Thí sinh Trần Minh Luyện – 010: TRẦN VĂN KHÊ – NHỊP CẦU ÂM NHẠC ĐẾN VẠN TRÁI TIM

Nguyễn Quốc Thệ

YcleteShstercptodtfelliaoyando satu 5l:11oarei lPdMi  · 💧♥️Thí sinh Trần Minh Luyện – 010💧♥️TRẦN VĂN KHÊ – NHỊP CẦU ÂM NHẠC ĐẾN VẠN TRÁI TIM1&2Trần Minh Luyện – HDV, Giảng viên Du lịch, cựu sinh viên ĐH Tôn Đức Thắng.Trên những chặng đường dọc theo mọi miền Tổ quốc, tôi đưa đoàn xuôi về với Miền Tây, ở nơi ấy, người dân sớm tối cần lao bên bờ sông Tiền lãng mạn và hiền hòa. Những giọt phù sa cuốn theo dòng nước đã bồi đắp từ bao đời nay để cho ra đời những hoa thơm trái ngọt xứ miệt vườn. Hai tiếng miền Tây thân thương mà gần gũi ấy cũng là nơi sản sinh ra những làn điệu dân ca mượt mà thấm đượm tình dân tộc, nó đã trở thành người bạn tinh thần của những con người miền tây chất phác, thật thà dù họ ở bất kể nơi nào trên thế giới.

Trên lộ trình ngày hôm ấy, tôi đưa đoàn về với vùng đất Tiền Giang để tận hưởng giây phút dạt dào bên những làn điệu cổ nhạc. Những vị khách đến từ vùng núi cao Sapa Lào Cai tỏ ra thích thú cùng giao lưu với các nghệ sỹ nhà vườn và không quên để lại lời nhắn “rằng sẽ hẹn mùa sau anh gánh lúa về nhà em” (phỏng theo lời bài hát: Buồn con sáo sậu mà cô ca sỹ vừa thể hiện). Đó như một lời đùa giỡn nhưng thực sự họ đã rất mến mộ từ người ca cho đến thán phục trước những ca từ, nhạc cụ trông rất giản dị nhưng lại có thể trình bày sâu sắc loại hình nghệ thuật dân tộc đến vậy. Tôi chợt nhận ra rằng mình đã thiếu sót khi chỉ giới thiệu nguồn gốc ra đời của Dạ Cổ Hoài Lang, đờn ca tài tử, cải lương mà quên mất sự dày công nghiên cứu, duy trì và mang loại hình nghệ thuật truyền thống này vươn xa ngoài phạm vi lãnh thổ của một người con được sinh ra từ chính mảnh đất Tiền Giang – nơi sản sinh ra nhiều tài năng của nhạc tài tử và sân khấu cải lương: Năm Phỉ, Bảy Nam, Năm Châu…. Tôi đặt câu hỏi cho du khách: danh nhân ấy là ai? Ngoài dự đoán của mình, dù đến từ một vùng đất xa lạ, chỉ nghe những âm điệu chốn núi rừng Tây Bắc nhưng họ vẫn nhận ra tôi đang nhắc đến Giáo Sư (GS) Trần Văn Khê – “một nhà văn hóa phi thường”.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghệ thuật, máu nghệ sỹ đã ngấm trong người của GS Trần Văn Khê từ thuở bé. Khi ấy, cậu bé thông minh, sáng dạ mới chỉ lên 6 đã biết gảy đàn kìm (đàn nguyệt), 8 tuổi biết chơi đàn cò và đến 12 tuổi đã chơi được đàn tranh, đánh trống nhạc… Nếu chúng ta để ý sẽ thấy tất cả đều là nhạc cụ truyền thống dân tộc, chứng minh rằng tinh thần dân tộc được thể hiện qua việc nghiên cứu, sử dụng âm nhạc của Trần Văn Khê đã gắn bó cùng ông từ lúc còn rất nhỏ.

Điều khiến cho bất kì ai trong chúng ta cũng phải thán phục trước sự bản lĩnh và sự siêng năng của GS khi mới 10 tuổi đã mồ côi, sức khỏe không được tốt nhưng luôn tự lực cánh sinh và tích cực tìm tòi, ham học hỏi và đã đạt danh hiệu Thủ Khoa tú tài, về sau sang Pháp du học và trở thành vị tiến sĩ Việt Nam đầu tiên khoa Âm nhạc học tại Pháp. Làm việc tại nước ngoài (Pháp) nhưng GS đã từ chối nhập quốc tịch để giữ nguyên quốc tịch Việt Nam. Tận trong tâm khảm của mình, ông luôn muốn mang nét đẹp Văn hóa Việt Nam, đặc biệt là tinh hoa âm nhạc Việt phát triển trên thế giới, trong đó GS góp công rất lớn để Nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại (2003). Dù ở Pháp hơn 50 năm nhưng GS không bao giờ xen một từ nước ngoài nào mỗi khi trình bày về âm nhạc Dân tộc cho công chúng người Việt, điều đó thể hiện rõ lòng tự hào dân tộc, tránh sự lai căng và xem đó là giá trị trường tồn theo thời gian: “Tuổi trẻ ngày nay hấp thụ nên văn hoá phương Tây khoảng trên 1 thế kỷ, tuy nhiên giữ gìn bản sắc dân tộc là nhiệm vụ của đất nước và dân tộc vì đó là quốc hồn quốc tuý. Ta mở cửa để thưởng thức nhạc quốc tế như thưởng thức một món ăn mới như pizza , hay spaghetty nhưng mỗi chúng ta trong sâu thẳm vẫn nhớ mãi tô canh chua, dĩa mắm kho hay món canh rau đay cua cà muối trong những ngày hè, và nhạc ngoại quốc chỉ là gia vị làm cho đời sống âm nhạc thêm phong phú như trong bữa ăn có thêm tí ớt , tỏi sẽ làm ta ăn ngon hơn nhưng ta không thể chỉ ăn gia vị đó mà quên cơm nhà được”.

Không chỉ siêng năng chịu khó, GS là người có tố chất thông minh, học nhanh nhớ nhanh nhưng chưa bao giờ nhận sự thành công ấy dựa vào trí thông minh. Theo GS, sự thông minh thiên phú chỉ chiếm khoản 30% để thành công, còn lại là nhờ sự nỗ lực và cố gắng học hỏi, luyện tập để đạt được những thành tựu như ngày nay. Ở tuổi 90, ông vẫn miệt mài bên kho tàng sách vở, cùng những nhạc cụ thỉnh thoảng phát ra âm điệu thân quen của tiếng đàn với ngũ âm:“hò – xự – xang – xê – cóng”, hay “đường dầu sa ong bướm, xin đó đừng phụ nghĩa tào khang, đêm luống trông tin nhạn, ngày mỏi mòn như đá vọng phu, vọng phu vọng, luống trông tin chàng, lòng xin chớ phũ phàng…” đó chính là không gian làm việc nghiêm túc cho hoạt động nghiên cứu khoa học, nhưng cũng là một nơi thả hồn lãng mạn vào khuôn vườn âm nhạc nhuộm màu thời gian.

Trong gia đình nghệ thuật, cùng với GS là người em trai: Quái kiệt Trần Văn Trạch, rất nổi tiếng tại Sài Gòn trước 1975 với bài Xổ số Quốc gia, Chiều mưa biên giới và con trai cũng là một chuyên gia nghiên cứu âm nhạc – GS Trần Quang Hải, vẫn đang tiếp tục nối nghiệp cha mình cống hiến cho nghệ thuật nước nhà. GS Trần Văn Khê sớm tiếp xúc và làm quen với các loại nhạc cụ và các điệu lý Nam bộ. Không biết từ lúc nào, dòng chảy âm nhạc của Đờn ca tài tử đã thấm vào máu của chàng trai trẻ, để rồi yêu, quý và mang nó trình diễn ở khắp nơi trên thế giới. Đờn ca tài tử là xuất xứ ban đầu cho ra đời nghệ thuật Cải lương, một loại hình nghệ thuật dân gian được hình thành, phát triển từ cuối thế kỷ XIX và nhanh chóng trở thành loại hình diễn xuất đặc thù của mảnh đất Nam Bộ. Vì hình thành trong không gian văn hóa chất phác, mang đặc trưng tánh tình người Nam Bộ: “Ra đường gặp vịt cũng lùa, gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu”, sự phóng khoáng linh hoạt hào sảng ấy khiến họ đón nhận ở chỗ này một chút, chỗ kia một ít, để làm cho bài bản mượt mà và thấm thía hơn, nên sẽ không sai khi nói rằng Đờn ca tài tử là sự tích hợp giữa nhạc cung đình Huế, nhạc Lễ và dân ca Nam Bộ.

Trong Đờn ca tài tử, đờn có trước ca nên gọi nôm na là “đờn ca”, còn chữ “tài tử” ở đây không chỉ đơn thuần là những người tài, mà ở đây nó được hiểu là khi mình chơi một món gì đó vì đam mê, vì yêu thích mà chơi, và trong cái ngẫu hứng đó có sự kết tinh giữa tài năng thiên bẩm và quá trình dày công khổ luyện thì lúc bấy giờ người nghệ sĩ mới có thể thả hồn vào Tứ Huyền Cầm : Kìm, cò, tranh, bầu và cái song loan (song lang) cốc, cốc nỉ non,… Người giữ Song loan giống như người giữ nhịp cho cả đoàn nhạc. Là một hình thức âm nhạc thính phòng, buổi đầu đờn ca tài tử chủ yếu để nghe là chính chứ không phải để xem. Dần dần, sự hấp dẫn của tiếng đờn lời ca da diết ấy đã chinh phục người mộ điệu – những người không có khiếu đờn ca nhưng rất say mê loại hình nghệ thuật này nên thường tìm đến các buổi diễn để thưởng thức ngón đờn giọng ca của những người nghệ sĩ. Cứ thế dòng âm nhạc này dần phát triển, trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người Nam Bộ.

Có lẽ sự thân thuộc của đờn ca Nam bộ với gia đình GS kết hợp với tính bác học đậm chất triết lí đạo học Phương Đông này đã tạo thành nguồn cảm hứng cho GS Trần Văn Khê trên con đường nghiên cứu âm nhạc của mình. Năm 1964, Nghệ sỹ Phùng Há và Kim Cương đi Pháp biểu diễn vở Lữ Bố hí Điêu Thuyền, về sau GS đã mời 2 người cùng sang Đức trình diễn với mình. Không chỉ vậy, GS đã từng giới thiệu Âm nhạc Việt Nam bằng 9 trang viết cho Bách khoa từ điển lịch sử âm nhạc thế giới năm 1960, “một quốc gia tiểu cường chứ không tiểu nhược, đã có những vị trí trang trọng cùng các lân bang khác ở Châu Á như Trung Quốc, Nhựt Bổn, Triều Tiên” – một điểm son lớn trong sự nghiệp của GS. Bên cạnh Đờn ca tài tử, nhiều loại hình nghệ thuật dân tộc khác như: bài chòi, hát xoan, ví dặm, Nhã nhạc cung đình Huế, các loại nhạc Lễ, nhạc Tôn giáo: Cao đài, Phật giáo… cũng được nghiên cứu, trình bày trên 40 quốc gia.

Không chỉ là một nhà nghiên cứu âm nhạc, GS còn là một người cha, một vị tiền bối tâm huyết. GS từng chia sẻ rằng: “điều quan trọng nhất là phải biết làm chủ con tim, biết thương nồng nàn mà không si lụy, biết bỏ cái ngã ích kỷ, để nghĩ tới việc cho, thương, giúp đỡ người khác, biết chế ngự hỷ, nộ, ái, ố để tìm được thanh thản trong tâm hồn”. Đó chính là những bài học quý báu, tuy rất ngắn gọn nhưng chứa đựng biết bao nỗi niềm nhắn nhủ đến các bạn trẻ, thế hệ mai sau hãy biết sống bài cái tâm, bằng sự nhiệt huyết và chứa đựng tình yêu thương nồng nàn. Quả thật hiếm có ai được như vậy, không chỉ sống cho mình, cho gia đình, cho sự nghiệp văn hóa dân tộc mà ở ông còn đọng lại những lời khuyên bảo rất bình dân và giản dị. GS chính là nhịp cầu nối để đưa nền âm nhạc Việt Nam đến với năm châu, đến với tâm hồn của người Việt Nam mộ điệu. Từ lúc lên 6 biết sử dụng đàn, nay đã 90, những nhạc cụ ấy là người bạn tri kỷ gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp và những hoài bão ông luôn mang bên mình. Âm nhạc dân tộc bén duyên thời thơ ấu, đến cuối đời, GS dùng âm nhạc điểm tô thêm cho đời, bằng tình yêu, khát vọng và thủy chung son sắc đã đưa ông trở thành “cây đại thụ” cho nền âm nhạc Việt Nam và là một trong hai vị GS có tên Tiếng Việt trong Từ điển âm nhạc thế giới: Trần Văn Khê và Nguyễn Thuyết Phong.Phần giới thiệu của tôi về cuộc đời và đóng góp của GS chấm dứt trong sự ngưỡng mộ và đầy tự hào. GS Trần Văn Khê giống như hình ảnh trong Chim Việt Cành Nam, dù hơn 50 năm xa xứ (không vào quốc tịch Pháp) nhưng ông dành trọn sự nghiệp nghiên cứu âm nhạc cho dân tộc Việt Nam và cuối đời cũng yên nghỉ trên tổ quốc quê hương.———————-HẾT————————

Votre commentaire

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l’aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion /  Changer )

Photo Google

Vous commentez à l’aide de votre compte Google. Déconnexion /  Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l’aide de votre compte Twitter. Déconnexion /  Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l’aide de votre compte Facebook. Déconnexion /  Changer )

Connexion à %s

Ce site utilise Akismet pour réduire les indésirables. En savoir plus sur la façon dont les données de vos commentaires sont traitées.