Thí sinh Phạm Văn Trình – 017: Matxcova, ngày 14 tháng 7 năm 2021; 1.GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ – “THẦN TƯỢNG” CỦA TÔI

Nguyễn Quốc Thệ

4h  · 💧♥️Thí sinh Phạm Văn Trình – 017

💧♥️Matxcova, ngày 14 tháng 7 năm 2021.1.GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ – “THẦN TƯỢNG” CỦA TÔI

Thật khó để dùng một vài trang viết để cảm nhận về một học giả uyên bác là “người thầy của những bậc thầy”, GS.TS ngành Âm nhạc học đầu tiên của Việt Nam tại Pháp, cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền với việc sưu tầm, nghiên cứu, giảng dạy và truyền bá Nghệ thuật truyền thống Việt Nam ra khắp năm châu – GS.TS Trần Văn Khê. Đặc biệt đối với một kẻ ngoại đạo như tôi – sinh viên một trường kỹ thuật. Nhưng từ trái tim, tôi muốn có đôi dòng bày tỏ tấm lòng kính mến, ngưỡng vọng của mình tới “người thầy lớn” của cổ nhạc Việt Nam, như góp thêm một tiếng lòng của người trẻ tỏ bày tình cảm với ông, với tình yêu âm nhạc Dân tộc, điều mà sinh thời ông luôn trăn trở; cũng là tiếng lòng với người truyền cảm hứng lớn cho tôi tình yêu âm nhạc dân tộc, một “THẦN TƯỢNG” của tôi dù chỉ được thấy, được biết tới Giáo sư qua các phương tiện truyền thông.

Trong một bài hát của Nga có câu “ничто на земле не проходит бесследно”(Không có gì trên trái đất đi qua mà không để lại dấu ấn gì); Với GS Trần Văn Khê, 94 năm cuộc đời đó là dấu ấn của hành trình nghiên cổ nhạc Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới, những chuyến đi đem bản sắc văn hóa, đem âm nhạc Việt Nam tới gần 70 quốc gia, và hơn tất cả đó là dấu ấn trong lòng của những người yêu mến, kính trọng ông không chỉ người Việt Nam mà cả bạn bè quốc tế, những ấn tượng về một Giáo sư âm nhạc ở những tầng lớp, lứa tuổi khác nhau; và tôi chắc chắn rằng rất nhiều trong số đó là những người trẻ như tôi.

Sẽ điểm qua một vài mốc trong cuộc hành trình đầy dấu ấn ấy. Ngày 24/7/1921 cậu bé Trần Văn Khê cất tiếng khóc trào đời, sinh ra trong một gia đình bốn đời theo nghiệp Đờn ca tài tử. Được thai giáo sớm khi còn trong bụng mẹ, lúc trào đời ông đã được sống trong bầu không khí âm nhạc đậm đặc của gia đình. Năm 1941, tại Nhà hát Lớn Hà Nội chàng sinh viên 20 tuổi Trần Văn Khê đã cầm đũa chỉ huy dàn nhạc, hát bài hát tiếng Pháp để nhằm mục đích chính là tiếp sau đó được giới thiệu dân ca ba miền. Ngay từ lúc ấy, ông đã có ý thức giới thiệu âm nhạc dân tộc. Năm 1958 ông bảo vệ luận án Tiến sĩ với đề tài: “Âm nhạc truyền thống Việt Nam”. Tấm bằng Tiến sĩ ông đạt được không phải là cái đích mà chỉ là bước khởi đầu một chặng đường dài GS.TS Trần Văn Khê đã chọn: Sưu tầm, nghiên cứu, quảng bá Âm nhạc Truyền thống và Văn hóa Việt Nam.

Ông sưu tầm, nghiên cứu, quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam không phải bởi thấy âm nhạc Việt Nam hay đẹp, độc đáo hơn các dân tộc khác; mà như ông từng nói: “Mình không quá tự tôn mình, tự coi mình là hay nhưng cũng không bao giờ tự ti, mặc cảm.” mà bởi với ông, đó là một thứ “Quốc hồn”, “Quốc túy”. Hơn nửa đời người, thầy Khê đi truyền “đạo”, cái “đạo” – âm nhạc say sưa, cuốn hút, không chỉ trao kiến thức mà trao cả nhiệt huyết, không chỉ nói mà còn biểu diễn bằng ngón đờn quái kiệt và một giọng thổ trầm ấm cuốn hút ở hầu hết các thể loại: ca, ngâm, hò, vè thậm chí….rap. Với trí nhớ tuyệt vời, sự nhạy cảm của một Nghệ sĩ lớn, phương pháp của nhà khoa học, sự kiên nhẫn và chuyên cần được tôi luyện từ nhỏ, GS.TS Trần Văn Khê đã trở thành một thư viện sống, một bách khoa thư sống về âm nhạc truyền thống Việt Nam. Mà hình như không chỉ là âm nhạc mà còn về tất cả những gì có liên quan tới Văn hóa nghệ thuật Việt Nam.

Đọc Tự truyện, Hồi ký Trần Văn Khê, xem những phóng sự, những cuộc phỏng vấn hay phim tư liệu về ông, giới trẻ như tôi càng thêm yêu, thêm tự hào về Văn hóa dân tộc. Nhớ một thời gian dài vừa qua, câu chuyện “Ngài chơi với ai mà không biết một áng văn nào của nước Việt ?” trích trong cuốn Hồi ký Trần Văn Khê được chia sẻ liên tục trên mạng xã hội mà vẫn chưa hết “nóng”. Câu chuyện chạm đến tình tự của mọi người con nước Việt, thôi thúc giới trẻ “tìm tòi để hiểu biết, hiểu biết để yêu thương và tự hào” Văn hóa dân tộc. Những câu chuyện làm chủ ngoại ngữ, lạc quan vượt qua bệnh tật… đã là những thông điệp sống giản dị để bản thân tôi rèn luyện vượt qua hoàn cảnh khó khăn, dám sống hết mình với những ước mơ đẹp.

Sẽ ấn tượng mãi về những câu chuyện sống động mà GS từng kể lại, như câu chuyện: “Đoàn” kịch nghệ gồm 3 người: GS Trần Văn Khê, NSND Phùng Há và NSND Kim Cương đem lớp “Lữ Bố hý Điêu Thuyền” tới Hội nghị quốc tế về “Nhạc kịch thế giới” tại Hamburg năm 1964. Với nghị lực phi thường, ngón nghề điêu luyện, đặc biệt là trái tim rung động mãnh liệt vì tình yêu đất nước và văn hóa Việt; “đoàn” kịch nghệ đại diện cho Việt Nam đã làm cho báo chí và đoàn nghệ thuật các nước thích thú và thán phục. Tôi đã nhớ như in câu nói “Văn hoá nước ngoài chỉ là văn hoá khách. Chúng ta hiếu khách mời khách đến nhà, nhưng phải lưu ý không đưa vào ở trong từ đường hoặc dẹp bàn thờ ông bà để khách ngồi chễm chệ lên cho mình quỳ lạy”… Tôi đã rưng rưng xúc động trước tình bạn tri kỷ của hai cây đại thụ : GS Trần Văn Khê và Nhạc sư Vĩnh Bảo, hay những lời chia sẻ thân tình về những nghệ nhân, nghệ sĩ: nghệ nhân Ba Tu, soạn giả Viễn Châu, nghệ nhân Bạch Huệ, nghệ nhân Kim Nhụy, NSND Phùng Há, NSƯT Út Bạch Lan, NSND Bạch Tuyết…để một người con miền Trung như tôi thêm hiểu và yêu hơn Đờn ca tài tử, cải lương, những câu hò, điệu lý được nuôi dưỡng và tắm mình trên mảnh đất Nam bộ trù phú.

Nhớ lại năm 2016, tôi đã nghe lại nhiều lần cuốn sách nói “Tự truyện Trần Văn Khê” để hiểu nhiều hơn về một nhân cách lớn mà GS bộc bạch rằng “tôi sẽ kể về những chuyện thật của đời mình…để mọi người thấy thật ra Trần Văn Khê cũng là một người hết sức bình thường”. Nghe xong cuốn sách, tôi cảm nhận ở vị Giáo sư khả kính thêm một góc độ khác, không phải là một điều gì xa cách, vời vợi mà sự cảm phục Giáo sư là tình cảm đối với một con người bằng xương bằng thịt, rất đỗi gần gũi. Cuối năm đó, trong buổi biểu diễn của CLB ngoại ngữ của trường, trong bộ trang phục “áo dài, khăn xếp” tôi đã bắt chước chàng sinh viên Trần Văn Khê năm nào, giới thiệu và hát một làn điệu Dân ca Quan họ Bắc Ninh trước bạn bè của tôi ở gần 20 nước trên thế giới. Lòng lâng lâng sung sướng, giữa sân khấu một trường Kỹ thuật lớn tại Matxcova, giai điệu dân ca của Việt Nam được các bạn bè ngoại quốc của tôi say sưa hưởng ứng, và bộ “quốc phục” tôi đang mang trên người được mọi người trầm trồ, thích thú xin chụp ảnh lưu niệm.

Nhớ GS Trần Văn Khê tôi sẽ nhớ về hình ảnh về một vị Giáo sư thường xuất hiện trong trang phục “khăn đóng, áo dài” mà ở mỗi phỏng vấn hay tọa đàm, gần như không được chuẩn bị trước; vậy mà ở bất cứ chủ đề nào từ: “Bản sắc văn hóa Việt Nam”“Cái độc đáo trong ca trù”, “tiếng cười trong hát bội” ,“Hò đồng tháp”… hay thậm chí “cái hay trong ẩm thực Việt” đều được truyền tải thuyết phục với sự say mê hiếm có và một ngôn ngữ Việt gần gũi, ấm cúng, mê hoặc bất cứ ai.

Tôi tự hỏi điều gì đã làm nên sức hấp dẫn và lan tỏa của một GS ngành Âm nhạc học: một tài năng xuất chúng với những cống hiến to lớn được ghi nhận bởi những Huân chương, giải thưởng uy tín trong nước và Quốc tế, một trí tuệ uyên bác, hay một nhân cách lớn…

Không, sẽ là chưa đủ khi thiếu một GS trần Văn khê với một tâm hồn Việt sâu sắc, một tình yêu dân tộc nồng nàn. Cuộc đời GS Trần Văn Khê là những bước đi không mỏi, là cuộc hành trình phong phú; bằng tất cả tâm hồn, tình yêu trọn vẹn ông đã hiến dâng tất cả trí tuệ, tâm huyết cho âm nhạc truyền thống và văn hóa Việt Nam. Nhớ Giáo sư, từ Matxcova tôi thắp nén tâm nhang, gửi tấm lòng tưởng nhớ, ngưỡng vọng.

2.NHỮNG CHUYẾN THĂM LÀNG QUAN HỌ CỔ

“Em đi khắp bốn phương giời

Không đâu lịch sự bằng người ở đây…”

Câu quan họ cổ ấy cứ văng vẳng trong lòng, hồn tôi vẫn vấn vương mỗi khi nhớ lại; dù đã gần 1 năm từ chuyến đi đầu tiên thăm một làng quê yên ả, làng quan họ cổ danh tiếng: Quan họ Ngang Nội, Hiên Vân, Tiên Du, Bắc Ninh; được tận mắt chứng kiến, được chìm đắm trong một “canh” Quan họ cổ tại “nhà chứa Quan họ”. Lòng bâng khuâng, rưng rưng một nỗi kinh ngạc khi thấy đôi “chị Hai”: Nguyễn Thị Cúc, Nguyễn Thị Tiện … 90 tuổi “răng đen dưng dức, miệng cười đẹp thay” nền nã trong trang phục áo the thâm, gương mặt đẹp phúc hậu đã hằn những vết nhăn sâu của tháng năm; đôi chị Hai ca Quan họ, giọng ca hãy còn duyên dáng, đằm thắm, cứ “vang, rền, nền, nảy” đắm say; thời gian không thể mài mòn đi giọng hát được nuôi dưỡng trong cái nôi của một trong 49 làng Quan họ gốc. Ngược lại, theo thời gian giọng ca ấy thêm điêu luyện, quyến rũ lòng người; sau này tôi mới biết đôi cụ là hai học trò còn lại của “Báu vật nhân văn” một thuở: nghệ nhân Nguyễn Thị Khướu (1900-2006). Xúc động hơn nữa bởi cái tình của người Quan họ, bởi lối ứng xử trang nhã, lịch sự… từ trang phục, cử chỉ, ngôn ngữ, khi ăn, khi nói, lúc đứng, lúc ngồi… Và cũng từ chuyến đi ấy, cơ duyên để tôi được học hỏi một “Chị hai” Hà Nội với mấy chục năm đam mê “chơi canh” cổ tại các làng Quan họ – “Chị hai” Nguyên Như Chính(67 tuổi), người mà tôi gọi thân mật là “U” Hai. Nửa năm trước khi tôi sang Nga tiếp tục học tập, tranh thủ những ngày nghỉ ít ỏi là những bước đường U Hai dẫn tôi – một thanh niên quê miền Trung đi thăm những “cây cổ thụ”, thưởng ngoạn và đắm chìm trong không gian rộng lớn của “cánh rừng Di sản” – Dân ca Quan họ Bắc Ninh.

Kinh Bắc xa xưa ông bà tổ tiên một nắng hai sương, cấy cày đồng bãi… Bao vất vả lam lũ, nhưng người xưa đã biết làm sang đời sống tinh thần của mình bằng câu hát Quan họ đắm say thổn thức; cho cháu con có cả một “Di sản văn hoá phi vật thể đại diện nhân loại” được năm châu bốn bể vinh danh. Trong quá trình hình thành và phát triển hàng trăm năm ấy, Dân ca Quan họ đã có trên 200 “giọng”(làn điệu) với hàng trăm “câu”(bài ca) và nhiều hình thức ca hát khác nhau đáp ứng nhu cầu thường xuyên và toàn diện của “nghề chơi Quan họ”: hát chúc, hát mừng, hát thờ, hát canh, hát hội, hát cầu đảo…; mà mỗi hình thức hát đều tuân thủ lề lối một cách chặt chẽ. Và theo các nhà nghiên cứu: “ Quan họ ôm vào lòng, hội tụ « khí chất » của rất nhiều làn điệu dân ca… nhưng trên hết, Quan họ là hồn của xứ sở, là « đặc sản » tinh thần của người Kinh Bắc”, “…ca hát không cần đàn mà quyến rũ lòng người…” với đặc tính “nước” uyển chuyển của âm nhạc truyền thống Việt Nam. Người Kinh Bắc ru con bằng Quan họ, lớn lên cũng trong câu hát, để những người con của quê hương mang hồn quê Kinh Bắc lan tỏa khắp bốn phương trời… và cũng bằng câu ca Quan họ tưởng nhớ, chia buồn, tiễn bạn khi thác xuống… Người Quan họ ca với nhau những “canh” thâu đêm, rạng ngày; cho “tàn canh mãn võ” để vui xóm vui dân, vui bầu vui bạn. Rồi lúc chia tay họ cứ mãi dùng dằng, quyến luyến mà chẳng nỡ rời xa, lại cùng nhau thề nguyện “đến hẹn lại lên”.

“Vốn xưa Quan họ Bắc Ninh

Muốn tìm tích cũ đến làng Diềm thôn

Thủy tổ Quan họ làng ta

Những lời ca xướng vua bà đặt ra…”

Lời thơ trên là phần mở đầu trong “câu” 72 giọng, nhắc tôi nhớ đến những lần được theo U Hai về làng Diềm (làng Thủy tổ Quan họ) được gặp những “cây đại thụ”, hay những “liền anh, liền chị” lớp kế cận – những thế hệ biểu tượng cho sự trường tồn và tiếp nối của Dân ca Quan họ; những “cây đại thụ” Nghệ nhân Nguyễn Thị Bàn (90 tuổi), Trần Thị Phụng (99 tuổi) … được nghe các cụ say sưa ca, say sưa trò chuyện về Quan họ…hay trầm trồ khi nghe Nghệ nhân Ngô Thị Khu (101 tuổi) – chủ “nhà chứa Quan họ” hàng trăm năm tuổi duy nhất còn lại ở làng Diềm, ca câu “Khách đến chơi nhà”. Được nghe những giọng ca của các “cặp hát” nức tiếng trong làng: nghệ nhân Nguyễn Thị Sang, Nguyễn Thị Thềm, Nguyễn Thị Hài, Nguyễn Thị Sứ… Nhớ những đêm được sống cùng Quan họ, được xem cảnh “đón bạn Quan họ” về “chơi canh” tại tư gia Chị hai Nguyễn Thị Hài. Trong không gian yên bình giữa làng Thủy tổ, tôi chìm đắm trong âm thanh “vang, rền, nền, nảy” của những đôi bạn hát tình tứ, ăn ý, và càng về khuya tiếng hát càng ngấm, càng say. Thích thú bởi sự tinh tế, ý nhị của “văn hóa Quan họ” trong cách ứng xử, trong tâm tư gửi gắm ở mỗi câu ca; ở sự khiêm tốn, nhún nhường bằng những câu thưa gửi: “Em xin đỡ nhời Anh hai, Anh ba đương quan họ… mời Anh hai, Anh ba uống nước xơi giầu, và xin được mời Anh hai, anh Ba ca cầu vui cho chị em chúng em được học đòi đôi ba lối đấy ạ”… Và rồi một ngày, U con tôi nuối tiếc xót thương, xúc động rơi lệ vì không kịp về thăm thêm lần nữa một “cây đại thụ” danh tiếng của làng Diềm: nghệ nhân Ngô Thị Lịch (1926-2020), nhưng tôi cũng còn một chút cơ duyên với cụ khi kịp chứng kiến “bọn Quan họ” ca tiễn “chị Cả” về với Vua bà…

Sẽ còn rất dài khi tôi kể về những chuyến đi cùng U Hai thăm các làng quan họ. Nhưng trong giới hạn bài viết này, tôi muốn ghi lại những ấn tượng ban đầu làm tôi thêm mê đắm khi được trực tiếp đến với “cánh rừng di sản” ấy. Và bây giờ khi đang ở rất xa quê hương, tôi càng thêm nhớ thương, tự hào về nét đẹp văn hóa Quan họ. Thay cho lời kết, tôi muốn dùng lời “bỉ” trong “câu Năm canh kép”, mà U Hai vẫn thường ca cho tôi nghe, để tỏ bày nỗi nhớ thương ấy:

“Xa xôi xin chớ ngại ngùng

Xa người xa tiếng nhưng lòng không xa…

”Phạm Văn Trình – CLB Xẩm 48h, Cao học năm nhất ngành Vật lý, Trường Đại học Tổng hợp Kỹ thuật Bauman, Matxcova, LB Nga.

Votre commentaire

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l’aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion /  Changer )

Photo Google

Vous commentez à l’aide de votre compte Google. Déconnexion /  Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l’aide de votre compte Twitter. Déconnexion /  Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l’aide de votre compte Facebook. Déconnexion /  Changer )

Connexion à %s

Ce site utilise Akismet pour réduire les indésirables. En savoir plus sur la façon dont les données de vos commentaires sont traitées.