par l’occupant japonais, le front nationaliste dirigé par Hô Chi Minh, le Viêt Minh, finit par prendre temporairement le pouvoir. Après de nombreux retournements de situation et négociations, ce conflit  aboutit fin 1946 à la guerre d’Indochine. Avec le soutien de la Chine, le Viet Minh prend l’avantage.
Le pays se trouve alors séparé en deux : les communistes au Nord (République démocratique du Viêt Nam), le gouvernement de l’empereur Bảo Đại au Sud. Après la défaite et le retrait des Français entériné par les accords de Genève de 1954, Bảo Đại amorce une proposition d’accord ayant comme objectif la réunification mais son premier ministre, Đình Diệm, s’y oppose, le renverse et proclame la République : les deux jeunes républiques deviennent des soeurs ennemies.

vn_oria_hymne_sud.jpg
Thanh Niên : « jeunesse », chant patriotique
Thằm Oánh, chant ; orchestre
Disque Oria 522 (1949)
Thanh niên Hành Khúc était l’hymne officiel du Sud-Viêt Nam de 1948 à 1975. S’ouvre alors à nouveau une longue période de conflit, d’instabilité et de grande violence. Pourtant, la musique vietnamienne et l’édition phonographique vont continuer de prospérer dans la partie sud du pays.
Dans les années 1920, les colons français avaient emporté avec eux des rythmes latins, et Saïgon, « la perle de l’Asie », dansait sur les rythmes du mambo, de la rumba, du cha-cha-cha ou encore du tango, les artistes vietnamiens les intégrant aussi à leurs compositions.
vn_mambo_bolero_1.jpg
Bức tâm thư : mambo boléro / Chiều hành quân : boléro
Phương Minh Phụng, comp. ;
Tuyết Nhung, chant  / Hùng Cường, chant
Hải-Son, dir. d’orchestre
Disque Tân Thanh 1021-1022 (fin des années 1950)
  À partir des années 1960, la présence dans le sud du pays de l’armée américaine, succédant à celle française, apporte de nouveaux rythmes aux artistes vietnamiens, qui s’en emparent et les adaptent à nouveau avec talent. En pleine guerre, Saïgon découvre les rythmes pop, soul et rock’n’roll – et même hawaïens, des tubes classiques du répertoire, et interprétés en vietnamien par des groupes locaux.
vn_hawai.jpeg
Honolulu moon : hawaian rythms
Groupe instrumental vietnamien
Disque Oria 552 (années 1960)
  Cette nouvelle musique est appelée Nhạc vàng, la « musique dorée », ou Nhạc trẻ, la « musique de jeunes », et propose les thèmes traditionnels au genre : amours et jeunesse. Cette musique a certes comme objectif de divertir les troupes et la population locale, mais elle n’est pas sans arrière-pensée politique : un discours de soutien à la guerre en explique également la promotion. De nombreux groupes vietnamiens recevront la promotion financière de l’armée américaine.Certains registres de cette musique sont consacrés à la glorification de la patrie, sa beauté et à sa victoire prochaine.
Ces nouveaux rythmes venus d’Occident intègreront également des compositions plus traditionnelles et influenceront durablement la musique vietnamienne.

De nombreux labels locaux vont ainsi continuer à voir le jour dans le sud du pays, à partir des années 1950 et surtout dans les années 1960, surfant sur cet incroyable et étonnant essor de la musique et de sa diffusion : Viên Dông, Viet Nam, Tân-Thanh, Sơn ca, Viêt Thanh, Trường Sơn, Lam Sơn, ou bien encore Nghệ Sĩ.

 

vn_tantanh_genial_0.jpg
Tình lúa duyên trăng : mambo boléro
Hoài-An, aut.-comp. ; Ánh Tuyết, va ban Hoài-An, duo voc. ; Ban nhạc Hoàng-Trong
Disque Tân-Thanh 201-202 (années 1960)
  De très nombreux disques seront pressés pendant cette période, parfois sur des matériaux improbables et de toutes couleurs, la pénurie des ressources en temps de guerre obligeant à une certaine ingéniosité.
vn_disque_rouge_cai_luong.jpg
Opéra populaire moderne. Nữ Chúa 1 Đêm : [Cải lương]
Trần-Hà, comp. ; Út Trà Ôn, Tấn Tài, Dũng Thanh Lâm, Bạch Tuyết, et al.,  interprètes
Disque Viêt Nam M 6852 (ca. 1968-69)
Le Cải lương est un théâtre rénové, encore très populaire aujourd’hui.
Né au XIIe siècle, il sera adapté au XIXe siècle, en intégrant à la tradition, la modernité et une certaine influence française.
Ce théâtre traite de thèmes historiques et contemporains. 
(On peut le retrouver sous forme de programmes télévisés fréquemment et il est apprécié encore de nos jours)
  La victoire des forces militaires communistes du Nord et la chute de Saïgon en 1975 marquent la fin de cette période musicale effrénée. Cette production phonographique sera presque systématiquement détruite, disques et matrices incluses : Saïgon « la perle d’Asie » est devenue « Saïgon la putain ». Hanoï « la prude » donne désormais le ton par un retour vers une musique beaucoup plus traditionnelle et surtout conforme aux valeurs du nouveau régime. L’ancien mode de vie est vu comme décadent : plus de deux millions d’artistes et civils fuient, emportant avec eux parfois quelques disques.
Un proportion relativement faible de ces éditions phonographiques a été sauvée, souvent en mauvais état, véritable trésor recherché par les collectionneurs et dont la Bibliothèque nationale de France conserve une trentaine de références.

Une nouvelle génération d’artistes

Cette période historique mouvementée est aussi celle qui voit l’épanouissement musical de grands artistes vietnamiens, nés entre les années 1910 et 1940, comme les célèbres compositeurs Đào Sĩ Chu, Phạm Duy Cẩn, Nguyễn Văn Cao, Nguyễn Thanh Tùng, Hoàng Trọng. Le compositeur Trịnh Công Sơn, surnommé le « Bob Dylan vietnamien » en raison de ses convictions et oeuvres musicales pacifistes, verra la diffusion de ses oeuvres interdite sous la république de Đình Diệm comme sous le régime d’Hanoï. Đào Sĩ Chu tient une position particulière parmi ces artistes vietnamiens. Né en 1911 au sein d’une famille d’intellectuels de Hanoï, il fera ses études en France et y retournera en 1949 pour y étudier la peinture. Reconnu dans cet art, il sera également un excellent compositeur, opérant une symbiose entre la musique occidentale des conservatoires et les couleurs de la musique vietnamienne : il signera un contrat avec la maison de disque Pathé pour laquelle il enregistra de nombreuses oeuvres patriotiques et romantiques.
vn_dao_si_chu_0.jpg
Cố-hương  [Pays natal]
Đâo-Sĩ-Chu, paroles et musique
Hoàng-Lan, chant et accompagnement instrumental
Disque Pathé PA 2854 (1952)
Lam-sỏn [marche]
Đâo-Sĩ-Chu, paroles et musique
Hoàng-Lan, chant et accompagnement instrumental
Disque Pathé PA 2855 (1952)
Lam Sơn : évocation des montagnes du nord du Vietnam, 
d’où la dynastie des Lý organisa la lutte contre les Ming au XVe s.
  Le compositeur Phạm Duy (1921-2013) est certainement l’un des compositeurs les plus emblématique et populaire du Viêt Nam. Ses oeuvres reflètent les évolutions politiques, sociales et artistiques de son pays, Phạm Duy fait entrer la musique de son pays dans la modernité, opérant une synthèse entre les anciens répertoires traditionnel et populaire et la nouvelle musique (tân nhac). Comme il le dira lui-même lors d’une interview donnée à la BBC en 1993 : « Je devais commencer ma création par des chansons véhiculant l’esprit du Viêt Nam, et de plus, avec les ingrédients du Viêt Nam ».
Il créera plus d’un millier de chansons évoquant les beautés de sa terre natale, mais aussi des chansons patriotiques et sentimentales. Il sera à l’origine de nombreuses traductions de chansons occidentales, rencontrant là aussi un franc succès. Devant fuir également son pays en 1975, il composera également des chansons pour ses compagnons d’exil.
vn_pham_duy_0.jpg
Tình Nghèo : dân ca (chanson populaire)
Phạm Duy , comp. / Mlle Thái Thanh, chant ;
Thang-Long, groupe voc. et instr. ; Võ Đức Thu, dir.
Disque Viêt Nam [sans réf] (ca. 1960) Ces compositeurs ont souvent offert à de nombreux artistes vocaux l’occasion d’être découverts et connaître une formidable carrière. On retiendra par exemple les chanteuses Thái Thanh, Út Bạch Lan, Lệ Thủy, ou Ngọc Cẩm, et leurs homologues masculins Út Trà Ôn, Trần văn Trạch, Ngọc Bảo et Nguyễn Hữu Thiết, dont les traits sont parfois immortalisés sur les étiquettes et pochettes des disques.

vn_ut_tra_on.jpeg
Cuối đời
Út Trà Ôn, chant
Disque Trường Sơn [sans réf.] (ca. 1960)

vn_duo_vocal.jpg
 ►  Hai bức thơ xuân (Deux poèmes de printemps)
Lê-Khanh, aut.-comp.
Thành Dược, Út Bạch Lan, duo vocal ;
Ba Dư, tranh (xylophone) ; Sáu Lời, guit. ; Ngọc Sáo, sao (flûte)
Disque Nghệ Sĩ 0004 (ca. 1960)vn_image_duo_vocal.jpg
Pochette du disque Nghệ Sĩ 0004 (ca. 1960)  

vn_pochette_album_homme_et_femme_redim_texte_2.jpg
Recto de la pochette d’un autre disque du label Lam Sơn
dont les titres sont interprétés par Út Bạch Lan et Phá Ca (ca 1960) Les disques conservés à la Bibliothèque nationale de France offrent donc l’occasion d’entendre de superbes interprétations d’oeuvres composées et interprétées par ces artistes vietnamiens, témoignant d’une singularité et d’une puissance créatrice vive, intégrant les caractéristiques intrinsèques de la musique vietnamienne « traditionnelle » et les apports réguliers de la musique occidentale moderne et contemporaine.

vn_album_final.jpg
Opéra populaire moderne – Áo Cưới Trước Cổng Chùa
[Cải lương]
Thanh-Huong, Bach-Huê, Kim-Anh, [et al.], chant ;
Năm Cơ, Bảy Bá, Văn Vĩ, ens. instr.
Album – Disques Lam Sơn (ca. 1960)

vn_pochette_album_groupe_hommes_0.jpg
Verso d’une des pochettes contenant les disques
de l’album des disques Lam Sơn (ca. 1960)

Pour aller plus loin

Quelques ressources documentaires

  • Les musiques du Vietnam d’hier à aujourd’hui. Entretien avec Trân Quang Hai, 2003. Consultable en ligne [dernière consultation : 12.11.2020].
  • L’incroyable rock, funk et soul 60 & 70’s du Vietnam. Jean Morel, Nova Planet, 2017. Consultable en ligne [dernière consultation : 12.11.2020].
  • « Trản văn Khê : La musique vietnamienne traditionnelle [compte-rendu] ». Văn Håo Lê. Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient. Tome 52 N°2, 1965. Consultable en ligne  [dernière consultation 12.11.2020]
  • « Le grand compositeur Phạm Duy s’est éteint laissant derrière lui une « oeuvre patrimoniale », François Guillemot, Indomémoires, 2013. [dernière consultation : 12.11.2020]

Ajouter un commentaire

Votre nom Objet Commentaire *

Plus d’information sur les formats de texte

  • Aucune balise HTML autorisée.
  • Les adresses de pages web et de courriels sont transformées en liens automatiquement.
  • Les lignes et les paragraphes vont à la ligne automatiquement.

Je cherche des billets sur…

Catégories

Abonnez-vous

Nouveaux billets

ACCÈS RAPIDE

EN SAVOIR PLUS

Contact us

SERVICES MOBILES

DOWNLOAD GALLICA APPLICATION Gallica Application available on the App Store (new window)Gallica Application available on Google Play (new window)

AUTRES SITES

RETROUVER GALLICA SUR

Facebook (new window)Twitter (new window)Pinterest (new window)Instagram (new window)Gallica’s BlogEspace personnel (new window)Panier (new window)

En poursuivant votre navigation sur ce site, vous acceptez l’utilisation de cookies nécessaires à la réalisation de statistiques et d’études d’usages ainsi qu’au fonctionnement des boutons de partage sur les réseaux sociaux. [En savoir plus…]

TS NGUYỄN GIÁO: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam từ sau Đổi mới đến nay

Xây dựng nền văn hóa Việt Nam từ sau Đổi mới đến nay

25/09/2020

TS. NGUYỄN GIÁO

Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

1. Quan điểm của Đảng về văn hóa từ sau Đổi mới đến nay

Chúng ta đều biết Đại hội VI diễn ra năm 1986 đã nêu lên phương hướng, mục tiêu chủ yếu cho giai đoạn 1986 – 1990, trong đó “thể hiện các quan điểm của Đảng về chuyển hướng cơ cấu kinh tế và điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư, về cải tạo xã hội chủ nghĩa và đổi mới cơ chế quản lý phù hợp với đặc điểm nước ta trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”[1]. Đại hội VII tiếp tục chủ trương đổi mới các lĩnh vực của đời sống xã hội và khẳng định quyết tâm thúc đẩy hơn nữa việc này nhằm đưa đất nước đi vào thế ổn định và phát triển. Hai kỳ Đại hội trên ưu tiên tập trung vào xác định đường lối phát triển kinh tế và ổn định xã hội sau một thời gian khủng hoảng và sau những biến động phức tạp của tình hình chính trị quốc tế, còn văn hóa mặc dù được quan tâm nhưng chưa được xem là vấn đề trọng tâm.

          Bước ngoặt liên quan đến văn hóa diễn ra khi Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 7/1998) ra Nghị quyết chuyên đề về “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Sự kiện vừa nêu cho thấy chuyển biến hết sức mạnh mẽ trong nhận thức của Đảng về tầm quan trọng của văn hóa bên cạnh phát triển kinh tế. Nghị quyết khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển xã hội”[2]. Ý nghĩa của bước ngoặt này thậm chí chúng ta còn chưa đánh giá được hết, khi một chính đảng vô sản khẳng định ở mức độ chưa từng có vai trò lớn lao của văn hóa – cái thuộc thượng tầng kiến trúc – đối với sự phát triển xã hội.

Đại hội IX tiếp tục khẳng định “Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Mọi hoạt động văn hoá nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội”[3]. Bước phát triển trong quan điểm của Đảng về văn hóa thời kỳ này là nhấn mạnh mục tiêu hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Theo đó, Đại hội IX đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Để đạt được mục tiêu đề ra, các chương trình hành động cũng phải được triển khai đồng bộ: “Mở rộng và nâng cao hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Xây dựng nếp sống văn minh và gia đình văn hóa”, phong trào “Người tốt, việc tốt”, làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người…”[4].

Đến Đại hội X, với quan điểm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, những yêu cầu: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế – xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội” và “Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bẳn sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam”[5] được khẳng định lại, tiếp nối quan điểm về văn hóa từ kỳ Đại hội trước. Đại hội lần này cũng đề ra yêu cầu đa dạng hóa các hình thức hoạt động của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng và nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống nhà văn hóa, bảo tàng, nhà truyền thống…

Đại hội XI khẳng định phương hướng “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển…” và coi “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân…”[6]. Cùng với đó, Đại hội cũng đề ra mục tiêu cho giai đoạn tiếp theo là “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật”[7]. Đặc biệt, với việc Nghị quyết Hội nghị TW 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã khẳng định mục tiêu “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[8], văn hóa một lần nữa lại trở thành vấn đề thời sự kể từ sau Nghị quyết TW 5 khóa VIII.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định đường lối: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”[9] và “Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh””[10]. Việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng con người có bước chuyển biến quan trọng: gắn nhiệm vụ xây dựng văn hóa, con người với nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước; gắn xây dựng môi trường văn hóa với xây dựng con người; bước đầu hình thành những giá trị mới về con người với các phẩm chất về trách nhiệm xã hội, ý thức công dân, dân chủ, chủ động, sáng tạo, khát vọng vươn lên. Mục tiêu được đề ra trong Đại hội XII là: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh””[11]. Trong đó, “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện” phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển.

Tóm lại, thời gian đầu sau Đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đặt trọng tâm chú ý vào việc phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và việc cải tạo, xây dựng, phát triển nền văn hóa dân tộc cũng chủ yếu là để phục vụ mục tiêu đó; tuy nhiên, quan điểm của Đảng về văn hóa sau này đã có những vận động rất quan trọng. Dấu mốc trong sự phát triển nhận thức của Đảng, như đã nói, được thể hiện cụ thể qua việc ra đời Nghị quyết TW 5 khóa VIII và Nghị quyết TW 9 khóa XI. Văn hóa dần được coi là lĩnh vực then chốt bên cạnh kinh tế, trong đó con người được nhìn nhận là trung tâm trong chiến lược phát triển bền vững. Việc nhấn mạnh đến con người trong nhận thức này của Đảng phù hợp với quan điểm tiến bộ về văn hóa trên thế giới hiện nay.

2. Kết quả từ thực tiễn

Sau khi Nghị quyết TW 5 khóa VIII với sự nhấn mạnh đến yêu cầu xây dựng nền văn hóa, xây dựng con người Việt Nam ra đời và yêu cầu này tiếp tục được khẳng định ở những kỳ Đại hội tiếp theo, các chương trình hành động tương ứng cũng đã được triển khai nhằm đạt được mục tiêu đặt ra như phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Xây dựng nếp sống văn minh và gia đình văn hóa”, “Người tốt, việc tốt”… Trong đó, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” là quan trọng nhất. Phong trào này được Trung ương khởi xướng và phát động từ năm 2000 với mục đích tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh, giúp người dân nâng cao chất lượng cuộc sống. Nó bao gồm 05 nội dung (đoàn kết giúp nhau xóa đói, giảm nghèo; thực hiện nếp sống văn minh, kỷ cương pháp luật; xây dựng môi trường văn hóa; xây dựng và tổ chức hoạt động các thiết chế văn hóa thể thao; xây dựng tư tưởng chính trị lành mạnh) và 07 phong trào cụ thể (Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; Xây dựng gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa, cơ quan, đơn vị đạt chuẩn văn hóa; Rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại; Lao động, học tập sáng tạo và xây dựng người tốt việc tốt). Cùng với việc phát động phong trào là việc thành lập Ban chỉ đạo xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương để triển khai thực hiện.

Mặc dù phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã góp phần ổn định an ninh chính trị, xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, tiến bộ và giúp người dân nâng cao chất lượng cuộc sống, thực tế cho thấy kết quả thực hiện phong trào vẫn còn những hạn chế. Không ngẫu nhiên mà tại Đại hội X, Ban chấp hành TW khóa IX thừa nhận: “Việc xây dựng nếp sống văn hóa chưa được coi trọng đúng mức. Tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo ngại, nhất là trong lớp trẻ. Quản lý nhà nước về văn hóa còn nhiều sơ hở, yếu kém. Đấu tranh ngăn ngừa văn hóa phẩm độc hại chưa được chú ý đầy đủ, còn nhiều khuyết điểm, bất cập”[12]. Trong thực tiễn hoạt động, phong trào này bị đánh giá là chưa đồng đều, thiên về bề nổi, hiệu quả thấp và bên cạnh đó, hoạt động của Ban chỉ đạo ở một số địa phương còn nặng tính hành chính…[13]. Cùng với bệnh thành tích, một hạn chế đáng chú ý của phong trào là đã triển khai chương trình một cách duy ý chí, không căn cứ vào thực tiễn nên hiệu quả không đáng kể hoặc thậm chí nhiều khi còn không đi được vào đời sống. Việc xây dựng nhà rông văn hóa ở khu vực Tây Nguyên là một ví dụ. Các nhà rông văn hóa này chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân về một ngôi nhà chung của cộng đồng khi nó khác biệt quá nhiều so với nhà rông truyền thống cả về hình thức, chức năng, và tính thiêng. Về hình thức, nhà rông văn hóa hầu như được “bê tông hóa” và “tôn hóa” thay vì được xây dựng bằng những vật liệu thiên nhiên quen thuộc. Về chức năng, chúng không còn gắn bó chặt chẽ với các sinh hoạt tập thể tự thân của cộng đồng mà nhìn chung chỉ còn là nơi tập hợp người dân để phục vụ cho mục đích tuyên truyền chính trị của chính quyền. Về tính thiêng, chúng không chứa đựng yếu tố nào liên quan đến tín ngưỡng của người dân. Cũng vì vậy mà không ít nhà rông văn hóa bị bỏ hoang, hư hỏng[14]. Từ trường hợp trên, có thể thấy cách thức triển khai phong trào còn có những điểm chưa phù hợp với thực tiễn, chưa đáp ứng được mục tiêu đặt ra. 

Giai đoạn sau đó, tuy Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI nhận định: “Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin, thể dục, thể thao ngày càng mở rộng, từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” từng bước đi vào chiều sâu”[15], nó cũng nhấn mạnh: “Văn hóa phát triển chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế. Quản lý văn hóa, văn nghệ, báo chí, xuất bản còn thiếu chặt chẽ. Môi trường văn hóa bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu niên, rất đáng lo ngại”[16]. Báo cáo đồng thời cũng đề ra phương hướng củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú và đa dạng, trong đó xác định “Đưa phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả; xây dựng nếp sống văn hóa trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, làm cho các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt đời sống…”[17].

Đến Đại hội XII, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW khóa XI tại Đại hội đánh giá: “… bước đầu hình thành những giá trị mới về con người với các phẩm chất về trách nhiệm xã hội, ý thức công dân, dân chủ, chủ động, sáng tạo, khát vọng vươn lên. Hệ thống thể chế và thiết chế văn hóa từng bước được tăng cường… Đời sống văn hóa của nhân dân được cải thiện. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã khơi dậy được nhiều giá trị nhân văn trong cộng đồng. Việc xây dựng môi trường văn hóa đã được chú trọng hơn”[18]. Tuy nhiên, Báo cáo cũng nhận định: “so với những thành quả trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thành quả trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng; chưa đủ tầm mức để tác động có hiệu quả xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh. Đạo đức, lối sống có mặt xuống cấp đáng lo ngại. Đời sống văn hóa tinh thần ở nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu; khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân chậm được rút ngắn. Môi trường văn hóa còn tồn tại những biểu hiện thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục; tệ nạn xã hội và một số loại tội phạm có chiều hướng gia tăng…”[19].

Liên tiếp các kỳ Đại hội gần đây là Đại hội XI và XII, văn kiện của Đảng đều đánh giá rằng văn hóa phát triển chưa tương xứng với các lĩnh vực khác. Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất, theo chúng tôi, là quan điểm tiếp cận trong xây dựng chính sách và triển khai hành động còn nhiều bất cập. Như ta biết, văn hóa luôn đa dạng và vận động không ngừng. Mỗi một vùng miền lại có một văn hóa riêng và nó luôn biến đổi theo nhu cầu của con người – chủ nhân của văn hóa. Thế nhưng, các chính sách và việc triển khai chính sách liên quan đến văn hóa của Nhà nước còn cứng nhắc, chưa phù hợp. Cụ thể, việc xây dựng một nền văn hóa theo mô hình chung, không căn cứ vào tính đa dạng và tính thường biến của đối tượng sẽ dẫn đến sự nhất thể hóa, bất biến hóa văn hóa một cách khiên cưỡng. Với lĩnh vực đang bàn, các chính sách đưa ra cần phải phù hợp với nguyên tắc tôn trọng đặc trưng của từng vùng miền cụ thể và tôn trọng quyền tự chủ của người dân. Nói cách khác, các chính sách này nên được xây dựng trên tinh thần “tạo điều kiện” chứ không phải “làm thay” như trước. Tức là, việc xây dựng nền văn hóa phải được trao cho bản thân người dân còn Nhà nước chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Sở dĩ phải làm như vậy là bởi xét đến cùng thì văn hóa là của nhân dân, do nhân dân sáng tạo nên.

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, nền văn hóa mới cần hội tụ các tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng[20]. Trong đó, nền văn hóa mang tính đại chúng được hiểu là nền văn hóa do đại chúng nhân dân xây dựng. Ở góc độ này, việc xây dựng con người là nhiệm vụ quan trọng nhất. Thế nhưng, nhìn cụ thể hơn vào mục tiêu xây dựng con người Việt Nam, vốn đã được xác định là nhiệm vụ hàng đầu trong các nhiệm vụ về văn hóa, có thể thấy những vấn đề đáng báo động. Chúng ta đều biết rằng, Hội nghị TW 5 khóa VIII lần đầu đặt ra việc xây dựng con người Việt Nam đi liền với xây dựng nền văn hóa dân tộc và các kỳ Đại hội tiếp theo dần xác định cụ thể hơn điều này. Ví dụ, Hội nghị TW 9 khóa 11 là bước phát triển hơn trong quan điểm khi khẳng định việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển và đồng thời cũng là nhiệm vụ hàng đầu trong các mục tiêu, nhiệm vụ về văn hóa. Thế nhưng, kết quả thực hiện lại không như kỳ vọng. Báo cáo chính trị tại Đại hội XII nêu rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi. Tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp; đạo đức xã hội có mặt xuống cấp nghiêm trọng”[21].

Những hạn chế trong thực hiện mục tiêu xây dựng nền văn hóa, xây dựng con người Việt Nam là vấn đề thời sự trước thềm Đại hội XIII. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế trong xây dựng nền văn hóa là chính sách và việc triển khai thực hiện của hệ thống các cơ quan quản lý trong hệ thống quản lý nhà nước chưa phù hợp với thực tiễn cuộc sống và tính chất của văn hóa, chưa tương ứng với quyết tâm chính trị của Đảng. Báo cáo chính trị tại Đại hội XII xác định nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém “chủ yếu là do nhiều cấp uỷ, chính quyền nhận thức chưa đúng tầm quan trọng và chưa quan tâm đầy đủ lĩnh vực này; lãnh đạo, chỉ đạo chưa thật quyết liệt. Việc cụ thể hóa, thể chế hóa nghị quyết của Đảng còn chậm, thiếu đồng bộ. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa chậm được đổi mới, có lúc, có nơi bị xem nhẹ, thậm chí buông lỏng. Đầu tư cho lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng và còn dàn trải”[22]. Đối với việc xây dựng con người Việt Nam, nhiều ý kiến thống nhất rằng nguyên nhân quan trọng là do hệ thống giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu. “Xét cho đến cùng, những sai lầm, khuyết điểm, hạn chế của con người Việt Nam nói chung đều là do những sai lầm, khuyết điểm, hạn chế của công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực này mà ra”[23]. Con người là kết quả quá trình xã hội hóa thông qua giáo dục từ gia đình, nhà trường và xã hội, mà như ta biết, những gì được học trong quá trình đó sẽ là nền tảng để tạo nên con người văn hóa. Và, với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa, mỗi cá nhân trong cộng đồng sẽ góp phần tạo nên văn hóa của cộng đồng. Có thể nói, nền văn hóa dân tộc được hình thành và phát triển như thế nào là do mỗi con người với tư cách là con người văn hóa được hình thành thông qua giáo dục quyết định. Vấn đề là ở chỗ, sự giáo dục nhân cách con người hiện đang bị coi nhẹ trong xã hội và ngay cả hệ thống giáo dục cũng có hạn chế như Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW tại Đại hội XII đã chỉ ra: “… giáo dục và đào tạo chưa thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, thành động lực phát triển. Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu”[24].

Kết luận

Như đã nói, văn hóa luôn mang tính đa dạng và biến đổi. Thế nhưng, cho đến nay các chính sách về văn hóa của Nhà nước ta lại chưa quan tâm đúng mức đến sự đa dạng văn hóa ở một đất nước vốn có nhiều dân tộc và nhiều vùng địa lý mang những đặc điểm khác biệt. Bên cạnh đó, việc triển khai các hoạt động liên quan đến chính sách cũng chưa phù hợp khi nhà nước, chứ không phải người dân, lại được coi là chủ thể hoạt động và như vậy là chưa đúng với tinh thần xây dựng nền văn hóa đại chúng – nền văn hóa thuộc về nhân dân với những biến đổi tự thân không ngừng.

Thực tiễn xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam đặt ra nhiều thách thức trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, triển vọng cũng không hề nhỏ khi mà Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan điểm coi văn hóa là mục tiêu và động lực phát triển, coi con người là trung tâm trong chiến lược phát triển. Chủ trương của Đảng về văn hóa trong các kỳ Đại hội sẽ là nền tảng vững chắc để tạo ra những chuyển biến tích cực. Vấn đề còn lại là quyết tâm chính trị của toàn bộ hệ thống quản lý nhà nước có liên quan.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTWĐCS Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 157.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 356 – 357.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 476.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 531.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 642.

                [6] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 738.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 755.

[8] “Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9, khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, http://dangcongsan.vn/thoi-su/nghi-quyet-hoi-nghi-trung-uong-9-khoa-xi-ve-xay-dung-va-phat-trien-van-hoa-con-nguoi-viet-nam-dap-ung-yeu-cau-phat-trien-ben-vung-dat-nuoc-251604.html

[9] “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin – Truyền thông, http://www.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/117150/Cong-bo-van-kien-dai-hoi-XII-cua-dang.html­, tr. 21 – 22.

[10] “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin – Truyền thông, http://www.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/117150/Cong-bo-van-kien-dai-hoi-XII-cua-dang.html, tr. 66.

[11] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 123. 

[12] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo của BCHTW Đảng khóa IX về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 680.

[13] Xem thêm Nguyễn Hữu Thức, Về cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, Nxb. Từ điển Bách khoa & Viện Văn hóa, Hà Nội, 2009, tr. 149 – 150.

[14] Viện Nghiên cứu văn hóa – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì (2014), Vai trò của văn hóa và lối sống trong phát triển bền vững Tây Nguyên, Đề tài thuộc Chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước KHCN-TN3/11-15, Hà Nội, 2014, tr. 237 – 238.

[15] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 783.

[16] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 790.

[17] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng”, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 821.

[18] “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin – Truyền thông, http://www.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/117150/Cong-bo-van-kien-dai-hoi-XII-cua-dang.html, tr. 64.

[19] “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin – Truyền thông, http://www.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/117150/Cong-bo-van-kien-dai-hoi-XII-cua-dang.html, tr. 65.

[20] Những tính chất này được Đảng nêu ra lần đầu trong Đề cương Văn hóa năm 1943 và sau đó nhiều lần được Hồ Chí Minh nhấn mạnh, chẳng hạn trong Báo cáo chính trị đọc tại  Đại hội II (1951).

[21] “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin – Truyền thông, http://www.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/117150/Cong-bo-van-kien-dai-hoi-XII-cua-dang.html, tr. 6.

[22] “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin – Truyền thông, http://www.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/117150/Cong-bo-van-kien-dai-hoi-XII-cua-dang.html, tr. 66.

[23] Mạch Quang Thắng, “Một số vấn đề về xây dựng con người Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 8, 2018.

[24] “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin – Truyền thông, http://www.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/117150/Cong-bo-van-kien-dai-hoi-XII-cua-dang.html, tr. 54.

Nguồn: Chi bộ Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt NamIn bài viếtGửi EmailCác tin khác

https://vass.gov.vn/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/Xay-dung-nen-van-hoa-Viet-Nam-tu-sau-Doi-moi-den-nay-24

PGS, TS. Lê Thanh Bình: Giao lưu văn hóa thế giới trong chiến lược phát triển văn hóa của Việt Nam

Giao lưu văn hóa thế giới trong chiến lược phát triển văn hóa của Việt Nam

PGS, TS. Lê Thanh Bình Học viện Ngoại giao 23:32, ngày 15-07-2021

TCCS – Giao lưu văn hóa với các quốc gia, dân tộc là nhu cầu, đòi hỏi tất yếu của quá trình phát triển xã hội hiện đại. Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới năm 1986, đặc biệt là sau khi Chính phủ ban hành “Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020”, giao lưu văn hóa với các nước trên thế giới được quan tâm, đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, đổi mới về hình thức, phương pháp,… thu được nhiều kết quả quan trọng.

Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-un đánh thử nhạc cụ dân tộc Việt Nam trong tiệc chiêu đãi trọng thể chào mừng Đoàn đại biểu cấp cao Triều Tiên thăm hữu nghị chính thức Việt Nam, ngày 1-3-2019, do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chủ trì _Ảnh: TTXVN

Một số thành tựu và hạn chế về giao lưu văn hóa thế giới của Việt Nam

“Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020” (ban hành theo Quyết định số 581/QĐ-TTg, ngày 6-5-2009, của Thủ tướng Chính phủ) và “Chiến lược văn hóa đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020 với tầm nhìn đến năm 2030” (ban hành theo Quyết định số 210/QĐ-TTg, ngày 8-5-2015, của Thủ tướng Chính phủ) đã khái quát rõ bối cảnh, tình hình trong và ngoài nước; những thành tựu, thách thức liên quan đến giao lưu văn hóa, văn hóa đối ngoại. Có thể nói, đó là hai vòng tròn đồng tâm nằm trong nhau.

Ngày nay, Việt Nam có quan hệ kinh tế – thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ ở cả 5 châu lục, trong đó có 30 nước là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện; trở thành nước duy nhất tại khu vực Đông Nam Á xây dựng khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với tất cả 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các nước lớn. Việt Nam là nước có nền văn hiến lâu đời, đặc sắc, đóng vai trò ngày càng quan trọng và có nhiều đóng góp trong các mối quan hệ ở bình diện quốc tế.

Sau khi đất nước được thống nhất và sau hơn 35 năm đổi mới, đặc biệt từ khi Chính phủ ban hành chiến lược, chính sách thúc đẩy sự phát triển của văn hóa, hoạt động giao lưu văn hóa đã đạt được một số kết quả nổi bật. Việc mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại đã tạo điều kiện thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa nước ta với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, với những quy mô, tầm mức khác nhau. Nhiều hoạt động, như ngày/tuần/tháng văn hóa Việt Nam, biểu diễn nghệ thuật, lễ hội văn hóa – du lịch, chiếu phim, triển lãm sách, ảnh, sản phẩm văn hóa – nghệ thuật, hội thảo, xúc tiến, quảng bá du lịch… nhằm giới thiệu hình ảnh đất nước, con người Việt Nam liên tục được tổ chức ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Các hoạt động giao lưu văn hóa, văn hóa đối ngoại được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao và các bộ, ngành, địa phương liên quan, các cơ quan truyền thông đại chúng, các tổ chức đối ngoại nhân dân, các đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài tổ chức đã đem lại sự thấu hiểu, cảm mến, thân thiện, để lại ấn tượng đẹp đối với cộng đồng quốc tế, tạo tiền đề, điều kiện để nhiều quốc gia, tổ chức trên thế giới mong muốn, tích cực đẩy mạnh giao lưu, hợp tác với nước ta. Tại các tổ chức, như Tổ chức Du lịch thế giới của Liên hợp quốc (UNWTO), Quỹ Văn hóa dân gian quốc tế (IGF), Tổ chức Triển lãm thế giới (BIE), Tổ chức Sở hữu trí tuệ quốc tế (WIPO), Tổ chức Văn hóa – Giáo dục và Khoa học của Liên hợp quốc (UNESCO), Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP)…, đại diện Việt Nam đã thể hiện được sự năng động, tinh thần trách nhiệm, đóng góp một số sáng kiến được ghi nhận, góp phần nâng cao vị thế đất nước.

Không chỉ tổ chức ở nước ngoài, các cơ quan văn hóa còn chủ động phối hợp tổ chức nhiều sự kiện, hoạt động giao lưu văn hóa quốc tế ngay tại Việt Nam, để các tổ chức quốc tế, đoàn ngoại giao, nhà văn hóa, nhà báo, nghệ sĩ, doanh nhân, du khách,… có thể tiếp xúc, tương tác với văn hóa, con người Việt Nam. Thông qua nhiều hoạt động, Việt Nam từng bước nâng cao khả năng hội nhập văn hóa; tiếp nhận hiệu quả những giá trị văn hóa, nghệ thuật và phương thức thể hiện hiện đại, hấp dẫn, tiêu biểu của thế giới, làm phong phú và nâng tầm về cả hình thức, nội dung, giá trị các sản phẩm văn hóa dân tộc. Cùng với đó là việc thành lập và hoạt động của các cơ sở văn hóa của nhiều nước tại Việt Nam, như Viện Goethe của Đức, Thư viện Phòng Văn hóa Sứ quán Mỹ; các trung tâm văn hóa và ngôn ngữ của Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc… tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động giao lưu văn hóa của nước ta.

Tiết mục múa trong chương trình ngày hội giao lưu văn hóa Việt – Nhật do các bạn sinh viên Trường Đại học Thủ Dầu Một biểu diễn_ Ảnh: tdmu.edu.vn

Các hoạt động giao lưu văn hóa ngày càng trở thành một kênh chuyên nghiệp, hiệu quả góp phần nâng tầm vị thế, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trên trường quốc tế. Giao lưu văn hóa không chỉ đẩy mạnh quan hệ với cộng đồng nước ngoài, mà còn truyền bá văn hóa nước nhà đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, gắn kết kiều bào với quê hương, đất nước, thẩm thấu văn hóa Việt Nam tới cộng đồng nước sở tại.

Một số lĩnh vực được thế giới quan tâm đặc biệt và đang là xu thế phát triển cũng được Việt Nam chú trọng. Ngành văn hóa đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, ngày 23-2-2018, “Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, các quyền liên quan”; tổ chức triển khai kế hoạch hành động thực hiện “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.

Quảng bá văn hóa nghệ thuật Việt Nam, giao lưu với các nước là một nội dung quan trọng trong các “Năm Việt Nam” tại nhiều nước, như Liên bang Nga, Trung Quốc, Lào,… hay tổ chức năm chéo Việt – Pháp, Pháp – Việt; Việt – Nga, Nga – Việt… Các lễ hội Việt Nam hằng năm với lượng khách tham gia hàng trăm nghìn người tại Nhật Bản, Hàn Quốc đang trở thành kênh thu hút đầu tư, du lịch tới Việt Nam. Mô hình trung tâm văn hóa, nhà văn hóa Việt Nam tại Pháp, Đức, Thái Lan, Lào… góp phần tích cực kết nối, truyền bá các nét đặc sắc, điển hình của văn hóa, nghệ thuật Việt Nam tới người bản địa và cộng đồng người Việt Nam sinh sống ở nước sở tại. Thực tế mỗi năm, nước ta ký khoảng 20 văn bản hợp tác văn hóa với các nước và ngày càng chú ý hơn tới hiệu quả của việc triển khai hợp tác.

Đối với hoạt động quảng bá du lịch, truyền thông thương hiệu đất nước, các ngành chức năng đã tích cực quảng bá các danh lam, thắng cảnh của Việt Nam tại nhiều trang tin điện tử, tạp chí, kênh truyền thông phổ biến, như CNN, Travel and Leisure, National  Geographic, Condé Nast Traveler, góp phần thu hút xấp xỉ 16 triệu lượt khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong những năm gần đây. Các phương tiện truyền thông đại chúng của nhiều quốc gia trên thế giới đã nhiều lần đăng tin, bài, hình ảnh Việt Nam thông qua hình ảnh và thành tích của nghệ sĩ, vận động viên nước ta tại các cuộc thi quốc tế trên các lĩnh vực điện ảnh, nhiếp ảnh, âm nhạc, bóng đá, võ thuật… Nghệ thuật tạo hình, hội họa bước đầu được truyền thông quốc tế, sàn đấu giá uy tín ghi nhận. Nhiều bức tranh của các danh họa trong nước, như Lê Phổ, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Phan Chánh… được định giá rất cao.Các sự kiện văn hóa quốc tế do Việt Nam tổ chức, như Festival Huế, Liên hoan Phim quốc tế Hà Nội, Liên hoan Xiếc quốc tế, Liên hoan Rối quốc tế… được các nhà chuyên môn, nghệ sĩ, nhà báo, du khách quốc tế tham gia đông đảo, nhiệt tình ủng hộ.

Từ kết quả ngoạn mục của bộ phim Hollywood mang tên “Đảo đầu lâu”, với hơn 70% cảnh được quay tại Việt Nam, các đoàn truyền hình, làm phim thế giới đã tìm đến Việt Nam như một địa điểm lý tưởng cho việc quay phim có các tình huống thú vị, điển hình ở Đông Nam Á. Nhiều hãng truyền thông còn thực hiện các chương trình truyền hình thực tế, khám phá, khảo sát, nghiên cứu văn hóa, du lịch, đời sống, tập quán có bề dày lịch sử của Việt Nam và phát sóng trên các kênh truyền hình có uy tín quốc tế tại Mỹ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Australia… Việc tham gia các cuộc thi hoa hậu mang tính quốc tế, các sự kiện trình diễn thời trang, ẩm thực thuần Việt được tổ chức ở trong, ngoài nước cũng tạo thêm hương sắc Việt Nam trong giao lưu văn hóa quốc tế.

Bà Cecilia Piccioni, Đại sứ Ialia trong tà áo dài Việt Nam giao lưu tại đêm hội áo dài ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội_Ảnh: vietnam.vnanet.vn

Các hoạt động giao lưu văn hóa đã góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác đối ngoại nói chung và hoạt động giao lưu văn hóa nói riêng cho các cấp, ngành và toàn xã hội; góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế nhờ giao lưu văn học, nghệ thuật và các hình thức sáng tạo khác; thúc đẩy giao lưu quốc tế. Các phương tiện giao lưu văn hóa được các cấp, ngành, địa phương đầu tư căn bản, hiện đại, góp phần tăng thêm hiệu quả công tác văn hóa đối ngoại. Hình thức, nội dung giao lưu văn hóa ngày càng đa dạng, gồm nhiều thể loại, có sự kết hợp giữa văn hóa đối ngoại với chính trị – kinh tế đối ngoại, ngoại giao công chúng, ngoại giao nhân dân… Xây dựng được thể chế, thiết chế cho hoạt động giao lưu văn hóa, kết nối hữu cơ với loại hình gần gũi là văn hóa đối ngoại.

Mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn, nhưng nhìn chung, các hoạt động giao lưu văn hóa của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế và sự nghiệp phát triển đất nước. Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đã đánh giá đúng vai trò của văn hóa và giao lưu văn hóa, văn hóa đối ngoại đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện ở các cấp, ngành còn có hạn chế, trước hết từ khâu nhận thức chưa đầy đủ; chưa có một cơ chế điều phối ở cấp quốc gia về các hoạt động giao lưu văn hóa. Do đó, sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, giữa trong nước và ngoài nước (các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài), giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân trong tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa còn thiếu tính chủ động và hiệu quả chưa cao.

Các ngành công nghiệp văn hóa của Việt Nam còn non trẻ, các doanh nghiệp văn hóa có quy mô nhỏ, lẻ, phân tán, chưa tạo ra được những sản phẩm đủ sức cạnh tranh, nâng vị thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế.Nguồn nhân lực trong lĩnh vực giao lưu văn hóa ở các bộ, ngành, địa phương không đồng đều về trình độ, khả năng ngoại ngữ, cũng như sự am hiểu về văn hóa, luật pháp và phong tục, tập quán quốc tế. Công tác nghiên cứu, dự báo, định hướng hoạt động văn hóa đối ngoại còn yếu, gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động giao lưu văn hóa. Tiêu chí về trình độ, năng lực, hiệu quả công việc của cán bộ tác nghiệp giao lưu văn hóa chưa rõ ràng, một số cán bộ phụ trách công tác này chưa đáp ứng được yêu cầu công việc.

Về tổng thể, mức độ đầu tư cho ngành văn hóa trong tổng chi ngân sách tương đối thấp so với các lĩnh vực khác. Các nguồn vốn xã hội hóa và nguồn vốn nước ngoài cho lĩnh vực văn hóa, đặc biệt là công tác giao lưu văn hóa, chiếm một tỷ trọng nhỏ, chưa tương hợp với yêu cầu, nhiệm vụ và tầm quan trọng của lĩnh vực này. Chưa có các chính sách khuyến khích, ưu đãi cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động giao lưu văn hóa.

Một số khuyến nghị, giải pháp thúc đẩy giao lưu văn hóa thế giới

Thứ nhất, với một lĩnh vực rộng, đa ngành, thiên về năng lực sáng tạo là giao lưu văn hóa, cần chú trọng lựa chọn cán bộ quản lý chủ chốt là các chuyên gia vừa có trình độ chuyên môn, vừa am hiểu cơ chế quản lý để chỉ đạo sát hợp, hiệu quả. Các cơ quan chỉ đạo, quản lý liên quan lĩnh vực giao lưu văn hóa (Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin và Truyền thông, các cơ quan truyền thông đại chúng, các địa phương…) cần chủ động phối hợp xây dựng một chiến lược cụ thể về giao lưu văn hóa, trong đó bao gồm toàn diện, đầy đủ về mục tiêu, nguyên tắc, nguồn lực, cách thức triển khai, trách nhiệm chi tiết giữa các đơn vị để thực hiện giao lưu văn hóa dài hạn sau năm 2020. Các thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch và Bộ Ngoại giao trong lĩnh vực văn hóa đối ngoại hay thúc đẩy giao lưu văn hóa/quảng bá văn hóa quốc gia (giai đoạn sau năm 2020) cần làm rõ sự phối hợp có tính đột phá. Sự chỉ đạo thống nhất ở cấp cao nhất cần được quan tâm đặc biệt, có văn phòng điều phối, có lãnh đạo cao cấp chỉ đạo, có chuyên viên kiêm nhiệm đủ năng lực, kinh nghiệm trong lĩnh vực giao lưu văn hóa.

Chương trinh giao lưu nghệ thuật chào mừng 50 năm thành lập ASEAN và 22 năm ngày Việt Nam gia nhập ASEAN _ Ảnh: cucnghethuatbieudien.gov.vn

Thứ hai, cần kiện toàn công tác quản lý, giám sát các hoạt động quảng bá và tiếp nhận các giá trị văn hóa, không chỉ thông qua việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy, điều chỉnh chính sách, mà còn là áp dụng công nghệ hiện đại trong lưu trữ, phân tích, xử lý, phân phối các sản phẩm văn hóa, chia sẻ thông tin và bảo đảm an toàn nội dung thông tin. Chính sách và văn bản pháp quy phải bảo đảm tính khả dụng, khoa học, hiệu quả lâu dài để không chỉ cán bộ chuyên môn, mà mọi công dân Việt Nam và kiều bào nước ngoài có thể lấy làm căn cứ để tùy theo điều kiện của mình tích cực sáng tạo, đóng góp cho giao lưu văn hóa của đất nước.

Thứ ba, cần chú ý đến yếu tố truyền thông, vai trò của truyền thông đại chúng trong giao lưu văn hóa. Trong thời kỳ hội nhập, các phương tiện truyền thông hiện đại có thể truyền bá, phổ cập liên tục, nhanh chóng, rộng rãi những thông tin, hình ảnh, âm thanh… của đời sống văn hóa, giá trị văn hóa cho công chúng. Công chúng ngày nay phân thành nhiều nhóm, không chỉ kết nối với cư dân trong nước, mà còn với cư dân nước ngoài qua internet, mạng xã hội, vì vậy cần có hình thức truyền tải phù hợp với các đối tượng. Cần xây dựng hệ giá trị văn hóa chuẩn mực người Việt Nam, vừa tiếp thu nét đẹp truyền thống, vừa gắn với các giá trị chân – thiện – mỹ, vừa hiện đại, để công chúng, nhất là người trẻ có định hướng đúng, có thể chủ động tiếp thu các giá trị văn hóa tiến bộ từ bên ngoài, nhưng vẫn có khả năng “miễn nhiễm” với văn hóa lai căng.

Thứ tư, giao lưu văn hóa gắn bó hữu cơ với ngoại giao văn hóa nên phải thống nhất nhận thức của mọi cấp, ngành, xã hội trong việc thúc đẩy sâu, rộng chính sách ngoại giao văn hóa, chú trọng kiện toàn bộ phận phụ trách giao lưu văn hóa, ngoại giao văn hóa ở các cơ quan đại diện nước ngoài (nhất là các đại sứ quán, nhà văn hóa…); coi ngoại giao văn hóa là lĩnh vực có thể tiếp xúc, mở đường, vận động, trao đổi, tiếp thu, quảng bá nhằm tăng cường sự hiểu biết, thân thiện, tín nhiệm giữa Việt Nam và các nước, từ đó giúp đẩy mạnh hợp tác, đầu tư, thương mại, du lịch, văn hóa – nghệ thuật, kinh tế, giáo dục, môi trường, xã hội… Thực hiện Nghị quyết số 36/NQ-TW, ngày 26-3-2004, của Bộ Chính trị, “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”; Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 19-5-2015, của Bộ Chính trị, “Về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, của Bộ Chính trị khóa IX, “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài” trong tình hình mới”, các ngành chức năng cần luôn quan tâm đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài để  truyền bá, giải thích về chính sách văn hóa của Đảng và Nhà nước, đưa văn hóa dân tộc đến với đồng bào để cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vừa gìn giữ, phát triển văn hóa truyền thống của dân tộc, vừa là cầu nối lan tỏa các sản phẩm, giá trị văn hóa Việt Nam đến các nước sở tại.

Thứ năm, việc thưởng phạt, tôn vinh, sử dụng, đãi ngộ người tài trong hoạt động giao lưu văn hóa, văn hóa đối ngoại cần thực hiện công bằng, kịp thời. Chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ làm việc trong các cơ sở đào tạo văn hóa, nghệ thuật, ngoại giao văn hóa; cải tiến chương trình giảng dạy theo kịp khu vực và quốc tế, cả về chuyên môn và ngoại ngữ; đồng thời vừa chọn lọc kỹ đầu vào trong công tác đào tạo, lại vừa có đầu ra bảo đảm chất lượng để người được đào tạo có thể đóng góp tích cực cho sự nghiệp giao lưu văn hóa. Mặt khác, cần tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế, trao đổi chuyên môn giữa các nhà hoạt động về giao lưu văn hóa, học giả, văn nghệ sĩ, nhà sáng tác… Tăng cường chọn lọc giảng viên giỏi, tâm huyết để gửi đi đào tạo tại các nước có thành tựu giao lưu văn hóa. Đối với sinh viên, học viên tốt nghiệp loại giỏi ở nước ngoài, cần có chủ trương mời gọi, tuyển dụng về làm việc cho cơ sở đào tạo, đơn vị tác nghiệp giao lưu văn hóa Việt Nam. Đối với các ngành công nghiệp văn hóa, thủ công mỹ nghệ đặc sắc, cần chọn lọc những ngành, nghề có lợi thế về chế tác, nguyên liệu, truyền thống lâu đời, có thị trường tiêu thụ trên thế giới để xây dựng, phát triển.

Thứ sáu, cần đầu tư đầy đủ, kịp thời cả về con người và cải tiến bộ máy quản lý, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hoạt động giao lưu văn hóa. Không đầu tư theo kiểu bình quân, mà căn cứ vào kết quả đầu ra, thông qua đội ngũ thẩm định uy tín. Đối với một số lĩnh vực có tác dụng truyền thông, quảng bá văn hóa rõ nét, dễ kết nối với thế giới, như văn học, âm nhạc, nên chú trọng đầu tư nhiều hơn. Đơn cử, đầu tư cho dịch thuật từ tiếng Việt ra tiếng nước ngoài, đặc biệt là tiếng Anh và phổ biến những tác phẩm văn học – nghệ thuật (nhất là thơ ca, tiểu thuyết) có giá trị nổi bật ra nước ngoài; tạo điều kiện để các ban nhạc hát tiếng Anh, nhạc sĩ sáng tác tiếng Anh có tác phẩm dự thi các giải khu vực và thế giới…/. Tag Văn Hóa Xã Hộigiao lưu văn hóachiến lược phát triển văn hóa

Bài cùng chủ đề

Ba chính sách trụ cột chính để phát huy nguồn lực văn hóa trong xây dựng Thủ đô sáng tạo  (22/02/2021)

Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến văn hóa, lối sống người dân Việt Nam  (09/12/2020)

Chuyển biến văn hóa – xã hội của Hà Nội trong bối cảnh hội nhập hiện nay  (16/10/2020)

Vai trò của văn hóa trong Chiến lược phát triển của Thủ đô Hà Nội  (12/10/2020)

Du lịch Việt Nam: Thành công và những bài học thời kỳ hội nhập  (30/06/2020)

https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/823661/giao-luu-van-hoa-the-gioi-trong-chien-luoc-phat-trien-van-hoa-cua-viet-nam.aspx#