Jour : 20 juillet 2021

Thí sinh Hồ Vũ Thủy Tiên – 031: Từ quê hương của Di sản thế giới BÀI CHÒI, viết về cây đại thụ của nền âm nhạc truyền thống Việt Nam (Hồ Vũ Thủy Tiên – Quảng Ngãi)

Nguyễn Quốc Thệ

dftYdSuescttSheSrplddoaay lnsatr 5So:r0rml2 PuceMdr  · 💧♥️Thí sinh Hồ Vũ Thủy Tiên – 031

💧♥️

Từ quê hương của Di sản thế giới BÀI CHÒI, viết về cây đại thụ của nền âm nhạc truyền thống Việt Nam (Hồ Vũ Thủy Tiên – Quảng Ngãi)

Thấm thoát đã tròn 100 năm ngày sinh của Giáo sư Trần Văn Khê – Người truyền lửa và đưa âm nhạc truyền thống Việt Nam đến với bạn bè thế giới. Ông đã dành cả cuộc đời của mình cho âm nhạc, cho những giai điệu bắt nguồn từ đời sống văn hóa đặc trưng của người Việt Nam.


GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ – NGƯỜI TRUYỀN LỬA TÌNH YÊU ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM


Ngược thời gian về ngày 24 tháng 7 năm 1921, GS Trần Văn Khê được sinh ra trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ và sống với âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Ông được tiếp xúc âm nhạc ngay từ thuở lọt lòng cả khi chơi, khi ngủ. Âm nhạc là truyền thống của gia đình, trở thành hơi thở, thành ước mơ và ngọn lửa cháy bổng trong lòng của ông.
Tròn một tuổi, Trần Văn Khê đã bộc lộ sự cảm âm trong tiếng đờn của ông nội, ông đờn nhanh thì nhảy nhanh, còn đàn chậm thì nhảy chậm. Rồi cứ thế, ông bắt đầu tập và chơi nhuần nhuyễn các loại nhạc cụ, hiểu rành rọt các thể điệu, kiểu cung lại thêm truyền thống gia đình, lớn lên được tiếp thu nền Tây học rồi lại được du học Pháp là điều kiện để ngọn lửa âm nhạc trong ông tiếp tục rực cháy trở thành người truyền lửa tình yêu âm nhạc nước nhà.


Năm 1942, cậu bé Trần Văn Khê ngày nào đã trở thành chàng trai 21 tuổi chất phác, hồn hậu, học giỏi và được đại diện học tại trường Y Hà Nội. Ông học y để chữa bệnh cứu người và cũng có nhiều đóng góp trong nền âm nhạc lúc bấy giờ. Lần tham gia cách mạng, ông dùng âm nhạc làm vũ khí khích lệ tinh thần lạc quan của đồng bào mình trong kháng chiến. Rồi năm 1949, ông được sang Pháp du học và sau đó làm luận án tiến sĩ với đề tài “Âm nhạc truyền thống việt Nam”.


Vào năm 1958, ông bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ chủ đề về “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” của Đại học Sorbonne, Pháp. Từ đó, ông bước vào con đường nghiên cứu, giảng dạy, diễn thuyết liên tục tại Pháp và nhiều quốc gia. Đây chính là mốc thời gian đáng nhớ, khi Trần Văn Khê – tiến sĩ âm nhạc người Việt đã mang tiếng lòng dân tộc Việt Nam đến bè bạn năm châu, để hiểu hơn về dân tộc Việt ngoan cường nhưng tâm hồn luôn đầy những âm sắc bay bổng. Âm nhạc chính là nghề nghiệp, là hơi thở, cũng là tình yêu và khát vọng cháy bổng của Giáo sư Trần Văn Khê.


Vì hoàn cảnh đất nước, Giáo sư Trần Văn Khê phải sống ở nước ngoài đến hơn nửa đời người. Vậy nhưng 57 năm bôn ba ở nơi đất khách, trái tim ông hướng về Việt Nam và luôn tự hào là người Việt Nam.

“Chất giọng của ông vẫn mang những nét đặc trưng Nam bộ, không hề pha tạp. Và ông chỉ dùng tiếng nước ngoài khi nào buộc phải giao tiếp với người nước ngoài. Còn lại, ông luôn say mê, vui vẻ sử dụng tiếng Việt” (Trích theo tác giả Minh Trần – Báo CAND Xuân 2016). Có một câu nói để đời của Giáo sư Trần Văn Khê được lưu truyền mà tôi vô cùng tâm đắc: “Có người gọi công việc tôi đã làm có tánh tiếp thị âm nhạc Việt Nam đến bạn bè thế giới. Thực ra, tôi chỉ đơn giản muốn mọi người biết về nét đẹp của đất nước mình”. Có thể thấy, tình yêu nước của Giáo sư thật đẹp và đất nước Việt Nam trở nên đẹp hơn với bạn bè thế giới qua công việc của GS Trần Văn Khê. Đất nước mình thật đẹp với những nét đơn sơ, mộc mạc nhưng chất chứa cả cái tình, cái nghĩa như tiếng đàn bầu trong ngôn ngữ thi ca: “Đất nước tôi thon thả giọt đàn bầu” hay “Lắng tai nghe đàn bầu, thánh thót trong đêm thâu/ Tiếng đàn bầu của ta, cung thanh là tiếng mẹ, cung trầm là giọng cha…” Thật vậy, cấu tạo của đàn bầu rất đơn giản, chỉ với một dây đàn nhưng lại thể hiện được đầy đủ mọi giai điệu truyền thống trên cơ sở giàu âm điệu, giàu sức diễn tả với âm thanh phong phú của ngôn ngữ người Việt.
Với tình yêu âm nhạc truyền thống Việt Nam, ông lặn lội khắp các miền đất nước, ghi âm, chụp hình được trên 500 bài dân ca, dân nhạc các loại nhằm tìm hiểu cặn kẽ một nền âm nhạc đa dạng và sâu rộng, cố gắng ghi lại cũng như phục hồi những gì sắp bị chìm vào quên lãng; kêu gọi gìn giữ cái hay, cái đẹp cho thế hệ sau. Sau mấy mươi năm nghiên cứu và giảng dạy tại Pháp, năm 2006, GS. Trần Văn Khê nhất quyết trở về quê hương để sống và cống hiến trong những năm tháng cuối đời cho nền âm nhạc dân tộc nước nhà.
Cả một đời xây một chữ tình
Chẳng vì duyên lợi chẳng vì danh
Tình quê, tình nước, tình nhân loại
Tình nhạc, tình thơ, tình với tình
Thiên phú trời cho đâu đã chắc
Trao dồi luyện tập mới nên tinh
80 ngoài tuổi ngồi ghi lại
Chút lửa tình trao kẻ hậu sinh
(Giáo sư Trần Văn Khê)
“Hậu sinh” mà GS Trần Văn Khê nhắc đến trong đoạn thơ trên là những lời gởi gắm “lửa tình” cho bạn trẻ. Ông dành cả một cuộc đời để ghi lại những giai điệu khắp các miền tổ quốc chỉ mong “hậu sinh” tiếp tục giữ gìn và phát huy. Chúng ta có thể tiếp thu âm nhạc theo thời đại, nhưng không được làm mất đi những giai điệu âm nhạc truyền thống. Bởi vì, âm nhạc truyền thống chính là hơi thở, là linh hồn của văn hóa Việt Nam.
Giáo sư Trần Văn Khê từng cho rằng, trải qua bao thời đại, cha ông ta đã tạo dựng và lưu truyền những nét đặc thù của âm nhạc truyền thống Việt Nam. Khởi nguồn từ những bài hát ru của các bà các mẹ đưa con trẻ chìm vào giấc ngủ, đến bài đồng giao tuổi thơ cùng đám bạn chạy khắp làng. Những ca từ mang tính giáo dục tốt đẹp về kính trên nhường dưới, về ơn nghĩa sinh thành: “Một lòng thờ mẹ kính cha…”. Rồi những buổi đập lúa ngoài đồng, trồng cây ngô, cây sắn người nông dân hò mấy câu lý làm không khí vui tươi và bớt đi mệt nhọc. GS Trần Văn Khê đã dành cả cuộc đời để nói chuyện về nhạc dân tộc với sự kỳ vọng dành cho lớp trẻ, để chúng ta có thể cảm, hiểu, yêu và nhận thức được giá trị đích thực mà âm nhạc dân tộc đem lại.
Thấm thoát, đã 6 năm ngày mất của Giáo sư Trần Văn Khê, cảm xúc của tôi vẫn còn chất chứa những hối tiếc vì chưa được một lần được nghe thầy giảng bài, chưa một lần gặp mặt. Đối với tôi, ông như một người thầy chắp thêm lửa cho tình yêu âm nhạc truyền thống của người Việt Nam mà tôi vô cùng ngưỡng mộ.
Một ngày tháng bảy tưởng nhớ GS Trần Văn Khê – Người truyền lửa tình yêu âm nhạc truyền thống Việt Nam!


2. HÁT LÝ – MỘT LÀN ĐIỆU DÂN CA PHONG PHÚ
Sinh ra ở một vùng quê nghèo miền núi thuộc tỉnh Quảng Ngãi, tuổi thơ tôi gắn với cái nắng miền Trung cháy da thịt, cùng người dân chất chứa nghĩa tình. Từ nhỏ, tôi đã sống cùng ông bà ngoại – thế hệ đã trải qua những năm tháng chiến tranh hào hùng của dân tộc. Sau năm 1975, ông bà có với nhau sáu mặt con rồi tăng gia sản xuất nuôi nấng con nên người. Đến khi mẹ sinh ra tôi, lại phải lặn lội đi làm ăn xa nên tôi lớn lên trong vòng tay chăm sóc yêu thương của ông bà.
Một ngày đầu tháng bảy, tôi chợt nghe đâu đó “Bông xanh, bông trắng rồi lại vàng bông, ơi bạn ơi!” tôi lại nhớ về những bài lý mà bà ngoại hay hát cho tôi nghe. Tôi hay hỏi bà “Sao ngoại thuộc mấy bài hát này, ai bày ngoại học dãy?”. Ngoại tôi đáp: “Tao có biết chữ đâu mà học, từ thời bà cố tụi mày hát nên tao nhớ đến giờ”. Tôi cười tít mắt rồi nói “Ngoại hát thêm mấy bài nữa cho con nghe nghen, con thuộc để sau con hát cho con của con nghe.”. Hai bà cháu cứ thế mà trò chuyện quên cả thời gian. Tình yêu những làn điệu dân ca Việt Nam trong tôi cũng bắt nguồn từ dạo ấy.
Hát lý theo Wikipedia định nghĩa: “Hát lý trong âm nhạc dân gian Việt Nam, là một trong rất nhiều làn điệu dân ca của người Việt, mộc mạc, giản dị. Lý cùng với các làn điệu khác như hò, cò lả, nam ai, nam bình, hát xoan, hát xẩm, hát ru,… tạo những nét độc đáo của dân ca Việt Nam. Điệu lý đặc biệt phát triển ở Trung Bộ và Nam Bộ, miền Trung là trung tâm của các điệu lý. Hát lý được phân biệt với hò vì không gắn liền với một động tác lao động hay giao duyên. Lý cũng có nhạc tính cố định hơn hò, câu hát đều đặn, trong khi hò có thể thêm câu dài câu ngắn, tùy người hát.”
Định nghĩa thì dài dòng thế thôi nhưng ở quê tôi từ trẻ nhỏ đến người già ai cũng hò được các điệu lý. Cứ mỗi lần nghe một điệu lý đâu đó cất lên, là cả một vùng quê êm đềm, cánh đồng, con sông như hiện ra trước mắt. Câu chữ trong điệu lý là hình ảnh đời sống giản dị từ sinh hoạt, lễ hội đến lao động của người dân Việt Nam. Lý là những câu hát bình dân, tác giả là những người dân quê chân chất, chỉ vài câu từ cũng tạo nên một bài lý xua tan cái mệt nhọc. Chẳng ai nhớ một bài Lý gốc hoàn chỉnh từ đâu mà có, chỉ biết Lý truyền khẩu từ người này qua người khác, rồi lan ra từ vùng này qua vùng khác. Cứ thế, mà một cái tên nhưng có hàng chục kiểu hát, ca từ khác nhau. Những bài lý cùng xuất phát từ một câu ca dao gốc có lời ca giống hoặc gần giống nhau, người dân vùng miền đã sáng tạo thêm hoặc bớt một số từ địa phương để hát:
Ai mang con sáo sang sông
Để cho con sáo sổ lồng sáo bay
(Lý con sáo sang sông – quan họ Bắc Ninh)
Ai đem con sáo sang sông
Nên chi con sáo sổng lồng bay xa
(Lý con sáo – Thừa Thiên Huế)
Ai đem con sáo sang sông
Cho sáo sổ lồng con sáo bay xa
(Lý con sáo – Nam Bộ)
Cùng là đề tài con sáo nhưng mỗi bài Lý lại thể hiện dấu ấn địa phương khác nhau. Đó cũng là một trong những yếu tố tạo nên đặc trưng của văn học dân gian và bản sắc văn hóa vùng miền của Việt Nam. Mỗi lần nghe điệu lý, điệu hò cất lên, tôi lại thầm biết ơn GS Trần Văn Khê với những công trình nghiên cứu mà ông để lại từ nhạc cụ đến làn điệu dân ca truyền thống Viêt Nam. Đến nay, nhiều vùng quê tại miền Trung của tôi cũng vẫn giữ được nét đặc trưng của hát lý, rồi lại tạo ra nhiều bài khác để cùng hát cho nhau nghe trong những ngày tăng gia sản xuất.
Việc học hát những làn điệu dân ca chính là một cách để gìn giữ và tiếp nối văn hóa dân gian của Việt Nam. Dù ở lứa tuổi nào, chúng ta cũng nên tìm hiểu và học hát những làn điệu dân ca của Việt Nam (nhất là trẻ nhỏ). Đừng để tuổi thơ của các em chỉ gắn với điện thoại, máy tính và các thiết bị công nghệ khác. Hãy cho trẻ được tiếp cận với văn hóa truyền thống Việt Nam từ âm nhạc dân gian. Bởi những làn điệu dân ca truyền thống luôn mang tính giáo dục, răn dạy chúng ta những đức tính tốt, biết sẻ chia và biết nhớ ơn cội nguồn.
Quảng Ngãi, 12 tháng 07 năm 2021
Hồ Vũ Thủy Tiên

Thí sinh HỒ NHỰT QUANG 035: GS.TS TRẦN VĂN KHÊ VÀ GIÁ TRỊ LỜI RU TRUYỀN THỐNG

Nguyễn Quốc Thệ

1tSiponsoiurehsd  · 💧♥️Thí sinh Hồ Nhựt Quang – 035

💧♥️GS.TS TRẦN VĂN KHÊ VÀ GIÁ TRỊ LỜI RU TRUYỀN THỐNG

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18/07/2021

Thí sinh: Hồ Nhựt Quang

Có lẽ trong mỗi chúng ta, nhất là những ai được sinh ra trước thế hệ Gen Z đều được lớn lên bằng dòng sữa mẹ và lời ru của mẹ. Nội dung lời ru là những thông điệp của người mẹ, người chị, có khi là của người bà hoặc ông, cha, anh…chia sẻ tình cảm về tình yêu quê hương đất nước, tình cảm gia đình, tâm sự buồn vui, ví von trong cuộc sống. Khi ở tuổi còn thơ, chắc chắn chúng ta không thể hiểu được nội dung lời ru là gì, chỉ đón nhận bằng tiết tấu êm dịu, tình cảm và sự trân trọng, bảo bọc, tạo nên cảm giác được an trú để ta chìm vào giấc ngủ nồng nàn, để rồi khi lớn lên, nó trở thành ký ức đẹp khiến ta khắc khoải mỗi khi nhớ về tuổi thơ.

Thú thật, vào trước năm 1995, tôi chưa thể hiểu lời hát ru quý giá thế nào, may mắn, tôi đã được GS.TS Trần Văn Khê- người từ Pháp về trường ĐH KHXH-NV giảng cho sinh viên chúng tôi nghe về văn hóa nghệ thuật truyền thống Việt Nam, trong đó có hát bội, đờn ca tài tử và cải lương, nghệ thuật khóc và cười trên sân khấu…và đã có nói về giá trị lời hát ru trong thai giáo: “Sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn!”

GS-TS Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 năm Tân Dậu, nguyên quán tại làng Đông Hòa (Vĩnh Kim-Tiền Giang ngày nay). Thầy được sinh ra trong một dòng dõi cao quý, cụ cố ngoại của thầy là tướng Nguyễn Tri Phương- một danh thần đầy khí tiết triều Nguyễn. Cả hai bên nội ngoại đều là những gia đình có truyền thống âm nhạc –nghệ thuật nổi tiếng, như thầy đờn Năm Diệm (ông nội), thầy đờn Bảy Triều (thân phụ), cô thứ ba là bà Ba Viện (Trần Ngọc Viện)- người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban. Cậu thứ năm là thầy đờn Năm Khương (Nguyễn Tri Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, cũng là nhà soạn tuồng. Chính vì được sinh ra trong gia đình có truyền thống văn hóa- âm nhạc như thế nên ngày thầy ra đời cũng có sự đặc biệt. Thuở sinh tiền, thầy kể lại rằng: “Hồi má tôi mang thai tôi, thiệt sự là chưa có ai nghĩ đến chuyện thai giáo, chưa biết chăm sóc sức khỏe sanh sản như thế nào là đúng khoa học, phần nhiều dưới quê là nghe lời khuyên của mụ vườn. Gia đình tôi thì có cái khác đó là sau giờ nghỉ trưa, cậu Năm tôi lại đem ống sáo đến thổi những bản đờn truyền thống trong nhạc tài tử cho má tôi nghe. Mỗi ngày mợ Năm tôi đều xoa xoa, vuốt ve bụng má tôi và rồi thủ thỉ nói chuyện một cách êm dịu với em bé trong bụng, thậm chí hát ru ít câu cho em bé nghe… Cậu Năm tôi ý tứ lắm, không cho má tôi đi xem hát bội vì sợ má tôi dễ bị hoảng hốt khi nhìn mặt tướng có nét vẽ vằn vện hoặc là đấu kiếm đấu võ, hò hét khiến ảnh hưởng em bé. Trong phòng ngủ của má tôi, cậu Năm cho treo tranh Tố Nữ, tức là bốn người phụ nữ đờn với vẽ mặt thanh tú đôn hậu. Đến ngày chuyển bụng, mợ Năm tôi luôn túc trực cạnh giường, chuyện trò cho má tôi an tâm bớt lo lắng. Khi tôi vừa lọt lòng thì cậu Năm tôi thổi sáo, chào mừng tôi ra đời. Nghe má tôi kể lại như vậy, tôi cảm thấy rất diễm phước và diễm phước nữa đó là tôi được lớn lên trong gia đình yêu âm nhạc truyền thống, được lớn lên nhờ lời ru của má và mợ. Sau này, khi nhà tôi mang thai con trai đầu lòng là Trần Quang Hải, tôi cũng chăm sóc giống như vậy.” Thông qua các bài diễn thuyết của thầy, tôi đã say sưa nhiều điều thú vị về văn hóa và nghệ thuật truyền thống Việt Nam, hiểu được giá trị ấy đặc biệt quan trọng như thế nào đối với vận mệnh của dân tộc. Thầy đã kết luận tại buổi nói chuyện rằng: Văn hóa còn thì đất nước còn. Có lẽ vì thế, từ một người có chuyên ngành y khoa, học về chính trị, từ một người giỏi về âm nhạc phương Tây, là bạn thân của những nhạc sĩ trứ danh như Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng…thầy chuyển sang nghiên cứu văn hóa-âm nhạc dân tộc Việt Nam. Tháng 6 năm 1958, thầy đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne với luận văn có tên: “LaMusique vietnamienne traditionnelle” (Âm nhạc truyền thống Việt Nam). Mang khát vọng muốn truyền bá văn hóa và nghệ thuật truyền thống Việt Nam vinh danh trên tầm thế giới, từ năm 1963, thầy dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de Paris), trở thành thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác. Thầy còn là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies). Từ lúc xuất dương năm 1949, đến ngày hồi hương năm 2006, thầy đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về văn hóa và âm nhạc dân tộc Việt Nam.

Câu chuyện về cuộc đời và sự nghiệp của thầy giúp tôi có nhiều thay đổi và định hướng tích cực hơn trong cuộc sống. Khi về nước với rất nhiều tài liệu quý của mấy chục năm nghiên cứu và giảng dạy ở nước ngoài, thầy đã sinh sống tại ngôi nhà địa chỉ 32- Huỳnh Đình Hai (Q.Bình Thạnh-TPHCM) tiếp tục chia sẻ về văn hóa –nghệ thuật dân tộc. Bản thân tôi rất ngại ngùng khi tiếp xúc với người nổi tiếng vì sợ ai đó đánh giá khác về mình, tuy nhiên, khoảng cách ấy đã bị xóa nhanh vì 2 lý do:

– Lý do thứ nhất, khi chúng ta gặp GS.TS Trần Văn Khê, chúng ta sẽ nhận được nhiều năng lượng tích cực bởi vì thầy luôn hòa nhã, thân thiện, luôn khen những điều chúng ta đã làm được để chúng ta phấn chấn phát huy hơn. Ở những khuyết điểm của chúng ta thì thầy không bao giờ chê trách, mà sẽ cho chúng ta những giải pháp chọn lựa, nhờ đó chúng ta biết cách tự chuẩn hóa kiến thức và phát huy năng lực bản thân.

– Lý do thứ hai, đừng nghĩ rằng bề dày thâm sâu trong hiểu biết và học vị cao của thầy sẽ làm chúng ta khó với tới, khó tiếp cận. Điểm độc đáo là thầy luôn hóa giải điều khó hiểu thành dễ hiểu, ứng dụng linh hoạt của học thuật mang tính bác học và dân gian ở mức dung dị và hòa hợp nhất để bất kỳ ai dù ở địa phương nào, già hay trẻ, thuộc chuyên ngành khoa học tự nhiên hay xã hội cũng đều dễ hiểu, dễ thực hiện nhất. Thầy quan niệm rằng, đừng trách giới trẻ không quan tâm văn hóa- nghệ thuật truyền thống, mà phải tìm cách giúp cho giới trẻ hiểu biết về văn hóa-nghệ thuật nước nhà, có hiểu thì mới yêu quý, có yêu quý thì mới biết gìn giữ.

May mắn được thầy truyền lửa để cùng thầy chia sẻ về văn hóa ẩm thực, trang phục, lễ giáo, nghệ thuật đờn ca tài tử cải lương, hát bội, hát ru, nghề truyền thống…Thầy đã lập cho tôi một câu lạc bộ văn hóa-nghệ thuật ngay tại hội trường tư gia của thầy mang tên CLB Nghiên cứu và Vinh danh Văn Hóa Nam Bộ được báo đài và nhiều quý vị học giả quan tâm sâu sắc. Trong các chuyên đề nghiên cứu, thầy băn khoăn nhất về việc bảo tồn hát ru Việt Nam vì rất hiếm khi nghe ai đó ru con ngủ như ngày xưa. Tôi còn nhớ thầy đã rất xúc động khi tôi lên sân khấu giao lưu hát ru Nam bộ minh họa cho buổi diễn thuyết của thầy về chủ đề thai giáo vào ngày 12/05/2010. Hôm đó, tôi đã hát ru mấy câu mà ngày xưa bà ngoại tôi đã ru tôi ngủ:

Ầu ơ…con tôi ngủ dại ướt manh,

Mẹ nằm phần ướt, ráo dành cho con.

Ngày sau, con có lớn khôn

,Mẹ già trí lẫn, ầu ơ…mẹ già trí lẫn, chớ hờn nghe con…ơ ầu ơ…

Chưa dứt câu hát ru, tôi đã nghe dưới hàng ghế khán giả có nhiều tiếng nấc nức nở và tôi cũng xúc động rưng rưng khi nhớ về bà ngoại của tôi. Tiếng hát ru của Việt Nam mình lạ lắm, không giống quốc gia nào đâu, có bản sắc rất riêng, mang tính vùng miền khác nhau, chất liệu từ ngữ và giai điệu cũng khác nhau nhưng trầm lắng, luyến láy êm dịu thiết tha. Nội dung lời hát ru của miền Nam lại rất đặc biệt ở chỗ không bị giới hạn kiêng kỵ gì. Ví dụ như vài trường hợp dưới đây:

– Than thở khi biết chồng có vợ bé hoặc muốn đi lấy chồng khác mà sợ phải xa con (có khi không phải thực tế là vậy):

Gió đưa bụi chuối sau hè,

Anh mê vợ bé, bỏ bè con thơ.

Trời mưa bong bóng bập bồng

,Mẹ đi lấy chồng, con ở với ai…

– Mượn món ăn nói về tình mẫu tử, mượn cách làm món ăn để ru con:

Cơm nào ngon, bằng cơm với cá,

Tình nào bằng tình má thương con.

Dí dầu con cá nấu canh,

Bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm.

– Khuyên con biết yêu văn hóa phong tục:

Con ơi, đừng sợ lân đình,

Đừng ghê ông hổ, mà mình tội thêm.

Tội là bỏ tổ, bỏ tiên,

Nhang tàn khói lạnh, tiền hiền quạnh hiu.

Người mẹ chắc chắn không cần phải cố thể hiện như một nghệ sỹ nhưng em bé sẽ tiếp nhận như được thần tượng âm nhạc đem lại sự an trú trong tâm hồn, từ đó nuôi dưỡng từng chút phát triển thể chất lẫn tinh thần. Lời hát ru, điệu ru em đã trở thành sợi chỉ đỏ, chất keo sơn, là nhịp cầu trái tim để khi nhớ về tuổi thơ, nhớ về mẹ cha, nhớ quê hương thì câu hát ru lại vang lên trong ký ức. GS.TS Trần Văn Khê đã cho rằng, cách thai giáo tốt nhất là người mẹ luôn giữ tâm lý lạc quan, quý trọng thai nhi, biết cách kiểm soát tâm lý, tránh sự tức giận vì khoa học đã chứng minh trong cơ thể người mẹ tiết ra rất nhiều chất adrenaline khi tức giận, chất cholamine khi người mẹ sợ hãi, chất endorphine khi người mẹ hạnh phúc và những chất đó đi ngang qua cuống rốn, ảnh hưởng đến thai nhi.

Thầy đã về với thiêng liêng nhưng giá trị lời hát ru và văn hóa nghệ thuật dân tộc vẫn sống mãi trong lòng chúng tôi. Kính như tại,

Hồ Nhựt QuangTPHCM, 18/07/2021