Thí sinh Lâm Hoàng Trăng – 030: cuộc thi kỷ niệm 100 NĂM ngày sanh cố GS TRẦN VĂN KHÊ

Nguyễn Quốc Thệ

itS2pontsr1ourhed  · 💧♥️Thí sinh Lâm Hoàng Trăng – 030

💧♥️“Con được biết, Thầy từng nói chuyện về âm nhạc truyền thống với sinh viên ĐH Văn Hiến … Con không bao giờ có được diễm phúc đó! Con là Lâm Hoàng Trăng – Sinh viên ĐH Văn Hiến thưa Thầy!”

Các bạn thân mến!Việt Nam chúng ta tuy chỉ là một đất nước nhỏ bé, nhưng chúng ta lại sở hữu rất nhiều những di sản, mà ở đây tôi muốn nói đến đó chính là những Di sản văn hóa phi vật thể, những kiệt tác truyền khẩu của nhân loại được lưu giữ và truyền đời qua nhiều thế hệ. Vốn sinh ra và lớn lên ở vùng đất Tây Nam Bộ, vùng đồng bằng với chín nhánh sông mang nặng phù sa bồi đắp. Ngay từ nhỏ, tôi đã dần quen với những làn điệu dân ca, những câu hò, điệu lý, những tiếng đàn bầu, đàn cò mang nặng nghĩa tình của người dân miền châu thổ. Khi lớn lên tôi lại càng thêm yêu, thêm quý những âm thanh ấy, nó cứ thôi thúc tôi trong từng nhịp đập của hơi thở và dần dẫn tôi về với dòng nhạc truyền thống, loại hình âm nhạc mà ông cha tôi đã từng say mê và đã ăn sâu vào trong tim thịt, đó chính là “Đờn ca Tài tử”

.Với vai trò là một người làm du lịch, một sứ giả văn hóa, tôi luôn lưu giữ và tìm tòi những cái hay, cái đẹp của loại hình này để giới thiệu cho khách du lịch Việt Nam và bạn bè Quốc tế. Trong một lần tìm tòi, tôi đã vô tình bắt gặp những video hiếm hoi, rất hay, rất sâu sắc của cố giáo sư Trần Văn Khê về “Đờn ca Tài tử” và tôi cũng biết đến ông từ đó. Tuy chưa bao giờ được gặp và được cố giáo sư Trần Văn Khê giảng dạy lần nào, nhưng trong tâm khảm của tôi, tôi luôn yêu mến, quý trọng và xem ông như một người Thầy của mình. Người đã giúp tôi hiểu sâu sắc hơn về âm nhạc truyền thống, đặc biệt là loại hình “Đờn ca Tài tử”, bộ môn mà tôi đã yêu thích bấy lâu nay.

Thầy Khê sinh ngày 24/7/1921, là một người con tiêu biểu của mảnh đất Tiền Giang. Mảnh đất của địa linh nhân kiệt với cây trái sum xuê, được tưới mát bởi dòng Tiền Giang ngọt lành. Với truyền thống 4 đời làm nhạc sĩ, ngay từ nhỏ thầy đã được làm quen với dòng nhạc cổ truyền và được tiếp xúc với nhiều tiền bối trong lĩnh vực nghệ thuật. Mồ côi mẹ lúc 9 tuổi, mất cha khi lên 10, thầy cùng hai em của mình là Trần Văn Trạch và Trần Ngọc Sương, được Cô Ba Viện nuôi nấng. Anh em của thầy được Cô Ba cho đi học võ, học đàn và mạch máu âm nhạc của thầy cũng từ ấy mà ngày càng phát triển. Với trí thông minh và tài năng thiên phú hơn người của mình, thầy đã giành được rất nhiều học bổng và được thưởng nhiều chuyến du lịch kể cả trong nước và ngoài nước. Một trong những chuyến đi ấy, thầy đã quen được Lưu Hữu Phước và một số người bạn, về sau lập thành dàn nhạc của trường và dàn nhạc của học sinh trong Câu lạc bộ Học sinh mang tên Scola Club của hội Sampic, cả hai dàn nhạc đó thầy đều là người chỉ huy.Vốn là một sinh viên ngành Y, năm 1944 chứng kiến hình ảnh xác người nằm rải rác từ nhà đến bệnh viện vì nạn đói, thầy đã quyết định bỏ học y, về lập một gánh hát để mua gạo gửi cho đồng bào miền Bắc đang đói. Sau đó, thầy đã có nhiều hoạt động gắn liền với phong trào thanh niên, đưa thầy rời Việt Nam và sang Pháp du học năm 1949. Sau khi học xong chính trị, một biến cố vô cùng lớn đã ập đến với thầy, thầy lâm bệnh và phải nằm viện từ tháng 08/1951 đến tháng 10/1954 (3 năm 2 tháng). Trong khoảng thời gian này, thầy đã suy ngẫm lại công việc của mình, những việc thầy đã làm, đang làm và sẽ làm. Nhận thấy không còn thời gian học y, cũng không còn thời gian để làm những công việc chính trị, nên thầy đã quyết định nghiên cứu về thư mục rồi học hỏi thêm về nhạc cổ truyền, để làm luận án tiến sĩ về nhạc học với đề tài “Âm nhạc Truyền thống Việt Nam”. Đề tài mang hơi thở quê hương mà bấy lâu nay thầy đã bỏ quên do tâm tư lúc bấy giờ vẫn còn vọng ngoại.

Bảo vệ luận án thành công, năm 1963 thầy bắt đầu giảng dạy trong Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương dưới sự bảo trợ của viện nhạc học Paris, rồi dần dần bắt đầu hành trình giới thiệu, quảng bá âm nhạc truyền thống của Việt Nam đến nhiều nơi trên thế giới. Đến năm 2006, thầy chính thức về Việt Nam sinh sống và tiếp tục sự nghiệp của mình. Do tuổi cao sức yếu nên thầy đã trở về với đất mẹ vào ngày 24/6/2015, khép lại một hành trình dài gian truân, trắc trở với những cống hiến vô cùng ý nghĩa.

Với giới mộ điệu, cố giáo sư Trần Văn Khê là báu vật của nước nhà, ông chính là người đã có công nghiên cứu và quảng bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam ra thế giới. Dù ở bất cứ nơi đâu, Thầy Khê đều nói về giá trị đặc sắc của âm nhạc truyền thống và tầm quan trọng của việc giảng dạy, quảng bá, khai thác đúng nguyên tắc để bảo tồn và phát huy nó. Đối với thầy, thành công lớn nhất không phải là những giá trị vật chất mà là những giá trị tinh thần vô hình, những giá trị nhân văn đánh dậy tiềm thức của người Việt về âm nhạc truyền thống Việt Nam. Góp phần to lớn vào việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy những tinh hoa, tinh túy của dân tộc.

2.Các bạn thân mến!

Nếu miền Bắc có Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Ca trù… miền Trung có Nhã nhạc Cung Đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên… thì miền Nam chỉ có một đại diện duy nhất, đó chính là loại hình nghệ thuật “Đờn ca Tài tử Nam Bộ”. Đây là di sản thứ 8 của Việt Nam được UNESCO vinh danh vào tháng 12 năm 2013. Tuy hạn chế về mặt thời gian hình thành, nhưng “Đờn ca Tài tử” lại có sức ảnh hưởng vô cùng sâu rộng, trải dài khắp 21 tỉnh thành từ Duyên Hải Nam Trung Bộ cho đến Mũi Cà Mau.

Như vậy thì “Đờn ca Tài tử” xuất phát từ đâu và nó đã có mặt từ khi nào?

Cách đây hơn 300 năm, ông cha ta từ miền Thuận Quảng của vùng đất miền Trung, do những biến động của thời cuộc nên đã lên những chiếc ghe bầu, giông buồm xuôi về đất phương Nam. Hành trang của đồng bào mình ra đi trên những chiếc ghe ấy, ngoài thóc giống, heo, gà và các công cụ lao động, cha ông mình còn mang theo tiếng lòng của dân tộc, đó là những câu hò, câu hát, những điệu lý, những nhac cụ. Khi vào trong miền Nam thì việc khai phá vô cùng gian khó và nguy hiểm, buộc họ phải sống gần gũi với nhau hơn. Thế là hàng chục hộ gia đình mới tụ họp lại với nhau, cùng nhau khai hoang và lập nên làng, xóm. Buổi tối, sau những giờ lao động mệt nhọc họ quay quần bên nhau, bàn về chuyện ruộng đồng, kể về chuyện quá khứ và nhớ về quê hương bản quán. Nhâm nhi một vài ly rượu, chia sẽ từng miếng cá lóc nướng chui và những cung đàn tiếng hát cũng từ ấy cất lên. Dần già, tiếng lòng của miền Trung đã hòa hợp với cảnh sắc của phương Nam, tạo nên một loại hình âm nhạc mà chúng ta gọi là “Đờn ca Tài tử”. Cái tài tử ở đây, không phải là ngôi sao sân khấu hay điện ảnh, mà đó là những người có tài, họ hát rất hay và đàn cũng rất giỏi. Thế nhưng việc đàn, hát không phải để kiếm sống mà là chơi để thư giản cho bản thân mình và thư giản cho bà con lối xóm, chất tài tử Nam Bộ là như thế.

Về ký âm, chúng ta có: Hò Xự Xang Xê Cống U Liu. Từ những âm điệu đó mà các nhạc sĩ trứ danh như: Nguyễn Quang Đại, Trần Quang Thọ… đã đúc kết thành những bài bản cụ thể. Cuối cùng thì “Đờn ca Tài tử” có tất cả 20 bài bản tổ, bao gồm những bài Bắc, những bài Nam, những bài Oán và những bài Lễ. Ví dụ như: Nam Xuân, Lưu Thủy, Xuân Tình… Lúc đầu thì “Đờn ca Tài tử” chỉ đơn giản là đờn, hát theo bài bản, dần dần do nhu cầu của khán giả và sự sáng tạo của các nghệ nhân, nên nó đã phát triển thành ca ra bộ, về sau những tuồng tích được cải biên cũng được đưa vào, từ đó loại hình Cải lương ra đời.Một trong những dấu mốc hết sức quan trọng về sự phát triển của loại hình “Đờn ca Tài tử”, đó là sự ra đời của bài Dạ Cổ Hoài Lang vào năm 1919 bởi một nhạc sĩ hết sức tài hoa – cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu, cha đẻ của loại hình vọng cổ, một loại hình âm nhạc mới, được phát triển từ những bài bản tổ của “Đờn ca Tài tử”. Nó có sức lan tỏa và tầm ảnh hưởng vô cùng mãnh liệt.

Hiện nay, mặc dù các hoạt động về “Đờn ca Tài tử” diễn ra khá mạnh mẽ, thế nhưng có một điều làm tôi rất lo lắng, đó chính là sự du nhập của nhiều dòng nhạc hiện đại đã làm cho phần lớn giới trẻ, sao nhãng đi những loại hình âm nhạc truyền thống của dân tộc, trong đó có “Đờn ca Tài tử”. Cách đây không lâu, tôi được nghe thầy mình kể lại rằng: vào năm 2000, thầy Trần Văn Khê – một cây đại thụ của nền âm nhạc truyền thống Việt Nam đã nói rằng: “Các con hãy xem âm nhạc của dân tộc mình là cơm, âm nhạc của nước ngoài là ớt, chúng ta ăn cơm để sống nhưng cần chút ớt cay cay, ngược lại nếu ai ăn ớt không thì họ sẽ chết”. Cũng tương tự như thế thầy nói: “Các con hãy xem âm nhạc của dân tộc mình là nước, âm nhạc của nước ngoài là rượu, chúng ta uống nước để sống nhưng cũng cần chút rượu cay cay với đời, ai uống rượu không thì họ sẽ chết, chết về mặt tâm hồn và không còn là người Việt nữa”.

Thưa các bạn!

Tôi là một người con của vùng đất Nam Bộ, tôi rất thương và yêu quý loại hình “Đờn ca Tài tử Nam Bộ”. Lúc nào tôi cũng muốn gìn giữ và phát huy nó. Tôi mong rằng thông qua nhiều hoạt động của du lịch, âm nhạc… sẽ giúp cho người Việt nhận thức cởi mở hơn về “Đờn ca Tài tử”, để người ta thêm yêu, thêm quý, để loại hình này mãi mãi trường tồn cùng văn hóa dân tộc.

(Lâm Hoàng Trăng – Sinh viên khoa Du lịch trường Đại Học Văn Hiến)

Votre commentaire

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l’aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion /  Changer )

Photo Google

Vous commentez à l’aide de votre compte Google. Déconnexion /  Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l’aide de votre compte Twitter. Déconnexion /  Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l’aide de votre compte Facebook. Déconnexion /  Changer )

Connexion à %s

Ce site utilise Akismet pour réduire les indésirables. En savoir plus sur la façon dont les données de vos commentaires sont traitées.