Thí sinh Phạm Thị Tuyết Nhung – 012 : CUỘC THI TÌM HIỂU VỀ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ& ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM NHÂN DỊP 100 NĂM NGÀY SINH GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

Nguyễn Quốc Thệ

2h  · 💧♥️Thí sinh Phạm Thị Tuyết Nhung – 012

💧♥️CUỘC THI TÌM HIỂU VỀ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ& ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM NHÂN DỊP 100 NĂM NGÀY SINH GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

Đồng Tháp Mười, tháng 7/2021, Phạm Thị Tuyết Nhung (ĐH Văn Hóa)1&2.

“Bên vàm Kỳ Hôn

Trăng ngã dài ôm bóng Tràng Tiền

Sóng đùa với trăng

Trăng lấp lánh ngấn bạc chao duyên

Sương bay theo gió

Thắm ướt xoa mềm mái tóc tha thước…”

( Bài hát: Mỹ Tho mùa trăng bến hẹn / Loan Thảo sáng tác )

Vùng đất Mỹ Tho mang trên mình lịch sử khai phá từ rất sớm và là một trong hai đại phố hình thành đầu tiên của các tỉnh khu vực Nam bộ, trải qua hơn 300 năm hình thành và phát triển. Vùng đất quê hương thanh bình mà trù phú bốn mùa cây trái tốt tươi, nơi sinh ra những con người vĩ đại- bất khuất – kiên trung. Ngày 24/6/2015 là ngày mà những đứa con xứ sở Bạc Liêu nói riêng và cả dân tộc Việt Nam nói chung phải mang bao niềm xót thương , nuối tiếc trước sự ra đi của GS.TS Trần Văn Khê. Không thể kể xiết những công lao và đóng góp to lơn của ông cho sự nghiệp âm nhạc nước nhà, ông không chỉ là người có công đầu trong việc quảng bá nền âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới mà hơn thế còn được người đời gọi với danh xưng ‘một nhà văn hóa phi thường’. trong gần một thế kỉ ông đã để lại cho đời một kho tư liệu đồ sộ, không chỉ về âm nhạc truyền thống mà là cả văn hóa Việt Nam.Đời người là lẽ vô thường, mỗi một con người trong chúng ta đều có thể lựa chọn một cách sống cho riêng mình. Nhưng bởi lẽ rằng đời người là có hạn, sống thế nào là do chúng ta quyết định. Còn riêng với GS.TS Trần Văn Khê – ông lựa chọn con đường nghệ thuật và cống hiến cả tuổi đời cho nghệ thuật, cho cái đẹp. Tôi một sinh viên tuổi đời còn non trẻ và mong lung trước con đường Đại học, thuchs học hỏi và khám phá thế giới rộng lớn. Với cơ duyên biết đến ông qua bộ phim tài liệu “Trần Văn Khê với Việt Nam”, thật sự chỉ có thể thốt lên hai từ ‘vĩ đại’ và vô cùng cảm phục trước tài năng và sự nổ lực không mệt mỏi của người con xứ sở Bạc Liêu này. Hồ Thủy Tiên – đạo diễn người Pháp gốc Việt là ngời thực hiện nên bộ phim ‘Trần Văn Khê với Việt Nam’ chia sẻ: ‘Tôi biết tới cậu từ khi tôi 6 tuổi. Một ngày cậu nói với tôi rằng: Con gái, có rất nhiều người làm phóng sự hay phim về cậu, nhưng câu tin bộ phim hay nhất thì phải do con thực hiện. Rồi tôi đi theo cậu về quê hương, nơi cậu đã sinh ra. Tôi đã mất 20 năm để thực hiện bộ phim này”.

Bộ phim được bấm máy vào năm 1977, Hồ Thủy Tiên đã theo chân giáo sư trong những chuyến công tác của ông tại Việt Nam và cả nước ngoài. Đó là những khoảnh khắc riêng tư, những góc nhìn thật sự khác biệt và rất đỗi chân thực về GS.TS Trần Văn Khê. Bộ phim được quay xuyên suốt 20 năm và ghi lại những câu chuyện và các cuộc hành trình của GS Trần Văn Khê cũng như tình yêu to lớn vô hạn mà ông dành cho quê hương đất nước.

Với tình cảm mến mộ dành cho cố GS. Trần Văn Khê, tác giả Minh Trần có bài viết đăng trên CAND Xuân 2016. Kể lại cuộc đời tha hương phải sống tận nước ngoài suốt hơn nửa đời người. sống tận 57 năm nơi đất khách quê người nhưng chưa một giây phút nào Giaos sư quên đi nguồn cọi của mình, chưa khi nào hết tình yêu với âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Sau từng năm ấy, ông vẫn giữ nguyên chất giọng của người con Nam Bộ mà không hề có chút pha trộn nào. Hơn thế nữa ông chỉ sử dụng tiếng nước ngoài khi thật sự cần thiết giao tiếp mà thôi, những lúc bình thường ông vẫn sử dụng tiếng Việt là thứ tiếng mẹ đẻ.

Bôn ba bên nước ngoài bao nhiêu năm nay là thế nhưng với Giáo sư chưa một giấy phút nào quên được quê cha đất tổ, quên đi nới nơi được sinh ra là điều không thể. Đối với ông suốt cuộc đời chi có duy nhất một cái tên Trân Văn Khê, cái tên theo ông đến khi nhắm mắt xuôi tay về cõi vĩnh hằng.

Có một câu truyện đã để lại rất nhiều cảm hứng được Giáo sư kể lại, và câu chuyện ấy cũng được ông ghi lại trong cuốn hồi ký, kể về cuộc tranh luận bên lề buổi sinh hoạt của Hội Truyền bá Tanka Nhật Bản tại Paris vào năm 1964. Tham dự hầu hết là người Nhật và Pháp, duy chỉ có Giáo sư là người Việt. Diễn giả của buổi sinh hoạt ấy là một cựu Đề đốc Thủy sư người Pháp.Vị này khởi đầu buổi nói chuyện với sự so sánh: « Thưa quý vị, tôi là Thủy sư đề đốc, đã sống ở Việt Nam 20 năm mà không thấy một áng văn nào đáng kể. Nhưng khi sang nước Nhật, chỉ trong vòng một, hai năm mà tôi đã thấy cả một rừng văn học. Và trong khu rừng ấy, trong đó Tanka là một đóa hoa tuyệt đẹp. Trong thơ Tanka, chỉ cần nói một ngọn núi, một con sông mà tả được bao nhiêu tình cảm. Chỉ 31 âm tiết mà nói bao nhiêu chuyện sâu sắc, đậm đà. Nội hai điều đó thôi đã thấy các nước khác không dễ có được ».

Giáo sư Trần Văn Khê vô cùng bức xúc. Sau khi buổi nói chuyện bước vào phần giao lưu, cử tọa hỏi còn ai đặt câu hỏi nữa hay không, Giáo sư đã đứng dậy xin phép phát biểu. Rào trước đón sau để không bị ai bắt bẻ, Giáo sư nói với một thái độ hết sức khiêm cung: « Tôi không phải là người nghiên cứu văn học, tôi là Giáo sư nghiên cứu âm nhạc, là thành viên hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO.

Trong lời mở đầu phần nói chuyện, ông Thủy sư Đề đốc nói rằng đã ở Việt Nam hai mươi năm mà không thấy áng văn nào đáng kể. Tôi là người Việt, khi nghe câu đó tôi đã rất ngạc nhiên. Thưa ngài, chẳng biết khi ngài qua nước Việt, ngài chơi với ai mà chẳng biết một áng văn nào của Việt Nam? Có lẽ ngài chỉ chơi với những người quan tâm đến chuyện ăn uống, chơi bời, hút sách… thì làm sao biết được đến văn chương?

Phải chi ngài chơi với Giáo sư Emile Gaspardone thì ngài sẽ biết đến một thư mục gồm trên 1.500 sách báo về văn chương Việt Nam, in trên Tạp chí Viễn Đông bác cổ của Pháp số 1 năm 1934. Hay nếu ngài gặp ông Maurice Durand thì ngài sẽ có dịp đọc qua hàng ngàn câu ca dao Việt Nam mà ông Durand đã cất công sưu tập… Ông còn hiểu biết về nghệ thuật chầu văn, ông còn xuất bản sách ghi lại các sinh hoạt văn hóa của người Việt Nam. Nếu ngài làm bạn với những người như thế, ngài sẽ biết rằng nước tôi không chỉ có một, mà có đến hàng ngàn áng văn kiệt tác.

Tôi không biết ngài đối xử với người Việt Nam thế nào, nhưng người nước tôi thường rất hiếu khách, sẵn sàng nói cái hay trong văn hóa của mình cho người khác nghe. Nhưng người Việt chúng tôi cũng « chọn mặt gửi vàng », với những người phách lối có khi chúng tôi không tiếp chuyện. Việc ngài không biết về áng văn nào của Việt Nam cho thấy ngài giao du với những người Pháp như thế nào, ngài đối xử với người Việt ra sao. Tôi rất tiếc vì điều đó. Vậy mà ông còn dùng đại ngôn trong lời mở đầu ».

Rồi để so sánh với Tanka, Giáo sư đưa ra những câu thơ: « Núi cao chi lắm núi ơi/ Núi che mặt trời, không thấy người yêu » hay « Đêm qua mận mới hỏi đào/ Vườn hồng đã có ai vào hay chưa » để đối chiếu: tức là cũng dùng núi non, hoa lá để nói thay tâm sự của mình.

Còn về âm tiết, Giáo sư kể lại câu chuyện về Mạc Đĩnh Chi thời nhà Trần đi sứ sang nhà Nguyên (Trung Quốc). Lúc ấy bà hậu phi của vua Nguyên vừa mất, họ muốn thử tài sứ giả nên mời ông làm một bài điếu văn, đề bài là phải có bốn chữ « nhất ». Đại sứ không hốt hoảng mà ứng tác liền:

« Thanh thiên nhất đóa văn

Hồng lô nhất điểm tuyết

Thượng uyển nhất chi hoa

Dao trì nhất phiến nguyệt

Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!

(Nghĩa là:Một đám mây giữa trời xanhMột bông tuyết trong lò lửaMột bông hoa giữa vườn thượng uyểnMột vầng trăng trên mặt nước aoThan ôi! Mây tản, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!) Tất cả chỉ 29 âm chứ không phải 31 âm để nói việc người vừa mất đẹp và cao quý như thế nào).

Khi Giáo sư Trần Văn Khê dịch và giải nghĩa những câu thơ này thì khán giả vỗ tay nhiệt liệt. Đã vậy, Giáo sư còn thêm một câu: « Tất cả những điều trên tôi biết được là nhờ học ở trường trung học » để cho thấy văn học Việt Nam « thâm hậu » như thế nào.

Ông Thủy sư Đề đốc đỏ mặt và phải xin lỗi Giáo sư Trần Văn Khê lẫn người Việt Nam ngay trong chương trình. Kết thúc buổi nói chuyện, ông Thủy sư lại đến gặp riêng Giáo sư và ngỏ ý mời ông đến nhà dùng cơm để được nghe nhiều hơn về văn hóa Việt Nam. Giáo sư tế nhị từ chối, còn nói người Việt không mạo muội đến dùng cơm ở nhà người lạ. Vị Thủy sư Đề đốc nói: « Vậy là ông chưa tha thứ cho tôi ». Giáo sư lại nói: « Có một câu mà tôi không thể dùng tiếng Pháp mà phải dùng tiếng Anh. Đó là: I forgive, but I cannot yet forget – Tạm dịch: Tôi tha thứ, nhưng tôi chưa thể quên.

Một tấm gương sáng ngời, một tinh thần trách nhiệm cao cả với đất nước và dân tộc. GS.TS Trần Văn Khê không phải là người duy nhất dành tình yêu mến cho âm nhạc truyền thống và dĩ nhiên cũng không phải người đầu tiên nghiên cứu và hệ thoongos lại âm nhạc truyền thống Việt Nam, nhưng chính thời thế và bối cảnh lịch sử giai đoạn ấy đã tạo cho thầy một tiền đề mà không phải ai cũng dễ dàng có được. Đó không đâu khác là tình yêu cháy bỏng dành cho âm nhạc, là truyền thống gia đình và truyền thống dân tộc. Cùng quá trình miệt mài nghiên cứu, sưu tầm, sáng tác không ngừng nghỉ đã giúp thầy tích góp nên một kho tàng tri thức về âm nhạc vô cùng đồ sộ cho Việt Nam chúng ta nói riêng và cả Châu Á nói chung. Nhân dịp 100 năm kỉ niệm ngày sinh của GS Trần Văn Khê, tôi với những cảm xúc chân thành xin gửi đến thầy những lời cảm phục và trân trọng hơn bao giờ hết.

Phạm Thị Tuyết Nhung

Votre commentaire

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l’aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion /  Changer )

Photo Google

Vous commentez à l’aide de votre compte Google. Déconnexion /  Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l’aide de votre compte Twitter. Déconnexion /  Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l’aide de votre compte Facebook. Déconnexion /  Changer )

Connexion à %s

Ce site utilise Akismet pour réduire les indésirables. En savoir plus sur la façon dont les données de vos commentaires sont traitées.