Jour : 16 juillet 2021

Thí sinh Danh Phi Phụng – 021: TÌM HIỂU CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ CÙNG SỰ PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ

:

20m  · 💧♥️Thí sinh Danh Phi Phụng – 021

💧♥️TÌM HIỂU CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ CÙNG SỰ PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ

1. Duyên cớ biết đến cố Giáo sư Trần Văn Khê

Tôi tên Danh Phi Phụng sinh ra và lớn lên tại huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Hiện đang là nhân viên truyền thông của Trường Đại học Bình Dương. Quê hương tôi có con sông cái lớn uống quanh và mang nặng phù sa. Nhớ thuở nhỏ, xóm tôi cứ tới mùa vụ là Bác tám, Dì hai và các cô cậu ở xóm khác cứ đến neo đậu chiếc ghe chèo trước nhà tôi định cư, chừng hơn một tháng để theo nghề gặt lúa mướn. Cứ mỗi xế chiều đến lúc chạng vạn tối, tôi thường xuống ghe nhà ông Tám để nhổ râu cho ông và nghe ông hát mấy bài vọng cổ. Có mấy buổi hôm, gia đình ông Tám dí cù được chuột, mần vài món lai rai mời gia đình tôi và mấy bác trong xóm. Tất nhiên, sau bữa cơm có chút rượu đế ông Tám và mấy bác trong xóm cũng chiêu đãi bà con xung quanh mấy bài Đơn ca tài tử nghe “ngọt sớt” cái lỗ tai, xua tan cái mệt nhọc của một ngày lao động.

Ngày đó, tôi cũng học hát theo ông Tám mấy câu trong bài Lá trầu xanh, Ghe chiếu Cà mau, Dòng sông Quê em hay trích đoạn Tình lan Lan và Điệp. Tôi nhớ như in, ông Tám có hỏi tôi rằng: “Bay đi học, có được nghe kể về Giáo sư Trần Văn Khê không?”. Ngày đó, học trường làng mới lớp 7, lớp 8 thì thú thật tôi chưa nghe bao giờ, rồi ông cười bảo “Mồ tổ cha mày (cười), biết hát cải lương thì sau này phải tìm sách về Trần Văn Khê tìm hiểu nghe con!”

Năm 2013, tình cờ tôi có ghé một tiệm sách cũ trên đường Trần Nhân Tông (Quận 5, TP.HCM) đọc được một quyển sách viết về thể loại nhạc Đờn ca tài tử Nam bộ. Qua tìm hiểu mới biết chính cố Giáo sư Trần Văn Khê là người có công rất lớn trong các hoạt động nghiên cứu, gìn giữ, giảng dạy và truyền bá nền âm nhạc truyền thống Việt Nam. Và hơn hết, Ông là người Việt Nam đầu tiên đậu tiến sĩ ngành âm nhạc học tại Pháp và từng là Giáo sư tại Đại học Sorbonne (Pháp), thành viên danh dự Hội đồng Âm nhạc Quốc tế, UNESCO. Cố Giáo sư Trần Văn Khê từng hiến tặng cho TP. HCM 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc, văn hóa Việt Nam nói chung ra thế giới.

Những ngày khi còn là một sinh viên ngành Báo chí, tôi có đọc được một bài đăng trên CAND Xuân 2016, tác giả Minh Trần có viết:Vì hoàn cảnh đất nước, Giáo sư Trần Văn Khê phải sống ở nước ngoài đến hơn nửa đời người. Vậy nhưng 57 năm bôn ba ở nơi đất khách, chưa một lúc nào Giáo sư quên mình là một người Việt Nam. Chất giọng của ông vẫn mang những nét đặc trưng Nam bộ, không hề pha tạp. Và ông chỉ dùng tiếng nước ngoài khi nào buộc phải giao tiếp với người nước ngoài. Còn lại, ông luôn say mê, vui vẻ sử dụng tiếng Việt. Giáo sư Trần Văn Khê luôn ngạc nhiên vì sao lớp trẻ cứ phải dùng tiếng Tây, tiếng Anh trong giao tiếp. Ông không hiểu vì sao các bạn trẻ lại nói « Tôi sắp đi France » thay vì « Tôi sắp đi Pháp », hay nói « Con đến để say hello thầy rồi con đi business vài ngày » thay vì « Con đến để chào thầy rồi con đi công tác vài ngày ». Ông viết thư cho con cháu trong gia đình bằng tiếng Việt, ông luôn nghĩ về nguồn cội bằng việc làm thơ, viết báo bằng tiếng Việt. Và ông trước sau vẫn chỉ dùng duy nhất một cái tên Trần Văn Khê do cha mẹ đặt cho.

Câu chuyện cho thấy, Giáo sư Trần Văn Khê là một người rất coi trọng, trân quý tiếng Việt. Giữ gìn trong sáng tiếng Việt chính giữ gìn cốt cách, hồn quê của dân tộc. Như vậy, bên cạnh việc giữ gìn, phát huy nền âm nhạc nhạc dân tộc Việt Nam, cố Giáo sư còn trăn trở, mong muốn thế hệ ngày sau phải biết giữ gìn sự trong sáng, vẻ đẹp của ngôn ngữ tiếng Việt. Nổi niềm trăn trở của cố Giáo sư hoàn toàn hợp lí và có cơ sở bởi trong sự phát triển xã hội hiện nay, có thể dễ dàng nhận thấy tầng lớp trẻ rất vô tư sử dụng các loại ngôn ngữ trộn lẫn nhau, làm mất đi vẻ đẹp, trong sáng thuần khiết của tiếng Việt.

2. Quá trình hình thành và thể điệu yêu thích.

Đờn ca tài tử Nam bộ là một dòng nhạc dân tộc của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào ngày 5 tháng 12 năm 2013. Đờn ca tài tử là một loại hình nghệ thuật vừa mang tính bác học trong hệ thống bài bản, vừa mang tính dân gian trong sinh hoạt cộng đồng, lấy sinh hoạt đờn ca làm thú vui tao nhã, tri âm, tri kỷ. Chữ “tài tử” có nghĩa là người chơi nhạc có biệt tài, giỏi về cổ nhạc. Lúc đầu chỉ có đờn, sau xuất hiện thêm hình thức ca gọi là đờn ca.

Vào đầu thế kỉ XIX ở Nam Bộ đã có hai hình thức nghệ thuật đó là Tuồng và Nhạc lễ. Tuồng là sân khấu diễn tích, âm nhạc lấy trống, kèn làm nòng cốt, Nhạc lễ là ban nhạc chơi nhạc phục vụ hành lễ tín ngưỡng, lấy nhạc cụ dây kéo và bộ gõ làm nòng cốt. Từ nhu cầu chơi nhạc, các nhạc công hoạt động trong hai hình thức nghệ thuật này, cùng với những người yêu nhạc dựa hình thức nghệ thuật trên để sáng tạo ra phong trào “Đờn cây” (tức hòa đờn không có bộ gõ) để thỏa mãn nhu cầu trong lúc nông nhàn. Từ đó trào lưu chơi “đờn cây” nhanh chóng lan tỏa khắp các tỉnh miền Tây Nam Bộ và miền Đông. Từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, nhiều quan viên phụ trách các ban nhạc triều đình nhà Nguyễn đã sớm biết kết hợp âm hưởng nhạc Nam Bộ với nhạc Huế để sáng tác ra những bản nhạc tài tử và mở các lớp dạy đờn khắp hai miền Đông, Tây Nam Bộ. Một số nhạc sư tiêu biểu thời bấy giờ là nhạc sư: Nguyễn Quang Đại (tức Ba Đợi, 1880); Ở Long An có nhạc sư Trần Quang Diệm (1853-1927); Ở Mỹ Tho là nội tổ của giáo sư Trần Văn Khê, Lê Bình An (1862-1924) là cha của nhạc sư Lê Tài Khí…. Các ông có nhiều năm nghiên cứu, chỉnh sửa các bản đờn cổ, sáng tác bản mới, rồi tập hợp thống nhất được những ban, nhóm đờn ca của hai vùng Đông – Tây Nam Bộ, dựng nên dòng nhạc “Tài Tử”. Như vậy, từ phong trào “đờn cây” nhờ có các nhạc sư từ kinh đô Huế vào đã tạo ra sự biến đổi về chất để âm nhạc đờn cây trở thành hình thức âm nhạc cổ truyền mới đó là nghệ thuật: Đờn ca tài tử.Đến nay, bài bản tài tử đã lên tới vài trăm bản. Trong đó, giới nhà nghề nhạc tài tử đã gút lại được 20 bản nhạc tiêu biểu đại diện cho các làn hơi, Bắc, Hạ, Nam, Oán và được gọi là 20 bản tổ, như là: trong làn hơi Bắc (thang âm Bắc) có các bài: Lưu Thủy, Phú Lục, Bình Bán, Cổ Bản, Xuân Tình, Tây thi. Trong làn hơi hạ (thang âm bắc) có các bài: Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long Đăng, Long Ngâm, Vạn Giá, Tiểu khúc, trong làn hơi nam (thang âm nam) có các bài: Nam xuân, Nam ai, Đảo ngũ cung, trong làn hơi oán (thang âm nam) có các bài: Tứ đại oán, Phụng hoàng, Giang Nam, Phụng Cầu.

Trong các thể điệu của đờn ca tài tử, tôi vô cùng yêu thích thể điệu “Văn Thiên Tường”. Mỗi lần giai điệu cất lên những nốt nhạc, tiếng đờn là khiến tôi không tránh khỏi những lần sởn da gà, tâm hồn bỗng trở nên sâu lắng, đầy suy tư đến nỗi như ai oán, bùi ngùi đến nỗi khó có một ngôn từ nào diễn tả hết sự da diết ấy. Thể điệu Văn Thiên Tường có thể có rất lời hát khác nhau, nhưng chung quy đều thể hiện sự u uất, tha thiết, tri kỷ, tri âm hay nổi nhớ nhung sắc son tào khang. Người thể hiện thể điệu này, phải là người từng trải thì mới lột tả hết cái hay, cái đẹp đến tai người thưởng thức một cách trọn vẹn, nghĩa tình nhất.

Đờn ca tài tử cũng như con người Nam Bộ vậy phóng khoáng, hào sảng, chân thành, sâu lắng và thiết tha, nói lên nỗi niềm của người xa xứ. Nhạc tài tử thấm đậm vào trong máu của người dân Nam Bộ và trở thành “món ăn tinh thần” không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người dân Nam Bộ. Cũng bởi vì vậy, mà từ lâu loại hình nghệ thuật này đã trở thành biểu trưng văn hóa đặc sắc, độc đáo của vùng đất, con người Nam Bộ. Có thể nói, so với tất cả các nghệ thuật cổ truyền Việt Nam thì đây là nghệ thuật duy nhất không phụ thuộc vào không gian văn hóa, hoặc các không gian trình diễn theo mùa vụ. Có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh người quê tôi yêu trân trọng và phổ biến thể loại nhạc này lắm “Cứ hứng lên thì chơi, gặp nhau thì chơi, thương nhau thì cũng chơi và hội hè, ma chay cưới hỏi cũng đều chơi”.

Tác giả: Danh Phi Phụng

Thí sinh Huỳnh Thị Kiều Duyên – 020: Giáo sư Trần Văn Khê- Người đưa Âm nhạc cổ truyền Việt Nam ra thế giới

Nguyễn Quốc Thệ:

1tSphgonsorednS  · 💧♥️Thí sinh Huỳnh Thị Kiều Duyên – 020

💧♥️Giáo sư Trần Văn Khê- Người đưa Âm nhạc cổ truyền Việt Nam ra thế giới

(Huỳnh Thị Kiều Duyên – Sv Khoa Sử của Trường ĐH Sư Phạm)

1.Viết từ Sóc Trăng … bên dòng sông Hậu, vẳng nghe câu hò đằm thắm …

“ Họa sĩ biến thơ thành tranh, nhạc sĩ biến tranh thành âm nhạc”- Robert Schumann. Có lẽ đối với giới trẻ ngày nay việc lựa chọn giữa một tác phẩm Quan họ với một bài hát theo thể loại nhạc pop, tôi không chắc nhưng phần lớn bạn sẽ lựa chọn dạng nhạc thứ hai, đó là thể loại nhạc Pop, đúng chứ? Và thật sự nếu vô tình bạn nghe giai điệu của một tác phẩm dân ca ở một nơi nào đó vắng người, nó khá là vang vọng, tôi nghĩ bạn sẽ yêu nó. Đồng lòng là những người con của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, nay tôi muốn tỏ lòng mình về sự nghiệp và những đóng góp lớn lao của Cố Giáo sư – Tiến sĩ Trần Văn Khê bằng những kiến thức và tình cảm của bản thân, người đã cho tôi cảm nhận được sự tươi mới trong âm nhạc dân tộc. Giáo sư Trần Văn Khê là một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền Việt Nam, ông là thành viên Ban chấp hành Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO. Gần nửa thế kỉ bôn ba nơi đất khách quê người, giáo sư đã luôn nhắc nhở mình gánh trên vai một trọng trách rằng phải ra sức sưu tầm, nghiên cứu những gì liên quan đến âm nhạc truyền thống Việt Nam qua bề dày của lịch sử và chiều sâu của nghệ thuật. Ông từng nói rằng: “Âm nhạc Việt Nam có một thực chất nghệ thuật, một thực chất khoa học. Nó là hoa thơm cỏ lạ của riêng mình, các nước không có. Mình mang ra thế giới cho họ mê, họ quý, họ tôn trọng mình, mình làm giàu có thêm cho vườn hoa âm nhạc trăm hương nghìn sắc, muôn màu muôn vẻ của thế giới”.

Ông sinh năm 1921, trong một gia đình bốn đời nhạc sĩ, ở tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang), năm lên sáu tuổi Trần Văn Khê đã tiếp xúc với một số nhạc cụ dân tộc và biết đàn những bản dễ như Lưu Thủy, Bình Bán Vắn, Kim Tiền,…Tìm hiểu và nghe về những tâm sự của những tác giả đồng thời cũng là những người thân thuộc của Cố giáo sư Trần Văn Khê trong quyển “Trần Văn Khê – Tâm và nghiệp”, tôi lại càng cảm thấy tự hào và thương sự hy sinh của ông. Cả đời tìm tòi, cống hiến, mang nước nhà ra thế giới muôn màu muôn vẻ. Âm nhạc của ông thực sự khiến tôi cũng muốn “bắt chước” tìm tòi như thế. Cuộc đời của ông gắn liền với sự tìm tòi về âm nhạc, mang âm nhạc “ta” ra “ngoại”, nhưng có lẽ khi nhắc đến Trần Văn Khê, có nhiều người sẽ nhớ về hình ảnh một người thầy gảy đàn kèm theo những bài diễn thuyết về âm nhạc vô cùng thú vị. Trên cả những mục đích công việc, trong ông vẫn luôn tồn tại dòng máu Việt, người con hơn 50 năm bôn ba nơi xứ người. Trần Văn Khê đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam.

Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, ông đã quyết định trở về quê hương Việt Nam năm 2006. Sau khi về nước, giáo sư vẫn tiếp tục tham gia các chương trình giảng dạy và giới thiệu âm nhạc dân tộc cho người trẻ. Giáo sư Khê được giao soạn thảo chín trang về lịch sử âm nhạc Việt Nam trong Bách khoa toàn thư Pléiade vào cuối năm 1958, lần đầu tiên âm nhạc Việt Nam được góp mặt vào hệ thống công cụ tra cứu tri thức thế giới. Giáo sư – tiến sĩ Trần Văn Khê qua đời vào khoảng 2h55 phút sáng 24/6/2015 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trần Văn Khê – một người thầy vĩ đại trong tôi.

2.Khi nhắc đến Âm nhạc truyền thống Việt Nam, tôi không phân vân hay đắn đo mà nghĩ ngay đến Đờn ca tài tử Nam Bộ. Là một người con của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, tôi ra đời khi ấy thể loại âm nhạc này đã đạt đến một đỉnh cao nhất định. Có thể nói, người con nào của vùng đồng bằng này cũng đã từng nghe qua một hay nhiều giai điệu của thế loại âm nhạc này. Đờn ca tài tử Nam bộ là dòng nhạc dân tộc của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể và là một danh hiệu UNESCO ở Việt Nam. Đờn ca tài tử được hình thành và phát triển từ cuối thế kỉ 19. Đây là loại hình nghệ thuật của đàn và ca, do những người bình dân. Đây cũng chính là điều khiến tôi thật sự rất thích những màn biểu diễn này, người nghệ sĩ mang trong họ một niềm đam mê rất thật, họ không khoác lên mình những bộ váy, cánh lộng lẫy, họ không mang những trang sức đắt tiền, thứ họ có là đam mê, sự cảm nhận thực thụ và trang phục biễu diễn của họ chính là trang phục truyền thống dân tộc. Không chỉ mang âm hưởng âm nhạc cổ truyền, những cái bấm đàn, gảy đàn hay những âm điệu họ toát ra dường như đều có tiếng nói và chúng nói rằng: “CHÚNG TÔI BẮT NGUỒN TỪ VIỆT NAM – CHÚNG TÔI LÀ NGƯỜI VIỆT NAM”.

Đờn ca tài tử là loại hình diễn tấu có ban nhạc gồm bốn loại là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu. Nó bắt nguồn từ ca Huế, pha lẫn âm nhạc từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và sử dụng cách phát âm gốc của người con Nam Bộ. Nghệ thuật Đờn ca tài tử hiện được phát triển ở 21 tỉnh, thành phố miền Nam Việt Nam, nhạc cụ gồm đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn kìm, đàn cò, đàn tam, sáo. Thời gian trôi đi, các thế hệ lần lượt nối tiếp nhau, người thay người tiếp nối những truyền thống quý báu của ông cha ta để lại. Đờn ca là một loại hình cần được lưu truyền và phát triển, bởi vì loại hình này xứng đáng, khi nhắc đến nó, tôi lại nghĩ đến hình ảnh người quay quần người, trên tay là đàn, trên môi là nụ cười. Giản dị thế mà vui; tôi mong rằng âm nhạc cổ truyển Việt Nam sẽ luôn được lưu giữ và càng ngày càng được nhiều người biết đến.

Tôi dùng người thầy tôi “yêu” cùng nghệ thuật mà tôi “thương” để viết lên tấm lòng của mình. Có phải khi ở trung tâm của tiếng ồn bạn sẽ nghe thấy tiếng nhạc? Còn điều gì tuyệt vời hơn khi bạn nghe “tiếng lòng” của nước nhà trong hoàn cảnh ấy!! Mong rằng sẽ có những người cống hiến vì âm nhạc nước nhà như Giáo sư Trần Văn Khê, và cũng như âm nhạc cổ truyền nước ta sẽ vang vọng không chỉ ở đây mà còn phổ biến như một bông hoa hướng dương giữa một vườn hoa bạch trà!

Xin cảm ơn.