Jour : 19 juillet 2021

Thí sinh TRƯƠNG Xuân Quốc – 032: “Tìm hiểu về Giáo sư Trần Văn Khê và Âm nhạc truyền thống Việt Nam”

Active

Nguyễn Quốc Thệ

tS2pohhnsuoored  · 💧♥️Thí sinh Trương Xuân Quốc – 032

💧♥️Cháu Trương Xuân Quốc xin gửi lời chào thân thương nhất tới quý ban tổ chức và ban giám khảo cuộc thi “Tìm hiểu về Giáo sư Trần Văn Khê và Âm nhạc truyền thống Việt Nam”.

Cháu hiện là sinh viên Du lịch Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh. Bài dự thi này, cháu viết bằng cả trái tim của một bạn trẻ kính trọng, luôn học tập tấm gương cố GS.TS Trần Văn Khê và tình yêu rộng lớn, bất diệt với âm nhạc truyền thống Việt Nam. Với sự hiểu biết vừa phải của bản thân, có lẽ sẽ không tránh khỏi những thiếu xót, rất mong sự cảm thông của quý ban giám khảo và bạn đọc.

1. Tìm hiểu về Giáo sư Trần Văn Khê

Cuộc đời Giáo sư Trần Văn Khê

GS.TS Trần Văn Khê (1921 – 2015), ông sinh tại làng tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang). Ông sinh ra trong gia đình bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã quen với âm nhạc truyền thống. Lên 12 tuổi, ông đã sử dụng thành thạo nhiều nhạc cụ dân tộc như: đàn tranh, trống, đàn kìm, sáo,…. Năm 1942, ông ra Hà Nội học Y khoa, ít lâu sau ông trở về miền Nam, theo phong trào thanh niên, sang Pháp để học tập vào năm 1949. Năm 1951 ông đậu và học tại khoa giao dịch quốc tế Trường chính trị Paris. Sau đó, ông bị bệnh phải nằm viện 3 năm 2 tháng. Đến năm 1954, ông chuyển sang học và chuẩn bị luận án tiến sĩ tại Paris-Sorbonne University về âm nhạc truyền thống Việt Nam. Tháng 6 năm 1958, ông là người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ “Âm nhạc truyền thống Việt Nam”. Từ đó, ông hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc trên thế giới với ước mong truyền bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra ngoài thế giới.

Từ 1965 đến 1988, giáo sư là giảng viên bộ môn dân tộc nhạc học tại Paris-Sorbonne University. Ở trường đại học này, ông đã hướng dẫn nhiều nghiên cứu sinh và là giám khảo của hơn 40 cuộc thi cao học và tiến sĩ. Từ 1970 đến 2004, ông còn là giáo sư thỉnh giảng cho hơn 15 trường đại học trên khắp thế giới. Riêng thuyết trình và biểu diễn âm nhạc truyền thống của Việt Nam, ông đã tham dự trên 20 liên hoan âm nhạc thế giới, trên 200 hội nghị quốc tế về âm nhạc ở khắp năm châu.

Năm 2006, năm 85 tuổi, ông về Việt Nam sống tại Bình Thạnh (TP. HCM) cho đến khi ông “thung dung cánh hạc nhập thiên thai” (lời TS. Nguyễn Xuân Diện) vào 24/6/2015. Khi về Việt Nam, ông đã chuyển về 435 kiện sách, trong đó hơn 10.000 đầu sách, tạp chí liên quan đến nghiên cứu, giới thiệu âm nhạc truyền thống Việt Nam và âm nhạc thế giới; các hiện vật âm nhạc như nhạc cụ, đĩa, băng ghi âm, hình ảnh, sách báo, bằng khen, huy hiệu… Trong đó, đáng chú ý còn có hơn 200 quyển ghi chép do Giáo sư ghi lại trong suốt hành trình nghiên cứu và gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp. Căn nhà số 32 Huỳnh Đình Hai của ông trở thành địa chỉ văn hóa, cùng với nhiều nhà nghiên cứu, nghệ sĩ âm nhạc dân tộc. Giáo sư đã tổ chức thường xuyên các hoạt động văn hóa, giới thiệu, chia sẻ kiến thức, biểu diễn về các loại hình di sản văn hóa phi vật thể vô cùng đặc sắc và hoàn toàn miễn phí.

Trong thời gian sống tại quê hương, tuy đã qua tuổi thất thập cổ lai hy, tuổi đáng ra phải nghỉ ngơi và dưỡng lão. Nhưng ông vẫn không ngừng học tập, cống hiến, tổ chức và tham gia nhiều buổi giới thiệu âm nhạc truyền thống Việt Nam, tham gia các kỷ yếu hội thảo khoa học. Đặc biệt năm 2005, ông được UNESCO chọn là người phản biện bộ hồ sơ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, đó là một điều hết sức mừng rỡ và hãnh diện cho Việt Nam. Giờ đây, chúng ta có 13 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh thì hầu hết trong đó đều có sự nâng niu từ bàn tay của ông.

Ông nói cái gì cũng chi ly, chi tiết, đầy đủ chứng lý, minh họa. Nói đến đâu hát đến đó, nói đến nhạc cụ nào thì miệng nói tay đàn. Ông có cách trình bày, diễn giải, nói một chuyện rất đơn giản nhưng rất hấp dẫn; nói một chuyện phức tạp nhưng rất dễ hiểu. Ông còn am hiểu và giới thiệu về văn hóa, ẩm thực, tín ngưỡng, tôn giáo, giáo dục, nghe đơn giản, hấp dẫn, mới mẻ và thuyết phục.

Di sản Trần Văn Khê

Giờ đây, ông đã trở thành người thiên cổ nhưng những bài báo, sách vở, bài viết, băng dĩa, cung cách sống, phong cách ông giới thiệu về văn hóa Việt Nam là di sản lớn cần phải bảo tồn, chia sẻ và học tập. Bản thân cháu rất muốn đọc nhiều hơn những quyển sách, bài viết, nghe nhiều hơn những buổi nói chuyện của Giáo sư, nhưng hành trình ấy rất khó khăn. Hiện tại, cháu chỉ sưu tầm hơn 100 video và hơn 30 bài viết của Giáo sư, thật sự còn quá ít! Cháu muốn học tập nhiều hơn từ ông, nhưng biết tìm ở đâu?

Cháu rất mong, trong sinh nhật kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông. Sẽ có những dự án offline và online được khởi xướng. Một là, xây dựng nhà tưởng niệm cố GS.TS Trần Văn Khê tại TP. HCM, ở đó mọi người có thể đến để tưởng niệm, xem những tài liệu mà ông để lại, đồng thời nhà tưởng niệm ấy sẽ là điểm đến du để những du khách đến ghé thăm. Ngoài ra, hằng năm có đến hàng vạn học sinh có những chuyến du lịch tại TP. HCM, điểm đến nhà tưởng niệm Giáo sư Trần Văn Khê sẽ là nơi để các bạn nhỏ hiểu biết nhiều hơn về một cuộc đời và những bài học quý báu ông để lại. Hai là, thành lập các fanpage chính thống trên những nền tảng thu hút các bạn trẻ như: Facebook, TikTok, Youtube để truyền tải Di sản Trần Văn Khê đến gần các bạn trẻ nhiều hơn. Ở đó sẽ đăng tải những câu chuyện và bài nói chuyện truyền cảm hứng của Giáo sư, chắc chắn sẽ thu hút rất nhiều người quan tâm, đặc biệt người trẻ.

Cuộc đời của cố GS.TS Trần Văn Khê là một tòa lâu đài nguy nga. Tòa lâu đài ấy là di sản đồ sộ mà thế hệ tiếp nối như cháu cần phải học tập và kế thừa. Giờ đây chỉ cần có chiếc cầu nối để thế hệ mới tiếp xúc Di sản Trần Văn Khê, như thế thì không còn gì hạnh phúc hơn.

2. Âm nhạc truyền thống Việt Nam – Nghệ thuật Bài chòi

Khi chúng ta du lịch đến các tỉnh miền Trung thân yêu như: Bình Định, Quảng Nam. Chúng ta không thể nào không tham gia, thưởng thức một trò chơi mà cũng là một loại hình nghệ thuật rất đặc sắc, đó là Bài chòi. Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào lúc 17h15’ ngày 7 tháng 12 năm 2017, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 12 của UNESCO diễn ra tại Jeju, Hàn Quốc.

Đây là di sản văn hóa phi vật thể thứ 12 của Việt Nam được UNESCO ghi danh. Bài chòi có rất nhiều cái hay, nhưng trong giới hạn của bài viết, cháu xin chỉ giới thiệu về cách chơi Bài chòi. Bài chòi 9 tỉnh Trung bộ là một mô hình trò chơi đa dạng và thống nhất. Nơi nào cũng phải hội đủ các điều kiện: thời gian ngày Tết Nguyên Đán, chòi để người chơi ngồi, thẻ bài để bán cho người chơi mua, trống mõ để người chơi gõ lên nếu trúng quân bài hoặc trúng thưởng, anh Hiệu bốc bài và hô tên con bài, ai có ba quân bài trùng với ba con bài trong ba câu hô của anh Hiệu thì người đó thắng cuộc.

Về thời gian, xã hội hiện đại, nhu cầu đánh bài chòi, cũng như nhu cầu thưởng thức của khách du lịch ngày càng cao nên thời gian hô bài chòi không nhất thiết phải cố hữu vào Tết Nguyên Đán mà được tổ chức thường xuyên hơn nhằm phục vụ nhu cầu của khác du lịch, đặc biệt tại Thành phố Hội An (Quảng Nam) và Thành phố Quy Nhơn (Bình Định) có những mô hình hô Bài chòi phục vụ khách du lịch rất thú vị.

Về chòi, có nơi sẽ có 9 chòi, 11 chòi, cũng có nơi có thể lên đến 13 chòi, hình thức sẽ có chòi chệt (người chơi ngồi trên ghế), chòi sàn cao một mái, chòi sàn cao hai mái, mái vòm, tùy vào từng địa phương và đặc điểm môi trường tự nhiên tại nơi diễn ra sẽ có những hình thức chòi khác nhau. Ngày xưa, tên của các chòi được đặt theo Thiên Can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý), Địa Chi (Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi), Bát Quái (Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài), mục đích để người chơi chọn chòi hạp tuổi ngồi vào đó rồi mua thẻ bài để thử vận may đầu năm. Ngày nay, vì nhiều lý do người ta đã thay những tên gọi ấy bằng những con số từ 1 đến 13 (thường 9 chòi). Điều này phần nào làm mất đi một nét văn hóa hồn nhiên và rất đẹp của ông bà ta khi xưa.Về thẻ bài, phải có hai bộ, một bộ bài nọc và một bộ bài cái. Bài cái là loại thẻ gộp ba quân bài làm một thẻ, dùng để bán cho người chơi; bài nọc chỉ một thẻ một con bài dùng để Hô Thai.

Về câu Hô Thai, là câu hát có sẵn từ đời này truyền đời khác, có thể là do anh chị Hiệu sáng tác thêm. Lời Hô Thai phần lớn là lục bát và lục bát biến thể. Nội dung phản ánh tư tưởng, lối sống, nghề nghiệp thường hô theo bốn điệu Xuân Nữ, Cổ Bản, Xàng Xê, Hồ Quảng. Câu Hô Thai phải mang được tên con bài đang được nhắc tới. Đối với các vùng có bài chòi thì mỗi nơi sẽ có phong cách hô riêng.

Như vậy, câu Hô Thai là câu hát đố dành cho người chơi để người chơi đoán tên con bài và chờ anh chị Hiệu thông báo tên con bài. Sau đó đối chiếu với quân bài trên tay mình xem có khớp với quân bài vừa được hô hay không, nếu khớp là trúng. Khi đó người chơi gõ một hồi mõ to để thông báo trúng. Nếu ai có ba quân bài trùng với ba quân bài Hiệu hô thì người đó thắng cuộc. Lúc đó các anh chạy bài hoặc anh chị Hiệu sẽ mang giải thưởng đến trao cho người thắng cuộc. Sau đó bắt đầu một ván bài sôi động, hấp dẫn mới.

Lối chơi Bài chòi thật đơn giản, người chơi không cần tính toán thế bài, ai muốn chơi chỉ cần mua bài và lên chòi thưởng thức điệu Bài chòi và chờ anh Hiệu thông báo con bài. Điểm đặc biệt, người chơi khoảng 9 người mà người xem có đến hàng trăm người, chứng tỏ tính cộng động rất cao. Thứ hai, mặc dù gọi là đánh bài nhưng không mang tính sát phạt, một trò chơi đơn giản thử vận may đầu năm và nhu cầu thưởng thức âm nhạc của người dân. Thứ ba, anh chị Hiệu, người tạo nên sức hấp dẫn của trò chơi với tài năng và khả năng ứng tác ứng tấu hài hước của mình. Để nói về Bài chòi thì còn quá nhiều điều thú vị cần phải nói, rất mong một ngày nào đó cháu có thể có điều kiện để giới thiệu nhiều hơn về di sản văn hóa phi vật thể rất đặc biệt này. Xin chân thành cảm ơn!

Trương Xuân QuốcMùa hè, năm 2021.

Thí sinh LÊ THỊ KIM ANH 026: GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ – NGƯỜI CÓ ĐÓNG GÓP LỚN CHO NỀN ÂM NHẠC TRUYỀN T G GÓP LỚN CHO NỀN ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM, NHẤT LÀ NGHIÊN CỨU VÀ QUẢNG BÀ ÂM NHẠC VIỆT NAM RA THẾ GIỚI

GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ – NGƯỜI CÓ ĐÓNG GÓP LỚN CHO NỀN ÂM NHẠC TRUYỀN T G GÓP LỚN CHO NỀN ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM, NHẤT LÀ NGHIÊN CỨU VÀ QUẢNG BÀ ÂM NHẠC VIỆT NAM RA THẾ GIỚI (Lê Thi Kim Anh , DH Văn Hiến)

1.Ngày 24/6/2015, GS. Trần Văn Khê – một người thầy, một nhà văn hóa lớn, một nhà nghiên cứu và truyền bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam kiệt xuất trút hơi thở sau cùng để bước vào cõi vĩnh hằng sau gần trăm năm hiện diện và góp phần bảo vệ phát huy truyền bá những tinh hoa quê hương đất nước đến với bạn bè năm châu.

GS. Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh,biết đàn những bản dễ như « Lưu Thuỷ », « Bình Bán vắn », « Kim Tiền », « Long Hổ Hội ». Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca. Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931. Ông có một người anh họ ngoại (con ông Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca.

Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt) và Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm.GS. Trần Văn Khê có người em trai là nhạc sĩ Trần Văn Trạch và em gái út là Trần Ngọc Sương. Nhạc sĩ Trần Văn Trạch là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng ở Sài gòn trước năm 1975. Trần Ngọc Sương sinh năm 1925, từng là ca sĩ lấy biệt hiệu là Ngọc Sương, sau đổi lại là Thủy Ngọc trong những năm 1948-50, và hiện sống tại Montreal, Canada.Người vợ duy nhất của GS. Trần Văn Khê là bà Nguyễn Thị Sương (1921-2014). Ông Trần Văn Khê có bốn người con với bà Sương: Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh, kiến trúc sư, hiện sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thị Thủy Tiên hiện sống tại Paris, và Trần Thị Thủy Ngọc, nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu Đông Nam Á của trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học ở Paris.

Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, năm 2006, ông chính thức trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.

Được sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống âm nhạc, thầy Trần Văn Khê ngay từ những năm tháng tuổi thơ đã được hấp thụ những bài học qua tiếng hát ru của mẹ và cung đàn của cha, một phương pháp giáo dục mà sau này thầy vẫn gọi là “thai giáo” là “gia giáo” (giáo dục gia đình) trong các buổi chia sẻ với báo giới, nên âm nhạc truyền thống Việt Nam đã đi vào tâm thức của thầy Trần Văn Khê một cách rất tự nhiên, hình thành nên một tình yêu gắn liền giữa âm nhạc – truyền thống gia đình. Tuy nhiên, do vấn đề thời cuộc, thầy Khê buộc phải rời quê hương lưu lạc nơi đất khách quê người hơn nửa thế kỷ. Trong suốt thời gian sống, học tập và làm việc tại hải ngoại, ý thức dân tộc được điều kiện trỗi dậy trong thầy mạnh mẽ. Đó chính là động lực để thầy say sưa nghiên cứu, so sánh và truyền bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới. Nếu tình yêu âm nhạc của thầy Trần Văn Khê lúc còn ở quê nhà được hình từ “âm nhạc” và “truyền thống gia đình”, thì giờ đây tình yêu ấy còn là quê hương đất nước, dân tộc Việt Nam.

Thầy Trần Văn Khê tuyệt đối không phải là người duy nhất yêu mến nhạc truyền thống, cũng không phải người đầu tiên nghiên cứu và hệ thống lại âm nhạc truyền thống Việt Nam, nhưng chính do bối cảnh lịch sử đã tạo cho thầy có một tiền đề mà không phải ai cũng có được, đó là một tình yêu âm nhạc được xây dựng trên nền tảng của âm nhạc – truyền thống gia đình – truyền thống dân tộc. Chính trên cơ sở ấy, đã tạo nên sự thành công “không tiền khoán hậu” trong suốt hành trình của thầy Trần Văn Khê, để mỗi khi nhắc đến thầy người ta sẽ nghĩ ngay đến âm nhạc và văn hóa Việt Nam, và ngược lại nói đến văn hóa và âm nhạc truyền thống Việt Nam người ta sẽ nghĩ ngay đến thầy Trần Văn Khê.Chính quá trình miệt mài nghiên tầm trong công tác sưu tầm, hệ thống, nghiên cứu với một ý thức cực kỳ cao độ, đã khiến thầy tích tụ được một kho tàng tri thức về âm nhạc truyền thống khổng lồ không chỉ của Việt Nam mà còn của cả Châu Á. Từ đó, thầy luôn có tâm nguyện được giảng dạy và truyền trao tất cả những hiểu biết của mình cho thế hệ kế tục. Trong suốt quá trình giảng dạy tại Đại học Sorbonne, thầy Trần Văn Khê luôn tận tâm giảng dạy cho tất cả các môn sinh tìm đến thầy để học về âm nhạc truyền thống Châu Á. Có rất nhiều trong số đó thành đạt, trở thành những giáo sư, nhà nghiên cứu đầu ngành ở khắp mọi nơi trên thế giới, nhưng rồi Trần Văn Khê với ý thức cao độ về quốc gia dân tộc của mình, thầy mong mỏi được một lần hướng dẫn và chấm luận án cho một sinh viên Việt Nam đến nghiên cứu về âm nhạc Việt Nam tại Đại học Sorbonne. Khát vọng ấy phải đến năm 1976 khi thầy gặp Nguyễn Thuyết Phong, người Việt Nam đến Đại học Sorbonne làm luận án về Âm nhạc Phật giáo Việt Nam thì ông mới thỏa được ước mơ.

Tuy nhiên, trong lòng thầy lại luôn canh cánh một ước mơ to lớn hơn “được dạy âm nhạc Việt Nam cho học sinh Việt Nam ngay trên đất Việt Nam”. Ước mơ ấy của thầy Trần Văn Khê được hiện thực hóa sau khi thầy hồi hương và gặp được thầy Cao Văn Phường – Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Hiệu trưởng Trường Đại học Bình Dương vào năm 2005. Với cuộc gặp gỡ giữa hai tâm hồn lớn có cùng một điểm chung là tự ý thức gánh vác trách nhiệm văn hóa giáo dục của nước nhà mà không chờ đợi bất kỳ sự giao phó nào. Bên cạnh đó, bằng sự đồng cảm sâu sắc với triết lý giáo dục Học – Hỏi – Hiểu – Hành để xây dựng những con người có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội và thiên nhiên của Trường Đại học Bình Dương, thầy Trần Văn Khê đã dành cả mười năm cuối cùng của cuộc đời đồng hành cùng thầy và trò Trường Đại học Bình Dương. Mặc dù tuổi cao sức yếu, mặc dù bệnh tật hành hạ trong những lúc trái gió trở trời, song thầy Trần Văn Khê vẫn luôn ưu ái dành những giờ giảng hăng say về âm nhạc truyền thống, về văn hóa cho các thế hệ thầy và trò Trường Đại học Bình Dương, nơi mà thầy Khê xem như là “ngôi nhà thứ hai” của mình. Trong suốt mười năm gắn bó, thầy Khê và các thế hệ thầy và trò Trường Đại học Bình Dương đã có những kỷ niệm sâu sắc khó có thể phai mờ cùng năm tháng. Mà trên hết chính là cốt cách, tinh thần trách nhiệm của một người thầy mẫu mực trong sự nghiệp phụng sự dân tộc được kết nên từ cuộc đời của thầy Khê sẽ mãi là mực thước để thầy và trò Trường Đại học Bình Dương nâng niu, gìn giữ, học tập.Sự trở về của thầy Trần Văn Khê sau hơn nửa thế kỷ sống tại Pháp cùng với 420 kiện hiện vật quý giá bao gồm sách vở, từ điển, bài viết, đĩa hát, băng cassettes, công trình nghiên cứu, nhật ký diền dã và nhiều nhạc cụ thầy sưu tập được suốt chặng đường nghiên cứu… để hiến tặng cho Việt Nam sau khi thầy qua đời. Điều ấy, lại một lần nữa khẳng định ý thức phụng sự quê hương đất nước, kề vai gánh lấy và hoàn thành xuất sắc một phần trách nhiệm to lớn của đất nước mặc dù không ai giao phó, đó là tinh thần của trí thức chân chính Việt Nam.

2.CẢM NHẬN CỦA EM VỀ LÀN ĐIỆU DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH

Trong các loại hình dân ca tiêu biểu, có thể nói dân ca Quan họ Bắc Ninh được đánh giá là loại hình dân ca đặc sắc và được nhiều người yêu thích nhất. Điều đó được khẳng định không chỉ bởi những làn điệu ngọt ngào, đằm thắm; những ca từ mộc mạc nhưng rất tinh túy mà còn bởi nghề chơi Quan họ độc đáo, đầy sức cuốn hút. Xưa kia, người Quan họ không gọi là hát Quan họ mà gọi là chơi Quan họ, một thú chơi dân dã, tao nhã, nhưng có sức quyến rũ mãnh liệt người chơi và người được thưởng thức. Vào canh hát, người Quan họ như tỉnh như say, canh hát càng về khuya càng trầm, càng bổng, càng mặn nồng thiết tha. Từ khi còn trong nôi, lời ru của bà, của mẹ đẫm chất Quan họ đã thấm sâu vào hồn tôi để rồi mỗi ngày lớn lên, cái chất dân ca đằm say ấy nó lại càng ngấm vào từng mạch máu, hơi thở của tôi. Càng đi sâu vào những làn điệu, những câu ca Quan họ cổ, tôi càng mường tượng ra một không gian Quan họ xưa kia sao mà bao la, ngút ngát nhưng cũng gần gũi, bình dị làm sao. Ẩn chứa trong sự mộc mạc, dung dị của dân ca Quan họ là những nét thanh cao, kiêu sa đến ngưỡng mộ. Có những câu ca rất giản dị, gần gũi mà ăm ắp tình người: « Dưới giời mấy kẻ biết chơiChơi cho lở đất, long giời mới hayChơi cho sông cạn lại đầyCho thuyền về bến, cho mây gặp rồngChơi cho loan phượng trùng phùngChơi cho nên nghĩa nên tình đôi ta ».(Dưới giời mấy kẻ biết chơi)Có những câu ca lại sâu sắc, ẩn chứa những tâm sự đầy vơi nỗi niềm mà người đời xem chừng khó có thể diễn đạt: « Sầu riêng em vẫn âm thầmVui này cho bõ đau ngầm ngày xưa Ai làm gan héo dạ sầuEm ngồi, em nghĩ càng cay đắng lòng.Người về tựa chốn loan phòngEm về thắp ngọn đèn chong canh dài ».(Trống Rồng) Những nỗi niềm gửi trao, những hờn ghen, trách cứ trong câu ca được giãi bày hết sức tế nhị mà sâu sa đến thế: « Anh tư đã có chốn để em chờ đợi luống côngChữ chung tình đã hẹn từ xưa ».(Lòng vẫn đợi chờ)Hoặc: « Yêu hoa phải giữ lấy màu cho hoaXin đừng chê xấu chê xa,Chê em vụng nói cửa nhà neo đơn.Trong làng cũng có nơi hơn,Trái duyên chẳng thuận phải sang quê người ».(Người ngoan)Bao nhiêu làn điệu, bao nhiều lời ca cũng chỉ gói gọn trong chủ đề tình yêu, nhưng đề tài này nói sao cho vừa, nói sao cho hết; một đề tài vô tận để người quan họ khai thác, thế mới thấy sự tài tình xưa kia của người quê Quan họ khi sáng tạo loại hình dân ca quý báu này. Lối chơi tao nhã, phóng khoáng mà lại khiêm nhường của người Quan họ càng làm nổi bật cốt cách của mình. Người Quan họ có nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng mà không nơi nào có được. Giữa bộn bề công việc thường nhật của mình, họ đã tạo ra một không gian riêng biệt, một thú chơi lôi cuốn mọi tầng lớp trong xã hội xa xưa ở xứ sở này đều muốn vào cuộc chơi một cách tự nguyện và hết sức say sưa. Sau những giờ lao động vất vả, họ lại tụ họp bên nhau để ca hát, đặt lời, bẻ giọng những câu ca mới. Họ ca với nhau những canh Quan họ thâu đêm, rạng ngày; cho tàn canh mãn võ để vui dân, vui xóm, vui bầu, vui bạn. Và rồi lúc chia tay họ cứ mãi dùng dằng, dan díu mà chẳng nỡ dứt dây sao cho đành. Ngoài những lúc thư nhàn cùng nhau sinh hoạt văn hóa Quan họ, họ lại gần gũi, động viên, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống khó khăn hàng ngày của mình. Điều đặc biệt quan trọng là họ thực hiện hết sức nghiêm cẩn những gì đã đề ra trong lối chơi Quan họ khi đã thành quy tắc. Người Quan họ luôn cẩn trọng trong trang phục, giao tiếp và mọi hành vi ứng xử của mình. Tất cả những gì mà quê hương Quan họ đã khởi nguồn và gìn giữ cho đến ngày nay thật xứng với thành quả mà họ đã gặt hái được. Chính vì vậy mà vào ngày 30 tháng 9 năm 2009, dân ca Quan họ Bắc Ninh chính thức được tổ chức Unesco công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Sau thời điểm này, dân ca Quan họ Bắc Ninh có thể nói đã đạt đến đỉnh cao về nhu cầu của cộng đồng người nghe cũng như những người muốn tự mình ca lên được những làn điệu dân ca quan họ. Khắp trong và ngoài tỉnh rộ lên phong trào ca hát Quan họ. Nhiều nơi thành lập những câu lạc bộ Quan họ và có nhu cầu học hỏi về loại hình dân ca này. Thật tự hào về nét văn hóa đặc sắc của quê hương và một niềm tin trong tôi cũng như người dân nơi đây chắc chắn sẽ không bao giờ phai: Dân ca Quan họ Bắc Ninh sẽ mãi mãi trường tồn và lan tỏa.

1d  ·

💧
♥️

Thí sinh Lê Thị Kim Anh – 026

💧
♥️

GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ – NGƯỜI CÓ ĐÓNG GÓP LỚN CHO NỀN ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM, NHẤT LÀ NGHIÊN CỨU VÀ QUẢNG BÀ ÂM NHẠC VIỆT NAM RA THẾ GIỚI (Lê Thị Kim Anh – ĐH Văn Hiến)1.Ngày 24/6/2015, GS. Trần Văn Khê – một người thầy, một nhà văn hóa lớn, một nhà nghiên cứu và truyền bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam kiệt xuất trút hơi thở sau cùng để bước vào cõi vĩnh hằng sau gần trăm năm hiện diện và góp phần bảo vệ phát huy truyền bá những tinh hoa quê hương đất nước đến với bạn bè năm châu.GS. Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh,biết đàn những bản dễ như « Lưu Thuỷ », « Bình Bán vắn », « Kim Tiền », « Long Hổ Hội ». Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca. Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931. Ông có một người anh họ ngoại (con ông Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca.Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt) và Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm.GS. Trần Văn Khê có người em trai là nhạc sĩ Trần Văn Trạch và em gái út là Trần Ngọc Sương. Nhạc sĩ Trần Văn Trạch là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng ở Sài gòn trước năm 1975. Trần Ngọc Sương sinh năm 1925, từng là ca sĩ lấy biệt hiệu là Ngọc Sương, sau đổi lại là Thủy Ngọc trong những năm 1948-50, và hiện sống tại Montreal, Canada.Người vợ duy nhất của GS. Trần Văn Khê là bà Nguyễn Thị Sương (1921-2014). Ông Trần Văn Khê có bốn người con với bà Sương: Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh, kiến trúc sư, hiện sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thị Thủy Tiên hiện sống tại Paris, và Trần Thị Thủy Ngọc, nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu Đông Nam Á của trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học ở Paris.Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, năm 2006, ông chính thức trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.Được sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống âm nhạc, thầy Trần Văn Khê ngay từ những năm tháng tuổi thơ đã được hấp thụ những bài học qua tiếng hát ru của mẹ và cung đàn của cha, một phương pháp giáo dục mà sau này thầy vẫn gọi là “thai giáo” là “gia giáo” (giáo dục gia đình) trong các buổi chia sẻ với báo giới, nên âm nhạc truyền thống Việt Nam đã đi vào tâm thức của thầy Trần Văn Khê một cách rất tự nhiên, hình thành nên một tình yêu gắn liền giữa âm nhạc – truyền thống gia đình. Tuy nhiên, do vấn đề thời cuộc, thầy Khê buộc phải rời quê hương lưu lạc nơi đất khách quê người hơn nửa thế kỷ. Trong suốt thời gian sống, học tập và làm việc tại hải ngoại, ý thức dân tộc được điều kiện trỗi dậy trong thầy mạnh mẽ. Đó chính là động lực để thầy say sưa nghiên cứu, so sánh và truyền bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới. Nếu tình yêu âm nhạc của thầy Trần Văn Khê lúc còn ở quê nhà được hình từ “âm nhạc” và “truyền thống gia đình”, thì giờ đây tình yêu ấy còn là quê hương đất nước, dân tộc Việt Nam.Thầy Trần Văn Khê tuyệt đối không phải là người duy nhất yêu mến nhạc truyền thống, cũng không phải người đầu tiên nghiên cứu và hệ thống lại âm nhạc truyền thống Việt Nam, nhưng chính do bối cảnh lịch sử đã tạo cho thầy có một tiền đề mà không phải ai cũng có được, đó là một tình yêu âm nhạc được xây dựng trên nền tảng của âm nhạc – truyền thống gia đình – truyền thống dân tộc. Chính trên cơ sở ấy, đã tạo nên sự thành công “không tiền khoán hậu” trong suốt hành trình của thầy Trần Văn Khê, để mỗi khi nhắc đến thầy người ta sẽ nghĩ ngay đến âm nhạc và văn hóa Việt Nam, và ngược lại nói đến văn hóa và âm nhạc truyền thống Việt Nam người ta sẽ nghĩ ngay đến thầy Trần Văn Khê.Chính quá trình miệt mài nghiên tầm trong công tác sưu tầm, hệ thống, nghiên cứu với một ý thức cực kỳ cao độ, đã khiến thầy tích tụ được một kho tàng tri thức về âm nhạc truyền thống khổng lồ không chỉ của Việt Nam mà còn của cả Châu Á. Từ đó, thầy luôn có tâm nguyện được giảng dạy và truyền trao tất cả những hiểu biết của mình cho thế hệ kế tục. Trong suốt quá trình giảng dạy tại Đại học Sorbonne, thầy Trần Văn Khê luôn tận tâm giảng dạy cho tất cả các môn sinh tìm đến thầy để học về âm nhạc truyền thống Châu Á. Có rất nhiều trong số đó thành đạt, trở thành những giáo sư, nhà nghiên cứu đầu ngành ở khắp mọi nơi trên thế giới, nhưng rồi Trần Văn Khê với ý thức cao độ về quốc gia dân tộc của mình, thầy mong mỏi được một lần hướng dẫn và chấm luận án cho một sinh viên Việt Nam đến nghiên cứu về âm nhạc Việt Nam tại Đại học Sorbonne. Khát vọng ấy phải đến năm 1976 khi thầy gặp Nguyễn Thuyết Phong, người Việt Nam đến Đại học Sorbonne làm luận án về Âm nhạc Phật giáo Việt Nam thì ông mới thỏa được ước mơ.Tuy nhiên, trong lòng thầy lại luôn canh cánh một ước mơ to lớn hơn “được dạy âm nhạc Việt Nam cho học sinh Việt Nam ngay trên đất Việt Nam”. Ước mơ ấy của thầy Trần Văn Khê được hiện thực hóa sau khi thầy hồi hương và gặp được thầy Cao Văn Phường – Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Hiệu trưởng Trường Đại học Bình Dương vào năm 2005. Với cuộc gặp gỡ giữa hai tâm hồn lớn có cùng một điểm chung là tự ý thức gánh vác trách nhiệm văn hóa giáo dục của nước nhà mà không chờ đợi bất kỳ sự giao phó nào. Bên cạnh đó, bằng sự đồng cảm sâu sắc với triết lý giáo dục Học – Hỏi – Hiểu – Hành để xây dựng những con người có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội và thiên nhiên của Trường Đại học Bình Dương, thầy Trần Văn Khê đã dành cả mười năm cuối cùng của cuộc đời đồng hành cùng thầy và trò Trường Đại học Bình Dương. Mặc dù tuổi cao sức yếu, mặc dù bệnh tật hành hạ trong những lúc trái gió trở trời, song thầy Trần Văn Khê vẫn luôn ưu ái dành những giờ giảng hăng say về âm nhạc truyền thống, về văn hóa cho các thế hệ thầy và trò Trường Đại học Bình Dương, nơi mà thầy Khê xem như là “ngôi nhà thứ hai” của mình. Trong suốt mười năm gắn bó, thầy Khê và các thế hệ thầy và trò Trường Đại học Bình Dương đã có những kỷ niệm sâu sắc khó có thể phai mờ cùng năm tháng. Mà trên hết chính là cốt cách, tinh thần trách nhiệm của một người thầy mẫu mực trong sự nghiệp phụng sự dân tộc được kết nên từ cuộc đời của thầy Khê sẽ mãi là mực thước để thầy và trò Trường Đại học Bình Dương nâng niu, gìn giữ, học tập.Sự trở về của thầy Trần Văn Khê sau hơn nửa thế kỷ sống tại Pháp cùng với 420 kiện hiện vật quý giá bao gồm sách vở, từ điển, bài viết, đĩa hát, băng cassettes, công trình nghiên cứu, nhật ký diền dã và nhiều nhạc cụ thầy sưu tập được suốt chặng đường nghiên cứu… để hiến tặng cho Việt Nam sau khi thầy qua đời. Điều ấy, lại một lần nữa khẳng định ý thức phụng sự quê hương đất nước, kề vai gánh lấy và hoàn thành xuất sắc một phần trách nhiệm to lớn của đất nước mặc dù không ai giao phó, đó là tinh thần của trí thức chân chính Việt Nam.2.CẢM NHẬN CỦA EM VỀ LÀN ĐIỆU DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINHTrong các loại hình dân ca tiêu biểu, có thể nói dân ca Quan họ Bắc Ninh được đánh giá là loại hình dân ca đặc sắc và được nhiều người yêu thích nhất. Điều đó được khẳng định không chỉ bởi những làn điệu ngọt ngào, đằm thắm; những ca từ mộc mạc nhưng rất tinh túy mà còn bởi nghề chơi Quan họ độc đáo, đầy sức cuốn hút. Xưa kia, người Quan họ không gọi là hát Quan họ mà gọi là chơi Quan họ, một thú chơi dân dã, tao nhã, nhưng có sức quyến rũ mãnh liệt người chơi và người được thưởng thức. Vào canh hát, người Quan họ như tỉnh như say, canh hát càng về khuya càng trầm, càng bổng, càng mặn nồng thiết tha. Từ khi còn trong nôi, lời ru của bà, của mẹ đẫm chất Quan họ đã thấm sâu vào hồn tôi để rồi mỗi ngày lớn lên, cái chất dân ca đằm say ấy nó lại càng ngấm vào từng mạch máu, hơi thở của tôi. Càng đi sâu vào những làn điệu, những câu ca Quan họ cổ, tôi càng mường tượng ra một không gian Quan họ xưa kia sao mà bao la, ngút ngát nhưng cũng gần gũi, bình dị làm sao. Ẩn chứa trong sự mộc mạc, dung dị của dân ca Quan họ là những nét thanh cao, kiêu sa đến ngưỡng mộ. Có những câu ca rất giản dị, gần gũi mà ăm ắp tình người: « Dưới giời mấy kẻ biết chơiChơi cho lở đất, long giời mới hayChơi cho sông cạn lại đầyCho thuyền về bến, cho mây gặp rồngChơi cho loan phượng trùng phùngChơi cho nên nghĩa nên tình đôi ta ».(Dưới giời mấy kẻ biết chơi)Có những câu ca lại sâu sắc, ẩn chứa những tâm sự đầy vơi nỗi niềm mà người đời xem chừng khó có thể diễn đạt: « Sầu riêng em vẫn âm thầmVui này cho bõ đau ngầm ngày xưa Ai làm gan héo dạ sầuEm ngồi, em nghĩ càng cay đắng lòng.Người về tựa chốn loan phòngEm về thắp ngọn đèn chong canh dài ».(Trống Rồng) Những nỗi niềm gửi trao, những hờn ghen, trách cứ trong câu ca được giãi bày hết sức tế nhị mà sâu sa đến thế: « Anh tư đã có chốn để em chờ đợi luống côngChữ chung tình đã hẹn từ xưa ».(Lòng vẫn đợi chờ)Hoặc: « Yêu hoa phải giữ lấy màu cho hoaXin đừng chê xấu chê xa,Chê em vụng nói cửa nhà neo đơn.Trong làng cũng có nơi hơn,Trái duyên chẳng thuận phải sang quê người ».(Người ngoan)Bao nhiêu làn điệu, bao nhiều lời ca cũng chỉ gói gọn trong chủ đề tình yêu, nhưng đề tài này nói sao cho vừa, nói sao cho hết; một đề tài vô tận để người quan họ khai thác, thế mới thấy sự tài tình xưa kia của người quê Quan họ khi sáng tạo loại hình dân ca quý báu này. Lối chơi tao nhã, phóng khoáng mà lại khiêm nhường của người Quan họ càng làm nổi bật cốt cách của mình. Người Quan họ có nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng mà không nơi nào có được. Giữa bộn bề công việc thường nhật của mình, họ đã tạo ra một không gian riêng biệt, một thú chơi lôi cuốn mọi tầng lớp trong xã hội xa xưa ở xứ sở này đều muốn vào cuộc chơi một cách tự nguyện và hết sức say sưa. Sau những giờ lao động vất vả, họ lại tụ họp bên nhau để ca hát, đặt lời, bẻ giọng những câu ca mới. Họ ca với nhau những canh Quan họ thâu đêm, rạng ngày; cho tàn canh mãn võ để vui dân, vui xóm, vui bầu, vui bạn. Và rồi lúc chia tay họ cứ mãi dùng dằng, dan díu mà chẳng nỡ dứt dây sao cho đành. Ngoài những lúc thư nhàn cùng nhau sinh hoạt văn hóa Quan họ, họ lại gần gũi, động viên, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống khó khăn hàng ngày của mình. Điều đặc biệt quan trọng là họ thực hiện hết sức nghiêm cẩn những gì đã đề ra trong lối chơi Quan họ khi đã thành quy tắc. Người Quan họ luôn cẩn trọng trong trang phục, giao tiếp và mọi hành vi ứng xử của mình. Tất cả những gì mà quê hương Quan họ đã khởi nguồn và gìn giữ cho đến ngày nay thật xứng với thành quả mà họ đã gặt hái được. Chính vì vậy mà vào ngày 30 tháng 9 năm 2009, dân ca Quan họ Bắc Ninh chính thức được tổ chức Unesco công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Sau thời điểm này, dân ca Quan họ Bắc Ninh có thể nói đã đạt đến đỉnh cao về nhu cầu của cộng đồng người nghe cũng như những người muốn tự mình ca lên được những làn điệu dân ca quan họ. Khắp trong và ngoài tỉnh rộ lên phong trào ca hát Quan họ. Nhiều nơi thành lập những câu lạc bộ Quan họ và có nhu cầu học hỏi về loại hình dân ca này. Thật tự hào về nét văn hóa đặc sắc của quê hương và một niềm tin trong tôi cũng như người dân nơi đây chắc chắn sẽ không bao giờ phai: Dân ca Quan họ Bắc Ninh sẽ mãi mãi trường tồn và lan tỏa.

Nguyễn Quốc Thệ

1d  · 💧♥️Thí sinh Lê Thị Kim Anh – 026💧♥️GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ – NGƯỜI CÓ ĐÓNG GÓP LỚN CHO NỀN ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM, NHẤT LÀ NGHIÊN CỨU VÀ QUẢNG BÀ ÂM NHẠC VIỆT NAM RA THẾ GIỚI (Lê Thị Kim Anh – ĐH Văn Hiến)1.Ngày 24/6/2015, GS. Trần Văn Khê – một người thầy, một nhà văn hóa lớn, một nhà nghiên cứu và truyền bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam kiệt xuất trút hơi thở sau cùng để bước vào cõi vĩnh hằng sau gần trăm năm hiện diện và góp phần bảo vệ phát huy truyền bá những tinh hoa quê hương đất nước đến với bạn bè năm châu.GS. Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh,biết đàn những bản dễ như « Lưu Thuỷ », « Bình Bán vắn », « Kim Tiền », « Long Hổ Hội ». Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca. Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931. Ông có một người anh họ ngoại (con ông Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca.Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt) và Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm.GS. Trần Văn Khê có người em trai là nhạc sĩ Trần Văn Trạch và em gái út là Trần Ngọc Sương. Nhạc sĩ Trần Văn Trạch là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng ở Sài gòn trước năm 1975. Trần Ngọc Sương sinh năm 1925, từng là ca sĩ lấy biệt hiệu là Ngọc Sương, sau đổi lại là Thủy Ngọc trong những năm 1948-50, và hiện sống tại Montreal, Canada.Người vợ duy nhất của GS. Trần Văn Khê là bà Nguyễn Thị Sương (1921-2014). Ông Trần Văn Khê có bốn người con với bà Sương: Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh, kiến trúc sư, hiện sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thị Thủy Tiên hiện sống tại Paris, và Trần Thị Thủy Ngọc, nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu Đông Nam Á của trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học ở Paris.Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, năm 2006, ông chính thức trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.Được sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống âm nhạc, thầy Trần Văn Khê ngay từ những năm tháng tuổi thơ đã được hấp thụ những bài học qua tiếng hát ru của mẹ và cung đàn của cha, một phương pháp giáo dục mà sau này thầy vẫn gọi là “thai giáo” là “gia giáo” (giáo dục gia đình) trong các buổi chia sẻ với báo giới, nên âm nhạc truyền thống Việt Nam đã đi vào tâm thức của thầy Trần Văn Khê một cách rất tự nhiên, hình thành nên một tình yêu gắn liền giữa âm nhạc – truyền thống gia đình. Tuy nhiên, do vấn đề thời cuộc, thầy Khê buộc phải rời quê hương lưu lạc nơi đất khách quê người hơn nửa thế kỷ. Trong suốt thời gian sống, học tập và làm việc tại hải ngoại, ý thức dân tộc được điều kiện trỗi dậy trong thầy mạnh mẽ. Đó chính là động lực để thầy say sưa nghiên cứu, so sánh và truyền bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới. Nếu tình yêu âm nhạc của thầy Trần Văn Khê lúc còn ở quê nhà được hình từ “âm nhạc” và “truyền thống gia đình”, thì giờ đây tình yêu ấy còn là quê hương đất nước, dân tộc Việt Nam.Thầy Trần Văn Khê tuyệt đối không phải là người duy nhất yêu mến nhạc truyền thống, cũng không phải người đầu tiên nghiên cứu và hệ thống lại âm nhạc truyền thống Việt Nam, nhưng chính do bối cảnh lịch sử đã tạo cho thầy có một tiền đề mà không phải ai cũng có được, đó là một tình yêu âm nhạc được xây dựng trên nền tảng của âm nhạc – truyền thống gia đình – truyền thống dân tộc. Chính trên cơ sở ấy, đã tạo nên sự thành công “không tiền khoán hậu” trong suốt hành trình của thầy Trần Văn Khê, để mỗi khi nhắc đến thầy người ta sẽ nghĩ ngay đến âm nhạc và văn hóa Việt Nam, và ngược lại nói đến văn hóa và âm nhạc truyền thống Việt Nam người ta sẽ nghĩ ngay đến thầy Trần Văn Khê.Chính quá trình miệt mài nghiên tầm trong công tác sưu tầm, hệ thống, nghiên cứu với một ý thức cực kỳ cao độ, đã khiến thầy tích tụ được một kho tàng tri thức về âm nhạc truyền thống khổng lồ không chỉ của Việt Nam mà còn của cả Châu Á. Từ đó, thầy luôn có tâm nguyện được giảng dạy và truyền trao tất cả những hiểu biết của mình cho thế hệ kế tục. Trong suốt quá trình giảng dạy tại Đại học Sorbonne, thầy Trần Văn Khê luôn tận tâm giảng dạy cho tất cả các môn sinh tìm đến thầy để học về âm nhạc truyền thống Châu Á. Có rất nhiều trong số đó thành đạt, trở thành những giáo sư, nhà nghiên cứu đầu ngành ở khắp mọi nơi trên thế giới, nhưng rồi Trần Văn Khê với ý thức cao độ về quốc gia dân tộc của mình, thầy mong mỏi được một lần hướng dẫn và chấm luận án cho một sinh viên Việt Nam đến nghiên cứu về âm nhạc Việt Nam tại Đại học Sorbonne. Khát vọng ấy phải đến năm 1976 khi thầy gặp Nguyễn Thuyết Phong, người Việt Nam đến Đại học Sorbonne làm luận án về Âm nhạc Phật giáo Việt Nam thì ông mới thỏa được ước mơ.Tuy nhiên, trong lòng thầy lại luôn canh cánh một ước mơ to lớn hơn “được dạy âm nhạc Việt Nam cho học sinh Việt Nam ngay trên đất Việt Nam”. Ước mơ ấy của thầy Trần Văn Khê được hiện thực hóa sau khi thầy hồi hương và gặp được thầy Cao Văn Phường – Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Hiệu trưởng Trường Đại học Bình Dương vào năm 2005. Với cuộc gặp gỡ giữa hai tâm hồn lớn có cùng một điểm chung là tự ý thức gánh vác trách nhiệm văn hóa giáo dục của nước nhà mà không chờ đợi bất kỳ sự giao phó nào. Bên cạnh đó, bằng sự đồng cảm sâu sắc với triết lý giáo dục Học – Hỏi – Hiểu – Hành để xây dựng những con người có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội và thiên nhiên của Trường Đại học Bình Dương, thầy Trần Văn Khê đã dành cả mười năm cuối cùng của cuộc đời đồng hành cùng thầy và trò Trường Đại học Bình Dương. Mặc dù tuổi cao sức yếu, mặc dù bệnh tật hành hạ trong những lúc trái gió trở trời, song thầy Trần Văn Khê vẫn luôn ưu ái dành những giờ giảng hăng say về âm nhạc truyền thống, về văn hóa cho các thế hệ thầy và trò Trường Đại học Bình Dương, nơi mà thầy Khê xem như là “ngôi nhà thứ hai” của mình. Trong suốt mười năm gắn bó, thầy Khê và các thế hệ thầy và trò Trường Đại học Bình Dương đã có những kỷ niệm sâu sắc khó có thể phai mờ cùng năm tháng. Mà trên hết chính là cốt cách, tinh thần trách nhiệm của một người thầy mẫu mực trong sự nghiệp phụng sự dân tộc được kết nên từ cuộc đời của thầy Khê sẽ mãi là mực thước để thầy và trò Trường Đại học Bình Dương nâng niu, gìn giữ, học tập.Sự trở về của thầy Trần Văn Khê sau hơn nửa thế kỷ sống tại Pháp cùng với 420 kiện hiện vật quý giá bao gồm sách vở, từ điển, bài viết, đĩa hát, băng cassettes, công trình nghiên cứu, nhật ký diền dã và nhiều nhạc cụ thầy sưu tập được suốt chặng đường nghiên cứu… để hiến tặng cho Việt Nam sau khi thầy qua đời. Điều ấy, lại một lần nữa khẳng định ý thức phụng sự quê hương đất nước, kề vai gánh lấy và hoàn thành xuất sắc một phần trách nhiệm to lớn của đất nước mặc dù không ai giao phó, đó là tinh thần của trí thức chân chính Việt Nam.2.CẢM NHẬN CỦA EM VỀ LÀN ĐIỆU DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINHTrong các loại hình dân ca tiêu biểu, có thể nói dân ca Quan họ Bắc Ninh được đánh giá là loại hình dân ca đặc sắc và được nhiều người yêu thích nhất. Điều đó được khẳng định không chỉ bởi những làn điệu ngọt ngào, đằm thắm; những ca từ mộc mạc nhưng rất tinh túy mà còn bởi nghề chơi Quan họ độc đáo, đầy sức cuốn hút. Xưa kia, người Quan họ không gọi là hát Quan họ mà gọi là chơi Quan họ, một thú chơi dân dã, tao nhã, nhưng có sức quyến rũ mãnh liệt người chơi và người được thưởng thức. Vào canh hát, người Quan họ như tỉnh như say, canh hát càng về khuya càng trầm, càng bổng, càng mặn nồng thiết tha. Từ khi còn trong nôi, lời ru của bà, của mẹ đẫm chất Quan họ đã thấm sâu vào hồn tôi để rồi mỗi ngày lớn lên, cái chất dân ca đằm say ấy nó lại càng ngấm vào từng mạch máu, hơi thở của tôi. Càng đi sâu vào những làn điệu, những câu ca Quan họ cổ, tôi càng mường tượng ra một không gian Quan họ xưa kia sao mà bao la, ngút ngát nhưng cũng gần gũi, bình dị làm sao. Ẩn chứa trong sự mộc mạc, dung dị của dân ca Quan họ là những nét thanh cao, kiêu sa đến ngưỡng mộ. Có những câu ca rất giản dị, gần gũi mà ăm ắp tình người: « Dưới giời mấy kẻ biết chơiChơi cho lở đất, long giời mới hayChơi cho sông cạn lại đầyCho thuyền về bến, cho mây gặp rồngChơi cho loan phượng trùng phùngChơi cho nên nghĩa nên tình đôi ta ».(Dưới giời mấy kẻ biết chơi)Có những câu ca lại sâu sắc, ẩn chứa những tâm sự đầy vơi nỗi niềm mà người đời xem chừng khó có thể diễn đạt: « Sầu riêng em vẫn âm thầmVui này cho bõ đau ngầm ngày xưa Ai làm gan héo dạ sầuEm ngồi, em nghĩ càng cay đắng lòng.Người về tựa chốn loan phòngEm về thắp ngọn đèn chong canh dài ».(Trống Rồng) Những nỗi niềm gửi trao, những hờn ghen, trách cứ trong câu ca được giãi bày hết sức tế nhị mà sâu sa đến thế: « Anh tư đã có chốn để em chờ đợi luống côngChữ chung tình đã hẹn từ xưa ».(Lòng vẫn đợi chờ)Hoặc: « Yêu hoa phải giữ lấy màu cho hoaXin đừng chê xấu chê xa,Chê em vụng nói cửa nhà neo đơn.Trong làng cũng có nơi hơn,Trái duyên chẳng thuận phải sang quê người ».(Người ngoan)Bao nhiêu làn điệu, bao nhiều lời ca cũng chỉ gói gọn trong chủ đề tình yêu, nhưng đề tài này nói sao cho vừa, nói sao cho hết; một đề tài vô tận để người quan họ khai thác, thế mới thấy sự tài tình xưa kia của người quê Quan họ khi sáng tạo loại hình dân ca quý báu này. Lối chơi tao nhã, phóng khoáng mà lại khiêm nhường của người Quan họ càng làm nổi bật cốt cách của mình. Người Quan họ có nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng mà không nơi nào có được. Giữa bộn bề công việc thường nhật của mình, họ đã tạo ra một không gian riêng biệt, một thú chơi lôi cuốn mọi tầng lớp trong xã hội xa xưa ở xứ sở này đều muốn vào cuộc chơi một cách tự nguyện và hết sức say sưa. Sau những giờ lao động vất vả, họ lại tụ họp bên nhau để ca hát, đặt lời, bẻ giọng những câu ca mới. Họ ca với nhau những canh Quan họ thâu đêm, rạng ngày; cho tàn canh mãn võ để vui dân, vui xóm, vui bầu, vui bạn. Và rồi lúc chia tay họ cứ mãi dùng dằng, dan díu mà chẳng nỡ dứt dây sao cho đành. Ngoài những lúc thư nhàn cùng nhau sinh hoạt văn hóa Quan họ, họ lại gần gũi, động viên, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống khó khăn hàng ngày của mình. Điều đặc biệt quan trọng là họ thực hiện hết sức nghiêm cẩn những gì đã đề ra trong lối chơi Quan họ khi đã thành quy tắc. Người Quan họ luôn cẩn trọng trong trang phục, giao tiếp và mọi hành vi ứng xử của mình. Tất cả những gì mà quê hương Quan họ đã khởi nguồn và gìn giữ cho đến ngày nay thật xứng với thành quả mà họ đã gặt hái được. Chính vì vậy mà vào ngày 30 tháng 9 năm 2009, dân ca Quan họ Bắc Ninh chính thức được tổ chức Unesco công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Sau thời điểm này, dân ca Quan họ Bắc Ninh có thể nói đã đạt đến đỉnh cao về nhu cầu của cộng đồng người nghe cũng như những người muốn tự mình ca lên được những làn điệu dân ca quan họ. Khắp trong và ngoài tỉnh rộ lên phong trào ca hát Quan họ. Nhiều nơi thành lập những câu lạc bộ Quan họ và có nhu cầu học hỏi về loại hình dân ca này. Thật tự hào về nét văn hóa đặc sắc của quê hương và một niềm tin trong tôi cũng như người dân nơi đây chắc chắn sẽ không bao giờ phai: Dân ca Quan họ Bắc Ninh sẽ mãi mãi trường tồn và lan tỏa.

Thí sinh Huỳnh Thanh Hồng – 027: viết từ Tây Đô về Giáo sư Trần Văn Khê kính mến

Nguyễn Quốc Thệ

1d  · 💧♥️Thí sinh Huỳnh Thanh Hồng – 027

💧♥️Huỳnh Thanh Hồng (Đại học Cần Thơ) …

viết từ Tây Đô về Giáo sư Trần Văn Khê kính mến.

1.Năm nay là năm 2021, thế giới đang bước vào “kỷ nguyên số” với đặc điểm, tính chất và sự tác động sâu rộng giữa các nước. Ngoài sự hội nhập về kinh tế, khoa học – kỷ thuật,… thì sự hội nhập về văn hóa là không thể thiếu. Mà nói đến Văn hóa thì phải nói đến âm nhạc.

Những năm gần đây, âm nhạc Việt Nam có ảnh hưởng “nhẹ” từ âm nhạc nước ngoài như Hàn, Trung hay USUK,… dần đánh mất đi nét truyền thống âm nhạc Việt Nam ta. Âm nhạc truyền thống là quá trình ngàn năm lịch sử, ông cha ta đã dày công sáng tạo và tạo dưng nên một nền văn hóa âm nhạc truyền thống phong phú. Đã nói đến âm nhạc truyền thống Việt Nam thì ta không thể nào không nhắc đến giáo sư Trần Văn Khê – nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc truền thống Việt Nam.

Giáo sư Trần Văn Khê sinh ngày 21/7/1921 tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang), ông là con “nhà nồi” với truyền thống âm nhạc lâu đời. Từ năm 1949, ông sang Pháp du học và thi đỗ vào trường Chính trị Khoa giao dịch quốc tế năm 1951. Năm 1958, ông theo học khoa nhạc học đông thời làm luận văn tiến sĩ và đỗ tiến sĩ trường Đại học Sorbonne với bài luận văn “LaMusicque vietnamienne traditionnelle”. Đối với âm nhạc truyền thống Việt Nam thì giáo sư Trần Văn Khê đã dành cả đời mình để giữ gìn và phát huy. Truyền thống là một điều mà con người ta không nên đánh mất “Bao nhiêu người nước ngoài sẻ đến thăm chúng ta, nhìn vào chúng ta, nhìn vào đất nước chúng ta thì người ta nhìn không phải coi thanh niên Việt Nam bắt trước ngoài hay như thế nào, không phải nhìn coi thanh niên Việt Nam hát pop, hát rock,… hay như thế nào mà tìm coi thanh niên Việt Nam có gì đặc biệt, đặc thù và có cái bản sắc dân tộc của thanh niên Việt Nam. Do đó, chúng tôi khuyên các bạn có chơi thì chơi. Thế nhưng không bao giờ nên quên rằng: dân tộc Việt Nam có một cái nền âm nhạc và cái nền văn hóa rất sâu sắc, xin các bạn tìm hiểu, có hiểu mới biết, có biết mới thương, có thương mới chịu khó học tập, có thương mới chịu khó luyện tập, có thương mới chịu khó biểu diễn” – lời nhắc nhủ của giáo sư Trần Văn Khê đến thanh niên Việt Nam.

Minh chứng rõ nhất về sự giữ gìn văn hóa của giáo sư Trần Văn Khê đó là ông chất giọng mang đậm chất miền Tây của ông dù sống mấy chục năm ở đất khách quê người vẫn không mất đi. Sự đóng góp của giáo sư Trần Văn Khê đối với nền âm nhạc dân tộc là vô cùng to lớn. Vào 2006, ông đưa kho tàng tư liệu quý cùng những bài viết, hình ảnh, băng đĩa của mình về quê hương truyền thụ cho học trò. Ông là người góp phần rất lớn trong việc xúc tiến UNESCO công nhận “ không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” là kiệt tác di sản nhân loại. Trước đó, ông đã thuyết phục được Nhà nước cho ông thu âm ca trù để giới thiệu ra quốc tế vào năm 1976 – mang ca trù vươn tầm thế giới. Đến gần cuối cuộc đời của mình, giáo sư Trần Văn Khê với tâm nguyện truyền bá âm nhạc dân tộc truyền thống đến giới trẻ nước nhà. Giáo sư đã “hồi cố hương” ở tuổi 85, ông về quê hương tiếp tục giảng dạy và truyền bá âm nhạc dân tộc. Những năm cuối đời của mình, giáo sư Trần Văn Khê đã ở tại ngôi nhà số 32 Huỳnh Đình Hai (quận Bình Thạnh, TP.HCM). Ở đây, có gần 100 buổi sinh hoạt về đàn tranh, đàn đá, hát bội, vọng cổ, ca trù,… truyền thống Việt Nam… đã diễn ra. Trong ngôi nhà của mình, giáo sư Trần Văn Khê chỉ ở phòng nhỏ phía sau, toàn bộ không gian là không gian chung để tổ chức các buổi sinh hoạt, giao lưu. Ngôi nhà này trở thành địa chỉ văn hóa cho những ai muốn hiểu và nghiên cứu về âm nhạc dân tộc. Đến khi giáo sư Trần Văn Khê nằm xuống thì di nguyện của ông là ngôi nhà sẻ trở thành nơi lưu niệm và tiếp tục các hoạt động văn hóa. Nhưng với nhiều lí do, đến nay ngôi nhà đã là trụ sở Trung tâm Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa TP.HCM. Hi vọng, chúng ta sớm sẻ thấy được “không gian Trần Văn Khê” để tiếp nối di nguyện của giáo sư và có nơi để những người yêu thích âm nhạc truyền thống tìm hiểu và nghiên cứu. “Giáo sư Trần Văn Khê đã qua đời nhưng tất cả di sản đồ sộ cũng như những cống hiến lớn lao của ông đã khiến cho giáo sư Trần Văn Khê trở thành một biểu tương của văn hóa Việt Nam” – TS. Nguyễn Xuân Diệu.

2.Âm nhạc truyền thống Việt Nam đã có từ rất lâu đời, nó xuất phát từ quá trình phát triển của dân cư. Nhu cầu đối với âm nhạc của dân cử là để bộc lộ tâm tư tình cảm, cổ vũ tinh thần lao động,… vì những nhu cầu đó, họ đã không ngừng sáng tạo ra các nhạc cụ hay các thể loại âm nhạc khác nhau. Âm nhạc truyền thống rất phông phú: hát ru, hát chèo, ca trù, đàn ca tài tử, hát bộ,… tuy vào vùng miền mà có sắc thái khác nhau. Có lẽ, vì được sinh ra và lớn lên ở miền Tây Nam Bộ nên đàn ca tài tử đã trở thành một phần trong trong người mình. Đàn ca tài tử là âm nhạc dân tộc của Việt Nam được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể. Đàn ca tài tử là loại hình nghệ thuật đặc trưng của vùng Nam Bộ, nó kết hợp giữa đàn và ca được các người dân nông thôn hát ca sau những giờ lao động vất vả. Đàn ca tài tử ra đời trong giai đoạn thực dân Pháp xâm lược nước ta, trở thành hình thức cổ vũ tinh thần chống ngoại xâm và kiềm hãm sự xâm nhập của âm nhạc phương Tây. Các bài đàn ca tài tử dựa trên nhacj Lễ, nhạc cung đình, nhạc dân gian miền Trung và miền Nam. Các bài trong đàn ca tài tử được biến đổi liên tục dưa trên 72 bài nhạc cô và 20 bài gốc cho 4 điệu gồm: 6 bài Bắc (diễn tả sự vui tươi), 7 bài Hạ (dùng trong lễ, có tính trang nghiêm), 3 bài Nam (diễn tả sự an nhàn) và 4 bài Oán (diễn tả sự buông bã, chia ly). Nhạc cụ trong đàn ca tài tử: đàn kìm, đàn tranh, đàn cò, đàn tỳ bà, đàn tam, sáo, tiêu, song lang,… sau này có thêm: đàn guita phím lõm, violin, đàn guita Hawaii. Trong đàn ca tài tử chia làm: thầy đàn (thầy đờn) người có kỷ thuật đàn giỏi, am hiểu nhạc lí, người dạy đàn,người đặt lời (thầy tuồng) người sáng tạo bài hát, thầy ca là người thông thạo các bài bản cổ, có kỷ thuật ca điêu luyện, người cách ca ngâm, ngân, luyến… người đàn (danh cầm) người chơi nhạc cụ và cuối cùng người ca là người thể hiện ca khúc bằng lời. Người được sinh ra và lớn lên ở Nam Bộ chắc sẻ không ai là không biết bài “Dạ cổ hoài lang” của Cao Văn Lầu. Đầu thế kỷ XX, ông Cao Văn Lầu (Sáu Lầu) đã sáng tác bài “Dạ cổ hoài lang” là một bài trong những bài hát nổi tiếng và phổ biến nhất của đàn ca tài tử, nó pha triển từ nhịp 2, 4, 16, 32, … đến nhịp 64. Dạ cổ hoài lang nói về cuộc tình của chính tác giả. Vợ chồng ông chung sống được 3 năm nhưng không có con nên ông phải chia tay vợ vì tư tưởng “Tam niên vô tử bất thành thê”. Với sự nhớ nhung và đau buồn khi phải chia xa với người vợ hiền thảo rồi ông nghĩ vợ mình chắc chắn vợ mình sẻ nhớ mình còn nhiều hơn là mình nhớ vợ nên viết bản Dạ cổ hoài lang để nói thay lòng vợ mình. Nó thể hiện sự nhớ nhung da diết của người vợ đối với chồng mình, luôn hi vọng chồng mình “an bình an”, thể hiện được nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Giáo sư Trần Văn Khê khẳng định: “Trong cổ nhạc Việt Nam, chưa có bài bản nào được như “Dạ cổ hoài lang” biến thành vọng cổ”. Đàn ca tài tử là một nét đẹp truyền thống của Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng, nó không chỉ đẹp về âm nhạc mà nó còn gắn liền với văn hóa của người Nam Bộ thể hiện được sự giản dị, mộc mạc mà mang đậm tình của người dân đất phương Nam.

Văn hóa dân tộc nói chung và âm nhạc truyền thống nói riêng là tài sản vô giá mà ông cha ta đã để lại. Vì vậy, chúng ta nên cố gắng gìn giữ và phát huy nét đẹp ấy! Hội nhập nhưng đừng đánh mất truyền thống!

Thí sinh Lư Tiểu Duy – 028: Tìm hiểu về giáo sư Trần Văn Khêvà âm nhạc truyền thống Việt Nam

Nguyễn Quốc Thệ

23h  · 💧♥️Thí sinh Lư Tiểu Duy – 028

💧♥️Tìm hiểu về giáo sư Trần Văn Khêvà âm nhạc truyền thống Việt Nam

Lư Tiểu Duy (Đại học Sư phạm Tp.HCM)Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Văn hóa – Văn nghệ là một Mặt trận, các anh chị em văn nghệ sĩ chính là những chiến sĩ trên Mặt trận ấy!”. Sức mạnh của văn hóa văn nghệ là không thể phủ nhận, đó là nên tảng tinh thần của xã hội, góp phần phát triển xã hội. Đúng như Bác đã nói, những người nghệ sĩ chính là chiến sĩ trên Mặt trận văn hóa. Điều này không chỉ đúng trong thời chiến, khi mà các cô các chú hát bài Hò kéo pháo tiếp thêm sức mạnh cho nhau, hay cất tiếng hát trong veo như tiếng suối để át tiếng đục ngầu, ầm ĩ của đạn bom. Mà trong cuộc sống hòa bình hôm nay, họ vẫn là những người chiến sĩ đang nỗ lực cống hiến cho nghệ thuật thăng hoa và nuôi dưỡng tâm hồn người Việt. Cố giáo sư Trần Văn Khê là người chiến sĩ xuất sắc trên Mặt trận ấy. Người đã dùng cuộc đời mình để mang âm nhạc truyền thống Việt Nam vươn ra thế giới.

Cố giáo sư Trần Văn Khê được sinh ra ở Tiền Giang, trong gia đình có truyền thống nghệ thuật. Có lẽ vì vậy mà từ thuở nhỏ những giai điệu mượt mà mộc mạc của đờn ca tài tử, của những bài bản cải lương đã đi sâu và tâm trí của ông. Gom góp sẵn cho ông một vốn liếng quý giá là tình đất, tình người, tiếng nói của quê hương. Để cho con đường sau này ông đi, dù có xa xôi bao nhiêu vẫn không phai nhạt đi hồn dân tộc trong mình. Thật vậy, cuộc đời ông dù có đi qua nhiều nước trên thế giới những trái tim ông vẫn vẹn nguyên dành cho âm nhạc truyền thống Việt Nam. Những năm học ở Hà Nội, ông vẫn tích cực tìm hiểu văn hóa và thể hiện năng khiếu của mình về âm nhạc. Sau trở về Nam chiến đấu, khi đất nước đã độc lập thì ông lên đường sang Pháp du học. Ở nơi đất khách quê người nhiều năm nhưng ông vẫn thể hiện tình yêu của mình với quê hương, từ việc chơi đàn để kiếm thêm thu nhập thì cố giáo sư luôn chơi những cây đàn dân tộc và những bài nhạc dân tộc Việt Nam. Đến luận án tiến sĩ của ông cũng lấy đề tài chính là: “Âm nhạc truyền thống Việt Nam”. Có thể thấy dù đi xa đến đâu thì tình yêu của ông đối với văn hóa nước nhà nói chung và âm nhạc truyền thống dân tộc nói riêng vẫn luôn son sắc thủy chung. Bằng chứng là sau đó cố giáo sư Trần văn Khê đã tham gia vào nhiều nghiên cứu có giá trị và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới. Để cho các nước bạn được biết về một nền âm nhạc truyền thống đặc sắc và tinh tế của người Việt Nam. Ông tham gia giảng dạy và thuyết giảng về âm nhạc truyền thống cả trong và ngoài nước, những bài diễn thuyết của ông vô cùng sinh động với những câu hát minh họa về thể loại đang nói đến do chính ông hát. Cố giáo sư Trần Văn Khê đã lan tỏa tình yêu, sự hiểu biết của mình với âm nhạc truyền thống đến rất nhiều người, đó có thể là bạn bè quốc tế, có thể là những người nghệ sĩ, người mộ điệu và cả thế hệ trẻ, những mầm non của đất nước. Nói rằng ông dành cả đời mình để cống hiến cho âm nhạc truyền thống Việt Nam cũng hoàn toàn hợp lí, khi trở lại Việt Nam ông đã dành tặng những kỉ vật có giá trị về âm nhạc truyền thống Việt Nam nói riêng và âm nhạc nói chung cho Viện Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh. Và trong suốt những năm sau đó ông vẫn nghiên cứu và giảng dạy về âm nhạc truyền thống. Cố giáo sư Trần Văn Khê là một người Việt Nam yêu sâu đậm văn hóa Việt Nam và dành cuộc đời mình để phát triển, lan tỏa âm nhạc truyền thống Việt Nam. Dù ông không còn nữa nhưng những di sản và đóng góp của ông vẫn luôn là nguồn tài liệu quý và tấm gương sáng để những người chiến sĩ trên Mặt trận văn nghệ noi theo.

Âm nhạc truyền thống Việt Nam giàu đẹp như thế nào có lẽ không quá khó để trả lời, nhưng với cá nhân tôi thì âm nhạc truyền thống là một phần của dòng máu đỏ đang trôi chảy trong huyết quản này. Là đứa con của quê hương Cà Mau, từ nhỏ tôi đã được đắm chìm trong những câu hò, điệu lý và những bài vọng cổ mẹ dùng để hát ru. Theo lời ru đó tôi lớn dần lên với một loại tình yêu dành cho những bài ca vọng cổ. Bây giờ thỉnh thoảng tôi vẫn nghe bà nội tôi kể về tôi, hồi mới ba tuổi đi chơi ở trước nhà (trước nhà nội tôi là một con kênh, miền Tây mà, kênh rạch nhiều lắm), rồi bà hàng xóm của nội tôi ở bên kia sông, nhìn thấy tôi liền nói với qua: “Dy ơi, ca cho bác Năm nghe câu vọng cổ đi con”, rồi bà nội tôi vừa kể vừa cười: “Bả kêu dị đó, cái là nó đứng bên này quay mặt qua bển hát vọng cổ cho bả nghe”.

Chuyện lâu lắm rồi, đứa trẻ như tôi đã không còn nhớ, nhưng bà nội tôi thì vẫn nhớ hoài hình ảnh đứa cháu nhỏ đứng hát vọng cổ cho người hàng xóm nghe. Một chuyện vui nhỏ thuở thơ ấu của tôi nữa, ngày xưa ở quê tôi nhiều nhà có đĩa karaoke lắm, may sau nhà ngoại tôi cũng có. Nhưng lúc ấy tôi mới năm tuổi, chưa đi học nên không biết chữ, vậy mà vẫn hát được mấy bài vọng cổ của Phi Nhung – Mạnh Quỳnh trong đĩa. Bà ngoại tôi còn nhớ: “Nó khoái nhứt bài Căn nhà màu tím, bắt lên là hát đúng bon, mà có biết chữ nào đâu, nó nghe hát, nó thuộc rồi nó hát lại y chang”. Hai mẩu chuyện nhỏ nhỏ trên có thể lí giải cho tình yêu của tôi dành cho đờn ca tài tử. Mà đâu chỉ có tôi, ở quê tôi ai cũng mê đờn ca tài tử. Nhiều người nói giờ đờn ca tài tử với cải lương không bằng nhạc trẻ, nhạc remix. Nhưng riêng tôi thì không hề thấy vậy, ở quê tôi bắt gặp những câu vọng cổ ở khắp nơi, ngoài đồng lao động hay lúc ăn uống vui chơi, lên thành phố học tôi gặp những con người dốc tâm sức vào duy trì, phát triển và lan tỏa đờn ca tài tử. Thuở bé, tôi hay lấy chăn màn quấn lên người giả làm công chúa, phu nhân rồi vừa diễn vừa hát. Những tưởng đó chỉ là ước mơ đứa trẻ nào cũng có, theo quá trình trưởng thành thì sẽ mất đi. Nhưng thật may mắn cho tôi, ngày 27/10/2020 là ngày Hội Up đón Tân sinh viên của trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ chí Minh (ngôi trường tôi đang theo học), tại đây tôi và các bạn của mình đã được phép tổ chức một buổi biểu diễn và gặp gỡ với các bạn sinh viên. Hôm đó chúng tôi biểu diễn một trích đoạn cải lương cho hai bạn trong nhóm tự sáng tác mang tên Long Bào – Ánh quanh minh Đại Cồ Việt. Tôi được đóng vai Thái hậu Dương Vân Nga, đứa trẻ ngày xưa bước ra với trâm cài, mấn đội, xiêm y lộng lẫy là cô đào chính, xuống câu vọng cổ thì tiếng vỗ tay vang cả hội trường có hơn 200 khán giả. Phải, tôi cũng đã là một người trong rất nhiều người không ngừng cố gắn lan tỏa giá trị của âm nhạc truyền thống nói chung và đờn ca tài tử, cải lương nói riêng. Đờn ca tài tử có những nguyên tắc và yêu cầu về giọng hát khi hát, nhưng nó không khắt khe, trói buộc mà đó chính là khung xương cho sự thăng hoa của người hát. Một cách kì diệu mà đờn ca tài tử ăn sâu vào lời ăn tiếng nói của người Nam Bộ, nhiều khi đang nói nhưng muốn đệm vào câu hát là hát thôi chứ không cần lo nghĩ là hát như vậy đúng nhịp chưa, đúng lời chưa. Phải chăng từ chính sự gần gũi đó mà đờn ca tài tử gắn liền với cuộc sông tinh thần của người dân miền Tây sông nước nói riêng và người Việt Nam nói chung.

Âm nhạc truyền thống Việt Nam không xa vời, cũ kĩ mà như suối nguồn trôi chảy trong chính con người Việt Nam. Và nhiệm vụ giữ gìn và phát triển âm nhạc truyền thống thì không phải của riêng ai mà là của tất cả mọi người. Trong tương lai, tôi sẽ trở thành giáo viên, ý thức được ngoài việc dạy kiến thức thì dạy cho học sinh về văn hóa cũng vô cùng quan trọng. Tôi sẽ noi theo tấm gương của giáo sư Trần Văn Khê, tìm hiểu nhiều hơn về văn hóa của dân tộc mình và truyền lại cho thế hệ sau này để những giá trị văn hóa được lưu giữ và phát triển. Song song đó, tôi vẫn sẽ cố gắng lan tỏa tình yêu với đờn ca tài tử và cải lương Nam bộ cho những người xung quanh mình hiểu hơn về loại hình âm nhạc truyền thống này. Chúng ta sở hữu một nền âm nhạc truyền thống đặc sắc và mang đậm hơi thở dân tộc thì không có lý do gì lại để nó bị mai một đi, vì vậy ngay hôm nay hãy thử một lần nghe lại giai điệu của quê hương và chìm đắm trong cái hồn của dân tộc mình. Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn những cống hiến của giáo sư Trần Văn Khê trong việc đưa âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới và xin đón mừng kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông.

Thí sinh Lâm Hoàng Trăng – 030: cuộc thi kỷ niệm 100 NĂM ngày sanh cố GS TRẦN VĂN KHÊ

Nguyễn Quốc Thệ

itS2pontsr1ourhed  · 💧♥️Thí sinh Lâm Hoàng Trăng – 030

💧♥️“Con được biết, Thầy từng nói chuyện về âm nhạc truyền thống với sinh viên ĐH Văn Hiến … Con không bao giờ có được diễm phúc đó! Con là Lâm Hoàng Trăng – Sinh viên ĐH Văn Hiến thưa Thầy!”

Các bạn thân mến!Việt Nam chúng ta tuy chỉ là một đất nước nhỏ bé, nhưng chúng ta lại sở hữu rất nhiều những di sản, mà ở đây tôi muốn nói đến đó chính là những Di sản văn hóa phi vật thể, những kiệt tác truyền khẩu của nhân loại được lưu giữ và truyền đời qua nhiều thế hệ. Vốn sinh ra và lớn lên ở vùng đất Tây Nam Bộ, vùng đồng bằng với chín nhánh sông mang nặng phù sa bồi đắp. Ngay từ nhỏ, tôi đã dần quen với những làn điệu dân ca, những câu hò, điệu lý, những tiếng đàn bầu, đàn cò mang nặng nghĩa tình của người dân miền châu thổ. Khi lớn lên tôi lại càng thêm yêu, thêm quý những âm thanh ấy, nó cứ thôi thúc tôi trong từng nhịp đập của hơi thở và dần dẫn tôi về với dòng nhạc truyền thống, loại hình âm nhạc mà ông cha tôi đã từng say mê và đã ăn sâu vào trong tim thịt, đó chính là “Đờn ca Tài tử”

.Với vai trò là một người làm du lịch, một sứ giả văn hóa, tôi luôn lưu giữ và tìm tòi những cái hay, cái đẹp của loại hình này để giới thiệu cho khách du lịch Việt Nam và bạn bè Quốc tế. Trong một lần tìm tòi, tôi đã vô tình bắt gặp những video hiếm hoi, rất hay, rất sâu sắc của cố giáo sư Trần Văn Khê về “Đờn ca Tài tử” và tôi cũng biết đến ông từ đó. Tuy chưa bao giờ được gặp và được cố giáo sư Trần Văn Khê giảng dạy lần nào, nhưng trong tâm khảm của tôi, tôi luôn yêu mến, quý trọng và xem ông như một người Thầy của mình. Người đã giúp tôi hiểu sâu sắc hơn về âm nhạc truyền thống, đặc biệt là loại hình “Đờn ca Tài tử”, bộ môn mà tôi đã yêu thích bấy lâu nay.

Thầy Khê sinh ngày 24/7/1921, là một người con tiêu biểu của mảnh đất Tiền Giang. Mảnh đất của địa linh nhân kiệt với cây trái sum xuê, được tưới mát bởi dòng Tiền Giang ngọt lành. Với truyền thống 4 đời làm nhạc sĩ, ngay từ nhỏ thầy đã được làm quen với dòng nhạc cổ truyền và được tiếp xúc với nhiều tiền bối trong lĩnh vực nghệ thuật. Mồ côi mẹ lúc 9 tuổi, mất cha khi lên 10, thầy cùng hai em của mình là Trần Văn Trạch và Trần Ngọc Sương, được Cô Ba Viện nuôi nấng. Anh em của thầy được Cô Ba cho đi học võ, học đàn và mạch máu âm nhạc của thầy cũng từ ấy mà ngày càng phát triển. Với trí thông minh và tài năng thiên phú hơn người của mình, thầy đã giành được rất nhiều học bổng và được thưởng nhiều chuyến du lịch kể cả trong nước và ngoài nước. Một trong những chuyến đi ấy, thầy đã quen được Lưu Hữu Phước và một số người bạn, về sau lập thành dàn nhạc của trường và dàn nhạc của học sinh trong Câu lạc bộ Học sinh mang tên Scola Club của hội Sampic, cả hai dàn nhạc đó thầy đều là người chỉ huy.Vốn là một sinh viên ngành Y, năm 1944 chứng kiến hình ảnh xác người nằm rải rác từ nhà đến bệnh viện vì nạn đói, thầy đã quyết định bỏ học y, về lập một gánh hát để mua gạo gửi cho đồng bào miền Bắc đang đói. Sau đó, thầy đã có nhiều hoạt động gắn liền với phong trào thanh niên, đưa thầy rời Việt Nam và sang Pháp du học năm 1949. Sau khi học xong chính trị, một biến cố vô cùng lớn đã ập đến với thầy, thầy lâm bệnh và phải nằm viện từ tháng 08/1951 đến tháng 10/1954 (3 năm 2 tháng). Trong khoảng thời gian này, thầy đã suy ngẫm lại công việc của mình, những việc thầy đã làm, đang làm và sẽ làm. Nhận thấy không còn thời gian học y, cũng không còn thời gian để làm những công việc chính trị, nên thầy đã quyết định nghiên cứu về thư mục rồi học hỏi thêm về nhạc cổ truyền, để làm luận án tiến sĩ về nhạc học với đề tài “Âm nhạc Truyền thống Việt Nam”. Đề tài mang hơi thở quê hương mà bấy lâu nay thầy đã bỏ quên do tâm tư lúc bấy giờ vẫn còn vọng ngoại.

Bảo vệ luận án thành công, năm 1963 thầy bắt đầu giảng dạy trong Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương dưới sự bảo trợ của viện nhạc học Paris, rồi dần dần bắt đầu hành trình giới thiệu, quảng bá âm nhạc truyền thống của Việt Nam đến nhiều nơi trên thế giới. Đến năm 2006, thầy chính thức về Việt Nam sinh sống và tiếp tục sự nghiệp của mình. Do tuổi cao sức yếu nên thầy đã trở về với đất mẹ vào ngày 24/6/2015, khép lại một hành trình dài gian truân, trắc trở với những cống hiến vô cùng ý nghĩa.

Với giới mộ điệu, cố giáo sư Trần Văn Khê là báu vật của nước nhà, ông chính là người đã có công nghiên cứu và quảng bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam ra thế giới. Dù ở bất cứ nơi đâu, Thầy Khê đều nói về giá trị đặc sắc của âm nhạc truyền thống và tầm quan trọng của việc giảng dạy, quảng bá, khai thác đúng nguyên tắc để bảo tồn và phát huy nó. Đối với thầy, thành công lớn nhất không phải là những giá trị vật chất mà là những giá trị tinh thần vô hình, những giá trị nhân văn đánh dậy tiềm thức của người Việt về âm nhạc truyền thống Việt Nam. Góp phần to lớn vào việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy những tinh hoa, tinh túy của dân tộc.

2.Các bạn thân mến!

Nếu miền Bắc có Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Ca trù… miền Trung có Nhã nhạc Cung Đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên… thì miền Nam chỉ có một đại diện duy nhất, đó chính là loại hình nghệ thuật “Đờn ca Tài tử Nam Bộ”. Đây là di sản thứ 8 của Việt Nam được UNESCO vinh danh vào tháng 12 năm 2013. Tuy hạn chế về mặt thời gian hình thành, nhưng “Đờn ca Tài tử” lại có sức ảnh hưởng vô cùng sâu rộng, trải dài khắp 21 tỉnh thành từ Duyên Hải Nam Trung Bộ cho đến Mũi Cà Mau.

Như vậy thì “Đờn ca Tài tử” xuất phát từ đâu và nó đã có mặt từ khi nào?

Cách đây hơn 300 năm, ông cha ta từ miền Thuận Quảng của vùng đất miền Trung, do những biến động của thời cuộc nên đã lên những chiếc ghe bầu, giông buồm xuôi về đất phương Nam. Hành trang của đồng bào mình ra đi trên những chiếc ghe ấy, ngoài thóc giống, heo, gà và các công cụ lao động, cha ông mình còn mang theo tiếng lòng của dân tộc, đó là những câu hò, câu hát, những điệu lý, những nhac cụ. Khi vào trong miền Nam thì việc khai phá vô cùng gian khó và nguy hiểm, buộc họ phải sống gần gũi với nhau hơn. Thế là hàng chục hộ gia đình mới tụ họp lại với nhau, cùng nhau khai hoang và lập nên làng, xóm. Buổi tối, sau những giờ lao động mệt nhọc họ quay quần bên nhau, bàn về chuyện ruộng đồng, kể về chuyện quá khứ và nhớ về quê hương bản quán. Nhâm nhi một vài ly rượu, chia sẽ từng miếng cá lóc nướng chui và những cung đàn tiếng hát cũng từ ấy cất lên. Dần già, tiếng lòng của miền Trung đã hòa hợp với cảnh sắc của phương Nam, tạo nên một loại hình âm nhạc mà chúng ta gọi là “Đờn ca Tài tử”. Cái tài tử ở đây, không phải là ngôi sao sân khấu hay điện ảnh, mà đó là những người có tài, họ hát rất hay và đàn cũng rất giỏi. Thế nhưng việc đàn, hát không phải để kiếm sống mà là chơi để thư giản cho bản thân mình và thư giản cho bà con lối xóm, chất tài tử Nam Bộ là như thế.

Về ký âm, chúng ta có: Hò Xự Xang Xê Cống U Liu. Từ những âm điệu đó mà các nhạc sĩ trứ danh như: Nguyễn Quang Đại, Trần Quang Thọ… đã đúc kết thành những bài bản cụ thể. Cuối cùng thì “Đờn ca Tài tử” có tất cả 20 bài bản tổ, bao gồm những bài Bắc, những bài Nam, những bài Oán và những bài Lễ. Ví dụ như: Nam Xuân, Lưu Thủy, Xuân Tình… Lúc đầu thì “Đờn ca Tài tử” chỉ đơn giản là đờn, hát theo bài bản, dần dần do nhu cầu của khán giả và sự sáng tạo của các nghệ nhân, nên nó đã phát triển thành ca ra bộ, về sau những tuồng tích được cải biên cũng được đưa vào, từ đó loại hình Cải lương ra đời.Một trong những dấu mốc hết sức quan trọng về sự phát triển của loại hình “Đờn ca Tài tử”, đó là sự ra đời của bài Dạ Cổ Hoài Lang vào năm 1919 bởi một nhạc sĩ hết sức tài hoa – cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu, cha đẻ của loại hình vọng cổ, một loại hình âm nhạc mới, được phát triển từ những bài bản tổ của “Đờn ca Tài tử”. Nó có sức lan tỏa và tầm ảnh hưởng vô cùng mãnh liệt.

Hiện nay, mặc dù các hoạt động về “Đờn ca Tài tử” diễn ra khá mạnh mẽ, thế nhưng có một điều làm tôi rất lo lắng, đó chính là sự du nhập của nhiều dòng nhạc hiện đại đã làm cho phần lớn giới trẻ, sao nhãng đi những loại hình âm nhạc truyền thống của dân tộc, trong đó có “Đờn ca Tài tử”. Cách đây không lâu, tôi được nghe thầy mình kể lại rằng: vào năm 2000, thầy Trần Văn Khê – một cây đại thụ của nền âm nhạc truyền thống Việt Nam đã nói rằng: “Các con hãy xem âm nhạc của dân tộc mình là cơm, âm nhạc của nước ngoài là ớt, chúng ta ăn cơm để sống nhưng cần chút ớt cay cay, ngược lại nếu ai ăn ớt không thì họ sẽ chết”. Cũng tương tự như thế thầy nói: “Các con hãy xem âm nhạc của dân tộc mình là nước, âm nhạc của nước ngoài là rượu, chúng ta uống nước để sống nhưng cũng cần chút rượu cay cay với đời, ai uống rượu không thì họ sẽ chết, chết về mặt tâm hồn và không còn là người Việt nữa”.

Thưa các bạn!

Tôi là một người con của vùng đất Nam Bộ, tôi rất thương và yêu quý loại hình “Đờn ca Tài tử Nam Bộ”. Lúc nào tôi cũng muốn gìn giữ và phát huy nó. Tôi mong rằng thông qua nhiều hoạt động của du lịch, âm nhạc… sẽ giúp cho người Việt nhận thức cởi mở hơn về “Đờn ca Tài tử”, để người ta thêm yêu, thêm quý, để loại hình này mãi mãi trường tồn cùng văn hóa dân tộc.

(Lâm Hoàng Trăng – Sinh viên khoa Du lịch trường Đại Học Văn Hiến)