GS TRẦN VĂN KHÊ : CHUNG QUANH PHONG TRÀO « VỀ NGUỒN » VÀ CHỨNG BỊNH CỦA THỜI ĐẠI(Phần 2 – Hết)

CHUNG QUANH PHONG TRÀO « VỀ NGUỒN » VÀ CHỨNG BỊNH CỦA THỜI ĐẠI(Phần 2 – Hết)-

GS. Trần Văn Khê -CHỨNG BỊNH CỦA THỜI ĐẠI

– Thưa Giáo sư, thế nào là “bịnh của thời đại”? Có phải chỉ là căn bịnh của dân Việt Nam, hay là bịnh thời đại cho nhiều nước trên thế giới?

– Đúng là một căn bịnh cho nhiều nước trên địa cầu, những nước thuộc về “thế giới thứ ba”. Nhưng ở Việt Nam căn bịnh khá trầm trọng. Bịnh gây ra nhiều chứng, nhưng gốc của bịnh là “tự ti mặc cảm”, rồi sanh ra “bịnh vong bản”, “bịnh mất cá tính” và “bịnh vọng ngoại”.

– Tại sao lại mắc bịnh tự ti mặc cảm?

– Nguyên nhân thứ nhứt của căn bịnh là do hoàn cảnh lịch sử. Nước Việt Nam đã mất chủ quyền trong gần 100 năm. Bị thất trận, bị đô hộ, bị thống trị, người Việt Nam thấy rằng về mặt kỹ thuật, không thể nào bì kịp người phương Tây. Lúc chúng tôi còn nhỏ, chúng tôi thường nghe người Việt nói : “Nhà tây đẹp hơn nhà mình. Chó tây đẹp hơn chó ta. Bông glaieul đẹp hơn bông huệ. Bơ của tây thơm hơn mỡ chài. Người tây da trắng hơn, mũi cao hơn, đẹp hơn người mình. Người có đạo Thiên Chúa còn thấy rằng người Tây giống Đức Chúa Jésus hơn người Việt. Họ là con ruột của Chúa, mình là con ghẻ… ». Bao nhiêu nhận xét đó đủ làm cho người Việt tự ti mặc cảm đối với người Pháp.

Người bị đô hộ thấy thua người đến cai trị mình về đủ mọi mặt, nhứt là trong lãnh vực vật chất. Từ đó đi đến chỗ tin rằng, nếu kỹ thuật họ cao, thì văn hóa họ cũng cao, chớ không nhớ rằng chỉ cần 25 năm có thể đào tạo một thế hệ kỹ sư, trong khi phải trải qua cả trăm cả ngàn năm mới tạo được một nền văn hóa.

Nước Việt Nam lại trải qua nhiều năm chiến tranh. Người nông dân làm việc đồng áng, trong mùa cấy hay mùa gặt, phải tránh lúc máy bay oanh tạc, im lặng làm việc trong đêm khuya, làm cho mau xong việc, không còn thì giờ rảnh rỗi, tâm hồn không thư thái, làm sao còn có thể cất cao tiếng hát giọng hò, để trao lời đổi ý, có khi trao đá đổi vàng và tạo những câu hò “huê tình” đầy thi vị?

Nguyên nhân thứ nhì là hoàn cảnh xã hội.

Dưới thời Pháp thuộc, người Việt, muốn được trọng vọng trong xã hội, phải ăn mặc Tây phục (Âu phục), phải nói tiếng Tây, phải biết đờn Tây. Nhà ai có đờn piano là thuộc hạng “văn minh, tiến bộ”. Học đờn violon thì rất hãnh diện khi xách đờn đi ngoài đường. Học đờn cò thì xấu hổ, giấu đờn trong bao. Trong trường nhạc thì lớp dạy nhạc Tây rộng rãi, sáng sủa. Thầy dạy nhạc Tây, đã đi Tây về, nói tiếng Tây thông thạo, đến trường bằng xe hơi, lương tháng rất cao. Trong khi thầy dạy nhạc Việt Nam đi bộ đến trường, không biết nói tiếng Tây, không biết giảng lý thuyết theo sách vở, lương lại thấp hơn thầy dạy nhạc Tây rất nhiều. Trong trường dạy nhạc có treo hình của các nhạc sĩ danh tiếng bên phương Tây: Mozart, Beethoven, Chopin, Schubert… Mỗi ngày, học sinh xem các vị ấy như thần tượng, như Phật trong chùa, như Chúa Trời trong nhà thờ, như Thần trong đình. Tự nhiên trong lòng các em học nhạc đều coi nhạc Việt Nam nhẹ hơn nhạc phương Tây.

Nếp sống lại thay đổi rất nhiều, nhứt là ở trong thành thị.

Mẹ sanh con ra, ít khi ôm con vào lòng để ru con ngủ mà chỉ để con nằm trong nôi và mặc cho radio phát to những điệu nhạc hợp với thời trang, nhạc kích động hay nhạc khiêu vũ, miễn sao cho trẻ ngủ là được rồi.

Trong sân trường, ngoài đường phố, không còn nghe tiếng “trẻ em hát, trẻ em chơi”

.Ngoài đồng rộng, trên sông dài, không còn vang tiếng hò đối đáp như xưa

Khi xưa, “công cấy” đi từ làng này sang làng khác, đi trên bờ dọc theo những thửa ruộng sâu đầy nước. Để quên con đường dài thì anh chị em trong đoàn cất cao giọng hò. Ngày nay, khi xe cải tiến chở nông dân đi từ làng này sang làng khác, nghe tiếng máy xe rù rù, người ngồi lắc lư, chen chúc, thì họ chỉ nói chuyện khào mà không thấy hứng để cất lên những “tiếng quan yêu dân chuộng”, để xưng mình là “người dạo kiểng lê viên” và gặp “gái thuyền quyên thì rủ nhau hò”.

Trên đồi Lim, trên sông Cầu, vắng bóng trai thanh gái lịch. Còn ai hát cò lả, trống quân, quan họ trữ tình, hay hát mời hát hỏi như thuở xa xưa?

Không còn tiếng phách Ca Trù giòn giã để phụ họa theo những câu hát Mưỡu, hát Nói hay tiếng đờn Đáy đưa hơi tiếp giọng cho các đào nương, hát ở “cửa đình”, hát thi hát hội, hay hát trong những tiệc cưới, tiệc khao.

Vỉa hè không còn vang tiếng trống đế của các phường chèo. Rạp hát bóng thu hút bớt khán giả của hát tuồng, hát bội.

Nếp sống mới đã lần lần đẩy lùi ca, nhạc, sân khấu truyền thống vào quên lãng.

Ở thành thị nhiều người thích nghe radio, hoặc xem truyền hình hơn đi xem hát. Sau này còn thêm video, làm cho các bộ môn nghệ thuật sân khấu gặp nhiều khó khăn!

Nguyên nhân thứ ba là điều kiện kinh tế.

Đến đài phát thanh đờn nhạc Việt Nam lãnh thù lao chỉ được một, đờn nhạc Tây lãnh thù lao gấp hai gấp ba.

Học nhạc Tây dễ tìm việc hơn học nhạc Việt Nam truyền thống.

Biết chơi đờn lục huyền cầm, còn đờn ở nhạc hội, ở phòng trà, ở các buổi hội họp.

Biết chơi đờn dân tộc chỉ đờn chơi, giải trí, chớ không thể dùng nhạc truyền thống làm kế sinh nhai.

Âm nhạc không còn là một nghệ thuật để chúng ta phụng sự mà đã biến thành một món hàng để người ta mua bán. Quảng cáo rầm rộ và giới thiệu những loại nhạc “ăn khách”, hấp dẫn, kích động, ngang qua truyền thanh truyền hình trong những giờ gần hay sau bữa cơm chiều, trong khi âm nhạc dân tộc chỉ phát thanh, phát hình vào lúc khuya, lúc ít người xem, người nghe.

Trên thị trường thương mãi, tràn ngập dĩa hát, chương trình phát thanh, video truyền hình, phim điện ảnh do các nước tiên tiến về mặt kỹ thuật tung ra, bán khắp nơi, nhứt là trong các nước “chậm tiến”.

Nguyên nhân thứ tư là “bịnh làm biếng

”Người nông dân lao động ngày nay, không còn có can đảm đi “ngủ bọn” để học những bài hát “lề lối” của truyền thống quan họ như ngày trước, không muốn mất thì giờ học cách “buông hơi, bắt hơi” để hò đối đáp, chỉ thích nghe người khác hát, hơn tự mình hát.

Học đờn, học hát theo truyền thống, đòi hỏi nhiều thì giờ, lắm công phu luyện tập. Muốn hiểu được nghệ thuật Chèo, Tuồng, muốn thưởng thức tiếng phách Ca Trù, muốn biết được hơi Bắc, hơi Nam trong ca nhạc Huế, hay ca cải lương, tài tử, không phải một ngày một buổi mà được “nhập điệu”. Học khảy đờn lục huyền cầm thì chỉ thuộc một số nhỏ hợp âm đã đủ sức đờn đệm cho người hát tân nhạc. Một số bài bản mới của Việt Nam hay của nước ngoài, toàn là những điệu dễ nghe, dễ nhớ, mà cũng dễ quên, chỉ làm cho mình êm tai mà khỏi cần suy nghĩ. Những ai hơi làm biếng một chút thì nhứt định sợ các loại nhạc truyền thống mà chạy theo các lối nhạc thời trang.

Vì những lý do trên, thanh niên càng ngày càng đi xa âm nhạc, kịch nghệ dân tộc và trước sự tấn công ồ ạt của các loại nhạc kích động – thường được gọi là “nhạc trẻ” – thanh niên đã ít biết hát dân ca, nay lại say nhạc Jazz, nhạc Pop.

Không biết, không học đờn tranh, đờn bầu, mà thích sử dụng đờn guitar và organ điện. Không thích nghe nhạc Việt Nam, mà thích gật gù hay quay cuồng với nhạc Bắc Mỹ, Nam Mỹ, nhạc Âu Châu hoặc nhạc Hồng Kông, Đài Loan, tức là đã bị bệnh “tự ti mặc cảm” lậm sâu vào huyết quản, bịnh “vọng ngoại” thấm nhập cả tim gan rồi.

Bịnh đó rất trầm trọng, có thể vào trạng thái “kinh niên”, không phải chỉ một vài liều thuốc “trị chứng” mà có thể đánh lùi con bịnh, đem lại sức khỏe cho thanh niên Việt Nam đâu.

Có người nghĩ rằng nếu thanh niên quên vốn cổ, thì “bắt buộc” thanh niên học vốn cổ. Thanh niên mê nhạc nước ngoài thì “cấm” thanh niên biểu diễn nhạc nước ngoài. Đó là muốn “trị chứng” đấy. Nhưng làm sao có thể “ép buộc” người ta làm một việc mà người ta không thích thú, hay không thấy cần thiết phải làm? Và không có phương thuốc nào dở hơn là phương thuốc “cấm”. Cấm tức là xúi giục người ta làm những việc “bị cấm”, cho những “hàng bị cấm” càng thêm sức hấp dẫn của “trái cấm”.

Chúng ta đã thấy rõ rằng thanh niên không thích nhạc truyền thống, vì những hoàn cảnh lịch sử, xã hội, những điều kiện vật chất kinh tế, đã làm cho thanh niên đi xa và không còn hiểu rõ được truyền thống dân tộc, không hiểu mới sinh ra “tự ti”, vì tự ti mới sinh ra vọng ngoại. Thì trị căn, tức là làm sao đánh tan mặc cảm tự ti, bằng cách tiêm vào trong tâm hồn thanh niên niềm “ tự hào dân tộc”

.Muốn có “tự hào dân tộc”, phải nhận thức được giá trị của nhạc dân tộc, phải quen thuộc với nó, phải thấy mình gắn bó mật thiết với nhạc dân tộc. Muốn được vậy, phải thay đổi cách sống, thay đổi thái độ của chúng ta đối với âm nhạc, kịch nghệ dân tộc, phải tìm hiểu nghệ thuật truyền thống, phải nghiêm túc thi hành những biện pháp chúng tôi sẽ nêu ra một cách toàn diện và đồng bộ.

Bắt đầu là tạo điều kiện cho tiếng hát ru sống lại.

Cùng một lúc với dòng sữa nóng của người mẹ truyền sang cơ thể của em bé, có một điệu hát ru rót vào tiềm thức của em. Đó là bài giáo dục âm nhạc đầu tiên, là một nét nhạc dân gian gắn liền với tình con thương mẹ. Em bé lớn lên, trong tiềm thức của em cũng như trong bộ nhớ của một máy tính điện tử đã có sẵn những nét nhạc dân tộc. Em yêu mẹ, em sẽ yêu những nét nhạc đã gắn liền với cánh tay ấm, với dòng sữa ngọt của mẹ lúc em còn nằm trong nôi.

Khi em đến tuổi biết chạy chơi, thì dạy cho em hát những bài hát dân gian phù hợp với tâm hồn trẻ em, như mấy bài “Nu na nu nống”, “Chi chi chành chành”, “Con công hay múa” hay những bài hát sáng tác cho trẻ em, mà đậm màu sắc dân tộc. Cho các em làm quen với trống da ếch, với kèn lá chuối, với ống đu đủ, với phách tre. Dạy cho các em biết xướng âm tiếng Việt Hò, Xự, Xang, Xê, Cống trước khi học Do, Re, Mi, Fa, Sol cũng như dạy cho các em biết nói tiếng Việt trước khi học ngoại ngữ. Cho các em nghe tiếng nhạc cụ dân tộc, làm quen với những điệu múa dân gian trước khi cho các em tiếp xúc với ca vũ nhạc nước ngoài.

Trên đồng áng, trên sông rạch, khuyến khích nông dân vừa làm việc vừa hò đối đáp, tặng giải cho những người hò tốt giọng, ứng đối nhanh, sáng tạo những câu hò phù hợp với nếp sống mới. Vừa hát đối đáp, vừa làm việc, năng suất sẽ cao hơn. Ít nhất cũng cho nông dân nghe những lối hát dân gian, dân tộc truyền thống có liên quan đến công việc làm. Trong giờ nghỉ giải lao, cho nghe băng ghi âm những câu hò điệu hát xưa còn lại, hoặc do các danh ca trẻ tuổi biểu diễn

Ủng hộ, nâng đỡ, khuyến khích các loại hình nghệ thuật sân khấu dân tộc, những đoàn ca múa nhạc dân tộc để cho nghệ thuật dân tộc đừng mai một, để cho khán giả không bị nghệ thuật sân khấu nước ngoài hay điện ảnh đẩy lùi vào bóng tối

Trong các trường mẫu giáo, tiểu học, trung học và cả đại học, nên có chương trình giáo dục âm nhạc. Học sinh không cần biết trong chi tiết, nhưng ít nhất cũng biết qua các loại đối ca nam nữ, Quan họ, Trống quân, Cò lả, Hát xoan, Hát ghẹo là gì? Hát chèo khác hơn hát Tuồng, hát Bội thế nào? Tại sao lại gọi tuồng Thầy, tuồng Pho, tuồng Đồ…

Trong các trường tiểu học, trung học của nhiều nước trên thế giới đều có giờ giáo dục âm nhạc. Dưới thời thuộc địa, học sinh trung học Việt Nam lại phải biết các ông Molière, Racine, Corneille là ai, phải học thuộc lòng nhiều đoạn tuồng của các ông đã viết từ thế kỷ thứ XVII. Vậy mà học sinh Việt Nam, mấy cậu, mấy cô biết được các cụ Đào Tấn, Nguyễn Hiển Dĩnh là ai? Và thuộc được mấy câu trong vở tuồng Thầy San Hậu? Không biết, làm sao hiểu? Không hiểu, làm sao nhận thức được giá trị nghệ thuật của kịch nghệ truyền thống Việt Nam?

Báo chí và các phương tiện truyền thông nên làm tròn phận sự thông tin đầy đủ về âm nhạc, kịch nghệ truyền thống. Nên nghĩ đến việc giáo dục thẩm mỹ cho độc giả hay thính giả. Cần có những bài báo, bài nói chuyện, có giải thích trên đài phát thanh, đài truyền hình về giá trị nghệ thuật của ca, vũ, nhạc dân tộc Việt Nam nhiều hơn trước và phát thanh, phát hình vào những giờ thuận tiện cho khán thính giả theo dõi chương trình.

Cần có những lớp đào tạo giáo viên thông hiểu đại cương về âm nhạc, kịch nghệ Việt Nam để dạy chương trình phổ thông về các bộ môn nghệ thuật ấy.

Cần có thêm nhiều nhà sưu tầm, nghiên cứu âm nhạc và kịch nghệ dân tộc để nêu lên những đặc điểm, những nét độc đáo trong âm nhạc, kịch nghệ Việt Nam, in thành sách, báo, tạp chí có tánh cách phổ thông cho quảng đại quần chúng.

Cần có những cuộc thi về nhạc cụ dân tộc, giọng ca dân tộc, kịch nghệ dân tộc để khuyến khích và phát hiện tài năng của các nghệ sĩ trong giới trẻ.Cần phải tôn trọng và ưu đãi những nghệ sĩ truyền thống. Như ở Nhựt Bổn và Hàn Quốc, người nghệ nhân có công giữ gìn và phổ biến âm nhạc, kịch nghệ dân tộc được phong chức “Quốc gia chi bửu”. Ở Ấn Độ, danh hiệu “Padma Shri” cũng dành cho các bậc nhạc sư đã lâu năm chầy tháng truyền dạy hoặc biểu diễn âm nhạc truyền thống Ấn Độ. Có tôn trọng người Thầy trong truyền thống thì tuổi trẻ mới không coi thường những vị đã suốt đời tận tụy với nghệ thuật cổ truyền.

Tất cả những điều tôi nêu trên là những “vị thuốc” tối cần để trị tận căn chứng bệnh “tự ti mặc cảm” và bồi bổ cho “tính tự hào dân tộc”. Vị thuốc nào cũng có công dụng của nó. Không thể bỏ bớt vài vị vì lý do này hay lý do khác.

Nếu các biện pháp ấy được thực hiện đồng bộ và ngay từ bây giờ thì trong vài ba năm nữa, chúng ta có thể thấy được kết quả tốt, tức là sẽ có nhiều người tự hào với vốn dân tộc, thương yêu, bảo tồn, truyền bá âm nhạc và kịch nghệ dân tộc, sẽ không còn cảnh nghệ thuật truyền thống bị đẩy lùi trong bóng tối và chìm trong quên lãng. Sẽ có nhiều thanh niên thiếu nữ trở về nguồn, vì có ý thức giữ bản sắc dân tộc, có ngọn lửa thiêng nhen nhúm trong lòng các bạn ấy, chớ không phải vì một “phong trào”, một “chánh sách”, một “biện pháp” nào lôi cuốn thanh niên trở về nguồn mà thanh niên sẽ tự nguyện trở về nguồn. Như thế dân tộc Việt Nam sẽ đủ sức chống lại bất cứ sự “tấn công văn hóa” nào và truyền thống âm nhạc, kịch nghệ dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ bị tiêu diệt. Mong thay! Mong thay!

Votre commentaire

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l’aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion /  Changer )

Photo Google

Vous commentez à l’aide de votre compte Google. Déconnexion /  Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l’aide de votre compte Twitter. Déconnexion /  Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l’aide de votre compte Facebook. Déconnexion /  Changer )

Connexion à %s

Ce site utilise Akismet pour réduire les indésirables. En savoir plus sur la façon dont les données de vos commentaires sont traitées.