Thí sinh Huỳnh Thị Tố Quyên – 036:

Nguyễn Quốc Thệ

· 💧♥️Thí sinh Huỳnh Thị Tố Quyên – 036

💧♥️CẢM XÚC VỀ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ VÀ ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM.

Thí sinh: Huỳnh Thị Tố Quyên – sinh viên ngành Việt Nam học – Trường Đại học Công Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh ( HUTECH)

Em được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất miền Tây sông nước – An Giang. Con người miền Tây chất phác thật thà, chịu thương chịu khó. Lớn lên bằng câu hò mẹ ru: “ Ầu ơ, dí dầu”, được nghe ông bà ta chơi đàn, hát hò mỗi khi gia đình quây quần bên nhau, được tiếp xúc với nền âm nhạc truyền thống từ nhỏ nên bản thân em cũng có một niềm tin yêu mãnh liệt về nền âm nhạc Việt Nam. Em rất tự hào khi là đứa con của miền Tây càng tự hào hơn khi miền Tây cũng chính là nơi mà Giáo sư Trần Văn Khê được sinh ra và lớn lên. Khi tìm hiểu về Giáo sư Trần Văn Khê một nhà văn hóa nổi tiếng không chỉ đối với người dân Việt Nam mà còn vươn tầm ra ngoài thế giới.

Giáo sư Trần Văn Khê sinh năm 1921 mất năm 2015 tại Châu Thành tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang ) sinh ra trong gia đình có gốc âm nhạc nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm ông lên sáu tuổi ông được cô là Trần Ngọc Viện (tức là Ba Viện người đã sáng lập ra gánh cải lương Đồng Nữ ban) và cậu là ông Năm Khương dạy cho đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, đàn bầu, ngoài ra thì ông còn biết đàn những bản nhạc dễ như “Lưu Thuỷ”, “Bỉnh Bán Vắn.”, “ Kim Tiền.”, “Long Hổ Hội.”. Cô Ba Viện rất thương và cho hai anh em ông đi học võ học, học đàn kìm. Đến năm mười tuổi thì ông thi đậu tiểu học và sang Vĩnh Long học ở đây được sự chăm nuôi của người cô thứ năm cho ông đi học chữ Hán với nhà thơ Thượng Tân Thị. Gia đình của ông có truyền thống, thông minh, học giỏi. Năm 1942 ông ra Hà Nội học y khoa tại đây cùng với Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấng (nay đổi thành Phạm Hữu Tùng), hoạt động trong khuôn khổ của tổng hội sinh viên. Do cảm nhạc quá xuất sắc, ông được cử làm nhạc trưởng của giảng nhạc trường, nhân đó ông giới thiệu những bài hát của Lưu Hữu Phước. Ngoài ra thì ông còn được tham gia nhiều phong trào như “truyền bá chữ Quốc Ngữ” của giáo sư Hoàn Xuân Hãn; “truyền bá vệ sinh” của cả sinh viên trường thuốc. Đến năm 1943 ông cưới bà Nguyễn Thị Sương, về sau có nhiều sự kiện nên ông phải xin thôi học trở về Nam. Con trai ông là Trần Quang Hải sinh năm 1944 sau cũng là nhà nghiêm cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam nổi tiếng.

Năm 1949 ông sang pháp du học, đến năm 1958 ông theo học khoa nhạc học và năm đó, ông thi đậu tiến sĩ văn, môn nhạc học của đại học Sorbonne luận văn của ông có tên là « LaMusique vietnamienne traditionnelle » (Âm nhạc truyền thống Việt Nam). Năm 1963 ông dạy trong trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương dưới sự bảo trợ của viện nhạc học Pari (Institut de Musicologie de Paris). Ông là thành viên của viện khoa học Pháp. Viện sĩ thông tấn viện hàn lâm Châu Âu về khoa học và còn là chủ tịch hội đồng khoa học của viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies). Không những thế mà ông đã đặt chân đến 67 nước trên thế giới để nói và giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam, đưa âm nhạc dân tộc Việt Nam vươn ra một tầm xa thế giới. Sau 50 nghiên cứu buôn ba và giảng dạy tại Pháp thì ông quyết định trở về Việt Nam. Ông cũng là người hiến tặng nhiều loại nhạc cụ và tài liệu âm nhạc mà ông dày công sưu tầm, nghiên cứu. Một số giải thưởng và thành tựu mà giáo sư đạt được trong suốt quãng thời gian cống hiến, năm 1949 ông đạt giải thưởng nhạc cụ dân tộc tại liên hoan thanh niên Budapest, huy chương bội tinh hạng nhất của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà, văn hoá bội tinh hạng nhất của Việt Nam Cộng Hoà, năm 1981 Giải thưởng âm nhạc của UNESCO ở Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (Prix UNESCO – CIM de la Musique)…

Giáo sư Trần Văn Khê là người từ đầu đã tích cực vận động UNESCO nhìn nhận Nhã nhạc cung đình Huế và các thể loại âm nhạc dân tộc khác như: Ca Trù, Hát Quan Họ, Hát Xoan, Đờn Ca Tài Tử.., tất cả đều được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại. Dành cả cuộc đời mình để nghiên cứu và tìm tòi về âm nhạc Giáo Sư Trần Văn Khê để lại một kho tàng tri thức lớn về âm nhạc ra thế giới và nhất là âm nhạc dân tộc Việt Nam, người đã ra sức sưu tầm nghiên cứu qua bề dày lịch sử và chiều sâu của nghệ thuật này với một đều mong muốn được làm và cống hiến những gì cho đất nước con người Việt Nam và thoả mãn với một trái tim yêu âm nhạc nồng cháy.

2. ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ – ÂM NHẠC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM“Đờn ca tài tử nam bộ” là một nền âm nhạc mang tính truyền thống, là món ăn tinh thần không thể thiếu của vùng Nam bộ, vì vậy cần có sự quan tâm duy trì và phát triển. Đờn ca tài tử Nam bộ là dòng nhạc dân tộc Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể. Đây là loại hình nghệ thuật của đàn và ca, do những người bình dân, giản dị, thanh niên nam nữ, nông thôn Nam bộ hát sau những giờ lao động. Tạo tinh thần thoải mái để làm việc tốt hơn, đối với những người nông dân đây còn là một thú vui tao nhã bình dị mang đậm chất Nam bộ. Đờn ca tài tử xuất hiện hơn một trăm năm trước, là loại hình diễn tấu có ban nhạc gồm bốn loại là đàn kim, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu. Đờn ca tài tử được du nhập vào miền Nam từ cuối thế kỷ XIX do ban nhạc sư gốc Trung Bộ là Nguyễn Quang Đại (hay còn gọi là Ba Đợi là nhạc quan triều đình nhà Nguyễn), và Trần Quang Quờn còn được gọi là (thầy ký Quờn) và Lê Tài Khị (nghệ danh là nhạc Khị) sáng tạo nên với mục đích chỉ để phục vụ nghe chơi với nhau giữa một số người trong hoàn cảnh nhất định. Không những thế đờn ca tài tử Nam bộ còn thu hút thêm nhiều đối tượng khác cùng tham gia và càng được phát triển rộng rãi hơn, không gian được mở rộng. Đối với đờn ca tài tử có ý nghĩa “tài tử” ở đây là “”người có tài” như trong thơ truyện Kiều “dập dìu tài tử giai nhân”. Ông nhạc Khị người chơi nhạc tài tử nổi tiếng vang danh ở xứ Bạc Liêu vào những năm đầu thế kỷ XX đã nói. “chơi đờn tài tử là coi như ra trận, hễ ca sai lời, sai nhịp, sai giọng, đờn sai nhạc, sai nhịp là coi như không phải đường ca tài tử”. Đờn ca tài tử là một loại nhạc thính phòng thường được trình diễn trong phạm vi không gian tương đối nhỏ như trong gia đình, tại đám cưới, đám giỗ, trong các lễ hội, sau những mùa thu hoạch của những người nông dân, thường được biểu diễn vào những đêm trăng sáng ở xóm làng do những người nông dân tổ chức quây quầng bên nhau hát vang cho một mùa bội thu. Các nhạc sĩ, nhạc quan của triều Nguyễn theo phong trào cần Vương tiến về phương Nam và mang theo nền âm nhạc này vào Nam bộ và được phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay.

Tài tử có nguồn gốc suất phát từ ca Huế, pha lẫn âm nhạc từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi. Loại nhạc này mang đậm tính giải trí vui chơi, để gửi gắm tâm sự riêng, đi cùng với bạn đồng điệu đờn ca cho mọi người cùng thưởng thức, chứ không thuộc loại nhạc dành cho các ngày lễ quan trọng. Khi được đưa vào Nam bộ và được những người nông dân ở đây biến tấu rèn luyện rất công phu, tập từng chữ nhấn, chữ chuyền, để trở thành một nét riêng biệt tạo thành một phong cách riêng, để có được đờn ca tài tử Nam bộ như ngày hôm nay. Lúc đầu thì chỉ có đờn, sao xuất hiện thêm nhiều hình thức như ca kết hợp với đờn nên người ta gọi nôm na đó là đờn ca. Giới chơi nhạc lựa chọn ra được 20 bài bản tiêu biểu cho bốn hơi điệu, bao gồm sáu bài Bắc diễn tả cho sự vui tươi, phóng khoáng, bẩy bài Hạ dùng trong tế lễ có tính trang nghiêm, 3 bài Nam diễn tả sự an nhàn, thanh thoát và 4 bài Oán diễn tả những cảnh sầu não, đau buồn, chia ly. Tất cả được gọi chung là “20 bài bản tổ”. Các loại nhạc cụ được dùng trong đờn ca tài tử bao gồm (đờn kim, đờn tranh, đờn cò, đờn tỳ bà, đờn tam). Theo truyền thống thì ít khi nhạc công độc tấu, mà thường song tấu, tam tấu, hòa tấu. Đôi khi thì còn có kết hợp với ống sáu ngang hay ống tiêu thổi dọc kèm song với nhau.

Trong quá trình chơi đờn ca tài tử ở Nam bộ, ông cha ta luôn có sự sáng tạo mới cho nền âm nhạc này. Ngoài 20 bản tổ ra thì theo thống kê của ông Nguyễn Văn Thinh tức là (giáo Thinh) năm 1945, nhạc tài tử Nam bộ gồm có tổng cộng 72 bài bao gồm 36 bài bắc bẩy bài lễ, ba bài nam, sáu bài oán và tám bài ngự, hai bài nhỉ và mười bài đọc thủ liên hườn. Đến giữa tháng 8 năm 1919 nhạc sĩ Cao Văn lầu đã công bố bản nhạc lòng bất hủ của mình chính là bản dạ cổ hoài lang, từ đó góp phần làm thêm phong phú các biểu thức của nhạc tài tử Nam bộ. Cách thức đèn thường được biểu diễn rất mộc mạc bao gồm tất cả mọi người cùng ngồi trên một bộ ván hoặc chiếu để biểu diễn với một phong cách đờn ca thảnh thơi, lãng đãng, dựa trên cái khung bài bản cố định gọi là “lòng bản” với một cách chơi đó đích thực là những tài tử những người tài năng và họ tạo cho mình một sự riêng biệt chỉ có ở Nam bộ. Loại hình đờn ca tài tử được phát triển mạnh mẽ từ thời xưa cho đến nay mặc dù hiện nay vẫn còn xen lẫn với nhiều nền âm nhạc khác nhau nhưng mỗi khi đến ngày lễ đình làng, họ vẫn tổ chức để thể hiện một truyền thống của nền dân tộc Việt Nam. Về trang phục, những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè là những người nông dân hay là những chòm xóm với nhau, ban đầu họ trình diễn rất mộc mạc bên chiếc áo bà ba hoặc bộ đồ nông dân, ngày sau xã hội càng phát triển con người càng biết làm đẹp cho bản thân mình nên họ tăng tiến thêm nhiều trang phục khác khi tham gia trình diễn ở đình, miếu hoặc trên sân khấu chẳng hạn như nữ mặc áo dài, nam áo dài khăn đóng.

Mỗi vùng miền đều có những nét văn hóa đặc sắc riêng tạo nên một giá trị đẹp riêng biệt. Đó còn là tài sản quý giá là cả một quá trình vun đắp, chăm bồi, phát triển, giữ gìn và truyền lại cho thế hệ mai sau. Xã hội càng phát triển con người càng chạy theo những cái mới, nền âm nhạc cũng vậy được du nhập thêm nhiều nền âm nhạc khác vào Việt Nam nên việc giới trẻ hiện nay càng quên lãng đi những nền âm nhạc truyền thống của ông cha ta gầy dựng nên. Là một sinh viên đựơc sinh ra và lớn lên trên mảnh đất có nhiều truyền thống tốt đẹp, em luôn ý thức được việc giữ gìn và phát triển nền văn hóa dân tộc không chỉ là việc phải làm mà đây chính là nghĩa vụ mà con người Việt Nam cần phát huy để đem nền văn hóa tốt đẹp của nước ta vươn ra một tầm xa của thế giới sánh vai với các cường quốc năm châu.

Xin trân trọng cảm ơn!

Votre commentaire

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l’aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion /  Changer )

Photo Google

Vous commentez à l’aide de votre compte Google. Déconnexion /  Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l’aide de votre compte Twitter. Déconnexion /  Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l’aide de votre compte Facebook. Déconnexion /  Changer )

Connexion à %s

Ce site utilise Akismet pour réduire les indésirables. En savoir plus sur la façon dont les données de vos commentaires sont traitées.