Thí sinh Lê Thị Thu Thanh – 019: Viết từ Quảng Trị ….GS. Trần Văn Khê cả cuộc đời tận tụy, cống hiến cho âm nhạc dân tộc

Nguyễn Quốc Thệ

3tSgponesol0mgreed  · 💧♥️Thí sinh Lê Thị Thu Thanh – 019

💧♥️Viết từ Quảng Trị ….GS. Trần Văn Khê cả cuộc đời tận tụy, cống hiến cho âm nhạc dân tộc

1.Giới thiệu, chia sẻ, cảm nhận về cuộc đời và sự nghiệp của cố Giáo sư (GS) Trần Văn Khê

1. Con đường đến với âm nhạc dân tộc và lòng hướng về Tổ quốc

Theo tôi tìm hiểu GS. Trần Văn Khê sinh ngày 24/7/1921 trong một gia đình 4 đời làm nhạc sĩ ở làng Vĩnh Kim, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (Tiền Giang ngày nay). Năm 6 tuổi, Trần Văn Khê được cậu ruột Nguyễn Tri Khương (cháu nội ông Nguyễn Tri Phương), vốn là một thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng hát có tiếng, dạy chơi đàn nguyệt (đàn kìm), đàn cò (đàn nhị); được người cô thứ ba là Trần Ngọc Viện dạy đàn tranh. Âm thanh ngọt ngào, đậm đà hồn Việt của các bản nhạc tự nhiên đi vào tâm hồn của cậu bé Trần Văn Khê từ ngày ấy. Từ đó ba cây đàn chẳng rời ông nửa bước, kể cả khi ông là một sinh viên Trường Y Hà Nội hay là một giáo sư danh tiếng ở Paris.

Khi học tại Trường Pétrus Ký (còn gọi là Trường Trương Vĩnh Ký), (1934 – 1941), Trần Văn Khê đã cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường và dàn nhạc của học sinh trong câu lạc bộ học sinh mang tên Scola Club của Hội Đức trí Thể dục (SAMIPIC).

Đến năm 1949, GS. Trần Văn Khê có cơ duyên sang Pháp du học. Đến tháng 6/1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương. Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác.

Suốt thời gian từ 1949 tới 1951, GS. Trần Văn Khê đọc các báo Pháp để viết mục « điểm báo », làm phóng viên về các sinh hoạt của Việt kiều; viết du ký, phóng sự; cắt gửi về toà soạn những bài xã luận về chính trị quốc tế và chính trị liên hệ đến Việt Nam. Trần Văn Khê thử thi vào Viện Khoa học Chính trị nổi tiếng mang tên Sciences Po (Sciences Po, Institut d »Etudes Politiques de Paris), không ngờ đỗ vào năm thứ hai của Viện. Và rồi, ông đã tốt nghiệp hạng cao (hạng 5) Khoa Giao dịch Quốc tế sau hai năm miệt mài học tập trên ghế nhà trường và học thêm Anh văn tại Đại học Văn khoa Paris.

Cuối năm 1954, GS. Trần Văn Khê theo học và chuẩn bị luận án tiến sĩ tại Khoa Anh văn và Âm nhạc học, Trường Đại học Sorbonne, Paris. Tháng 6.1958, ông bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ với đề tài chính: « Âm nhạc truyền thống Việt Nam » và hai đề tài phụ: « Khổng Tử và âm nhạc », « Vị trí âm nhạc trong xã hội Việt Nam ». Từ đây, ông bắt đầu đi những bước đầu tiên trên chặng đường dài mà mình đã chọn: sưu tầm, nghiên cứu, quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam.Liên tục trong hơn 50 năm trên đất Pháp, GS. Trần Văn Khê không ngừng nghiên cứu, hoạt động và giảng dạy âm nhạc ở nước ngoài, quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam đến với thế giới. GS. Trần Văn Khê đã viết hàng trăm bài báo và tham luận về đề tài âm nhạc dân tộc Việt Nam được dịch ra 14 thứ tiếng. Với ngón đàn điêu luyện và khả năng truyền cảm, ông đảm nhận giới thiệu các chương trình âm nhạc dân tộc Việt Nam trên làn sóng phát thanh, truyền hình, đồng thời ông cũng tham gia thuyết trình về âm nhạc truyền thống Việt Nam trong nhiều hội nghị và các trường đại học lớn tại hơn 50 quốc gia. Ông đã thực hiện được gần 30 đĩa hát 33 vòng và CD về âm nhạc Việt Nam và âm nhạc một số nước châu Á; đã tham dự 210 hội nghị quốc tế về Âm nhạc và Âm nhạc học trên 67 quốc gia, gần 20 liên hoan quốc tế về âm nhạc khắp năm châu.

Với GS. Trần Văn Khê , âm nhạc truyền thống Việt Nam đó là một thứ « quốc hồn », « quốc tuý ». Sống nơi đất khách, điều mong mỏi của ông là đem hồn nhạc Việt đi xa, quảng bá rộng rãi cho mọi người yêu nhạc. Bằng tài năng và bầu nhiệt huyết của mình, ông đã bước vào làng nhạc quốc tế và thực thực hiện được điều mong ước đó. GS thường tâm sự: « Tuy thân ở nước ngoài nhưng tâm tôi luôn ở trong nước vì đất nước thể hiện trọng tiếng đờn của tôi, trong những món ăn Việt Nam hàng ngày tự tay tôi nấu, nên lúc nào tôi cũng thấy mình gắn bó và gần gũi với quê hương, xứ sở »

.2. Cả cuộc đời tận tụy, cống hiến cho âm nhạc dân tộc

Ở GS. Trần Văn Khê, người ta không chỉ học ở kiến thức uyên thâm, ở sự miệt mài tận tụy không ngơi nghỉ mà còn học ở ông nhân cách lớn. Từ những năm 70 của thế kỷ XX, GS. Trần Văn Khê đã rất quan tâm tới vấn đề bảo tồn và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam. Năm 1976, khi đất nước vừa thống nhất, GS. Trần Văn Khê về nước, miệt mài thu âm các loại hình âm nhạc truyền thống ở Bắc Bộ như quan họ, ca trù. Tuy đã sống ở Pháp ngót nửa thế kỷ nhưng đến năm 2006, GS. Trần Văn Khê nhất quyết trở về quê hương để sống và cống hiến trong những năm tháng cuối đời cho nền âm nhạc dân tộc nước nhà.Trở về nước, GS. Trần Văn Khê đã cống hiến quãng đời còn lại của mình cho âm nhạc dân tộc.

Có thể kể ra 2 đóng góp lớn của ông:Thứ nhất, GS. Trần Văn Khê đã có công lao to lớn trong việc bảo tồn, quảng bá văn hoá truyền thống nói chung, âm nhạc truyền thống của Việt Nam nói riêng đến với các quốc gia, dân tộc trên thế giới.

Khi sống trên đất mẹ dù đã bước sang tuổi 85 nhưng GS. Trần Văn Khê vẫn không hề nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi. Ông cùng các cộng sự xây dựng Thư viện Trần Văn Khê dành cho những ai muốn tìm tòi về nhạc cổ truyền. Cũng tại đây, hàng trăm buổi nói chuyện chuyên đề, biểu diễn nghệ thuật được ông chủ trì. Dù tuổi đã cao, GS vẫn luôn trăn trở là làm sao để mang âm nhạc dân tộc đến các trường học, nhất là các em học sinh đầu cấp, phải có một phương pháp dạy thật hiệu quả, thoải mái để các cháu nhỏ dễ dàng tiếp thu và yêu thích. Chính bởi vậy, hàng ngày ông vẫn thực hiện dự án “Âm nhạc học đường” của UNESCO tài trợ để thử nghiệm dạy nhạc dân tộc cho học sinh tiểu học TP. HCM. Ông cảm thấy vui khi các học sinh và cô giáo trẻ đều say sưa học, say sưa tìm hiểu âm nhạc dân tộc.

Dường như tất cả thời gian và tâm huyết của ông đều dành cho việc giảng dạy, sưu tầm nghiên cứu, quảng bá nghệ thuật âm nhạc dân tộc Việt Nam trên khắp năm châu. Ông là một kho tri thức về chèo, tuồng, ả đào, hát xẩm, hát ví, hát bài chòi, điệu hò, điệu lý, nhạc tài tử… Từ vốn kiến thức đồ sộ tích lũy được qua thời gian, GS. Trần Văn Khê như một kho từ điển sống về âm nhạc. Đáng lưu ý là các loại hình nghệ thuật trình diễn như ca trù, hát xẩm, quan họ Bắc Ninh v.v… được GS đưa vào trong danh mục các CD của UNESCO phát hành tới nhiều quốc gia. GS đã làm cho hình ảnh di sản văn hoá Việt Nam hiện diện trên bản đồ văn hoá thế giới.

Và đến khi sắp từ giã cõi đời di nguyện của ông là: Tất cả những hiện vật liên quan đến hoạt động nghề nghiệp của ông từ Pháp mang về Việt Nam như: sách vở, báo chí, đĩa hát các loại, phim ảnh, nhạc khí, máy ghi hình, máy ghi âm, tranh, hình ảnh… được giao lại cho ban quản lý nhà lưu niệm Trần Văn Khê với hy vọng chúng được dùng vào việc bảo tồn và phổ biến văn hóa truyền thống Việt Nam.

Thứ hai, GS. Trần Văn Khê có đóng góp rất lớn đối với việc xây dựng các hồ sơ quốc gia về các di sản văn hóa phi vật thể trình UNESCO.GS. là người có nhiều đóng góp lớn trong việc đưa Nhã nhạc cung đình Huế (Âm nhạc Cung đình Việt Nam) đệ trình UNESCO công nhận là kiệt tác Di sản Phi vật thể và Truyền khẩu của nhân loại. Trong thời gian lập hồ sơ, mặc dù tuổi đã cao, sức khỏe không còn tốt, nhưng GS vẫn thường xuyên về lại Việt Nam để cùng các thành viên nhóm lập hồ sơ của Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế và các chuyên gia tư vấn khác xem xét điều chỉnh nội dung và các tư liệu cần thiết, bổ sung kịp thời theo yêu cầu của UNESCO, góp phần cho sự thành công của bộ hồ sơ. Kết quả, tháng 11/2003, Nhã nhạc Huế – Nhạc cung đình Việt Nam đã được UNESCO vinh danh là Kiệt tác Di sản Văn hóa Phi vật thể và Truyền khẩu của thế giới (từ năm 2008 được UNESCO hợp nhất thành danh hiệu Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại).

Ghi nhận công lao đóng góp của GS. Trần Văn Khê, tỉnh Thừa Thiên – Huế cũng đã trao tặng Bằng khen và Huy hiệu người tốt việc tốt cho ông vào các năm 2004 và 2006…

Giáo sư Trần Văn Khê cũng đã dành nhiều thời gian nghiên cứu giá trị của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, góp phần đưa cồng chiêng đệ trình lên UNESCO. Tháng 11/ 2005, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã chính thức được UNESCO công nhận là Kiệt tác Di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại.

Với sự tín nhiệm của UNESCO, GS. Trần Văn Khê đã có cơ hội góp sức vào việc thẩm định Hồ sơ Nhã nhạc cung đình Huế và được giao trọng trách thẩm định hồ sơ Cồng chiêng của Việt Nam. Ông đã chứng minh được những nét đặc sắc, độc nhất vô nhị của hai loại hình nghệ thuật này. Cuối cùng 2 hồ sơ này đã được vinh danh.

GS. Trần Văn Khê là người đề xuất Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch xây dựng hồ sơ về nghệ thuật ca trù trình UNESCO, vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Ngày 1/10/2009, ca trù đã được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại. Trước đó, vào tháng 9/2009, dân ca quan họ Bắc Ninh chính thức được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.GS. Trần Văn Khê còn là cố vấn đặc biệt cho Ủy ban thành lập hồ sơ về Đờn ca tài tử (ĐCTT) Nam Bộ để gửi lên UNESCO. ĐCTT Nam Bộ chính thức được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào tháng 12/2013.

Có lẽ chưa có người Việt Nam thứ 2 nào như GS Trần Văn Khê cả cuộc đời chỉ đeo đuổi một công việc: nghiên cứu, giảng dạy, quảng bá giá trị đặc sắc của âm nhạc truyền thống Việt Nam và góp phần vinh danh giá trị đó ở khắp mọi nơi trên thế giới. Ông là một người có tâm, có tầm, có đức, lại am hiểu kỹ về nhạc dân tộc. Là một nhạc sĩ, học giả và một tri thức, GS. Trần Văn Khê đã truyền bá không biết mệt mỏi cho âm nhạc Việt Nam. Suốt cuộc đời mình, GS đã tạo hứng khởi và làm rung động biết bao người.

GS. Trần Văn Khê là một cây đại thụ trong làng âm nhạc Việt Nam. Mặc dù GS đã đi xa được 6 rồi, nhưng ông luôn sống mãi trong tim những người yêu nhạc. Sự ra đi của GS. Trần Văn Khê là một mất mát, một sự tiếc nuối lớn lao đối với nền âm nhạc truyền thống Việt Nam, nhưng đối với những người yêu và gắn bó với âm nhạc truyền thống thì GS. Trần Văn Khê mãi mãi là bậc thầy, là người truyền lửa để tình yêu âm nhạc dân tộc luôn sống cùng thời gian.

Cả cuộc đời GS. Trần Văn Khê như một ngọn lửa nhiệt huyết cống hiến cho âm nhạc truyền thống nước nhà, vì với ông: « Hạnh phúc nhất là được làm những điều mình tha thiết mong muốn: đem tiếng nhạc, lời ca dân tộc đến mọi nơi để siết chặt tinh thân hữu giữa dân tộc Việt Nam với bạn bè bốn biển, năm châu, đem được vui tươi nhẹ nhàng cho người nghe, lại có dịp góp sức với đồng nghiệp các nước Á, Phi bảo vệ nền âm nhạc cổ truyền, chống lại tệ nạn vọng ngoài, sùng bái nhạc phương Tây ».

Với nhiều đóng góp cho sự nghiệp âm nhạc thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, GS. Trần Văn Khê là người Việt Nam đầu tiên được ghi danh và tiểu sử vào cuốn « Đại từ điển âm nhạc thế giới », được tặng Giải thưởng đặc biệt về âm nhạc của UNESCO (1981), Huân chương Văn hoá nghệ thuật của Chính phủ Pháp (1991), Huân chương Lao động hạng Nhất của nước CHXHCN Việt Nam (1999), giải thưởng « Vinh danh nước Việt » (2003). Tháng 11/ 2005, Trung tâm Bảo tồn và Phát huy văn hóa dân tộc và Tạp chí Văn hiến Việt Nam đã tổ chức lễ mừng thọ GS.TS Trần Văn Khê tròn 85 tuổi và trao tặng ông giải thưởng Đào Tấn – giải thưởng tôn vinh những cá nhân, tập thể có đóng góp lớn cho văn hóa, nghệ thuật Việt Nam.

2.Giới thiệu, chia sẻ, cảm nhận về một hình thức âm nhạc truyền thống Việt Nam hoặc một nhạc cụ dân tộc.

Trong tất cả các loại hình âm nhạc truyền thống Việt Nam, tôi ấn tượng nhất là đờn ca tài tử (ĐCTT)

GS. Trần Văn Khê cũng là người đã gắn bó cả đời mình với ĐCTT. Ngay từ trong bụng mẹ, ông đã được biết đến đờn ca tài tử qua tiếng sáo, tiếng đàn ca của hai bên gia đình nội ngoại. Lớn lên, khi GS bôn ba theo học ở nước ngoài thì ĐCTT cũng theo ông và giúp ông kiếm tiền nuôi sống bản thân trong suốt thời gian du học. Khi làm luận án tiến sĩ, GS cũng chọn ĐCTT làm đề tài nghiên cứu cho mình.

Sau này, GS lại vinh dự được Chính phủ Việt Nam mời từ Pháp về nước để đóng góp ý kiến cho việc hoàn tất các hồ sơ gửi UNESCO đối với nghệ thuật ĐCTT. GS. Trần Văn Khê đưa ra dẫn chứng: Ngay từ năm 1972, UNESCO đã trực tiếp cử chuyên gia ghi âm và chụp hình lại những bản ĐCTT do chính GS và nhạc sĩ Vĩnh Bảo biểu diễn tại Paris (Pháp). Đến năm 1973, UNESCO tuyển chọn các bản ĐCTT này và sản xuất thành đĩa mang nhãn hiệu của UNESCO để phát hành trên thị trường quốc tế. Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2012 và được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tháng 12 năm 2013.

Theo GS. Trần Văn Khê: Đến nay chưa có tài liệu nào xác định được năm ra đời cụ thể của ĐCTT. Nhưng dựa theo các tư liệu nghiên cứu thì môn nghệ thuật độc đáo này hình thành vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi các nhạc sĩ, nhạc quan triều Nguyễn vào Nam theo phong trào Cần Vương mang theo truyền thống ca Huế. Trên đường đi, họ dừng chân ở các tỉnh duyên hải miền Trung, từ đó ca Huế mang thêm chút âm hưởng xứ Quảng. Vào đến miền Nam, ĐCTT không ngừng phát triển, sáng tạo, hình thành một loại hình nghệ thuật mới là cải lương. Vì thế, nghệ thuật ĐCTT dù có lịch sử hình thành muộn hơn so với nghệ thuật tuồng, chèo, quan họ hay ca trù… nhưng nó đã chứa đựng đầy đủ giá trị của văn hóa Việt, vừa chuyên nghiệp, vừa đậm chất dân dã, tài tử.

Theo dòng chảy chung của nghệ thuật ĐCTT, ngay từ thuở mới hình thành cho đến nay, đất Nam bộ đã xuất hiện nhiều soạn giả, danh cầm, danh ca xuất sắc. Những nghệ nhân bậc thầy nổi tiếng, như ông Nguyễn Quang Đại (nghệ danh là Ba Đọi) hay ông Lê Tài Khị (nghệ danh là Nhạc Khị) được coi là Hậu tổ, sau khi mất đã được cộng đồng tôn vinh, lập đền thờ, học trò hương khói thường xuyên. Đầu thế kỷ XX, ông Cao Văn Lầu (còn gọi là Sáu Lầu) đã sáng tác bài Dạ cổ hoài lang (Vọng cổ), là một trong những bài hát nổi tiếng và phổ biến nhất của ĐCTT, được cộng đồng tiếp nhận, phát triển từ nhịp 2, 4, 16, 32, … đến nhịp 64. Sau này có nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, NSƯT Ba Tu; xứ sở hiền hòa này còn xuất hiện rất nhiều nghệ nhân vang danh khắp miền Nam – Bắc.

ĐCTT là loại hình nghệ thuật trình diễn phổ biến ở Nam Bộ, phản ánh suy nghĩ, tâm tư, tình cảm của những người dân mở đất phương Nam – vùng miệt vườn, sông nước, với lối sống cần cù, phóng khoáng, cởi mở, bình dị mà nghĩa hiệp, can trường. Đến miền Tây Nam bộ, đâu đâu cũng nghe ĐCTT. Trên chiếc ghe xuôi ngược buôn bán hay trên chiếc chiếu trải trước sân nhà; đôi lúc trong đám tiệc, ma chay, cưới hỏi… của người hàng xóm, vài người biết đờn ngồi trên bộ ván ngựa, ở phòng khách chơi vài bản Bắc, bài Nam đã làm cho nghệ thuật này hết sức chuyên nghiệp.

Nhắc đến ĐCTT, người ta nghĩ ngay đến xứ miệt vườn phương Nam. Đây là thể loại « thính phòng » đặc thù của miền Nam, tương tự Ca trù của miền Bắc và Ca Huế của miền Trung. Những ai đã từng sống hay có dịp về thăm phương Nam, nhất là vào những đêm trăng thanh gió mát, vào dịp cúng tế ở đình, miếu, đám cưới, đám hỏi… đều có thể được thưởng thức ĐCTT. Nó gắn bó chặt chẽ với đời sống sinh hoạt của người dân 21 tỉnh, thành phố phía Nam, được ví như « hơi thở » âm nhạc dân tộc ở miền Nam. Hơn thế, nó được người dân từ đời này sang đời khác lưu truyền, phát triển rộng rãi trong một không gian văn hóa rất đặc thù, đó là nhà, sân, vườn… của nhà dân chứ không phải sân khấu.

Cứ như thế, sức sống mãnh liệt của ĐCTT đã lưu truyền từ hơn thế kỷ qua, trở thành văn nghệ dân gian tươi mát, độc đáo, góp phần làm phong phú và bổ ích thêm đời sống tinh thần của cộng đồng dân cư vùng sông nước Nam bộ, trong đó có vùng châu thổ “chín rồng” xinh đẹp, hữu tình.Đối với người phương Nam, Nghệ thuật ĐCTT Nam Bộ là một loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thần không thể thiếu và là di sản văn hóa phi vật thể quý giá của cộng đồng. Hoạt động văn hóa cộng đồng này đang góp phần phục vụ du lịch bền vững ở địa phương, duy trì sự đa dạng văn hóa của quốc gia và quốc tế. Theo GS-TS Trần Văn Khê: “Mọi tầng lớp xã hội miền Nam, từ những công chức cao cấp đến những người lao động, thợ hớt tóc, anh chèo đò… đều có thể trở thành những người sành điệu ĐCTT và khi vào chung một dàn nhạc thì người nào đờn hay được tôn trọng nhất, cách xử sự những người cùng đờn rất dân chủ…”. Đó là văn hóa ứng xử rất Nam bộ gửi vào tiếng đờn ngân nga chất chứa cả tâm tư, tình cảm của người chơi…Hơn 100 năm định hình và phát triển, nghệ thuật ĐCTT Nam bộ đã khẳng định được sức sống và sự lan tỏa trong cộng đồng. Tâm hồn con người Nam bộ, bản sắc văn hóa Nam bộ đã được gửi gắm vào trong nét độc đáo của một dòng nhạc. Cho nên, ĐCTT Nam bộ cần được giữ nguyên chân giá trị ấy, không chỉ dưới góc độ bảo vệ một di sản văn hóa đại diện của nhân loại mà quan trọng hơn, đó chính là cách để chúng ta gìn giữ được hồn cốt dân tộc qua dòng âm nhạc truyền thống.

Votre commentaire

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l’aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion /  Changer )

Photo Google

Vous commentez à l’aide de votre compte Google. Déconnexion /  Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l’aide de votre compte Twitter. Déconnexion /  Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l’aide de votre compte Facebook. Déconnexion /  Changer )

Connexion à %s

Ce site utilise Akismet pour réduire les indésirables. En savoir plus sur la façon dont les données de vos commentaires sont traitées.