Jour : 15 juillet 2021

Thí sinh Phạm Văn Trình – 017: Matxcova, ngày 14 tháng 7 năm 2021; 1.GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ – “THẦN TƯỢNG” CỦA TÔI

Nguyễn Quốc Thệ

4h  · 💧♥️Thí sinh Phạm Văn Trình – 017

💧♥️Matxcova, ngày 14 tháng 7 năm 2021.1.GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ – “THẦN TƯỢNG” CỦA TÔI

Thật khó để dùng một vài trang viết để cảm nhận về một học giả uyên bác là “người thầy của những bậc thầy”, GS.TS ngành Âm nhạc học đầu tiên của Việt Nam tại Pháp, cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền với việc sưu tầm, nghiên cứu, giảng dạy và truyền bá Nghệ thuật truyền thống Việt Nam ra khắp năm châu – GS.TS Trần Văn Khê. Đặc biệt đối với một kẻ ngoại đạo như tôi – sinh viên một trường kỹ thuật. Nhưng từ trái tim, tôi muốn có đôi dòng bày tỏ tấm lòng kính mến, ngưỡng vọng của mình tới “người thầy lớn” của cổ nhạc Việt Nam, như góp thêm một tiếng lòng của người trẻ tỏ bày tình cảm với ông, với tình yêu âm nhạc Dân tộc, điều mà sinh thời ông luôn trăn trở; cũng là tiếng lòng với người truyền cảm hứng lớn cho tôi tình yêu âm nhạc dân tộc, một “THẦN TƯỢNG” của tôi dù chỉ được thấy, được biết tới Giáo sư qua các phương tiện truyền thông.

Trong một bài hát của Nga có câu “ничто на земле не проходит бесследно”(Không có gì trên trái đất đi qua mà không để lại dấu ấn gì); Với GS Trần Văn Khê, 94 năm cuộc đời đó là dấu ấn của hành trình nghiên cổ nhạc Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới, những chuyến đi đem bản sắc văn hóa, đem âm nhạc Việt Nam tới gần 70 quốc gia, và hơn tất cả đó là dấu ấn trong lòng của những người yêu mến, kính trọng ông không chỉ người Việt Nam mà cả bạn bè quốc tế, những ấn tượng về một Giáo sư âm nhạc ở những tầng lớp, lứa tuổi khác nhau; và tôi chắc chắn rằng rất nhiều trong số đó là những người trẻ như tôi.

Sẽ điểm qua một vài mốc trong cuộc hành trình đầy dấu ấn ấy. Ngày 24/7/1921 cậu bé Trần Văn Khê cất tiếng khóc trào đời, sinh ra trong một gia đình bốn đời theo nghiệp Đờn ca tài tử. Được thai giáo sớm khi còn trong bụng mẹ, lúc trào đời ông đã được sống trong bầu không khí âm nhạc đậm đặc của gia đình. Năm 1941, tại Nhà hát Lớn Hà Nội chàng sinh viên 20 tuổi Trần Văn Khê đã cầm đũa chỉ huy dàn nhạc, hát bài hát tiếng Pháp để nhằm mục đích chính là tiếp sau đó được giới thiệu dân ca ba miền. Ngay từ lúc ấy, ông đã có ý thức giới thiệu âm nhạc dân tộc. Năm 1958 ông bảo vệ luận án Tiến sĩ với đề tài: “Âm nhạc truyền thống Việt Nam”. Tấm bằng Tiến sĩ ông đạt được không phải là cái đích mà chỉ là bước khởi đầu một chặng đường dài GS.TS Trần Văn Khê đã chọn: Sưu tầm, nghiên cứu, quảng bá Âm nhạc Truyền thống và Văn hóa Việt Nam.

Ông sưu tầm, nghiên cứu, quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam không phải bởi thấy âm nhạc Việt Nam hay đẹp, độc đáo hơn các dân tộc khác; mà như ông từng nói: “Mình không quá tự tôn mình, tự coi mình là hay nhưng cũng không bao giờ tự ti, mặc cảm.” mà bởi với ông, đó là một thứ “Quốc hồn”, “Quốc túy”. Hơn nửa đời người, thầy Khê đi truyền “đạo”, cái “đạo” – âm nhạc say sưa, cuốn hút, không chỉ trao kiến thức mà trao cả nhiệt huyết, không chỉ nói mà còn biểu diễn bằng ngón đờn quái kiệt và một giọng thổ trầm ấm cuốn hút ở hầu hết các thể loại: ca, ngâm, hò, vè thậm chí….rap. Với trí nhớ tuyệt vời, sự nhạy cảm của một Nghệ sĩ lớn, phương pháp của nhà khoa học, sự kiên nhẫn và chuyên cần được tôi luyện từ nhỏ, GS.TS Trần Văn Khê đã trở thành một thư viện sống, một bách khoa thư sống về âm nhạc truyền thống Việt Nam. Mà hình như không chỉ là âm nhạc mà còn về tất cả những gì có liên quan tới Văn hóa nghệ thuật Việt Nam.

Đọc Tự truyện, Hồi ký Trần Văn Khê, xem những phóng sự, những cuộc phỏng vấn hay phim tư liệu về ông, giới trẻ như tôi càng thêm yêu, thêm tự hào về Văn hóa dân tộc. Nhớ một thời gian dài vừa qua, câu chuyện “Ngài chơi với ai mà không biết một áng văn nào của nước Việt ?” trích trong cuốn Hồi ký Trần Văn Khê được chia sẻ liên tục trên mạng xã hội mà vẫn chưa hết “nóng”. Câu chuyện chạm đến tình tự của mọi người con nước Việt, thôi thúc giới trẻ “tìm tòi để hiểu biết, hiểu biết để yêu thương và tự hào” Văn hóa dân tộc. Những câu chuyện làm chủ ngoại ngữ, lạc quan vượt qua bệnh tật… đã là những thông điệp sống giản dị để bản thân tôi rèn luyện vượt qua hoàn cảnh khó khăn, dám sống hết mình với những ước mơ đẹp.

Sẽ ấn tượng mãi về những câu chuyện sống động mà GS từng kể lại, như câu chuyện: “Đoàn” kịch nghệ gồm 3 người: GS Trần Văn Khê, NSND Phùng Há và NSND Kim Cương đem lớp “Lữ Bố hý Điêu Thuyền” tới Hội nghị quốc tế về “Nhạc kịch thế giới” tại Hamburg năm 1964. Với nghị lực phi thường, ngón nghề điêu luyện, đặc biệt là trái tim rung động mãnh liệt vì tình yêu đất nước và văn hóa Việt; “đoàn” kịch nghệ đại diện cho Việt Nam đã làm cho báo chí và đoàn nghệ thuật các nước thích thú và thán phục. Tôi đã nhớ như in câu nói “Văn hoá nước ngoài chỉ là văn hoá khách. Chúng ta hiếu khách mời khách đến nhà, nhưng phải lưu ý không đưa vào ở trong từ đường hoặc dẹp bàn thờ ông bà để khách ngồi chễm chệ lên cho mình quỳ lạy”… Tôi đã rưng rưng xúc động trước tình bạn tri kỷ của hai cây đại thụ : GS Trần Văn Khê và Nhạc sư Vĩnh Bảo, hay những lời chia sẻ thân tình về những nghệ nhân, nghệ sĩ: nghệ nhân Ba Tu, soạn giả Viễn Châu, nghệ nhân Bạch Huệ, nghệ nhân Kim Nhụy, NSND Phùng Há, NSƯT Út Bạch Lan, NSND Bạch Tuyết…để một người con miền Trung như tôi thêm hiểu và yêu hơn Đờn ca tài tử, cải lương, những câu hò, điệu lý được nuôi dưỡng và tắm mình trên mảnh đất Nam bộ trù phú.

Nhớ lại năm 2016, tôi đã nghe lại nhiều lần cuốn sách nói “Tự truyện Trần Văn Khê” để hiểu nhiều hơn về một nhân cách lớn mà GS bộc bạch rằng “tôi sẽ kể về những chuyện thật của đời mình…để mọi người thấy thật ra Trần Văn Khê cũng là một người hết sức bình thường”. Nghe xong cuốn sách, tôi cảm nhận ở vị Giáo sư khả kính thêm một góc độ khác, không phải là một điều gì xa cách, vời vợi mà sự cảm phục Giáo sư là tình cảm đối với một con người bằng xương bằng thịt, rất đỗi gần gũi. Cuối năm đó, trong buổi biểu diễn của CLB ngoại ngữ của trường, trong bộ trang phục “áo dài, khăn xếp” tôi đã bắt chước chàng sinh viên Trần Văn Khê năm nào, giới thiệu và hát một làn điệu Dân ca Quan họ Bắc Ninh trước bạn bè của tôi ở gần 20 nước trên thế giới. Lòng lâng lâng sung sướng, giữa sân khấu một trường Kỹ thuật lớn tại Matxcova, giai điệu dân ca của Việt Nam được các bạn bè ngoại quốc của tôi say sưa hưởng ứng, và bộ “quốc phục” tôi đang mang trên người được mọi người trầm trồ, thích thú xin chụp ảnh lưu niệm.

Nhớ GS Trần Văn Khê tôi sẽ nhớ về hình ảnh về một vị Giáo sư thường xuất hiện trong trang phục “khăn đóng, áo dài” mà ở mỗi phỏng vấn hay tọa đàm, gần như không được chuẩn bị trước; vậy mà ở bất cứ chủ đề nào từ: “Bản sắc văn hóa Việt Nam”“Cái độc đáo trong ca trù”, “tiếng cười trong hát bội” ,“Hò đồng tháp”… hay thậm chí “cái hay trong ẩm thực Việt” đều được truyền tải thuyết phục với sự say mê hiếm có và một ngôn ngữ Việt gần gũi, ấm cúng, mê hoặc bất cứ ai.

Tôi tự hỏi điều gì đã làm nên sức hấp dẫn và lan tỏa của một GS ngành Âm nhạc học: một tài năng xuất chúng với những cống hiến to lớn được ghi nhận bởi những Huân chương, giải thưởng uy tín trong nước và Quốc tế, một trí tuệ uyên bác, hay một nhân cách lớn…

Không, sẽ là chưa đủ khi thiếu một GS trần Văn khê với một tâm hồn Việt sâu sắc, một tình yêu dân tộc nồng nàn. Cuộc đời GS Trần Văn Khê là những bước đi không mỏi, là cuộc hành trình phong phú; bằng tất cả tâm hồn, tình yêu trọn vẹn ông đã hiến dâng tất cả trí tuệ, tâm huyết cho âm nhạc truyền thống và văn hóa Việt Nam. Nhớ Giáo sư, từ Matxcova tôi thắp nén tâm nhang, gửi tấm lòng tưởng nhớ, ngưỡng vọng.

2.NHỮNG CHUYẾN THĂM LÀNG QUAN HỌ CỔ

“Em đi khắp bốn phương giời

Không đâu lịch sự bằng người ở đây…”

Câu quan họ cổ ấy cứ văng vẳng trong lòng, hồn tôi vẫn vấn vương mỗi khi nhớ lại; dù đã gần 1 năm từ chuyến đi đầu tiên thăm một làng quê yên ả, làng quan họ cổ danh tiếng: Quan họ Ngang Nội, Hiên Vân, Tiên Du, Bắc Ninh; được tận mắt chứng kiến, được chìm đắm trong một “canh” Quan họ cổ tại “nhà chứa Quan họ”. Lòng bâng khuâng, rưng rưng một nỗi kinh ngạc khi thấy đôi “chị Hai”: Nguyễn Thị Cúc, Nguyễn Thị Tiện … 90 tuổi “răng đen dưng dức, miệng cười đẹp thay” nền nã trong trang phục áo the thâm, gương mặt đẹp phúc hậu đã hằn những vết nhăn sâu của tháng năm; đôi chị Hai ca Quan họ, giọng ca hãy còn duyên dáng, đằm thắm, cứ “vang, rền, nền, nảy” đắm say; thời gian không thể mài mòn đi giọng hát được nuôi dưỡng trong cái nôi của một trong 49 làng Quan họ gốc. Ngược lại, theo thời gian giọng ca ấy thêm điêu luyện, quyến rũ lòng người; sau này tôi mới biết đôi cụ là hai học trò còn lại của “Báu vật nhân văn” một thuở: nghệ nhân Nguyễn Thị Khướu (1900-2006). Xúc động hơn nữa bởi cái tình của người Quan họ, bởi lối ứng xử trang nhã, lịch sự… từ trang phục, cử chỉ, ngôn ngữ, khi ăn, khi nói, lúc đứng, lúc ngồi… Và cũng từ chuyến đi ấy, cơ duyên để tôi được học hỏi một “Chị hai” Hà Nội với mấy chục năm đam mê “chơi canh” cổ tại các làng Quan họ – “Chị hai” Nguyên Như Chính(67 tuổi), người mà tôi gọi thân mật là “U” Hai. Nửa năm trước khi tôi sang Nga tiếp tục học tập, tranh thủ những ngày nghỉ ít ỏi là những bước đường U Hai dẫn tôi – một thanh niên quê miền Trung đi thăm những “cây cổ thụ”, thưởng ngoạn và đắm chìm trong không gian rộng lớn của “cánh rừng Di sản” – Dân ca Quan họ Bắc Ninh.

Kinh Bắc xa xưa ông bà tổ tiên một nắng hai sương, cấy cày đồng bãi… Bao vất vả lam lũ, nhưng người xưa đã biết làm sang đời sống tinh thần của mình bằng câu hát Quan họ đắm say thổn thức; cho cháu con có cả một “Di sản văn hoá phi vật thể đại diện nhân loại” được năm châu bốn bể vinh danh. Trong quá trình hình thành và phát triển hàng trăm năm ấy, Dân ca Quan họ đã có trên 200 “giọng”(làn điệu) với hàng trăm “câu”(bài ca) và nhiều hình thức ca hát khác nhau đáp ứng nhu cầu thường xuyên và toàn diện của “nghề chơi Quan họ”: hát chúc, hát mừng, hát thờ, hát canh, hát hội, hát cầu đảo…; mà mỗi hình thức hát đều tuân thủ lề lối một cách chặt chẽ. Và theo các nhà nghiên cứu: “ Quan họ ôm vào lòng, hội tụ « khí chất » của rất nhiều làn điệu dân ca… nhưng trên hết, Quan họ là hồn của xứ sở, là « đặc sản » tinh thần của người Kinh Bắc”, “…ca hát không cần đàn mà quyến rũ lòng người…” với đặc tính “nước” uyển chuyển của âm nhạc truyền thống Việt Nam. Người Kinh Bắc ru con bằng Quan họ, lớn lên cũng trong câu hát, để những người con của quê hương mang hồn quê Kinh Bắc lan tỏa khắp bốn phương trời… và cũng bằng câu ca Quan họ tưởng nhớ, chia buồn, tiễn bạn khi thác xuống… Người Quan họ ca với nhau những “canh” thâu đêm, rạng ngày; cho “tàn canh mãn võ” để vui xóm vui dân, vui bầu vui bạn. Rồi lúc chia tay họ cứ mãi dùng dằng, quyến luyến mà chẳng nỡ rời xa, lại cùng nhau thề nguyện “đến hẹn lại lên”.

“Vốn xưa Quan họ Bắc Ninh

Muốn tìm tích cũ đến làng Diềm thôn

Thủy tổ Quan họ làng ta

Những lời ca xướng vua bà đặt ra…”

Lời thơ trên là phần mở đầu trong “câu” 72 giọng, nhắc tôi nhớ đến những lần được theo U Hai về làng Diềm (làng Thủy tổ Quan họ) được gặp những “cây đại thụ”, hay những “liền anh, liền chị” lớp kế cận – những thế hệ biểu tượng cho sự trường tồn và tiếp nối của Dân ca Quan họ; những “cây đại thụ” Nghệ nhân Nguyễn Thị Bàn (90 tuổi), Trần Thị Phụng (99 tuổi) … được nghe các cụ say sưa ca, say sưa trò chuyện về Quan họ…hay trầm trồ khi nghe Nghệ nhân Ngô Thị Khu (101 tuổi) – chủ “nhà chứa Quan họ” hàng trăm năm tuổi duy nhất còn lại ở làng Diềm, ca câu “Khách đến chơi nhà”. Được nghe những giọng ca của các “cặp hát” nức tiếng trong làng: nghệ nhân Nguyễn Thị Sang, Nguyễn Thị Thềm, Nguyễn Thị Hài, Nguyễn Thị Sứ… Nhớ những đêm được sống cùng Quan họ, được xem cảnh “đón bạn Quan họ” về “chơi canh” tại tư gia Chị hai Nguyễn Thị Hài. Trong không gian yên bình giữa làng Thủy tổ, tôi chìm đắm trong âm thanh “vang, rền, nền, nảy” của những đôi bạn hát tình tứ, ăn ý, và càng về khuya tiếng hát càng ngấm, càng say. Thích thú bởi sự tinh tế, ý nhị của “văn hóa Quan họ” trong cách ứng xử, trong tâm tư gửi gắm ở mỗi câu ca; ở sự khiêm tốn, nhún nhường bằng những câu thưa gửi: “Em xin đỡ nhời Anh hai, Anh ba đương quan họ… mời Anh hai, Anh ba uống nước xơi giầu, và xin được mời Anh hai, anh Ba ca cầu vui cho chị em chúng em được học đòi đôi ba lối đấy ạ”… Và rồi một ngày, U con tôi nuối tiếc xót thương, xúc động rơi lệ vì không kịp về thăm thêm lần nữa một “cây đại thụ” danh tiếng của làng Diềm: nghệ nhân Ngô Thị Lịch (1926-2020), nhưng tôi cũng còn một chút cơ duyên với cụ khi kịp chứng kiến “bọn Quan họ” ca tiễn “chị Cả” về với Vua bà…

Sẽ còn rất dài khi tôi kể về những chuyến đi cùng U Hai thăm các làng quan họ. Nhưng trong giới hạn bài viết này, tôi muốn ghi lại những ấn tượng ban đầu làm tôi thêm mê đắm khi được trực tiếp đến với “cánh rừng di sản” ấy. Và bây giờ khi đang ở rất xa quê hương, tôi càng thêm nhớ thương, tự hào về nét đẹp văn hóa Quan họ. Thay cho lời kết, tôi muốn dùng lời “bỉ” trong “câu Năm canh kép”, mà U Hai vẫn thường ca cho tôi nghe, để tỏ bày nỗi nhớ thương ấy:

“Xa xôi xin chớ ngại ngùng

Xa người xa tiếng nhưng lòng không xa…

”Phạm Văn Trình – CLB Xẩm 48h, Cao học năm nhất ngành Vật lý, Trường Đại học Tổng hợp Kỹ thuật Bauman, Matxcova, LB Nga.

Thí sinh Nguyễn Thị Hoài Linh – 018: CUỘC THI TÌM HIỂU VỀ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ VÀ ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM NHÂN DỊP 100 NĂM NGÀY SINH GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

Nguyễn Quốc Thệ

3h  · 💧♥️Thí sinh Nguyễn Thị Hoài Linh – 018

💧♥️CUỘC THI TÌM HIỂU VỀ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ VÀ ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM NHÂN DỊP 100 NĂM NGÀY SINH GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ.

1. Tìm hiểu về Giáo sư Trần Văn Khê.

“ Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh họa độ”

Hai câu thơ vừa cất lên chắc hẳn mọi người sẽ nhận ra em đến từ đâu phải không ạ? Em xin tự giới thiệu em tên là Nguyễn Thị Hoài Linh, là một cô gái đến từ mảnh đất địa linh nhân kiệt mang tên Nghệ An.

Chắc hẳn mọi người cũng không còn xa lạ gì với nơi đây bởi đây cũng chính là quê hương của Người cha Hồ Chủ Tịch. Hiện em đang là sinh viên năm hai khoa Du Lịch thuộc Trường Đại học Văn Hóa Thành phố Hồ Chí Minh – một trong những ngôi trường dày dặn kinh nghiệm trong khâu đào tạo khối ngành nghệ thuật và du lịch thuộc tốp đầu của hành phố mang tên Bác. Sinh ra và lớn lên ở tại một miền quê đồi núi, tuổi thơ em được gắn liền với những cánh đồng, lũy tre và cánh diều những hình ảnh quen thuộc đó đã giúp em thêm khát khao tìm hiểu về những chuyến trải nghiệm. Và đó cũng chính là một trong những lý do để em càng thêm trân quý hơn về những trải nghiệm thú vị khi được trở thành sinh viên du lịch của Trường Đại học Văn Hóa Thành Phố Hồ Chí Minh.

Là một người yêu âm nhạc cũng như luôn kiếm tìm cho bản thân những điều mới mẻ em cũng dành khá nhiều thời gian để tìm hiểu cho một vài loại hình âm nhạc truyền thống như chèo, ví dặm, hò,…. và đó cũng chính là một trong những tìm hiểu thú vị để bản thân em bổ sung vào thế giới quan nhàm chán của mình và để rồi từ đó đến với cuộc thi lần này, em muốn dành tấm lòng chân thành nhất cũng như tình yêu to lớn nhất đối với âm nhạc để chia sẻ cho quý ban tổ chức, quý giám khảo và các độc giả về cuộc đời và sự nghiệp của một người giáo sư đã dành trọn cuộc đời mình để cống hiến cho âm nhạc dân tộc. Đó chính là Giáo sư Trần Văn Khê – một người thầy đã tiếp lửa cho em cũng như các bản trẻ có lòng đam mê với âm nhạc truyền thống.

Nếu như nhà soạn nhạc Claude Debussy luôn cảm thấy “ âm nhạc là số học của âm thanh cũng giống như quang học là hình học của ánh sáng” thì Giáo sư Trần Văn Khê luôn cảm nhận những làn điệu âm nhạc truyền thống của dân tộc bằng cả con tim và tình yêu thương vô hạn và đó cũng chính là một trong những yếu tố làm nên sự khác biệt giữa Giáo sư và những người nghiên cứu âm nhạc khác. Vào một đêm ngày 24 tháng 7 năm 1921 cậu bé Trần Văn Khê đã cất tiếng khóc chào đời đầu tiên tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, Tiền Giang). Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ nên từ nhỏ câu bé Trần Văn Khê đã có nhưng cơ sở để bộc lộ tài năng thiên phú của mình cũng như đem lòng và yêu say đắm với âm nhạc truyền thống. Với truyền thống gia đình âm nhạc lâu đời,từ bé đã được tiếp cận với âm nhạc, lên 6 tuổi ông đã được cô ( Ba Viện) và cậu ( Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và bắt đầu tập tạnh đàn những bài hát như “Lưu Thủy”, “Bình Bán Vắn”, “Kim Tiền”, “Long Hổ Hội”. Lên 7 tuổi ông đã khéo léo tập cho các chị diễn viên gánh Đồng Nữ Ban của cô Ba Viện hát bài “ La Madelon” để chưng màn đầu cải lương. Nhờ năng khiếu đầy mình, lên tám tuổi ông đã biết đánh đờn cò, mười hai tuổi biết đánh đờn tranh và trống nhạc. Tuy có tuổi thơ vui vẻ và hạnh phúc nhưng ông là một người khá thiệt thòi về mặt tình cảm, mồ côi từ sớm. Lên ba tuổi ông ngoại qua đời, lên năm tuổi thì ông nội mất, chín tuổi mồ côi mẹ, mười tuổi mồ côi cha. Tuy thiệt thòi về mặt tình cảm nhưng ông luôn vô cùng mạnh mẽ, lấy sự mất mát về tình thương của mình để bù đắp cho đứa con tình thần đó chính là âm nhạc dân tộc.

Năm 1942 ông ra Hà Nội học Y khoa, năm 1943 ông cưới bà Nguyễn Thị Sương – người bạn gái học cùng lớp Triết ở trường Petrus Ký. Vì gặp quá nhiều sự kiện đột ngột nên ông đã thôi học để trở về miền Nam ruột thịt. Năm 1949 sau khi từ giã vợ hiền con thơ, Trần Văn Khê quyết định đi du học tại trường đại học Sorbonne ở Paris và đây chính là quyết định mang tính lịch sử cho cuộc đời của ông. Đến hè năm 1951, ông thi đậu vào trường chính trị Khoa giao dịch quốc tế. vào thời điểm này, để có đủ kinh phí trang trải nơi đất khách quê người, Trần Văn Khê đã làm công việc thu thanh một số bài hát cho hang đĩa Oria của Pháp và đi hát ở quán bar của người Việt tên là Bồng Lai. Từ đó bút danh Hải Minh của ông ra đời. Hải Minh chính là tên hai người con trai của ông chính là Trần Quang Hải và Trần Quang Minh. Do điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi, những năm ở Pháp sức khỏe của ông không tốt nên phải nằm ở nhà dưỡng lao trong một thời gian dài.

Đến năm 1958, Trần Văn Khê theo học khoa nhạc học và chuẩn bị luận án tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các giáo sư Jacques chailley, Emile gaspardone và André Schaeffner. Tháng 6 năm 1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Luận văn của ông có tên: “LaMusique vietnamienne traditionnelle” (Âm nhạc truyền thống Việt Nam), Từ đó, ông bước vào con đường nghiên cứu, giảng dạy, diễn thuyết liên tục tại Pháp và nhiều quốc gia. Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học paris (Institut de Musicologie de paris). Ngoài ra ông còn nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng trong lĩnh lực âm nhac ở viện hàn lâm Châu Âu,… Trong thời gian học tập và công tác tại Châu Âu, ông đã có dịp đưa nền âm nhạc truyền thống của Việt Nam qua 67 quốc gia bằng lối diễn giải nhẹ nhàng và tấm lòng nhiệt huyết với âm nhạc dân tộc, một lần nữa Giáo sự Trần Văn Khê đã hết lòng chỉ dạy và truyền đạt những tinh hoa trù phú của dân tộc thông qua các cuộc nói chuyện trao đổi cũng như những bài giảng về âm nhạc vô cùng đắt giá.

Đến năm 1975, vì tình yêu đất nước, vì tấm lòng nhiệt huyết với âm nhạc truyền thống quê nhà ông đã trở về Việt Nam với tư cách Giám đốc nghiên cứu trong Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp, thành viên Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO, một chuyên gia hàng đầu về âm nhạc truyền thống của Việt Nam. Sự tìm tòi của Giáo sư như một nấc thang đưa nền âm nhạc dân tộc bước sang một ánh hào quang mới thông qua quá trình nghiên cứu, tìm tòi, quảng bá và giới thiệu sự độc đáo của nền âm nhạc cổ dân tộc tới bạn bè năm châu.

Sự hi sinh thầm lặng, tinh thần yêu nước ,yêu âm nhạc truyền thống của giáo sư đã để lại nhiều công trình đồ sộ vang danh khắp thế giới để rồi những thế hệ đi sau như chúng em lại một lần nữa càng thêm tự hào và cảm phục tinh thần ham học hỏi sự đam mê mạnh mẽ và tấm lòng yêu âm nhạc của ông. Dù Giáo sư đã vĩnh viễn rời xa cõi đời này nhưng ngọn lửa nhiệt huyết trong ông sẽ luôn là một niềm hy vọng thôi thúc tình yêu âm nhạc truyền thống trong tâm hồn mỗi người Việt. Giống như câu nói “Hạnh phúc nhất là được làm những điều mình tha thiết mong muốn: đem tiếng nhạc, lời ca dân tộc đến mọi nơi để siết chặt tình thân hữu giữa dân tộc Việt Nam với bạn bè bốn biển, năm châu, đem được vui tươi nhẹ nhàng cho người nghe, lại có dịp góp sức với đồng nghiệp các nước Á, Phi bảo vệ nền âm nhạc cổ truyền, chống lại tệ nạn vọng ngoài, sùng bái nhạc phương Tây”.Lời cuối cùng cho phép em được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Giáo sư Trần Văn Khê. Kính nhớ Thầy …

2.Dân ca Ví, Dặm xứ Nghệ

“Anh ơi khoan vội (mà) bực mình,

Em xin kể lại (mà) phân minh cho anh tỏ tường.

Anh cứ nhủ rằng em không thương

Em đo lường thì rất cặn kẽ

Chính thương anh nên em bàn với mẹ

Phải ngăn anh không đi chuyến ngược Lường

Giận thì giận mà thương thì thương

Giận thì giận mà thương thì thương…

”Ca khúc: Giận mà thương ( hò Ví, Dặm)

Những câu hát mộc mạc đã phần nào đưa các thính giả ngược xuôi hết mảnh đất xứ Nghệ, nơi đây không chỉ gắn liền với những di tích lịch sử cách mạng, những danh lang thắng cảnh đẹp đến nào lòng mà đây còn là một trong những cái nôi của điệu hát Ví, Dặm – làn điệu gắn liền với sự mộc mạc, chân chất của đời sống người dân thôn quê, là một thức quà mà hầu hết mọi người con đất Nghệ ai ai cũng được nghe, được học và được biết thông qua các câu hát, lời ru của bà của mẹ. Và may mắn thay, những câu hát thân thương ấy đã được UNESCO công nhân là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại và ngày 27/11/2014 tại Paris ( Pháp). Đây không chỉ là niềm tự hào mà một phần nào đó còn là niềm kiêu hãnh của mọi người con xứ Nghệ.

Nếu nhã nhạc cung đình Huế là một trong những cực phẩm của thời phong kiến thì Ví, Dặm chính là một trong những câu hát tinh hoa được viết nên bởi những câu chuyện cuộc sống thường nhật hằng ngày của bà con vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. Dân ca Ví, Dặm, cũng giống như nhiều loại hình dân ca khác của vùng đồng bằng Bắc Bộ, có nguồn gốc từ cuộc sống lao động, sinh hoạt của các tầng lớp nhân dân, do vậy đều có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời. Từ khi các câu ca dao tục ngữ xuất hiện thì đã bắt đầu có sự manh nha của làn điệu này và theo như một số nhà nghiên cứu cho thấy từ thế kỷ 17-18, hát Ví, Giặm đã rất phát triển và trở thành hình thức trình diễn dân gian phổ biến trong cộng đồng cư dân Nghệ An và Hà Tĩnh, thu hút sự tham gia của nhiều tầng lớp xã hội khác nhau. Trong thời kì mưa bom bão đạn, các làn điệu ngọt ngào này đã trở thành thứ vũ khí cổ vũ, khích lệ bộ đội dân quân kháng chiến bảo vệ tổ quốc. Đến với cuộc sống hiện đại, Ví, Dặm lại một lần nữa khẳng định lại mình trong các buổi diễn giao lưu văn nghệ, trong trường học, và trong cuộc sống hằng ngày của cô bác nông dân.Cái làm nên nét độc đáo của Ví, Dặm xứ Nghệ chính là những nội dung bao hàm trong mỗi bài hát, mỗi bài hát đều thể hiện một nội dung khác nhau như: Phản ánh xã hội, lịch sử; thể hiện tâm tư, tình cảm, tình yêu cuộc sống, yêu quê hương, đất nước, tình yêu đôi lứa; giáo huấn, triết lý trọng nghĩa, trọng tình, mang đậm tính nhân văn của người Việt Nam. Không chỉ có nội dung độc đáo, Ví, Dặm còn rất đa dạng về hình thức, theo các chuyên gia ước tính có khoảng 15 điệu ví, 8 điệu giặm được gọi tên theo bối cảnh cuộc sống, lao động, nghề nghiệp như Ví phường vải, Ví đò đưa, Ví phường cấy, Ví trèo non, Giặm ru, Giặm kể, Giặm vè… khác với các làn điệu khác, Ví, Dặm không cố định về không gian cũng như thời gian hát và biểu diễn, mà nó có thể diễn ra hằng ngày và trong mọi không gian sinh hoạt. Không chỉ vậy, Ví, Dặm còn gắn liền với những sự kiện lớn, những lễ hội lớn như: Cưới hỏi, tết nhất, đìm đám, hát giao duyên,… và dường như các làn điệu Ví, Dặm xuất hiên khắp mọi nơi, trong mọi hoạt động gắn liền với đời sống thường nhật, vất vả, khó nhọc của người dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. tại kỳ họp thứ 9 của Ủy ban Liên Chính phủ Công ước UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể ngày 27/11/2014 tại Paris (Pháp) Dân ca ví dặm tại Nghệ – Tĩnh được công nhận là một trong những di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia đã được ghi danh đại diện cho nhân loại. Danh hiệu cao quý này không chỉ là niềm tự hào cho cả Nghệ – Tĩnh nói riêng mà nó còn là một niềm vui lớn, một niềm tự hào lớn cho cả dân tộc.

Đứng trước những biến động to lớn của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa âm nhạc truyền thống nói chung và Ví, Dặm nói riêng đang đứng trước những nguy cơ bị mai một theo thời gian. Trước nguy cơ ấy, các ban ngành liên quan cũng như thế hệ trẻ chúng ta cần có những biện pháp tích cực nhằm bảo vệ những giá trị quý báu đó. Là một sinh viên cũng là những mần xanh tương lai của đất nước, chúng ta cần học tập hết mình, phát huy hết mình những khả năng của bản thân để bảo vệ những tài sản âm nhạc vô giá của dân tộc. Lời cuối cùng, cho phép em một lần nữa gửi lời cảm ơn tới Giáo sư Trần Văn Khê đã không quản hi sinh khai sáng cho nền âm nhạc truyền thống của nước nhà,cảm ơn quý ban tổ chức, quý ban giám khảo đã tạo dựng nên một sân chơi thật bổ ích để giới trẻ chúng em càng thêm yêu về âm nhạc truyền thống và xin chân thành cảm ơn những độc giả, những thính giả đã giành chút ít thời gian để đọc bài dự thi còn nhiều sai sót của em. Em xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, tháng 7 năm 2021.

Thí sinh Lê Thị Thu Thanh – 019: Viết từ Quảng Trị ….GS. Trần Văn Khê cả cuộc đời tận tụy, cống hiến cho âm nhạc dân tộc

Nguyễn Quốc Thệ

3tSgponesol0mgreed  · 💧♥️Thí sinh Lê Thị Thu Thanh – 019

💧♥️Viết từ Quảng Trị ….GS. Trần Văn Khê cả cuộc đời tận tụy, cống hiến cho âm nhạc dân tộc

1.Giới thiệu, chia sẻ, cảm nhận về cuộc đời và sự nghiệp của cố Giáo sư (GS) Trần Văn Khê

1. Con đường đến với âm nhạc dân tộc và lòng hướng về Tổ quốc

Theo tôi tìm hiểu GS. Trần Văn Khê sinh ngày 24/7/1921 trong một gia đình 4 đời làm nhạc sĩ ở làng Vĩnh Kim, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (Tiền Giang ngày nay). Năm 6 tuổi, Trần Văn Khê được cậu ruột Nguyễn Tri Khương (cháu nội ông Nguyễn Tri Phương), vốn là một thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng hát có tiếng, dạy chơi đàn nguyệt (đàn kìm), đàn cò (đàn nhị); được người cô thứ ba là Trần Ngọc Viện dạy đàn tranh. Âm thanh ngọt ngào, đậm đà hồn Việt của các bản nhạc tự nhiên đi vào tâm hồn của cậu bé Trần Văn Khê từ ngày ấy. Từ đó ba cây đàn chẳng rời ông nửa bước, kể cả khi ông là một sinh viên Trường Y Hà Nội hay là một giáo sư danh tiếng ở Paris.

Khi học tại Trường Pétrus Ký (còn gọi là Trường Trương Vĩnh Ký), (1934 – 1941), Trần Văn Khê đã cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường và dàn nhạc của học sinh trong câu lạc bộ học sinh mang tên Scola Club của Hội Đức trí Thể dục (SAMIPIC).

Đến năm 1949, GS. Trần Văn Khê có cơ duyên sang Pháp du học. Đến tháng 6/1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương. Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác.

Suốt thời gian từ 1949 tới 1951, GS. Trần Văn Khê đọc các báo Pháp để viết mục « điểm báo », làm phóng viên về các sinh hoạt của Việt kiều; viết du ký, phóng sự; cắt gửi về toà soạn những bài xã luận về chính trị quốc tế và chính trị liên hệ đến Việt Nam. Trần Văn Khê thử thi vào Viện Khoa học Chính trị nổi tiếng mang tên Sciences Po (Sciences Po, Institut d »Etudes Politiques de Paris), không ngờ đỗ vào năm thứ hai của Viện. Và rồi, ông đã tốt nghiệp hạng cao (hạng 5) Khoa Giao dịch Quốc tế sau hai năm miệt mài học tập trên ghế nhà trường và học thêm Anh văn tại Đại học Văn khoa Paris.

Cuối năm 1954, GS. Trần Văn Khê theo học và chuẩn bị luận án tiến sĩ tại Khoa Anh văn và Âm nhạc học, Trường Đại học Sorbonne, Paris. Tháng 6.1958, ông bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ với đề tài chính: « Âm nhạc truyền thống Việt Nam » và hai đề tài phụ: « Khổng Tử và âm nhạc », « Vị trí âm nhạc trong xã hội Việt Nam ». Từ đây, ông bắt đầu đi những bước đầu tiên trên chặng đường dài mà mình đã chọn: sưu tầm, nghiên cứu, quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam.Liên tục trong hơn 50 năm trên đất Pháp, GS. Trần Văn Khê không ngừng nghiên cứu, hoạt động và giảng dạy âm nhạc ở nước ngoài, quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam đến với thế giới. GS. Trần Văn Khê đã viết hàng trăm bài báo và tham luận về đề tài âm nhạc dân tộc Việt Nam được dịch ra 14 thứ tiếng. Với ngón đàn điêu luyện và khả năng truyền cảm, ông đảm nhận giới thiệu các chương trình âm nhạc dân tộc Việt Nam trên làn sóng phát thanh, truyền hình, đồng thời ông cũng tham gia thuyết trình về âm nhạc truyền thống Việt Nam trong nhiều hội nghị và các trường đại học lớn tại hơn 50 quốc gia. Ông đã thực hiện được gần 30 đĩa hát 33 vòng và CD về âm nhạc Việt Nam và âm nhạc một số nước châu Á; đã tham dự 210 hội nghị quốc tế về Âm nhạc và Âm nhạc học trên 67 quốc gia, gần 20 liên hoan quốc tế về âm nhạc khắp năm châu.

Với GS. Trần Văn Khê , âm nhạc truyền thống Việt Nam đó là một thứ « quốc hồn », « quốc tuý ». Sống nơi đất khách, điều mong mỏi của ông là đem hồn nhạc Việt đi xa, quảng bá rộng rãi cho mọi người yêu nhạc. Bằng tài năng và bầu nhiệt huyết của mình, ông đã bước vào làng nhạc quốc tế và thực thực hiện được điều mong ước đó. GS thường tâm sự: « Tuy thân ở nước ngoài nhưng tâm tôi luôn ở trong nước vì đất nước thể hiện trọng tiếng đờn của tôi, trong những món ăn Việt Nam hàng ngày tự tay tôi nấu, nên lúc nào tôi cũng thấy mình gắn bó và gần gũi với quê hương, xứ sở »

.2. Cả cuộc đời tận tụy, cống hiến cho âm nhạc dân tộc

Ở GS. Trần Văn Khê, người ta không chỉ học ở kiến thức uyên thâm, ở sự miệt mài tận tụy không ngơi nghỉ mà còn học ở ông nhân cách lớn. Từ những năm 70 của thế kỷ XX, GS. Trần Văn Khê đã rất quan tâm tới vấn đề bảo tồn và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam. Năm 1976, khi đất nước vừa thống nhất, GS. Trần Văn Khê về nước, miệt mài thu âm các loại hình âm nhạc truyền thống ở Bắc Bộ như quan họ, ca trù. Tuy đã sống ở Pháp ngót nửa thế kỷ nhưng đến năm 2006, GS. Trần Văn Khê nhất quyết trở về quê hương để sống và cống hiến trong những năm tháng cuối đời cho nền âm nhạc dân tộc nước nhà.Trở về nước, GS. Trần Văn Khê đã cống hiến quãng đời còn lại của mình cho âm nhạc dân tộc.

Có thể kể ra 2 đóng góp lớn của ông:Thứ nhất, GS. Trần Văn Khê đã có công lao to lớn trong việc bảo tồn, quảng bá văn hoá truyền thống nói chung, âm nhạc truyền thống của Việt Nam nói riêng đến với các quốc gia, dân tộc trên thế giới.

Khi sống trên đất mẹ dù đã bước sang tuổi 85 nhưng GS. Trần Văn Khê vẫn không hề nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi. Ông cùng các cộng sự xây dựng Thư viện Trần Văn Khê dành cho những ai muốn tìm tòi về nhạc cổ truyền. Cũng tại đây, hàng trăm buổi nói chuyện chuyên đề, biểu diễn nghệ thuật được ông chủ trì. Dù tuổi đã cao, GS vẫn luôn trăn trở là làm sao để mang âm nhạc dân tộc đến các trường học, nhất là các em học sinh đầu cấp, phải có một phương pháp dạy thật hiệu quả, thoải mái để các cháu nhỏ dễ dàng tiếp thu và yêu thích. Chính bởi vậy, hàng ngày ông vẫn thực hiện dự án “Âm nhạc học đường” của UNESCO tài trợ để thử nghiệm dạy nhạc dân tộc cho học sinh tiểu học TP. HCM. Ông cảm thấy vui khi các học sinh và cô giáo trẻ đều say sưa học, say sưa tìm hiểu âm nhạc dân tộc.

Dường như tất cả thời gian và tâm huyết của ông đều dành cho việc giảng dạy, sưu tầm nghiên cứu, quảng bá nghệ thuật âm nhạc dân tộc Việt Nam trên khắp năm châu. Ông là một kho tri thức về chèo, tuồng, ả đào, hát xẩm, hát ví, hát bài chòi, điệu hò, điệu lý, nhạc tài tử… Từ vốn kiến thức đồ sộ tích lũy được qua thời gian, GS. Trần Văn Khê như một kho từ điển sống về âm nhạc. Đáng lưu ý là các loại hình nghệ thuật trình diễn như ca trù, hát xẩm, quan họ Bắc Ninh v.v… được GS đưa vào trong danh mục các CD của UNESCO phát hành tới nhiều quốc gia. GS đã làm cho hình ảnh di sản văn hoá Việt Nam hiện diện trên bản đồ văn hoá thế giới.

Và đến khi sắp từ giã cõi đời di nguyện của ông là: Tất cả những hiện vật liên quan đến hoạt động nghề nghiệp của ông từ Pháp mang về Việt Nam như: sách vở, báo chí, đĩa hát các loại, phim ảnh, nhạc khí, máy ghi hình, máy ghi âm, tranh, hình ảnh… được giao lại cho ban quản lý nhà lưu niệm Trần Văn Khê với hy vọng chúng được dùng vào việc bảo tồn và phổ biến văn hóa truyền thống Việt Nam.

Thứ hai, GS. Trần Văn Khê có đóng góp rất lớn đối với việc xây dựng các hồ sơ quốc gia về các di sản văn hóa phi vật thể trình UNESCO.GS. là người có nhiều đóng góp lớn trong việc đưa Nhã nhạc cung đình Huế (Âm nhạc Cung đình Việt Nam) đệ trình UNESCO công nhận là kiệt tác Di sản Phi vật thể và Truyền khẩu của nhân loại. Trong thời gian lập hồ sơ, mặc dù tuổi đã cao, sức khỏe không còn tốt, nhưng GS vẫn thường xuyên về lại Việt Nam để cùng các thành viên nhóm lập hồ sơ của Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế và các chuyên gia tư vấn khác xem xét điều chỉnh nội dung và các tư liệu cần thiết, bổ sung kịp thời theo yêu cầu của UNESCO, góp phần cho sự thành công của bộ hồ sơ. Kết quả, tháng 11/2003, Nhã nhạc Huế – Nhạc cung đình Việt Nam đã được UNESCO vinh danh là Kiệt tác Di sản Văn hóa Phi vật thể và Truyền khẩu của thế giới (từ năm 2008 được UNESCO hợp nhất thành danh hiệu Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại).

Ghi nhận công lao đóng góp của GS. Trần Văn Khê, tỉnh Thừa Thiên – Huế cũng đã trao tặng Bằng khen và Huy hiệu người tốt việc tốt cho ông vào các năm 2004 và 2006…

Giáo sư Trần Văn Khê cũng đã dành nhiều thời gian nghiên cứu giá trị của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, góp phần đưa cồng chiêng đệ trình lên UNESCO. Tháng 11/ 2005, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã chính thức được UNESCO công nhận là Kiệt tác Di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại.

Với sự tín nhiệm của UNESCO, GS. Trần Văn Khê đã có cơ hội góp sức vào việc thẩm định Hồ sơ Nhã nhạc cung đình Huế và được giao trọng trách thẩm định hồ sơ Cồng chiêng của Việt Nam. Ông đã chứng minh được những nét đặc sắc, độc nhất vô nhị của hai loại hình nghệ thuật này. Cuối cùng 2 hồ sơ này đã được vinh danh.

GS. Trần Văn Khê là người đề xuất Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch xây dựng hồ sơ về nghệ thuật ca trù trình UNESCO, vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Ngày 1/10/2009, ca trù đã được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại. Trước đó, vào tháng 9/2009, dân ca quan họ Bắc Ninh chính thức được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.GS. Trần Văn Khê còn là cố vấn đặc biệt cho Ủy ban thành lập hồ sơ về Đờn ca tài tử (ĐCTT) Nam Bộ để gửi lên UNESCO. ĐCTT Nam Bộ chính thức được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào tháng 12/2013.

Có lẽ chưa có người Việt Nam thứ 2 nào như GS Trần Văn Khê cả cuộc đời chỉ đeo đuổi một công việc: nghiên cứu, giảng dạy, quảng bá giá trị đặc sắc của âm nhạc truyền thống Việt Nam và góp phần vinh danh giá trị đó ở khắp mọi nơi trên thế giới. Ông là một người có tâm, có tầm, có đức, lại am hiểu kỹ về nhạc dân tộc. Là một nhạc sĩ, học giả và một tri thức, GS. Trần Văn Khê đã truyền bá không biết mệt mỏi cho âm nhạc Việt Nam. Suốt cuộc đời mình, GS đã tạo hứng khởi và làm rung động biết bao người.

GS. Trần Văn Khê là một cây đại thụ trong làng âm nhạc Việt Nam. Mặc dù GS đã đi xa được 6 rồi, nhưng ông luôn sống mãi trong tim những người yêu nhạc. Sự ra đi của GS. Trần Văn Khê là một mất mát, một sự tiếc nuối lớn lao đối với nền âm nhạc truyền thống Việt Nam, nhưng đối với những người yêu và gắn bó với âm nhạc truyền thống thì GS. Trần Văn Khê mãi mãi là bậc thầy, là người truyền lửa để tình yêu âm nhạc dân tộc luôn sống cùng thời gian.

Cả cuộc đời GS. Trần Văn Khê như một ngọn lửa nhiệt huyết cống hiến cho âm nhạc truyền thống nước nhà, vì với ông: « Hạnh phúc nhất là được làm những điều mình tha thiết mong muốn: đem tiếng nhạc, lời ca dân tộc đến mọi nơi để siết chặt tinh thân hữu giữa dân tộc Việt Nam với bạn bè bốn biển, năm châu, đem được vui tươi nhẹ nhàng cho người nghe, lại có dịp góp sức với đồng nghiệp các nước Á, Phi bảo vệ nền âm nhạc cổ truyền, chống lại tệ nạn vọng ngoài, sùng bái nhạc phương Tây ».

Với nhiều đóng góp cho sự nghiệp âm nhạc thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, GS. Trần Văn Khê là người Việt Nam đầu tiên được ghi danh và tiểu sử vào cuốn « Đại từ điển âm nhạc thế giới », được tặng Giải thưởng đặc biệt về âm nhạc của UNESCO (1981), Huân chương Văn hoá nghệ thuật của Chính phủ Pháp (1991), Huân chương Lao động hạng Nhất của nước CHXHCN Việt Nam (1999), giải thưởng « Vinh danh nước Việt » (2003). Tháng 11/ 2005, Trung tâm Bảo tồn và Phát huy văn hóa dân tộc và Tạp chí Văn hiến Việt Nam đã tổ chức lễ mừng thọ GS.TS Trần Văn Khê tròn 85 tuổi và trao tặng ông giải thưởng Đào Tấn – giải thưởng tôn vinh những cá nhân, tập thể có đóng góp lớn cho văn hóa, nghệ thuật Việt Nam.

2.Giới thiệu, chia sẻ, cảm nhận về một hình thức âm nhạc truyền thống Việt Nam hoặc một nhạc cụ dân tộc.

Trong tất cả các loại hình âm nhạc truyền thống Việt Nam, tôi ấn tượng nhất là đờn ca tài tử (ĐCTT)

GS. Trần Văn Khê cũng là người đã gắn bó cả đời mình với ĐCTT. Ngay từ trong bụng mẹ, ông đã được biết đến đờn ca tài tử qua tiếng sáo, tiếng đàn ca của hai bên gia đình nội ngoại. Lớn lên, khi GS bôn ba theo học ở nước ngoài thì ĐCTT cũng theo ông và giúp ông kiếm tiền nuôi sống bản thân trong suốt thời gian du học. Khi làm luận án tiến sĩ, GS cũng chọn ĐCTT làm đề tài nghiên cứu cho mình.

Sau này, GS lại vinh dự được Chính phủ Việt Nam mời từ Pháp về nước để đóng góp ý kiến cho việc hoàn tất các hồ sơ gửi UNESCO đối với nghệ thuật ĐCTT. GS. Trần Văn Khê đưa ra dẫn chứng: Ngay từ năm 1972, UNESCO đã trực tiếp cử chuyên gia ghi âm và chụp hình lại những bản ĐCTT do chính GS và nhạc sĩ Vĩnh Bảo biểu diễn tại Paris (Pháp). Đến năm 1973, UNESCO tuyển chọn các bản ĐCTT này và sản xuất thành đĩa mang nhãn hiệu của UNESCO để phát hành trên thị trường quốc tế. Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2012 và được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tháng 12 năm 2013.

Theo GS. Trần Văn Khê: Đến nay chưa có tài liệu nào xác định được năm ra đời cụ thể của ĐCTT. Nhưng dựa theo các tư liệu nghiên cứu thì môn nghệ thuật độc đáo này hình thành vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi các nhạc sĩ, nhạc quan triều Nguyễn vào Nam theo phong trào Cần Vương mang theo truyền thống ca Huế. Trên đường đi, họ dừng chân ở các tỉnh duyên hải miền Trung, từ đó ca Huế mang thêm chút âm hưởng xứ Quảng. Vào đến miền Nam, ĐCTT không ngừng phát triển, sáng tạo, hình thành một loại hình nghệ thuật mới là cải lương. Vì thế, nghệ thuật ĐCTT dù có lịch sử hình thành muộn hơn so với nghệ thuật tuồng, chèo, quan họ hay ca trù… nhưng nó đã chứa đựng đầy đủ giá trị của văn hóa Việt, vừa chuyên nghiệp, vừa đậm chất dân dã, tài tử.

Theo dòng chảy chung của nghệ thuật ĐCTT, ngay từ thuở mới hình thành cho đến nay, đất Nam bộ đã xuất hiện nhiều soạn giả, danh cầm, danh ca xuất sắc. Những nghệ nhân bậc thầy nổi tiếng, như ông Nguyễn Quang Đại (nghệ danh là Ba Đọi) hay ông Lê Tài Khị (nghệ danh là Nhạc Khị) được coi là Hậu tổ, sau khi mất đã được cộng đồng tôn vinh, lập đền thờ, học trò hương khói thường xuyên. Đầu thế kỷ XX, ông Cao Văn Lầu (còn gọi là Sáu Lầu) đã sáng tác bài Dạ cổ hoài lang (Vọng cổ), là một trong những bài hát nổi tiếng và phổ biến nhất của ĐCTT, được cộng đồng tiếp nhận, phát triển từ nhịp 2, 4, 16, 32, … đến nhịp 64. Sau này có nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, NSƯT Ba Tu; xứ sở hiền hòa này còn xuất hiện rất nhiều nghệ nhân vang danh khắp miền Nam – Bắc.

ĐCTT là loại hình nghệ thuật trình diễn phổ biến ở Nam Bộ, phản ánh suy nghĩ, tâm tư, tình cảm của những người dân mở đất phương Nam – vùng miệt vườn, sông nước, với lối sống cần cù, phóng khoáng, cởi mở, bình dị mà nghĩa hiệp, can trường. Đến miền Tây Nam bộ, đâu đâu cũng nghe ĐCTT. Trên chiếc ghe xuôi ngược buôn bán hay trên chiếc chiếu trải trước sân nhà; đôi lúc trong đám tiệc, ma chay, cưới hỏi… của người hàng xóm, vài người biết đờn ngồi trên bộ ván ngựa, ở phòng khách chơi vài bản Bắc, bài Nam đã làm cho nghệ thuật này hết sức chuyên nghiệp.

Nhắc đến ĐCTT, người ta nghĩ ngay đến xứ miệt vườn phương Nam. Đây là thể loại « thính phòng » đặc thù của miền Nam, tương tự Ca trù của miền Bắc và Ca Huế của miền Trung. Những ai đã từng sống hay có dịp về thăm phương Nam, nhất là vào những đêm trăng thanh gió mát, vào dịp cúng tế ở đình, miếu, đám cưới, đám hỏi… đều có thể được thưởng thức ĐCTT. Nó gắn bó chặt chẽ với đời sống sinh hoạt của người dân 21 tỉnh, thành phố phía Nam, được ví như « hơi thở » âm nhạc dân tộc ở miền Nam. Hơn thế, nó được người dân từ đời này sang đời khác lưu truyền, phát triển rộng rãi trong một không gian văn hóa rất đặc thù, đó là nhà, sân, vườn… của nhà dân chứ không phải sân khấu.

Cứ như thế, sức sống mãnh liệt của ĐCTT đã lưu truyền từ hơn thế kỷ qua, trở thành văn nghệ dân gian tươi mát, độc đáo, góp phần làm phong phú và bổ ích thêm đời sống tinh thần của cộng đồng dân cư vùng sông nước Nam bộ, trong đó có vùng châu thổ “chín rồng” xinh đẹp, hữu tình.Đối với người phương Nam, Nghệ thuật ĐCTT Nam Bộ là một loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thần không thể thiếu và là di sản văn hóa phi vật thể quý giá của cộng đồng. Hoạt động văn hóa cộng đồng này đang góp phần phục vụ du lịch bền vững ở địa phương, duy trì sự đa dạng văn hóa của quốc gia và quốc tế. Theo GS-TS Trần Văn Khê: “Mọi tầng lớp xã hội miền Nam, từ những công chức cao cấp đến những người lao động, thợ hớt tóc, anh chèo đò… đều có thể trở thành những người sành điệu ĐCTT và khi vào chung một dàn nhạc thì người nào đờn hay được tôn trọng nhất, cách xử sự những người cùng đờn rất dân chủ…”. Đó là văn hóa ứng xử rất Nam bộ gửi vào tiếng đờn ngân nga chất chứa cả tâm tư, tình cảm của người chơi…Hơn 100 năm định hình và phát triển, nghệ thuật ĐCTT Nam bộ đã khẳng định được sức sống và sự lan tỏa trong cộng đồng. Tâm hồn con người Nam bộ, bản sắc văn hóa Nam bộ đã được gửi gắm vào trong nét độc đáo của một dòng nhạc. Cho nên, ĐCTT Nam bộ cần được giữ nguyên chân giá trị ấy, không chỉ dưới góc độ bảo vệ một di sản văn hóa đại diện của nhân loại mà quan trọng hơn, đó chính là cách để chúng ta gìn giữ được hồn cốt dân tộc qua dòng âm nhạc truyền thống.