Jour : 24 juillet 2021

BĂNG CHÂU : 100 năm ngày sinh cố GS.TS Trần Văn Khê: « Thầy chẳng đi đâu xa »

100 năm ngày sinh cố GS.TS Trần Văn Khê: « Thầy chẳng đi đâu xa »

Dân trí

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố GS.TS Trần Văn Khê, con trai ông GS Trần Quang Hải cùng học trò, bạn bè thân hữu có dịp chia sẻ những kỉ niệm về ông.

Sự ra đi của GS.TS Trần Văn Khê cách đây 6 năm (ngày 24/6/2015) là một mất mát to lớn đối với nền văn hóa, nghệ thuật Việt Nam.

100 năm ngày sinh cố GS.TS Trần Văn Khê: Thầy chẳng đi đâu xa - 1
Cố GS.TS Trần Văn Khê là một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền nổi tiếng ở Việt Nam. Ông trở thành tiến sĩ ngành âm nhạc học người Việt Nam đầu tiên tại Pháp; giáo sư tại Đại học Sorbonne (Pháp); thành viên danh dự Hội đồng Âm nhạc Quốc tế, UNESCO.

Ông có bề dày trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, có công trong quảng bá âm nhạc Việt Nam nói riêng, văn hóa Việt Nam nói chung ra thế giới.

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của GS Trần Văn Khê (24/7/1921 – 24/7/2021), các con, cháu và những thế hệ học trò, truyền nhân… một lần nữa có dịp bày tỏ những tình cảm tốt đẹp với ông.

« Hình ảnh ba luôn trong trái tim tôi »

GS.TS Trần Quang Hải chia sẻ luôn biết ơn ba đã truyền cho ông sự đam mê trong nghiên cứu để được thành công như ngày hôm nay.

100 năm ngày sinh cố GS.TS Trần Văn Khê: Thầy chẳng đi đâu xa - 2
« Mỗi lần nhận được một giải thưởng nào tôi đều nhớ tới ba. Dù ba còn hay đã mất, hình ảnh ba vẫn luôn ngự trị trong tim tôi. Tôi nhớ, ba đã dành lời khen khi tôi là nghệ sĩ duy nhất của Việt Nam được huy chương Bắc Đẩu Bội tinh (Huân chương cao quý nhất của Nhà nước Pháp – PV) ».

Trong cuộc đời của mình, GS Trần Quang Hải đã 2 lần hội ngộ và chia ly với ba mình, tất cả đều gắn liền với sự nghiệp âm nhạc dân tộc của ba ông.

Ông kể năm 1949 ba mình rời Việt Nam đi du học, khi ông chỉ 5 tuổi. 13 năm sau hai cha con mới gặp lại nhau.

Đến năm 2006, sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, GS.TS Trần Văn Khê  về nước và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu, giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông Hải khi đó ở lại Pháp nên một lần nữa hai cha con xa nhau.

Ông Hải nhớ lại một kỷ niệm cách đây 15 năm, trước ngày cha về nước. Khi đó, đài truyền hình Bỉ có trình chiếu một bộ phim tài liệu về hành trình âm nhạc có tên: « Hải, hành trình của một nhạc sĩ người Việt » – nội dung bộ phim nhắc tới cha ông, GS Trần Văn Khê. Kỷ niệm về 2 cha con, trong bộ phim đó, khiến ông Hải còn nhớ mãi.

« Đáng ghi nhớ nhất là khi ba nhìn nhận tài gõ muỗng của tôi và bằng lòng đưa muỗng – một nhạc cụ mới lạ vào sáng tạo mới trong nhạc cổ truyền Việt Nam ».

Ông và ba mình đã thể nghiệm màn song tấu kìm – muỗng tại lễ hội Shiraz của Iran (Ba Tư). Vào năm 1976, hãng đĩa của Pháp thu âm loại nhạc tùy hứng này với tên gọi Nhạc cổ truyền mới.

100 năm ngày sinh cố GS.TS Trần Văn Khê: Thầy chẳng đi đâu xa - 3
Đến năm 2007, khi ông về Việt Nam, ông và ba mình mới có dịp trình diễn lại màn song tấu này.

Chân thành và giản dị trong cách sống

Nhà thơ Hồng Ngọc – cháu gái gọi cố GS Trần Văn Khê, lần đầu tiết lộ câu chuyện bản thân từng không dám đến gặp và chào khi GS Khê về thăm quê nhà.

Biết chuyện, chính GS đã viết thư cho chị để « nhận bà con ». Trong thư, giáo sư Khê khẳng định, dù chú đi xa, nhiều việc nhưng quý trọng và không quên bà con.

« Lúc ấy, tôi không sao kể hết niềm vui sướng của mình khi nhận được thư chú, một người dù nổi tiếng vẫn không quên tình cậu ruột quê nhà ».

100 năm ngày sinh cố GS.TS Trần Văn Khê: Thầy chẳng đi đâu xa - 4
Mỗi lần về quê, giáo sư Khê thường ghé qua thăm nhà cháu gái của mình. « Lúc ấy nhà tôi còn rất nghèo nhưng chú Hai không câu nệ. Và mỗi lần chú về, con cháu họ nội cũng vui mừng quây quần bên chú đằm ấm, thương yêu! »

Những lúc ở quê lên Sài Gòn thăm chú, chị Hồng thường mang vú sữa Vĩnh Kim trồng trên mảnh đất nhà biếu. Bởi chị biết « Chú tôi, dù đi đâu, làm gì, nổi tiếng thế nào, vẫn cứ là người con của đất quê! »

Diễn giả văn hóa Hồ Nhựt Quang – truyền nhân của cố GS.TS Trần Văn Khê cũng không bao giờ quên được sự giản dị trong cách sống của thầy mình lúc sinh thời.

« Thầy sinh năm Tân Dậu, nên sinh nhật Thầy chúng tôi luôn tìm bài hát nào vui vui có liên quan con gà. Tôi nhớ có dịp Trung Thu người ta bán lồng đèn hình con gà, chúng tôi mua làm quà sinh nhật, thầy vui lắm ».

100 năm ngày sinh cố GS.TS Trần Văn Khê: Thầy chẳng đi đâu xa - 5
Nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng – học trò của cố GS Trần Văn Khê khẳng định, đối với những người học trò luôn tâm niệm bước tiếp theo con đường của thầy – con đường vinh danh những giá trị văn hóa – âm nhạc dân tộc thì « thầy chẳng đi đâu xa ».

Băng Châu

https://dantri.com.vn/van-hoa/100-nam-ngay-sinh-co-gsts-tran-van-khe-thay-chang-di-dau-xa-20210724105829580.htm

Thí sinh Huỳnh Thị Tố Quyên – 036:

Nguyễn Quốc Thệ

· 💧♥️Thí sinh Huỳnh Thị Tố Quyên – 036

💧♥️CẢM XÚC VỀ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ VÀ ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM.

Thí sinh: Huỳnh Thị Tố Quyên – sinh viên ngành Việt Nam học – Trường Đại học Công Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh ( HUTECH)

Em được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất miền Tây sông nước – An Giang. Con người miền Tây chất phác thật thà, chịu thương chịu khó. Lớn lên bằng câu hò mẹ ru: “ Ầu ơ, dí dầu”, được nghe ông bà ta chơi đàn, hát hò mỗi khi gia đình quây quần bên nhau, được tiếp xúc với nền âm nhạc truyền thống từ nhỏ nên bản thân em cũng có một niềm tin yêu mãnh liệt về nền âm nhạc Việt Nam. Em rất tự hào khi là đứa con của miền Tây càng tự hào hơn khi miền Tây cũng chính là nơi mà Giáo sư Trần Văn Khê được sinh ra và lớn lên. Khi tìm hiểu về Giáo sư Trần Văn Khê một nhà văn hóa nổi tiếng không chỉ đối với người dân Việt Nam mà còn vươn tầm ra ngoài thế giới.

Giáo sư Trần Văn Khê sinh năm 1921 mất năm 2015 tại Châu Thành tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang ) sinh ra trong gia đình có gốc âm nhạc nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm ông lên sáu tuổi ông được cô là Trần Ngọc Viện (tức là Ba Viện người đã sáng lập ra gánh cải lương Đồng Nữ ban) và cậu là ông Năm Khương dạy cho đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, đàn bầu, ngoài ra thì ông còn biết đàn những bản nhạc dễ như “Lưu Thuỷ”, “Bỉnh Bán Vắn.”, “ Kim Tiền.”, “Long Hổ Hội.”. Cô Ba Viện rất thương và cho hai anh em ông đi học võ học, học đàn kìm. Đến năm mười tuổi thì ông thi đậu tiểu học và sang Vĩnh Long học ở đây được sự chăm nuôi của người cô thứ năm cho ông đi học chữ Hán với nhà thơ Thượng Tân Thị. Gia đình của ông có truyền thống, thông minh, học giỏi. Năm 1942 ông ra Hà Nội học y khoa tại đây cùng với Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấng (nay đổi thành Phạm Hữu Tùng), hoạt động trong khuôn khổ của tổng hội sinh viên. Do cảm nhạc quá xuất sắc, ông được cử làm nhạc trưởng của giảng nhạc trường, nhân đó ông giới thiệu những bài hát của Lưu Hữu Phước. Ngoài ra thì ông còn được tham gia nhiều phong trào như “truyền bá chữ Quốc Ngữ” của giáo sư Hoàn Xuân Hãn; “truyền bá vệ sinh” của cả sinh viên trường thuốc. Đến năm 1943 ông cưới bà Nguyễn Thị Sương, về sau có nhiều sự kiện nên ông phải xin thôi học trở về Nam. Con trai ông là Trần Quang Hải sinh năm 1944 sau cũng là nhà nghiêm cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam nổi tiếng.

Năm 1949 ông sang pháp du học, đến năm 1958 ông theo học khoa nhạc học và năm đó, ông thi đậu tiến sĩ văn, môn nhạc học của đại học Sorbonne luận văn của ông có tên là « LaMusique vietnamienne traditionnelle » (Âm nhạc truyền thống Việt Nam). Năm 1963 ông dạy trong trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương dưới sự bảo trợ của viện nhạc học Pari (Institut de Musicologie de Paris). Ông là thành viên của viện khoa học Pháp. Viện sĩ thông tấn viện hàn lâm Châu Âu về khoa học và còn là chủ tịch hội đồng khoa học của viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies). Không những thế mà ông đã đặt chân đến 67 nước trên thế giới để nói và giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam, đưa âm nhạc dân tộc Việt Nam vươn ra một tầm xa thế giới. Sau 50 nghiên cứu buôn ba và giảng dạy tại Pháp thì ông quyết định trở về Việt Nam. Ông cũng là người hiến tặng nhiều loại nhạc cụ và tài liệu âm nhạc mà ông dày công sưu tầm, nghiên cứu. Một số giải thưởng và thành tựu mà giáo sư đạt được trong suốt quãng thời gian cống hiến, năm 1949 ông đạt giải thưởng nhạc cụ dân tộc tại liên hoan thanh niên Budapest, huy chương bội tinh hạng nhất của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà, văn hoá bội tinh hạng nhất của Việt Nam Cộng Hoà, năm 1981 Giải thưởng âm nhạc của UNESCO ở Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (Prix UNESCO – CIM de la Musique)…

Giáo sư Trần Văn Khê là người từ đầu đã tích cực vận động UNESCO nhìn nhận Nhã nhạc cung đình Huế và các thể loại âm nhạc dân tộc khác như: Ca Trù, Hát Quan Họ, Hát Xoan, Đờn Ca Tài Tử.., tất cả đều được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại. Dành cả cuộc đời mình để nghiên cứu và tìm tòi về âm nhạc Giáo Sư Trần Văn Khê để lại một kho tàng tri thức lớn về âm nhạc ra thế giới và nhất là âm nhạc dân tộc Việt Nam, người đã ra sức sưu tầm nghiên cứu qua bề dày lịch sử và chiều sâu của nghệ thuật này với một đều mong muốn được làm và cống hiến những gì cho đất nước con người Việt Nam và thoả mãn với một trái tim yêu âm nhạc nồng cháy.

2. ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ – ÂM NHẠC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM“Đờn ca tài tử nam bộ” là một nền âm nhạc mang tính truyền thống, là món ăn tinh thần không thể thiếu của vùng Nam bộ, vì vậy cần có sự quan tâm duy trì và phát triển. Đờn ca tài tử Nam bộ là dòng nhạc dân tộc Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể. Đây là loại hình nghệ thuật của đàn và ca, do những người bình dân, giản dị, thanh niên nam nữ, nông thôn Nam bộ hát sau những giờ lao động. Tạo tinh thần thoải mái để làm việc tốt hơn, đối với những người nông dân đây còn là một thú vui tao nhã bình dị mang đậm chất Nam bộ. Đờn ca tài tử xuất hiện hơn một trăm năm trước, là loại hình diễn tấu có ban nhạc gồm bốn loại là đàn kim, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu. Đờn ca tài tử được du nhập vào miền Nam từ cuối thế kỷ XIX do ban nhạc sư gốc Trung Bộ là Nguyễn Quang Đại (hay còn gọi là Ba Đợi là nhạc quan triều đình nhà Nguyễn), và Trần Quang Quờn còn được gọi là (thầy ký Quờn) và Lê Tài Khị (nghệ danh là nhạc Khị) sáng tạo nên với mục đích chỉ để phục vụ nghe chơi với nhau giữa một số người trong hoàn cảnh nhất định. Không những thế đờn ca tài tử Nam bộ còn thu hút thêm nhiều đối tượng khác cùng tham gia và càng được phát triển rộng rãi hơn, không gian được mở rộng. Đối với đờn ca tài tử có ý nghĩa “tài tử” ở đây là “”người có tài” như trong thơ truyện Kiều “dập dìu tài tử giai nhân”. Ông nhạc Khị người chơi nhạc tài tử nổi tiếng vang danh ở xứ Bạc Liêu vào những năm đầu thế kỷ XX đã nói. “chơi đờn tài tử là coi như ra trận, hễ ca sai lời, sai nhịp, sai giọng, đờn sai nhạc, sai nhịp là coi như không phải đường ca tài tử”. Đờn ca tài tử là một loại nhạc thính phòng thường được trình diễn trong phạm vi không gian tương đối nhỏ như trong gia đình, tại đám cưới, đám giỗ, trong các lễ hội, sau những mùa thu hoạch của những người nông dân, thường được biểu diễn vào những đêm trăng sáng ở xóm làng do những người nông dân tổ chức quây quầng bên nhau hát vang cho một mùa bội thu. Các nhạc sĩ, nhạc quan của triều Nguyễn theo phong trào cần Vương tiến về phương Nam và mang theo nền âm nhạc này vào Nam bộ và được phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay.

Tài tử có nguồn gốc suất phát từ ca Huế, pha lẫn âm nhạc từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi. Loại nhạc này mang đậm tính giải trí vui chơi, để gửi gắm tâm sự riêng, đi cùng với bạn đồng điệu đờn ca cho mọi người cùng thưởng thức, chứ không thuộc loại nhạc dành cho các ngày lễ quan trọng. Khi được đưa vào Nam bộ và được những người nông dân ở đây biến tấu rèn luyện rất công phu, tập từng chữ nhấn, chữ chuyền, để trở thành một nét riêng biệt tạo thành một phong cách riêng, để có được đờn ca tài tử Nam bộ như ngày hôm nay. Lúc đầu thì chỉ có đờn, sao xuất hiện thêm nhiều hình thức như ca kết hợp với đờn nên người ta gọi nôm na đó là đờn ca. Giới chơi nhạc lựa chọn ra được 20 bài bản tiêu biểu cho bốn hơi điệu, bao gồm sáu bài Bắc diễn tả cho sự vui tươi, phóng khoáng, bẩy bài Hạ dùng trong tế lễ có tính trang nghiêm, 3 bài Nam diễn tả sự an nhàn, thanh thoát và 4 bài Oán diễn tả những cảnh sầu não, đau buồn, chia ly. Tất cả được gọi chung là “20 bài bản tổ”. Các loại nhạc cụ được dùng trong đờn ca tài tử bao gồm (đờn kim, đờn tranh, đờn cò, đờn tỳ bà, đờn tam). Theo truyền thống thì ít khi nhạc công độc tấu, mà thường song tấu, tam tấu, hòa tấu. Đôi khi thì còn có kết hợp với ống sáu ngang hay ống tiêu thổi dọc kèm song với nhau.

Trong quá trình chơi đờn ca tài tử ở Nam bộ, ông cha ta luôn có sự sáng tạo mới cho nền âm nhạc này. Ngoài 20 bản tổ ra thì theo thống kê của ông Nguyễn Văn Thinh tức là (giáo Thinh) năm 1945, nhạc tài tử Nam bộ gồm có tổng cộng 72 bài bao gồm 36 bài bắc bẩy bài lễ, ba bài nam, sáu bài oán và tám bài ngự, hai bài nhỉ và mười bài đọc thủ liên hườn. Đến giữa tháng 8 năm 1919 nhạc sĩ Cao Văn lầu đã công bố bản nhạc lòng bất hủ của mình chính là bản dạ cổ hoài lang, từ đó góp phần làm thêm phong phú các biểu thức của nhạc tài tử Nam bộ. Cách thức đèn thường được biểu diễn rất mộc mạc bao gồm tất cả mọi người cùng ngồi trên một bộ ván hoặc chiếu để biểu diễn với một phong cách đờn ca thảnh thơi, lãng đãng, dựa trên cái khung bài bản cố định gọi là “lòng bản” với một cách chơi đó đích thực là những tài tử những người tài năng và họ tạo cho mình một sự riêng biệt chỉ có ở Nam bộ. Loại hình đờn ca tài tử được phát triển mạnh mẽ từ thời xưa cho đến nay mặc dù hiện nay vẫn còn xen lẫn với nhiều nền âm nhạc khác nhau nhưng mỗi khi đến ngày lễ đình làng, họ vẫn tổ chức để thể hiện một truyền thống của nền dân tộc Việt Nam. Về trang phục, những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè là những người nông dân hay là những chòm xóm với nhau, ban đầu họ trình diễn rất mộc mạc bên chiếc áo bà ba hoặc bộ đồ nông dân, ngày sau xã hội càng phát triển con người càng biết làm đẹp cho bản thân mình nên họ tăng tiến thêm nhiều trang phục khác khi tham gia trình diễn ở đình, miếu hoặc trên sân khấu chẳng hạn như nữ mặc áo dài, nam áo dài khăn đóng.

Mỗi vùng miền đều có những nét văn hóa đặc sắc riêng tạo nên một giá trị đẹp riêng biệt. Đó còn là tài sản quý giá là cả một quá trình vun đắp, chăm bồi, phát triển, giữ gìn và truyền lại cho thế hệ mai sau. Xã hội càng phát triển con người càng chạy theo những cái mới, nền âm nhạc cũng vậy được du nhập thêm nhiều nền âm nhạc khác vào Việt Nam nên việc giới trẻ hiện nay càng quên lãng đi những nền âm nhạc truyền thống của ông cha ta gầy dựng nên. Là một sinh viên đựơc sinh ra và lớn lên trên mảnh đất có nhiều truyền thống tốt đẹp, em luôn ý thức được việc giữ gìn và phát triển nền văn hóa dân tộc không chỉ là việc phải làm mà đây chính là nghĩa vụ mà con người Việt Nam cần phát huy để đem nền văn hóa tốt đẹp của nước ta vươn ra một tầm xa của thế giới sánh vai với các cường quốc năm châu.

Xin trân trọng cảm ơn!

Thí sinh Đặng Ngọc Ngận – 037: “NHẠC VIỆT CHI BẢO” – TRẦN VĂN KHÊ NGƯỜI KHƠI MẠCH SỐNG CHO ÂM NHẠC DÂN TỘC

Nguyễn Quốc Thệ

· 💧♥️Thí sinh Đặng Ngọc Ngận – 037

💧♥️“NHẠC VIỆT CHI BẢO” – TRẦN VĂN KHÊNGƯỜI KHƠI MẠCH SỐNG CHO ÂM NHẠC DÂN TỘC

Đặng Ngọc NgậnHọc viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.Hồ Chí Minh

Giáo sư Trần Văn Khê được sinh ra trong một đêm rằm tháng 6 âm lịch năm Tân Dậu (1921) tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang). Xuất thân trong một gia đình mà cả bên nội và bên ngoại đều am hiểu nhạc cổ truyền, từ những ngày còn trong bụng mẹ cho đến lúc lớn lên, sự gắn bó với âm nhạc kịch nghệ truyền thống như một “thiên duyên” mà số phần đã sắp đặt sẵn cho cuộc đời Thầy, để rồi sau này, dân tộc ta có một “Nhạc Việt chi bảo” mà thế giới vô cùng trân quý.

1. Giáo sư Trần Văn Khê với những đóng góp lớn lao trong nghiên cứu và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới

Ngày 11 tháng 11 năm 1959, trên tờ báo Journal die Jura người ta đã nhắc đến Thầy rằng, “ông Trần Văn Khê, một người nghệ sĩ, một nhà thông thái và một khách hào hoa”. Từ vùng đất Paris hoa lệ, Thầy đã đi khắp châu Âu để giới thiệu quê hương mình cùng những câu ca điệu hát, qua vốn nhạc thuật cổ kính và tế nhị của một người nghệ sĩ tài hoa. Qua những lần biểu diễn của Thầy, nhân dân quốc tế đã phải thốt lên rằng “thêm một lần nữa, chúng ta ý thức rằng nền văn minh Tây Phương chẳng phải là nền văn minh duy nhất, cũng không phải hẳn là nền văn minh đẹp nhất và tiên tiến nhất…”. Để có được những nhận định như vậy từ bạn bè thế giới, chắc chắn rằng, Giáo sư Trần Văn Khê của chúng ta đã phải nỗ lực không ngừng trong hành trình hoạt động khoa học và nghệ thuật với một niềm hi vọng lớn lao – đem âm nhạc Việt Nam, gắn vào bức tranh văn hóa nghệ thuật toàn bích của nhân loại.

1.1 Trước hết, chúng ta có thể thấy những nghiên cứu về âm nhạc chính là thành quả của cả một đời lao động và cống hiến của Thầy. Từ năm 1954 đến năm 1958, Thầy đã đi sâu nghiên cứu về âm nhạc truyền thống Việt Nam, một mặt phục vụ cho việc hoàn thành luận án của mình, mặt khác đã giới thiệu âm nhạc dân tộc cho những người yêu nhạc trên thế giới. Thầy là người đã đem nhạc Việt góp mặt với nhạc của các nước trên thế giới trong những công trình như: Bách Khoa tự điển về âm nhạc của nhà xuất bản Fasquelles, Gallimard (Pháp); Unione Tipografico Editrice Torinese (Ý); Sân khấu nước Việt trong công trình Sân khấu các nước Á Châu do Jean Jacquot thuộc Trung tâm nghiên cứu Khoa học ở Pháp xuất bản; khảo luận nghiên cứu về âm nhạc truyền thống Việt Nam trên các tạp chí như: Tạp chí Nghệ thuật Á Châu (Arts Asiatiques); Tạp chí Nhạc học (Revue de Musicologie) ở Paris; Tạp chí Pháp – Á (France Asie) ở Tokyo; Tập san của Hội nghiên cứu các vấn đề ở Đông Dương (Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises) ở Việt Nam,… cũng như rất nhiều công trình nghiên cứu trên các tạp chí trong nước và quốc tế.

Trong quá trình nghiên cứu âm nhạc truyền thống Việt Nam, Thầy đã dành nhiều thời gian tra thư mục trong thư viện, đến các bảo tàng nghe các băng từ, đĩa hát cũng như đi điền dã, ghi âm chụp ảnh và viết những công trình nghiên cứu hết sức ý nghĩa về âm nhạc truyền thống Việt Nam. Ngày trở về quê hương, toàn bộ “gia tài” mà Thầy tạo dựng đã được đem về cho dân tộc. Với vốn tài sản tinh thần đồ sộ gồm 6.420 cuốn sách; 4.266 tạp chí; 108 bản báo và những cây đàn; những cuốn sổ ghi chép, băng ghi âm và ghi hình nhiều tư liệu âm nhạc quý hiếm mà cả đời Thầy chắt chiu, góp nhặt đã được sắp xếp cẩn thận để đưa về quê nhà sau hơn 55 năm Thầy ở xứ người.

Cả cuộc đời của mình, Thầy thực sự đã góp phần rất lớn lao trong việc nghiên cứu âm nhạc truyền thống Việt Nam. Đó cũng chính là một trong những mục đích mà suốt đời Thầy theo đuổi, minh chứng cho sự cố gắng nỗ lực gieo mầm yêu âm nhạc dân tộc vào trong tâm hồn mọi người.

1.2 Bên cạnh sự miệt mài nghiên cứu về âm nhạc dân tộc, việc quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới cũng là một sự kiên trì không mệt mỏi, khiến nhân loại phải nghiêng mình kính phục Thầy, một người Việt Nam yêu nước và tài hoa.

Từ năm 1958, khi nhận bằng tiến sĩ Văn chương (Khoa Nhạc học) tại Đại học Sorbonne với luận án Âm nhạc truyền thống Việt Nam (La musique Vietnamienne traditionnelle) Thầy đã vô cùng chú ý đến việc quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới. Bằng sự nỗ lực của mình, Thầy đã góp phần đưa Quan họ, Ca trù, Hát bội, Đờn ca tài tử… của nước ta ra thế giới với vai trò là một nhà nghiên cứu khoa học và cũng là một người nghệ sĩ.

Ngoài việc quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới qua các công trình nghiên cứu khoa học, các cuộc diễn thuyết về âm nhạc truyền thống Việt Nam tại các nhạc viện, các trường đại học tại Pháp, Anh; Hà Lan; Thụy Sĩ; Nhật Bản,… Thầy còn đưa nhạc Việt đến với thế giới bằng cách thu đĩa hát cũng như diễn tấu âm nhạc dân tộc trong các buổi hòa nhạc, truyền thanh, truyền hình tại các nước như Pháp, Anh, Thụy Sĩ, Ấn Độ, Ba Tư, Nhật Bản,…

Theo cách nói của Thầy, thì việc quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới với chủ trương khai thác và phổ biến dân ca, cổ nhạc để bảo vệ một kho tàng có thể bị tiêu tan, chọn lọc những bảo vật tiêu biểu cho tinh hoa dân tộc dùng trong việc trình bày văn hóa nước nhà cho người ngoại quốc và làm căn bản cho một nền nhạc Việt sâu sắc và phong phú hơn. Thầy cũng luôn nhấn mạnh một kinh nghiệm sống còn trong quảng bá âm nhạc dân tộc ra thế giới, đó là khi đưa nghệ thuật truyền thống dân tộc ra nước ngoài biểu diễn, phải chú ý kết hợp với giới thiệu, giảng giải ngắn gọn cho người ta hiểu, “chúng ta phải trao cho người nước ngoài cái chìa khóa để vào vườn âm nhạc Việt Nam”.

2. Đờn ca tài tử Nam bộ – Di sản văn hóa nhân loại, một kết quả xứng đáng cho sự cố gắng và nỗ lực của các bậc tiền nhân

Khi xác lập vị trí của Đờn ca tài tử Nam bộ trong nền âm nhạc dân tộc, Giáo sư Trần Văn Khê nhấn mạnh “Đờn ca tài tử là thể loại nhạc thính phòng đặc thù của miền Nam, cũng như Ca trù của miền Bắc và Ca Huế của miền Trung”. Trong khảo cứu của mình, Thầy cũng đã chỉ rõ Đờn ca tài tử hình thành vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhờ các nhạc sĩ, nhạc quan của triều Nguyễn theo phong trào Cần Vương vào Nam đem theo truyền thống Ca Huế (thêm chút hương vị xứ Quảng). Theo hành trình Nam tiến, tiếp xúc với văn nghệ dân gian (những câu hò, điệu lý), nhất là phong trào đờn ca ở đây đã sẵn có, Đờn ca tài tử, vì thế mà hình thành và phát triển như một món ăn tinh thần không thể thiếu vắng trong nền âm nhạc truyền thống của dân tộc.

Giáo sư Trần Văn Khê cũng nhấn mạnh rằng “ngoài ý nghĩa là người có tài, “tài tử” trong “Đờn ca tài tử” còn được dùng để chỉ sự không dùng tiếng đờn giọng hát làm kế sinh nhai. Đờn ca tài tử không phải để kiếm sống mà để giải trí, cùng với bạn đồng điệu hòa đờn cho người mộ điệu thưởng thức, đờn hát để vui chơi với nhau. Người đờn tài tử trước đây hễ vui thì đờn chơi, không “hứng” thì thôi chứ không ai có thể bỏ tiền ra mua tiếng đờn của họ. Dù vậy, nhưng họ thường tập luyện rất công phu, phải cố gắng học từng chữ nhấn, chữ huyền, rao sao cho mùi, sắp chữ sao cho đẹp và tạo cho mình một phong cách riêng.

Cùng với những loại hình nghệ thuật truyền thống khác, Đờn ca tài tử cho đến nay, dẫu trải qua biết bao sự thăng trầm, vẫn có một sức sống lâu bền và mãnh liệt, góp vào bức tranh âm nhạc dân tộc Việt Nam cũng như quốc tế một màu sắc rất đặc trưng. Ngày 05 tháng 12 năm 2013, nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam bộ đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đó cũng chính là một kết quả xứng đáng cho sự cố gắng và nỗ lực của các bậc tiền nhân, trong đó có sự nỗ lực của Thầy, Giáo sư Trần Văn Khê.

Vào lúc 02 giờ 55 phút, ngày 24 tháng 6 năm 2015, nền văn hóa nghệ thuật của nhân loại nói chung và của Việt Nam nói riêng đã vô cùng đau lòng khi phải chia xa “Nhạc Việt chi bảo” – Giáo sư Trần Văn Khê đáng kính.

Viết về Thầy, tôi không biết phải viết như thế nào cho phải lẽ… Trong cuộc đời mình, tôi đã thật sự vô cùng may mắn khi được gặp Thầy dù là những lần gặp vô cùng ngắn ngủi, khi biết tôi là một người trẻ nhưng cũng có một niềm quý mến âm nhạc dân tộc, đặc biệt là nghệ thuật Đờn ca tài tử và Sân khấu cải lương, trước những ưu tư trong hành trình học tập của tôi, Thầy đã cười thật tươi và động viên rằng “Con đừng quá băn khoăn đi thế nào cho đúng hướng, chỉ cần sống hết lòng với âm nhạc dân tộc, rồi tự khắc con sẽ thấy mình hạnh phúc thôi”… Thầy là vậy đó, với bất kỳ ai cũng nâng niu và thương mến, tựa hồ như cái tình của một người nghệ sĩ với người mộ điệu tri âm của cuộc đời mình…

“Thâu tóm tinh hoa trời đất lại

Nêu cao văn hiến nước non này”

Nhà nghiên cứu Vũ Khiêu đã viết về Thầy như thế. Và theo thời gian, rõ ràng tinh thần, tư tưởng của Thầy vẫn còn sống mãi, sẽ như những tán cây đời tỏa bóng tươi xanh cho mỗi chúng ta hôm nay và ở cả tương lai sắp tới. Cùng với những nỗ lực của tiền nhân, trong đó có sự góp phần rất lớn của Thầy, nhất là việc nghiên cứu và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới, chúng ta hoàn toàn có thể vững tin rằng âm nhạc truyền thống dân tộc Việt Nam, trong đó có Đờn ca tài tử sẽ phát triển mạnh mẽ, vững bền như tinh thần gieo hạt và truyền lửa của Thầy, Giáo sư Trần Văn Khê – một “Nhạc Việt chi bảo” quý báu của nền văn hóa nghệ thuật nhân loại. —————————————————————————————————

Đặng Ngọc Ngận

Học viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.Hồ Chí Minh

Thí sinh Đặng Thị Hồng Nhung – 038: GS. Trần Văn Khê – Giữ hồn dân tộc bằng giai điêu quê hương& Nhịp Song lang – mộc mạc nhạc cụ Việt Nam1.

Nguyễn Quốc Thệ

· 💧♥️Thí sinh Đặng Thị Hồng Nhung – 038

💧♥️GS. Trần Văn Khê – Giữ hồn dân tộc bằng giai điêu quê hương& Nhịp Song lang – mộc mạc nhạc cụ Việt Nam

1.Tôi tên là Đặng Thị Hồng Nhung, sinh viên của Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Quê hương tôi là Bình Dương – vùng đất trù phú, nổi tiếng một thời là mảnh đất của văn nghệ, thi ca . . .“Ngày hôm nay, mừng lễ ngày sanh, nào anh em ta cùng nhau hòa đờn, nào chị em ta cùng nhau hòa đờn, mừng sức khỏe, mừng sống lâu, ta hòa đờn tình tang vài câu,…”

Những câu hát từ nổi bân khuân khi người dân Việt Nam cứ đến sanh nhật là lại ngân nga những câu hát của người Mỹ “Happy birthday to you…”, đã làm cho một người say mê âm nhạc dân tộc quyết tâm đặt ra một bài hát để cho các bạn Việt Nam nơi đất khách (Pháp) hát để mừng sinh nhật của mình. Ấy vậy mới thấy được lòng yêu nước nồng nàn và mong muốn truyền bá âm nhạc dân tộc của Giáo sư – Tiến sĩ Trần Văn Khê là bao la và vô tận đến đâu. Cùng tâm huyết lưu giữ nét truyền thống quý báu của quốc gia, với ông sự nghiệp bảo tồn nền văn hóa là muôn đời.

Cố Giáo sư – Tiến sĩ Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 07 năm 1921 tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền.

Tháng 6 năm 1958, ông bảo về xuất sắc luận án tiến sĩ với đề tài chính “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” và hai đề tài phụ “Khổng Tử và âm nhạc”, “Vị trí âm nhạc trong xã hội Việt Nam” và trở thành người Việt Nam đầu tiên có bằng tiến sĩ nhạc học tại Pháp. Trong suốt những năm tháng cuộc đời ông luôn tâm niệm giữ gìn và phát huy âm nhạc dân tộc. Ông đã đi qua 67 nước trên thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Trên cả mục đích công việc, đó là sự thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc của một người con hơn 55 năm bôn ba xứ người vẫn luôn đau đáu, làm sao để âm nhạc truyền thống Việt Nam. Thế nhưng chưa bao giờ ông quên mình là một người Việt Nam và một lòng hướng về đấy nước. Nhất là chất giọng đậm chất Đông Nam Bộ của ông, không mai một, thay đổi dẫu bao năm nơi học tập, làm việc đất khách quê người. Mọi hoạt động từ nói chuyện với con cháu, viết thơ, viết sách… ông đều sử dụng Tiếng Việt. Cố giáo sư được xem là báu vật của nước nhà, ông chính là người đã có công nghiên cứu và quảng bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam ra thế giới. Dù ở bất cứ nơi đâu, giáo sư Khê đều nói đến giá trị đặc sắc của âm nhạc dân tộc và tầm quan trọng của việc giảng dạy, quảng bá, khai thác đúng nguyên tắc để bảo tồn và phát huy nó. Năm 2006 giáo sư về nước tiếp tục tham gia nghiên cứu, quảng bá âm nhạc truyền thống, với ông âm nhạc dân tộc là hơi thở. Ở Cố Giáo sư Trần Văn Khê, người ta không chỉ học ở kiến thức uyên thâm, ở sự miệt mài tận tụy không ngơi nghỉ mà còn học ở ông nhân cách lớn. Lúc nào và ở đâu, ông cũng hướng về tổ quốc, về quê hương, về văn hóa dân tộc, khiến ai biết đến cũng vô cùng trân trọng.

Ngày 24 tháng 06 năm 2015, vào lúc 2 giờ 55 phút, Giáo sư trút hơi thở cuối cùng tại Bệnh viên Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh sau thời gian dài lâm bệnh.

2.Từ những ngày bé chập chững bước vào mẫu giáo mỗi chúng ta đều đã từng vào một khoảnh khắc nào đó bắt gặp thứ nhạc cụ rất đỗi bình dị, với tiếng kêu thanh thoát mà bất cứ đứa trẻ nào nhìn vào cũng thấy vui, hòa điệu cùng các bài vè. Nhưng mấy ai trong mình từng biết, từng hiểu và từng nghe qua cái tên Song Lang/ Song Loan. Được xem là nhạc cụ “tổ” của dân tộc Kinh.

Là một loại mõ nhỏ bằng gỗ cứng hình tròn dẹt, Song Loan/Song Lang có hình dáng bé nhỏ so với các nhạc cụ khác, một mảnh gỗ tròn chưa bằng miệng chén. Có một cần gõ uốn mỏng hoặc lá thép có độ đàn hồi, trên đầu cần có gắn miếng gỗ nhỏ để gõ xuống thân của nó, tạo ra âm thanh đều đặn “Cốp ! Cốp !”. Song Loan/Song Lang vốn dùng để giữ nhịp. Từ khi nhạc tài tử xuất hiện, thì Song Lang có vị trí cơ bản trong dàn nhạc tài tử và cải lương. Tuy là nhạc cụ nhỏ bé, nhưng cũng vô cùng quan trọng. Có nghĩa là, mỗi nhạc cụ trong dàn nhạc là do một nhạc công đảm trách, còn Song Loan/Song Lang thì không; bất cứ nhạc công nào cũng có thể sử dụng nó, nhưng người điều khiển Song Lang cũng là người phải có tư duy uyên bác về âm nhạc cũng như có tài lãnh đạo cả dàn nhac. Khi sử dụng Song Lang người ta dùng tay hoặc chân đập vào dùi gõ, dùi gõ đập Song Lang tạo ra âm thanh… Song Lang được sử dụng để cầm nhịp trong nhạc tài tử Nam Bộ, trong sân khấu Cải lương và trong Ca Huế. Song Lang giữ vai chính trong dàn nhạc tài tử và cải lương, nhiệm vụ của nó là giữ trường canh cho các nhạc cụ khác theo đó mà giữ tiết tấu nhịp điệu của mình trong lúc hòa tấu. Có thể nói song loan là nền tảng của nhịp điệu cho cả nhạc và ca, nhất là các bản ngắn trong cải lương “ca nói” của các nghệ nhân đạt yêu cầu là nhờ có tính hiệu của song loan. Vì thế, trong giới cải lương tôn vinh Song Lang như “Tổ” là vậy. Tôi đến với Song Lang từ những ngày ấu thơ, qua những bài vè, những tiết tấu cứ âm vang mãi trong tâm trí bé nhỏ. Từng cuộc thi nho nhỏ nơi góc trường mầm non như tiếp thêm ngọn lửa yêu quý thứ nhạc cụ giản dị như đầy những âm sắc vọng vang khắp xóm làng. Mỗi ngày đến trường, giờ sinh hoạt cùng tiếng Song Lang hòa điệu là niềm vui, là tuổi thơ và là cả một bầu trời kí ức cho lứa trẻ. Lớn dần chúng tôi rời xa nơi đất mẹ, đến với thành phố xa hoa, tráng lệ, nhưng đâu đó trong tâm mình vẫn lưu giữ hình ảnh mập mờ của thứ nhạc cụ ít được nhắc tên. Cũng đâu đó đã có lần, bản thân mình đắm chìm trong thế giới của những điều mới lạ mà quên đi mất thứ tinh thần dân tộc nhỏ bé mà Song Lang lưu giữ và bảo tồn. Vậy mới thấy được người trẻ quả thực đã đôi khi vô tình lãng quên mất giá trị văn hóa đất nước qua những thứ âm nhạc vừa thâm thúy vừa đặc trưng. Chính vì những sự đặc biệt riêng của nó mà không ít lần, Cố giáo sư Trần Văn Khê dành nhiều thời gian để giới thiệu, quảng bá cho người trẻ, người nước ngoài về văn hóa tốt đẹp mà Song Lang mang lại trong đời sống của mỗi con người Việt Nam. Qua đó nhấn mạnh nét đẹp truyền thống từ nhạc cụ âm nhạc dân tộc mà mỗi chúng ta cần bảo tồn, học học, phát huy, và biểu diễn, quảng bá.

Cố GS. Trần Văn Khê là một cây đại thụ trong làng âm nhạc Việt Nam, được tất cả các nhạc sĩ từ già đến trẻ đều yêu quý, ngưỡng mộ. Cái vĩ đại nhất của GS. Trần Văn Khê là hiểu biết của ông về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Dường như tất cả thời gian và tâm huyết của ông đều dành cho việc giảng dạy, sưu tầm nghiên cứu âm nhạc dân tộc cùng với việc đi quảng bá nghệ thuật dân tộc Việt Nam trên khắp năm châu. Ông là một kho tri thức về chèo, tuồng, ả đào, hát xẩm, hát ví, hát bài chòi, điệu hò, điệu lý, nhạc tài tử… Từ vốn kiến thức đồ sộ tích lũy được qua thời gian, GS. Trần Văn Khê như một kho từ điển sống về âm nhạc.

Trong thời đại công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay, với lời nhắn nhủ của Cố Giáo sư sẽ có rất nhiều người nước ngoài đến thăm đất nước chúng ta, nhìn nhận đát nước chúng ta, khi đó người trẻ cần cho họ thấy được nét đặc trưng, đặc biệt và bản sắc của dân tộc Việt Nam.

Do đó, chúng ta mỗi người trẻ cần tự hào rằng, đất nước chúng ta có nền ân nhạc, nền văn hóa rất sâu sắc, chúng ta cần hiểu, biết, thương, học tập, gìn giữ và lan truyền cho khắp năm châu, thì chừng đó cái bản sắc văn hóa văn tộc, nghệ thuật dân tộc có một sinh lực mới và sống trường tồn. Cố Giáo sư đã từng nói “Xin các bạn (trẻ) nhớ, đừng quên, đừng mặc cảm, nước ngoài có những hoàng tráng, chúng ta có những cái tế nhị, nước ngoài có bề ngoài, hào nhoáng, nhưng chúng ta có những bề trong cực thâm thúy, nên nhớ những điều đó…”.

Thí sinh Phan Thị Mỹ Duyên – 039: TƯỞNG NHỚ GS. TRẦN VĂN KHÊ & NHỮNG LỜI RU CỦA MẸ

Nguyễn Quốc Thệ

· 💧♥️Thí sinh Phan Thị Mỹ Duyên – 039

💧♥️TƯỞNG NHỚ GS. TRẦN VĂN KHÊ & NHỮNG LỜI RU CỦA MẸ

Tôi là sinh viên Khoa Du lịch – Trường Đại học Văn Hiến, tôi xin viết vài lời về GS. Trần Văn Khê và chia sẻ về những lời ru của mẹ . . . Sinh ra và lớn lên tại vùng đất miền Tây Nam Bộ nơi có những câu vọng cổ, điệu lý, câu hò. Từ nhỏ tôi đã được ông Nội là một “thầy đờn” của xóm đàn cho nghe, dạy cho tôi hát vọng cổ và những câu hò điệu lý. Mỗi lần thấy Nội cùng các cô chú trong xóm lại nhà và cùng hội hợp đàn hát thì mình lúc nào cũng ngồi nghe say xưa. Vì say mê những câu hò, câu hát ấy nên lúc nào ngủ trưa thì tôi luôn nằng nặc đòi mẹ hát ru để ngủ.

Khi lớn lên tôi vẫn rất thích những câu hò điệu lý và những làn điệu dân ca quê hương. Nên đã học hỏi và tìm hiểu về hát vọng cổ và những câu hò. Là một hướng dẫn viên du lịch nên luôn tôi luôn muốn giới thiệu với du khách và ngoài nước về loại hình nhạc truyền thống Nam Bộ. Cho dù tôi dẫn tour trong nước hay ngoài nước tôi cũng hát để truyền tải hết niềm đam mê về dòng nhạc ấy đến du khách. Đam mê dòng nhạc này nên tôi không thể không biết đến Giáo sư Tiến sĩ âm nhạc Trần Văn Khê là một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền nổi tiếng ở Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư đã viết nên những trang sử vàng đáng nhớ cho nền âm nhạc Việt Nam. Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại vùng đất Tiền Giang trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt), Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm. Thông minh và tài năng ông đã giành được nhiều suất học bổng. Ông là người Việt Nam đầu tiên có bằng Tiến sĩ Nhạc Học tại Pháp. Giáo sư Tiến sĩ Trân Văn khê là người đã có công nghiên cứu và quảng bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam ra thế giới. Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam.

Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, năm 2006, ông chính thức trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc. Ngoài ra ông còn quan tâm đến việc giảng dạy cho các cháu nhỏ. Đấy chính là một biện pháp để duy trì nền âm nhạc dân tộc Việt Nam. Ông tự mình mở nhiều lớp và có các câu lạc bộ để thu hút các cháu.

Việc làm của ông trong phạm vi không lớn lắm nhưng có thể nói rằng ông là con người cả đời đã cống hiến cho nền âm nhạc dân tộc Việt Nam. Nói về một con người thì có lẽ đấy là điểm đậm nhất, đẹp nhất về ông. Sau một thời gian bị bệnh, ông qua đời vào khoảng hai giờ sáng ngày 24 tháng 6 năm 2015 tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh.

2.Nghệ thuật hát ru Nam Bộ chẳng mấy ai nghĩ rằng mình nên người là nhờ tiếng ru của mẹ. Và, cũng chẳng mấy ai nhớ câu ru nào mẹ đã ru mình.

Hát ru là bài hát đầu tiên cho một con người mới cất tiếng khóc chào đời. Bài hát đó được cất lên từ nỗi sung sướng hay cơ cực, hân hoan hay buồn tủi… do chính người mẹ đã mang nặng đẻ đau sinh ra một hình hài. Ngay từ xa xưa ở Việt Nam, phần lớn các câu trong bài hát ru con lấy từ ca dao, đồng dao, hay trích từ các loại thơ hoặc hò dân gian được truyền miệng từ bà xuống mẹ, thế hệ trước sang thế hệ sau. Do đó, những bài hát này rất đa dạng mộc mạc và mang đậm chất người dân lao động miền Tây.

Ầu ơi… ví dầu.Cầu ván đóng đinh.

Cầu treo lắc lẻo,Gập ghềnh khó qua…

Ầu ơ i…Khó qua mẹ dắt con qua…

Con đi trường học,Mẹ đi trường đời…

Đối với tôi những câu hát ấy như in vào tâm trí đến tận bây giờ. Cho dù ở nơi đâu và ở vị trí nào tôi cũng luôn gìn giữ và tiếp nối với những văn hóa dân gian Việt Nam. Mong sau này những câu hát ru sẽ được nhiều người biết đến và hát ru con. Thay vào đó cho các cháu sau này biết thêm về nghệ thuật hát ru. Để trẻ thơ ngày nay không phải chỉ biết gắn liền với các thiết bị thông minh mà còn biết được rất nhiều điều bổ ít từ trong những lời ru câu hát.

Các bạn trẻ như tôi có hứa với tôi sau này chúng ta có chồng, sinh con thì nhất định hát ru thật hay cho con mình nghe không?