Jour : 28 juillet 2021

GS. TRẦN VĂN KHÊ: XÁC VÀ HỒN TRONG ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG

Tran Truongca

trSop5honsoredh  · XÁC VÀ HỒN TRONG ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG(GS. Trần Văn Khê)Trong ngôn ngữ của phương Tây, để chỉ âm thanh người ta chỉ có một danh từ, chẳng hạn như son (Pháp) hay sound (Anh). Trong khi đó ở Châu Á, Việt Nam sử dụng hai chữ “thanh” và “âm”, Trung Quốc có hai chữ “sheng” và “yin”, còn Ấn Độ thì dùng hai chữ khác nhau “svara” và “shruti”. Thanh là một tiếng nhạc có độ cao, độ dài, độ mạnh, còn gọi là cao độ (hauteur), trường độ (durée), cường độ (intensité) và cả màu âm, tức âm sắc (timbre). Khi bàn tay mặt khảy trên cây đờn Kìm, đờn Tranh hay kéo đờn Cò, chúng ta chỉ mới tạo ra một thanh. Chỉ khi bàn tay trái “nhấn” lên sợi dây giữa hai phím đờn kìm hay “rung” ở khoảng giữa con nhạn và trục của đờn tranh, chừng đó “thanh” mới trở thành “âm”. Vì thế, theo truyền thống Việt Nam, bàn tay mặt sanh ra âm thanh còn bàn tay trái nuôi dưỡng và tô điểm cho âm thanh đó. Bàn tay mặt đánh ra thanh có độ cao, độ dài, có tiếng to tiếng nhỏ, có cả màu âm nhưng vẫn chưa có “hồn” vì còn thiếu tính nghệ thuật. Chỉ khi bàn tay trái nhấn vào biến “thanh” thành “âm” mới có chất nhạc: bàn tay mặt sanh ra xác còn bàn tay trái tạo ra hồn. Như vậy khi biểu diễn âm nhạc truyền thống, không thể nào dùng đơn thuần một tay mặt mà cần có sự tham dự kỹ thuật của tay trái để hồn nhạc xuất hiện và tiếng đờn lúc đó mới mang tính chất đặc thù của bản sắc dân tộc.

Cũng vậy, trong âm nhạc Trung Quốc, bàn tay mặt tạo ra “sheng” và bàn ta trái biến “sheng” thành “yin”. Còn trong nhạc Ấn Độ, khi tay mặt khảy đàn lên những độ cao khác nhau thì tiếng nhạc đó được gọi là “svara”, nếu có bàn tay trái tham gia thì tiếng đàn đó mang tên “shruti” (ở đây chúng tôi chỉ dùng một nghĩa của chữ “shruti” có nghĩa là “tiếng nhạc có hồn”, vì chữ này có rất nhiều nghĩa trong âm nhạc Ấn Độ). Không chỉ Ấn Độ và Trung Quốc, quan điểm “xác” và “hồn” trong âm nhạc cũng bàng bạc trong nhận thức của những nhạc sĩ các nước phương Đông mà tôi có dịp tiếp xúc.

Chẳng hạn như tại Liên hoan âm nhạc Á Phi 1985 tổ chức ở thành phố Antatanarivo – thủ đô của Madagascar – có một đêm dành cho âm nhạc của hai nước Việt Nam và Madagascar. Trong phần đầu, một danh cầm của Madagascar là nhạc sư Sylvester Randafison biểu diễn đờn Valiha (làm bằng ống tre với mười tám dây sắt được căng dài quanh thân đàn) với tiếng đàn nỉ non, trong sáng như tiếng những giọt nước mưa rơi trên mặt hồ. Trong phần hai, tôi biểu diễn đờn Tranh. Sau buổi hòa nhạc, ông Randafison đến gặp tôi và nói: “Tiếng đờn Valiha và đờn Tranh giống nhau ở chỗ những dây sắt căng trên thân đờn được những ngón tay trên bàn tay khảy nên nhiều tiếng bổng trầm, trong trẻo. Nhưng tiếng đờn Tranh nghe mềm mại và uyển chuyển hơn đờn Valiha. Tuy khác nhau trong cách sáng tạo nhạc cụ và kỹ thuật biểu diễn, tôi vẫn cảm giác như hai nhạc khí có họ hàng với nhau. Để đánh dấu cuộc gặp gỡ kỳ thú hôm nay, xin tặng giáo sư cây đờn Valiha mà tôi đã dùng trong buổi hòa nhạc. Nhạc khí này do chính tay tôi tạo ra. Từ nay mỗi lần nhìn ngắm nó giáo sư sẽ nhớ lại người nhạc sĩ Madagascar đã có dịp biểu diễn với giáo sư trên cùng một sân khấu”. Tôi xúc động trả lời: “Tặng vật này thật vô cùng quý giá. Theo tập tục của người Việt, tôi sẽ phải tặng lại cây đờn Tranh mình đã dùng trong đêm nay. Nhưng tiếc rằng cây đờn Tranh này do một người bạn rất thân đã đóng tặng tôi. Vì vậy xin bạn giữ lại cây đờn quí giá của mình và đóng cho tôi một cây khác để giữ làm kỷ niệm”. Ông Randafison cười đáp: “Bạn sắp trở về Pháp nên tôi không có đủ thời gian để đóng ngay một cây đờn khác. Chúng ta có thể ra ngoài phố mua một cây đờn mới cũng do tôi đóng ra, nhưng cây đờn ấy chỉ có xác mà chưa có hồn. Vì vậy tôi muốn tặng bạn cây đờn Valiha này, bởi nó đã theo tôi từ 14 năm qua và đã trở thành người bạn thân thiết của tôi”. Như vậy là người nhạc sĩ Madagascar cũng có quan điểm “xác” và “hồn” trong âm nhạc.

Một người khác là nữ nhạc sĩ Mehrbanoo Tofigh người Ba Tư, chuyên giới thiệu nhạc cổ điển Ba Tư với cây đờn Setar. Cô sang Pháp làm tiểu luận án Cao học về cây đờn Setar tại Đại học Sorbonne và nhờ tôi nhận lời làm chỉ đạo nghiên cứu. Sau khi bảo vệ luận án thành công, cô đến gặp tôi và nói: “Hôm nay, em xin đờn một bản nhạc Ba Tư mà Thầy thích, coi như để thay lời cám ơn Thầy. Đây cũng là lần cuối em sử dụng cây đờn này, sau đó em xin tặng nó cho Thầy”. Tôi xúc động trả lời: “Thầy không biết đờn Setar nên nếu giữ cây đờn quý giá này thì thật phí. Em có thể mua một cây đờn khác tặng Thầy cũng được”. Nhưng cô trả lời: “Em có thể mua một cây đờn mới hơn, đẹp hơn tại một cửa hàng danh tiếng ở Teheran để tặng Thầy, thế nhưng cây đờn ấy chỉ có “xác” mà chưa có “hồn”. Còn cây đờn này đã theo em nhiều năm, hồn nhạc Ba Tư đã thấm nhuần trong nó. Xin Thầy cứ nhận để em vui khi nghĩ rằng đã tặng cho Thầy một cây đờn có cả xác lẫn hồn”.

Một lần nữa người nhạc sĩ Ba Tư cũng có nhận định về “xác” và “hồn” trong âm nhạc.

Rõ ràng, trong quan niệm sáng tạo và biểu diễn âm nhạc ở vài nước châu Á, “xác” và “hồn” được phân minh nhưng cũng để phối hợp với nhau theo quan điểm lưỡng phân và lưỡng hợp.

Chính vì vậy, một khi chúng ta muốn vay mượn một nhạc khí nước ngoài thì phải chú ý sao cho nhạc khí đó tạo được tiếng nhạc có cả xác lẫn hồn để có thể diễn tả được trung thực âm nhạc truyền thống mà không ngọng nghịu.

Trong số các nhạc khí phương Tây thì đờn Violin và Guitar có thể phát ra những chữ nhạc có rung, có mổ, có nhấn, nên đã được sử dụng trong ca nhạc tài tử hay dàn nhạc cải lương, với cách lên dây và tư thế ngồi đờn thay đổi để thích nghi theo quan điểm thẩm mỹ của người Việt. Riêng đờn Piano tuy rất phong phú cho âm nhạc phương Tây nhưng do đây là loại đờn gõ, mỗi chữ nhạc phát ra đều cố định, bàn tay trái không thể tham gia để vuốt ve, nhấn nhá nên chúng ta không thể sử dụng để đờn những bài bản đặc thù của dân tộc như Nam Xuân, Vọng Cổ hay những điệu hò, bởi các bài bản này thường có những chữ đờn “non” hay “già” (tức thấp hoặc cao hơn một chút so với thang âm cơ bản). Cũng do đó mà khi vay mượn những nhạc khí Trung Quốc hay Ấn Độ để biểu diễn âm nhạc Việt Nam thì chúng ta không gặp phải những vấn đề khác biệt ấy.

Riêng trong đời sống hằng ngày, khi đến với âm nhạc, chúng ta rất dễ gặp cái “xác” mà khó gặp cái “hồn”. Trong rất nhiều trường hợp, âm nhạc thường trở thành một thứ trang trí ở những nơi như siêu thị, nhà ga hay trên xe đò, trên máy bay. Tại các nơi đó, âm nhạc bị tiếng động của môi trường xung quanh làm cho người nghe tiếng được tiếng mất. Hoặc trong một tiệm ăn, tại một phòng trà, đôi khi các nhạc công biểu diễn như một cái máy, tay tuy vẫn khảy nhưng hồn không đi theo âm nhạc. Hầu hết khách thường tập trung vào chuyện ăn hơn là nghe nhạc, còn người khiêu vũ thì chỉ chú ý đưa bước chân theo tiết tấu của những điệu tango, boléro hay valse mà thôi. Âm nhạc trong các phòng ấy chỉ hiện ra cái xác mà không có hồn. Chỉ trong một phòng hòa nhạc thì hồn nhạc mới có dịp hiện ra khi nhạc công đem hết tâm hồn mình để biểu diễn, còn khán thính giả tập trung tư tưởng để thưởng thức, thậm chí có khi không dám thở mạnh. Như vậy mới có thể gặp được hồn nhạc. Giới thiệu cái xác của nhạc chỉ cần những nhạc khí cụ thể, những kỹ thuật biểu diễn của bàn tay hay giọng hát. Muốn chuyển được hồn nhạc thì cần phải có những gì trừu tượng hơn như tình cảm và nghệ thuật. Và cũng cần có một không gian và môi trường hội hợp đầy đủ hai yếu tố Âm – Dương. Vì thế nên trong các dàn nhạc và số thính giả trong phòng hòa nhạc, nếu chỉ có toàn nam hay nữ thì âm nhạc khó đi đến đỉnh cao. Kể cả ánh sáng trong phòng nhạc cũng phải theo sự quân bình của hai yếu tố Âm – Dương, không thể quá sáng hay quá tối mà thường có một ánh sáng dìu dịu hoặc hơi sáng trên sân khấu và mờ mờ trong hội trường. Những bản nhạc sáng tác hay biểu diễn thường có những đoạn tưng bừng rực rỡ để rồi tiếp theo là những đoạn sâu lắng, êm đềm; những đoạn nhịp điệu dồn dập tiếp theo những khúc khoan thai. Nếu xét kỹ những điều kiện nào có thể đem đến thành công hoàn toàn cho một buổi hòa nhạc, chúng ta sẽ thấy rằng nội dung của tác phẩm, hình thức của buổi biểu diễn và trạng thái tâm hồn của diễn viên, khán thính giả phải có được sự tương xứng trong Âm Dương, hầu cảm nhận được âm nhạc cả xác lẫn hồn qua phong cách biểu diễn và đạt được sự nhuần nhuyễn giữa kỹ thuật và nghệ thuật.

TRẦN VĂN KHÊ : ÂM DƯƠNG TRONG ÂM NHẠC

ÂM DƯƠNG TRONG ÂM NHẠC(GS. TRẦN VĂN KHÊ)

Trong ngôn ngữ Việt Nam, thường chúng ta hay nghe nói nhà cửa, cơm nước, vợ chồng, lầu đài, nước non, sông núi, giang sơn… mục đích không phải kể ra hai yếu tố đối chọi với nhau mà bổ sung cho nhau. Cố Giáo sư Trần Quốc Vượng có nhắc đến điểm này và cho đó là quan niệm “lưỡng phân, lưỡng hợp” mà ta có thể tìm thấy được trong ngôn ngữ, trong nghệ thuật nói chung và âm nhạc nói riêng. Để minh họa cho ý kiến đó, Giáo sư Trần Quốc Vượng đã nhìn trên mặt trống đồng Ngọc Lũ và nhận thấy người thợ tạo ra trống đồng đã chạm những con hươu tượng trưng cho núi, những con cá tượng trưng cho nước. Núi và nước là hai yếu tố người Việt thường nghĩ tới trong rất nhiều truyền thuyết như “Lạc Long Quân – Âu Cơ”,“Sơn Tinh – Thủy Tinh”… Trong ngôn ngữ thì có “giang sơn”, “sơn thủy”…

“Âm dương” mà chúng tôi sẽ đề cập cũng ở trong quan niệm đó chớ không phải “âm dương” trong Kinh dịch.

Trong cuộc sống người Việt Nam, quan niệm “âm dương” thường được thể hiện ở nhiều lãnh vực:

• Trong văn hóa ẩm thực:

– Khi chọn lựa vật liệu nấu thức ăn, người ta luôn luôn trộn vị mặn với chua hoặc ngọt. Vị mặn thuộc về dương mà chua, ngọt thuộc về âm. Các nhà nghiên cứu về thức ăn của Nhựt Bổn cũng xác nhận như thế. Chúng ta thấy nước mắm mặn thường được thêm vào vị chua của chanh hay dấm và vị ngọt của đường. Các món mặn như thịt kho, cá kho đều có nêm chút đường dưới hình thức đường bột hay nước màu. Ăn bưởi chua hay xoài tượng đều chấm muối hay nước mắm, ăn dưa ngọt hay nấu chè thường dằn một chút muối. Như thế thì “âm dương” tương xứng. Từ “âm dương” sanh ra “hàn nhiệt”: thịt cua đinh hay thịt vịt thuộc về “hàn” nên chấm với nước mắm gừng, gừng là “nhiệt”; hột vịt lộn cũng phải ăn với rau răm cũng do quan điểm “hàn nhiệt”. Hải Thượng Lãn Ông được coi là ông tổ của nền y học Việt Nam đã viết ra một quyển về các loại rau dùng trong nấu ăn và trị bịnh, cho biết rõ loại rau nào thuộc về “hàn/nhiệt”, “âm/dương”.

– Khi chọn thức ăn và người ăn cũng để ý đến sự quân bình trong “âm dương”. Nếu người bịnh bị sốt vì cảm lạnh như mắc mưa hay dầm sương thì “âm” đã có trong cơ thể người bịnh rất nhiều, phải cho người bịnh ăn cháo gừng, để gừng thuộc “dương” sẽ tạo sự quân bình “âm dương” trong cơ thể. Ngược lại nếu người bịnh bị sốt vì cảm nắng thì không thể cho ăn cháo gừng vì trong người bịnh yếu tố “dương” đã có rất nhiều. Do đó nên cho người bịnh ăn cháo hành vì hành đem tới tính chất “âm”.

– Khi chọn thức ăn cũng để ý đến thời tiết bên ngoài. Mùa hè thì yếu tố “dương” có rất nhiều trong không khí nên phải ăn những món “âm” như canh chua, chè sen và nhiều thứ rau. Còn mùa đông có rất nhiều yếu tố “âm” trong không gian nên phải ăn những món nướng và gia vị ướp tỏi, tiêu, sả… để bổ sung chất « dương ».

• Trong Y học:

Người y sĩ thường không để ý đến việc trị chứng như thấy sốt thì cho uống giải nhiệt mà quan tâm đến việc trị căn, tức là tìm yếu tố gốc gây ra sốt bằng cách bắt mạch. Nghe tiếng mạch nhảy qua đầu ngón tay, người y sĩ nhận thấy trong cơ thể bịnh nhân mất sự thăng bằng về “âm dương”. Trong trường hợp đó, phải tìm những vị thuốc nào có thể đem lại sự quân bình “âm dương” trong cơ thể.

• Trong thiên nhiên:

Rất nhiều trường hợp mà người Việt nhắc đến “âm dương” như đêm là âm, ngày là dương; tối là âm, sáng là dương; khí lạnh mùa đông là âm, khí nóng mùa hè là dương; trạng thái tịnh là âm, động là dương; đất là âm, trời là dương…

• Trong đời thường:

Lịch Ta căn cứ trên sự chuyển dịch của mặt trăng là âm, lịch Tây căn cứ trên sự xoay chuyển của mặt trời là dương; sự chết là âm, sự sống là dương; buồn là âm, vui là dương; mơ hồ là âm, hiện thực là dương; xui xẻo là âm, may mắn là dương; số chẵn là âm, số lẻ là dương…

• Trong lãnh vực âm nhạc:Đi từ cụ thể đến trừu tượng, chúng ta thử xem trong nhạc khí, trong bài bản và trong cách biểu diễn, quan điểm âm dương được thể hiện như thế nào trong âm nhạc truyền thống Việt Nam?—————–

1. Nhạc khí:

Trước hết, hãy xem qua bộ môn Ca trù.

Một nhóm Ca trù thường có hai người, một là đào nương vừa ca vừa nhịp phách, một kép dùng đờn đáy phụ họa và một “quan viên” cầm chầu. Phách có 3 phần: một thanh tre hay một miếng gỗ gọi là “bàn phách”, hai cái dùi: một dùi tròn có chuôi nhọn và một dùi chẻ làm hai. Tiếng chuyên môn trong giới Ca trù thường gọi hai dùi này là “phách con” và “phách cái”. Dùi có chuôi nhọn tượng trưng cho dương vật, dùi chẻ làm hai tượng trưng cho âm vật (như “linga” và “yoni” trong quan điểm Ấn Độ) và nhờ vậy mà khi hai dùi gõ trên bàn phách có một tiếng trong một tiếng đục, một tiếng cao một tiếng thấp, một tiếng mạnh một tiếng nhẹ, cũng chính là một tiếng dương và một tiếng âm. Âm dương trộn nhau nhuần nhuyễn thành một loại tiết tấu đặc biệt, không nghe rõ tiếng phách chia thời gian âm nhạc ra từng quãng bằng nhau và không bằng nhau. Trên thế giới chưa loại dùi nào tuy một đôi mà lại khác biệt nhau từ hình thức cũng như trong cách gõ như thế.

Về loại tiết tấu này, chúng ta chỉ gặp được trong âm nhạc truyền thống Ấn Độ, không phải là phách cái và phách con trộn vào nhau mà là hai loại trống Tabla vỗ bằng tay mặt và Bahya vỗ bằng tay trái phát ra một tiếng trong và một tiếng đục. Hai tiếng đục và trong cũng được coi như là âm và dương tạo nên một loại tiết tấu rất đặc biệt: tuy có tiết tấu mà nghe như không tiết tấu, tưởng thực mà hư, tưởng hư mà thực, tưởng hiện mà ẩn, tưởng ẩn mà hiện. Hai cảm giác đó thực hư, hiện ẩn, người Ấn Độ đã có dùng hai chữ Tâla và Laya. Tâla đối với người Ấn Độ như bước đi của người thiếu nữ trên bờ biển, người ta thấy được bước đi mà ghi lại được số bước đi, trong khi đó Laya là cảm giác tiết tấu ngang qua cái váy của ngưới thiếu nữ đang đi: đi mau thì váy phất mau, đi chậm thì váy phất chậm. Thấy được cái mau chậm đó mà không thể ghi lại được bằng con số sự chuyển động của chiếc váy…

Một bộ môn khác là Nhạc lễ, với dàn ngũ âm (năm nhạc sĩ sử dụng năm nhạc khí khác nhau) trong đó có hai trống nhạc đóng vai trò rất quan trọng. Cặp trống này được gọi là “trống đực” và “trống cái” tức đã bao hàm ý tưởng dương và âm. Vì vậy có nhiều nơi không gọi là trống đực, trống cái mà gọi là trống dương và trống âm, cũng có nơi gọi là trống văn và trống võ.

Màu âm của tiếng trống trong Nhạc lễ được sử dụng vô cùng tinh vi. Chẳng hạn như « tang, thờn, tùng, thùng » khi đánh vào giữa mặt da dùng để đánh nhịp hay để chấm câu. Tiếng trống đó là tiếng trống thường. Còn khi đánh vào vành da thì gọi là « Tong, táng, tỏng », đây là cách « đánh sáng » và tiếng trống đó gọi là tiếng « dương ». Khi đánh âm táng hay tong liên hồi diễn tả sự sôi động của tâm hồn hoặc tâm trạng giận dữ, hốt hoảng.

Khi dùng dùi bên trái bịt mặt trống, dùi tay mặt đánh vào phía giữa mặt trống thì cách đánh đó gọi là « đánh tối », tức là tiếng trống đó là tiếng « âm ». « Tịch » dùng để biểu lộ sự ngạc nhiên, suy nghĩ hay do dự, có khi nghẹn ngào, uất ức.

Thông thường trong biểu diễn luôn luôn có tiếng âm và dương trộn lẫn với nhau chớ không đơn thuần tiếng trống âm hay dương mà thôi. Những tiếng trống đó không có một vị trí cố định trong một khổ tiết tấu mà tiếng âm có thể thay thế bằng tiếng dương và ngược lại. Vì thế một hình thức tiết tấu không bị cố định mà có thể linh động khi sáng khi tối, thiên biến vạn hóa.

Khi phối hợp các nhạc cụ nhạc khí, chẳng những người Việt mà kể cả phần đông các dân tộc châu Á thường để ý đến tiếng kim và tiếng thổ tức là tiếng trong và tiếng đục, và đôi khi lại ví những nhạc khí như là đôi vợ chồng. Do đó trong lời chúc tốt đẹp cho những cuộc hôn nhân, người Trung Quốc và người Việt Nam hay dùng câu “loan phụng hòa minh, sắt cầm hảo hiệp”. Chim Loan là chim mái, chim Phụng là chim trống cùng hòa tiếng hát với nhau, tức là vợ chồng được trên thuận dưới hòa, không cãi nhau mà nói với nhau những lời yêu thương, tình tứ. Theo quan niệm của người Trung Quốc, « đờn cầm » là tượng trưng cho phái nam, những người đánh đờn cầm danh tiếng đại đa số là đờn ông; « đờn sắt » được coi như người phụ nữ nên khi hai cây đờn mà gặp nhau hòa lên những thanh âm tốt đẹp cũng như cặp vợ chồng xứng đôi vừa lứa.—————–

2. Bài bản:

Trong xã hội nông thôn ngày xưa, thanh niên thiếu nữ lớn lên khi bắt đầu tham gia việc nhà nông ngoài ruộng đồng thường trao đổi những câu hò khi đang lao động hay trong lúc nghỉ ngơi. Đây là sinh hoạt văn hoá đặc sắc trong dân gian, hình thành một gia sản văn học vô cùng phong phú.

Ngay trong cách sáng tạo câu hò đã thể hiện rõ quan điểm âm dương. Thông thường luôn có một “vế trống” và một “vế mái”, có khi gọi là “câu xô” và “câu kể” (Do đó mà khi ta nghe nói câu hò “mái hai”, “mái ba”, có nghĩa là một câu có một “câu trống” và hai hoặc ba “câu mái” – hoặc hai hay ba đoạn kể, chứ chữ “mái” ở đây không có nghĩa là mái chèo). Người hò câu kể thường gọi là « hò cái », còn người đáp lại bằng câu xô được gọi là « hò con ». Cái với con cũng là mẹ với con, cũng là âm với dương.

Nội dung nhiều câu hò cũng chứa đựng sự gặp gỡ âm dương, chẳng hạn như:

« Nhớ nàng như bút nhớ nghiên

Như mực nhớ giấy, như thuyền nhớ sông »

Hình dáng của “bút” và “nghiên” ở đây tượng trưng cho nam và nữ, như thế trong câu đó đã phảng phất dương và âm, cũng như “thuyền” là dương mà “sông” là âm.Trong các bài bản Nam xuân, Nam ai của Ca nhạc tài tử thì có những lớp gọi là “lớp trống” hay “lớp mái” cũng hàm ý nhắc đến quan điểm âm dương.

Trong hát tuồng hát bội, một bài hát Nam xuân thường có ba vế, ba cặp thơ lục bát. Vế đầu và vế chót thường kết thúc bằng láy dương, vế giữa kết thúc bằng láy âm (láy là một mẫu âm dùng để kéo dài tiếng luyến, mà luyến là cách kéo dài độ cao của một chữ trong câu thơ. Luyến và láy là những kỹ thuật thanh nhạc rất tinh vi trong nghệ thuật hát tuồng, hát bội. Tuy đây không phải là một bài chuyên về thanh nhạc trong Hát bội nhưng chúng tôi cũng muốn nói thêm rằng có cách láy lệ, láy nhún, láy rút, láy sa hầm… rất tinh vi và độc đáo trong nghệ thuật tô điểm nét nhạc)

Từ quan điểm âm dương nảy sanh ra những bài bản dài ngắn khác nhau như “lưu thủy trường” và “lưu thủy đoản”, những bản trước và sau mang tên “ngũ đối thượng”, “ngũ đối hạ” (thượng và hạ đồng nghĩa với trên và dưới, trước và sau), hoặc một bản mau, một bản chậm như “phú lục” và “phú lục chậm”.—————–

3. Cách biểu diễn:

Trong truyền thống Ca trù, người ca phải là “đào nương”, “ả đào”, người đờn phải là nam gọi là “kép”, rất hiếm khi có phụ nữ đờn đáy cho đào nương ca.

Trong loại hát Đối ca nam nữ thì – như tên đã gọi – người hát hai bên phải khác phái. Trong khi đối ý, nếu bài hát xướng là “Lên non” hay “Lên rừng” thì bài hát họa phải là “Xuống sông” hay “Xuống bể” và quan điểm lên, xuống cũng từ âm, dương mà ra.

Trong truyền thống Quan họ, “liền anh” luôn luôn cầm cây dù còn “liền chị” thì tay cầm chiếc nón quai thao, một vật nhọn một vật tròn cũng là thể hiện quan điểm âm dương (Linga và Yoni)

Trong loại múa dân gian, khi cầu cho được mùa – theo chuyên gia Lâm Tô Lộc –phía nam phải cầm cây tre nhọn còn bên nữ thì cầm mo cau. Cả hai vật này đều mang hình dáng ẩn dụ tượng trưng cho nam và nữ cũng từ quan điểm âm và dương.

Trong Ca nhạc tài tử, khi hòa đờn thì luôn luôn lựa tiếng thổ (trầm và đục) để hòa với tiếng kim (cao và trong) cũng từ quan điểm âm dương mà ra.* * *

Tóm lại, nếu nhìn những sự kiện trong âm nhạc với đôi mắt và tâm hồn thấm nhuần triết lý âm dương trong cuộc sống của dân tộc Việt Nam nói riêng, của châu Á nói chung, chúng ta sẽ khám phá ra nhiều điều thú vị hơn là chỉ đơn thuần nghe âm thanh bằng đôi tai và nhìn sự vật bằng đôi mắt.

(Tranh lụa nghệ thuật CA TRÙ – Họa sĩ Lê Năng Hiển)

Chân dung TRẦN VĂN KHÊ qua ống kính Trần Tiến Dũng

Chân dung TRẦN VĂN KHÊ qua ống kính Trần Tiến Dũng

Chân thành cảm ơn nhà báo Trần Tiến Dũng đã ghi lại những hình ảnh rất đẹp của GS Trần Văn Khê – vị Giáo sư Âm nhạc truyền thống VN & vị Thầy đáng kính của rất nhiều thế hệ.

Người đăng: TRAN VAN KHE vào lúc 7/06/2021 12:45:00 SA Không có nhận xét nào: Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên TwitterChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest Nhãn: chân dung Trần Văn Khê

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2020

Có hiểu mới thương…

« Tôi không có ở trong nước, nhưng ngang qua các chương trình nhạc trẻ trên truyền hình, tại các tụ điểm, hay trong các trang nhà trên mạng, đa số giới trẻ không thích nhạc dân tộc, thích tân nhạc và các loại nhạc Âu Mỹ. Sở dĩ có tình trạng đó là như tôi đã viết trong bài « Căn bịnh mãn tính của Âm nhạc truyền thống VN », vì các hoàn cảnh lịch sử, chánh trị, kinh tế trong nước ta từ lâu đã làm cho trẻ em không còn được bài giáo dục âm nhạc đầu tiên qua câu hát ru của mẹ, không nghe những câu hò điệu lý trong đồng quê, qua những phương tiện truyền thông đại chúng gặp những loại nhạc trẻ từ phương Tây làm cho giới trẻ xa lần và không hiểu chi về nhạc dân tộc, tạo nên một mặc cảm tự ti, một tánh vọng ngoại trong cả nước và đặc biệt trong giới trẻ. Không thể đi ngược lại trào lưu của giới trẻ hiện nay, tôi chỉ nhắc cho các bạn trẻ nhớ rằng: 𝑵𝒈𝒖̛𝒐̛̀𝒊 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎 đ𝒂̃ 𝒉𝒚 𝒔𝒊𝒏𝒉 𝒃𝒂𝒐 𝒏𝒉𝒊𝒆̂𝒖 𝒙𝒖̛𝒐𝒏𝒈 𝒎𝒂́𝒖 đ𝒆̂̉ 𝒍𝒂̂́𝒚 𝒍𝒂̣𝒊 𝒄𝒉𝒖̉ 𝒒𝒖𝒚𝒆̂̀𝒏 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄. 𝑵𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎, 𝒏𝒈𝒖̛𝒐̛̀𝒊 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎 𝒍𝒂̀𝒎 𝒄𝒉𝒖̉, 𝒕𝒉𝒊̀ 𝒗𝒂̆𝒏 𝒉𝒐𝒂́ 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎 𝒄𝒖̃𝒏𝒈 𝒑𝒉𝒂̉𝒊 𝒄𝒐́ đ𝒊̣𝒂 𝒗𝒊̣ 𝒄𝒉𝒖̉ 𝒏𝒉𝒂̀. 𝑪𝒂́𝒄 𝒗𝒂̆𝒏 𝒉𝒐𝒂́ 𝒌𝒉𝒂́𝒄 𝒍𝒂̀ 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉. 𝑪𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒂 𝒉𝒊𝒆̂́𝒖 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉, 𝒎𝒐̛̀𝒊 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒗𝒂̀𝒐 𝒏𝒉𝒂̀ 𝒗𝒂̀ 𝒕𝒊𝒆̂́𝒑 đ𝒂̃𝒊 𝒏𝒐̂̀𝒏𝒈 𝒉𝒂̣̂𝒖. 𝑵𝒉𝒖̛𝒏𝒈 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 đ𝒆̂́𝒏 𝒄𝒉𝒐̛𝒊 𝒕𝒉𝒊̀ 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒐̛̉ 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒑𝒉𝒐̀𝒏𝒈 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉. 𝑲𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒄𝒉𝒐̛𝒊 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒕𝒉𝒐̛̀𝒊 𝒈𝒊𝒂𝒏 𝒓𝒐̂̀𝑰 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒓𝒂 𝒗𝒆̂̀, 𝒄𝒉𝒐̛́ 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒌𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒕𝒉𝒆̂̉ 𝒐̛̉ 𝒍𝒖𝒐̂𝒏 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒏𝒉𝒂̀ 𝒄𝒖̉𝒂 𝒕𝒂, 𝒍𝒂̣𝒊 𝒄𝒐̀𝒏 𝒅𝒆̣𝒑 𝒃𝒂̀𝒏 𝒕𝒉𝒐̛̀ 𝒄𝒖́𝒂 𝒕𝒂 𝒕𝒉𝒐̛̀ 𝑶̂𝒏𝒈 𝒃𝒂̀, 𝒏𝒈𝒐̂̀𝒊 𝒕𝒉𝒆̂́ 𝒄𝒉𝒐̂̃ 𝒂̂́𝒚 𝒎𝒂̀ 𝒕𝒉𝒂𝒏𝒉 𝒏𝒊𝒆̂𝒏 𝒄𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒂 𝒍𝒂̣𝒊 𝒒𝒖𝒚̀ 𝒍𝒂̣𝒚 𝒕𝒓𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒏𝒉𝒖̛̃𝒏𝒈 𝒕𝒉𝒂̂̀𝒏 𝒕𝒖̛𝒐̛̣𝒏𝒈 𝒎𝒐̛́𝒊. 𝑨̂𝒎 𝒏𝒉𝒂̣𝒄 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎, 𝒏𝒉𝒖̛ 𝒕𝒊𝒆̂́𝒏𝒈 𝒏𝒐́𝒊 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎 𝒄𝒂̂̀𝒏 𝒕𝒉𝒊𝒆̂́𝒕 𝒄𝒉𝒐 𝒔𝒖̛̣ 𝒎𝒂̂́𝒕 𝒄𝒐̀𝒏 𝒄𝒖̉𝒂 𝒅𝒂̂𝒏 𝒕𝒐̣̂𝒄 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎, 𝒏𝒉𝒖̛ 𝒄𝒐̛𝒎 𝒄𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒂 𝒂̆𝒏, 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒄𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒂 𝒖𝒐̂́𝒏𝒈. 𝑨̂𝒎 𝒏𝒉𝒂̣𝒄 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒏𝒈𝒐𝒂̀𝒊 𝒄𝒐́ 𝒕𝒉𝒆̂̉ 𝒄𝒐́ 𝒔𝒖̛̣ 𝒉𝒂̂́𝒑 𝒅𝒂̂̃𝒏 𝒏𝒉𝒖̛ 𝒐̛́𝒕 𝒍𝒂̀𝒎 𝒄𝒉𝒐 𝒕𝒉𝒖̛́𝒄 𝒂̆𝒏 𝒕𝒉𝒆̂𝒎 𝒏𝒈𝒐𝒏, 𝒏𝒉𝒖̛ 𝒓𝒖̛𝒐̛̣𝒖 𝒎𝒂̣𝒏𝒉 𝒍𝒂̀𝒎 𝒄𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒂 𝒏𝒈𝒂̂𝒚 𝒏𝒈𝒂̂́𝒕. 𝑵𝒉𝒖̛𝒏𝒈 𝒄𝒐́ 𝒂𝒊 𝒄𝒐́ 𝒕𝒉𝒆̂̉ đ𝒆𝒎 𝒐̛́𝒕 𝒕𝒉𝒆̂́ 𝒄𝒐̛𝒎, đ𝒆𝒎 𝒓𝒖𝒐̛̣𝒖 𝒕𝒉𝒆̂́ 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄? 𝑵𝒆̂́𝒖 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒌𝒉𝒊 𝒄𝒉𝒐̛𝒊 𝒏𝒉𝒂̣𝒄 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒏𝒈𝒐𝒂̀𝒊 đ𝒆̂̉ đ𝒖̛𝒐̛̣𝒄 𝒌𝒊́𝒄𝒉 𝒕𝒉𝒊́𝒄𝒉 𝒏𝒉𝒖̛ 𝒂̆𝒏 𝒐̛́𝒕, 𝒉𝒂𝒚 𝒖𝒐̂́𝒏𝒈 𝒓𝒖̛𝒐̛̣𝒖, 𝒈𝒊̀𝒐̛́𝒊 𝒕𝒓𝒆̉ 𝒄𝒐́ 𝒕𝒉𝒆̂̉ 𝒗𝒂̂̃𝒏 𝒏𝒉𝒐̛́ 𝒗𝒂̀ 𝒉𝒐̣𝒄 𝒏𝒉𝒂̣𝒄 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒏𝒉𝒂̀, 𝒃𝒊𝒆̂́𝒕 𝒂𝒊 𝒍𝒂̀ 𝒄𝒉𝒖̉ 𝒂𝒊 𝒍𝒂̀ 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒕𝒉𝒊̀ 𝒄𝒉𝒐̛𝒊 𝒏𝒉𝒂̣𝒄 𝒏𝒈𝒐𝒂̣𝒊 𝒄𝒉𝒊̉ 𝒍𝒂̀ 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒕𝒉𝒖́ 𝒗𝒖𝒊 𝒎𝒂̀ 𝒌𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒍𝒂̀𝒎 𝒄𝒉𝒐 𝒄𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒂 𝒒𝒖𝒆̂𝒏 𝒃𝒐̂̉𝒏 𝒑𝒉𝒂̣̂𝒏 𝒄𝒖̉𝒂 𝒄𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒂 𝒍𝒂̀ 𝒑𝒉𝒂̉𝒊 𝒈𝒊𝒖̛̃ 𝒈𝒊̀𝒏 𝒗𝒐̂́𝒏 𝒒𝒖𝒊́ 𝒄𝒖̉𝒂 𝑪𝒉𝒂 𝑶̂𝒏𝒈 đ𝒆̂̉ 𝒍𝒂̣𝒊. Những người hữu trách có phận sự giúp cho giới trẻ hiểu được cái hay, cái đẹp trong nhạc truyền thống, thì có hiểu mới thương, mới chịu khó luyện tập để biểu diễn, mới có thể thưởng thức được cái hay tàng ẩn trong nghệ thuật dân tộc. Tôi có kinh nghiệm thấy nhiều em trẻ tuổi cảm động đến rơi nước mắt khi xem một trích đoạn hát bội sau khi nghe tôi phân tích cái hay trong hát bội, say sưa nghe tiếng trống Võ song tấu với Kèn trung trong Nhạc cung đình, sau khi nghe tôi phân tích về cái tế nhị trong cách đánh trống của người Việt… » (Trích « Vietsciences phỏng vấn GS.TS Trần Văn Khê » – 25/10/2004)

Người đăng: TRAN VAN KHE vào lúc 7/25/2020 01:36:00 CH Không có nhận xét nào: Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên TwitterChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest Nhãn: báo chí, Giáo sư Trần Văn Khê

https://tranvankhevietnam.blogspot./?fbclid=IwAR3ScYUjWKg8_JrstuXW9JLv499fr2A-vqHdPNldsHayfJW-QzSOfxafOqY

Tran Van Khé : La musique au Vietnam 01:53:10

Tran Van Khé : La musique au Vietnam 01:53:10

https://medias.ircam.fr/x83c522_tran-van-khe-la-musique-au-vietnam

Colloque conférence

Participants
  • Tran Van Khé (conférencier)

La musique des peuples minoritaires
La musique populaire
La musique artistique
La musique des pierres
Les instruments vietnamiens

https://medias.ircam.fr/x83c522_tran-van-khe-la-musique-au-vietnam?fbclid=IwAR07n5ddrbSEl-EwN7gR2F3VxECyCeew8iXKRaNrKFr-APQuyRRf8ZSiWrs

THANH HIỆP : GS-TS TRẦN VĂN KHÊ- NGƯỜI GIEO HẠT

“Với tôi, hoài bão duy nhất phải làm là gieo thêm nhiều hơn nữa vào ý thức giới trẻ tình yêu say mê đờn ca tài tử Nam Bộ và những di sản văn hóa của nước Việt. Bởi có hiểu biết mới có đam mê, nâng niu gìn giữ và phát huy. Gìn giữ di sản thì phải biết cách truyền thụ di sản ấy đến với lớp trẻ” – GS-TS Trần Văn Khê tâm nguyện như thế.

Quỹ học bổng Trần Văn Khê

  · GS-TS TRẦN VĂN KHÊ- NGƯỜI GIEO HẠT(nhà báo Thanh Hiệp)GS-TS Trần Văn Khê nói mỗi người có con đường và lý tưởng riêng để cống hiến, chọn ra đi để học tập cũng là cách ông bày tỏ tấm lòng yêu nước của mình

Khi GS-TS Trần Văn Khê quyết định về nước sống trên quê hương để có điều kiện thực hiện những ước mơ hoài bão cuối đời mình, đã từng có lời ra tiếng vào. Nghe những lời này, ông bình thản nói: “Tôi không buồn. Mỗi người có con đường và lý tưởng riêng để cống hiến. Tôi chọn ra đi để học tập, mong có ngày mang những kiến thức đó về áp dụng trong việc truyền thụ âm nhạc và văn hóa dân tộc từ những hệ thống khoa học mà tôi đúc kết do phương Tây hướng dẫn. Đó cũng là cách tôi bày tỏ tấm lòng yêu nước của mình”.Sống đúng với lý tưởng của mình“Anh Khê cứng lắm, đâu có ngán những lời mỉa mai. Anh vẫn sống đúng với lý tưởng của anh và bằng chứng là từ năm 2006 đến nay, như chúng ta đã thấy, anh vẫn sống, nghiên cứu, quảng bá, vẫn làm đẹp thêm hơn việc truyền thụ cảm xúc, kiến thức, kinh nghiệm trong công cuộc bảo tồn di sản văn hóa của ông cha để lại. Anh chẳng một lần nào bào chữa hay phản bác những nhận xét không đúng về mình” – NSND Viễn Châu, người bạn chí cốt của GS-TS Trần Văn Khê, nói.

Năm 1941, GS-TS Trần Văn Khê tròn 20 tuổi, ông từng đứng trên sân khấu Nhà hát Lớn Hà Nội chỉ huy dàn nhạc, hát bài hát tiếng Pháp “Le petit doigt de maman”. Sau buổi biểu diễn, báo La Volonté Indochinoise đã viết bài khen ngợi: “Việt Nam có một sinh viên trẻ tuổi chỉ huy dàn nhạc với phong cách một nhạc sĩ nhà nghề”. Đó là một kỷ niệm đẹp về đêm nhạc sinh viên đầu tiên của GS-TS Trần Văn Khê, từ đó ông nung nấu tình yêu âm nhạc, đặc biệt là nhạc dân tộc và tìm đường tiếp cận phương pháp đào tạo, truyền bá và hệ thống một cách khoa học những hiểu biết về âm nhạc dân tộc vốn thấm sâu trong máu của người thanh niên sinh ra và lớn lên trong chiếc nôi âm nhạc truyền thống. Cách tốt nhất là phải ra nước ngoài, tìm hiểu phương pháp nghiên cứu âm nhạc phương Tây để vận dụng cho âm nhạc truyền thống của Việt Nam sau này.

GS-TS Trần Văn Khê sang Pháp du học từ năm 1949. Hè năm 1951, ông thi đậu vào Trường Chính trị Paris- Khoa Giao dịch quốc tế. Cuối năm 1954, GS-TS Trần Văn Khê theo học Khoa Anh văn và Âm nhạc học tại Trường ĐH Sorbonne (Paris), làm luận án tiến sĩ dưới sự hướng dẫn của các giáo sư: Jacques Chailley, Emile Gaspardone và André Schaeffner. Tháng 6-1958, ông đậu tiến sĩ văn khoa (môn nhạc học) của Trường ĐH Sorbonne.“Trải qua thời sinh viên mà nhất là du học sinh ở xứ người, anh Khê sống kham khổ và phải đi làm thêm để có tiền ăn học. Những năm đầu thập niên 1950, anh đã phải đi đánh đàn thuê ở tiệm ăn La Paillote do ông Từ Bá Hòa làm chủ. Đánh đàn để kiếm sống nhưng anh chỉ sử dụng các nhạc cụ truyền thống và chơi các bản nhạc truyền thống Việt Nam. Ban đầu, chủ nhà hàng phản đối nhưng sau đó thấy thực khách đến ăn ngày một đông nên cũng đồng tình” – NSND Kim Cương kể.

GS-TS Trần Văn Khê bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ với đề tài chính “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” và 2 đề tài phụ: “Khổng Tử và âm nhạc”, “Vị trí âm nhạc trong xã hội Việt Nam”. Từ đây, ông bắt đầu đi những bước đầu tiên trên chặng đường dài mà mình đã chọn: sưu tầm, nghiên cứu, quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam. NSƯT Ba Tu có lần nói GS-TS Trần Văn Khê quá siêu khi nhớ vanh vách những thông số của từng cây đàn kìm, đàn tranh cổ bản có bao nhiêu cần, bao nhiêu dây, khi phát triển có thêm bao nhiêu trục…

Sau 50 năm gắn bó với sự nghiệp nghiên cứu, theo học có chứng chỉ từng môn ở 15 đại học danh tiếng nước ngoài, tham dự hơn 200 hội nghị quốc tế về âm nhạc tại 67 quốc gia; tham gia biểu diễn, thuyết trình, đối thoại tại 20 liên hoan âm nhạc thế giới…,

GS-TS Trần Văn Khê trở về nước để truyền thụ âm nhạc dân tộc.Sau khi về nước, GS-TS Trần Văn Khê không ngừng quảng bá âm nhạc. Tháng 8-2006, tại một nhà hát ở Torino (Ý) trong tuần lễ “Di sản âm nhạc Việt Nam” do các bạn Ý tổ chức, mỗi khi các nghệ sĩ Hải Phượng, Huỳnh Khải, Nhứt Dũng biểu diễn dứt một tiết mục nhạc tài tử và nhạc lễ Nam Bộ, GS-TS Trần Văn Khê lại lên sân khấu giới thiệu về ý nghĩa, những điểm chung và riêng của các loại hình âm nhạc này.“GS-TS Trần Văn Khê còn tham gia các chương trình giảng dạy và giới thiệu âm nhạc dân tộc cho người trẻ; thực hiện dự án “Dạy âm nhạc dân tộc trong bậc tiểu học” ở Trường Tiểu học Trần Hưng Đạo; lên truyền hình biểu diễn các bài dân ca Bắc, Trung, Nam cùng các cháu bé ở Nhà Thiếu nhi quận 1, TP HCM.

Nhìn ông mặc áo dài khăn đóng, mái tóc bạc phơ say sưa hát với các em học sinh, tôi xúc động vô cùng” – NSƯT Ba Tu nhớ lại.Những năm cuối đời, sức khỏe yếu, biết mình không còn sống được bao lâu, GS-TS Trần Văn Khê vẫn ngày đêm canh cánh bên lòng việc phải làm sao có thêm nhiều hậu bối thay ông tiếp tục giới thiệu những di sản văn hóa truyền thống của Việt Nam đến thế giới.“Với tôi, hoài bão duy nhất phải làm là gieo thêm nhiều hơn nữa vào ý thức giới trẻ tình yêu say mê đờn ca tài tử Nam Bộ và những di sản văn hóa của nước Việt. Bởi có hiểu biết mới có đam mê, nâng niu gìn giữ và phát huy. Gìn giữ di sản thì phải biết cách truyền thụ di sản ấy đến với lớp trẻ” – GS-TS Trần Văn Khê tâm nguyện như thế.Và ước nguyện trên sẽ được vun trồng từ thế hệ những học trò mà ông đã đặt kỳ vọng ở họ.

Báo Người Lao Động

https://nld.com.vn/…/gs-ts-tran-van-khe-nguoi-gieo-hat…

NGỌC PHƯƠNG : Quỹ học bổng Trần Văn Khê Cổ vũ gìn giữ và quảng bá âm nhạc dân tộc 

Báo đại biểu nhân dân: Quỹ học bổng Trần Văn Khê Cổ vũ gìn giữ và quảng bá âm nhạc dân tộc 

Đúng dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố GS. TS. Trần Văn Khê (24.7.1921 – 24.7.2021) – nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền nổi tiếng của Việt Nam, quỹ học bổng mang tên ông đã chính thức ra mắt, nhằm góp phần gìn giữ, phát huy các giá trị âm nhạc dân tộc.

Tâm huyết với âm nhạc dân tộc

Trong cuộc đời nghiên cứu, GS. TS. Trần Văn Khê đã có nhiều đóng góp quý báu cho âm nhạc truyền thống Việt Nam. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu, sưu tầm âm nhạc công phu bên cạnh hoạt động tại các viện hàn lâm quốc tế, ban giám khảo các giải thưởng cổ nhạc quốc tế, Hội đồng quốc tế âm nhạc truyền thống và Ủy ban tuyển chọn quốc tế về Âm nhạc châu Á thuộc Hội đồng quốc tế Âm nhạc – UNESCO… Những hoạt động ấy đã góp phần quảng bá rộng rãi và hiệu quả giá trị độc đáo, quý giá của âm nhạc dân tộc trên bình diện thế giới. Nhiều loại hình văn hóa – nghệ thuật dân tộc, với sự góp sức trực tiếp và gián tiếp của GS. TS. Trần Văn Khê, đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại như: Nhã nhạc Cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, ca trù, quan họ Bắc Ninh, đờn ca tài tử Nam Bộ…

Quỹ học bổng là di nguyện của cố GS. TS. Trần Văn KhêẢnh: ITN

Tâm huyết với âm nhạc dân tộc, trước khi giã biệt cuộc đời ngày 24.6.2015, GS.TS. Trần Văn Khê đã tiến hành lập vi bằng về di nguyện của ông, trong đó có việc thành lập quỹ học bổng để khuyến khích học sinh, nhà nghiên cứu và nghệ sĩ có thành tựu xuất sắc trong học tập, nghiên cứu, phát huy giá trị nghệ thuật dân tộc truyền thống Việt Nam.

Gần 6 năm sau, quỹ mới chính thức ra đời. Theo bà Nguyễn Thế Thanh, Phó Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ, Phó Giám đốc Quỹ học bổng Trần Văn Khê: “Yêu quý bác Khê, yêu quý âm nhạc dân tộc, chúng tôi quyết tâm thực hiện ý nguyện của bác. Qua một thời gian dài tìm kiếm nguồn lực, năm 2019, nhóm thân hữu Trần Văn Khê đã nhận được sự hợp tác tâm huyết và mạnh mẽ của Ban lãnh đạo Trường Đại học Văn Lang chịu trách nhiệm thành lập quỹ”.

Sau 4 lần điều chỉnh hồ sơ, tháng 3.2021, UBND TP. Hồ Chí Minh đã có Quyết định cấp giấy phép thành lập và công nhận Điều lệ Quỹ học bổng Trần Văn Khê. Quỹ học bổng Trần Văn Khê là quỹ xã hội hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện cổ vũ, giúp đỡ các sinh viên chuyên ngành âm nhạc dân tộc có thành tích cao trong học tập và các nhà nghiên cứu, nghệ sĩ có công trình, tác phẩm và hoạt động nổi bật góp phần gìn giữ, phát huy giá trị âm nhạc dân tộc Việt Nam trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và cả nước.

Xét tặng giải thưởng, học bổng hàng năm

Theo bà Nguyễn Thế Thanh, Quỹ sẽ tiến hành xét và tặng Giải thưởng Trần Văn Khê, Học bổng Trần Văn Khê hàng năm. Việc xét tặng Giải thưởng Trần Văn Khê cho các cá nhân sẽ được thực hiện luân phiên theo từng khu vực Nam, Trung, Bắc. Năm 2021 sẽ xét tặng giải cho các cá nhân hoạt động âm nhạc truyền thống Nam Bộ. Dựa trên giới thiệu của những người có uy tín trong giới âm nhạc dân tộc, Hội đồng chuyên môn của Quỹ sẽ xét trao giải thưởng cho các cá nhân dựa trên những tiêu chuẩn như: Có sách, công trình nghiên cứu về âm nhạc dân tộc; giảng dạy về âm nhạc dân tộc, có sinh viên có thành tựu; có biểu diễn thành công; thành lập được nhiều câu lạc bộ để quảng bá, khuyếch trương nhạc dân tộc và được ghi nhận…

Theo kế hoạch, lễ trao Giải thưởng Trần Văn Khê lần thứ nhất sẽ diễn ra đúng dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh GS. TS. Trần Văn Khê (24.7), cùng với hoạt động ra mắt Ban sáng lập và Hội đồng Quản lý Quỹ, biểu diễn nghệ thuật của các thế hệ nghệ sĩ thuộc lớp học trò của GS. TS. Trần Văn Khê… Tuy nhiên, do thực hiện nghiêm các quy định về phòng, chống Covid-19, chương trình đã tạm hoãn. Dự kiến, các hoạt động này sẽ được tổ chức vào tháng 11, dịp Ngày Di sản Văn hóa Việt Nam (23.11), cùng với hội thảo “Trần Văn Khê với các giá trị truyền thống và đương đại”.

Việc vận động duy trì một quỹ liên quan đến âm nhạc dân tộc khó khăn hơn rất nhiều so với các loại hình khác. “Bên cạnh sự trợ giúp của Trường Đại học Văn Lang, chúng tôi phải tính toán số suất giải thưởng, học bổng hàng năm, mức giải thưởng, học bổng. Ngoài nguồn quỹ ban đầu, chúng tôi sẽ có các hoạt động gây quỹ” – bà Nguyễn Thế Thanh cho biết.

Chẳng hạn, Quỹ đang kêu gọi quyên góp từ việc bán sách « Trần Văn Khê – Tâm và Nghiệp”, gồm 37 bài viết của 35 tác giả là người thân, đồng nghiệp, bạn bè thân thiết, học trò của cố giáo sư như: GS. TS. Trần Quang Hải, NSND Bạch Tuyết, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, giáo sư triết học Thái Kim Lan… Quỹ cũng dự kiến sẽ tổ chức các buổi biểu diễn âm nhạc chất lượng cao; tổ chức hội thảo… Trong tương lai, Quỹ dự kiến thành lập câu lạc bộ Bạn của Trần Văn Khê để gây quỹ thường xuyên; mở không gian Trần Văn Khê, trưng bày về âm nhạc dân tộc, về đóng góp của ông, có các buổi biểu diễn thường xuyên, định kỳ âm nhạc dân tộc, có thể tổ chức giao lưu âm nhạc dân tộc Việt Nam và các nước…

“Với những nỗ lực ấy, chúng tôi hy vọng Quỹ học bổng Trần Văn Khê sẽ góp sức, cùng với các trung tâm giáo dục – đào tạo âm nhạc truyền thống, phát hiện, tôn vinh những người có đóng góp cho nhạc dân tộc; góp phần cổ vũ duy trì, giữ gìn và phát huy, quảng bá giá trị riêng có, độc đáo của âm nhạc Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế” – bà Nguyễn Thế Thanh chia sẻ.Ngọc Phương
https://www.daibieunhandan.vn/co-vu-gin-giu-va-quang-ba-am-nhac-dan-toc-ghwbj4lcqr-60264

HỒ NHỰT QUANG : Độc đáo nghệ thuật khóc cười trên sân khấu

Cập nhật: 10:25, Thứ 5, 29/01/2015

Độc đáo nghệ thuật khóc cười trên sân khấu

(ANTV) – Tại bảo tàng tư gia của Giáo sư-Tiến sĩ Trần Văn Khê, diễn giả Hồ Nhựt Quang và các nghệ sĩ cải lương vừa cùng giao lưu chuyên đề “Nét độc đáo nghệ thuật khóc cười trên sân khấu” nhằm vinh danh giá trị nghệ thuật văn hóa Nam Bộ xưa.

https://m.antv.gov.vn//ajax/PluginPlay.aspx?urlfile=VIDEOS/2015/1/29/nghe%20thuat%20khoc%20cuoi.mp4&urlimg=/Article/duyhien/2015/1/29/20150129084837325_vlcsnap-2015-01-29-08h47m43s199.png

  “Nét độc đáo nghệ thuật khóc cười trên sân khấu” là chương trình thứ 5 trong chuỗi hoạt động sinh hoạt văn hóa âm nhạc dân tộc định kỳ nhằm góp phần truyền tải và lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.   Chương trình giúp khán giả nhận ra giá trị cuộc sống, giá trị của tình cảm gia đình, tình cảm giữa con người với nhau và ôn lại lịch sử hào hùng của dân tộc qua nghệ thuật cải lương.    Cao trào của sân khấu cải lương là khóc và cười. Tiếng khóc, tiếng cười của mỗi nhân vật trên sân khấu phản ánh khóc cười của xã hội. Chương trình còn nhằm tri ân những nghệ sĩ xưa, các tiền bối đã góp công sức đáng kể cho việc hình thành và phát triển những tác phẩm nghệ thuật cải lương.   Buổi giao lưu đã giúp các bạn trẻ hiểu rộng hơn văn hóa Việt Nam để cùng nhau tiếp bước giữ gìn và lưu truyền những giá trị tinh thần truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

BT

https://m.antv.gov.vn/tin-tuc/van-hoa-the-thao/doc-dao-nghe-thuat-khoc-cuoi-tren-san-khau-141288.html?fbclid=IwAR0OUAiuQK-MyfiTuZL4xDDpIDQrmkqs0cq1jIeHLE3kBCvbsdKF5F52dFE

HỒ NHỰT QUANG : Vinh danh lễ giáo Nam bộ xưa qua thơ ca

Cập nhật: 14:18, Thứ 6, 21/11/2014

HỒ NHỰT QUANG : Vinh danh lễ giáo Nam bộ xưa qua thơ ca

(ANTV) – “Vinh danh lễ giáo Nam bộ và tri ân nghề giáo” là chương trình giao lưu văn hóa do GS-TS Trần Văn Khê  chủ tọa, diễn giả văn hóa Hồ Nhựt Quang được tổ chức tại 32 Huỳnh Đình Hai, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh.

https://m.antv.gov.vn//ajax/PluginPlay.aspx?urlfile=VIDEOS/2014/11/21/5.mp4&urlimg=/Article/minhchi/2014/11/21/20141121094304290290_vlcsnap-2014-11-21-09h41m35s241.png

Chương trình nằm trong chuỗi hoạt động sinh hoạt văn hóa âm nhạc dân tộc định kỳ tại nhà Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Khê nhằm góp phần truyền tải và lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Chủ đề lễ giáo Nam bộ lấy chất liệu từ những áng thơ ca bất hủ của các nhà thơ nổi tiếng Nam bộ như Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu qua các tác phẩm Hồng Đức quốc âm thi tập, Gia Huấn ca, Lục Vân Tiên.

Qua đó, nhắc nhở lại những phong tục lễ giáo của người Nam bộ xưa, nhằm tôn vinh những giá trị đạo đức cao đẹp và truyền tải thông điệp quý trọng đạo đức trong xã hội ngày nay.

Trăn trở về việc giá trị đạo đức hiện nay đang dần bị mai một, Tiến sĩ Nguyễn Nhã cho rằng xã hội hiện nay cần kíp phải có những biện pháp giáo dục như thời xưa dựa trên nền tảng tính cách trung thực, chất phác, tử tế sẵn có của người Nam bộ mà phát triển, có như thế chúng ta mới thực sự xây dựng và phát triển đất nước, không hổ thẹn với những hi sinh của của các thế hệ trước.

Tại buổi giao lưu, nhạc sư Vĩnh Bảo, cây đại thụ của dân ca Nam bộ cùng Giáo sư-Tiến sĩ Trần Văn Khê cũng chia sẻ thêm những câu chuyện giá trị về đạo đức, lễ giáo qua những ngón đàn, tiếng hát với những giai điệu ngọt ngào của âm nhạc dân tộc./.

BT

https://m.antv.gov.vn/tin-tuc/van-hoa-the-thao/vinh-danh-le-giao-nam-bo-xua-qua-tho-ca-107839.html?fbclid=IwAR0sHIWsrh85WZmFJzc46LRI4-yjkiG-iZsjIOUQjWhaE3Wxng8zUsqAL8g