TRẦN VĂN KHÊ : ÂM DƯƠNG TRONG ÂM NHẠC

ÂM DƯƠNG TRONG ÂM NHẠC(GS. TRẦN VĂN KHÊ)

Trong ngôn ngữ Việt Nam, thường chúng ta hay nghe nói nhà cửa, cơm nước, vợ chồng, lầu đài, nước non, sông núi, giang sơn… mục đích không phải kể ra hai yếu tố đối chọi với nhau mà bổ sung cho nhau. Cố Giáo sư Trần Quốc Vượng có nhắc đến điểm này và cho đó là quan niệm “lưỡng phân, lưỡng hợp” mà ta có thể tìm thấy được trong ngôn ngữ, trong nghệ thuật nói chung và âm nhạc nói riêng. Để minh họa cho ý kiến đó, Giáo sư Trần Quốc Vượng đã nhìn trên mặt trống đồng Ngọc Lũ và nhận thấy người thợ tạo ra trống đồng đã chạm những con hươu tượng trưng cho núi, những con cá tượng trưng cho nước. Núi và nước là hai yếu tố người Việt thường nghĩ tới trong rất nhiều truyền thuyết như “Lạc Long Quân – Âu Cơ”,“Sơn Tinh – Thủy Tinh”… Trong ngôn ngữ thì có “giang sơn”, “sơn thủy”…

“Âm dương” mà chúng tôi sẽ đề cập cũng ở trong quan niệm đó chớ không phải “âm dương” trong Kinh dịch.

Trong cuộc sống người Việt Nam, quan niệm “âm dương” thường được thể hiện ở nhiều lãnh vực:

• Trong văn hóa ẩm thực:

– Khi chọn lựa vật liệu nấu thức ăn, người ta luôn luôn trộn vị mặn với chua hoặc ngọt. Vị mặn thuộc về dương mà chua, ngọt thuộc về âm. Các nhà nghiên cứu về thức ăn của Nhựt Bổn cũng xác nhận như thế. Chúng ta thấy nước mắm mặn thường được thêm vào vị chua của chanh hay dấm và vị ngọt của đường. Các món mặn như thịt kho, cá kho đều có nêm chút đường dưới hình thức đường bột hay nước màu. Ăn bưởi chua hay xoài tượng đều chấm muối hay nước mắm, ăn dưa ngọt hay nấu chè thường dằn một chút muối. Như thế thì “âm dương” tương xứng. Từ “âm dương” sanh ra “hàn nhiệt”: thịt cua đinh hay thịt vịt thuộc về “hàn” nên chấm với nước mắm gừng, gừng là “nhiệt”; hột vịt lộn cũng phải ăn với rau răm cũng do quan điểm “hàn nhiệt”. Hải Thượng Lãn Ông được coi là ông tổ của nền y học Việt Nam đã viết ra một quyển về các loại rau dùng trong nấu ăn và trị bịnh, cho biết rõ loại rau nào thuộc về “hàn/nhiệt”, “âm/dương”.

– Khi chọn thức ăn và người ăn cũng để ý đến sự quân bình trong “âm dương”. Nếu người bịnh bị sốt vì cảm lạnh như mắc mưa hay dầm sương thì “âm” đã có trong cơ thể người bịnh rất nhiều, phải cho người bịnh ăn cháo gừng, để gừng thuộc “dương” sẽ tạo sự quân bình “âm dương” trong cơ thể. Ngược lại nếu người bịnh bị sốt vì cảm nắng thì không thể cho ăn cháo gừng vì trong người bịnh yếu tố “dương” đã có rất nhiều. Do đó nên cho người bịnh ăn cháo hành vì hành đem tới tính chất “âm”.

– Khi chọn thức ăn cũng để ý đến thời tiết bên ngoài. Mùa hè thì yếu tố “dương” có rất nhiều trong không khí nên phải ăn những món “âm” như canh chua, chè sen và nhiều thứ rau. Còn mùa đông có rất nhiều yếu tố “âm” trong không gian nên phải ăn những món nướng và gia vị ướp tỏi, tiêu, sả… để bổ sung chất « dương ».

• Trong Y học:

Người y sĩ thường không để ý đến việc trị chứng như thấy sốt thì cho uống giải nhiệt mà quan tâm đến việc trị căn, tức là tìm yếu tố gốc gây ra sốt bằng cách bắt mạch. Nghe tiếng mạch nhảy qua đầu ngón tay, người y sĩ nhận thấy trong cơ thể bịnh nhân mất sự thăng bằng về “âm dương”. Trong trường hợp đó, phải tìm những vị thuốc nào có thể đem lại sự quân bình “âm dương” trong cơ thể.

• Trong thiên nhiên:

Rất nhiều trường hợp mà người Việt nhắc đến “âm dương” như đêm là âm, ngày là dương; tối là âm, sáng là dương; khí lạnh mùa đông là âm, khí nóng mùa hè là dương; trạng thái tịnh là âm, động là dương; đất là âm, trời là dương…

• Trong đời thường:

Lịch Ta căn cứ trên sự chuyển dịch của mặt trăng là âm, lịch Tây căn cứ trên sự xoay chuyển của mặt trời là dương; sự chết là âm, sự sống là dương; buồn là âm, vui là dương; mơ hồ là âm, hiện thực là dương; xui xẻo là âm, may mắn là dương; số chẵn là âm, số lẻ là dương…

• Trong lãnh vực âm nhạc:Đi từ cụ thể đến trừu tượng, chúng ta thử xem trong nhạc khí, trong bài bản và trong cách biểu diễn, quan điểm âm dương được thể hiện như thế nào trong âm nhạc truyền thống Việt Nam?—————–

1. Nhạc khí:

Trước hết, hãy xem qua bộ môn Ca trù.

Một nhóm Ca trù thường có hai người, một là đào nương vừa ca vừa nhịp phách, một kép dùng đờn đáy phụ họa và một “quan viên” cầm chầu. Phách có 3 phần: một thanh tre hay một miếng gỗ gọi là “bàn phách”, hai cái dùi: một dùi tròn có chuôi nhọn và một dùi chẻ làm hai. Tiếng chuyên môn trong giới Ca trù thường gọi hai dùi này là “phách con” và “phách cái”. Dùi có chuôi nhọn tượng trưng cho dương vật, dùi chẻ làm hai tượng trưng cho âm vật (như “linga” và “yoni” trong quan điểm Ấn Độ) và nhờ vậy mà khi hai dùi gõ trên bàn phách có một tiếng trong một tiếng đục, một tiếng cao một tiếng thấp, một tiếng mạnh một tiếng nhẹ, cũng chính là một tiếng dương và một tiếng âm. Âm dương trộn nhau nhuần nhuyễn thành một loại tiết tấu đặc biệt, không nghe rõ tiếng phách chia thời gian âm nhạc ra từng quãng bằng nhau và không bằng nhau. Trên thế giới chưa loại dùi nào tuy một đôi mà lại khác biệt nhau từ hình thức cũng như trong cách gõ như thế.

Về loại tiết tấu này, chúng ta chỉ gặp được trong âm nhạc truyền thống Ấn Độ, không phải là phách cái và phách con trộn vào nhau mà là hai loại trống Tabla vỗ bằng tay mặt và Bahya vỗ bằng tay trái phát ra một tiếng trong và một tiếng đục. Hai tiếng đục và trong cũng được coi như là âm và dương tạo nên một loại tiết tấu rất đặc biệt: tuy có tiết tấu mà nghe như không tiết tấu, tưởng thực mà hư, tưởng hư mà thực, tưởng hiện mà ẩn, tưởng ẩn mà hiện. Hai cảm giác đó thực hư, hiện ẩn, người Ấn Độ đã có dùng hai chữ Tâla và Laya. Tâla đối với người Ấn Độ như bước đi của người thiếu nữ trên bờ biển, người ta thấy được bước đi mà ghi lại được số bước đi, trong khi đó Laya là cảm giác tiết tấu ngang qua cái váy của ngưới thiếu nữ đang đi: đi mau thì váy phất mau, đi chậm thì váy phất chậm. Thấy được cái mau chậm đó mà không thể ghi lại được bằng con số sự chuyển động của chiếc váy…

Một bộ môn khác là Nhạc lễ, với dàn ngũ âm (năm nhạc sĩ sử dụng năm nhạc khí khác nhau) trong đó có hai trống nhạc đóng vai trò rất quan trọng. Cặp trống này được gọi là “trống đực” và “trống cái” tức đã bao hàm ý tưởng dương và âm. Vì vậy có nhiều nơi không gọi là trống đực, trống cái mà gọi là trống dương và trống âm, cũng có nơi gọi là trống văn và trống võ.

Màu âm của tiếng trống trong Nhạc lễ được sử dụng vô cùng tinh vi. Chẳng hạn như « tang, thờn, tùng, thùng » khi đánh vào giữa mặt da dùng để đánh nhịp hay để chấm câu. Tiếng trống đó là tiếng trống thường. Còn khi đánh vào vành da thì gọi là « Tong, táng, tỏng », đây là cách « đánh sáng » và tiếng trống đó gọi là tiếng « dương ». Khi đánh âm táng hay tong liên hồi diễn tả sự sôi động của tâm hồn hoặc tâm trạng giận dữ, hốt hoảng.

Khi dùng dùi bên trái bịt mặt trống, dùi tay mặt đánh vào phía giữa mặt trống thì cách đánh đó gọi là « đánh tối », tức là tiếng trống đó là tiếng « âm ». « Tịch » dùng để biểu lộ sự ngạc nhiên, suy nghĩ hay do dự, có khi nghẹn ngào, uất ức.

Thông thường trong biểu diễn luôn luôn có tiếng âm và dương trộn lẫn với nhau chớ không đơn thuần tiếng trống âm hay dương mà thôi. Những tiếng trống đó không có một vị trí cố định trong một khổ tiết tấu mà tiếng âm có thể thay thế bằng tiếng dương và ngược lại. Vì thế một hình thức tiết tấu không bị cố định mà có thể linh động khi sáng khi tối, thiên biến vạn hóa.

Khi phối hợp các nhạc cụ nhạc khí, chẳng những người Việt mà kể cả phần đông các dân tộc châu Á thường để ý đến tiếng kim và tiếng thổ tức là tiếng trong và tiếng đục, và đôi khi lại ví những nhạc khí như là đôi vợ chồng. Do đó trong lời chúc tốt đẹp cho những cuộc hôn nhân, người Trung Quốc và người Việt Nam hay dùng câu “loan phụng hòa minh, sắt cầm hảo hiệp”. Chim Loan là chim mái, chim Phụng là chim trống cùng hòa tiếng hát với nhau, tức là vợ chồng được trên thuận dưới hòa, không cãi nhau mà nói với nhau những lời yêu thương, tình tứ. Theo quan niệm của người Trung Quốc, « đờn cầm » là tượng trưng cho phái nam, những người đánh đờn cầm danh tiếng đại đa số là đờn ông; « đờn sắt » được coi như người phụ nữ nên khi hai cây đờn mà gặp nhau hòa lên những thanh âm tốt đẹp cũng như cặp vợ chồng xứng đôi vừa lứa.—————–

2. Bài bản:

Trong xã hội nông thôn ngày xưa, thanh niên thiếu nữ lớn lên khi bắt đầu tham gia việc nhà nông ngoài ruộng đồng thường trao đổi những câu hò khi đang lao động hay trong lúc nghỉ ngơi. Đây là sinh hoạt văn hoá đặc sắc trong dân gian, hình thành một gia sản văn học vô cùng phong phú.

Ngay trong cách sáng tạo câu hò đã thể hiện rõ quan điểm âm dương. Thông thường luôn có một “vế trống” và một “vế mái”, có khi gọi là “câu xô” và “câu kể” (Do đó mà khi ta nghe nói câu hò “mái hai”, “mái ba”, có nghĩa là một câu có một “câu trống” và hai hoặc ba “câu mái” – hoặc hai hay ba đoạn kể, chứ chữ “mái” ở đây không có nghĩa là mái chèo). Người hò câu kể thường gọi là « hò cái », còn người đáp lại bằng câu xô được gọi là « hò con ». Cái với con cũng là mẹ với con, cũng là âm với dương.

Nội dung nhiều câu hò cũng chứa đựng sự gặp gỡ âm dương, chẳng hạn như:

« Nhớ nàng như bút nhớ nghiên

Như mực nhớ giấy, như thuyền nhớ sông »

Hình dáng của “bút” và “nghiên” ở đây tượng trưng cho nam và nữ, như thế trong câu đó đã phảng phất dương và âm, cũng như “thuyền” là dương mà “sông” là âm.Trong các bài bản Nam xuân, Nam ai của Ca nhạc tài tử thì có những lớp gọi là “lớp trống” hay “lớp mái” cũng hàm ý nhắc đến quan điểm âm dương.

Trong hát tuồng hát bội, một bài hát Nam xuân thường có ba vế, ba cặp thơ lục bát. Vế đầu và vế chót thường kết thúc bằng láy dương, vế giữa kết thúc bằng láy âm (láy là một mẫu âm dùng để kéo dài tiếng luyến, mà luyến là cách kéo dài độ cao của một chữ trong câu thơ. Luyến và láy là những kỹ thuật thanh nhạc rất tinh vi trong nghệ thuật hát tuồng, hát bội. Tuy đây không phải là một bài chuyên về thanh nhạc trong Hát bội nhưng chúng tôi cũng muốn nói thêm rằng có cách láy lệ, láy nhún, láy rút, láy sa hầm… rất tinh vi và độc đáo trong nghệ thuật tô điểm nét nhạc)

Từ quan điểm âm dương nảy sanh ra những bài bản dài ngắn khác nhau như “lưu thủy trường” và “lưu thủy đoản”, những bản trước và sau mang tên “ngũ đối thượng”, “ngũ đối hạ” (thượng và hạ đồng nghĩa với trên và dưới, trước và sau), hoặc một bản mau, một bản chậm như “phú lục” và “phú lục chậm”.—————–

3. Cách biểu diễn:

Trong truyền thống Ca trù, người ca phải là “đào nương”, “ả đào”, người đờn phải là nam gọi là “kép”, rất hiếm khi có phụ nữ đờn đáy cho đào nương ca.

Trong loại hát Đối ca nam nữ thì – như tên đã gọi – người hát hai bên phải khác phái. Trong khi đối ý, nếu bài hát xướng là “Lên non” hay “Lên rừng” thì bài hát họa phải là “Xuống sông” hay “Xuống bể” và quan điểm lên, xuống cũng từ âm, dương mà ra.

Trong truyền thống Quan họ, “liền anh” luôn luôn cầm cây dù còn “liền chị” thì tay cầm chiếc nón quai thao, một vật nhọn một vật tròn cũng là thể hiện quan điểm âm dương (Linga và Yoni)

Trong loại múa dân gian, khi cầu cho được mùa – theo chuyên gia Lâm Tô Lộc –phía nam phải cầm cây tre nhọn còn bên nữ thì cầm mo cau. Cả hai vật này đều mang hình dáng ẩn dụ tượng trưng cho nam và nữ cũng từ quan điểm âm và dương.

Trong Ca nhạc tài tử, khi hòa đờn thì luôn luôn lựa tiếng thổ (trầm và đục) để hòa với tiếng kim (cao và trong) cũng từ quan điểm âm dương mà ra.* * *

Tóm lại, nếu nhìn những sự kiện trong âm nhạc với đôi mắt và tâm hồn thấm nhuần triết lý âm dương trong cuộc sống của dân tộc Việt Nam nói riêng, của châu Á nói chung, chúng ta sẽ khám phá ra nhiều điều thú vị hơn là chỉ đơn thuần nghe âm thanh bằng đôi tai và nhìn sự vật bằng đôi mắt.

(Tranh lụa nghệ thuật CA TRÙ – Họa sĩ Lê Năng Hiển)

Votre commentaire

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l’aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion /  Changer )

Photo Google

Vous commentez à l’aide de votre compte Google. Déconnexion /  Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l’aide de votre compte Twitter. Déconnexion /  Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l’aide de votre compte Facebook. Déconnexion /  Changer )

Connexion à %s

Ce site utilise Akismet pour réduire les indésirables. En savoir plus sur la façon dont les données de vos commentaires sont traitées.