Jour : 17 juillet 2021

Thí sinh Phạm Thị Ngân – 022: Bài dự thi kỷ niệm 100 năm ngày sanh cố Gs TRẦN VĂN KHÊ

Nguyễn Quốc Thệ

14h  · 💧♥️Thí sinh Phạm Thị Ngân – 022

💧♥️ Cháu xin kính chào ban tổ chức và quý vị giám khảo, cháu tên là Phạm Thị Ngân, qua mạng xã hội cháu được biết quý bác, quý cô chú tổ chức cuộc thi nhằm tưởng niệm 100 năm ngày sinh của cố Giáo sư Trần Văn Khê – người đã đặt tấm Hộ chiếu cho âm nhạc Việt Nam đến với bạn bè năm châu bốn bể. Khẳng định Việt Nam luôn có một nền văn hóa riêng biệt.

Để hòa chung không khí trang nghiêm và thành kính ấy, cháu xin viết bài dự thi này để thay cho nén nhang gửi tới cố Giáo sư với lòng ngưỡng mộ sâu sắc ạ.

1. Đồng Nai, một ngày hạ đầy nắng, mây và gió

Kính chào Giáo sư Trần Văn Khê….

Thưa ông, cháu tên là Phạm Thị Ngân – cháu là một giáo viên dạy môn lịch sử, một môn mà mọi người ví “khô như Bàu Trắng” và hôm nay cháu viết đôi dòng gửi tới ông dưới tâm hồn khô cằn của một cô bé học sử đã trót đem lòng yêu mến âm nhạc cổ truyền Việt Nam ạ.

Thưa ông, cháu biết đến ông khi cháu mới học đại học năm ba đại học trong chuyến thực tế lịch sử Việt Nam, cháu thật may mắn được đồng hành cùng với thầy Nguyễn Quốc Thệ – giảng viên khoa du lịch trường Đại học Văn Hiến (thành phố Hồ Chí Minh). Đối với cháu đây là may mắn vì thầy Thệ là học trò cưng của ông, chính thầy ấy là người đưa cháu đến với những công trình nghiên cứu của ông ạ.

Hôm ấy là một buổi sáng mưa rơi lất phất trên mảnh đất cổ tháp uy nghi, với chất giọng ấm áp hiền từ thầy Thệ đã kể cho cháu nghe về một người thầy – một vị giáo sư mang tên Trần Văn Khê – người đã hết mình cống hiến và đặt tấm hộ chiếu để âm nhạc dân gian Việt Nam đến với bạn bè năm châu bốn bể.

Ánh mắt xa xăm rưng rưng giọt lệ nóng hổi trên khóe mi, qua những lời khắc họa thầy Thệ, trong trí óc khô cằn của cháu lúc ấy hình ảnh của ông không còn xa lạ nữa mà hiện ra rất đỗi thân thuộc như chính người thân trong gia đình cháu vậy. Cháu cảm nhận được ông mang dáng dấp nghiêm nghị nhưng hiền hậu của ông nội cháu, ông hát dân ca ngọt lịm như ông ngoại của cháu, ông hò đối đáp thật thơ như ngày mẹ cháu còn son, ông cũng yêu mến điệu chèo quê cháu như bá ruột cháu vẫn hát ở mỗi chiếng chèo trong những đêm hội làng…Và chính lúc ấy cũng chính là lúc cháu quyết định tìm hiểu về ông và cuộc đời, tâm huyết của ông dành cho nền âm nhạc Việt Nam.

Thưa ông, trước đây cháu nghe hai nhạc phẩm của cố nhạc sỹ Đặng Thế Phong là Con thuyền không bến và Giọt mưa thu được viết trên nền tân nhạc, nghe rất ma mị vì có tiếng nỉ non của cây độc huyền nên cháu đã có nhận định rằng cố nhạc sỹ là người mang chất nhạc dân tộc Việt Nam sang thế giới, nhưng có vẻ kết luận đó của cháu quá vội vàng cho đến khi cháu tìm hiểu về ông, cháu phát hiện ra “À sai rồi, người đặt tấm hộ chiếu cho âm nhạc cổ truyền Việt Nam ra thế giới là Thầy Khê chứ không phải ai khác.

Quả đúng là như vậy, khi cháu tìm hiểu về cuộc đời của ông, cháu đã nhận ra một điều rằng từ khi còn là một cậu bé chăn trâu, tóc để trái đào dân ca và nhạc cổ truyền đặc biệt là đờn ca tài tử đã ăn sâu vào trong máu thịt của ông, với ông chúng không chỉ là món ăn tinh thần nữa mà nó là nơi gói gém hình bóng của quê hương, của lòng yêu nước bất khuất, anh dũng, kiên trung của má và ngoại, là lòng yêu thương vợ con vô bến bờ của cha hay sự đùm bọc thương yêu của cô Út.

Ngay từ bé ông được ru ngủ bởi giọng hát véo von của người cậu, tiếng réo rắt của đàn cò, của “Hò, xự, xang, xê, cống” hay của những điệu tài tử đờn ca… Dường như có tuổi thơ tràn ngập tiếng đàn hát, âm nhạc dân gian đã ăn sâu vào máu thịt của chàng thanh niên y khoa, vì thế mà đất nước lâm vào nạn đói lịch sử năm 1945, chàng sinh viên ấy cũng hy sinh sự nghiệp của mình, xếp bút nghiên theo đàn anh của trở về quê hương mở gánh hát góp gạo cứu tế dân nghèo.

Nhưng sức người sao thẳng nổi thời cuộc bể dâu, không thể nhắm mắt nhìn quê hương bị giày xéo dưới đế giày của bọn thực dân tàn ác, ông đã tạm biệt đất mẹ, quyết tâm lên đường học tập để cùng đồng bào chống lại thực dân. Cũng từ những ngày đầu tiên trên đất lạ, trong những đêm xa quê ai nỡ ngủ, vì nhớ nhà, nhớ đất nước, nhớ bạn bè, bà con chòm xóm, nhớ những con đìa êm đềm đầy ắp cá tôm mà chẳng phải con sóng biển lạnh lẽo dưới chân tàu kia, vì đơn giản đấy chẳng phải con sóng lăn tăn của dòng sông Hậu – sông Tiền, hay nhìn ra cột khói kia, ừ thì cũng là khói đấy nhưng nào phải màu khói lam chiều cay xè sống mũi cô Út mỗi lần kho nồi cá bống tiêu, nào phải mùi khói rơm cậu Năm hun đốt bẫy chuột đồng làm món nướng. Ôi tất cả nỗi nhớ dồn nén lại để rồi ngay trên đất khách quê người, một câu hò đã cất lên trong đêm tối

Hò …ới…..ơi….ơi

Tay cầm nhành quế để kế nhành trâm

Thương em anh để bụng – đừng thâm lộ tình

Không thâm thì em nói bạc tình

Còn viếng thăm, thì phụ mẫu đánh “mình” mà tui đau.

Với chỉ dăm con chữ ấy thôi cũng đã nói lên được hai nỗi đau của ông phải trải qua lúc bấy giờ, vừa đau thương lại vừa day dắt của nỗi lòng người con xa quê hương đất mẹ

Sự nghiệp lừng lẫy của ông bắt đầu từ bước ngoặt ấy là điều cháu rất khâm phục, khi đặt chân sang nước ngoài, ông cũng dùng chính những lời ca tiếng hát dân gian của đất mẹ để vừa kiếm tiền ăn học lại vừa quảng bá âm nhạc Việt Nam đến bạn bè quốc tế, ông cho phép cháu mạo muội tưởng tượng khuôn mặt của các vị khách lúc ấy được không ạ? Chắc có lẽ những giây phút đầu tiên họ sẽ bất ngờ và chưa biết gì nhưng những giây sau đó chắc họ sẽ lắc lư theo câu lí, điệu hò mà ông đang thể hiện phải không ạ? Họ sẽ hỏi nhau rằng ông đang hát gì? Và họ sẽ thán phục văn hóa Việt Nam của ta?

Nhưng có lẽ ngày đầu tiên, họ chưa biết gì về Việt Nam ta, nên chính vì vậy mà ông đã dừng hẳn học y khoa sang nghiên cứu âm nhạc cổ truyền Việt Nam và đậu tiến sỹ, cháu nghĩ đây là bước thắng lợi đầu tiên của ông trên con đường chuẩn bị hành trang về mặt tư tưởng và lý luận để mang âm nhạc Việt Nam ra thế giới.

Thắng lợi thứ hai mang tính bước ngoặt trong sự nghiệp của ông đối với âm nhạc Việt Nam, đây cũng là lúc “tấm hộ chiếu” âm nhạc cổ truyền Việt Nam được cấp khi ông được bầu vào ban nghiên cứu âm nhạc của Unesco, viện trưởng viện âm nhạc quốc tế, đây không chỉ là một vinh dự cho Việt Nam của chúng ta mà đây là cánh cửa nối âm nhạc Việt Nam của chúng ta gần với quốc tế, đây chính là thắng lợi về xây dựng cơ quan bảo trợ và xây dựng sự ủng hộ, sự yêu mến của bạn bè quốc tế đối với nghệ thuật dân gian Việt Nam.

Thắng lợi thứ ba mang tầm vóc ngoại giao, mang tầm vóc của một cú đánh chí mạng vào những tư tưởng lệch lạc của những người nước ngoài đặc biệt là ông Thủy sư đề đốc. Phải chi ông ta Giáo sư Emile Gaspardone thì sẽ biết đến một thư mục gồm trên 1.500 sách báo về văn chương Việt Nam, in trên Tạp chí Viễn Đông bác cổ của Pháp số 1 năm 1934. Hay nếu ông ta gặp ông Maurice Durand thì sẽ có dịp đọc qua hàng ngàn câu ca dao Việt Nam mà ông Durand đã cất công sưu tập… Ông ấy còn hiểu biết về nghệ thuật chầu văn, xuất bản sách ghi lại các sinh hoạt văn hóa của người Việt Nam. Nếu ông ta làm bạn với những người như thế, ông ta sẽ biết rằng nước chúng ta không chỉ có một, mà có đến hàng ngàn áng văn kiệt tác. Và sau hơn 55 năm mang chuông đi đánh xứ người, thắng lợi vang dội nhất trong cuộc đời của ông đó là mang quả chuông đó về đánh ngay trên đất nước Việt Nam, đất nước mẹ thân yêu với vô vàn nhung nhớ. Ông đã được đông đảo học sinh,viên viên, khán giả, nhà nước và chính phủ quan tâm yêu mến. Những buổi tọa đà, những phóng sự ngắn viết về ông, đưa tin về một con người tài hoa mang âm nhạc dân tộc ra với thế giới.

2.Không thể phụ nhận được tâm huyết và sự cố gắng dành cho âm nhạc Việt Nam. Và nó rất có ý nghãi đối với lớp trẻ của nhưu cháu hiện nay, bên cạnh những abrn nhạc Âu Mỹ, Pop, Rock, Rap, R&B sôi động thì vẫn nên ru dịu tâm hồn ta bằng những điệu lí, câu hò, dân ca quan họ hay điệu hát xoan xứ Hùng,… hay bên cạnh Tây Ban cầm, dương cầm, violon réo rắt, ta vẫn có thể phiêu hồn ta theo tiếng nỉ non của đàn bầu, tiếng tom tom chát của trống ả đào, hay lách cách trầm trầm của song lang. Dù là ai đi nữa, đã là người dân Việt Nam thì đều có quyền yêu, yêu và gìn giữ nền âm nhạc dân tộc phải không ông nhỉ?

Nhưng mà ông ơi, cháu sinh ra ở vùng quê hát chèo nhưng cháu lại lỡ đem lòng yêu lối hát xoan của mảnh đất Phú Thọ ông ạ, nhân dịp sinh nhật thứ 100 của ông cháu xin hát tặng ông chặng hát thứ ba của hát xoan ông nhé, đây là thành quả cháu học được từ những video của ông nghiên cứu và quay lại luôn ạ. Cháu biết giọng cháu sẽ không được hay đâu nhưng mà cháu nhớ ra một câu ông dạy thầy Thệ và thầy Thệ dạy lại cho cháu đó chính là “Hát dân ca không quan trọng là hay, cái hay ở đây chính là dám hát lên câu dân ca, đã dám hát lên câu dân ca chính là thổi được cái hồn dân tộc của mình vào đó rồi”.

Và chỉ cần tự tin là thành công ông nhỉ?

Thí sinh Nguyễn Thị Trúc Linh – 023: BÀI VIẾT VỀ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

Nguyễn Quốc Thệ

1tsS3pomnfsorheeed  · 💧♥️Thí sinh Nguyễn Thị Trúc Linh – 023

💧♥️BÀI VIẾT VỀ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

1. Nhớ mãi cuộc đời của Giáo sư Trần Văn Khê

Tôi tên Nguyễn Thị Trúc Linh, 22 tuổi, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Cần Thơ. Có lẽ, không chỉ mảnh đất quê tôi, hơn năm qua tổ quốc ta vẫn đang gồng mình chống dịch. Tôi mong mỗi người dân hãy nâng cao ý thức, cùng chung tay vượt qua “cơn bão dữ” này. Vững tin, nếu cố gắng chúng ta nhất định sẽ làm được. Đó là đôi lời tôi muốn nhắn gửi đến cộng đồng trước khi vào bài viết về Giáo sư Trần Văn Khê. ————————–

Còn nhớ rõ, tôi tình cờ biết được cố Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê vào đầu năm 2020 qua một đoạn video clip ngắn trên youtube. Lần đấy, trong đề xuất của tôi hiện lên video clip với tiêu đề “Sầm Giang Tái Ngộ 14 – Trần Văn Khê – Nghiên cứu tiếng cười trong Hát Bộ”, tôi tình cờ xem thử, từ đó tôi say mê cái điệu bộ thông thái tự tại của ông. Được tin Ban tổ chức có tổ chức cuộc thi nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của cố giáo sư, tôi liền mạnh dạn đăng kí. Bởi vì nếu không thử, tôi e là mình sẽ bỏ mất cơ hội quý giá này.

Thông tin về cuộc đời và sự nghiệp của ông được lưu giữ dày trên các mặt báo và mạng Internet. Tôi xin phép được tóm tắt ngắn gọn đồng thời bày tỏ cảm nhận của mình qua mấy vần chữ sau: Trần Văn Khê được nhiều người biết đến thông qua việc quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam nói chung và âm nhạc Việt Nam nói riêng. Cho đến những năm tháng cuối đời, ông vẫn nhắc mãi lí tưởng bảo tồn và phát huy nét đẹp truyền thống của dân tộc.

Trần Văn Khê (24/07/1921 – 24/06/2015) là người con tỉnh Tiền Giang, nơi được xem là vùng đất khai phá sớm nhất tại miền Nam Bộ. Ông sinh ra trong một gia đình họ nội có truyền thống âm nhạc, bốn đời nhà ông đều là nhạc công. Dòng họ bên ngoại của ông am hiểu tri thức, tường tận các loại nhạc cụ. Không khí âm nhạc trong gia đình từ đó mà len lỏi trong tiềm thức cậu bé Trần Văn Khê, nuôi nấng thành một Trần Văn Khê thông thái và mẫn tiệp.

Vốn thông minh lại có khiếu văn nghệ, kể từ khi ngồi trên ghế nhà trường, Trần Văn Khê đã là cái tên vượt trội trong lứa học sinh cùng thời. Năm 1938, nhờ học giỏi, ông được phần thưởng đi từ Sài Gòn ra Hà Nội. Sau này, ông chia sẻ đây chính là chuyến đi đáng nhớ giúp ông khai sáng tầm nhìn, thanh niên trẻ nếu muốn mở mang như ông thì phải đi nhiều, học nhiều mới được.

Bước sang độ tuổi trưởng thành, Trần Văn Khê cưới vợ và trở về miền Nam sinh sống. Ông tham gia kháng chiến chống Pháp và có được ba người con, hai trai, một gái. Khi đứa con gái út mới vừa hình thành bào thai cũng là lúc ông nung nấu ý chí đi du học. Sự học và lí tưởng nam nhi thoi thúc ông đặt chân đến Pháp, bỏ lại quê nhà người vợ bầu và ba đứa con thơ. Kể từ khi được hít thở trời Tây, tinh thần học tập của ông càng trở nên mạnh mẽ. Điều đáng tự hào là khi thực hiện luận văn tốt nghiệp, ông đã lựa chọn đề tài mang tên “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” như nhắc nhở mình phải luôn nhớ về nguồn cội dẫu đã xa cách.

Sau khi có bằng Tiến sĩ Văn khoa, ông bắt đầu hành trình chinh phục lí tưởng của đời mình. Nhằm quảng bá âm nhạc Việt Nam ra cộng đồng quốc tế, ông đã đặt chân đến hơn 67 quốc gia và vùng lãnh thổ để giảng dạy, nói chuyện. Người ta nói rằng “con nhà nòi” thì vốn thừa hưởng năng khiếu bẩm sinh nên dễ dàng thực hiện hoài bão. Song, ít ai hiểu rằng để đi theo được tiếng gọi của lí tưởng là cả quá trình mấy mươi năm ông gian khổ học tập, thậm chí gác lại mái ấm gia đình. Đó là một trong số những lí do vì sao tôi kính nể thầy đến vậy.

Tôi kể lại cuộc đời của giáo sư Trần Văn Khê không phải để ca tụng một nhà truyền học quá cố mà cốt để thể hiện lòng mến mộ của mình đối với người thầy nhiệt tâm. Ông dành cả đời mình cho sự học, khai phá, nghiên cứu những vấn đề cũ, mới trong âm nhạc cổ truyền nói riêng và bản sắc văn hóa dân tộc nói chung. Phải nói tôi nể thầy nhất ở tài nói chuyện, kể chuyện. Chất giọng thầy đặc quánh một giọng miền Nam vô cùng hào sảng. Điệu bộ thầy khi thuyết giảng vừa thú vị, hài hước lại vừa dễ hiểu, dễ thuộc bài. Dù chỉ xem thầy qua youtube nhưng tôi không ngần ngại gọi ông là thầy bởi thầy đã truyền dạy nhiều bài học quý báu cho tôi. Đâu đó trong những bản ghi hình còn sót lại, tôi vẫn còn thấy hình ảnh thầy Khê ngoài 80 tuổi cần mẫn ngồi nói chuyện văn hóa nước nhà: “nếu muốn phát triển văn hóa thì trước tiên ta phải bảo tồn, bảo tồn để khi mở cửa nền văn hóa không bị lai căng”, “trong dạy ngôn ngữ, phải dạy dỗ ngôn ngữ mẹ đẻ trước tiên, rồi mới dạy ngôn ngữ nước ngoài”, “bệnh coi thường bản sắc văn hóa dân tộc là thứ bệnh văn hóa đáng sợ nhất trên đời”, …

Nghĩ về cuộc đời của giáo sư Trần Văn Khê, tôi chỉ muốn đưa tay lên ngực trái rồi thành kính cúi đầu. Cho đến hiện tại, giải thưởng vinh danh quý giá nhất dành cho thầy có lẽ phải là ý thức gìn giữ và nâng niu âm nhạc truyền thống của các thế hệ sau. Nếu không có thầy, có lẽ thế hệ của chúng tôi phải cất công lắm mới tìm được những mảnh ghép văn hóa, âm nhạc đặc sắc của dân tộc. Nếu không có thầy, có lẽ chúng tôi đã vô tình lãng quên nét độc đáo trong nhạc lí của nước mình và sự chân tình trong từng câu hát dân ca.

Trong guồng quay của đời sống hiện đại, đâu đó chúng ta sẽ không tránh khỏi khoảnh khắc say mê thiên đường âm nhạc nước bạn, thậm chí là muốn khám phá, cống hiến cho người ta. Nhưng tuyệt nhiên, chúng ta nhất định phải biết hiểu mình, biết giữ mình để không bị cuốn xoay. Nếu muốn phát triển, chúng ta hãy tập giao thoa, giao thoa để làm nổi bật âm nhạc dân tộc chứ không phải để nhạt mờ.

Chúng ta cũng có âm nhạc, âm nhạc của chúng ta độc đáo riêng biệt mà không phải loại âm nhạc nào trên thế giới cũng có. Nếu thật tâm lắng nghe và cảm nhận âm nhạc nước nhà, bạn sẽ hiểu vì sao thầy Khê lại cần mẫn quảng bá âm nhạc Việt Nam ra cộng đồng quốc tế suốt mấy mươi năm như vậy.

2. Cảm nhận hình thức âm nhạc Hát ru Nam bộ Kể từ khi còn nằm lửa, tôi đã được nghe những lời hát ru của mẹ. Tất nhiên, tôi không tài nào nhớ được, nhưng mẹ tôi đã nói thế. Thậm chí bà kể, hồi còn nhỏ, muốn tôi ngủ là phải ru, đang ru giữa chừng, buông tôi ra đi chỗ khác, chắc chắn tôi sẽ ré khóc. Bà nói bà đã ru tôi ngủ trong suốt ba năm đầu đời. Thành ra, đối với tôi, hát ru là một kí ức vô cùng đặc biệt. Ngoài dòng sữa mẹ nóng hổi, hát ru chính là giai điệu tuyệt vời giúp nuôi nấng tôi nên người.

Năm tôi mười hai tuổi¸mẹ tôi sinh em bé. Kể từ đó tôi mới lắng nghe rõ hơn những lời ru của mẹ.

“Ầu ơ…

Ví dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi

Khó đi, mẹ dắt con đi.

Con đi trường học, mẹ đi trường đời”

“Ầu ơ…

Gió đưa cây cải về trời

Rau răm ở lại chịu đời đắng cay”

Nhờ vậy, từ khi có em là tôi cũng thuộc luôn những khúc hát ru. Có những lúc tôi ru em thay mẹ, tôi mới hiểu được tâm tình của người phụ nữ khi đặt mình vào từng điệu ca.

Tìm hiểu về thời gian hình thành của hát ru Nam bộ không phải là một điều dễ dàng. Các nhà nghiên cứu chỉ phỏng đoán được nguồn gốc hát ru Nam bộ là kế thừa từ truyền thống ru hát của miền ngoài. Trong quá trình khẩn hoang mở đất phương Nam, các bà mẹ địu con trên lưng và địu luôn cả những khúc hát. Dần dần, người dân vận dụng hoàn cảnh, đặc trưng vùng miền mà hình thành hát ru Nam bộ với nhiều nét độc đáo riêng biệt. Hát ru từ đó mà quen thuộc với mỗi đứa trẻ miền Nam kể từ khi chúng mới lọt lòng.

Câu hát ru bao năm tháng len qua vách nhà, ngân nga trong chái bếp, ghé trên từng cánh võng và tồn đọng trong thế giới tri thức của trẻ thơ miền Nam. Cùng với dòng sữa nóng, hát ru miền Nam nuôi nấng nên một đứa bé chân quê và hào sảng. Lặp đi lặp lại tiếng hát ru trong những năm tháng đầu đời của trẻ chính là giúp trẻ con có được bài âm nhạc giáo dục đầu tiên trong đời mình. Ở quê tôi, trẻ con vẫn còn được nghe mẹ ru ngủ và mỗi lần như thế, chúng nó ngủ một cách ngon lành. Trong những buổi trưa hè, chúng thậm chí còn đùa giỡn với nhau và liên tục hát lên những câu hát “Ví dầu…Ầu ơ”. Không phải đơn thuần mà hát ru được truyền miệng cho đến ngày nay, ở nó tạo nên sự cảm âm tuyệt vời cho trẻ, nghe được hát ru, chúng sẽ lưu nhớ chất giọng của mẹ mình hơn. Tôi nhận thấy hát ru chính là bài thuốc tĩnh an tinh thần tuyệt vời mà người mẹ dành cho em bé. Được nghe giọng mẹ ru hát sát bên tai, trẻ con sẽ cảm thấy an toàn hơn, lớn lên cũng thấy yêu cha mẹ, yêu làn điệu quê hương mình hơn.

Bà của tôi biết rất nhiều ca khúc hát ru, mẹ tôi thì hát ru hay lắm. Có lẽ hát ru gần gũi hơn với thế hệ của các bà, các mẹ, các chị của chúng tôi. Tôi biết ngày nay không phải đứa trẻ nào cũng may mắn được nghe mẹ ru ngủ. Xã hội càng phát triển, công nghệ càng tiên tiến, chắc chắn hát ru không còn là lựa chọn hàng đầu của các bậc phụ huynh. Hoặc có chăng người ta nghe hát ru cũng bằng cách bật thu âm trên băng đĩa có sẵn. Bậc cha mẹ dường như đã quên rằng chúng ta có một nền âm nhạc truyền thống Việt Nam, những điệu hát ru ngủ rất Việt Nam và đó là cách tốt nhất cho sự hình thành và phát triển một đứa trẻ gốc Việt. Tôi nghĩ rằng, không chỉ với những người bắt đầu làm mẹ, mà kể cả cha, hãy tập hát những bài hát ru ngủ cho con để khi nhắc đến hát ru, người ta có thể hát liền, hát ngay chứ không còn chần chừ, đảo mắt qua lại. Đôi khi, cách tốt nhất để kích thích con trẻ phát triển không phải là những vật chất hiện đại xa xỉ mà chính là điệu hát ru dân gian vốn có từ bao đời nay.

Hi vọng, đôi lời trải lòng của tôi sẽ giúp bạn đọc có thêm cảm xúc về cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư Trần Văn Khê cũng như hình thức hát ru Nam bộ. Nhắc về ông, tôi không đặt kì vọng bạn đọc sẽ nhớ sâu, hiểu rõ tường tận mà chỉ mong mọi người nhớ nước ta có nhà truyền học Trần Văn Khê, ông là người đam mê học tập và nghiên cứu, cả cuộc đời dồn hết sức mình vào việc quảng bá âm nhạc Việt Nam ra cộng đồng quốc tế. Thế hệ trẻ như tôi sẽ nhìn vào gương của ông mà phấn đấu, trước là kiên trì học tập, luyện nét thông thái, tự tại sau là quyết tâm theo đuổi mơ ước của cuộc đời mình. Trong các cuộc phỏng vấn, Trần Văn Khê không ít lần nhắc về hát ru Nam bộ. Ông nhắc đến hát ru Nam bộ như nhắc nhớ về một phần tuổi thơ tươi đẹp của mình. Thật tự hào khi tôi được sinh ra và lớn lên tại vùng đất nơi đây, được mẹ ru ngủ bằng hơi thở nồng nàn và làn điệu của quê hương vô cùng tha thiết. Tôi mong, hát ru không phải chỉ là khúc hát của những năm đầu đời người mà nó sẽ sớm được đưa vào giáo dục học đường để thế hệ học sinh biết đến nhiều hơn. Cuối lời, tôi kính chúc cuộc thi sẽ nhận được nhiều bài viết hay, đặc sắc. Chúc dân tộc Việt Nam ta sớm vượt qua đại dịch Covid-19. Chúc bạn đọc có được cuộc sống hạnh phúc, bình yên bên gia đình và người thân.

Xin chân thành cảm ơn!