Thí sinh LÊ THỊ KIM ANH 026: GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ – NGƯỜI CÓ ĐÓNG GÓP LỚN CHO NỀN ÂM NHẠC TRUYỀN T G GÓP LỚN CHO NỀN ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM, NHẤT LÀ NGHIÊN CỨU VÀ QUẢNG BÀ ÂM NHẠC VIỆT NAM RA THẾ GIỚI

GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ – NGƯỜI CÓ ĐÓNG GÓP LỚN CHO NỀN ÂM NHẠC TRUYỀN T G GÓP LỚN CHO NỀN ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM, NHẤT LÀ NGHIÊN CỨU VÀ QUẢNG BÀ ÂM NHẠC VIỆT NAM RA THẾ GIỚI (Lê Thi Kim Anh , DH Văn Hiến)

1.Ngày 24/6/2015, GS. Trần Văn Khê – một người thầy, một nhà văn hóa lớn, một nhà nghiên cứu và truyền bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam kiệt xuất trút hơi thở sau cùng để bước vào cõi vĩnh hằng sau gần trăm năm hiện diện và góp phần bảo vệ phát huy truyền bá những tinh hoa quê hương đất nước đến với bạn bè năm châu.

GS. Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh,biết đàn những bản dễ như « Lưu Thuỷ », « Bình Bán vắn », « Kim Tiền », « Long Hổ Hội ». Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca. Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931. Ông có một người anh họ ngoại (con ông Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca.

Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt) và Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm.GS. Trần Văn Khê có người em trai là nhạc sĩ Trần Văn Trạch và em gái út là Trần Ngọc Sương. Nhạc sĩ Trần Văn Trạch là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng ở Sài gòn trước năm 1975. Trần Ngọc Sương sinh năm 1925, từng là ca sĩ lấy biệt hiệu là Ngọc Sương, sau đổi lại là Thủy Ngọc trong những năm 1948-50, và hiện sống tại Montreal, Canada.Người vợ duy nhất của GS. Trần Văn Khê là bà Nguyễn Thị Sương (1921-2014). Ông Trần Văn Khê có bốn người con với bà Sương: Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh, kiến trúc sư, hiện sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thị Thủy Tiên hiện sống tại Paris, và Trần Thị Thủy Ngọc, nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu Đông Nam Á của trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học ở Paris.

Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, năm 2006, ông chính thức trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.

Được sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống âm nhạc, thầy Trần Văn Khê ngay từ những năm tháng tuổi thơ đã được hấp thụ những bài học qua tiếng hát ru của mẹ và cung đàn của cha, một phương pháp giáo dục mà sau này thầy vẫn gọi là “thai giáo” là “gia giáo” (giáo dục gia đình) trong các buổi chia sẻ với báo giới, nên âm nhạc truyền thống Việt Nam đã đi vào tâm thức của thầy Trần Văn Khê một cách rất tự nhiên, hình thành nên một tình yêu gắn liền giữa âm nhạc – truyền thống gia đình. Tuy nhiên, do vấn đề thời cuộc, thầy Khê buộc phải rời quê hương lưu lạc nơi đất khách quê người hơn nửa thế kỷ. Trong suốt thời gian sống, học tập và làm việc tại hải ngoại, ý thức dân tộc được điều kiện trỗi dậy trong thầy mạnh mẽ. Đó chính là động lực để thầy say sưa nghiên cứu, so sánh và truyền bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới. Nếu tình yêu âm nhạc của thầy Trần Văn Khê lúc còn ở quê nhà được hình từ “âm nhạc” và “truyền thống gia đình”, thì giờ đây tình yêu ấy còn là quê hương đất nước, dân tộc Việt Nam.

Thầy Trần Văn Khê tuyệt đối không phải là người duy nhất yêu mến nhạc truyền thống, cũng không phải người đầu tiên nghiên cứu và hệ thống lại âm nhạc truyền thống Việt Nam, nhưng chính do bối cảnh lịch sử đã tạo cho thầy có một tiền đề mà không phải ai cũng có được, đó là một tình yêu âm nhạc được xây dựng trên nền tảng của âm nhạc – truyền thống gia đình – truyền thống dân tộc. Chính trên cơ sở ấy, đã tạo nên sự thành công “không tiền khoán hậu” trong suốt hành trình của thầy Trần Văn Khê, để mỗi khi nhắc đến thầy người ta sẽ nghĩ ngay đến âm nhạc và văn hóa Việt Nam, và ngược lại nói đến văn hóa và âm nhạc truyền thống Việt Nam người ta sẽ nghĩ ngay đến thầy Trần Văn Khê.Chính quá trình miệt mài nghiên tầm trong công tác sưu tầm, hệ thống, nghiên cứu với một ý thức cực kỳ cao độ, đã khiến thầy tích tụ được một kho tàng tri thức về âm nhạc truyền thống khổng lồ không chỉ của Việt Nam mà còn của cả Châu Á. Từ đó, thầy luôn có tâm nguyện được giảng dạy và truyền trao tất cả những hiểu biết của mình cho thế hệ kế tục. Trong suốt quá trình giảng dạy tại Đại học Sorbonne, thầy Trần Văn Khê luôn tận tâm giảng dạy cho tất cả các môn sinh tìm đến thầy để học về âm nhạc truyền thống Châu Á. Có rất nhiều trong số đó thành đạt, trở thành những giáo sư, nhà nghiên cứu đầu ngành ở khắp mọi nơi trên thế giới, nhưng rồi Trần Văn Khê với ý thức cao độ về quốc gia dân tộc của mình, thầy mong mỏi được một lần hướng dẫn và chấm luận án cho một sinh viên Việt Nam đến nghiên cứu về âm nhạc Việt Nam tại Đại học Sorbonne. Khát vọng ấy phải đến năm 1976 khi thầy gặp Nguyễn Thuyết Phong, người Việt Nam đến Đại học Sorbonne làm luận án về Âm nhạc Phật giáo Việt Nam thì ông mới thỏa được ước mơ.

Tuy nhiên, trong lòng thầy lại luôn canh cánh một ước mơ to lớn hơn “được dạy âm nhạc Việt Nam cho học sinh Việt Nam ngay trên đất Việt Nam”. Ước mơ ấy của thầy Trần Văn Khê được hiện thực hóa sau khi thầy hồi hương và gặp được thầy Cao Văn Phường – Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Hiệu trưởng Trường Đại học Bình Dương vào năm 2005. Với cuộc gặp gỡ giữa hai tâm hồn lớn có cùng một điểm chung là tự ý thức gánh vác trách nhiệm văn hóa giáo dục của nước nhà mà không chờ đợi bất kỳ sự giao phó nào. Bên cạnh đó, bằng sự đồng cảm sâu sắc với triết lý giáo dục Học – Hỏi – Hiểu – Hành để xây dựng những con người có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội và thiên nhiên của Trường Đại học Bình Dương, thầy Trần Văn Khê đã dành cả mười năm cuối cùng của cuộc đời đồng hành cùng thầy và trò Trường Đại học Bình Dương. Mặc dù tuổi cao sức yếu, mặc dù bệnh tật hành hạ trong những lúc trái gió trở trời, song thầy Trần Văn Khê vẫn luôn ưu ái dành những giờ giảng hăng say về âm nhạc truyền thống, về văn hóa cho các thế hệ thầy và trò Trường Đại học Bình Dương, nơi mà thầy Khê xem như là “ngôi nhà thứ hai” của mình. Trong suốt mười năm gắn bó, thầy Khê và các thế hệ thầy và trò Trường Đại học Bình Dương đã có những kỷ niệm sâu sắc khó có thể phai mờ cùng năm tháng. Mà trên hết chính là cốt cách, tinh thần trách nhiệm của một người thầy mẫu mực trong sự nghiệp phụng sự dân tộc được kết nên từ cuộc đời của thầy Khê sẽ mãi là mực thước để thầy và trò Trường Đại học Bình Dương nâng niu, gìn giữ, học tập.Sự trở về của thầy Trần Văn Khê sau hơn nửa thế kỷ sống tại Pháp cùng với 420 kiện hiện vật quý giá bao gồm sách vở, từ điển, bài viết, đĩa hát, băng cassettes, công trình nghiên cứu, nhật ký diền dã và nhiều nhạc cụ thầy sưu tập được suốt chặng đường nghiên cứu… để hiến tặng cho Việt Nam sau khi thầy qua đời. Điều ấy, lại một lần nữa khẳng định ý thức phụng sự quê hương đất nước, kề vai gánh lấy và hoàn thành xuất sắc một phần trách nhiệm to lớn của đất nước mặc dù không ai giao phó, đó là tinh thần của trí thức chân chính Việt Nam.

2.CẢM NHẬN CỦA EM VỀ LÀN ĐIỆU DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH

Trong các loại hình dân ca tiêu biểu, có thể nói dân ca Quan họ Bắc Ninh được đánh giá là loại hình dân ca đặc sắc và được nhiều người yêu thích nhất. Điều đó được khẳng định không chỉ bởi những làn điệu ngọt ngào, đằm thắm; những ca từ mộc mạc nhưng rất tinh túy mà còn bởi nghề chơi Quan họ độc đáo, đầy sức cuốn hút. Xưa kia, người Quan họ không gọi là hát Quan họ mà gọi là chơi Quan họ, một thú chơi dân dã, tao nhã, nhưng có sức quyến rũ mãnh liệt người chơi và người được thưởng thức. Vào canh hát, người Quan họ như tỉnh như say, canh hát càng về khuya càng trầm, càng bổng, càng mặn nồng thiết tha. Từ khi còn trong nôi, lời ru của bà, của mẹ đẫm chất Quan họ đã thấm sâu vào hồn tôi để rồi mỗi ngày lớn lên, cái chất dân ca đằm say ấy nó lại càng ngấm vào từng mạch máu, hơi thở của tôi. Càng đi sâu vào những làn điệu, những câu ca Quan họ cổ, tôi càng mường tượng ra một không gian Quan họ xưa kia sao mà bao la, ngút ngát nhưng cũng gần gũi, bình dị làm sao. Ẩn chứa trong sự mộc mạc, dung dị của dân ca Quan họ là những nét thanh cao, kiêu sa đến ngưỡng mộ. Có những câu ca rất giản dị, gần gũi mà ăm ắp tình người: « Dưới giời mấy kẻ biết chơiChơi cho lở đất, long giời mới hayChơi cho sông cạn lại đầyCho thuyền về bến, cho mây gặp rồngChơi cho loan phượng trùng phùngChơi cho nên nghĩa nên tình đôi ta ».(Dưới giời mấy kẻ biết chơi)Có những câu ca lại sâu sắc, ẩn chứa những tâm sự đầy vơi nỗi niềm mà người đời xem chừng khó có thể diễn đạt: « Sầu riêng em vẫn âm thầmVui này cho bõ đau ngầm ngày xưa Ai làm gan héo dạ sầuEm ngồi, em nghĩ càng cay đắng lòng.Người về tựa chốn loan phòngEm về thắp ngọn đèn chong canh dài ».(Trống Rồng) Những nỗi niềm gửi trao, những hờn ghen, trách cứ trong câu ca được giãi bày hết sức tế nhị mà sâu sa đến thế: « Anh tư đã có chốn để em chờ đợi luống côngChữ chung tình đã hẹn từ xưa ».(Lòng vẫn đợi chờ)Hoặc: « Yêu hoa phải giữ lấy màu cho hoaXin đừng chê xấu chê xa,Chê em vụng nói cửa nhà neo đơn.Trong làng cũng có nơi hơn,Trái duyên chẳng thuận phải sang quê người ».(Người ngoan)Bao nhiêu làn điệu, bao nhiều lời ca cũng chỉ gói gọn trong chủ đề tình yêu, nhưng đề tài này nói sao cho vừa, nói sao cho hết; một đề tài vô tận để người quan họ khai thác, thế mới thấy sự tài tình xưa kia của người quê Quan họ khi sáng tạo loại hình dân ca quý báu này. Lối chơi tao nhã, phóng khoáng mà lại khiêm nhường của người Quan họ càng làm nổi bật cốt cách của mình. Người Quan họ có nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng mà không nơi nào có được. Giữa bộn bề công việc thường nhật của mình, họ đã tạo ra một không gian riêng biệt, một thú chơi lôi cuốn mọi tầng lớp trong xã hội xa xưa ở xứ sở này đều muốn vào cuộc chơi một cách tự nguyện và hết sức say sưa. Sau những giờ lao động vất vả, họ lại tụ họp bên nhau để ca hát, đặt lời, bẻ giọng những câu ca mới. Họ ca với nhau những canh Quan họ thâu đêm, rạng ngày; cho tàn canh mãn võ để vui dân, vui xóm, vui bầu, vui bạn. Và rồi lúc chia tay họ cứ mãi dùng dằng, dan díu mà chẳng nỡ dứt dây sao cho đành. Ngoài những lúc thư nhàn cùng nhau sinh hoạt văn hóa Quan họ, họ lại gần gũi, động viên, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống khó khăn hàng ngày của mình. Điều đặc biệt quan trọng là họ thực hiện hết sức nghiêm cẩn những gì đã đề ra trong lối chơi Quan họ khi đã thành quy tắc. Người Quan họ luôn cẩn trọng trong trang phục, giao tiếp và mọi hành vi ứng xử của mình. Tất cả những gì mà quê hương Quan họ đã khởi nguồn và gìn giữ cho đến ngày nay thật xứng với thành quả mà họ đã gặt hái được. Chính vì vậy mà vào ngày 30 tháng 9 năm 2009, dân ca Quan họ Bắc Ninh chính thức được tổ chức Unesco công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Sau thời điểm này, dân ca Quan họ Bắc Ninh có thể nói đã đạt đến đỉnh cao về nhu cầu của cộng đồng người nghe cũng như những người muốn tự mình ca lên được những làn điệu dân ca quan họ. Khắp trong và ngoài tỉnh rộ lên phong trào ca hát Quan họ. Nhiều nơi thành lập những câu lạc bộ Quan họ và có nhu cầu học hỏi về loại hình dân ca này. Thật tự hào về nét văn hóa đặc sắc của quê hương và một niềm tin trong tôi cũng như người dân nơi đây chắc chắn sẽ không bao giờ phai: Dân ca Quan họ Bắc Ninh sẽ mãi mãi trường tồn và lan tỏa.

1d  ·

💧
♥️

Thí sinh Lê Thị Kim Anh – 026

💧
♥️

GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ – NGƯỜI CÓ ĐÓNG GÓP LỚN CHO NỀN ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM, NHẤT LÀ NGHIÊN CỨU VÀ QUẢNG BÀ ÂM NHẠC VIỆT NAM RA THẾ GIỚI (Lê Thị Kim Anh – ĐH Văn Hiến)1.Ngày 24/6/2015, GS. Trần Văn Khê – một người thầy, một nhà văn hóa lớn, một nhà nghiên cứu và truyền bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam kiệt xuất trút hơi thở sau cùng để bước vào cõi vĩnh hằng sau gần trăm năm hiện diện và góp phần bảo vệ phát huy truyền bá những tinh hoa quê hương đất nước đến với bạn bè năm châu.GS. Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh,biết đàn những bản dễ như « Lưu Thuỷ », « Bình Bán vắn », « Kim Tiền », « Long Hổ Hội ». Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca. Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931. Ông có một người anh họ ngoại (con ông Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca.Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt) và Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm.GS. Trần Văn Khê có người em trai là nhạc sĩ Trần Văn Trạch và em gái út là Trần Ngọc Sương. Nhạc sĩ Trần Văn Trạch là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng ở Sài gòn trước năm 1975. Trần Ngọc Sương sinh năm 1925, từng là ca sĩ lấy biệt hiệu là Ngọc Sương, sau đổi lại là Thủy Ngọc trong những năm 1948-50, và hiện sống tại Montreal, Canada.Người vợ duy nhất của GS. Trần Văn Khê là bà Nguyễn Thị Sương (1921-2014). Ông Trần Văn Khê có bốn người con với bà Sương: Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh, kiến trúc sư, hiện sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thị Thủy Tiên hiện sống tại Paris, và Trần Thị Thủy Ngọc, nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu Đông Nam Á của trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học ở Paris.Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, năm 2006, ông chính thức trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.Được sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống âm nhạc, thầy Trần Văn Khê ngay từ những năm tháng tuổi thơ đã được hấp thụ những bài học qua tiếng hát ru của mẹ và cung đàn của cha, một phương pháp giáo dục mà sau này thầy vẫn gọi là “thai giáo” là “gia giáo” (giáo dục gia đình) trong các buổi chia sẻ với báo giới, nên âm nhạc truyền thống Việt Nam đã đi vào tâm thức của thầy Trần Văn Khê một cách rất tự nhiên, hình thành nên một tình yêu gắn liền giữa âm nhạc – truyền thống gia đình. Tuy nhiên, do vấn đề thời cuộc, thầy Khê buộc phải rời quê hương lưu lạc nơi đất khách quê người hơn nửa thế kỷ. Trong suốt thời gian sống, học tập và làm việc tại hải ngoại, ý thức dân tộc được điều kiện trỗi dậy trong thầy mạnh mẽ. Đó chính là động lực để thầy say sưa nghiên cứu, so sánh và truyền bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới. Nếu tình yêu âm nhạc của thầy Trần Văn Khê lúc còn ở quê nhà được hình từ “âm nhạc” và “truyền thống gia đình”, thì giờ đây tình yêu ấy còn là quê hương đất nước, dân tộc Việt Nam.Thầy Trần Văn Khê tuyệt đối không phải là người duy nhất yêu mến nhạc truyền thống, cũng không phải người đầu tiên nghiên cứu và hệ thống lại âm nhạc truyền thống Việt Nam, nhưng chính do bối cảnh lịch sử đã tạo cho thầy có một tiền đề mà không phải ai cũng có được, đó là một tình yêu âm nhạc được xây dựng trên nền tảng của âm nhạc – truyền thống gia đình – truyền thống dân tộc. Chính trên cơ sở ấy, đã tạo nên sự thành công “không tiền khoán hậu” trong suốt hành trình của thầy Trần Văn Khê, để mỗi khi nhắc đến thầy người ta sẽ nghĩ ngay đến âm nhạc và văn hóa Việt Nam, và ngược lại nói đến văn hóa và âm nhạc truyền thống Việt Nam người ta sẽ nghĩ ngay đến thầy Trần Văn Khê.Chính quá trình miệt mài nghiên tầm trong công tác sưu tầm, hệ thống, nghiên cứu với một ý thức cực kỳ cao độ, đã khiến thầy tích tụ được một kho tàng tri thức về âm nhạc truyền thống khổng lồ không chỉ của Việt Nam mà còn của cả Châu Á. Từ đó, thầy luôn có tâm nguyện được giảng dạy và truyền trao tất cả những hiểu biết của mình cho thế hệ kế tục. Trong suốt quá trình giảng dạy tại Đại học Sorbonne, thầy Trần Văn Khê luôn tận tâm giảng dạy cho tất cả các môn sinh tìm đến thầy để học về âm nhạc truyền thống Châu Á. Có rất nhiều trong số đó thành đạt, trở thành những giáo sư, nhà nghiên cứu đầu ngành ở khắp mọi nơi trên thế giới, nhưng rồi Trần Văn Khê với ý thức cao độ về quốc gia dân tộc của mình, thầy mong mỏi được một lần hướng dẫn và chấm luận án cho một sinh viên Việt Nam đến nghiên cứu về âm nhạc Việt Nam tại Đại học Sorbonne. Khát vọng ấy phải đến năm 1976 khi thầy gặp Nguyễn Thuyết Phong, người Việt Nam đến Đại học Sorbonne làm luận án về Âm nhạc Phật giáo Việt Nam thì ông mới thỏa được ước mơ.Tuy nhiên, trong lòng thầy lại luôn canh cánh một ước mơ to lớn hơn “được dạy âm nhạc Việt Nam cho học sinh Việt Nam ngay trên đất Việt Nam”. Ước mơ ấy của thầy Trần Văn Khê được hiện thực hóa sau khi thầy hồi hương và gặp được thầy Cao Văn Phường – Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Hiệu trưởng Trường Đại học Bình Dương vào năm 2005. Với cuộc gặp gỡ giữa hai tâm hồn lớn có cùng một điểm chung là tự ý thức gánh vác trách nhiệm văn hóa giáo dục của nước nhà mà không chờ đợi bất kỳ sự giao phó nào. Bên cạnh đó, bằng sự đồng cảm sâu sắc với triết lý giáo dục Học – Hỏi – Hiểu – Hành để xây dựng những con người có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội và thiên nhiên của Trường Đại học Bình Dương, thầy Trần Văn Khê đã dành cả mười năm cuối cùng của cuộc đời đồng hành cùng thầy và trò Trường Đại học Bình Dương. Mặc dù tuổi cao sức yếu, mặc dù bệnh tật hành hạ trong những lúc trái gió trở trời, song thầy Trần Văn Khê vẫn luôn ưu ái dành những giờ giảng hăng say về âm nhạc truyền thống, về văn hóa cho các thế hệ thầy và trò Trường Đại học Bình Dương, nơi mà thầy Khê xem như là “ngôi nhà thứ hai” của mình. Trong suốt mười năm gắn bó, thầy Khê và các thế hệ thầy và trò Trường Đại học Bình Dương đã có những kỷ niệm sâu sắc khó có thể phai mờ cùng năm tháng. Mà trên hết chính là cốt cách, tinh thần trách nhiệm của một người thầy mẫu mực trong sự nghiệp phụng sự dân tộc được kết nên từ cuộc đời của thầy Khê sẽ mãi là mực thước để thầy và trò Trường Đại học Bình Dương nâng niu, gìn giữ, học tập.Sự trở về của thầy Trần Văn Khê sau hơn nửa thế kỷ sống tại Pháp cùng với 420 kiện hiện vật quý giá bao gồm sách vở, từ điển, bài viết, đĩa hát, băng cassettes, công trình nghiên cứu, nhật ký diền dã và nhiều nhạc cụ thầy sưu tập được suốt chặng đường nghiên cứu… để hiến tặng cho Việt Nam sau khi thầy qua đời. Điều ấy, lại một lần nữa khẳng định ý thức phụng sự quê hương đất nước, kề vai gánh lấy và hoàn thành xuất sắc một phần trách nhiệm to lớn của đất nước mặc dù không ai giao phó, đó là tinh thần của trí thức chân chính Việt Nam.2.CẢM NHẬN CỦA EM VỀ LÀN ĐIỆU DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINHTrong các loại hình dân ca tiêu biểu, có thể nói dân ca Quan họ Bắc Ninh được đánh giá là loại hình dân ca đặc sắc và được nhiều người yêu thích nhất. Điều đó được khẳng định không chỉ bởi những làn điệu ngọt ngào, đằm thắm; những ca từ mộc mạc nhưng rất tinh túy mà còn bởi nghề chơi Quan họ độc đáo, đầy sức cuốn hút. Xưa kia, người Quan họ không gọi là hát Quan họ mà gọi là chơi Quan họ, một thú chơi dân dã, tao nhã, nhưng có sức quyến rũ mãnh liệt người chơi và người được thưởng thức. Vào canh hát, người Quan họ như tỉnh như say, canh hát càng về khuya càng trầm, càng bổng, càng mặn nồng thiết tha. Từ khi còn trong nôi, lời ru của bà, của mẹ đẫm chất Quan họ đã thấm sâu vào hồn tôi để rồi mỗi ngày lớn lên, cái chất dân ca đằm say ấy nó lại càng ngấm vào từng mạch máu, hơi thở của tôi. Càng đi sâu vào những làn điệu, những câu ca Quan họ cổ, tôi càng mường tượng ra một không gian Quan họ xưa kia sao mà bao la, ngút ngát nhưng cũng gần gũi, bình dị làm sao. Ẩn chứa trong sự mộc mạc, dung dị của dân ca Quan họ là những nét thanh cao, kiêu sa đến ngưỡng mộ. Có những câu ca rất giản dị, gần gũi mà ăm ắp tình người: « Dưới giời mấy kẻ biết chơiChơi cho lở đất, long giời mới hayChơi cho sông cạn lại đầyCho thuyền về bến, cho mây gặp rồngChơi cho loan phượng trùng phùngChơi cho nên nghĩa nên tình đôi ta ».(Dưới giời mấy kẻ biết chơi)Có những câu ca lại sâu sắc, ẩn chứa những tâm sự đầy vơi nỗi niềm mà người đời xem chừng khó có thể diễn đạt: « Sầu riêng em vẫn âm thầmVui này cho bõ đau ngầm ngày xưa Ai làm gan héo dạ sầuEm ngồi, em nghĩ càng cay đắng lòng.Người về tựa chốn loan phòngEm về thắp ngọn đèn chong canh dài ».(Trống Rồng) Những nỗi niềm gửi trao, những hờn ghen, trách cứ trong câu ca được giãi bày hết sức tế nhị mà sâu sa đến thế: « Anh tư đã có chốn để em chờ đợi luống côngChữ chung tình đã hẹn từ xưa ».(Lòng vẫn đợi chờ)Hoặc: « Yêu hoa phải giữ lấy màu cho hoaXin đừng chê xấu chê xa,Chê em vụng nói cửa nhà neo đơn.Trong làng cũng có nơi hơn,Trái duyên chẳng thuận phải sang quê người ».(Người ngoan)Bao nhiêu làn điệu, bao nhiều lời ca cũng chỉ gói gọn trong chủ đề tình yêu, nhưng đề tài này nói sao cho vừa, nói sao cho hết; một đề tài vô tận để người quan họ khai thác, thế mới thấy sự tài tình xưa kia của người quê Quan họ khi sáng tạo loại hình dân ca quý báu này. Lối chơi tao nhã, phóng khoáng mà lại khiêm nhường của người Quan họ càng làm nổi bật cốt cách của mình. Người Quan họ có nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng mà không nơi nào có được. Giữa bộn bề công việc thường nhật của mình, họ đã tạo ra một không gian riêng biệt, một thú chơi lôi cuốn mọi tầng lớp trong xã hội xa xưa ở xứ sở này đều muốn vào cuộc chơi một cách tự nguyện và hết sức say sưa. Sau những giờ lao động vất vả, họ lại tụ họp bên nhau để ca hát, đặt lời, bẻ giọng những câu ca mới. Họ ca với nhau những canh Quan họ thâu đêm, rạng ngày; cho tàn canh mãn võ để vui dân, vui xóm, vui bầu, vui bạn. Và rồi lúc chia tay họ cứ mãi dùng dằng, dan díu mà chẳng nỡ dứt dây sao cho đành. Ngoài những lúc thư nhàn cùng nhau sinh hoạt văn hóa Quan họ, họ lại gần gũi, động viên, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống khó khăn hàng ngày của mình. Điều đặc biệt quan trọng là họ thực hiện hết sức nghiêm cẩn những gì đã đề ra trong lối chơi Quan họ khi đã thành quy tắc. Người Quan họ luôn cẩn trọng trong trang phục, giao tiếp và mọi hành vi ứng xử của mình. Tất cả những gì mà quê hương Quan họ đã khởi nguồn và gìn giữ cho đến ngày nay thật xứng với thành quả mà họ đã gặt hái được. Chính vì vậy mà vào ngày 30 tháng 9 năm 2009, dân ca Quan họ Bắc Ninh chính thức được tổ chức Unesco công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Sau thời điểm này, dân ca Quan họ Bắc Ninh có thể nói đã đạt đến đỉnh cao về nhu cầu của cộng đồng người nghe cũng như những người muốn tự mình ca lên được những làn điệu dân ca quan họ. Khắp trong và ngoài tỉnh rộ lên phong trào ca hát Quan họ. Nhiều nơi thành lập những câu lạc bộ Quan họ và có nhu cầu học hỏi về loại hình dân ca này. Thật tự hào về nét văn hóa đặc sắc của quê hương và một niềm tin trong tôi cũng như người dân nơi đây chắc chắn sẽ không bao giờ phai: Dân ca Quan họ Bắc Ninh sẽ mãi mãi trường tồn và lan tỏa.

Nguyễn Quốc Thệ

1d  · 💧♥️Thí sinh Lê Thị Kim Anh – 026💧♥️GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ – NGƯỜI CÓ ĐÓNG GÓP LỚN CHO NỀN ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM, NHẤT LÀ NGHIÊN CỨU VÀ QUẢNG BÀ ÂM NHẠC VIỆT NAM RA THẾ GIỚI (Lê Thị Kim Anh – ĐH Văn Hiến)1.Ngày 24/6/2015, GS. Trần Văn Khê – một người thầy, một nhà văn hóa lớn, một nhà nghiên cứu và truyền bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam kiệt xuất trút hơi thở sau cùng để bước vào cõi vĩnh hằng sau gần trăm năm hiện diện và góp phần bảo vệ phát huy truyền bá những tinh hoa quê hương đất nước đến với bạn bè năm châu.GS. Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh,biết đàn những bản dễ như « Lưu Thuỷ », « Bình Bán vắn », « Kim Tiền », « Long Hổ Hội ». Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca. Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931. Ông có một người anh họ ngoại (con ông Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca.Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt) và Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm.GS. Trần Văn Khê có người em trai là nhạc sĩ Trần Văn Trạch và em gái út là Trần Ngọc Sương. Nhạc sĩ Trần Văn Trạch là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng ở Sài gòn trước năm 1975. Trần Ngọc Sương sinh năm 1925, từng là ca sĩ lấy biệt hiệu là Ngọc Sương, sau đổi lại là Thủy Ngọc trong những năm 1948-50, và hiện sống tại Montreal, Canada.Người vợ duy nhất của GS. Trần Văn Khê là bà Nguyễn Thị Sương (1921-2014). Ông Trần Văn Khê có bốn người con với bà Sương: Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh, kiến trúc sư, hiện sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thị Thủy Tiên hiện sống tại Paris, và Trần Thị Thủy Ngọc, nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu Đông Nam Á của trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học ở Paris.Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, năm 2006, ông chính thức trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.Được sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống âm nhạc, thầy Trần Văn Khê ngay từ những năm tháng tuổi thơ đã được hấp thụ những bài học qua tiếng hát ru của mẹ và cung đàn của cha, một phương pháp giáo dục mà sau này thầy vẫn gọi là “thai giáo” là “gia giáo” (giáo dục gia đình) trong các buổi chia sẻ với báo giới, nên âm nhạc truyền thống Việt Nam đã đi vào tâm thức của thầy Trần Văn Khê một cách rất tự nhiên, hình thành nên một tình yêu gắn liền giữa âm nhạc – truyền thống gia đình. Tuy nhiên, do vấn đề thời cuộc, thầy Khê buộc phải rời quê hương lưu lạc nơi đất khách quê người hơn nửa thế kỷ. Trong suốt thời gian sống, học tập và làm việc tại hải ngoại, ý thức dân tộc được điều kiện trỗi dậy trong thầy mạnh mẽ. Đó chính là động lực để thầy say sưa nghiên cứu, so sánh và truyền bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới. Nếu tình yêu âm nhạc của thầy Trần Văn Khê lúc còn ở quê nhà được hình từ “âm nhạc” và “truyền thống gia đình”, thì giờ đây tình yêu ấy còn là quê hương đất nước, dân tộc Việt Nam.Thầy Trần Văn Khê tuyệt đối không phải là người duy nhất yêu mến nhạc truyền thống, cũng không phải người đầu tiên nghiên cứu và hệ thống lại âm nhạc truyền thống Việt Nam, nhưng chính do bối cảnh lịch sử đã tạo cho thầy có một tiền đề mà không phải ai cũng có được, đó là một tình yêu âm nhạc được xây dựng trên nền tảng của âm nhạc – truyền thống gia đình – truyền thống dân tộc. Chính trên cơ sở ấy, đã tạo nên sự thành công “không tiền khoán hậu” trong suốt hành trình của thầy Trần Văn Khê, để mỗi khi nhắc đến thầy người ta sẽ nghĩ ngay đến âm nhạc và văn hóa Việt Nam, và ngược lại nói đến văn hóa và âm nhạc truyền thống Việt Nam người ta sẽ nghĩ ngay đến thầy Trần Văn Khê.Chính quá trình miệt mài nghiên tầm trong công tác sưu tầm, hệ thống, nghiên cứu với một ý thức cực kỳ cao độ, đã khiến thầy tích tụ được một kho tàng tri thức về âm nhạc truyền thống khổng lồ không chỉ của Việt Nam mà còn của cả Châu Á. Từ đó, thầy luôn có tâm nguyện được giảng dạy và truyền trao tất cả những hiểu biết của mình cho thế hệ kế tục. Trong suốt quá trình giảng dạy tại Đại học Sorbonne, thầy Trần Văn Khê luôn tận tâm giảng dạy cho tất cả các môn sinh tìm đến thầy để học về âm nhạc truyền thống Châu Á. Có rất nhiều trong số đó thành đạt, trở thành những giáo sư, nhà nghiên cứu đầu ngành ở khắp mọi nơi trên thế giới, nhưng rồi Trần Văn Khê với ý thức cao độ về quốc gia dân tộc của mình, thầy mong mỏi được một lần hướng dẫn và chấm luận án cho một sinh viên Việt Nam đến nghiên cứu về âm nhạc Việt Nam tại Đại học Sorbonne. Khát vọng ấy phải đến năm 1976 khi thầy gặp Nguyễn Thuyết Phong, người Việt Nam đến Đại học Sorbonne làm luận án về Âm nhạc Phật giáo Việt Nam thì ông mới thỏa được ước mơ.Tuy nhiên, trong lòng thầy lại luôn canh cánh một ước mơ to lớn hơn “được dạy âm nhạc Việt Nam cho học sinh Việt Nam ngay trên đất Việt Nam”. Ước mơ ấy của thầy Trần Văn Khê được hiện thực hóa sau khi thầy hồi hương và gặp được thầy Cao Văn Phường – Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Hiệu trưởng Trường Đại học Bình Dương vào năm 2005. Với cuộc gặp gỡ giữa hai tâm hồn lớn có cùng một điểm chung là tự ý thức gánh vác trách nhiệm văn hóa giáo dục của nước nhà mà không chờ đợi bất kỳ sự giao phó nào. Bên cạnh đó, bằng sự đồng cảm sâu sắc với triết lý giáo dục Học – Hỏi – Hiểu – Hành để xây dựng những con người có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội và thiên nhiên của Trường Đại học Bình Dương, thầy Trần Văn Khê đã dành cả mười năm cuối cùng của cuộc đời đồng hành cùng thầy và trò Trường Đại học Bình Dương. Mặc dù tuổi cao sức yếu, mặc dù bệnh tật hành hạ trong những lúc trái gió trở trời, song thầy Trần Văn Khê vẫn luôn ưu ái dành những giờ giảng hăng say về âm nhạc truyền thống, về văn hóa cho các thế hệ thầy và trò Trường Đại học Bình Dương, nơi mà thầy Khê xem như là “ngôi nhà thứ hai” của mình. Trong suốt mười năm gắn bó, thầy Khê và các thế hệ thầy và trò Trường Đại học Bình Dương đã có những kỷ niệm sâu sắc khó có thể phai mờ cùng năm tháng. Mà trên hết chính là cốt cách, tinh thần trách nhiệm của một người thầy mẫu mực trong sự nghiệp phụng sự dân tộc được kết nên từ cuộc đời của thầy Khê sẽ mãi là mực thước để thầy và trò Trường Đại học Bình Dương nâng niu, gìn giữ, học tập.Sự trở về của thầy Trần Văn Khê sau hơn nửa thế kỷ sống tại Pháp cùng với 420 kiện hiện vật quý giá bao gồm sách vở, từ điển, bài viết, đĩa hát, băng cassettes, công trình nghiên cứu, nhật ký diền dã và nhiều nhạc cụ thầy sưu tập được suốt chặng đường nghiên cứu… để hiến tặng cho Việt Nam sau khi thầy qua đời. Điều ấy, lại một lần nữa khẳng định ý thức phụng sự quê hương đất nước, kề vai gánh lấy và hoàn thành xuất sắc một phần trách nhiệm to lớn của đất nước mặc dù không ai giao phó, đó là tinh thần của trí thức chân chính Việt Nam.2.CẢM NHẬN CỦA EM VỀ LÀN ĐIỆU DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINHTrong các loại hình dân ca tiêu biểu, có thể nói dân ca Quan họ Bắc Ninh được đánh giá là loại hình dân ca đặc sắc và được nhiều người yêu thích nhất. Điều đó được khẳng định không chỉ bởi những làn điệu ngọt ngào, đằm thắm; những ca từ mộc mạc nhưng rất tinh túy mà còn bởi nghề chơi Quan họ độc đáo, đầy sức cuốn hút. Xưa kia, người Quan họ không gọi là hát Quan họ mà gọi là chơi Quan họ, một thú chơi dân dã, tao nhã, nhưng có sức quyến rũ mãnh liệt người chơi và người được thưởng thức. Vào canh hát, người Quan họ như tỉnh như say, canh hát càng về khuya càng trầm, càng bổng, càng mặn nồng thiết tha. Từ khi còn trong nôi, lời ru của bà, của mẹ đẫm chất Quan họ đã thấm sâu vào hồn tôi để rồi mỗi ngày lớn lên, cái chất dân ca đằm say ấy nó lại càng ngấm vào từng mạch máu, hơi thở của tôi. Càng đi sâu vào những làn điệu, những câu ca Quan họ cổ, tôi càng mường tượng ra một không gian Quan họ xưa kia sao mà bao la, ngút ngát nhưng cũng gần gũi, bình dị làm sao. Ẩn chứa trong sự mộc mạc, dung dị của dân ca Quan họ là những nét thanh cao, kiêu sa đến ngưỡng mộ. Có những câu ca rất giản dị, gần gũi mà ăm ắp tình người: « Dưới giời mấy kẻ biết chơiChơi cho lở đất, long giời mới hayChơi cho sông cạn lại đầyCho thuyền về bến, cho mây gặp rồngChơi cho loan phượng trùng phùngChơi cho nên nghĩa nên tình đôi ta ».(Dưới giời mấy kẻ biết chơi)Có những câu ca lại sâu sắc, ẩn chứa những tâm sự đầy vơi nỗi niềm mà người đời xem chừng khó có thể diễn đạt: « Sầu riêng em vẫn âm thầmVui này cho bõ đau ngầm ngày xưa Ai làm gan héo dạ sầuEm ngồi, em nghĩ càng cay đắng lòng.Người về tựa chốn loan phòngEm về thắp ngọn đèn chong canh dài ».(Trống Rồng) Những nỗi niềm gửi trao, những hờn ghen, trách cứ trong câu ca được giãi bày hết sức tế nhị mà sâu sa đến thế: « Anh tư đã có chốn để em chờ đợi luống côngChữ chung tình đã hẹn từ xưa ».(Lòng vẫn đợi chờ)Hoặc: « Yêu hoa phải giữ lấy màu cho hoaXin đừng chê xấu chê xa,Chê em vụng nói cửa nhà neo đơn.Trong làng cũng có nơi hơn,Trái duyên chẳng thuận phải sang quê người ».(Người ngoan)Bao nhiêu làn điệu, bao nhiều lời ca cũng chỉ gói gọn trong chủ đề tình yêu, nhưng đề tài này nói sao cho vừa, nói sao cho hết; một đề tài vô tận để người quan họ khai thác, thế mới thấy sự tài tình xưa kia của người quê Quan họ khi sáng tạo loại hình dân ca quý báu này. Lối chơi tao nhã, phóng khoáng mà lại khiêm nhường của người Quan họ càng làm nổi bật cốt cách của mình. Người Quan họ có nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng mà không nơi nào có được. Giữa bộn bề công việc thường nhật của mình, họ đã tạo ra một không gian riêng biệt, một thú chơi lôi cuốn mọi tầng lớp trong xã hội xa xưa ở xứ sở này đều muốn vào cuộc chơi một cách tự nguyện và hết sức say sưa. Sau những giờ lao động vất vả, họ lại tụ họp bên nhau để ca hát, đặt lời, bẻ giọng những câu ca mới. Họ ca với nhau những canh Quan họ thâu đêm, rạng ngày; cho tàn canh mãn võ để vui dân, vui xóm, vui bầu, vui bạn. Và rồi lúc chia tay họ cứ mãi dùng dằng, dan díu mà chẳng nỡ dứt dây sao cho đành. Ngoài những lúc thư nhàn cùng nhau sinh hoạt văn hóa Quan họ, họ lại gần gũi, động viên, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống khó khăn hàng ngày của mình. Điều đặc biệt quan trọng là họ thực hiện hết sức nghiêm cẩn những gì đã đề ra trong lối chơi Quan họ khi đã thành quy tắc. Người Quan họ luôn cẩn trọng trong trang phục, giao tiếp và mọi hành vi ứng xử của mình. Tất cả những gì mà quê hương Quan họ đã khởi nguồn và gìn giữ cho đến ngày nay thật xứng với thành quả mà họ đã gặt hái được. Chính vì vậy mà vào ngày 30 tháng 9 năm 2009, dân ca Quan họ Bắc Ninh chính thức được tổ chức Unesco công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Sau thời điểm này, dân ca Quan họ Bắc Ninh có thể nói đã đạt đến đỉnh cao về nhu cầu của cộng đồng người nghe cũng như những người muốn tự mình ca lên được những làn điệu dân ca quan họ. Khắp trong và ngoài tỉnh rộ lên phong trào ca hát Quan họ. Nhiều nơi thành lập những câu lạc bộ Quan họ và có nhu cầu học hỏi về loại hình dân ca này. Thật tự hào về nét văn hóa đặc sắc của quê hương và một niềm tin trong tôi cũng như người dân nơi đây chắc chắn sẽ không bao giờ phai: Dân ca Quan họ Bắc Ninh sẽ mãi mãi trường tồn và lan tỏa.

Votre commentaire

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l’aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion /  Changer )

Photo Google

Vous commentez à l’aide de votre compte Google. Déconnexion /  Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l’aide de votre compte Twitter. Déconnexion /  Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l’aide de votre compte Facebook. Déconnexion /  Changer )

Connexion à %s

Ce site utilise Akismet pour réduire les indésirables. En savoir plus sur la façon dont les données de vos commentaires sont traitées.