GS TRẦN VĂN KHÊ :CHUNG QUANH PHONG TRÀO « VỀ NGUỒN » VÀ CHỨNG BỊNH CỦA THỜI ĐẠI(Phần 1)

· CHUNG QUANH PHONG TRÀO « VỀ NGUỒN » VÀ CHỨNG BỊNH CỦA THỜI ĐẠI(Phần 1)

– GS. Trần Văn Khê

-Mấy năm nay, tôi về nước thường hơn và các báo lại có dịp phỏng vấn tôi về những vấn đề văn nghệ. Đặc biệt, tôi nhiều lần được nghe câu hỏi:

“Giáo sư có thể cho chúng tôi biết ý kiến của Giáo sư đối với phong trào “Về nguồn” trong lĩnh vực Âm nhạc chăng?”

Tôi cười và trả lời: “Từ hơn 40 năm nay, tôi đã về nguồn rồi”.

Trong cuộc phỏng vấn tôi không có thì giờ nói rõ đầu đuôi. Hôm nay, tôi xin dẫn các bạn “Về nguồn” của tôi

Xuất thân trong một gia đình bốn đời Nhạc sĩ truyền thống:

Ông cố tôi, Trần Quang Thọ, nhạc sĩ triều đình Huế vào Nam lập gia đình.

Người con trai thứ tư, cụ Trần Quang Diệm, nối nghiệp nhà và nổi tiếng danh cầm Tỳ bà. Ông nội tôi, ông Năm Diệm có 6 người con (theo truyền thống miền Nam, con trai đầu lòng gọi thứ hai vì anh cả là người cha. Cho nên ông nội tôi, con trai thứ tư mà mang tên là Năm Diệm). Chỉ có người cô thứ ba của tôi, cô Ba Viện là đờn Tranh rất hay và cha tôi, ông Trần Quang Triều (ông Bảy Triều) thiện nghệ đờn Kìm (Nguyệt cầm) và đờn Độc huyền. Đặc biệt, cha tôi đã chế ra cách lên dây đờn Kìm mang tên là dây “Tố Lan”, để đờn bài “Tứ đại oán”, “Văn Thiên Tường” mà ngày nay các nhạc sư nhạc tài tử miền Nam còn nhắc nhở.

Từ năm 6 tuổi, tôi đã biết chơi đờn Kìm và đờn Cò (đờn Nhị), 12 tuổi đờn Tranh và 14 tuổi học đánh Trống nhạc lễ, Trống hát bội với cậu Năm tôi là ông Nguyễn Tri Khương. Cố ngoại tôi là danh tướng Nguyễn Tri Phương, ông ngoại tôi là ông Nguyễn Tri Túc, nuôi nhạc sĩ, nhạc công trong nhà để cho hai người con là cậu tư và cậu năm tôi (ông Nguyễn Tri Lạc và Nguyễn Tri Khương) có điều kiện học đờn. Cậu Năm tôi có biệt tài thổi Sáo, đờn Cò, đánh Trống nhạc. Tôi được cậu Năm tôi dạy đánh trống nhạc lễ và hát bội. Được lớn lên trong một gia đình hai bên nội ngoại đều là nhạc sĩ truyền thống, hằng năm, ngày mùng 2 tết là ngày cả gia đình hòa đờn. Và trong năm, mỗi khi có đám hỏi, đám cưới, hay đến ngày giỗ kỵ, hoặc những đêm trăng sáng, thì luôn có hòa đờn trong gia đình.

Nguồn của tôi ở tại hai làng Vĩnh Kim và Đông Hòa, thuộc vùng Sầm Giang, một con sông chảy từ làng tôi ra đến Rạch Gầm. Nhưng khi lớn lên đi học trường Trung học Trương Vĩnh Ký, tôi đã đi xa nguồn, tôi đã tìm cách “phối khí” để giới thiệu những bài truyền thống nhỏ như Bình Bán, Kim Tiền bằng dàn nhạc, trong đó có đờn Cò, đờn Kìm, nhưng cũng có Mandoline, Tây ban cầm… Học trường Y tại Hà Nội, tôi lại xa nguồn hơn, tôi chỉ huy dàn nhạc sinh viên để giới thiệu những sáng tác mới của Lưu Hữu Phước như “Tiếng gọi thanh niên”, “Bạch Đằng Giang”, “Ải Chi Lăng”, “Người xưa đâu tá”… Tôi lại còn đi xa nguồn hơn nữa khi chỉ huy dàn nhạc sinh viên tấu những bản nhạc Tây phương như “Moment musical” của Schubert, “Marche turque” (Hành khúc Thổ Nhĩ kỳ) của Mozart.

Lúc đó tôi nghĩ rằng nhạc phương Tây tiến bộ hơn nhạc Việt Nam và muốn phát triển nhạc truyền thống Việt Nam, phải cần đến nhạc Tây phương. Đó là một suy nghĩ sai lầm của tôi trong thời niên thiếu.

Năm 1952, lúc đang dưỡng bịnh tại miền Nam nước Pháp, sau khi thấy mình đã đi sai đường và phản bội lại nhạc truyền thống, tôi quyết định trở về nguồn. Tôi không đờn piano nữa, tôi luyện tập lại đờn Tranh, đờn Cò và viết thơ thường xuyên cho cậu Năm tôi là ông Nguyễn Tri Khương để hiểu biết thêm về nhạc tài tử miền Nam, về ông Ký Quờn, về hát Cải lương… Rồi tôi soạn Luận án Tấn sĩ Nhạc học với đề tài “Âm nhạc truyền thống Việt Nam”. Tôi tặng cho con gái của anh bạn tôi, họa sĩ Mai Thứ, cây đờn piano mà tôi đã mua được giá rẻ trong một cuộc bán đấu giá và tôi đã tự tay lên dây đờn, để có thể tập trung vào nhạc truyền thống.

“Về nguồn” một cách triệt để!

“Về nguồn” một cách trọn vẹn!

Bảo vệ Luận án Tấn sĩ xong năm 1958, tôi tham dự Hội nghị quốc tế Âm nhạc mùa Thu năm 1958 tại trụ sở Cơ quan văn hóa Liên hiệp quốc (Unesco). Trong buổi hòa nhạc có Yehudi Menuhin, danh cầm violon; Ravi Shankar đờn sitar Ấn Độ, Shinichi Yuize đờn Koto Nhựt, Ebadi đàn setar Ba Tư, Hussein Malek đàn santour Ba Tư và tôi đờn Tranh, đờn Cò Việt Nam. Từ ấy, tôi làm việc mật thiết với Hội đồng quốc tế Âm nhạc (thuộc Unesco) và năm 1960 tôi được cử vào ban chấp hành của Hội đồng quốc tế, được chấp nhận làm Tùy viên nghiên cứu Âm nhạc tại Trung tâm Quốc gia nghiên cứu Khoa học Pháp, với đề tài nghiên cứu “Nhạc dân tộc Việt Nam”. Được cử làm Giám đốc Trung tâm nhạc học Đông phương (thuộc Viện nhạc học Paris) tôi mở lớp dạy đờn Tranh, đờn Kìm cho sinh viên Paris.

Từ ấy đến nay, tôi đã được 42 nước mời tôi thuyết trình hay biểu diễn nhạc truyền thống Việt Nam tại các trường đại học hay trong nhạc hội; dự 187 Hội nghị quốc tế về Âm nhạc và đã hơn trăm lần nói chuyện, giải thích hay biểu diễn nhạc truyền thống Việt Nam; đã viết và đăng gần 200 bài trong các tạp chí chuyên môn, trong đó có hơn 70 bài về nhạc truyền thống Việt Nam; đã chụp ảnh, ghi âm các loại nhạc Việt Nam; hoặc tự biểu diễn với Nhạc sư Vĩnh Bảo, hay với các con của tôi; viết bài giới thiệu cho 14 dĩa hát. Hiện giờ tôi vẫn tiếp tục “đi giảng đạo Nhạc Việt Nam” khắp năm châu bốn biển, vậy thì tôi đã “về nguồn” liên tục trong hơn 40 năm trời.

Ngoài ra, từ 1961, tôi đã viết bài đăng trong tạp chí Bách Khoa số 99, xuất bản ngày 15 tháng 02 năm 1961, trang 67-71, tựa là “Để khơi mạch sống cho cổ nhạc Việt” và khơi mạch sống là phải về nguồn. Cũng trong năm đó, tôi dự Hội nghị Quốc tế với đề tài “Bảo vệ và phát triển nhạc truyền thống”. Tôi đã gặp nơi đó nhiều người cùng quan điểm với tôi, tức là phải trở về nguồn, như: Giáo sư Salah el Mahdi (người Tunisie), Giáo sư Alain Daniélou (người Pháp), Giáo sư Mehdi Barkeshli (người Ba Tư), Giáo sư Kishibe Shigeo (người Nhựt Bổn). Chúng tôi kêu gọi nhạc sĩ Châu Á nên trở về nguồn, để tìm hiểu, học hỏi cái hay trong nhạc truyền thống.

Giáo sư Kishibe trong phần kết luận đã nói một câu đầy ý nghĩa mà tôi thường nhắc lại: “Chúng tôi, người Nhựt Bổn, từ một trăm năm nay đã trèo lên các đỉnh núi âm nhạc phương Tây. Chúng tôi đã lên đến tận đỉnh các núi ấy, núi mang tên Mozart, Beethoven, Schuber… Đứng trên đỉnh núi ấy, chúng tôi thấy ở chân trời, có những đỉnh núi khác cũng cao, cũng đẹp như các ngọn núi mà chúng tôi đang đứng: Đó là núi Âm nhạc truyền thống của Nhựt Bổn. Xin các bạn trẻ Châu Á, Châu Phi đừng mất một trăm năm như chúng tôi, mới thấy được cái hay cái đẹp trong truyền thống âm nhạc của ước các bạn”.

Trong những bài tham luận của tôi tại các Hội nghị Quốc tế hay những bài viết đăng trong các tạp chí chuyên môn, tôi đã rất thường kêu gọi nhạc sĩ Á, Phi hãy trở về nguồn, không phải tìm học vốn cổ để “nệ cổ” mà “ôn cố tri tân”, học cái thời xưa để làm chuyện thời nay. “Về nguồn” để biết mình từ đâu tới và định hướng mình sẽ đi đâu.

Đã dấn thân và kêu gọi về nguồn từ 40 năm rồi, nay thấy được trên đất nước mình phong trào “Về nguồn” được các cơ quan có thẩm quyền, báo chí cổ động, khuyến khích, được thanh niên hoan nghinh, ứng dụng trong những buổi hòa nhạc ở nhiều nơi công cộng, lẽ tất nhiên phản ứng đầu tiên của tôi là vui mừng.——————-

Cuộc phỏng vấn còn tiếp tục với những câu hỏi khác. Chẳng hạn:

– So với mấy lần trước, lần này về nước Giáo sư thấy chi mới lạ do phong trào “Về nguồn” phát động?

– Cũng có nhiều hiện tượng lắm. Từ hình thức tới nội dung, đó là:Chiếc áo dài thướt tha của thiếu nữ Việt Nam đã xuất hiện lại nhiều nơi: trong các trường trung học, trong những buổi chiêu đãi, trên sân khấu ca nhạc. Cả khăn đóng áo dài mà cách đây không lâu, có người cho là “cổ lỗ sĩ”, là “phong kiến”, là “lạc hậu”, là “tiểu tư sản”… thì ngày nay, trong những đám cưới, đám ma, trong những lễ tế thần, những lễ hội ở chùa ở đình, tôi thấy áo thụng xanh, đỏ, áo the, áo gấm đậm màu sắc dân tộc, rõ nét trang nghiêm. Không phải chỉ người già cả, tuổi tác mới khăn áo chỉnh tề, mà các em thiếu nhi trong ban “Tiếng Hát Quê Hương”, trong các đội văn nghệ ở phường, ở quận… cũng áo dài hồng, áo dài vàng, áo dài xanh da trời, mấy cháu trai lên tám, lên mười cũng mặc áo gấm xanh, áo gấm hoa trong khi trình diễn Âm nhạc dân tộc. Trông mấy cháu rất xinh, rất đẹp. Người nước ngoài có dịp xem những chương trình ấy đều trầm trồ khen ngợi hình thức lẫn nội dung.

“Đền Dâu” ở Hà Nội được trùng tu, ca nhạc múa Chầu Văn được thịnh hành, chẳng những ở các nơi có “lên đồng, lên bóng”, mà còn được nghiên cứu có thực tập tại Viện nghiên cứu văn học nghệ thuật dân gian.

Ca Trù không còn bị chỉ trích hay cấm đoán mà trong những buổi lễ cưới hay ngày giỗ kỵ, có những canh hát Ca Trù. Không phải “ả đào” đứng tuổi, mà ở Hà Nội có mấy cô trẻ tuổi mà cũng biết ngâm Sa mạc, Bồng mạc, Hát mưỡu, Hát nói, hay Thỏng tỳ bà.

Trong Nam, tôi dự lễ “Kỳ Yên” tại Đình Nhơn Hòa ở Cầu Ông Lãnh. Anh Đỗ Văn Rỡ làm chánh tế, có lễ thỉnh sắc thần, lễ xây chầu, lễ đại hội, lễ đàn cả, lễ tiền hiền, lễ rước nước, lễ vía Ngũ vị nữ nương có Bóng rỗi, chầu mời, đến lễ tất. Có học trò lễ, có đào thài, có nhạc lễ ngũ âm, trống văn, trống võ, kèn trung, chập bạt, có mõ, có bồng, có múa mâm vàng, có hát bội, mỗi đêm diễn lại tuồng xưa: “Ngũ long đại hội”, “Lưu Bị cầu hôn Giang Tả”, “Triệu Tử đoạt ấu chúa”, “San hậu”… Có cả hai buổi giới thiệu chương trình văn nghệ ca nhạc truyền thống. Nhà văn hóa Quận 1 đã có nhóm “Ca nhạc dân tộc Về nguồn” giới thiệu ca nhạc dân tộc.

Trước kia chỉ có những “tụ điểm” tân nhạc, lần này tôi được thưởng thức mấy chương trình ca nhạc dân tộc tại “Bách Tùng Diệp”, một quán cà phê đối diện với nhà Bảo tàng Cách mạng ngày nay, cách đây không lâu là nơi hò hẹn những cậu, cô “xì ke ma túy”, mà nay là một quán cà phê trang nhã, lấy cây đa to làm tấm phông, sân khấu lộ thiên, âm thanh trang bị tối tân, mỗi đêm có một chương trình đặc biệt như tối thứ ba có cổ nhạc và ngâm thơ. Đêm tôi đến nghe có ca nhạc Huế và hai nhà thơ Tô Kiều Ngân và Vân Khanh giới thiệu chương trình. Có những nghệ sĩ ngâm thơ chuyên nghiệp như Hồng Vân, Thúy Vinh, Huyền Trân. Đặc biệt, Huyền Trân vừa là nghệ sĩ ngâm thơ, vừa là nhiếp ảnh gia, duyên dáng và tha thướt trong chiếc áo dài hoa, khách nước ngoài được người đẹp chụp ảnh rất thú vị và tấm ảnh dù mắc hơn thường cũng đáng tiền. Nhưng thật ra, cà phê đen, cà phê sữa đá không mắc hơn bên ngoài bao nhiêu, chắc chắn rẻ hơn “cà phê ôm”. Người mộ điệu đã được nếm cà phê ngon, nghe nhạc dân tộc, lại ở giữa trời có lắm đêm được trăng thanh gió mát. Đêm thứ tư, nhạc dân tộc với những nghệ sĩ Đinh Thìn (thổi sáo), Đỗ Lộc (đánh đờn T’rưng), đờn angklung. Đêm thứ sáu dân ca ba miền. Ngoài Hồng Vân, còn có những nghệ sĩ nổi tiếng trong làng tân nhạc như Bảo Yến nay cũng quay về với nhạc dân tộc. Có những đêm giới thiệu nhạc tiền chiến…

Có nhiều cuộc thi cho thiếu nhi, cho nhạc dân tộc, cho ca múa nhạc mà ca nhạc dân tộc thường chiếm được huy chương vàng.

Có giải Trần Hữu Trang cho các mầm non của giới cải lương. Năm nay được giải có kép trẻ Vũ Linh, Ngọc Huyền (có sang Pháp biểu diễn xuất sắc trong vở tuồng “Mạnh Lệ Quân”), Thanh Thanh Tâm (con của Thanh Thanh Hoa), Tài Linh (em của Tài Lương)…

Có giải Hoàng Mai Lưu tặng thưởng những nhạc sĩ sáng tác, biểu diễn, hay các nhà nghiên cứu nhạc dân tộc, những nhà đào tạo nghệ sĩ dân tộc.Thật ra chưa có lúc nào Âm nhạc dân tộc truyền thống được biểu diễn rầm rộ như năm nay!——————–

Thưa Giáo sư, áo dài của phụ nữ thì quả là rất đẹp và phù hợp với con người Việt Nam. Nhưng khăn đóng áo dài cho nam giới có cần phải khôi phục lại và có cần phải mặc khăn đóng áo dài mới biểu diễn nhạc dân tộc hay hơn?

– Chẳng biết các bạn thanh niên Việt Nam trong nước nghĩ thế nào chớ tôi thì khỏi “khôi phục” lại khăn đóng áo dài.

Năm 1958, tại trụ sở Unesco, khi giới thiệu nhạc Việt Nam tôi đã mặc áo dài. Rất may cho tôi, chớ không thì khi ông Yuize Shinichi Nhựt Bổn mặc Kimono, khi Ravi Shankar mặc lễ phục Ấn Độ, mà tôi mặc âu phục, thì hóa ra Việt Nam mất bản sắc dân tộc, vì là dân thuộc địa nên bỏ cả quốc phục của mình để mặc y phục của người dân thống trị mình, thì chắc tôi rất xấu hổ hôm ấy. Có người cho là “phong kiến”, tôi đã cười mà trả lời: Phong kiến hay không là trong tư tưởng, hành động của mình, phong kiến hay không là trong đầu của mình, chớ cái khăn đóng chiếc áo dài có phong kiến chỗ nào đâu? Vả lại, nghệ thuật thường phải được giới thiệu một cách toàn diện. Khi uống chén trà ngon, tại sao lại phải dùng chén nhỏ như hột mít, uống rượu “champagne” phải có một thứ ly pha lê mà người Pháp gọi là “coupe de champagne”? Rượu champagne tự nó đã ngon rồi, nhưng thử uống rượu champagne bằng một cái ly giấy bồi, hay một chén hột dưa, liệu có ngon bằng uống với một cái “coupe” đúng điệu hay chăng? Nội dung và hình thức phải được đi đôi với nhau khi muốn giới thiệu nghệ thuật một cách toàn diện. Vì vậy, mặc dầu đã bị những người tự cho mình là “tiến bộ”, có khi cả những bạn rất thân chỉ trích, phê bình, nhạo báng vì tôi đã nhứt định mặc áo dài Việt Nam khi hòa nhạc Việt Nam cho người Việt hay người ngoại quốc nghe, tôi không hề nao núng. Và hôm nay, tôi rất vui là thấy mình có lý và mình đã đi trước phong trào về nguồn đến 40 năm!——————–

Giáo sư nghĩ sao về việc lễ bái, cúng đình, xin xăm bói toán? Có phải như vậy là “về nguồn” một cách đúng đắn không?

– Tôi xin trả lời về việc lễ bái, cúng đình trước.

Cúng đình không phải là vì “mê tín dị đoan”. Cúng đình là nhớ lại công ơn của người trước, vì thần thánh hoàn toàn là những ông quan có công, có tài, có đức mới được phong Thành Hoàng. Trong đình Nhơn Hòa có thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo là người có công đánh đuổi quân Mông Cổ xâm lược, nêu cao tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam. Nhớ lại người xưa đã có công dựng nước, cứu nước là đúng với đạo lý con người biết ân, biết nghĩa.

Lễ bái là một hình thức văn hóa, là thái độ trang nghiêm để tỏ lòng kính cẩn, mến phục tiền bối, là một bằng chứng của nếp sống văn hóa của người Việt.

Cúng đình lại là một dịp cho người trong một xóm, một vùng gặp gỡ nhau, và trong mấy hôm được ra khỏi cái bận rộn hay quay cuồng của cuộc sống, để ngồi yên, trầm tư hoặc tưởng niệm công đức người xưa, đó là một hình thức “thiền” hay “thư giãn” phù hợp với vệ sinh trong cuộc sống. Người Hồi giáo trong một năm dành đến một tháng “Ramadan” ăn chay, đọc kinh, tưởng niệm Giáo chủ. Ta chỉ có ba ngày, mà mỗi ngày tùy theo công việc, có ít giờ đồng hồ “thư giãn” như thế, theo ý tôi rất tốt cho cơ thể và tâm hồn của chúng ta. Huống chi có cúng đình là nhạc Lễ sẽ sống lại, vì không có nhạc không thành Lễ.

Nhạc Lễ là một bộ môn âm nhạc rất tinh vi về tiết tấu. Cách đây 12 năm, tôi đã gặp anh Tám Phát tại rạp hát bội Long Phụng. Anh nói chuyện cho tôi nghe về cách “vỗ trống cơm”, “vỗ bồng”, tôi thấy anh rất sành nhạc lễ, tôi hỏi tại sao anh không hành nghề nhạc lễ hoặc truyền nghề nhạc cho con em, lại đi theo gánh hát bội, thì anh trả lời rằng theo nhạc lễ sẽ chết đói. Nhưng năm nay, tôi gặp anh tươi cười, chít khăn đóng, mặc áo gấm xanh, thủ cặp trống Văn, trống Võ, thổi kèn trung trong một dàn nhạc ngũ âm hùng hậu, tôi có mấy lời chúc mừng nhạc lễ được hồi sinh. Anh vui vẻ trả lời: “Nhờ có cúng đình, và trong hai năm nay nhiều đám tang rước nhạc lễ nên tôi cũng dễ thở”. Anh đã dạy cho con trai anh, cậu Dũng, năm nay hơn hai mươi tuổi nối nghiệp cha, tuy tuổi trẻ mà đã dòn roi trống, đã khỏe hơi kèn rồi.

Về việc xin xăm, bói tướng thì tôi mặc dù không tin vào việc coi bói, nhưng tôi không chỉ trích việc xem bói. Nếu xã hội được tổ chức hoàn mỹ, mọi người dư ăn dư để, chắc không ai xem bói, xin xăm làm gì. Khi không tìm được lối thoát trong cuộc sống đầy khó khăn, thì người ta mới nghĩ đến việc tìm một chút an ủi, một tia hy vọng trong tương lai vô định, ngang qua sự hỗ trợ vô hình của thần thánh.——————–

Trong lãnh vực âm nhạc, Giáo sư có ý kiến chi đối với phong trào “Về nguồn”?

– Có nhiều biểu hiện đáng mừng, như số buổi biểu diễn nhạc dân tộc được nhiều hơn. Số người đi nghe nhạc truyền thống cũng đông hơn. Anh Lư Nhất Vũ cho tôi biết rằng số băng cassette ghi âm dân ca cổ nhạc được bán ra trong năm rồi lên đến con số 60 ngàn, trong khi nhạc Trịnh Công Sơn trước kia bán rất chạy mà chỉ được 10 ngàn băng nhạc. Thành đoàn năm nay cho Lư Nhất Vũ và Lê Giang phần thưởng 5 triệu đồng về công trình sưu tầm âm nhạc dân tộc miền Nam

.Nhưng tôi cũng lo ngại và không muốn nghĩ rằng phong trào “Về nguồn” là một “thời trang”, vì thời trang đến và thời trang sẽ đi khi không còn hợp thời nữa.

Các cơ quan hữu trách ủng hộ nhiệt tình phong trào “Về nguồn”. Tôi mong rằng đó không phải là một chính sách có tánh chất “giai đoạn”. Lúc này cổ động “Về nguồn”. Trong giai đoạn sau sẽ cổ động việc khác.

Các sinh hoạt dính với “Về nguồn” hiện nay khá rầm rộ. Tôi không muốn thấy phong trào ấy như một ngọn lửa rơm, cháy to, cháy cao, cháy mạnh, nhưng bộc phát mà chóng lụi tàn. Mà tôi mong rằng thái độ đi về nguồn sẽ do một ngọn lửa thiêng tự trong lòng của mỗi người Việt Nam, nung nấu hành động của mình đối với việc giữ gìn và phát triển “bản sắc dân tộc”, vì mình biết tự hào với cái vốn âm nhạc nghệ thuật mà cha ông chúng ta đã lưu truyền lại cho chúng ta.

– Thưa Giáo sư, làm sao để nhen nhúm ngọn lửa thiêng ấy?

– Đó là một vấn đề rất khó giải thích trong đôi câu. Muốn nhen nhúm ngọn lửa thiêng ấy, trước hết phải trị căn bịnh của thời đại. Nếu có thì giờ, tôi sẽ đề cập đến căn bịnh của thời đại, tìm nguyên nhân căn bịnh ấy và những phương thuốc để trị, mà trị căn chớ không trị chứng và như thế mới khả dĩ nhen nhúm trong lòng mọi người một ngọn “lửa thiêng”.

Votre commentaire

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l’aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion /  Changer )

Photo Google

Vous commentez à l’aide de votre compte Google. Déconnexion /  Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l’aide de votre compte Twitter. Déconnexion /  Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l’aide de votre compte Facebook. Déconnexion /  Changer )

Connexion à %s

Ce site utilise Akismet pour réduire les indésirables. En savoir plus sur la façon dont les données de vos commentaires sont traitées.